Mà cụ thể là kếthợp thực tiễn với lý thuyết ,từ nghiên cứu thực trạng của hoạt động marketing pháttriển thị trường hiện có tại công ty, để đưa ra một số giải pháp giúp doanh nghiệp có th
Trang 1CHƯƠNG I : TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
Tính cấp thiết nghiên cứu đề tài.
Ngày nay, xu hướng toàn cầu hóa được xem là điều kiện tiền đề cho sự phát triểncủa mỗi quốc gia Các quốc gia đều mong muốn có thể xuất khẩu được nhiều hơn hànghóa của mình để thu về những khoản lợi nhuận Vì vậy, không chỉ riêng nước ta màbất kỳ quốc gia nào cũng đặt xuất khẩu vào vị trí xứng đáng và có vai trò quan trọngnhằm mục tiêu tăng trưởng kinh tế Ở nước ta, đại hội Đảng lần thứ VI cũng đã khẳngđịnh,xuất khẩu hàng hóa là một trong những chương trình kinh tế quan trọng nhấttrong thời kỳ đổi mới Từ đó, vai trò của các công ty có hoạt động kinh doanh xuấtnhập khẩu luôn được quan tâm nhằm mục đích tìm ra được các biện pháp xuất khẩuhữu hiệu nhất nâng cao lợi nhuận, góp phần hoàn thành mục tiêu chung của đất nước Đối với các doanh nghiệp, có thị trường, có khách hàng đồng nghĩa với việcdoanh nghiệp có thể tồn tại phát triển và ngược lạị Sự cạnh tranh ngày càng gay gắthiện nay khiến cho thị trường của doanh nghiệp sẽ mất dần do sự giành giật quyết liệt
từ phía các đối thủ cạnh tranh Khi thị trường cũ đã sắp bão hòa hay cạnh tranh quákhốc liệt, tỷ suất sinh lời giảm, thì việc doanh nghiệp phải tìm ra những biện pháp pháttriển, mở rộng thêm thị trường cho mình sẽ mở ra cho doanh nghiệp những cơ hộiphát triển mới Thị trường của doanh nghiệp càng rộng thì thiệt hại do rủi ro xuất khẩugây ra sẽ được chia nhỏ và giảm bớt Sauk hi gia nhập WTO, về lý thuyết có thể manglại cho hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam thị trường rộng lớn hơn bao giờ hết, nhưngphát triển được thị trường của mình đến đây còn tùy thuộc vào các giải pháp của mỗidoanh nghiệp !!
Sản phẩm thủ công mỹ nghệ là mặt hàng có truyền thống lâu đời của Việt Namđược được xuất khẩu khá sớm so với các mặt hàng khác và có đóng góp tích cực vàokim ngạch xuất khẩu của cả nước Đồng thời còn thu hút nhiều lao động tham gia làmhàng xuất khẩu, góp phần xoá đói giảm nghèo, giúp giải quyết một số vấn đề kinh tế
xã hội tại nông thôn Với nguyên vật liệu, được thu lượm từ phế liệu và thứ liệu củanông lâm sản,hàng TCMN chẳng những mang lại hiệu quả từ thực thu giá trị ngoại tệrất cao, mà có những mặt hàng thủ công mỹ nghệ hầu như đạt 100% giá trị xuất khẩu,còn lại cũng đạt trên 80% giá trị kim ngạch xuất khẩu Đồng thời, xuất khẩu hàng thủcông mỹ nghệ đã giúp xã hội thu hồi một bộ phận chất thải nông nghiệp sau chế biến
Trang 2và thu hoạch, đã biến phế liệu trở thành những sản phẩm xuất khẩu, góp phần tích cựccho việc bảo vệ môi trường và phát triển kinh tế đất nước
Thời gian qua, thị trường xuất khẩu hàng thủ công mỹ ở nước ta ngày càng được
mở rộng, ngoài các nước chủ yếu như Mỹ, Nga, Nhật Bản, Anh, Pháp, Đức, HànQuốc, Đài Loan Tính riêng tại thị trường EU là thị trường có nhu cầu rất lớn về cácmặt hàng thủ công mỹ nghệ trong đó có mặt hàng mây tre đan, trong năm 2009 vừaqua kim ngạch xuất khẩu mặt hàng bằng tre đạt cao nhất với 2 triệu USD tăng 40,7%
so với năm trước EU sẽ là thị trường nhiều hứa hẹn của hàng thủ công mỹ nghệ ViệtNam
Công ty cổ phần XNK thủ công mỹ nghệ Thăng Long là 1 doanh nghiệp có
thành tích trong việc xuất khẩu các mặt hàng thủ công mỹ nghệ của cả nước Công ty
có các phòng kinh doanh cho từng loại mặt hàng riêng và có phòng nghiên cứu thịtrường làm việc tương đối hiệu quả Sản phẩm của công ty đã có mặt tại nhiều thịtrường như Đông Âu, Tây Bắc –Âu, Bắc Mỹ, Châu Á Trong những năm gần đâycông ty cũng có những quan hệ đối tác thân thiết ở một số nước Châu Âu như Đức,
Áo, Bỉ Tuy nhiên, khi nhìn vào thị trường rất tiềm năng là Châu Âu thì công ty vẫnđang cần một giải pháp marketing toàn diện hơn cho việc phát triển thị trường xuấtkhẩu, nâng cao thương hiệu và doanh thu từ sản phẩm thủ công mỹ nghệ của mình Cónhư thế doanh nghiệp mới không bỏ lỡ thời cơ tăng trưởng lợi nhuận
Sau quá trình thực tập tại Công ty cổ phần dệt XNK mỹ nghệ Thăng Long Dưới
sự hướng dẫn tận tình của cô giáo Ths Phùng Thị Thuỷ và các cô chú trong phòngKinh doanh 2 của công ty, em đã đi sâu tìm hiểu hoạt động markeing phát triển thịtrường của công ty tại EU và nhận thấy rằng bên cạnh những thành tựu vẫn còn tồntại những điểm hạn chế cần khắc phục để đạt được hiệu quả cao hơn hướng tới mụctiêu chung của doanh nghiệp Vì vậy, em đã chọn vấn đề nghiên cứu “ Giải phápmarketing nhằm phát triển thị trường xuất khẩu mặt hàng mây tre đan của công ty Cổ
phần xuất nhập khẩu thủ công mỹ nghệ Thăng Long sang thị trường Châu Âu” cho
luận văn của mình Em hi vọng những đề xuất của em có thể đóng góp một phần vào
mục tiêu tăng trưởng số lượng, chất lượng hàng xuất khẩu của công ty ,tăng doanh thu
từ thị trường xuất khẩu
Trang 31.2 Xác lập và tuyên bố vấn đề trong đề tài
Từ những vấn đề cấp thiết đã nêu ra ở trên, đề tài tập trung giải quyết vấn đềMKT phát triển thị trường xuất khẩu của công ty Artex Thăng Long Mà cụ thể là kếthợp thực tiễn với lý thuyết ,từ nghiên cứu thực trạng của hoạt động marketing pháttriển thị trường hiện có tại công ty, để đưa ra một số giải pháp giúp doanh nghiệp có
thể phát triển tốt hơn.Với tên đề tài là : “ Giải pháp marketing nhằm phát triển thị
trường xuất khẩu mặt hàng mây tre đan của công ty Cổ phần xuất nhập khẩu thủ công mỹ nghệ Thăng Long sang thị trường Châu Âu ”.
1.3 Các mục tiêu nghiên cứu.
- Hệ thống hóa các lý thuyết cơ bản về thị trường, phát triển thị trường, và đặc
biệt về marketing phát triển thị trường xuất khẩu đối với các doanh nghiệp kinh doanhthương mại
- Nghiên cứu, tìm hiểu, phân tích và đánh giá thực trạng hoạt động marketing phát
triển thị trường xuất khẩu của công ty Artex Thăng Long, đặc biệt là hoạt động này ởthị trường EU
- Đưa ra một số giải pháp marketing nhằm phát triển thị trường xuất khẩu EU trongthời gian tới, để khắc phục những tồn tại hiện có tại doanh nghiệp
1.4 Phạm vi nghiên cứu
Không gian : Đề tài giới hạn phạm vi nghiên cứu tại công ty cổ phần XNK thủ công
mỹ nghệ Thăng Long
Thời gian : Đề tài được nghiên cứu trong khoảng thời gian từ thực tập và làm luận
văn tốt nghiệp từ 23/12/2009 đến 28 /05/2010 Với số liệu được sử dụng nghiên cứutrong 4 năm gần đây từ năm 2006- 2009
Thị trường : Thị trường xuất khẩu tập trung nghiên cứu là Châu Âu
Sản phẩm : Mây tre đan xuất khẩu
1.5 Kết cấu luận văn tốt nghiệp
Luận văn tốt nghiệp được kết cấu bao gồm 4 chương :
Chương 1 : Tổng quan nghiên cứu đề tài.
Chương 2 : Tóm lược một số vấn đề lý luận cơ bản về giải pháp Marketing nhằm
phát triển thị trường của công ty kinh doanh xuất nhập khẩu
Trang 4Chương 3 : Phương pháp nghiên cứu và các kết quả của phân tích thực trạng
marketing phát triển thị trường XK mặt hàng mây tre đan của công ty Artex ThăngLong sang thị trường EU
Chương 4 : Các kết luận và đề xuất những giải pháp MKT nhằm phát triển thị
trường xuất khẩu mặt hàng mây tre đan sang EU của công ty Artex Thăng Long
Trang 5CHƯƠNG II : TÓM LƯỢC MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ GIẢI PHÁP MARKETING NHẰM PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG XUẤT KHẨU CỦA CÔNG TY KINH DOANH XUẤT NHẬP KHẨU.
Một số định nghĩa, khái niệm về thị trường và phát triển thị trường xuất khẩu Khái niệm về thị trường doanh nghiệp
Theo kinh tế học cổ điển, khái niệm thị trường được hiểu một cách đơn giản rằng“
Thị trường là nơi diễn ra các trao đổi , mua bán hàng hóa”, Theo đó, thị trường là mộtkhông gian cụ thể, trong một thời điểm cụ thể xảy ra hoạt động trao đổi hàng hóa
Theo từ điển kinh tế“ Thị trường là nơi lưu thông tiền tệ, là toàn bộ quá trình giao
dịch hàng hóa ”
Theo nhà kinh tế học P Samuellson thì “Thị trường là một quá trình mà trong đó
người mua và người bán một thứ hàng hóa nào đó tác động qua lại lẫn nhau để xácđịnh số lượng và giá cả một loại hàng hóa”
Theo quan điểm của Mc Carthy “Thị trường có thể hiểu là một nhóm khách hàng
tiềm năng với những nhu cầu và những người bán đưa ra những sản phẩm khác nhauvới cách thức khác nhau để thỏa mãn nhu cầu đó
Định nghĩa thị trường theo góc độ Marketing phát biểu như sau “ Thị trường bao
gồm tất cả những khách hàng tiềm ẩn cùng có một nhu cầu hay mong muốn cụ thể, sẵnsàng và có khả năng tham gia trao đổi để thỏa mãn nhu cầu và mong muốn đó Nhưvậy, theo quan niệm này quy mô thị trường sẽ tùy thuộc vào số người có cùng nhu cầu
và mong muốn, vào lượng thu nhập , số tiền vốn mà họ sẵn sàng bỏ ra để mua sắmthỏa mãn nhu cầu và mong muốn đó
Khái niệm về thị trường xuất khẩu
Xuất khẩu được biết đến là hoạt động đưa các hàng hoá và dịch vụ từ một quốc gianhất định ra ngoài quốc gia đó nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận Xuất khẩu phảnánh mối quan hệ thương mại, buôn bán giữa các quốc gia trong phạm vi khu vực vàthế giới Hình thức kinh doanh xuất khẩu là một trong những hoạt động kinh tế quan
Trang 6trọng của một quốc gia mở ra những giao dịch kinh tế cho quốc gia gia đó đồng thờitạo ra nguồn thu ngoại tệ chủ yếu cho quốc gia khi tham gia vào kinh doanh quốc tế.Thực chất xuất khẩu là hoạt động trao đổi hàng hoá dịch vụ giữa các chủ thể có quốctịch khác nhau Kinh doanh xuất khẩu cũng chính là hoạt động kinh doanh quốc tế cơbản của doanh nghiệp.
Theo quan điểm marketing thì thị trường xuất khẩu được hiểu là tập hợp các kháchhàng hiện thực và tiềm năng ở thị trường nước ngoài mua hàng xuất khẩu của công ty,
có nhu cầu thị trường đối với sản phẩm hoặc lĩnh vực hoạt động thương mại mà doanhnghiệp có dự án kinh doanh, trong mối quan hệ với các nhân tố của môi trường kinhdoanh và điều kiện cạnh tranh quốc tế
Khái niệm về phát triển thị trường xuất khẩu :
Thực tế cho thấy không một quốc gia nào có thể trốn tránh ảnh hưởng của nhữngkhuynh hướng như chuyển dịch từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tếthị trường, khuynh hướng tự do hóa thương mại và chính sách khuyến khích đầu tư ởcác nước đang phát triển, khuynh hướng quốc tế hóa và nhanh chóng phát triển thịtrường khu vực khép kín sang mở rộng v.v Những khuynh hướng đó biểu hiện trênthị trường ở nhiều quốc gia trong một thời gian dài Chính vì vậy, có thể nói rằng pháttriển hay mở rộng thị trường đã trở thành nhu cầu cần thiết không thể thiếu được ở mỗidoanh nghiệp, và trở thành hoạt động quan trọng không thể thiếu trong nội dung hoạtđộng cơ bản
Đứng trên góc độ doanh nghiệp thì : Phát triển thị trường xuất khẩu là tổng hợp các cách thức, biện pháp của doanh nghiệp để đưa ngày càng nhiều khối lượng sản phẩm ra nhiều thị trường ngoài nước để tiêu thụ Đó không chỉ là việc phát triển thêm
những thị trường mới mà còn phải làm tăng thị phần của sản phẩm trên các thị trường
đã có sẵn
Cụ thể hơn, phát triển thị trường xuất khẩu của doanh nghiệp chính là việc khai thácmột cách tốt nhất thị trường hiện tại, đưa các sản phẩm hiện tại của doanh nghiệp vàotiêu thụ ở những thị trường mới đáp ứng được cả nhu cầu cả thị trường hiện tại lẫn thịtrường tiềm năng mà doanh nghiệp có ý định thâm nhập
Trang 7Đứng trên góc độ quốc gia, thì mở rộng, phát triển thị trường xuất khẩu là việcquốc gia đó đưa được sản phẩm của nước mình thâm nhập thị trường quốc tế, mở rộngđược phạm vi địa lý của thị trường và kết quả là tăng được kim ngạch xuất khẩu từ sảnphẩm đó Hoạt động phát triển thị trường xuất khẩu của một quốc gia là sự kết hợp giữa mởrộng thị trường xuất khẩu của tất cả các doanh nghiệp và các hoạt động hỗ trợ của các
cơ quan nhà nước trong quốc gia đó Các doanh nghiệp trực tiếp thực hiện hoạt động
mở rộng thị trường xuất khẩu đối với các mặt hàng mà doanh nghiệp sản xuất kinhdoanh, từ đó góp phần tạo nên thị trường xuất khẩu rộng lớn cho quốc gia đối với từngsản phẩm, ngành hàng cụ thể Nếu quốc gia nào làm tốt hoạt động mở rộng thị trườngxuất khẩu thì sự hiện diện của hàng hoá quốc gia đó trên thị trường quốc tế ngày càngđược mở rộng và thương hiệu sản phẩm ngày càng được nhiều người tiêu dùng nướcngoài biết đến
Vậy, việc mở rộng thị trường có thế hiểu một cách chung nhất là “ mở rộng thịtrường có nghĩa là tham dự sâu và rộng ( quy mô lớn và ràng buộc ) vào nhiều quốcgia
2.2 Một số lý thuyết của Marketing phát triển thị trường XK của công ty kinh doanh quốc tế.
2.2.1 Tổng quan về marketing kinh doanh xuất khẩu
2.2.1.1 Vai trò của marketing trong kinh doanh xuất khẩu
Muốn thành công trong kinh doanh, các doanh nghiệp và các nhà kinh doanh cầnhiểu biết cặn kẽ về thị trường , về những nhu cầu và mong muốn của khách hàng, vềnghệ thuật ứng xử trong kinh doanh Ngày nay, các doanh nghiệp phải hoạt động trongmôi trường cạnh tranh quyết liệt và có những thay đổi nhanh chóng của chính sáchthương mại, khoa học – công nghệ, sự trung thành của khách hàng giảm sút v.v buộc
họ không ngừng chạy đua
Theo định nghĩa tổng quát của Philip Kotler : “ Marketing là một dạng hoạt độngcủa con người nhằm thỏa mãn những nhu cầu và mong muốn của họ thông qua traođổi” ( giáo trình “Marketing căn bản”,Philip Kotler ) Vì vậy, các doanh nghiệp vànhững người kinh doanh luôn tìm cách để thỏa mãn nhu cầu mong muốn của người
Trang 8tiêu dùng, tạo ra sản phẩm dịch vụ với mức giá mà người tiêu dùng có thể thanh toánđược Marketing có ảnh hưởng mạnh mẽ tới lòng tin và kiểu cách của người tiêudùng, nó thúc đẩy các nhóm chức năng trong kinh doanh phát huy hết nỗ lực Vai tròcủa Marketing thể hiện ở chỗ Marketing là trung gian liên kết phối hợp các yếu tố cơbản của công ty kinh doanh với nhu cầu của thị trường Từ vai trò trên cho thấy muốnnâng cao được kinh doanh xuát khẩu các giải pháp Marketing phải không ngừng đượchoàn thiện
2.2.1.2 Nội dung cơ bản của hoạt động marketing trong kinh doanh xuất khẩu
- Phân tích và dự báo thị trường trên cơ sở phân tích nhu cầu khách hàng, tình hìnhcạnh tranh, các trung gian phân phối, phân tích môi trường chính trị, luật pháp, kinh tế,công nghệ, văn hoá xã hội
- Làm thích ứng chính sách kinh doanh của doanh nghiệp với nhu cầu và điềukiện thị trường và ở một chừng mực nào đó tác động đến nhu cầu thị trường thông quacác chính sách sản phẩm, giá cả, phân phối và giao tiếp, khuếch trương
- Đánh giá , kiểm tra các chính sách và điều chỉnh
Như vậy, là những nguyên tắc cơ bản của Marketing vẫn được hoàn toàn giữnguyên giá trị khi doanh nghiệp mở rộng hoạt động của mình ra thị trường nước ngoài
và hiển nhiên là không thể có được một Marketing quốc tế có hiệu quả tại các doanhnghiệp mà những nguyên tắc trên không được đáp ứng.
Trang 9Ansoff c ̣òn có ứng dụng rộng hơn nữa, trong việc đề nghị xem xét khả năng sinh ra lợinhuận của doanh nghiệp từ một hướng đi SẢN PHẨM - THỊ TRƯỜNG mới, đượcphát sinh từ việc hợp lực ứng dụng cả hướng đi về sản phẩm lẫn thị trường.
Trang 10Bảng 1 Ma trận Ansoff:
Thị trường
Sản phẩm
Thị trường mới Thị trường hiện tại
Sản phẩm mới Đa dạng hóa Phát triển sản phẩm
Sản phẩm hiện tại Mở rộng thị trường Thâm nhập thị trường
*Chiến lược phát triển thị trường: Các nỗ lực tiếp thị nhắm đến việc mở rộng hệ
thống phân phối và tìm kiếm thêm khách hàng cho sản phẩm hiện có trên vùng thịtrường mới Chiến lược này được dùng khi: có các kênh phân phối mới sẵn có và đángtin cậy, không tốn kém và có chất lượng cao, có thị trường mới chưa được khai thác vàchưa bão hòa
* Chiến lược phát triển sản phẩm: Là các nỗ lực tiếp thị nhằm tạo ra một sản phẩm
mới hoặc một sản phẩm cũ được cải tiến, có thêm chức năng mới và bán trên một vùngthị trường hiện có
* Chiến lược thâm nhập thị trường: Là các nỗ lực tiếp thị nhằm tăng doanh số bán
ra của sản phẩm hiện có trên một vùng thị trường hiện có Chiến lược này áp dụngđược áp dụng trong trường hợp:
- Thị trường sản phẩm và dịch vụ hiện tại chưa bão hòa, tỷ lệ sử dụng của kháchhàng hiện tại có thể gia tăng them
- Thị phần của đối thủ cạnh tranh chủ yếu bị suy giảm do doanh số toàn ngànhhàng đang gia tăng
- Khi gia tăng tính kinh tế theo quy mô cung cấp các lợi thế cạnh tranh chủ yếu
Khi đó, mục tiêu thị trường là những cam kết số lượng, thường được đưa ra như lànhững tiêu chuẩn để đánh giá hoàn tất nhiệm vụ trong một khoảng thời gian, hoặc là
Trang 11những điều kiện phải hoàn thành trước một mốc thời gian được đặt ra Tiêu chuẩnhoàn tất nhiệm vụ thường được đặt ra dưới dạng khối lượng hàng bán ra, doanh thubán hàng hoặc những chỉ số lợi nhuận khác Còn điều kiện phải hoàn thành thường làmột tỉ lệ phần trăm thị phần và một số cam kết khác như là phần trăm trên tổng số cửahàng thuộc mạng lưới phân phối
Quan điểm mở rộng thị trường theo chiều rộng, chiều sâu của doanh nghiệp thươngmại
Trong giáo trình: “Marketing thương mại quốc tế ” - PGS.TS Nguyễn Bách Khoa
và Th.s Phan Thu Hoài chủ biên, NXB Thống Kê 2003 ; giáo trình “ Marketing xuất nhập khẩu”- Đỗ Hữu Vinh, NXB tài chính năm 2005 và một số tài liệu liên quan khác,
có nói đến quan điểm : Mở rộng thị trường xuất khẩu của doanh nghiệp thương mại cóthể theo hai phương hướng là mở rộng thị trường theo chiều rộng và theo chiều sâu
Mở rộng thị trường xuất khẩu theo chiều rộng : là việc gia tăng phạm vi thị
trường, đưa sản phẩm mới đến với thị trường mới, khách hàng mới
- Xét về mặt địa lý: Mở rộng thị trường theo chiều rộng chính là tăng cường sựhiện diện của sản phẩm xuất khẩu tại các địa bàn chưa từng biết đến sản phẩm củanước xuất khẩu Mở rộng thị trường xuất khẩu theo chiều rộng đòi hỏi doanh nghiệpphải tiến hành thật tốt công tác nghiên cứu, dự báo thị trường để chọn bán sản phẩmphù hợp với nhu cầu và tiêu chuẩn của thị trường xuất khẩu
- Xét về mặt khách hàng: Đó là việc khuyến khích, thu hút khách hàng hoàn toànmới có nhu cầu được thoả mãn bằng sản phẩm tương tự như sản phẩm của doanhnghiệp tại thị trường trong nước Giai đoạn đầu của của việc mở rộng thị trường xuấtkhẩu theo chiều rộng lượng khách hành thường ít và nhu cầu đặt hàng khá nhỏ, mangtính thăm dò là chính Việc khách hàng mới có tiếp tục tiêu dùng sản phẩm của doanhnghiệp xuất khẩu hay không phụ thuộc rất lớn vào những lô hàng đầu tiên, cho nên sảnphẩm xuất khẩu phải tạo được ấn tượng tốt về chất lượng, hình thức, mẫu mã đối vớikhách hàng để có thể tiếp tục gia tăng lượng hàng xuất khẩu
Mở rộng thị trường theo chiều sâu: Là việc gia tăng số lượng và giá trị sản
phẩm xuất khẩu trên thị trường hiện tại
- Xét về mặt địa lý: Mở rộng thị trường theo chiều sâu thì phạm vi thị trường tiêuthụ sản phẩm xuất khẩu không đổi Thay vào đó, các doanh nghiệp xuất khẩu cố gắng
Trang 12khai thác mọi cơ hội để có được từ thị trường hiện tại để thông qua các nỗ lực mạnh
mẽ trong công tác Marketting để thu hút khách hàng chưa sử dụng sản phẩm xuất khẩu
và khách hàng của các đối thủ cạnh tranh sang tiêu dùng sản phẩm của doanh nghiệp
và quốc gia mình
- Xét về mặt khách hàng: Đối tượng của hoạt động mở rộng thị trường xuất khẩutheo chiều sâu bao gồm các khách hàng hiện tại, khách hàng của đối thủ cạnh tranh vànhững người chưa sử dụng sản phẩm đó Để tăng được số lượng bán trên thị trườnghiện tại, trước hết doanh nghiệp của nước xuất khẩu phải giữ được những khách hàngđang sử dụng sản phẩm của mình, có những chính sách đãi ngộ để họ tiêu dùng sảnphẩm của mình thường xuyên Còn đối với những khách hàng của đối thủ cạnh tranhcần phải cho họ thấy sự khác biệt và những ưu thế giữa sản phẩm của nước xuẩt khẩu
và sản phẩm của đối thủ cạnh tranh Để thuyết phục những khách hàng chưa tiêu dungsản phẩm xuất khẩu, doanh nghiệp và quốc gia xuất khẩu cần phải có chính sách xúctiến tập trung vào gợi mở nhu cầu của họ
Tóm lại, theo quan điểm này, mở rộng thị trường xuất khẩu của doanh nghiệp cóthể diễn ra theo hai hướng chính là mở rộng phát triển thị trường theo chiều rộng, mởrộng thị trường theo chiều sâu và kết hợp cả hai Mở rộng thị trường theo chiều rộngthông thường là bước đầu tiên để sản phẩm của quốc gia xâm nhập vào thị trường khuvực và thế giới, giới thiệu sản phẩm của quốc gia đó với bạn hàng quốc tế Còn sau đó,
để tạo thế vững chắc cho sản phẩm xuất khẩu của quốc gia cần phải phát triển thịtrường theo chiều sâu, tìm cách tăng số lượng và kim ngạch xuất khẩu trên các thịtrường đã thâm nhập được Nếu không quan tâm đến phát triển thị trường theo chiềusâu thì sự hiện diện của các sản phẩm xuất khẩu chỉ mang tính chất tạm thời, không ổnđịnh Chính vì vậy mở rộng thị trường xuất khẩu theo chiều rộng cần phải kết hợp chặtchẽ phát triển thị trường theo chiều sâu để sản phẩm xuất khẩu ngày càng có được vịtrí vững chắc trên thị trường thế giới
2.3 Tổng quan tình hình khách thể nghiên cứu của những công trình năm trước.Trong những năm qua mặt hàng thủ công ty mỹ nghệ nước ta bao gồm mặt hàngmây tre đan được chính phủ đánh giá là mặt hàng xuất khẩu quan trọng, có tốc độ tăngtrưởng cao và đem lại nguồn ngoại tệ lớn cho nền kinh tế quốc gia Sự phát triển của
Trang 13động kinh doanh của nhiều doanh nghiệp trong nước nên nó thu hút một lượng lớn sựquan tâm của người dân và chính phủ, các cuộc thảo luận, tọa đàm cũng như đề tàinghiên cứu Trước đây đã có một số đề tài nghiên cứu về giải pháp marketing-mix ,marketing phát triển, phát triển thị trường Tại công ty cổ phần thủ công mỹ nghệThăng Long, 3 năm trước đây cũng đã có đề tài nghiên cứu về vấn đề này, tuy nhiênmới chỉ đề cập ở việc phát triển chung, chưa có đề tài nào tập trung vào việc phát triểnthị trường Châu Âu.
1) Một số giải pháp marketing nhằm thúc đẩy xuất khẩu mặt hàng mây tre đan tạicông ty xuất nhập khẩu Hà Tây ( Hoàng Thị Vân Anh – Năm 2003 )
2) Một số giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ của Việt Namtrong giai đoạn hiện nay ( Hồ Quỳnh Doan – 2003)
3) Giải pháp phát triển thị trường xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ của công tyxuất nhập khẩu mỹ nghệ Thăng Long ( Nguyễn Ích Hiển- 2003 )
4) Giải pháp marketig- mix thâm nhập thị trường Nhật Bản đối với hàng gốm sứ
mỹ nghệ xuất khẩu của công ty TNHH Quang Vinh- Bát Tràng ( Nguyễn Thị ThuHương- 2009 )
Các đề tài này đều đã phân tích được các nội dung sau :
Hệ thống lí luận về thị trường , phát triển thị trường sản phẩm
Các chiến lược phát triển thị trường bao gồm: Thâm nhập thị trường, phát triểnsản phẩm, phát triển thị trường, đa dạng hóa sản phẩm
Đưa ra một số giải pháp cho các chiến lược phát triển đó như hoàn thiệnMarketing mix, chiến lược giá, sản phẩm, Marketing mục tiêu…
Tuy nhiên, với sự biến động của nền kinh tế thế giới cũng như sự thay đổi của nhucầu thị trường, trước tình hình mới những giải pháp cũ đôi khi không phát huy đượchiệu quả của nó Đặc biệt với ảnh hưởng nghiêm trọng từ cuộc khủng hoảng kinh tếcuối năm 2008, đầu năm 2009, thì việc công ty cần có sự nghiên cứu kỹ lưỡng và địnhhướng lại các giải pháp marketing phát triển thị trường là vô cùng quan trọng
2.4 Phân định nội dung vấn đề marketing phát triển thị trường XK của công ty 2.4.1 Giải pháp về thị trường mục tiêu
2.4.1.1 Phân đoạn thị trường
Trang 14Phân đoạn thị trường là phân thị trường tổng thể thành những cấu trúc nhỏ hơnthường gọi là đoạn, khúc, mảng, lát cắt có các thông số, đặc tính và đặc điểm, thái độmua khác nhau nhưng trong nội bộ mỗi đoạn thì lại đồng nhất với nhau mà công ty cóthể sử dung một chương trình marketing hỗn hợp phù hợp với từng đoạn đó Với hoạtđộng xuất khẩu, phân đoạn thị trường quốc tế được hiểu “ là quá trình nhận biết cácphân đoạn thị trường riêng biệt- có thể theo quốc gia hoặc nhóm khách hàng riêng lẻ-của các khách hàng tiềm năng có các đặc điểm đồng nhất và có khuynh hướng biểu lộ
tiết những thị trường đã được lựa chọn:
- Phân tích cơ cấu thị trường
- Phân tích nhu cầu thị trường
- Phân tích tập tính hiện thực và tinh thần của thị trường
Việc phân đoạn thị trường có thể tiến hành bằng một trong hai phương pháp sau:
* Phương pháp phân đoạn: Phân chia thị trường theo nhiều đoạn tương ứng vớitừng tiêu thức sau đó kết hợp các tiêu thức đó vào từng đoạn thị trường Phương phápnày đòi hỏi phải lựa chọn được các tiêu thức trung tâm và tiêu thức bổ sung Việc kếthợp các tiêu thức vào từng đoạn thị trường được tiến hành dưới dạng bảng hoặc sơ đồhình cây
* Phương pháp tập hợp: Trong phương pháp này người ta lập thành từng nhómmột các cá nhân trong toàn bộ thị trường theo sự giống nhau cuả đặc điểm tiêu dùng vàthị hiếu để hình thành các đoạn thị trường riêng biệt
2.4.1.2 Lựa chọn thị trường mục tiêu
Một công ty tìm kiếm sự phát triển và thịnh vượng qua khai thác các cơ hội
marketing ở nước ngoài phải quyết định về tỷ lệ mà nó sẽ mở rộng các hoạt độngthương mại quốc tế của nó, phải quyết định quốc gia nào sẽ thâm nhập, các thị trường
và phân đoạn thị trường nào trong các quốc gia này được cung ứng v.v Tất cả nhữngquyết định này hay còn gọi là chiến lược mở rộng thị trường về mặt địa lý của công ty
Để lựa chọn cho mình một thị trường mục tiêu, nhà tiến hành marketing tiến hànhphân đoạn thị trường ( đó là việc phân chia người tiêu dùng thành nhóm trên cơ sởnhững điểm khác biệt về nhu cầu, tính cách và hành vi ) Sau khi phân đoạn thị
Trang 15trường, họ tiến hành đánh giá và so sánh các đoạn từ đó chọn cho mình một đoạn thịtrường thích hợp để phục vụ.
- Tập trung vào một đoạn thị trường: Trong trường hợp này, công ty sẽ lựa chọn
một đoạn thị trường Thông qua marketing tập trung công ty sẽ dành được một vị trívững chắc trong đoạn thị trường nhờ hiểu biết rõ hơn những nhu cầu của đoạn thịtrường đó
- Chuyên môn hóa có chọn lọc : Công ty lựa chọn một số đoạn thị trường, mỗiđoạn thị trường đều có sức hấp dẫn và phù hợp với những mục tiêu và nguồn lực củacông ty
- Chuyên môn hóa sản phẩm: Theo phương án này công ty sẽ sản xuất một sảnphẩm có đặc tính nhất định để bán cho một số đoạn thị trường
- Chuyên môn hóa thị trường: Công ty tập trung vào việc phục vụ nhiều nhu cầu
đa dạng của một nhóm khách hàng cụ thể
- Phục vụ toàn bộ thị trường: Trong trường hợp này, công ty cố gắng phục vụ tất
cả các nhóm khách hàng tất cả những sản phẩm mà họ cần đến Chỉ có những công tylớn mới có thể thực hiện chiến lược phục vụ toan bộ thị trường này
2.4.1.3 Định vị thị trường mục tiêu
Định vị thị trường là thiết kế một sản phẩm có những đặc tính khác biệt so với
hàng hòa của đối thủ cạnh tranh và tạo cho nó một hình ảnh riêng đối với khách hàng
Có 2 cách lựa chọn chiến lược định vị:
- Cạnh tranh với sản phẩm sẵn có: với chiến lược này công ty cần thuyết phục vụkhách hàng bằng cách nhấn mạnh lợi thế sản phẩm của công ty so với sản phẩm củađối thủ cạnh tranh
- Chiếm lĩnh một vị trí mới: công ty có thể tạo cho sản phẩm của mình một vị tríhoàn toàn mới Đây là chiến lược gắn với việc công ty tìm ra một chỗ trống trong thịtrường không có đối thủ cạnh tranh
Ngoài hai chiến lược cơ bản trên, công ty có thể định vị sán phẩm bổ sung cho cácloại sản phẩm khác
2.4.2 Một số giải pháp marketing- mix nhằm mở rộng thị trường xuất khẩu hàng hóa của công ty kinh doanh quốc tế.
2.4.2.1 Sản phẩm xuất khẩu
Trang 16Sản phẩm theo quan điểm marketing là bất cứ thứ gì mà có thể chào hàng trên một
thị trường thu hút sự chú ý, giành được, sử dụng hoặc tiêu thụ và nhờ đó có thể thỏamãn một mong muốn hoặc nhu cầu Các quyết định về sản phẩm bao gồm các quyếtđịnh liên quan tới tên gọi, nhãn hiệu, bao gì, các dịch vụ sau bán, phát triển dải sảnphẩm , cải tiến chất lượng, đặc điểm, ứng dụng, hợp nhất dải sản phẩm ,định vị Vớiđặc thù là sản phẩm xuất khẩu thì các quyết định trên có vai trò vô cùng quan trọng vìtrên thị trường quốc tế, thường có áp lực lớn đối với các công ty về việc mở rộng sảnphẩm hỗn hợp và kéo dài chiều dài, chiều sâu của các tuyến sản phẩm Tùy theo chiếnlược phát triển của công ty hướng tới là duy trì, củng cố hay làm mới mà công ty cóquyết định về hướng sản phẩm có thể khác nhau Đồng thời, các vấn đề có liên quanđến hoạt động hiện đại hóa, loại bớt và tạo ra những đặc điểm nổi bật cho tuyến sảnphẩm sẽ được tiến hành thường xuyên hơn ở các công ty kinh doanh xuất nhập khẩu Các giải pháp về sản phẩm bao gồm :
Giải pháp về nhãn hiệu sản phẩm xuất khẩu.
Nhãn hiệu sản phẩm bao gồm nhãn hiệu hàng hóa và nhãn hiệu thương mại Nhãnmác giúp tạo ra sự khác biệt giữa sản phẩm của công ty với các đối thủ cạnh tranh.Đối với những sản phẩm hiện tại của công ty thì giữ nguyên nhãn hiệu hàng hóa vànhãn hiệu thương mại Đối với những sản phẩm mới, công ty có thể đưa ra những nhãnhiệu hàng hóa mới nhưng phải đảm bảo ngắn gọn, dễ nhớ, dễ đọc, dễ phân biệt, hợppháp, độc đáo khi thâm nhập thị trường Ngày nay, khi quyền sở hữu trí tuệ càng đượcphổ biến và có vai trò quan trọng trong thương mại, thì việc bảo hộ nhãn hiệu sảnphẩm cũng cần được doanh nghiệp quan tâm Từ đó, cùng với việc đưa ra và sử dụngnhững cái tên thương mại hoặc biểu tượng cụ thể cho sản phẩm , công ty nhờ sự trợgiúp quảng cáo và các hoạt động xúc tiến khác làm cho khách hàng nhận ra sản phẩmcủa công ty,có hành vi mua sắm nhiều hơn và hài lòng với sản phẩm của công ty
Giải pháp về bao bì sản phẩm xuất khẩu
Bao bì được xem là một phần chất lượng sản phẩm, đảm bảo thực hiện đồng thời
bốn chức năng: bảo quản và bán hàng hoá, thông tin về hàng hoá, thẩm mỹ, tạo nên sựhấp dẫn của sản phẩm với khách hàng và chức năng thương mại
Trang 17Đối với mặt hàng thủ công mỹ nghệ nói chung và mặt hàng mây tre đan nói riêng,bao bì cũng chính là sản phẩm, cho nên giải pháp giúp nâng cao chất lượng bao bìcũng chính là nâng cao chất lượng sản phẩm.
Giải pháp về kiểu dáng, mẫu mã sản phẩm xuất khẩu
Kiểu dáng, mẫu mã sản phẩm góp phần tạo nên sự khác biệt của sản phẩm so vớiđối thủ cạnh tranh, là yếu tố riêng tạo nên sức cạnh tranh của mỗi doanh nghiệp Kiếudáng , mẫu mã sản phẩm có tính kích thích tiêu dùng và có ảnh hưởng quyết định tới
sự thành công trong quá trình thâm nhập thị trường của doanh nghiệp Yếu tố quantrọng nhất đối với hàng thủ công mỹ nghệ là tính độc đáo của sản phẩm, nó quyết địnhtới 90% sản phẩm có được bán hay không ? Một sản phẩm thủ công mỹ nghệ khôngchỉ có ý nghĩa về giá trị sử dụng mà nó còn mang theo cả phong tục , tập quán, quanniệm nhân sinh, nền văn hóa nơi sản xuất ra nó Tuy là sản phẩm truyền thống nhưnghàng thủ công mỹ nghệ cũng cần được liên tục đổi mới mẫu mã, kiểu dáng để đáp ứngnhững nhu cầu thay đổi của từng khách hàng
Giải pháp về chất lượng sản phẩm xuất khẩu.
Việc nghiên cứu thị trường và khách hàng không chỉ trả lời câu hỏi khách hàng cần
gì, cần bao nhiêu, cần vào thời điểm nào và khả năng thanh toán của họ ra sao, mà cònphải biết họ đòi hỏi mức độ chất lượng như thế nào, chất lượng nào có thể cho họ thoảmãn nhất Tuy nhiên sự đòi hỏi về chất lượng của khách hàng là không có giới hạn, đểquyết định mức định lượng thích ứng công ty phải nghiên cứu mức chất lượng củanhững sản phẩm cạnh tranh thay thế Từ đó xác định những yêu cầu chất lượng vớithiết kế và định hướng quản lý chất lượng trong quá trình chế tạo sản phẩm cũng nhưnâng cao dây truyền sản xuất để giảm bớt chi phí cho công ty
Giải pháp về dịch vụ của sản phẩm đem thâm nhập
Khi sản phẩm xuất khẩu thâm nhập thị trường, các công ty kinh doanh quốc tế thôngthường có thêm một số dịch vụ bổ trợ nhằm thúc đẩy hành vi mua của khách hàngnhư :
- Dịch vụ thông tin : Cung cấp thông tin và giới thiệu cho khách hàng về sản phẩmhiện tại cũng như các sản phẩm mới của công ty, về đặc điểm , giá cả, phân phối và 1
số thông tin khác liên quan Thông thường những thông tin này được cung cấp quawebsite chính thức của công ty, email
Trang 18- Dịch vụ khiếu nại và điều chỉnh : Sau khi nhận được phản hồi các thông tin về sảnphẩm từ phía khách hàng, công ty đưa ra những biện pháo điều chỉnh phù hợp.
Những dịch vụ bổ trợ này được phối hợp nhằm tạo ra sự thỏa mãn cao và lòng trungthành của khách hàng với sản phẩm của công ty, thúc đẩy hoạt động bán ra
2.4.2.2 Giá xuất khẩu
Chiến lược giá là việc xác định mục tiêu của việc định giá, lựa chọn các phương
pháp định giá, đưa ra các chiến lược quyết định giá của công ty Ngày nay, giá cảkhông phải là yếu tố cạnh tranh hàng đầu nhưng vẫn luôn được coi là yếu tố cạnh tranhquan trọng trong việc thu hút khách hàng Việc định giá xuất khẩu chịu ảnh hưởng củanhiều yếu tố như chi phí, cạnh tranh, cầu thị trường, sự giao động của tỷ giá hối đoái,
và thực tế các kinh doanh có hoạt động xuất khẩu thường có nhiều sự lựa chọn để tínhgiá cho khách hàng quốc tế Những lựa chọn này có thể ra làm 4 loại : chi phí cộngthêm, chi phí tăng thêm, thị trường và thế giới Chiến lược định giá của các công tykinh doanh quốc tế thường hướng vào mục tiêu: thâm nhập thị trường, phát triển thịphần hay doanh số bán, duy trì thị trường Một số chiến lược giá chủ yếu công ty cóthể sử dụng
Đối với sản phẩm mới công ty có thể thực hiện:
Chiến lược “ hớt váng sữa”: Là một nỗ lực chủ tâm để đạt được việc xâm nhập
vào các đoạn thị trường mà tại đó khách hàng sẵn sàng trả mức cao cho sản phẩm củamình Trong trường hợp này công ty thường đặt giá bán sản phẩm của mình ở mức caonhất có thể được nhằm nhanh chóng thu được lợi nhuận cao
Chính sách này đặc biệt thích hợp với các sản phẩm mới vì:
- Trong giai đoạn đầu của chu kỳ sống của một sản phẩm, giá cả không phải làyếu tố quan trọng nhất;
- Thị trường sẽ được phân định theo thu nhập nhờ giá cao;
- Nó có thể là một yếu tố bảo vệ một khi giá cả xác định sai;
- Giá cao ban đầu sẽ hạn chế nhu cầu ở mức sản xuất ban đầu của doanhnghiệp
Chiến lược “ bám chắc thị trường”: công ty thực hiện việc ấn định giá bán
thấp cho sản phẩm mới nhằm theo đuổi mục tiêu nhanh chóng giành được thị phần
Trang 19 Chiến lược giá thâm nhập : Trong chiến lược này, một mức giá thấp ban đầu sẽ
giúp sản phẩm có được thị phần lớn ngay lập tức Công ty áp dụng chiến lược này khi:
2.4.2.3 Kênh phân phối xuất khẩu
Kênh phân phối là một tập hợp các công ty và cá nhân độc lập và phụ thuộc lẫn
nhau tham gia vào quá trình đưa hàng hóa từ người sản xuất tới người tiêu dùng Tínhphức tạp ngày càng cao của cơ chế thị trường với sự tham gia ngày càng tăng củanhiều thành phần làm khoảng cách giữa nhà sản xuất và người tiêu dùng càng xa Điềunày đặc biệt quan trọng đối với các doanh nghiệp xuất khẩu do đó việc lựa chọn kênhphân phối phù hợp là cần thiết Việc lựa chọn kênh phân phối phụ thuộc vào đặc điểmsản phẩm, bản thân công ty, chi phí…trên cơ sở đó đưa ra các quyết định lựa chọnnhư:
Thay đổi phương thức giao hàng hoặc phân phối
Thay đổi dịch vụ
Thay đổi kênh phân phối
2.4.2.4 Xúc tiến thương mại xuất khẩu
Chiến lược xúc tiến và hỗ trợ kinh doanh hữu hiệu sẽ giúp công ty đẩy mạnh việc
bán hàng, tạo thế cạnh tranh trên thị trường quốc tế Các công cụ xúc tiến hỗn hợp baogồm:
Giải pháp về quảng cáo: là bất kỳ hình thức trả tiền nào của việc giới thiệu và
khuếch trương phi cá nhân cho những ý tưởng, sản phẩm hay dịch vụ do một ngườibảo trợ có liên hệ chi ra Quảng cáo sẽ là một công cụ xúc tiến, giới thiệu và khuếchtrương sản phẩm một cách gián tiếp thông qua các phương tiện truyền thông, thu hút
Trang 20và kích thích khách hàng mua sản phẩm của doanh nghiệp Các hình thức quảng cáocông ty sử dụng trên thị trường quốc tế như :
Giới thiệu về công ty và sản phẩm của công ty trên mạng internet thông quawebsite chính thức của công ty, các tổ chức xúc tiến , đây là một phương thức truyềntin hiện tại, nhanh chóng và thu được nhiều hiệu quả cao
Catalogue nước ngoài cung cấp những thông tin cần thiết cho khách hàng nướcngoài về kích cỡ, màu sắc, số lượng, giá cả, hình thức thanh toán làm giảm đi khoảngcách địa lý giữa các quốc gia
Tham gia triển lãm và hội chợ thương mại để công ty có thể giới thiệu sảnphẩm của mình cho khách hàng nước ngoài, đồng thời thúc đẩy hành vi mua trực tiếp
và kí kết các đơn hàng Thực tế cho thấy các doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công
mỹ nghệ Việt Nam thường rất trú trọng tới phương thức quảng cáo này
Giải pháp về xúc tiến bán: là những biện pháp kích thích ngắn hạn, khuyến
khích người ta mua một sản phẩm dịch vụ Công ty sử dụng các hình thức, khuyến mại, quà tặng cho khách hàng Đối với hoạt động phát triển thị trường , khi khách hàngchủ yếu của công ty là các trung gian phân phối và các tổ chức thương mại thì hoạtđộng xúc tiến chủ yếu tập trung vào chiết khấu, giảm giá hàng bán hoặc những mónquà đặc biệt về chính sản phẩm của công ty nhưng ít hoặc không có trên thị trường
Giải pháp về marketing trực tiếp:
Giải pháp về bán hàng cá nhân ( chào bán hàng trực tiếp ): là sự giới thiệu bằngmiệng về sản phẩm, dịch vụ của người bán hàng qua cuộc đối thoại với một hay nhiềukhách hàng tiềm năng nhằm mục đích bán hàng Đây là một phương thức bán hàng cóthể nói là hiệu quả với nhiều loại hàng hóa tuy nhiên mức độ chi phí cho một lần tiếpxúc với khách hàng có thể coi là cao nhất so với các phương thức khác Một trongnhững công cụ xúc tiến thương mại hiệu quả các công ty đang sử dụng là marketingtrực tiếp, như qua điện thoại, thư điện tử, fax được các doanh nghiệp sử dụng rất cóhiệu quả Hoặc với loạt giải pháp này, công ty có thể đưa sản phẩm của mình đi tham
dự các hội trợ, triển lãm các ngành hàng mà công ty đang kinh doanh tại thị trường,hoặc tổ chức hội thảo, gặp gỡ một số người mua tiềm năng nhằm mục đích bán đượcsản phẩm
Trang 21 Giải pháp trong tuyên truyền: là việc kích thích một cách gián tiếp nhằm tăngnhu cầu về hàng hóa dịch vụ hay tăng uy tín của đơn vị kinh doanh bằng cách đưa ranhững tin tức có ý nghĩa thương mại về chúng trên các ấn phẩm, các phương tiệnthông tin đại chúng.
3.1.2 CHƯƠNG III
THỰC TRẠNG MARKETING PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG XUẤT KHẨU MẶT HÀNG MÂY TRE ĐAN CỦA CÔNG TY ARTEX THĂNG LONG SANG THỊ TRƯỜNG CHÂU ÂU
3.1.4 3.1 Phương pháp hệ nghiên cứu các vấn đề.
Dữ liệu là nền tảng để phân tích một vấn đề và giai đoạn thu thập dữ liệu có ýnghĩa vô cùng quan trọng đối với quá trình nghiên cứu đề tài Có nhiều phương phápthu thập dữ liệu sơ cấp và thứ cấp với hiệu quả thu được của mỗi phương pháp là khácnhau.Vì vậy, khi tiến hành thu thập dữ liệu phải sử dụng phối hợp nhiều phương phápvới nhau, để thu thập thông tin từ nhiều nguồn khác nhau
3.1.5 3.1.1 Thu thập dữ liệu thứ cấp :
Việc thu thập dữ liệu thứ cấp nhằm mục đích hiểu rõ những thông tin về thị trường,doanh thu ở các thị trường đối với các loại sản phẩm Đó là dữ liệu về doanh số bánhàng, doanh thu của sản phẩm trên thị trường xuất khẩu được tổng hợp qua quá trìnhhoạt động của công ty Artex Thăng Long Dữ liệu được thu thập từ các nguồn:
Thu thập từ các báo cáo của công ty Artex Thăng Long: Báo cáo tài chính, báocáo kết quả hoạt động kinh doanh , báo cáo tình hình xuất khẩu tổng hợp
Thu thập số liệu về tình hình xuất khẩu mặt hàng mây tre đan, các thị trườngtiêu thụ sản phẩm, từ phòng thực tập là phòng kinh doanh 2 công ty cổ phần XNK mỹnghệ Thăng Long
Thu thập qua các ghi chép nội bộ, số liệu từ kế toán phòng và từ phòng tàichính - kế toán công ty Artex Thăng Long
Thu thập dữ liệu qua các thống kê tình hình xuất khẩu, cơ cấu và giá trị của các
lô hàng xuất đi từ internet, tạp chí khoa học, báo chí các tổ chức chính phủ như tổ chức
Trang 22xúc tiến thương mại(website: www.vietrade.gov.vn), hải quan Việt Nam
(www.customs.gov.vn); Các tạp chí kinh tế trên internet, các thông tin trên báo kinh tế
Việt Nam Các trang website như: www.google.com, www.ebook.com,www.airimex.com
3.1.6 Thu nhập dữ liệu sơ cấp :
Dữ liệu sơ cấp được thu thập nhằm mục đích tìm hiểu rõ hơn hoạt động marketingphát triển thị trường , các giải pháp chiến lược mà công ty đang áp dụng cho việc pháttriển của mình tại thị trường Châu Âu Dữ liệu được thu thập qua những phương phápsau :
- Bằng cách quan sát : Quan sát thực tế công việc của cán bộ công nhân viên trongcông ty Artex Thăng Long, việc thiết kế sản phẩm xuất khẩu của phòng mẫu, hoạtđộng sản xuất của xưởng sản xuất hàng Quan sát gián tiếp qua doanh số bán hàng quathời gian để nhận biết sự dịch chuyển của các xu hướng tiêu dùng qua thời gian trên thịtrường
- Bằng phương pháp điều tra phỏng vấn : Phỏng vấn trực tiếp một số cán bộ, nhânviên có kinh nghiệm liên quan đến hoạt động marketing phát triển thị trường của công
ty Artex Thăng Long: Bảng câu hỏi điều tra gồm 15 câu hỏi được đính kèm tại phụ lục
1, trong đó 03/03 phiếu được gửi tới và thu về từ giám đốc và 2 phó giám đốc, 07/07phiếu thu về từ 3 trưởng phòng kinh doanh, 2 nhân viên phòng thị trường ,2 nhân viênphòng kinh doanh XNK 2 công ty Artex Thang Long Ngoài ra, thông tin còn đượctham khảo từ ý kiến nhận xét đánh giá của các chuyên gia trong lĩnh vực marketingphát triển thị trường trên các phương tiện thông tin đại chúng , ý kiến gợi ý của cácchuyên gia tại doanh nghiệp để rút ra kết luận
Phương pháp phân tích xử lý số liệu.
Các số liệu, và thông tin thu về qua quá trình thực tập và phỏng vấn được tập hợp lại
để phân tích và xử lý qua các phương pháp sau :
- Phương pháp thống kê, tổng hợp, so sánh bằng bảng biểu, đồ thị : Các số liệu thu
về sẽ được tập hợp, so sánh giữa các năm Phần chênh lệch được tính tỉ lệ phần trămtương ứng, vẽ biểu đồ so sánh sự chênh lệch giữa doanh thu, các chỉ tiêu có thể sosánh khác từ năm 2006 tới nay, với gốc là năm 2006 tại công ty cổ phần XNK Mỹ
Trang 23- Xử lý bằng Excel và phần mềm thống kê SPSS để tổng hợp và so sánh nhanhchóng, chính xác các số liệu sơ cấp và thứ cấp về tình hình hoạt động marketing pháttriển thị trường của công ty Artex Thang Long trong 4 năm gần đây,với các chỉ tiêu cóthể so sánh khác của công ty , thị trường, đối thủ cạnh tranh…
3.2 Khái quát và đánh giá tổng quan tình hình và ảnh hưởng của các nhân tố môi trường đến việc Marketing phát triển thị trường xuất khẩu hàng mây tre đan của công ty Artex Thăng Long sang EU
Khái quát về công ty Cổ phần xuất nhập khẩu mỹ nghệ Thăng Long.
Giới thiệu về công ty
- Tên gọi : Công ty cổ phần xuất nhập khẩu mỹ nghệ Thăng Long
- Tên giao dịch: Thang Long Art Article Export Import Joint Stock Company
- Tên viết tắt : Artex Thang Long, JSC
- Trụ sở chính : Số 164, phố Tôn Đức Thắng, phường Hàng Bột, quận Đống Đa,thành phố Hà Nội
- Điện thoại: (84-4) 38431380/ 38237814 Fax: (84-4) 38456731
Theo Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 0103017209 do Sở Kế hoạch và Đầu
tư Thành phố Hà Nội cấp lần đầu ngày 14/05/2007, đăng ký thay đổi lần thứ 3 ngày20/04/2009, ngành nghề kinh doanh hiện nay của Công ty bao gồm:
- Sản xuất, gia công, chế biến và kinh doanh xuất nhập khẩu tất cả các loại hàngthủ công mỹ nghệ, hàng gia dụng, hóa chất ( trừ hóa chất Nhà nước cấm), phân bón,dệt kim, may mặc, trang trí nội thất, hàng nông sản, lâm sản, sản phẩm gỗ, hải thủysản, khoáng sản, các loại sản phẩm da và giả da
- Buôn bán, xuất nhập khẩu vật liệu xây dựng, nguyên phụ liệu phục vụ sản xuấtthiết bị, phụ tùng , hàng tiêu dùng
-Kinh doanh nguyên phụ liệu, máy móc, thiết bị, vật tư trong lĩnh vực may mặc
-Sản xuất kinh doanh các sản phẩm gia dụng, trang sức, lương thực, thực phẩm
Trang 24- Mua bán , kinh doanh xuất nhập khẩu, cho thuê, bảo dưỡng , sửa chữa ô tô ( cũ
và mới), xe có động cơ, máy móc, thiết bị, phụ tùng, phụ kiện, vật tư phục vụ ngànhsản xuất ô tô, xe máy
- Kinh doanh đại lý: hưởng hoa hồng, bao tiêu hàng hóa, độc quyền hàng hóa,mua bán hàng hóa, đại lý vận tải
- Dịch vụ : Làm thủ tục hải quan, khai kê hải quan, trông giữ xe
- Quảng cáo thương mại , tổ chức hội trợ, triển lãm thương mại
3.2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển công ty.
Ngày 04/09/1989 theo quyết định số 382/ KTĐN-TCCB của bộ trưởng Bộ Kinh tếđối ngoại, xí nghiệp gia công dịch vụ hàng xuất khẩu (thành lập năm 1988 ) và xínghiệp Mỹ nghệ xuất khẩu (thành lập năm 1973) được sáp nhập thành xí nghiệp xuấtkhẩu TCMN và dịch vụ, tên viết tắt là Artexsen Artexsen là công ty con nằm dưới sựquản lý của Tổng công ty xuất khẩu thủ công mỹ nghệ Artexport Artexsen chính làtiền thân của công ty cổ phần XNK mỹ nghệ Thăng Long ngày nay
Ngày 01/04/1990 theo quyết định số 859/KTĐN -TCCB của Bộ trưởng bộ kinh tếđối ngoại, Artexsen được tách khỏi Artexport trở thành xí nghiệp XNK mỹ nghệThăng Long, sản xuất và kinh doanh độc lập trực thuộc Bộ thương mại
Ngày 23/03/1993 Bộ thương mại cho phép xí nghiệp xuất nhập khẩu Mỹ nghệ
Thăng Long được đổi tên thành công ty xuất nhập khẩu Mỹ nghệ Thăng Long, têngiao dịch quốc tế là Artex Thăng Long
Ngày 26/04/2005, Bộ trưởng Bộ Thương Mại ra Quyết định số 1266/QĐ-BTM vềviệc thực hiện cổ phần hoá 12 công ty Nhà nước trực thuộc Bộ Thương mại, trong đó
có Công ty Xuất nhập khẩu Mỹ nghệ Thăng Long Theo đó, ngày 14/12/2006, Bộtrưởng Bộ Thương mại ra Quyết định số 2130/QĐ-BTM về việc phê duyệt phương án
cổ phần hóa Công ty Xuất nhập khẩu Mỹ nghệ Thăng Long thành Công ty Cổ phầnXuất nhập khẩu Mỹ nghệ Thăng Long Ngày 14/05/2007, Công ty đã chính thức đượcchuyển thành Công ty cổ phần Công ty có vốn điều lệ ban đầu 6 tỷ theo Giấy chứngnhận đăng ký kinh doanh số 0103017209 được cấp ngày 14/05/2007 tại Sở Kế hoạch
và Đầu tư thành phố Hà Nội, và thay đổi lần thứ ba ngày 20/04/2009 với số vốn điều lệmới là 13.605.910.000 đồng
Trang 25Công ty cổ phần XNK mỹ nghệ Thăng Long là một doanh nghiệp trực thuộc BộThương Mại, kinh doanh dưới hình thức công ty cổ phần với đầy đủ tư cách phápnhân, có tài sản, có con dấu riêng, thực hiện chế độ hạch toán kinh doanh độc lập Mọihoạt động sản xuất kinh doanh của công ty đều tuân thủ theo đúng pháp luật và chịutrách nhiệm về mọi hành vi kinh doanh và nguồn vốn của các cổ đông
Cơ cấu tổ chức của công ty theo mô hình trực tuyến, bao gồm các phòng ban và các
bộ phận được thể hiện trong sơ đồ tại phụ lục 1
ty cổ phần XNK Mỹ nghệ Thăng Long trong giai đoạn 2006 – 2009.
Sau khi Việt Nam gia nhập WTO, mở cửa hoàn toàn đối với thị trường bán lẻ, theo
lộ trình giảm thuế, hàng hóa các nước sẽ vào Việt Nam nhiều hơn, gây ra sự cạnhtranh gay gắt trên thị trường trong nước Đối với thị trường thế giới, trong năm2008,năm 2009 đã xảy ra những biến động sâu sắc, bắt đầu từ khủng hoảng tài chính
Mỹ, kéo theo là Châu Âu, Nhật Bản và nhiều nước khác cũng lâm vào tình trạng khókhăn về tài chính, điều này gây ảnh hưởng không nhỏ tới việc xuất khẩu sản phẩm củaCông ty Mặt khác, nguồn nguyên liệu mây, tre… ngày càng khan hiếm dẫn đến chiphí đầu của tăng Tuy nhiên, Công ty có lợi thế là nhà cung ứng sản phẩm thủ công mỹnghệ lâu năm và có nhiều khách hàng truyền thống trong nước cũng như trên thế giớinên ban lãnh đạo cùng với các cán bộ công nhân viên đã kiên trì phấn đấu để đưa công
ty ngày càng vững mạnh trong và ngoài nước, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ giao nộp thuế
và tuân thủ các quy định của pháp luật Dưới đây là báo cáo kết quả hoạt động kinhdoanh xuất khẩu của công ty qua 4 năm
Đơn vị : Triệu đồng (Nguồn : Phòng tài chính kế toán từ năm 2006 đến năm
2009 )
Tổng doanh thu 198,536.310 220,385.033 201,638.299 214,384.071Nội địa 37,954.871 58,503.612 63,991.244 61,462.825Xuất khẩu 160,581.439 161,881.421 137,647.055 152,921.246Xuất khẩu sang EU 53,542.224 54,368.931 50,832.884 52,868.843
Bảng 2: Báo cáo về doanh thu xuất khẩu của công ty cổ phần mỹ nghệ Thăng Long từ năm 2006 tới năm 2009
Trang 26Biểu đồ 1 : So sánh doanh thu nội địa, xuất khẩu, xuất khẩu sang EU từ năm
2006 tới năm 2009
Theo số liệu phân tích trên ta thấy: hoạt động xuất khẩu của công ty là hoạt độngchính đóng góp vào tổng doanh thu của doanh nghiệp, so với doanh thu từ nội địa,hoạt động xuất khẩu luôn chiếm tỷ trọng cao từ 68 %- 81% Trong đó, việc xuất khẩuhàng thủ công mỹ nghệ của công ty sang thị trường EU có đóng góp đáng kể vào tỷtrọng doanh thu đó, doanh thu xuất khẩu vào thị trường EU so với tổng doanh thu xuấtkhẩu của công ty tăng 3.33% -3,35% từ năm 2006 tới 2007 Năm 2008 là một năm đầykhó khăn với nền kinh tế châu Âu nói riêng và nền kinh tế nói chung, tuy nhiên trongnăm này doanh thu xuất khẩu vào EU so với tổng đoanh thu XK của công ty vẫn tănghơn năm trước ở mức 3,6%, tới năm 2009 mức doanh thu này giảm hơn so với năm
2008 xuống 3,45% tuy nhiên so với trước đây thì mức doanh thu này vẫn tăng
Bảng 3 : So sánh kết quả về doanh thu xuất khẩu của công ty từ năm 2006-2009
Trang 27Bảng 4 : Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh xuất khẩu sang thị trường EU của công ty từ năm
( Nguồn : Báo cáo kinh doanh công ty từ năm 2006 -2009 )
Dựa vào bảng trên cho thấy rằng: Với sự ảnh hưởng của nền kinh tế thế giới, thịtrường trong và ngoài nước cũng có những biến động lớn về giá nguyên- nhiên liệuđầu vào, chi phí cho hoạt động kinh doanh ngày càng lớn dẫn tới việc doanh thu từhoạt động xuất khẩu của công ty sang EU có những thay đổi khác nhau qua 4 năm.Dưới đây là biểu đồ so sánh kết quả doanh thu bán hàng và lợi nhuận trước thuế
Biểu đồ 2 : So sánh kết quả doanh thu bán hàng và lợi nhuận trước thuế của công ty khi xuất khẩu sang EU từ năm 2006 tới năm 2009.
Bảng 5 : So sánh kết quả về doanh thu xuất khẩu sang EU từ năm 2006-2009
Trang 28
3.2.2 Ảnh hưởng của các nhân tố thuộc môi trường kinh doanh xuất khẩu với hoạt động của công ty tại EU.
3.2.2.1 Ảnh hưởng từ môi trường vĩ mô
Môi trường kinh tế quốc tế:
EU là thị trường với 27 nước và địa bàn rộng hơn 4 triệu km2, với dân số trên 460triệu người, có tổng GDP gần 15000 tỷ USD, chiếm khoảng 27% tổng GDP của toànthế giới, là một liên minh kinh tế hùng mạnh, có ảnh hưởng lớn tới hoạt động và sựphát triển của nền kinh tế thế giới Trước đây, EU có tốc độ tăng trưởng kinh tế khá ổnđịnh, năm 2006 là 2,3%/năm, năm 2007 là 2.7%/năm Tuy nhiên, cho tới cuối năm
2008 đầu năm 2009, các nước EU đã phải chịu ảnh hưởng trầm trọng tình trạng khủnghoảng kinh tế, mà ảnh hưởng của nó đã lan rộng tới nhiều quốc gia khác trên thế giới.Tốc độ tăng trưởng kinh tế của khu vực đã giảm xuống ở mức 1,8%.năm Cơ quanthống kê châu Âu Eurostat còn đưa ra công bố quy mô kinh tế tính theo năm trong 3tháng cuối năm 2009 của 16 nước sử dụng đồng Eurozone đã giảm 2,2%, thấp hơnmức dự đoán trước đây là 2,1% Tuy nhiên, với những nỗ lực phục hồi lại nền kinh tếtăng trưởng như trước đây của các nước EU nói chung và dấu hiệu dần phục hồi củanền kinh tế toàn cầu, giới nghiên cứu cho rằng, Châu Âu sẽ thoát khỏi suy thoái tuynhiên mới chỉ đạt mức tăng trưởng dự kiến 0,9% trong năm 2010
Quan hệ buôn bán thương mại Việt Nam - EU phát triển rất khả quan, trong 10năm từ 1990-1999 với quy mô tăng hơn 12 lần và tốc độ tăng bình quân mỗi năm là32% Việt Nam và EU đã dành cho nhau chế độ đãi ngộ tối huệ quốc (MFN) và ECcam kết dành cho hàng hóa xuất xứ từ Việt Nam chế độ ưu đãi phổ cập (GSP)
Môi trường chính trị - luật pháp quốc tế.
Các yếu tố chính trị, luật pháp quốc tế chi phối mạnh mẽ sự hình thành cơ hộithương mại và khả năng thực hiện mục tiêu của bất kỳ doanh nghiệp nào Sự ổn địnhcủa môi trường chính trị đã được xác định là một trong những điều kiện tiền đề quantrọng cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Mỗi nước có hệ thống chính trị vàpháp luật riêng rất khác nhau Các quan điểm, mục tiêu định hướng phát triển xã hội
và nền kinh tế của đảng cầm quyền; các chương trình, kế hoạch triển khai thực hiện
Trang 29pháp luật và hiệu lực thực hiện…tất cả đều ảnh hưởng đến hoạt động phát triển thịtrường của doanh nghiệp.
Việt Nam và EU đã có những quan hệ tốt đẹp về chính trị cũng như thương mại.Hiện nay, EU vẫn đang quan tâm và hướng các hoạt động của mình sang châu Á, trong
đó có Việt Nam Tuy EU là một thị trường rộng lớn, ổn định, có nhiều tiềm năng vàgiá cả thì cao hơn tất cả các thị trường khác nhưng EU là một thị trường khó tính, đòihỏi rất cao về chất lượng và điều kiện thương mại thì nghiêm ngặt Hàng hóa muốnđược nhập vào EU phải vượt qua rất nhiều rào cản với những điều kiện, luật lệ khắtkhe Rào cản kỹ thuật của EU chính là quy chế nhập khẩu chung và các biện pháp bảo
vệ người tiêu dùng được cụ thể hóa ở các tiêu chuẩn sản phẩm như tiêu chuẩn chấtlượng, tiêu chuẩn vệ sinh, tiêu chuẩn an toàn cho người sử dụng, tiêu chuẩn bảo vệmôi trường và tiêu chuẩn về lao động Hệ thống tiêu chuẩn hóa EU do 3 cơ quan: Ủyban tiêu chuẩn hóa kỹ thuật điện tử châu Âu- CENELEC (European Committee forElectronical standardization), Ủy ban tiêu chuẩn hóa châu Âu- CEN (EuropeanCommittee for standardization) và viện tiêu chuẩn viễn thông Châu Âu –ETSI(European telecommunications Standard Institute) đưa ra
Môi trường văn hóa , xã hội quốc tế
Yếu tố văn hóa xã hội luôn bao quanh doanh nghiệp, khách hàng và có ảnh hưởnglớn tới sự hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Đặc biệt với hàng thủ công mỹnghệ, bởi đây không chỉ là sản phẩm phục vụ cho tiêu dùng thông thường mà còn cótính nghệ thuật đáp ứng nhu cầu thẩm mỹ của người tiêu dùng Các yếu tố chính củavăn hóa, xã hội bao gồm truyền thống, tập quán, thị hiếu mua hàng có ảnh hưởng lớntới quyết định mua hàng Một quốc gia đều có bản sắc văn hóa riêng,Việt Nam và EU
là những quốc gia có nền văn hóa khác biệt nhau rất rõ nét Do vậy khi thâm nhập vàothị trường EU, công ty cũng phải lưu ý đền tính chất đặc điểm riêng của từng thịtrường thành viên Mặc dù có thể cho rằng không có những rào cản giữa những quốcgia thành viên, các quốc gia mở cửa cho các quốc gia khác, nền kinh tế thống nhất và
hệ thống quy định,luật pháp hòa hợp nhưng EU vẫn là một thị trường không đồng bộ
do sự khác biệt về dân số, diện tích, tôn giáo, văn hóa Chẳng hạn, doanh nghiệp Đứckhông chấp nhận mua hàng qua catalogue trong khi các doanh nghiệp Pháp lại rất
Trang 30quan tâm đến chất lượng và rất sòng phẳng, luôn tuân theo những luật lệ một cáchchính xác
3.2.2.2 Ảnh hưởng từ môi trường ngành
Hiện nay khách hàng của công ty tại thị trường EU phần lớn là tại các nước Bắc Âu, khu vực Đông Âu đang trong quá trình phục hồi kinh tế, nhưng về lâu dài, vớinhững mối quan hệ đối tác làm ăn có sẵn từ trước, công ty hoàn toàn có lợi thế khithâm nhập sâu vào những quốc gia ở khu vực này Cơ hội xuất khẩu mặt hàng nàyđược gắn liền với sự cách tân & thiết kế hiện đại Các mặt hàng đan lát & mây tređược phân lọai dựa vào tính thiết thực cho người tiêu dùng và được chia ra thành cácloại dành cho trang trí nhà cửa và các loại trang trí nội thất sân vườn Hiện tại, việcphát triển các sản phẩm đan lát mới dành cho sân vườn với các yêu cầu ngày càng tăngtheo thị hiếu người tiêu dùng đang được ưu tiên Người tiêu dùng EU thường thíchmàu nâu vì nhìn tự nhiên, hữu dụng đặc biệt trong trang trí nhà cửa Tuy nhiên vàomùa hè, hầu hết các sản phẩm được đặt hàng với màu sắc sáng hơn Màu sắc , mẫu mã,hình dáng & thiết kế thường xuyên thay đổi
Đối với nhiều người trẻ, xu hướng thời thượng thì thích các lọai mặt hàng trang trígiá rẻ Trung niên thì thích lọai hàng thực tế ý nghĩa, tiện dụng với nhiều chức năngkhác nhau , còn người lớn tuổi thì thích & săn lung, sở hữu các lọai mặt hàng cao cấp
có giá trị Giá cả là yếu tố quan trọng để chọn mua và người tiêu dùng có xu hướngthiên về giá rẻ hơn Tuy nhiên, chất lượng và thiết kế mẫu mã cũng vẫn là tiêu chuẩnquan trọng nhất để chọn Các tiêu chí khác cũng không kém phần quan trọng để xemxét chọn lựa như: giá tiền, tiện dụng, thời trang & hình dáng, tính hấp dẫn, bao bì &quảng cáo Sự phân chia này cũng còn dựa vào sở thích của người tiêu dùng như 65%dân Pháp thì thích các hàng thiết kế trang trí nội thất , và 35% còn lại thì không quantâm 65% người tiêu dùng để ý sử dụng & thay thế chúng thường xuyên để đeo đuổibắt kịp xu hướng thời trang này Điều này cũng có nghĩa rằng họ có khuynh hướngmua các mặt hàng giá rẻ hơn 35% tối thiểu còn lại thì sử dụng các lọai trang thiết bịnội thất & mua chỉ khi nào họ cần Vì thế họ sẽ mua lọai hàng chất lượng, giá cao và
để sử dụng lâu dài
Trang 31Đối thủ cạnh tranh của doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ không chỉ làcác doanh nghiệp trong nước mà còn các đối thủ đến từ nhiều nước khác nhau trên thếgiới như Trung Quốc, Thái Lan, Ấn Độ…Đối thủ cạnh tranh là một yếu tố tác độngthường xuyên và trong suốt hoạt động phát triển thị trường của doanh nghiệp Hiệnnay, khó khăn lớn nhất là phải đối mặt chính là sự cạnh tranh từ Trung Quốc TrungQuốc hiện đang là nguồn cung cấp chính cho thị trường thế giới những mặt hàng thủcông mỹ nghệ và quà tặng như mây tre lá, thêu… tương tự như các mặt hàng mà ViệtNam đang cố gắng xuất khẩu Hàng Trung Quốc có mẫu mã đẹp, lượng hàng lớn nêngiá thành sản phẩm thấp Do đó, khi công ty tiến hành thâm nhập sâu hơn vào thịtrường EU cần tìm cho mình những giải pháp thích hợp để tăng lợi thế cạnh tranh củamình
Hệ thống tài chính ngân hàng giữ vai trò quan trọng trong thanh toán quốc tế và hoạtđộng kinh doanh xuất khẩu Nó giúp cho việc quản lý, cung cấp vốn, đảm trách việcthanh toán một cách thuận tiện, nhanh chóng, chính xác và an toàn cho doanh nghiệp.Hiện nay, hệ thống tài chính ngân hàng đang có những sự phát triển mạnh mẽ, tạođiều kiện thuận lợi cho hoạt động xuất khẩu hàng hóa nói chung và xuất khẩu hàng thủcông mỹ nghệ nói riêng
Thị trường Châu Âu hiện nay vẫn là một trong những thị trường nhập khẩu hàng thủcông mỹ nghệ lớn nhất của Việt Nam Tuy nhiên, thị trường này đang ngày càng thắtchắt hơn nữa các qui định về tiêu chuẩn nhập đối với các mặt hàng thủ công mỹ nghệđến từ các nước đang phát triển như Việt Nam Doanh nghiệp xuất khẩu hàng hóa sang
EU cần quan tâm đến bộ luật Reach, đây là bộ luật mới dầy hơn 800 trang của EUđược biên soạn công phu suốt hàng chục năm qua, nó bao gồm các qui định chặt chẽnhất đối với hàng nhập khẩu vào EU sẽ được áp dụng vào năm 2011 Theo đó kể từnăm 2011 tất cả các hàng hoá đặc biệt là hàng thủ công mỹ nghệ khi nhập khẩu vào
EU đều phải thoả mãn các tiêu chuẩn của Reach Nếu sản phẩm sử dụng bất kỳ loạihoá chất nào được cung cấp bởi những nhà sản xuất mà không nằm trong danh mụccủa Reach thì đều không được nhập khẩu vào EU.Trong phạm vi của bài viết này,chỉ
Trang 32đề cập đến một số lưu ý trong sử dụng các loại hoá chất cho mặt hàng mây tre đan xuấtkhẩu vào thị trường EU
Một trong những vấn đề nan giải đầu tiên mà các doanh nghiệp sản xuất kinh doanhmặt hàng mây tre đan đều phải đối mặt là vấn đề mốc, mối, mọt của hàng hoá Thôngthường, các cơ sở sản xuất nhỏ đều chủ yếu sử dụng lưu huỳnh (diêm sinh) để ủ sấymây tre, lưu huỳnh vừa có tác dụng chống mốc, mọt vừa có tác dụng làm trắng, lênmầu vàng đẹp cho nhiều mặt hàng mây tre, thêm nữa giá của lưu huỳnh rất rẻ, cách sửdụng ủ sấy cũng rất đơn giản và tiện lợi Tuy nhiên, lưu huỳnh là chất độc đã bị cấm
sử dụng trong quá trình sản xuất hàng mây tre đan xuất khẩu vào các nước Châu Âu vàBắc Mỹ vì đây là một chất độc cho cả người sản xuất lẫn người sử dụng.Chất Boraxhoặc Oxit kẽm cũng có thể được sử dụng trong quá trình luộc tre để ngăn chặn mốcmọt, nhưng theo qui định mới của Châu Âu thì đây cũng là những chất không đượcphép sử dụng
- Vấn đề sử dụng các loại keo ép:
Keo ép là hoá chất quan trọng được sử dụng trong sản xuất các mặt hàng tre cuốn,các hàng tre ép công nghiệp, ván sàn tre Đây cũng là một loại hoá chất nhạy cảm đượcnhiều nhà nhập khẩu quan tâm đầu tiên khi họ có nhu cầu mua hàng
- Vấn đề sử dụng các chất sơn phủ bề mặt:
Sơn phủ bề mặt là một yêu cầu bắt buộc đối với phần lớn các hàng hoá mây tre đanthủ công mỹ nghệ xuất khẩu Chất sơn phủ không chỉ có tác dụng làm đẹp sản phẩm,tạo mầu sắc mà đó chính là lớp bảo vệ sản phẩm khỏi các xâm hại từ bên ngoài nhưmốc, mọt, ẩm thấp gây trương nứt hàng Tại Châu Âu, nếu là các sản phẩm dùng đểngồi như bàn ghế thì sơn không được gây bẩn cho quần áo của người sử dụng Việc đó
sẽ được Test bằng cách dùng vải trắng để lau vào sơn mầu Nếu là hàng dùng cho trẻnhỏ thì sẽ có yêu cầu Test đặc biệt vì trẻ em luôn có thói quen sờ mó, thậm chí ngửiliếm vào các đồ dùng nên yêu cầu về chất lượng sơn an toàn là rất cao Nếu là hàngdùng cho đồ nhà bếp như bát đũa, thớt, thìa thì phải thoả mãn được các yêu cầu về antoàn thực phẩm
Ảnh hưởng của các nhân tố môi trường bên trong.