quyền nhân thân theo quy định trong Bộ luật dân sự
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Quyền nhân thân là một trong những quyền dân sự có ý nghĩa vô cùng quan trọngđược pháp luật của các quốc gia trên thế giới ghi nhận và bảo vệ Kể cả trong côngước quốc tế là những văn bản pháp lý cấp cao nhất cũng đã đề cập tới vấn đề quyềnnhân thân của con người như tại công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trịnăm 1966 hay tại bộ luật nhân quyền thế giới…Cùng với các văn bản pháp luật khác,
Bộ luật dân sự ( BLDS ) của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ghi nhận
và có những cơ chế để bảo vệ quyền nhân thân của chủ thể Cùng với quá trình lịch
sử lập pháp của nhà nước ta, luật dân sự( LDS) cũng luôn có xu hướng là ngày cànghoàn thiện để đáp ứng kịp nhu cầu mà xã hội đặt ra Và quyền nhân thân cũng nằmtrong xu hướng đó của LDS BLDS 2005 sửa đổi bổ sung nhiều quy định về quyềnnhân thân Đây là cơ sở pháp lý quan trọng thứ hai sau Hiến pháp để ghi nhận và bảo
vệ quyền nhân thân Điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế và kinh tế xã hội của nước tangày càng phát triển, các quyền của con người và quyền nhân thân của con ngườiđược coi trọng hơn bao giờ hết Quyền nhân thân nhìn cả dưới góc độ lý luận và thựctiễn đều là vấn đề hết sức quan trọng cho lý luận xây dựng và hoàn thiện về nhữngquy định về quyền nhân thân.Song cùng với sự hoàn thiện về quyền nhân thân trên
lý luận là vấn đề thực tiễn áp dụng và thực hiện quyền nhân thân ra sao Do vậy việcnghiên cứu quyền nhân thân theo quy định của BLDS với những vấn đề lý luận vàthực tiễn góp phần quan trọng cho mỗi công dân thực hiện nghiêm túc các quyềnnhân thân mà pháp luật cho phép nhằm hoàn thiện và phát huy hết khả năng vốn cócủa mình, đồng thời là những kinh ngiệm thực tiễn áp dụng giải quyết các vấn đề cóliên quan tới quyền nhân thân ở nước ta hiện nay
NỘI DUNG
1.Cơ sở lý luận hình thành quyền nhân thân theo quy định trong BLDS
1.1 Cơ sở lý luận
Con người là tổng hòa của các mối quan hệ Trong mối quan hệ với tự hiên, xã hội
và con người thì tự nhiên là cái có trước và con người là cái có sau Con ngườikhông thể thay đổi được tự nhiên mà chỉ có thể thích ứng với tự nhiên và cải tạo nó
mà thôi Quá trình cải tạo tự nhiên cũng là quá trình con người tự hoàn thiện mình vàphát huy hết những khả năng vốn có của mình Con người tạo ra xã hội nhưng xã hội
Trang 2lại có vai trò quan trọng trong việc hình thành con người vì không thể có con ngườisống ngoài xã hội Do vậy con người vừa là một thực thể sinh học sống, vừa là một
cơ thể sống mang bản chất xã hội.Điều này làm cho con người khác với các thực thểsinh học khác ở chỗ, chỉ có con người mới được hưởng những quyền do địa vị làmngười mang lại, đó chính là quyền con người, quyền nhân thân của mỗi con người.Xuất hiện, tồn tại, vận động và phát triển gắn với quá trình tiến hóa của lịch sử xãhội loài người, quyền con người được coi là một hiện tượng lịch sử xã hội có quátrình phát triển lâu dài Tư tưởng đó cũng gần như xuất hiện cùng với sự xuất hiệncủa xã hội loài người
Trải qua các giai đoạn hình thành và phát triển, quyền con người là một khái niệmrộng lớn, phức tạp thậm chí nhiều lúc là đầy mâu thuẫn, bản chất của quyền conngười vừa mang tính tự nhiên vừa mang tính xã hội Hai thuộc tính vốn có củaquyền con người tồn tại tất yếu có mối quan hệ hữu cơ, tác động qua lại với nhau.Tính tự nhiên cho thấy quyền con người là đặc quyền vốn có của con người, nhữngquyền này lại bị chi phối và phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế, văn hóa, bị chiphối bởi trình độ phát triển của xã hội làm cho nội dung quyền của con người chứađựng tính đặc thù, gắn liền với lịch sử phát triển truyền thống của mỗi quốc gia Tuynhiên có những quyền của con người mà dù ở bất cứ đâu, bất cứ khi nào, bất cứ quốcgia nào thì nó luôn luôn được đảm bảo đó chính là quyền con người cơ bản sự hiệndiện của nó trong hệ thống pháp luật quốc gia là ranh giới khẳng định có hay không
có quyền con người Trong bản tuyên ngôn độc lập của hợp chủng quốc Hoa kỳ
1776 khẳng định” con người sinh ra đều bình đẳng, đấng tạo hóa đã dành cho họ
một số quyền không thể bị tước đoạt Trong các quyền đó có quyền sống, quyền tự
do và quyền mưu cầu hạnh phúc.” Dù là quyền con người hay quyền con người cơ
bản thì đều là những khái niệm thể hiện xu hướng, yêu cầu, thể hiện năng lực, khảnăng và ý chí Và một trong những đặc trưng rất quan trọng của quyền con người đóđược đảm bảo bởi Nhà nước và pháp luật Nhà nước và pháp luật là công cụ vàphương tiện bảo vệ quyền con người Thông qua việc ban hành các quy định phápluật Nhà nước quy định các quyền của công dân trong đó có quyền nhân thân Quyềncông dân tạo lên địa vị pháp lý của công dân trong xã hội thể hiện mối quan hệ vềmặt pháp lý giữa một cá nhân và một quốc gia Mối liên hệ này sẽ ràng buộc hành vicủa công dân vào hệ thống pháp luật quốc giai đầu tiên là Hiến pháp và các văn bảnpháp luật khác trong đó đặc biệt là có BLDS
Trang 31.2 Cơ sở pháp lý
1.2.1 Hiến pháp
Hiến pháp là đạo luật cơ bản, đạo luật gốc của một quốc gia, là cơ sở hình thành hệthống pháp luật và xây dựng các văn bản pháp luật khác Căn cứ vào quy định củaHiến pháp các ngành luật cụ thể hóa bằng các quy định để tác động tới các quan hệ
mà nó có nhiệm vụ điều chỉnh
Đối với LDS nói chung và các quy đinh về quyền nhân thân trong BLDS, Hiến phápquy định một các rất khái quát về quyền nhân thân Hiến pháp năm 1992 quy địnhnhững nguyên tắc cơ bản của chế độ xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở giai đoạn đầuthời quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội Trong Hiến pháp năm 1992, quy định rất nhiềunhững vấn đề của đất nước, của hệ thống pháp luật và của cả hệ thống chính trị…Trong đó có chương II và chương V có nhiều quy định liên quan tới LDS Đặc biệttrong chương V quy định về quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân Ngoài nhữngquyền về chính trị xã hội là một loại các quyền công dân được Hiến pháp ghi nhậnnhư: quyền bình đẳng về năng lực pháp luật dân sự của cá nhân, các quyền nhân thân
51 Số lượng các quy định trong BLDS cũng chiếm một phần đáng kể và tới BLDS
2005 đã đánh dấu những bước phát triển mới trong việc xây dựng và hoàn thiện vềquyền nhân thân của cá nhân
2 Khái quát về quyền nhân thân
Trang 42.1 Khái niệm quyền nhân thân
Để hiểu như thế nào là quyền nhân thân chúng ta cần hiểu về “ nhân thân”.Hiện naycũng chưa có khái niệm chính thức về “ nhân thân” Đây là từ Hán Việt và nếuchúng ta hiểu rõ khái niệm này thì chúng ta cũng sẽ hiểu rõ khái niệm quyền nhân
thân Tuy nhiên theo quy định của Điều 24 – BLDS: “ quyền nhân thân được quy
định trong bộ luật này là quyền dân sự gắn liền với mỗi cá nhân, không thể chuyển giao cho người khác, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác” Theo đó chúng ta
có thể hiểu nhân thân là những yếu tố gắn liền với mỗi con nguời cụ thể, liên quantrực tiếp tới cá nhân như hình dáng, khuôn mặt, hoàn cảnh gia đình, nghề nghiệp….Dưới góc độ pháp luật dân sự thì không phải mỗi yếu tố liên quan đến bản thân mỗicon người đều ảnh hưởng đến việc hưởng quyền nhân thân của họ Ví dụ: bất cứ cánhân nào cũng đều có quyền đối với quốc tịch Tuy nhiên có nhiều yếu tố liên quanđến nhân thân của con người lại ảnh hưởng trực tiếp đến việc hưởng quyền dân sựcủa họ
Điều 24 BLDS đã đưa ra những quy định chung nhất về quyền nhân thân, qua quyđịnh này chúng ta có thể định nghĩa về quyền nhân thân như sau:
- Theo nghĩa khách quan, Quyền nhân thân được hiểu là tổng hợp các quy
phạm pháp luật do Nhà nước ban hành, trong đó có nội dung quy định rõ chocác cá nhân có các quyền nhân thân gắn liền với bản thân mình và đây là cơ sở
để cá nhân thực hiện quyền của mình
- Theo nghĩa chủ quan, Quyền nhân thân là quyền dân sự chủ quan gắn liền với
cá nhân do Nhà nước quy định cho mỗi cá nhân và cá nhân không thể chuyểngiao quyền này cho người khác trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.Qua định nghĩa quyền nhân thân chúng ta có thể thấy được đặc điểm của quyền nhânthân như sau:
- Quyền nhân thân là một quyền dân sự do luật định
- Quyền nhân thân là một quyền dân sự đặc biệt được pháp luật bảo vệ
- Mọi cá nhân đều có sự bình đẳng về quyền nhân thân
- Quyền nhân thân có tính chất phi tài sản
- Quyền nhân thân luôn gắn liền với cá nhân, không thể chuyển giao cho chủthể khác
Trang 52.2 Một số đặc trưng cơ bản của quyền nhân thân
2.2.1 Quyền nhân thân gắn liền với chủ thể và nguyên tắc là không thể dịch chuyển cho chủ thể khác
Quyền nhân thân trở thành một thuộc tính của chủ thể mà không bị phụ thuộc , chiphối bởi bất kỳ yếu tố khách quan nào như độ tuổi, trình độ, giới tính, tôn giáo….Pháp luật dân sự thừa nhận quyền nhân thân cho mỗi cá nhân mà không thể chuyểndịch cho chủ thể khác, mỗi chủ thể đều bình đẳng về quyền nhân thân Các quyềndân sự nói chung và quyền nhân thân nói riêng do Nhà nước quy định cho các chủthể dựa trên điều kiện kinh tế, xã hội nhất định Do vậy về nguyên tắc quyền nhânthân không thể chuyển giao cho người khác cũng đồng nghĩa là quyền nhân thânkhông thể là đối tượng trong các giao dịch mua bán, trao đổi, tặng cho… Tuy nhiên,trong một số trường hợp, một số quyền nhân thân có thể chuyển giao cho người kháctheo quy định của pháp luật Ví dụ: Quyền công bố, phổ biến tác phẩm của tác giả ,khi tác giải chết đi thì quyền này có thể chuyển giao cho chủ thể khác hay các quyềnkhác về tinh thần của tác giả đối với tác phẩm như quyền được tôn trọng tác phẩm…
2.2.2 Quyền nhân thân có tính chất phi tài sản
Quyền nhân thân không bao giờ là tài sản, chỉ có quyền nhân thân gắn với tài sảnhay không gắn với tài sản mà thôi Vì không phải là tài sản nên quyền nhân thân vàtiền tệ không phải là những đại lượng tương đương và không thể trao đổi ngang giá
Do vậy, quyền nhân thân không thể bị định đoạt hay mang ra chuyển nhượng chongười khác Một người không thể kê biên quyền nhân thân của con nợ Vì sự cụ thể
nó thành tài sản, tiền tệ là điều không thể Thực ra, đây là vấn đề rất khó trong lýthuyết về quyền nhân thân cũng như áp dụng thực hiện quyền nhân thân Thôngthường, một quyền nhân thân không thể định đoạt có nghĩa là không thể là đối tượnggiao dịch Nhưng trên thực tế lại xuất hiện nhiều hợp đồng liên quan tới quyền nhânthân VÍ dụ: trong lĩnh vực đời tư liên quan tới hình ảnh, nhiều người được côngchúng biết đến như là minh tinh màn bạc ký hợp đồng với các cơ quan thông tin,xuất bản.Vậy làm thế nào để dung hòa đặc điểm này của quyền nhân thân với tìnhtrạng giao dịch hợp pháp về hình ảnh ngày càng phát triển và rầm rộ như hiện nay
2.2.3 Hành vi xâm hại quyền nhân thân không nhất thiết phải gây ra thiệt hại
Trang 6Đối mỗi hành vi được coi là xâm phạm tới quyền nhân thân thì có thể gây ra thiệt hạihoặc không gây ra thiệt hại Điều đó có nghĩa là thiệt hại không phải là căn cứ bắtbuộc để xác định trách nhiệm pháp lý đối với hành vi xâm hại Trên thực tế, ngay cảtrong trường hợp bị xâm phạm quyền nhân thân không những là không gây thiệt hại
gì cho người bị xâm hại mà thậm chí là còn có lợi cho họ Nhưng về nguyên tắc, nếukhông có sự đồng ý của cá nhân thì đều coi là vi phạm
2.2.4 Thiệt hại về quyền nhân thân không có tiêu chí để định lượng
Trong các quyền nhân thân, quyền nhân thân liên quan tới đời sống tinh thần của cánhân luôn chiếm một số lượng lớn Đó chính là những quyền liên quan tới đời sốngtinh thần của con người, là quyền của cá nhân phát sinh trong sinh hoạt nội tâm củacon người.Do vây, đối với mỗi cá nhân thì giá trị đó không có chuẩn mức chung để
cụ thể nó thành giá trị Vì thế, thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền nhân thân khôngđược cân,đo,đong, đếm bằng những đại lượng cụ thể Đặc trưng này không loại trừnghĩa vụ bồi thường thiệt hại khi hành vi xâm hại tới quyền nhân thân
3 Quá trình phát triển của pháp luật Việt Nam về các quyền nhân thân
Việc hình thành và phát triển của quyền nhân thân luôn xuất phát từ cơ sở của nó Và
cơ sở pháp lý là điều cốt lõi Ở nước ta thì Hiến pháp là cơ sở đầu tiên và quan trọngcho việc hình thành và phát triển của các quyền nhân thân thông qua sự cụ thể hóatrong LDS.Do vậy quyền nhân thân cũng có sự phát triển gắn liền với sự ra đời vàphát triển của các bản Hiến pháp
Ở nước ta, quyền nhân thân của cá nhân cũng có những bước phát triển nhất định.Dưới thời Pháp thuộc, các quyền dân sự nói chung và quyền nhân thân nói riêngđược thực dân Pháp quy định nhằm bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị trong xã hội
- Giai đoạn 1945 – 1959
Quyền nhân thân được thể hiện trong Hiến pháp 1946
Trong bối cảnh đất nước vừa thoát khỏi chế độ xã hội cũ – xã hội mà mọi người đều
có thể chịu sự kiểm soát, bắt bớ tù đày với những lý do không thể hiểu nổi – thì quyđịnh của Hiến pháp 1946 về quyền nhân thân đã đánh giá được sự tiến bộ của Nhànước ta lúc bấy giờ Đây là sự lỗ lực, cố gắng của Nhà nước ta trong viêc phấn đấugiành quyền tự do dân chủ cho con người như : “… nhà ở và thư tín của công dân
Trang 7Việt Nam, không ai được xâm phạm một cách trái pháp luật” hay các quy định củapháp luật liên quan tới quyền bầu cử và ứng cử( Điều 18)….Trên cơ sở quy định củaHiến pháp 1946, các văn bản pháp luật có hiệu lực sau Hiến pháp giai đoạn nàycũng đã cụ thể hóa quyền nhân thân, trong đó có luật báo chí ngày 20/5/1957 Quyền
tự do ngôn luận là một nội dung quan trọng được quy định cụ thể trong đó hay khibáo chí đăng tin sai sự thật, vu khống thì phải xin lỗi và tùy mức độ người bị viphạm có thể yêu cầu Tòa án giải quyết
- Giai đoạn 1959 – 1980
Giai đoạn này là giai đoạn đánh dấu sự ra đời và phát triển của nền lập pháp với bảnHiến pháp 1959 ra đời tiếp nối và kế thừa Hiến pháp 1946.Hiến pháp đã giànhchương II với tiêu đề” quyền lợi và nghĩa vụ cơ bản của công dân”, trong đó là cácquy định quyền dân sự vói chung và quyền nhân thân nói riêng( từ Điều 22 đến Điều
42 ) Cùng với sự biến động của hoàn cành lịch sử đất nước, quyền nhân thân của cánhân được quy định trong Hiến pháp có ý nghĩa lịch sử xã hội sâu sắc Các quy định
về quyền nhân thân trong Hiến pháp 1959 một mặt tạo niềm tin cho con người mới
xã hội chủ nghĩa, một mặt động viên, khích lệ tinh thần đấu tranh chống đế quốc Mỹxâm lược của nhân dân ta
- Giai đoạn 1980 – 1992
Trên cơ sở ban hành Hiến pháp 1980, Nhà nước ta đã ban hành rất nhiều các văn bảnpháp luật để cụ thể hóa các quy định liên quan đến việc ghi nhận và thực hiện quyềnnhân thân của cá nhân Bên cạnh các quy định của pháp luật quốc gia liên quan tớicác quyền nhân thân, Nhà nước ta đã có những nỗ lực quan trọng trong việc ký kết
và tham gia các công ước quốc tế trong lĩnh vực quyền con người.Nói là vậy, nhưngthực sự là một số quyền dân sự cũng như quyền nhân thân của cá nhân được quyđịnh trong Hiến pháp 1980 không có tính khả thi và không thể thực hiện được nótrong thực tiễn lúc bấy giờ như tại Điều 60, Điều 61… Theo đó thì Nhà nước đảmbảo thực hiện chế độ học không phải trả tiền hay chế độ khám bệnh và chữa bệnhkhông phải trả tiền lúc bấy giờ thì hoàn toàn là không thể và tới bây giờ ở nước tacũng là chưa thể
- Giai đoạn 1992 – nay
Trang 8BLDS 1995 ra đời đã đề cập tới các quyền nhân thân một cách đa dạng, bao gồm cácquy định từ Điều 26 đến Điều 47 Có thể nói lần đầu tiên một văn bản pháp lý cóhiệu lực cao nhất trong lĩnh vực dân sự đã ghi nhận các quyền nhân thân của chủ thểcũng như các phương thức để bảo vệ quyền nhân thân Đây chính là cơ sở pháp lý và
là nền tảng để các cá nhân thực hiện quyền nhân thân của mình
Qua gần 10 năm áp dụng vào thực tiễn để bảo vệ và lợi ích hợp pháp cho các chủ thểkhi thực hiện quyền của mình nói chung, quyền nhân thân nói riêng BLDS 1995 rađời là một nhu cầu thiết yếu nhưng cũng đã bộc lộ một khiếm khuyết nhất định cầnphải sửa đổi bổ sung BLDS2005 ra đời đã sửa đổi bổ sung một số quy định củaBLDS 1995, trong đó có các quy định về quyền nhân thân So với BLDS 1995, khiquy định về quyền nhân thân, BLDS 2005 quy định quyền được khai sinh, quyềnđược khai tử là quyền nhân thân của cá nhân Ngoài ra, BLDS 2005 lần đầu tiên đưavào một số quyền nhân thân liên quan tới đạo đức sinh học đó là các quyền: quyềnhiến bộ phận cơ thể (Điều 33), quyền hiến xác, bộ phận cơ thể sau khi chết( Điều34), Quyền nhận bộ phận cơ thể( Điều 35), quyền xác định lại giới tính( Điều 36)…Ngoài việc thêm mới một số quyền nhân thân, hầu hết các quyền nhân thân đượcquy định trong BLDS1995 được kế thừa có chọn lọc và sửa đổi bổ sung cho phù hợpnhư quyền thay đổi họ tên (Điều 27), quyền xác định dân tộc( Điều 28), Điều 31,Điều 32, Điều 37, Điều 38…
4 Nội dung cơ bản của các quyền nhân thân được quy định trong BLDS 2005
BLDS 2005 quy định về quyền nhân thân từ Điều 24 đến Điều 51.Ngoài quy địnhchung về quyền nhân thân ( Điều 24), bảo vệ quyền nhân thân ( Điều 25), trong cácquyền nhân thân được BLDS quy định cụ thể,dựa vào đối tượng của quyền nhânthân,các quyền nhân thân được quy định trong BLDS 2005 có thể phân chia thànhcác nhóm quyền nhân thân sau đây:
4.1 Nhóm quyền nhân thân gắn liền với chủ thể trong quan hệ hôn nhân gia đình.
Trong quan hệ hôn nhân gia đình, một trong những mối quan hệ rất đặc biệt của đờisống xã hội, các quyền nhân thân của cá nhân luôn đặt trong mối quan hệ mật thiếtgiữa cá nhân đó với tư cách là một thành viên trong gia đình với các chủ thể có liênquan trong mối quan hệ gia đình; giữa các thành viên đó với tư cách là một thành
Trang 9viên trong xã hôi với các chủ thể khác với mục đích không chỉ bảo vệ quyền và lợiích của họ mà còn của cả các thành viên trong gia đình và toàn xã hội Các quyền đó
do pháp luật quy định bao gồm: quyền kết hôn ( Điều 39 ); quyền bình đẳng của vợchồng( Điều40); quyền được hưởng sự chăm sóc giữa các thành viên trong giađình( Điều 41); quyền ly hôn( Điều 42); quyền nhận, không nhận cha, mẹ,con ( Điều43), quyền được nuôi con nuôi và được nhận làm con nuôi( Điều 44).Quyền kết hôn
là quyền nhân thân gắn liền với nhân thân của chủ thể không thể chuyển giao chongười khác Đảm bảo quyền tự do kết hôn của cá nhân luôn được pháp luật hướngtới; nhưng cá nhân chỉ có thể thực hiện quyền kết hôn khi đáp ứng được một số điềukiện nhất định hay là không được kết hôn trong những trường hợp pháp luật cấmnhư nam phải từ 20 tuổi trở lên, nữ từ 18 tuổi trở lên mới được quyền kết hôn… vấn
đề này đã được luật hôn nhân gia đình quy định cụ thể Nói vậy không có nghĩa làquyền kết hôn bị hạn chế mà nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững, đảm thuầnphong mỹ tục và hạn chế bớt hậu quả xảy ra trong việc kết hôn tùy tiện Quyền bình
đẳng giữa vợ và chồng Điều 40 BLDS quy định” vợ, chồng bình đẳng với nhau, có
quyền, nghĩa vụ ngang nhau về mội mặt trong gia đình, và trong quan hệ dân sự, cùng nhau xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc bền vững”.
Thực chất đây là quyền cũng đồng thời là nghĩa vụ của chồng Vợ chồng cùng nhauthực hiện các quyền này cũng đồng thời chung tay cùng với cộng đồng xây dựng một
xã hội phồn vinh Bởi khi thực hiện các quyền này thì sẽ xây dựng một gia đình tốt.Gia đình là tế bào của xã hội, gia đình tốt thì xã hội mới tốt được Điều 42 quy định
về ly hôn, quyền này được đặt trong mối quan hệ hôn nhân gia đình là quyền nhânthân gắn với vợ chồng Sự bình đẳng của quyền ly hôn thể hiện trong việc cả hai vợchồng, hoặc vợ, hoặc chồng có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn Xét vềhậu quả của ly hôn là không thể lường trước được, do vậy để sự tự do ly hôn thực sự
là sự giải thoát cho vợ chồng, sự bần cùng mới cần sử dụng tới, Luật hôn nhân giađình cũng đã quy định những vấn đề cần thiết liên quan tới việc ly hôn
Đối với những quyền nhân thân liên quan tới mối quan hệ giữa cha,mẹ và các thànhviên khác trong gia đình như tại Điều 41, Điều43, Điều 44 Cụ thể hóa các điều luậtnày đã được Luật hôn nhân gia đình Việt Nam thực hiện và bảo đảm thực hiện nótrên thực tế một các chi tiết và đồng bộ Đối với quyền nhận, không nhận cha mẹ contheo Điều 43 và Điều 41 BLDS Theo đó,người con có quyền được xác định cha mẹ
và được cha mẹ mình chăm sóc và bảo vệ Đây là một quyền nhân thân đặc biệt vàquan trọng trong các quyền cơ bản đối với trẻ em Một khi trẻ em được sinh ra mà
Trang 10không được cha mẹ, hoặc cha, hoặc mẹ không thừa nhận thì trẻ em đó có thể bảo vệquyền của mình bằng các phương thức khác nhau theo Điều 43 đã quy định Trongthực tế, nhóm quyền đặc biệt này của người con luôn bị xâm hại, không đảm bảođược quyền của trẻ em nói chung và quyền của người con nói riêng Việc này cho dù
là có những chế tài hay không thì nhóm quyền nhân thân này đôi lúc là rất khó đảmbảo Hoặc khi đã thực hiện quyền đó rồi thì xác định vấn đề trách nhiệm của cha mẹtrong một quãng thời gian dài đã chốn tránh trách nhiệm với người con như thế nào.Đây thực sự là vấn đề mà pháp luật dân sự cũng như pháp luật hôn nhân gia đình củanước ta đã và đang bị bỏ ngỏ Do vậy pháp luật của chúng ta trong thời gian tới cần
bổ sung vấn đề về hậu quả pháp lý đối với việc xác định cha, mẹ, cho con để giảmbớt tình trạng thiếu trách nhiệm của một số ông bố, bà mẹ như hiện nay Ngoài ra,quyền được nuôi con nuôi và quyền được nhận làm con nuôi quy định tại Điều 44BLDS Theo đó thì những quyền này đã được pháp luật bảo hộ và công nhận Và đểđược pháp luật bảo hộ những quyền và lợi ích liên quan của người nhận nuôi connuôi và người được nhận nuôi con nuôi thì việc nhận nuôi con nuôi phải được thựchiện theo quy định của pháp luật Quyền được nuôi con nuôi đã tạo ra quyền làmcha, làm mẹ của người nhận nuôi con nuôi nhằm tạo ra sự gắn bó tình cảm giữangười nhận nuôi và người được nhận nuôi trong quan hệ cha mẹ và con Ngoài cácquyền nhân thân được quy định trong BLDS 2005 liên quan đến quan hệ hôn nhângia đình, Luật hôn nhân gia đình đã chi tiết hóa các quyền này như quyền xác địnhcha mẹ và con, cha mẹ có quyền đại diện, giám hộ cho con theo quy định của phápluật Bên cạnh đó là các quyền nhân thân giữa các thành viên trong gia đình
Tóm lại, BLDS 2005 đã có nhiều quy định cụ thể về quyền nhân thân trong nhómquan hệ này Ngoài ra là luật hôn nhân gia đình 2000, cũng đã quy định chi tiết cácquyền nhân thân thuộc nhóm này Đây là những cơ sở pháp lý quan trọng để các cánhân trong mối quan hệ hôn nhân gia đình được tôn trọng và bảo vệ
4.2 Nhóm các quyền liên quan tới sự cá biệt hóa cá nhân
Các quyền nhân thân thuộc nhóm này được BLDS ghi nhận bao gồm : quyền đối với
họ tên ( Điều 26), quyền thay đổi họ tên ( Điều 27 ),quyền được khai sinh( Điều 29),quyền được khai tử ( Điều 30 ),quyền của cá nhân đối với hình ảnh ( Điều31), Quyềnxác định dân tộc( Điều 28), quyền xác định lại giới tính( Điều36), quyền đối vớiquốc tịch ( Điều45) Trong tất cả các quyền nhân thân mà BLDS đã ghi nhận thìquyền nhân thân thuộc nhóm quyền này thể hiện rõ nhất đặc trưng của LDS Việc
Trang 11phân biệt cá nhân này với cá nhân khác và phân biệt cá nhân với những chủ thể củaquan hệ pháp luật không những có ý nghĩa trong việc xác định quyền và nghĩa vụcủa chủ thể mà còn có ý nghĩa trong việc xác định trách nhiệm pháp lý của chủ thểkhi tham gia quan hệ pháp luật nói chung và quan hệ pháp luật dân sự nói riêng.Những quyền nhân thân liên quan tới sự cá biệt hóa cá nhân là những quyền năng cơbản và thể hiện rõ sự cá biệt gắn liền với chủ thể và không thể chuyển giao chongười khác.
Mỗi người sinh ra đều có một tên gọi của mình do cha mẹ hoặc ai đó đăt cho để phânbiệt cá nhân này với cá nhân khác.Trên thực tế thì quyền này mặc nhiên là có để mỗichúng ta có thể phân biệt nhau.Điều 26 và Điều 27 quy định quyền đối với họ tên vàquyền thay đổi họ tên Đây là là quyền dân sự cơ bản gắn liền với nhân thân của mỗi
cá nhân Việc xác lập họ tên là rất quan trọng và gắn liền với chủ thể đó tới suốt đời.Mặc dù mỗi cá nhân có thể có nhiều tên gọi khác nhau như :bí danh, tên thườnggọi,biệt danh, tên khai sinh… Họ tên không chỉ đơn thuần là yếu tố về mặt nhânthân, mà nó còn là yếu tố pháp lý quan trọng để cá nhân xác lập thực hiện quyềncũng như nghĩa vụ, trách nhiệm pháp lý nhân danh chính mình Do vậy họ tên củamột người cần phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận bằng việc cấpgiấy đăng ký khai sinh cho một người Và cá nhân khi tham gia vào quan hệ phápluật chỉ được công nhận mang một tên riêng để phân biệt với các chủ thể khác Đóchính là tên được ghi trong giấy khai sinh Quyền đối với họ tên là quyền nhân thâncủa cá nhân, cá nhân có quyền này kể từ khi sinh ra Tuy nhiên việc thực hiện quyềnnày lại không do chính họ thực hiện mà lại hoàn toàn phụ thuộc vào người có quyền
và trách nhiệm đi khai sinh Rõ ràng quyền và lợi ích của cá nhân đã bị phân tán.Trong trường hợp người có quyền và nghĩa vụ đi khai sinh cho trẻ mà không thựchiện vậy ai sẽ chịu trách nhiệm, không những thế nếu trẻ chưa được đăng ký khaisinh đã lớn và đã có đầy đủ năng lực hành vi dân sự thì có thể tự mình đi đăng kýkhai sinh được không? Đây là một câu hỏi mà đã gặp khá nhiều ở nhà nước ta hiệnnay và vẫn là một vấn đề còn bỏ ngỏ Do vậy pháp luật dân sự cẩn bổ sung và hoànthiện quyền nhân thân này để bao trùm hết cả trường hợp trên
Quyền xác định lại dân tộc là quyền nhân thân của cá nhân được pháp luật bảo vệ.Theo quy định của BLDS,tại Điều 28 quy định thì quyền xác định dân tộc của cánhân lại khá là ngược so với quyền đối với họ tên Nước ta hiện nay có 54 dân tộccùng sinh sống Việc xác định dân tộc cho cá nhân hoàn toàn phụ thuộc vào dân tộc