1. Trang chủ
  2. » Kinh Doanh - Tiếp Thị

Mối quan hệ giữa luồng vốn trong nước và nước ngoài trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam

63 520 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Mối Quan Hệ Giữa Luồng Vốn Trong Nước Và Nước Ngoài Trong Việc Thúc Đẩy Tăng Trưởng Kinh Tế Ở Việt Nam
Người hướng dẫn PGS.TS Từ Quang Phương, TS. Phạm Văn Hùng
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Thể loại Đề Tài Nghiên Cứu
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 63
Dung lượng 473 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong quá trình phát triển kinh tế của bất kì một quốc gia nào thì vấn đề nâng cao thu hút và sử dụng một cách có hiệu quả vốn đầu tư luôn là vấn đề cấp bách và có vai trò quan trọng trong thúc đẩy tăng trưởng của các quốc gia dù là quốc gia phát triển hay đang phát triển

Trang 1

Mục lục

NHÓM 5: Mối quan hệ giữa luồng vốn trong nước và nước ngoài trong việc thúc đẩy tăng

trưởng kinh tế ở Việt Nam

Vốn ngân sách Nhà

Vốn của các doanh nghiệp Nhà nước và nguồn vốn khác

Vốn đầu tư của khu vực

Trang 2

Lời Mở Đầu

Trong quá trình phát triển kinh tế của bất kì một quốc gia nào thì vấn đề nâng cao thu hút và sửdụng một cách có hiệu quả vốn đầu tư luôn là vấn đề cấp bách và có vai trò quan trọng trongthúc đẩy tăng trưởng của các quốc gia dù là quốc gia phát triển hay đang phát triển , Việt Namkhông nằm ngoài quy luật đó Ở Việt Nam sau hơn 20 năm đổi toàn diện nền kinh tế đã thuđược rất nhiều kết quả đáng mừng như : tăng trưởng kinh tế luôn ở tốc độ cao so với các nướctrong khu vực và trên thế giới, đời sống của nhân dân được nâng cao , xuất khẩu tăng mạnh…Đóng góp không nhỏ trong đó là nhờ hoạt động đầu tư Trong các chiến lược phát triển của đảngcủa nhà nước thì hoạt động đầu tư luôn là một hoạt động rất được coi trọng , trong đó các cơquan quản lý nhà nước luôn giữ vững quan điểm cho rằng vốn đầu tư trong nước là nguồn vốn cóvai trò quyết định tới tạo lập và duy trì một nền kinh tế phát triển với tốc độ cao Các chính sách

sử dụng và thu hút và sử dụng các nguồn vốn trong nước đạt được nhiều những kết quả quantrọng , nhờ đó mà cơ sở hạng tầng không ngừng được cải thiện , tiết kiệm từ các nguồn trongnước được sử dụng có hiệu quả và một trong những ý nghĩa của việc sử dụng vốn trong nướcthời gian qua đó là việc tạo sức hút và góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư nướcngoài Ngoài việc xác định vốn trong nước có vai trò quyết định tới tăng trưởng kinh tế thì đảng

và nhà nước cũng xác định rằng việc sử dụng vốn đầu tư từ nước ngoài cũng có vai trò quantrọng Vốn đầu tư nước ngoài được đưa vào nước ta không những góp phần bổ sung cho sự

Trang 3

thiếu hụt vốn đầu tư trong nước mà còn giúp nguồn vốn trong nước sử dụng hiệu quả hơn Vìvậy ta có thể thấy rằng nguồn vốn trong nước và vốn nước ngoài có mối quan hệ khăng khíttrong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Nhưng vấn đề đặt ra mà nhiều mà quản lý cũng đanggặp khó khăn trong thực tế là làm sao có thể tạo được một cơ cấu hai nguồn vốn này một cáchhợp lý và tăng cường vai trò của mối quan hệ giữa hai nguồn vốn Vì những lý do trên chúngtôi đã lựa chọn nghiên cứu đề tài : “ Mối quan hệ giữa luồng vốn trong nước và nước ngoàitrong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam “ nhằm đánh giá thực trạng thu hút , sử dụng, vai trò và mối quan hệ trên thực tế của hai nguồn vốn để có thể đưa ra những cái nhìn kháchquan , thực tế về mối quan hệ giữa hai luồng vốn nói riêng và hoạt động đầu tư ở Việt Nam nóichung Từ đó có những kiến nghị về giải pháp cần thiết.

Trong quá trình thực hiện nghiên cứu chúng tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới PGS.TS TừQuang Phương và TS.Phạm Văn Hùng vì sự giúp đỡ nhiệt tình để chúng tôi có thể hoàn thành đềtài này

Nhóm 5

3

Trang 4

Chương 1 Lý luận chung về mối quan hệ giữa đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài trong thúc đẩy tăng trưởng kinh tế

1.1 Lý luận chung về đầu tư

1.1.1 Khái niệm về đầu tư :

Theo giáo trình kinh tế đầu tư thì đầu tư được đinh nghĩa như sau : Đầu tư nói chung là sự hy sinh các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các hoạt động nào đó nhằm thu về các kết quả nhất định trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã bỏ ra để đạt được các kết quả đó Như vậy, mục tiêu của mọi công cuộc đầu tư là đạt được các kết quả lớn hơn so với những hy sinh về nguồn lực mà người đầu tư phải gánh chịu khi tiến hành đầu tư

1.1.2 Khái niệm về nguồn vốn đầu tư : Phần tích lũy của toàn bộ nền kinh tế được thể hiện

dưới dạng giá trị được chuyển hóa thành vốn đầu tư đáp ứng yêu cầu phát triển của xã hội

1.1.3 Phân loại về nguồn vốn đầu tư :

- Nguồn vốn trong nước

- Nguồn vốn nước ngoài

1.2 Nguồn vốn trong nước

1.2.1 Khái niệm và phân loại nguồn vốn trong nước

1.2.1.1Khái niệm: Nguồn vốn đầu tư trong nước là phần tích lũy nội bộ của nền kinh tế Bao

gồm tiết kiệm của khu vực tư dân cư, các tổ chức kinh tế, các doanh nghiệp và tiết kiệm của chính phủ được huy động vào quá trình sản xuất của xã hội Biểu hiện cụ thể của nguồn vốn đầu

tư trong nước bao gồm nguồn vốn đầu tư nhà nước, nguồn vốn của khu vực tư nhân, và thị trường vốn

1.2.1.2.Phân loại: Nguồn vốn trong nước được phân chia thành:

-Nguồn vốn nhà nước gồm:

+ Vốn từ ngân sách nhà nước

+ Nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước

+ Nguồn vốn đầu tư của các doanh nghiệp nhà nước

- Nguồn vốn của dân cư và tư nhân

- Thị trường vốn

1.2.2 Đặc điểm của vốn đầu tư trong nước

1.2.2.1 Nguồn vốn nhà nước :

Trang 5

Nguồn vốn nhà nước là nguồn vốn thuộc sở hữu của khu vực nhà nước, cụ thể là các nguồn vốn

từ ngân sách nhà nước, các khoản tín dụng đầu tư phát triển và vốn đầu tư từ các doanh nghiệpnhà nước

1.4.2.1.1 Nguồn vốn từ ngân sách nhà nước:

Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu chi của nhà nước trong dự toán đã được cơquan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để đảm bảo thực hiệncác chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước

Nguồn vốn từ ngân sách nhà nước được hình thành từ nhiều nguồn thu khác nhau như thuế, phítài nguyên, bán hay cho thuê các tài sản thuộc sở hữu của nhà nước Đây chính là nguồn chi củangân sách nhà nước cho đầu tư

Nguồn vốn này giữ một vai trò quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội của mỗiquốc gia Nó thường được sử dụng cho các dự án kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, quốc phòng, anninh, hỗ trợ các dự án đầu tư vào lĩnh vực cần tham gia của nhà nước Thông qua hoạt động chiNgân sách, Nhà nước sẽ cung phí đầu tư cho cơ sở kết cấu hạ tầng, hình thành các doanh nghiệpthuộc các ngành then chốt trên cơ sở đó tạo môi trường và điều kiện thuận lợi cho sự ra đời vàphát triển các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế (có thể thấy rõ nhất tầm quan trọng củađiện lực, viễn thông, hàng không đến hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp)

Bên cạnh đó, việc cấp vốn hình thành các doanh nghiệp Nhà nước là một trong những biện phápcăn bản để chống độc quyền và giữ cho thị trường khỏi rơi vào tình trạng cạnh tranh không hoànhảo Và trong những điều kiện cụ thể, nguồn kinh phí trong ngân sách cũng có thể được sử dụng

để hỗ trợ cho sự phát triển của các doanh nghiệp, đảm bảo tính ổn định về cơ cấu hoặc chuẩn bịcho việc chuyển sang cơ cấu mới hợp lý hơn Nguồn vốn từ ngân sách nhà nước sẽ chi cho cáckhoản trợ giúp trực tiếp dành cho những người có thu nhập thấp, thất nghiệp hay có hoàn cảnhđặc biệt như chi về trợ cấp xã hội, trợ cấp gián tiếp dưới hình thức trợ giá cho các mặt hàng thiếtyếu,các khoản chi phí để thực hiện chính sách dân số, chính sách việc làm, chống mù chữ, hỗ trợđồng bào lũ lụt Đối với các hoạt động quốc phòng và an ninh quốc gia thì ngân sách nhà nước lànguồn cung chủ yếu không thể thiếu

1.2.2.1.2 Nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước:

Vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước là một hình thức quá độ chuyển từ phươngthức cấp phát vốn ngân sách sang phương thức tín dụng đối với các dự án có khả năng thu hồivốn trực tiếp Tín dụng nhà nước về thực chất có thể coi như một khoản chi của ngân sách nhànước, vì cho vay theo lãi suất ưu đãi, tức lãi suất cho vay thường thấp hơn lãi suất trên thị trườngtín dụng, nên Nhà nước phải dành ra một phần ngân sách trợ cấp bù lãi suất

 Nguồn vốn này được hình thành từ các nguồn sau đây:

- Vốn ngân sách nhà nước hàng năm dành cho tín dụng đầu tư xây dựng cơ bản

- Vốn huy động theo chủ trương chính sách của chính phủ

5

Trang 6

- Vốn vay nước ngoài của chính phủ và các nguồn viện trợ quốc tế dành cho tín dụng đầu tưphát triển

- Vốn thu hồi nợ (gốc và một phần lãi vay) cho chương trình tín dụng ưu đãi của nhà nướcđầu tư đã đầu tư trước đây đến hạn trả nợ

- Các nguồn vốn theo quy định của chính phủ

Nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước có tác dụng tích cực trong việc giảm đáng

kể bao cấp vốn trực tiếp của nhà nước về chi ngân sách nhà nước trong điều kiện ngân sách cònhạn hẹp, đồng thời nâng cao hơn nữa trách nhiệm của người sử dụng vốn Vì cơ chế của tín dụng

là đi vay có hoàn trả kèm lãi suất, nên dưới áp lực này buộc các đối tượng vay vốn phải tăngcường hạch toán kinh tế, giám sát chặt chẽ việc sử dụng các khoản vay để bảo đảm khả năngthanh toán nợ

Ngoài ra, nguồn vốn này còn có 1 vai trò đáng kể trong việc phục vụ công tác quản lý và điềutiết kinh tê vĩ mô: không chỉ thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế mà còn thực hiện cả mục tiêuphát triển xã hội Khả năng điều tiết nền kinh tế của Nhà nước sẽ ngày càng được cải thiện khicác khoản vay được hoàn trả thay vì việc cấp phát không hoàn lại như trước đây, cho nên đầu tưcủa Nhà nước vào các ngành then chốt, các vùng trọng điểm, các vùng khó khăn tăng lên sẽ gópphần nâng cao hiệu quả kinh tế, xã hội của toàn bộ nền kinh tế

1.2.2.1.3 Nguồn vốn đầu tư của các doanh nghiệp nhà nước:

Nguồn vốn đầu tư của các doanh nghiệp nhà nước chủ yếu bao gồm từ khấu hao tài sản

cố định và thu nhập giữ lại tại doanh nghiệp nhà nước Theo Bộ kế hoạch đầu tư, nguồn vốn củaDoanh nghiệp nhà nước tự đầu tư chiếm khoảng 14 – 15% tổng vốn đầu tư toàn xã hội

Vai trò chủ yếu của nguồn vốn đầu tư của các doanh nghiệp nhà nước là đầu tư chiều sâu, mởrộng sản xuất, đổi mới thiết bị, hiện đại hóa dây chuyền công nghệ của doanh nghiệp Hoạt độngcủa doanh nghiệp góp phần giải phóng và phát triển sức sản xuất, huy động và phát huy nội lựcvào phát triển kinh tế xã hội, góp phần quyết định vào phục hồi trưởng kinh tế, tăng kim ngạchxuất khẩu, tăng thu ngân sách và tham gia giải quyết có hiệu quả các vấn đề xã hội như: tạo việclàm, xoá đói giảm nghèo, chống lạm phát

1.2.2.2 Nguồn vốn của dân cư và tư nhân

Nguồn vốn của khu vực tư nhân bao gồm phần tiết kiệm của dân cư, phần tích lũy củacác doanh nghiệp dân doanh, các hợp tác xã Chúng đóng một vai trò đặc biệt quan trọng trongviệc phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn, mở mang ngành nghề, phát triển công nghiệp,tiểu thủ công nghiệp, thương mại, dịch vụ và vận tải trên các địa phương Kinh tế dân doanh lại

là khu vực phát triển rất nhanh và năng động, tạo ra công ăn việc làm cho nền kinh tế.Với việcxây dựng lại các ngành nghề thủ công truyền thống sẽ giải quyết thất nghiệp tại các vùng nôngthôn, huy động nhiều nguồn lực xã hội tập trung đầu tư sản xuất, kinh doanh, góp phần chuyểndịch cơ cấu kinh tế Đối với các doanh nghiệp dân doanh, phần tích luỹ của các doanh nghiệpnày có đóng góp đáng kể vào tổng quy mô vốn của toàn

Trang 7

xã hội Ở một mức độ nhất định, các hộ gia đình cũng sẽ là một trong những nguồn tập trung vàphân phối vốn quan trọng trong nền kinh tế, thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế.

1.2.2.3.Thị trường vốn

Thị trường vốn bao gồm : thị trường chứng khoán (TTCK), thị trường bất động sản, thịtrường thuê mua tài chính, và các định chế tài chính khác (NHTM, công ty bảo hiểm,QTDND…)

Thị trường vốn là kênh bổ sung các nguồn vốn trung và dài hạn cho các chủ đầu tư – bao gồm

cả nhà nước và các loại hình DN Thị trường vốn mà cốt lõi là TTCK như một trung tâm thugom mọi nguồn vốn tiết kiệm của từng hộ dân cư, thu hút mọi nguồn vốn nhàn rỗi của các doanhnghiệp, các tổ chức tài chính, chính phủ trung ương và chính quyền địa phương tạo thành mộtnguồn vốn khổng lồ cho nền kinh tế Đây được coi là một lợi thế mà không một phương thứchuy động vốn nào có thể làm được

Thông qua thị trường vốn, chính phủ trung ương và chính quyền địa phương cũng có thể huyđộng vốn cho ngân sách hoặc đầu tư vào các công trình của mình bằng việc phát hành các chứngkhoán nợ như trái phiếu, công trái… Nó góp phần vào việc kiềm chế lạm phát do chính phủkhông phát hành thêm tiền giấy vào lưu thông nhằm phục vụ cho nhu cầu chi tiêu của mình.Mặt khác, đứng trên góc độ hiệu qủa, thị trường vốn thực sự trở thành một cái van điều tiết hữuhiệu các nguồn vốn từ nơi sử dụng kém hiệu quả sang nơi có hiệu qủa hơn.Trên thị trường vốn,bất cứ khoản vốn nào được sử dụng đều phải trả giá, do vậy người sử dụng vốn phải quan tâmđến việc sinh lời của mỗi đồng vốn

1.2.3 Vai trò của nguồn vốn đầu tư trong nước.

Trước hết chúng ta cần khẳng định: đối với sự tăng trưởng và phát triển kinh tế một quốc gia,nguồn vốn trong nước và nguồn vốn nước ngoài có mối quan hệ hữu cơ, bổ sung cho nhau trong

đó nguồn vốn trong nước đóng vai trò quyết định và nguồn vốn đầu tư nước ngoài đóng vai tròquan trọng không thể thiếu

Chủ nghĩa duy vật biện chứng đã từng khẳng định: “Sự phát triển của bất cứ sự vật nàođểu bắt nguồn từ sự chuyển biến, giải quyết các mối quan hệ diễn ra ngay trong bản thân sự vật

đó Điều này giữ vai trò quyết định tới tồn tại và phát triển của sự vật” Cũng giống như vậy, đểnền kinh tế một quốc gia có thể tăng trưởng và phát triển một cách bền vững thì điều đầu tiên cầnchú trọng đó chính là vấn đề phát huy các yếu tố nội lực Điều đó có nghĩa là vai trò quyết địnhcho quá trình tăng trưởng và phát triển đất nước phải đặt lên các nhân tố từ trong nước Và nguồnvốn trong nước đã thể hiện được rõ những ưu điểm trong vai trò quyết định của mình Với tínhchất là nội lực của một quốc gia, chúng ta có thể chủ động trong việc đầu tư nguồn vốn trongnước vào những lĩnh vực cần thiết để phát triển nền kinh tế mà không phải chịu bất kì một sựràng buộc lệ thuộc nào Hơn nữa, nguồn vốn trong nước được huy động từ các thành phần kinh

tế trong nước nên nó mang tính ổn định và đảm bảo hơn nguồn vốn từ nước ngoài Không chỉ có

7

Trang 8

vậy, vai trò quyết định của nguồn vốn trong nước còn được thể hiện đặc biệt rõ ràng hơn trongcác ý sau.

Thứ nhấtNguồn vốn trong nước là nguồn đóng góp lớn vào GDP toàn xã hội, góp phần thúc đẩy tăng trưởng phát triển kinh tế.

Thông qua việc sử dụng nguồn vốn đầu tư trong nước để đầu tư vào nhiều lĩnh vực của nền kinh

tế nguồn vốn đầu tư trong nước đã đóng góp 1 phần lớn vào GDP toàn xã hội Cụ thể như việc sửdụng nguồn vốn từ ngân sách nhà nước để đầu tư cho các dự án kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội đãtạo môi trường và điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp trong mọi lĩnh vực khác phát triển.Các dự án xây dựng kết cấu hạ tầng thường đòi hỏi nguồn vốn huy động lớn và khả năng thu hồivốn chậm, do đó ít doanh nghiệp nào có đủ tiềm lực kinh tế để thực hiện Vì thế nguồn vốn trongnước sẽ được đầu tư vào xây dựng các kết cấu hạ tầng cơ bản như hệ thống điện lưới quốc gia,đường xá, giao thông liên lạc từ đó tạo điều kiện cho các doanh nghiệp phát triển và xây dựnghoạt động nhà xưởng, mở rộng hoạt động kinh doanh, qua đó phát triển kinh tế vùng, miền tạo ranguồn GDP không nhỏ đóng góp vào tổng GDP của toàn xã hội Còn nguồn vốn tín dụng nhànước với ưu điểm lãi suất thấp đã bổ sung cho các doanh nghiệp một nguồn vốn rẻ cho hoạt độngsản xuất kinh doanh, tranh thủ được các cơ hội tạo thêm lợi nhuận, vốn để mở rộng qui mô cũngnhư nâng cao chất lượng sản phẩm Từ đó làm tăng doanh thu đồng thời góp phần làm tăng GDPcho toàn xã hội

Thứ hai ,Nguồn vốn đầu tư trong nước đóng vai trò định hướng cho việc thay đổi cơ cấu kinh tế, cân bằng thị trường hàng hóa, giúp cho nền kinh tế quốc gia tăng trưởng, phát triển toàn diện, đồng đều.

Các doanh nghiệp trong nước và nước ngoài đa phần lựa chọn cho mình các ngành, lĩnh vực cóvốn đầu tư không quá lớn, thu hồi vốn nhanh chóng để đầu tư thu lợi nhuận Mặt khác, nền kinh

tế lại có những ngành vai trò không thể thiếu nhưng đòi hỏi nguồn vốn đầu tư rất lớn như điện, ximăng, dầu khí; hoặc những ngành lợi nhuận thu về nhỏ, khả năng thu hồi vốn chậm ví dụ nhưcác công trình công cộng, các hoạt động của nhà nước nhằm giải quyết những thất bại của thịtrường Chỉ có thông qua nguồn vốn trong nước cụ thể là nguồn vốn nhà nước mới có thể đầu tưvào các vấn đề này Vì vậy, nguồn vốn trong nước đặc biệt nguồn vốn nhà nước lúc này sẽ đóngvai trò chủ đạo giúp cân bằng thị trường hàng hóa trong nền kinh tế, giúp cho nền kinh tế quốcgia tăng trưởng, phát triển toàn diện, đồng đều

Không chí có vậy, vai trò quyết định của nguồn vốn đầu tư trong nước đối với tăng trưởng vàphát triển nền kinh tế còn được thể hiện trong việc định hướng cho quá trình thay đổi cơ cấu kinh

tế Bằng việc nguồn vốn đầu tư trong nước tập trung vào những ngành quan trọng như côngnghiệp, dịch vụ, cơ cấu kinh tế của quốc gia sẽ từng bước biến chuyển theo định hướng đã đề racủa nhà nước: tăng tỉ trọng công nghiệp, dịch vụ; giảm tỉ trọng nông nghiệp Theo đó, nguồn vốnnước ngoài có được định hướng đầu tư, tiếp tục trợ giúp nguồn vốn trong nước đẩy nhanh thời kìquá độ đưa nền kinh tế quốc gia tiếp tục phát triển lên một trình độ cao hơn

Trang 9

Nguồn vốn đầu tư trong nước có vai trò đảm bảo sự phát triển toàn diện, không lệch lạc giữa cácvùng miền của nền kinh tế, góp phần giúp nền kinh tế tăng trưởng, phát triển mộtc cách bềnvững

Trong một quốc gia việc phát triển không đồng đều giữa các vùng miền là khó tránh khỏi Vì vậycần có các nguồn vốn đầu tư hợp lí để giảm bớt sự không đồng đều này, làm cho nền kinh tế trởnên phát triển toàn diện hơn Đối với những khu vực vùng sâu, vùng xa nơi mà nền sản xuất cònchưa phát triển, hệ thống giao thông vận tải, thông tin liên lạc còn lạc hậu thì việc đón nhậnnguồn vốn từ nước ngoài đầu tư vào đây là rất ít có hi vọng Lí do là nguồn vốn từ nước ngoàithường chọn những vùng, thành phố trọng điểm nơi mà có hệ thống kết cấu hạ tầng tương đốiphát triển, gần nguồn nguyên liệu và có thị trường tiêu thụ lớn Lúc này nguồn vốn đầu tư trongnước sẽ đảm nhận vai trò đầu tư vào các vùng còn khó khăn, kinh tế chưa phát triển, giúp cácvùng miền đó tận dụng và phát huy được thế mạnh, nội lực của mình Qua đó sẽ giải quyết công

ăn việc làm cho lao động trong vùng, nâng cao mức sống cũng như trình độ dân trí và từ đó sẽlàm giảm khoảng cách chênh lệch giữa các vùng Điều này cho thấy nguồn vốn trong nước đóngvai trò rất quan trọng trong việc đảm bảo sự phát triển và tăng trưởng toàn diện của nền kinh tế

Thứ ba ,Nguồn vốn trong nước góp phần kiềm chế lạm phát trong nền kinh tế, đẩy nhanh tiến trình cổ phần hóa nhiều doanh nghiệp nhà nước, tạo đà cho tăng trưởng và phát triển kinh tế.

Đầu tư quá mức là một trong những nguyên nhân dẫn đến lạm phát Vốn đầu tư là yếu tố vật chấttrực tiếp quyết định tốc độ tăng trưởng kinh tế, nhưng đó là nói về đầu tư có hiệu quả Còn nếuđầu tư không có hiệu quả, thì chẳng những tăng trưởng kinh tế phải tốn nhiều vốn đầu tư hơn, màcòn gây ra lạm phát, xét trên nhiều mặt lạm phát do "chi phí đẩy" và lạm phát do "cầu kéo" Bảnthân vốn đầu tư sẽ làm cho lạm phát "cầu kéo"; còn đầu tư kém hiệu quả sẽ làm cho lạm phát do

"chi phí đẩy" Lạm phát do quan hệ cung - cầu, quan hệ tiền - hàng mất cân đối thường có bề nổi,

dễ nhận thấy, nhưng lạm phát do đầu tư không có hiệu quả thì thường là lạm phát ngầm, lúc đầurất khó nhận thấy, nhưng khi nó bộc phát thì rất cao, rất khó trị và việc trị nó thường phải kèmtheo cái giá phải trả không nhỏ, thậm chí còn có thể rơi vào cuộc khủng hoảng Do đó việc kiểmsoát cả về mặt lượng và mặt chất của việc sử dụng nguồn vốn trong nước đặc biệt là nguồn vốn

từ ngân sách nhà nước và việc kiểm soát chặt chẽ đầu tư của các doanh nghiệp nhà nước là mộttrong những biện pháp được nêu ra để chống lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô

Một trong số những vai trò không thể không kể đến của nguồn vốn trong nước đối với tăngtrưởng và phát triển kinh tế đó là : nguồn vốn đầu tư trong nước đặc biệt là nguồn vốn dồi dàocủa khu vực dân cư và tư nhân là tác động lớn nhất thúc đẩy quá trình cổ phần hoá các doanhnghiệp nhà nước diễn ra nhanh chóng và đồng bộ Từ đó giải quyết những tồn tại và tình trạngsản xuất, kinh doanh kém hiệu quả của các doanh nghiệp nhà nước, đang gây trở ngại cho tiếntrình phát triển kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế

Thứ tư ,Nguồn vốn trong nước xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng đạt một trình độ nhất định tạo điều kiện thuận lợi để thu hút vốn đầu tư nước ngoài cũng như tăng tính hiệu quả, nhanh chóng

9

Trang 10

của việc sử dụng vốn đầu tư nước ngoài, tạo nền tảng vững chãi cho sự tăng trưởng của nền kinh tế

Nền tảng cơ sở kiến trúc hạ tầng của quốc gia cũng có ảnh hưởng rất lớn tới khả năng thu hútnguồn vốn, triển khai thực hiện trong các giai đoạn của quá trình sử dụng vốn đầu tư Mục tiêucủa phát triển kinh tế là phải xây dựng được các cơ sở kiến trúc hạ tầng kinh tế ở một trình độnhất định: điện, nước, đường xá giao thông đi lại, các công trình văn phòng hiện đại, các khucông nghiệp, khu chế xuất tập trung… để đảm bảo sao cho có thể khai thác tốt nhất các nguồnnguyên nhiên liệu, nguồn lao động, công nghệ… cần thiết

Bên cạnh các khu vực kinh tế nổi bật, trọng điểm dễ thu hút nguồn vốn đầu tư nước ngoài luôncòn có các khu vực có tiềm năng nhưng còn đôi chút hạn chế về địa hình, công nghệ, lực lượnglao động… thì lúc này vai trò của nguồn vốn trong nước để khắc phục các hạn chế này là rấtquan trọng Nguồn vốn trong nước sẽ đóng vai trò mở đường, đầu tư vào việc san lấp và giảiphóng mặt bằng, xây dựng các kết cấu hạ tầng cơ bản, đầu tư đổi mới trang thiết bị trong các nhàxưởng và mở các lớp đào tạo tay nghề cho đội ngũ công nhân Nhờ có nguồn vốn trong nước màcác vấn đề về địa điểm, công nghệ, trình độ tay nghề của đội ngũ lao động được giải quyết, tạonên một môi trường đầu tư thuận lợi đối với các nhà đầu tư nước ngoài Hơn nữa việc đó cũngtạo cho quốc gia một lợi thế so sánh về môi trường đầu tư với các nước trong khu vực, tạo ấntượng trong con mắt các nhà đầu tư nước ngoài Nhờ có nguồn vốn trong nước mà các vùng cóđiều kiện chưa thật sự thuận lợi đã có khả năng thu hút và đón nhận vốn đầu tư nước ngoài, tạo

cơ hội phát triển kinh tế của vùng

Thứ năm ,Sự lớn mạnh, ổn định nguồn lực vốn trong nước giúp hạn chế những mặt tiêu cực của nguồn lực nước ngoài tới nền kinh tế, đồng thởi tạo dựng một khung xương vững chắc cho nền kinh tế, chống lại những cơn sóng gió từ thị trường kinh tế quốc tế, thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế

Trong tình hình hội nhập với nền kinh tế trên thế giới như hiện nay thì việc bị ảnh hưởng do cácbiến động kinh tế từ bên ngoài là điều không thể tránh khỏi Khi những biến động đó xảy ra thìnền kinh tế quốc gia sẽ chịu ảnh hưởng ít nhiều, gặp những khó khăn như giá cả tăng cao kéotheo lạm phát, sản xuất bị đình trệ, xảy ra tình trạng thất nghiệp Lúc đó thì ta càng không thểtrông chờ vào các nguồn lực từ phía bên ngoài Do đó, vai trò của nguồn vốn trong nước tronglúc này mang tính quyết định đối với sự tăng trưởng phát triển của một quốc gia Sự ổn định vàlớn mạnh nguồn vốn trong nước sẽ tạo thành một khung xương vững chắc giúp chúng ta thựchiện các chính sách kinh tế vĩ mô và các biện pháp cần thiết để tránh và khắc phục các ảnhhưởng do các cú sốc bên ngoài gây ra cho nền kinh tế như điều chỉnh cung cầu, trợ cấp thấtnghiệp, trợ cấp xã hội…

Không chỉ có vậy, các nguồn vốn và nguồn lực trong nước, quan trọng là các nguồn chi từ ngânsách nhà nước, các khoản tín dụng, các khoản đầu tư phát triển của các doanh nghiệp nhà nướcphải nắm giữ những vị trí then chốt trong nền kinh tế: tài chính, dầu khí, viễn thông Mở cửacho các nhà đầu tư nước ngoài song các chính sách của chính phủ vẫn quy định rõ ràng những

Trang 11

ngành nghề mà nguồn vốn đầu tư nước ngoài có thể tiếp cận Đó là sự cẩn trọng để kiểm soátviệc tiếp nhận và sử dụng nguồn vốn đầu tư nước ngoài nhằm hạn chế những mặt trái mà nguồnvốn này có thể đem theo: thâu tóm về chính trị, sự phụ thuộc về kinh tế (trở thành sân sau củacác cường quốc ) Có như vậy nền kinh tế mới có thể phát triển ổn định, bền vững.

1.3 Nguồn vốn nước ngoài

1.3.1 Vốn đầu trực tiếp nước ngoài ( foreign direct investment-FDI )

1.3.1.1.Khái niệm: Đầu tư trực tiếp nước ngoài là loại hình di chuyển vốn quốc tế , trong đó

người sở hữu vốn đồng thời là người trực tiếp quản lý và điều hành hoạt động sử dụng vốn.

Theo định nghĩa trên ta thấy rằng FDI là một hình thức của đầu tư nước ngoài , trong đótiền và tài sản ( tài sản hữu hình và tài sản vô hình ) được các tư nhân và tổ chức ( gọi chung làcác nhà đầu tư nước ngoài ) đem đi đầu tư tại một quốc gia khác ( nước tiếp nhận đầu tư ) nhằmmục đich tìm kiếm lợi nhuận Điểm khác biệt để thấy điêm khác biệt giữa FDI và các hình thứcđầu tư khác là nhà đầu tư nước ngoài có vai trò nhất định trong quản lý và điều hành sử dụng vốn

và tài sản

1.3.1.2.Một số đặc điểm của đầu tư trực tiếp nước ngoài ( FDI ) :

Một là : FDI gắn với việc di chuyển tiền và tài sản giữa các quốc gia Trong đầu tư trực tiếp

nước ngoài thì tiền và tài sản sẽ có sự gia tăng ở nước tiếp nhận đầu tư và đồng thời là việc giảmmột lượng tiền và tài sản tương ứng ở quốc gia đi đầu tư ( trừ các tài sản vô hình ) Đi cùng vớiviệc gia tăng tài sản ở nước tiếp nhận đầu tư thì vốn FDI còn giúp cải thiện cán cân tài khoảnvãng lai quốc gia đó , cũng như cung ứng một lượng ngoại tệ nhất định cho quốc gia tiếp nhậnđầu tư

Hai là : các chủ đầu tư phải góp vốn tối thiểu vào vốn pháp định , tùy theo luật đầu tư từng nước

thì lượng vốn góp tối thiểu này được quy định khác nhau Đối với Việt Nam thì theo luật đầu tư

2005 thì vốn góp tối thiểu là 30% vốn pháp định

Ba là : đầu tư trực tiếp nước ngoài bao gồm khá nhiều hình thức khác nhau như : Hợp đồng hợp

tác kinh doanh , doanh nghiệp liên doanh , doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài , hợp đồng BOT

… Hoạt động đầu tư trực tiếp từ nước ngoài có thể thực hiện qua các con đường như lập doanhnghiệp mới , mua lại một phần hoặc toàn bộ doanh nghiệp trong nước , các chi nhánh của doanhnghiệp nước ngoài cũ hoặc có thể là sát nhập các doanh nghiệp

Bốn là: quyền quản lý doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và phân chia lợi nhuận của các doanh nghiệp này phụ thuộc vào phần vốn góp của các các bên trong doanh nghiệp liên doanh

và hợp đồng hợp tác kinh doanh , với doanh nghiệp 100% vốn thì toàn quyền Đối với doanh

nghiệp FDI nếu quyền quản lý sẽ tạo ra tiền đề để các doanh nghiệp đó trở thành chi nhánh củacác doanh nghiệp ở chính quốc ( trong đó có rất nhiều là các công ty đa quốc gia _ TNs) , việc

11

Trang 12

trở thành các chi nhánh sẽ giúp các doanh nghiệp luân chuyển và sử dụng vốn của các công ty ởchính quốc nhưng vẫn tránh được hàng rào thuế quan.

Năm là : đầu tư trực tiếp nước ngoài là hình thức đầu tư mang tính tư nhân và tìm kiếm lợi nhuận Ở hình thức đầu tư này hình chủ thể đầu tư chủ yếu là tư nhân nên mục đích là tìm kiếm

lợi nhuận , so với ODA thì FDI ít chụi các rằng buộc chính trị

Sáu là : Đầu tư trực tiếp nước ngoài không chỉ gắn liền với di chuyển vốn mà còn gắn liền với chuyển giao công nghệ, chuyển giao kiến thức và kinh nghiệm quản lý tạo ra thị trường mới cho

cả phía đầu tư và phía nhận đầu tư Nhà đầu tư cùng với việc đưa vốn còn đưa cả công nghệ, bí

quyết công nghệ, kỹ năng tiếp thị, quản lý, đào tạo nhân công và các năng lựa trong sản xuấtkinh doanh cũng như trong vấn đề quản lý doanh nghiệp cho nước tiếp nhận vốn

1.3.1.3 Vai trò của đầu tư trực tiếp nước ngoài

Thứ nhất: Bổ sung nguồn vốn thiếu hụt trong nước , đặc biệt là với các ngành đòi hỏi vốn lớn

Nhu cầu vốn cho phát triển kinh tế , đầu tư phát triển là rất lớn , nhất là trong giai đoạn khoa học

kĩ thuật bùng nổ như hiện nay không một quốc gia nào có thể tự đáp ứng mọi nhu cầu về nguồnlực cho phát triển

Thứ hai: Tạo việc làm , giải quyết thất nghiệp và nâng cao trình độ tay nghề cho người lao động tại nước sở tại Khi có đầu tư trực tiếp nước ngoài đã tạo ra một nhu cầu lao động rất lớn , các

lao động tuyển vào các doanh nghiệp nước ngoài thường được đào tạo lại với những kĩ thuật taynghề cao , đồng thời với quá trình chuyển giao công nghệ của mình các doanh nghiệp nước ngoài

đã tạo ra một đội ngũ lao động có trình độ

Thứ ba: Thúc đẩy khoa học-công nghệ phát triển : các công ty và doanh nghiệp nước ngoài khi

mang vốn đi đầu tư thì họ thường dựa trên trình độ khoa học công nghệ cao hơn so với nước tiếpnhận nên vô hình chung đã cung cấp những kiến thức và trình độ khoa học công nghệ ở trình độcao , từ đó thúc đẩy khoa học công nghệ ở các nước tiếp nhận đầu tư phát triển

Thứ tư: Đầu tư nước ngoài tạo ra nguồn thu rất lớn cho ngân sách nhà nước qua thuế của doanh

nghiệp và cá nhân các nhà đầu tư cũng như thuế và phí từ các dự án có vốn đầu tư nước ngoài Cùng với đó các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thường tạo ra giá trị hàng xuấtkhẩu rất lớn

Thứ năm: Tạo động lực phân bổ lại nguồn lực xã hội mà đặc biệt là vốn Dòng vốn FDI sẽ chảy

vào những lĩnh vực đưa lại hiệu quả cao kéo theo sự chuyển dịch cơ cấu ngành và địa phương.Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hoạt động đạt hiệu quả hơn hẳn các doanh nghiệptrong nước

Thứ sáu: Đầu tư trực tiếp giúp nâng cao tính cạnh tranh của nền kinh tế và các doanh nghiệp trong nước ,khi có sự xuất hiện của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã tạo nên sự

cạnh tranh mạnh mẽ, làm cho không khí hoạt động của các doanh nghiệp trong nước ''nónglên'', buộc họ phải hoàn thiện và nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp để tồn tại và pháttriển Các doanh nghiệp này cũng đã đem lại những mô hình quản lý tiến tiến cùng phương thức

Trang 13

kinh doanh hiện đại, điều này đã thúc đẩy các doanh nghiệp trong nước đổi mới công nghệ, nângcao chất lượng sản phẩm, tạo sự cạnh tranh lành mạnh giữa các doanh nghiệp, bảo vệ quyền lợingười tiêu dùng

1.3.2.Vốn hỗ trợ phát triên chính thức( Officer development Assitant - )ODA

1.3.2.1Khái niệm : Hỗ trợ phát triển chính thức hay viện trợ phát triển chính thức (ODA) một

phần của nguồn tài chính chính thức mà Chính phủ các nuớc phát triển và các tổ chức đa phương dành cho các nuớc đang phát triển nhằm hỗ trợ phát triển kinh tế và phúc lợi xã hội các quốc gia này.

Hiện nay dòng vốn hỗ trợ phát triển chính thức được đưa vào các nước qua các hình thức sau ;ODA không hoàn lại , ODA cho vay ưu đãi và ODA hỗn hợp Các đối tác cung cấp ODA chủyếu là các nước phát triển ( mỹ , nhật ) , các tổ chức tài chính quốc tế và khu vực ( WB, ADB ,JBIC ) và các tổ chức đa phương khác

1.3.2.2.Đặc điểm của vốn hỗ trợ phát triển chính thức ( ODA )

Thứ nhất, ODA mang tính ưu đãi.

Vốn ODA có thời gian cho vay (hoàn trả vốn) dài, có thời gian ân hạn dài (chỉ trả lãi,chưa trả nợ gốc) Đây cũng chính là một sự ưu đãi dành cho nước vay Thông thường, trongODA có thành tố viện trợ không hoàn lại (tức là cho không) Đây chính là điểm phân biệt giữaviện trợ và cho vay thương mại Thành tố cho không được xác định dựa vào thời gian cho vay,thời gian ân hạn , hiện nay thành phần hỗ trợ của ODA chiếm từ 25% trở lên trong tổng số vốn

hỗ trợ và cùng với đó phần vốn tính lãi thì so với các khoản vay thương mại thì lãi vay ODAthường thấp hơn rất nhiều Cho vay ưu đãi hay còn gọi là cho vay "mềm" Với các nhà tài trợ thì

họ thường áp dụng việc hỗ trợ không hoàn lại với các khoản hỗ trợ nhỏ và thường tập trung vàolĩnh vực xóa đói giảm nghèo và xã hội , với các khoản vay có tính lãi thì thường tập trung vàophát triển cơ sở hạ tầng , giáo dục….Để nâng cao hiệu quả sử dụng của dòng vốn này thì hìnhthức ODA hỗn hợp là hình thức mà các nhà tài trợ áp dụng chủ yếu Vốn ODA còn được thể hiện

ở chỗ nó chỉ dành riêng cho các nước đang và chậm phát triển, vì mục tiêu phát triển.Thôngthường, các nước cung cấp ODA đều có những chính sách và ưu tiên riêng của mình, tập trungvào một số lĩnh vực mà họ quan tâm hay có khả năng kỹ thuật và tư vấn (về công nghệ, kinhnghiệm quản lý…) Đồng thời, đối tượng ưu tiên của các nước cung cấp ODA cũng có thể thayđổi theo từng giai đoạn cụ thể Vì vậy, nắm được hướng ưu tiên và tiềm năng của các nước, các

tổ chức cung cấp ODA là rất cần thiết

Thứ hai, vốn ODA mang tính ràng buộc: Tính rằng buộc ở đây thể hiện trên hai mặt đó là chính trị và kinh tế

Xét trên mặt kinh tế thì vốn Oda sẽ đưa lại một số bất lợi như , nước tiếp nhận ODA phảichấp nhận dỡ bỏ dần hàng rào thuế quan bảo hộ các ngành công nghiệp non trẻ và bảng thuế xuấtnhập khẩu hàng hoá của nước tài trợ Nước tiếp nhận ODA cũng được yêu cầu từng bước mở

13

Trang 14

cửa thị trường bảo hộ cho những danh mục hàng hoá mới của nước tài trợ; yêu cầu có những ưuđãi đối với các nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài như cho phép họ đầu tư vào những lĩnh vực hạnchế, có khả năng sinh lời cao

Nguồn vốn ODA từ các nước giàu cung cấp cho các nước nghèo cũng thường gắn với việcmua các sản phẩm từ các nước này mà không hoàn toàn phù hợp, thậm chí là không cần thiết đốivới các nước nghèo Ví như các dự án ODA trong lĩnh vực đào tạo, lập dự án và tư vấn kỹ thuật,phần trả cho các chuyên gia nước ngoài thường chiếm đến hơn 90% (bên nước tài trợ ODAthường yêu cầu trả lương cho các chuyên gia, cố vấn dự án của họ quá cao so với chi phí thực tếcần thuê chuyên gia như vậy trên thị trường lao động thế giới) Như vậy đây là một hình thức tạoviệc làm và thu nhập cho các nước cung cấp ODA và trên thực tế thì lượng vốn ODA thực màcác nước nhận được là rất thấp

Nguồn vốn viện trợ ODA còn được gắn với các điều khoản mậu dịch đặc biệt nhập khẩutối đa các sản phẩm của họ Cụ thể là nước cấp ODA buộc nước tiếp nhận ODA phải chấp nhậnmột khoản ODA là hàng hoá, dịch vụ do họ sản xuất

Nước tiếp nhận ODA tuy có toàn quyền quản lý sử dụng ODA nhưng thông thường, cácdanh mục dự án ODA cũng phải có sự thoả thuận, đồng ý của nước viện trợ, dù không trực tiếpđiều hành dự án nhưng họ có thể tham gia gián tiếp dưới hình thức nhà thầu hoặc hỗ trợ chuyêngia

Ngoài những tác động về mặt kinh tế thì về mặt chính trị dòng vốn ODA tạo ra nhữngảnh hưởng chính trị nhất định tới nước nhận vốn , đây là một công cụ kinh tế giúp các nước pháttriển nâng cao vai trò và tầm ảnh hưởng của mình tạo các nước đang phát triển

Thứ ba, ODA có khả năng gây nợ

Theo nhiều quan niệm thì ODA là “ của cho không “ , đây là quan niệm sai lầm vì vốn ODAngoài việc gồm phần không hoàn lại còn phần hoàn lại với lãi suất Vấn đề là vốn ODA thường

có lãi suất thấp và có thời gian ân hạn dài nên vô tình đã tạo ra tâm lý chủ quan của các nước tiếpnhận , họ cứ cố gắng thu hút thật nhiều ODA để rồi lượng vốn ODA sẽ tạo ra một khoản nợ lớn

và khả năng chi trả sẽ càng thấp nếu dòng vốn ODA mà các nước nhận được không được sửdụng hợp lý và có hiệu quả , cũng như việc giảm tình trạng thất thoát và việc tăng tốc độ giảingân không được nâng cao

1.3.2.3 Vai trò của ODA

Thứ nhất: ODA là nguồn vốn bổ sung quan trọng: Vốn ODA tuy đa phần là vốn vay phải hoàn

trả lại với lãi suất và các điều kiện ràng buộc chặt chẽ khác nhưng có tác động khá lớn đến tăngtrưởng kinh tế và cải thiện đáng kể các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô, xây dựng cơ sở hạ tầng Là nguồnvốn bổ sung quý báu và quan trọng cho phát triển vào những giai đoạn khó khăn, khủng hoảngkinh tế ở những nước này

Thứ hai, Giúp nước nghèo tiếp thu KHKT và phát triển nguồn nhân lực: Có sự tiến bộ mạnh về y

tế, giáo dục, thu nhập Với sự trợ giúp của Ngân hàng Thế giới, cộng đồng phát triển và các tổ

Trang 15

chức xã hội dân sinh, các chính phủ đã thúc đẩy tăng trưởng và giảm nghèo đói bằng cách cảithiện các chính sách, thể chế và sự quản lý của mình và qua các chương trình, dự án được hoạchđịnh tốt

-Vốn vay ODA làm tăng tổng vốn đầu tư của các quốc gia tiếp nhận, do đó làm tăng nănglực sản xuất, dẫn đến tăng GDP so với trường hợp không có nguồn vốn bổ sung này Tác độngcủa vốn vay ODA lên tăng trưởng GDP của các quốc gia dao động trong khoảng từ 0,1% đếngần 1,7%

+ Tăng năng lực sản xuất còn giúp giảm lạm phát

+ Giá cả nội địa giảm sẽ cải thiện tính cạnh tranh của hàng hóa xuất khẩu của nhữngnước tiếp nhận này, và do đó làm tăng khối lượng xuất khẩu của họ

+ Nhập khẩu cũng tăng vì nhu cầu của nền kinh tế đã tăng hơn khi tốc độ tăng trưởngnhanh hơn, nhưng nhu cầu này phần nào bị cản trở bởi sự giảm giá ở thị trường nội địa nên cuốicùng cán cân thương mại vẫn được cải thiện mạnh

Thứ ba, ODA góp phần tăng khả năng thu hút vốn FDI và tạo điều kiện mở rộng đầu tư phát triển: Để sử dụng hiệu quả nhất nguồn vốn ODA, các nước sẽ nỗ lực tạo môi trường chính sách

thuận lợi và minh bạch trong quản lý và sử dụng nguồn vốn này, cải thiện điều kiện pháp lý, gópphần tăng khả năng thu hút vốn FDI

ODA có vai trò quan trọng đối với các nước tiếp nhận, là nguồn vốn quan trọng để xây dựng cơ

sở hạ tầng, góp phần tăng khả năng thu hút vốn FDI và tạo điều kiện mở rộng đầu tư phát triển

1.3.3 nguồn tín dụng từ các ngân hàng thương mại quốc tế

1.3.3.1 Khái niệm : là các khoản vay mà các nước ( doanh nghiệp hoặc chính phủ ) nhận được từ

đi vay các ngân hàng và tổ chức tài chính quốc tế

1.3.3.2 Đặc điểm :

- Điều kiện ưu đãi thấp : nguồn tín dụng từ các ngân hàng thương mại quốc tế và ODA đều là cáckhoản vay từ các tổ chức nước ngoài nhưng so với ODA thì các khoản vay này thường chụi lãisuất theo mức lãi suất tín dụng của các ngân hàng , cũng như là không có thời gian ân hạn nhưODA

- Không mang các rằng buộc về chính trị và xã hội : các khoản vay này thường mang tính chấtcủa các khoản vay tín dụng thông thường nên không mang màu sắc chính trị

- Chủ yếu là hỗ trợ cho xuất nhập khẩu : các khoản vay từ các ngân hàng thương mại quốc tếthường do các tổ chức , doanh nghiệp đặt tại việt nam vay nhằm đáp ứng ngoại tệ cho quá trìnhxuất nhập khẩu Một phần của các khoản vay này cũng được dùng để đầu tư phát triển

1.3.4 Nguồn vốn từ thị trường vốn quốc tế

1.3.4.1 Khái niệm.

15

Trang 16

Là nguồn vốn huy động từ thị trường chứng khoán trên thế giới, bằng việc bán trái phiếu, cổphiếu của chính phủ, các công ty trong nước ra nước ngoài.

1.3.4.2 Đặc điểm.

- Có thể huy động vốn với số lượng lớn, trong thời gian dài để đáp ứng nhu cầu về vốn cho nếnkinh tế mà không bị ràng buộc bởi các điều kiện về tín dụng quan hệ cho vay để gây sức ép vớinước huy động vốn trong các quan hệ khác

- Tạo điều kiện cho cho nước tiếp nhận vốn tiếp cận với thị trường vốn quốc tế Với việc trựctiếp tham gia thị trường vốn quốc tế, đây sẽ là cơ hội tốt để thúc đẩy TTCK trong nước phát triểntrong tương lai Đối với hình thức huy động này, người đi vay có thể tăng thêm tính hẫp dẫnbằng cách đưa ra một số yếu tố kích thích

- Khả năng thanh toán cao do có thể mua bán, trao đổi trên thị trường thứ cấp, chính vì vậy hìnhthức này tương đối hấp dẫn với các nhà đầu tư nước ngoài

1.4 Mối quan hệ giữa vốn đầu tư trong nước và vốn đầu tư nước ngoài trong thúc đẩy tăng trưởng kinh tế

1.4.1 Vốn đầu tư trong nước có vai trò quyết định trong tăng trưởng kinh tế và tạo nền tảng , định hướng cho qúa trình thu hút và sử dụng vốn đầu tư nước ngoài

Chúng ta phải xem xét vị trí của nguồn vốn trong nước trong tăng trưởng và phát triển kinh tế Trước tiên, cần phải khẳng định mọi nền kinh tế muốn phát triển bền vững và lâu dài thì phảidựa vào nội lực khả năng sẵn có của nền kinh tế bởi các nguồn vốn từ bên ngoài mặc dù có vaitrò quan trọng là “cú kích” để đẩy nền kinh tế đi lên nhưng không phải là nhân tố quyết định nếunền kinh tế đó không có nội lực sẵn có của mình thì mọi sự tác động sẽ trở thành vô nghĩa

Thứ nhất, Nguồn vốn trong nước thể hiện vai trò quan trọng của mình thông qua đóng góp vào GDP toàn xã hội từ các đơn vị sử dụng vốn trong nước, trong đó có các doanh nghiệp của nhà

nước , các doanh nghịêp tư nhân Tỉ trọng đóng góp vào GDP của nguồn vốn trong nước là rấtlớn, chiếm xấp xỉ 2/3 GDP và đặc biệt trong đó các doanh nghiệp tư nhân luôn dẫn đầu trong cơcấu GDP của xã hội , vào khoảng gần một nửa tổng GDP chủ yếu trong công nghiệp xây dựng vàdịch vụ

Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa , nguồn vốn trong nước phân bổcho các doanh nghiệp nhà nước giữ vai trò chủ đạo giúp cân bằng hàng hoá của nền kinh tế quaviệc nắm giữ một số ngành quan trọng như điện xi măng , dầu khí , nắm giữ một lượng vốn khálớn của nền kinh tế Ngoài ra, chỉ có thông qua nguồn vốn nhà nước mới có thể đầu tư vào cáccông trình, các ngành kinh tế phục vụ cho mục đích công cộng cũng như để thực hiện vai trò củanhà nước trong việc giải quyết các thất bại của thị trường Nguồn vốn nhà nước này sẽ được đâu

tư tập trung vào những ngành được xác định là có tầm quan trọng trong sự phát triển kinh tế củađất nước cùng với việc thực hiện các mục tiêu phát

Trang 17

Thứ hai: Nguồn vốn trong nước có tác dụng đi trước một bước,mở đường tạo điều kiện thu hút

và đón nhận nguồn vốn đầu tư nước ngoài.

Cơ sở hạ tầng luôn là điều kiện thiết yếu cho sự phát triển và cho các hoạt động sản xuất kinhdoanh, vốn của nhà nước đóng vai trò chủ chốt là nguồn vốn mà thông qua việc thiết lập và nângcấp mạng lưới giao thông, mạng lưới điện, nước … Những cơ sở hạ tầng cần thiết cho phát triểntạo bước đi mở đầu, tiên quyết trong việc giới thiệu và quảng bá tiềm năng của mội vùng ngành

Đi cùng với việc tạo dựng cơ sở hạng tầng thì vốn đầu tư trong nước còn có vai trò tạo nền tảng

về nguồn lao động sử dụng cho các dự án nước ngoài Nguồn vốn đầu tư trong nước có vai tròquan trọng trong việc xây dựng một nguồn nhân lực , trong đó vốn từ ngân sách và vốn đầu tưcủa nhà nước trong sự nghiệp phát triển giáo dục có vai trò quyết đinh trong việc xây dựng mộtnguồn nhân lực chất lượng cao để sử dụng cho các dự án đầu tư của nước ngoài nói riêng và tăngtrưởng kinh tế nói chung

Không những thế, hoạt động đầu tư từ nguồn vốn trong nước được tiến hành một cách có hiệuquả của chính doanh nghiệp trong nước cũng là dấu hiệu đáng tin cậy khiến các nhà đầu tư nướcngoài quan tâm hơn và dễ dàng hơn trong việc ra quyết định đầu tư

Ngược lại, các dự án đầu tư của các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư tại mỗi vùng, miền, khuvực, ngành luôn yêu cầu một mạng lưới cơ sở hạ tầng kỹ thuật và cơ sở hạ tầng mềm( môitrường pháp lý, môi trường kinh doanh….)phù hợp và thuận lợi Chính những yêu cầu đó đặt racho chúng ta những đòi hỏi cấp bách liên tục đó phải đổi mới, nâng cấp tốt hơn nữa cơ sở hạ tầngmềm và cơ sở hạ tầng kỹ thuật trên phạm vi cả nước, tạo điều kiện thu hút nhiều hơn nữa các nhàđầu tư nước ngoài và nhiều dự án lớn có tác dụng tích cực ở quy mô lớn trong thời gian dài

Thứ ba , Sự lớn mạnh về quy mô và ổn định nguồn lực vốn trong nước có thể giúp nền kinh tế chống đỡ lại những cú sốc từ bên ngoài Một nguyên nhân quan trong của cuộc khủng hoảng

kinh tế Châu Á 1997 đó là sự lệ thuộc quá nhiều vào đồng vốn nước ngoài dẫn đến sự sụp đổ dâychuyền giữa các quốc gia Từ cuộc khủng hoảng đó huyễn hoặc về một thị trường tài chính dồidào, ổn định thường xuyên đáp ứng nhu cầu vốn đã tan biến

Thứ tư , Một sự phát triển toàn diện và bền vững đòi hỏi một cơ cấu vốn đầu tư trong nước-nước ngoài cũng như cơ cấu đầu tư theo vùng ngành hợp lý Ngoài nguồn vốn ODA( chủ yếu dành

cho việc hỗ trợ cán cân thanh toán, thu chi ngân sách nhà nước và xây dựng cơ sở hạ tầng, nguồnvốn đầu tư nước ngoài chảy vào nước ta chủ yếu vì mục tiêu lợi nhuận, do đó chúng ta chỉ đượctập trung chủ yếu vào những vùng có nhiều thuận lợi và những ngành mang lại lợi nhuận nhanh,nhiều Vậy còn những vùng lạc hậu, nghèo tài nguyên, những ngành kém phát triển thì sao? Do

đó, để đảm bảo sự phát triển toàn diện, không lệch lạc đòi hỏi nguồn vốn trong nước phải pháthuy thúc đẩy các khu vực này giúp cho nền kinh tế phát triển đồng đều, tránh thiếu lệch khôngcân đối

Thứ năm, Nguồn vốn nước ngoài là một nguồn vốn quan trọng đang có tác động tạo nên “cú kích” cho nền kinh tế Nhưng việc tiếp nhận và sư dụng có hiệu quả nguồn vốn nước ngoài là vấn đề quan trọng Một số vốn đối ứng phù hợp là điều kiện tiên quyết để tiếp nhận và sử dụng

17

Trang 18

nguồn vốn đầu tư nước ngoài một cách có triệt để và có hiệu quả Số vốn đối ứng này sẽ đượchuy động từ chính nguồn vốn trong nước Điều này được thấy dõ trong các dự án ODA khi màchính phủ các nước cam kết đóng góp lượng vốn đối ứng thì các tổ chức quốc tế sẽ có sự tintưởng về hiệu quả của vốn và lượng vốn cam kết tăng lên Còn trong các dự án FDI thì sự xuấthiện của vốn đầu tư trong nước trong các hợp đồng hợp tác kinh doanh và các xí nghiệp liêndoanh giúp các nhà đầu tư nước ngoài có thể sử dụng vốn của mình tốt hơn qua sự trợ giúp củacác nhà đầu tư trong nước khi các nhà đầu tư nước ngoài chưa có sự hiểu biết rõ ràng về môitrường đầu tư và kinh doanh trong nước

1.4.2 Nguồn vốn nước ngoài giữ vai trò quan trọng

1.4.2.1 Tác động trực tiếp :Là nguồn vốn bổ sung quan trọng cho nguồn vốn trong nước

Với nên kinh tế đang mỗi nước thì vốn đầu tư là nguồn gốc giúp các nước tăng trưởng Khi mỗi quốc gia đang trong tình trạng là một nước khó khăn thì thu nhập của nước đó và các cánhân trong xã hội đó thấp đi đôi với thu nhập thấp thì tích lũy kém , mà tích lũy lại là nguyênnhân dẫn đến vốn đầu tư cho nền kinh tế thấp không chỉ xét trong đầu tư cho tăng trưởng kinh

tế mà một khi vốn đầu tư thấp thì chúng ta khó lòng có vốn đầu tư cho giáo dục , khoa học côngnghệ ….những yếu như giáo dục thấp , nhân lực chất lượng kém , khoa học công nghệ chậm pháttriển sẽ lại là rào cản cho nền kinh tế các nước và chúng ta thấy rằng nếu không có nguồn vốn

từ ngoài thì các nước đang phát triển sẽ luôn bị mắc trong một vòng luẩn quẩn :

Khi vốn nước ngoài đi vào sẽ tạo ra một nguồn “ năng lượng “ bổ sung mạnh mẽ giúp các nướcđang phát triển phá vỡ vòng luẩn quẩn đó

Như đã phân tích ở trên thì vốn đầu tư trong nước là nguồn vốn giữu vai trò quyết định cho tăngtrưởng nền kinh tế của một quốc gia nhưng một nước cũng không thể tự tạo đủ cho mình lượngvốn cần thiết Khi có sự xuất hiện của luồng vốn và tài sản nước ngoài qua sự di chuyển vốnquốc tế thì chúng ta thấy một điều chắc chắn là tổng mức vốn đầu tư xã hội tăng lên thông quanhiều hình thức khác nhau Với vốn ODA chúng ta thấy rằng đây là nguồn vốn từ chính phủ vàcác tổ chức quốc tế mang vào trong nước thông qua các chương trình phát triển của chính phủ ,như vậy ngân sách chính phủ của các nước nhận vốn đã được tăng lên và đây là nguồn vốn bổsung quan trọng cho chính phủ đầu tư vào cơ sở hạng tầng , phát triển nguồn nhân lực…

Vai trò bổ sung này còn thể nhận thấy với sự đóng góp của dòng vốn FDI với các nước đangphát triển khi mà tại các nước này thì dòng vốn từ khu vực tư nhân ít , trong khi đó dòng vốn nhànước nhiều nhưng lại hiệu quả thấp Ở một nền kinh tế phát triển thì việc hình thành và phát

Trang 19

triển các ngành công nghiệp , các ngành đòi hỏi công nghệ cao là vấn đề tất yếu nhưng để pháttriển các ngành công nghiệp này lại đòi hỏi một nguồn vốn lớn , dòng vốn FDI khi đi vào cácnước này đã đóng góp vào việc gia tăng lượng vốn lớn cho tổng vốn đầu tư của xã hội Các nhàđầu tư nước ngoài khi gia nhập vào nền kinh tế các nước khác thì họ sẽ mang theo rất nhiều vốnkhác nhau vào các nước tiếp nhận đầu tư : các nhà đầu tư nước ngoài họ mang theo tiền vốnbằng ngoại tệ từ tài sản của mình vào và làm phình to thêm cái túi đựng vốn đầu tư của xã hội ,

họ vào mang theo các tài sản sản xuất như máy móc , thiết bị sản xuất làm tăng lượng tài sảnsản xuất của xã hội …không những đóng góp trong vấn đề bổ sung lượng tiền vốn và tài sản sảnxuất của doanh nghiệp trong nước , các doanh nghiệp nước ngoài còn có đóng góp bổ sung vàongân sách nhà nước thông qua đóng góp thuế từ hoạt động của doanh nghiệp và thuế từ thu nhậpcủa cá nhân các nhà đầu tư

Không chỉ có các dòng vốn FDI và ODA , hiện nay khi hệ thống thị trường chứng khoán của cácnước phát triển với sự hoàn thiện của hệ thống chính sách quản lý và thông tin đầy đủ thì dòngvốn của các nhà đầu tư qua kênh này là nguồn vốn bổ sung mới quan trọng trong khi các dòngvốn trực tiếp đang có dấu thoái trào Thông qua kênh này thì vốn được chuyển cho các doanhnghiệp trong nước , dòng vốn này giúp các doanh nghiệp trong nước có thêm vốn để đầu tư vàosản xuất kinh doanh và đặc biệt là đầu tư vào các dự án lớn

Không chỉ đóng góp vào tổng vốn đầu tư vào tổng vốn đầu tư toàn xã hội , các dòng vốn nướcngoài còn là nguồn bổ sung quan trọng cho nguồn ngoại tệ để giúp các các nước có tiền để nhậpcác máy móc thiết bị từ nước ngoài để bổ sung cho nguồn máy móc và thiết bị lạc hậu trong cácdoanh nghiệp trong nước

Những điều trên đây cho thấy dòng vốn nước ngoài là nguồn bổ sung quan trọng cho nguồn vốntrong nước trong quá trình thúc đẩy tăng trưởng kinh tế

1.4.2.2 Tác động gián tiếp

Bên cạnh tác động trực tiếp tơi tăng trương kinh tế thông qua gia tăng tổng vốn đầu tưtoàn xã hội , sự xuất hiện của các dòng vốn nước ngoài còn có tác động gia tăng qua hoạt độngcủa dòng vốn này thông qua một số kênh như kên canh tranh là các doanh nghiệp trong nướcphải gia tăng hiệu quả hoạt động , kênh truyền bá công nghệ giúp các doanh nghiệp trong nước

có cơ hội tiếp cận với các máy móc và công nghệ cao Sự xuất hiện các tác động tràn này là do

sự chênh lệch giữa các quốc gia , giữa các doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp nướcngoài , vì vậy đã tạo ra ưu thế cho các doanh nghiệp nước ngoài khi đầu tư Thông qua hoạtđộng của các nhà máy , các chi nhánh của các doanh nghiệp nước ngoài ở trong nước các doanhnghiệp trong nước sẽ nhận được một số tác động gián tiếp sau :

Thứ nhất, Thông qua kênh cạnh tranh: Các nhà đầu tư nước ngoài sẽ biến thị trường trong nước

trở thành một nơi có tính cạnh tranh mạnh mẽ Thông thường khi các nhà đầu tư nước ngoài đầu

tư vào nước sở tại, họ thường chọn những nơi có cơ sở hạ tầng tốt, sử dụng tối đa công suất củachúng, kích thích nguồn vốn trong lĩnh vực này hoạt động có hiệu quả hơn Các doanh nghiệp

19

Trang 20

trong nước trước sức ép cạnh tranh của các doanh nghiệp nước ngoài sẻ phải tự đổi mới để nângcao khả năng cạnh tranh của mình.

Thứ hai, Thông qua kênh sao chép và học hỏi: Các doanh nghiệp nước ngoài khi sang sẽ mang

theo các công nghệ và phương thức tổ chức sản xuất kinh doanh tiên tiến Thông qua các quátrình tương tác trong hoạt động, các doanh nghiệp trong nước có thể học hỏi và sao chép nhữngkinh nghiệm của nước ngoài để tự mình hoạt động có hiệu quả hơn Đó có thể là các kinhnghiệm về quản lý, tổ chức sản xuất hay cải thiện trình độ công nghệ Khi công nghệ của nướcngoài đã cũ, họ có thể chuyển giao sang cho nước sở tại, cũng làm tăng tiềm lực công nghệ củanước sở tại

Thứ ba, Thông qua kênh liên kết sản xuất: Các doanh nghiệp nước ngoài có thể thiết lập nên các

liên doanh với doanh nghiệp trong nước, cải thiện khả sử dụng vốn của các đối tác trong nước.Các doanh nghiệp trong nước muốn làm ăn với nước ngoài thì cần phải đảm bảo các tiêu chuẩn

về độ tin cậy, chất lượng và tốc độ giao hàng Ngoài ra thì sự năng động của các nhà đầu tư nướcngoài sẽ kéo theo các ngành sản xuất trong nước và vận tải nội địa hoạt động mạnh hơn nhằmđáp ứng yêu cầu hoạt động của các doanh nghiệp nước ngoài Các doanh nghiệp nước ngoài còntạo điều kiện cho các doanh nghiệp trong nước tiếp cận với thị trường thế giới, giúp nước nhận

mở rộng thị trường tiêu thụ hàng hóa và là cầu nối trung gian giúp cho các doanh nghiệp xuấtnhập khẩu vươn ra thịt trường bên ngoài

Cuối cùng, Thông qua kênh di chuyển lao động (nhân lực): Các nhà đầu tư tiến hành tuyển dụng

lao động ở nước sở tại và đào tạo họ để đáp ứng các yêu cầu công việc Họ đào tạo từ công nhâncho tới cán bộ quản lý Khi có sự luân chuyển lao động thì những kỹ năng lao động hữu ích này

sẽ lan ra toàn bộ nền kinh tế và làm tăng năng lực của người lao động ở nước sở tại

1.4.2.3 Tác động trái chiều của của vốn đầu tư nước ngoài với vốn đầu tư trong nước

Một là, Việc sử dụng quá nhiều vốn đầu tư nước ngoài sẽ làm cho nguồn vốn trong nước bị phụ

thuộc vào nguồn vốn nước ngoài Nếu tổng số vốn FDI mà lớn hơn 50% tổng vốn đầu tư toàn xãhội thì các công ty nước ngoài sẽ chi phối các hoạt động kinh tế làm ảnh hưởng tới tính tự chủcủa nước sở tại Vay nợ quá nhiều sẽ là gánh nặng cho ngân sách quốc gia trong hiện tại vàtương lai Qua thống kê số liệu trên thế giới thì tỷ lệ tối đa là 40% GDP Cùng với FDI thì dòngvốn ODA cũng có thể là nguyên nhân dẫn đến nợ nước ngoài gia tăng , nếu các quốc gia không

có kế hoạch trả nợ thì su khi hết hạn cho vay và gia hạn thì sẽ số vốn nợ sẽ gia tăng và làm ngânsách chính phủ sẽ bị ảnh hưởng lớn khi phải trả nợ

Hai là, Quá nhiều vốn đầu tư nước ngoài rót vào một quốc gia sẽ tạo ra một môi trường cạnh

tranh vô cùng khốc liệt, bởi vì các nhà đầu tư nước ngoài đều muốn chạy đua để khuếch trươngsức mạnh của mình Vì vậy với những nền kinh tế chưa đủ mạnh thì sản xuất trong nước rất dễ bịlấn át và đầu tư trong nước sẽ sụt giảm

Trang 21

Ba là, Các quốc gia nhận vốn nước ngoài dễ rơi vào tình trạng thâm hụt cán cân thanh toán

do các nhà đầu tư nước ngoài thực hiện việc sản xuất và xuất khẩu sản phẩm, chuyển lợi nhuận

về nước bằng ngoại tệ làm cho cán cân thanh toán bị ảnh hưởng Do vậy cần khuyến khích các

nhà đầu tư hướng vào xuất khẩu và tái đầu tư tại thị trường nội địa

Bốn là, Những nước chậm phát triển dễ rơi vào tình trạng nhập khẩu thiết bị lạc hậu do chưa

đủ trình độ kiểm tra và thẩm định phần giá trị sử dụng còn lại của thiết bị Do vậy có thể ảnh

hưởng xấu đến hiệu quả sử dụng vốn trong nước

Năm là, Hệ thống tài chính và môi trường kinh tế vĩ mô của các nước đang phát triển thường

không đảm bảo sử dụng hiệu quả nguồn vốn nước ngoài và hạn chế rủi ro khi có sự cố Nền kinh

tế chịu tác động mạnh hơn từ các tác động bên ngoài Nguy cơ di chuyển vốn ra nước ngoài do

các nhà đầu tư nước ngoài bị mất niềm tin lôi kéo theo cả các nhà đầu tư trong nước theo hiệu

ứng tâm lý bầy đàn (herding behavior)

Chương 2 Thực trạng mối quan hệ giữa vốn đầu tư trong nước và vốn đầu tư nước ngoài

trong thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam 2.1 thực trạng thu hút và sử dụng vốn trong nước :

2.1.1 Thực trạng đầu tư của khu vực trong nước

Trong nhiều năm qua tổng vốn đầu tư toàn xã hội của khu vực trong nước luôn tăng cao và chiếm tỉ

trọng lớn trong đầu tư toàn xã hội Ta có thể thấy qua bảng số liệu sau :

Tổng số

Chia ra

Kinh tế Nhà nước

Kinh tế ngoài nhànước

Khu vực có vốn đầu tưnước ngoài

21

Trang 22

Trong đó đầu tư của khu vực Nhà nước là :

Năm 2008, Trong vốn đầu tư của khu vực Nhà nước, vốn từ ngân sách Nhà nước đạt 100,9 nghìn

tỷ đồng, chiếm 15,8% tổng vốn đầu tư cả nước, bằng 102,8% kế hoạch năm Vốn đầu tư từ ngânsách Nhà nước do trung ương quản lý đạt 34,2 nghìn tỷ đồng, bằng 103% kế hoạch, trong đó BộNông nghiệp và Phát triển Nông thôn đạt 2881,4 tỷ đồng, bằng 172,9%; Bộ Giao thông Vận tảiđạt 6612,6 tỷ đồng, bằng 105,3%; Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đạt 451,1 tỷ đồng, bằng102,3%; Bộ Giáo dục và Đào tạo đạt 1132,5 tỷ đồng, bằng 101,1%; Bộ Công Thương đạt 237,7

tỷ đồng, bằng 100,3%; Bộ Y tế đạt 932 tỷ đồng, bằng 100%; riêng Bộ Xây dựng chỉ đạt 219,9 tỷđồng, bằng 62,6%

Vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý ước tính thực hiện 66,7 nghìn tỷ đồng,bằng 102,7% kế hoạch năm, trong đó một số địa phương có số vốn thực hiện lớn là: thành phố

Hồ Chí Minh đạt 9,9 nghìn tỷ đồng, bằng 112,1% kế hoạch; Hà Nội đạt 6,3 nghìn tỷ đồng, bằng73,4%; Đà Nẵng đạt 2,6 nghìn tỷ đồng, bằng 108,5%; Bà Rịa-Vũng Tàu đạt 2,1 nghìn tỷ đồng,bằng 104,9%; Nghệ An đạt 1,5 nghìn tỷ đồng, bằng 107,1%; Hải Phòng đạt 1458,5 tỷ đồng, bằng

Trang 23

103,5%; Bình Dương đạt 1291,8 tỷ đồng, bằng 104,6%; Lâm Đồng đạt 1200,9 tỷ đồng, bằng152,3%.

Mặc dù bị ảnh hưởng trong những tháng đầu năm 2009 do thực hiện miễn, giảm, giãn thuế và giádầu thô trên thế giới giảm, nhưng những tháng cuối năm sản xuất kinh doanh trong nước pháttriển nên tổng thu ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến 15/12/2009 ước tính đạt xấp xỉ dự toánnăm, trong đó các khoản thu nội địa bằng 102,5%; thu từ dầu thô bằng 86,7%; thu cân đối ngânsách từ hoạt động xuất, nhập khẩu bằng 101,6% Trong thu nội địa, thu từ khu vực doanh nghiệpNhà nước bằng 106,2%; thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (không kể dầu thô) bằng88,8%; thu thuế công, thương nghiệp và dịch vụ ngoài Nhà nước bằng 95,6%; thuế thu nhập cánhân bằng 87%; thu phí xăng dầu đạt 157,5%; thu phí, lệ phí bằng 90,8%

Tổng chi ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến 15/12/2009 ước tính đạt 96,2% dự toán năm, trong

đó chi đầu tư phát triển đạt 95,2% (riêng chi đầu tư xây dựng cơ bản đạt 93,4%); chi phát triển sựnghiệp kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, quản lý Nhà nước, Đảng, đoàn thể đạt 99,6%; chitrả nợ và viện trợ đạt 102,7% Bội chi ngân sách Nhà nước năm 2009 ước tính bằng 7% GDP,thực hiện được mức bội chi Quốc hội đề ra, trong đó 81,2% mức bội chi được bù đắp bằngnguồn vay trong nước; 18,8% bù đắp bằng nguồn vay nước ngoài.2.1.1.2 Nguồn tín dụng đầu tưphát triển nhà nước

Tín dụng phát triển , Năm 2007 nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển nhà nước ước đạt 40

nghìn tỷ đồng Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB) dự kiến sẽ nâng tổng vốn tín dụng nhànước trong giai đoạn 2006-2010 lên 200 tỷ đồng, tăng 60% so với giai đoạn 2000-2004 nhằm đạtđược mức tăng trưởng cao, phấn đấu trở thành nước công nghiệp vào năm 2020

Vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước ước cả năm 2009 đạt kế hoạch, khoảng 50 nghìn tỷđồng, tăng 25% so với thực hiện năm 2008, chiếm 7% tổng vốn đầu tư toàn xã hội

Đầu tư của các doanh nghiệp nhà nước : Vốn đầu tư của các doanh nghiệp nhà nước năm

2002 ước thực hiện khoảng 32.800 tỷ đồng, bằng 105,8% kế hoạch; tập trung đầu tư chiều sâuđổi mới thiết bị công nghệ, nâng cao năng lực cạnh tranh

Năm 2004, đầu tư từ nguồn vốn của các doanh nghiệp nhà nước ước thực hiện trên 47 nghìn tỉđồng, bằng 103% kế hoạch năm và tăng trên 22% Đến năm 2005, trong tổng giá trị vốn đầu của

cả nước thì vốn đầu tư của DNNN vẫn chiếm một tỷ trọng khá lớn khoảng 17.2%

Vốn đầu tư của doanh nghiệp nhà nước ước cả năm 2009 đạt 60 nghìn tỷ đồng, chỉ bằng 75,9%

kế hoạch, giảm 7,7% so với thực hiện năm 2008, chiếm 8,4% tổng vốn đầu tư toàn xã hội

Đầu tư của khu vực tư nhân và hộ gia đình :

23

Trang 24

Đi liền với bước phát triển ngoạn mục là sự bùng nổ trong các hoạt động đầu tư của khu vựckinh tế tư nhân Tỷ trọng đầu tư của khu vực dân cư và doanh nghiệp trong tổng đầu tư phát triểntoàn xã hội đã tăng từ 22,6% năm 2000 lên 26,2% năm 2002 Năm 2003, tỷ trọng này đạt 29,7%,năm 2004 tăng lên 30,9% và năm 2005 ước đạt khoảng 32,2% Năm 2006 mức vốn đầu tư là

154006 tỷ đồng và chiếm 38,1 trong tổng đầu tư toàn xã hội , năm 2008 là 204705 tỷ đồng chiếm40% trong tổng đầu tư toàn xã hội Tỷ trọng đầu tư của các doanh nghiệp tư nhân trong nước liêntục gia tăng Vốn đầu tư của các doanh nghiệp tư nhân đóng vai trò quan trọng, thậm chí lànguồn vốn đầu tư chủ yếu, đối với phát triển kinh tế địa phương Năm 2009 , Khu vực kinh tếngoài nhà nước hiện chiếm vai trò quan trọng với tổng mức đầu tư là 278 nghìn tỉ đồng , chiếm34,8% giá trị tổng vốn đầu tư toàn xã hội và bằng 113,9% so với mức đầu tư năm 2008

Thị trường vốn : Thị trường chứng khoán việt nam hình thành từ những năm cuối thế kỉ XX

nhưng hoạt động của thị trường này chỉ thực sự trở nên mạnh mẽ khi trung tâm giao dịch chứngkhoán TP Hồ Chí Minh chính thức đi vào hoạt động vào ngày 28/07/2000 , sau khi cho niêm yếtthì giá trị vốn hóa trên thị trường chứng khoán việt nam đã có sự gia tăng mạnh mẽ : trong lầnđầu phát hành thì giá trị của thị trường là 27 tỉ đồng với 6 công ty chứng khoán thành viên , trong

6 năm tiếp theo thì giá trị vốn hóa của thị trường chứng khoán tăng thêm 0.5 tỉ USD nhưng saunăm 2006 thì giá trị vốn hóa của thị trường đã có sự tăng mạnh với năm 2006 đạt 13,8 tỉ USD(chiếm 22,7% GDP) , năm 2007 giá trị vốn hóa là trên 40% GDP , năm 2008 là 19% GDP vànăm 2009 là 620.000 tỷ đồng, tương đương 38% GDP, đã tăng gấp gần 3 lần so với năm 2008 Như vậy chúng ta có thể nhận thấy rằng trong quá trình phát triển kinh tế và hội nhập kinh tếquốc tế hiện nay thì thị trường chứng khoán một con “ kênh “ khổng lồ giúp vốn đi vào nền kinh

tế

2.1.2 Những kết quả đã đạt được

Thứ nhất , Đóp góp cao vào tốc độ tăng trưởng chung của cả nước , trong nhiều năm qua tốc độ

tăng trưởng kinh tế của Việt Nam luôn đạt tốc độ tăng trưởng rất cao và ổn định trên 8 % mộtnăm Năm 2007 giá trị GDP của cả nước đã đạt 1143715 tỷ đồng , trong đó khu vực trong nướcchiếm tỷ trọng là 82% Năm 2008 giá trị GDP của cả nước đạt 1477717 tỷ đồng và tỉ trọng củakhu vực kinh tế trong nước là 81 % , những con số trên chứng tỏ cho ta thấy vai trò chủ đạo củakhu vực kinh tế trong nước vào tăng trưởng kinh tế chung của cả nước

Thứ hai ,Đóng góp tỉ trọng lớn trong vốn đầu tư của tổng vốn đầu tư toàn xã hội : ở Việt Nam

trong nhiều năm qua thì vốn trong nước luôn chiếm một tỉ trọng rất cao Trong giai đoạn 91-95thì vốn trong nước chiếm tỉ trọng là 78% , trong giai đoạn 96-00 thì vốn đầu tư trong nước chiếmkhoảng trên 70 % Sau khủng hoảng tài chính châu á năm 1997 thì đóng góp của vốn đầu tưtrong nước lại càng gia tăng với mức tỉ trọng khoảng 85 % trong vốn đầu tư toàn xã hội tronggiai đoạn 2001-2006 Năm 2009 thì tổng vốn đầu tư trong nước ở mức 523 nghìn tỷ đồng vàchiếm 74 % tổng vốn đầu tư xã hội Như vậy ta có thể thấy vai trò quyết định của vốn đầu tưtrong nước trong tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam

Trang 25

Thứ ba , Xây dựng và hoàn thiện cơ sở hạ tầng : Vốn đầu tư nhà nước và đặc biệt là vốn đầu tư

từ ngân sách nhà nước là nguồn chủ yếu cho xây dựng cơ sở hạ tầng ở Việt Nam Rất nhiều cáccông trình cơ sở hạ tầng đã được xây dựng nhờ sử dụng vốn trong nước như : Quốc lộ 1 , Đường

Hồ Chí Minh , Nhà máy điện Phả Lại , cảng biển ở Hải Phòng và Thành Phố Hồ Chí Minh….Những công trình này đã đáp ứng được nhu cầu cho tăng trưởng kinh tế với tốc độ cao ở ViệtNam Năm 2006 chi của ngân sách nhà nước cho xây dựng cơ bản là 81078 tỷ đồng , tới năm

2007 thì con số này là 107440 tỷ đồng Trong đó Nhà nước tập trung đầu tư cho phát triển cơ sở

hạ tầng ở khu vực khó khăn , vùng núi hải đảo nhằm giảm khoảng cách giữa các vùng Ở cácvùng kinh tế trọng điểm thì nhà nước tập trung phát triển các kết cấu hạ tầng , kĩ thuật cao như

hạ tầng về viễn thông , đường điện , nước và hệ thống giao thông và hệ thống các khu côngnghiệp và công nghệ cao

Thứ tư , Đóng góp mạnh mẽ vào quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế : Hiện nay trong chỉ đạo

hoạt động của các tập đoàn nhà nước , chính phủ luôn chỉ đạo các doanh nghiệp này đầu tư vàocác xây dượng và phát triển các ngành công nghiệp chủ chốt và hiện đại như tập đoàn điện lực ,tập đoàn bưu chính viễn thông , tập đoàn công nghiệp tàu thủy Việt Nam … cùng với hoạtđộng này việc vốn đầu tư sử dụng vào việc hình thành các vùng kinh tế trọng điểm giúp thay đổi

cơ cấu vùng kinh tế với các khu công nghiệp phát triển như TP Hồ Chí Minh , Hà Nội , ĐồngNai Trong nhiều năm qua giá trị sản xuất công nghiệp của khu vực này luôn chiếm tỷ trọng lớnvới mức trên 60 % giá trị sản xuất công nghiệp của cả nước Năm 2007 giá trị sản xuất côngnghiệp của khu vực trong nước là 813961.1 tỷ đồng chiếm 55.4% giá trị sản xuất công nghiệpcủa cả nước , trong đó giá trị sản xuất công nghiệp của khu vực nhà nước là 294339,1 tỷ đồng ,của khu vực tư nhân là 519622,0 tỷ đồng

Trong đó , Tính chung năm 2007, giá trị sản xuất công nghiệp của khu vực doanh nghiệp nhànước (theo giá so sánh 1994) ước tăng 17,0% so với năm 2006, trong đó khu vực doanh nghiệpnhà nước tăng 10,4% (trung ương quản lý tăng 13,4%; địa phương quản lý tăng 3,5%) Còn vớikhu vực tư nhân đóng góp 31% giá trị tổng sản phẩm công nghiệp

Thứ năm , Phát triển nguồn nhân lực : Trong nhiều năm qua tỉ lệ chi cho giáo dục đào tạo luôn

chiếm tỉ trọng cao trong vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước , năm 2006 chi cho giáo dục đào tạocủa ngân sách nhà nước đạt 37332 tỷ đồng , năm 2007 thì chi cho giáo dục đào tạo đã tăng mạnhlên con số 53774 tỷ đồng Hiện nay cả nước có trên 300 trường cao đẳng và đại học , ngoài racòn hàng nghìn hệ các trường trung cấp , các trung tâm dạy nghề trên toàn quốc Hàng năm cóhàng trăm nghìn sinh viên các trường tốt nghiệp tạo ra một đội ngũ cán bộ , thợ công nhân kĩthuật lanh nghề cho xã hội và đã đáp ứng được một phần lớn nhu cầu lao động lớn cho phát triểnkinh tế

Thứ sáu , Đóng góp cao vào tỉ trọng xuất khẩu : Hàng năm giá trị xuất khẩu của cả nước tăng

mạnh năm 2007 giá trị xuất khẩu của cả nước đạt 48561,4 tỷ đô la , trong đó đóng góp của cáckhu vự kinh tế trong nước là 20786,8 tỷ đô la chiếm 42,8% giá trị của cả nước Năm 2008 giá trịxuất khẩu của khu vực này là 28155,9 tỷ đô chiếm 44,9% giá trị xuất khẩu của cả nước Hiện nay

25

Trang 26

khu vực trong nước có giá trị xuất khẩu của khu vực kinh tế nước ngoài là do khu vực kinh tế cóvốn đầu tư nước ngoài có giá trị xuất khẩu dầu thô rất cao , trong khi đó mặt hàng chủ yếu củakhu vực trong nước là các mặt hàng nông lâm thủy hải sản đây là các mặt hàng có thế mạnh củaViệt Nam trên thị trường quốc tế

Thứ bảy , Quy mô của khu vực kinh tế trong nước không ngừng gia tăng : Số lượng doanh

nghiệp ngoài quốc doanh ở việt nam có mức gia tăng rất nhanh kể từ khi có luật doanh nghiệp

2000 ( đã được sửa đổi bổ sung năm 2005 ) , số doanh nghiệp ngoài quốc doanh năm 2000 là

35040 doanh nghiệp thì tới năm 2007 đã có 147316 doanh nghiệp Như vậy ta thấy rằng qua 7năm đi vào hoạt động của luật doanh nghiệp thì số doanh nghiệp tăng hơn 5 lần , con số nàychứng tỏ rằng sức phát triển của của khối doanh nghiệp này là lớn hơn rất nhiều so với khốidoanh nghiệp nhà nước ( khối này giảm do quá trình cổ phần hóa , sáp nhập và giả thể doanhnghiệp nhà nước ) và khối doanh nghiệp nước ngoài ( khối này thì số lượng doanh nghiệp tănghơn 3 lần ) Về quy mô vốn thì so với mức vốn năm 2000 là 98.348 tỉ đồng thì tới năm 2007 là1.442.319 tỉ đồng Trong đó quy mô doanh nghiệp có vốn từ 200 tỷ đồng tới 500 tỷ là 566 , caohơn so với khối doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp có vốn đâu tư nước ngoài , số doanhnghiệp ngoài quốc doanh nghiệp có mức vốn trên 500 tỷ đồng là 293 doanh nghiệp con số nàychỉ thấp hơn so với khối doanh nghiệp nhà nước nhưng cao hơn nhiều so với khối doanh nghiệpnước ngoài

Nói đến vốn trong nước, trước hết chúng ta đề cập đến nguồn vốn của dân chúng, vì nó đại diệncho sức mua của thị trường trong nước, 1 yếu tổ rất quan trọng quyết định khả năng hoạt độngcủa thị trường Thu nhập bình quân của Việt Nam mới vượt qua ngưỡng 1000USD, nghĩa là mớithuộc vào khối các quốc gia có thu nhập trung bình thấp Vốn dân cư ít ỏi là vậy, nhưng cũngchưa được huy động thật hiệu quả Người Việt Nam từ xưa đã có thói quen cất giữ của cải “trongkét” theo đúng nghĩa đen, dưới dạng ngoại tệ mạnh hoặc vàng, mà không đưa vào lưu thông.Thói quen này hình thành do sự thiếu tin tưởng vào đồng nội tệ, và vô hình chung đã khiến cho 1phần không nhỏ vốn dân cư không được sử dụng hiệu quả Tình trạng “đô-la hóa” chính là 1 hậuquả của việc duy trì thói quen này

Trang 27

Tiếp theo, ta phải xem xét đến khu vực tư nhân, khu vực đại diện cho nền sản xuất trong nước, làthành phần quan trọng nhất của 1 nền kinh tế thị trường Trên thực tế, khu vực tư nhân Việt

Nam mới được hình thành từ sau Đổi Mới năm 1989, hiện còn rất non trẻ và thiếu kinh nghiệm Mặc dù từ sau khi thực hiện Luật doanh nghiệp, số lượng các doanh nghiệp tư nhân

đăng kí kinh doanh đã tăng vọt từ khoảng 31000 năm 2000 lên 460000 năm 2009 (tăng 15 lầnchỉ trong 9 năm), nhưng hiện nay, số doanh nghiệp tồn tại được trên thực tế chỉ xấp xỉ 50% Vấn

đề đáng nói hơn là trong số lượng hùng hậu các DNTN đăng ký mới và còn hoạt động, cón sốnhững doanh nghiệp tư nhân lớn còn quá ít ỏi và các doanh nghiệp quy mô vừa cũng vắng bóng Trong báo cáo top 500 doanh nghiệp lớn nhất của VietNam Report và VietNamNet công bố, vàonăm 2009 chỉ có 28.9% trong số các doanh nghiệp này là của khu vực tư nhân Con số này cótăng so với mức 24% so với năm 2008 nhưng phần lớn sự tăng trưởng này và cả tỷ trọng lớntrong số các doanh nghiệp tư nhân lớn này là nhờ số đáng kể là DNNN cổ phần hóa Còn trongdanh sách 200 DN lớn nhất do UNDP công bố thì chỉ có 17 DN tư nhân Con số này quả là ít ỏi.Báo cáo này cũng cho biết số DNTN thực sự lớn lên từ xuất phát ban đầu là DNTN rất hạn chế.Phần lớn trong số 17 DNTN đó là các doanh nghiệp được cổ phần hóa

Sự thiếu vắng doanh nghiệp lớn cũng đồng nghĩa với việc trong thời gian trung hạn sẽ khó có thể

có một vài DNTN Việt Nam có thể vươn xa hơn tới các quốc gia khác nhằm xây dựng mộtthương hiệu doanh nghiệp Việt Nam ở quy mô đa quốc gia Việc xây dựng một hình ảnh thươnghiệu Việt được biết tới ở nhiều quốc gia cần có sự đóng góp của những DNTN lớn này và khôngnên chỉ chỉ dựa vào các tập đoàn kinh tế và các doanh nghiệp nhà nước Đã có một số DNTN,bằng nhiều hình thức khác nhau, nỗ lực xây dựng một thương hiệu Việt nhằm được biết tới trênthị trường quốc tế như Hoàng Anh Gia Lai, Trung Nguyên, Phở 24, Sacombank, CAVICO nhưng để trở thành một tập đoàn đa quốc gia theo đúng nghĩa thì vẫn còn một chặng đường giannan phía trước

Trên đây là những hạn chế cơ bản của nguồn vốn dân cư và tư nhân ở Việt Nam Những hạn chếnày tuy gây khó khăn không nhỏ cho quá trình thực hiên các vai trò quan trọng của vốn trongnước, nhưng đây cũng chỉ là những khó khăn mang tính giai đoạn, chắc chắn sẽ xảy ra với bất cứquốc gia nào có cùng xuất phát điểm như Việt Nam Cùng với quá trình phát triển, học hỏi vàhoàn thiện, những khó khăn ấy sớm muộn sẽ được khắc phục Tuy nhiên, những hạn chế tồn tạitrong vốn nhà nước ở Việt Nam mới thật sự đáng quan tâm

Lãng phí, thất thoát vốn nhà nước ở Việt Nam là những từ xuất hiện rất nhiều trên các

phương tiện thông tin đại chúng cả trong và ngoài nước Nhiều vụ án liên quan đến tệ nạn trên đã

bị phanh phui, như vụ biển thủ tiền hỗ trợ người nghèo ăn tết năm 2008, hay vụ kỷ luật ông ĐoànVăn Kiển, nguyên chủ tịch tập đoàn Than khoáng sản Việt Nam TKV… Gần đây nhất là nhữngsai phạm trong công tác cho vay vốn theo Chương trình xóa đói giảm nghèo (XĐNG) của Chínhphủ đã được phát hiện tại xã Thanh Thuỷ (huyện Lệ Thuỷ, tỉnh Quảng Bình) Việc kiểm tra chothấy, từ năm 2006 - 2008, số vốn vay được phân bổ về xã này qua các hội: Cựu chiến binh, Nôngdân, Phụ nữ đã bị “tung hứng” trắng trợn, và hàng trăm triệu đồng trong 1,4 tỉ do NH Chính sách

27

Trang 28

xã hội (CSXH) huyện phân bổ về đã lọt vào tay người giàu Theo đó, tỉ lệ vốn XĐGN bị đemcho các hộ không nghèo vay có năm lên tới trên 50%, trong khi tổng số hộ nghèo được vay vốnchỉ chiếm 12 -15% tổng số hộ nghèo toàn xã Ngoài ra, số hộ không nghèo thường được vay sốtiền lớn (20 - 30 triệu), trong khi các hộ nghèo thực sự chỉ được vay số tiền ít hơn nhiều.

Giáo sư David Dapice (đại học Harvard) đã từng tính toán, với tốc độ đầu tư cao như Chính phủ

đã báo cáo thì tỷ lệ tăng trưởng của Việt Nam phải đạt mức 9 - 10% Để có được con số chínhxác về thực trạng thất thoát vốn nhà nước là rất khó Hầu hết các con số đưa ra đều bị đánh giá làchưa phản ánh chính xác mức độ nghiêm trọng của vấn nạn này, đều chỉ là “phần nổi của tảngbăng chìm” Căn cứ theo báo cáo của cơ quan cảnh sát điều tra tội phạm kinh tế của Bộ Công an,

từ năm 2005-2007 phát hiện 149 vụ, 231 đối tượng cố ý làm trái, tham nhũng, tiêu cực, làm thấtthoát 671 tỷ, cho đến nay thu hồi được 167 tỷ

Không chỉ nguồn vốn ngân sách và tín dụng nhà nước, nguồn vốn tại các doanh nghiệp nhà nước

và các tập đoàn, tổng công ty cũng được sử dụng không mấy hiệu quả Theo “Báo cáo giám sátviệc thực hiện chính sách pháp luật về quản lý, sử dụng vốn, tài sản nhà nước tại các tập đoàn,tổng công ty nhà nước” của Ủy ban Thường vụ Quốc hội gửi tới các đại biểu Quốc hội, nhiều tậpđoàn, tổng công ty đang gặp khó khăn với những khoản nợ gấp nhiều lần số vốn Trong số này,không ít đơn vị sản xuất kinh doanh chủ yếu nhờ vào vốn vay ngân hàng, vốn chiếm dụng, cơcấu tài chính lại không hợp lý, dẫn đến rủi ro về cân đối dòng tiền, nợ phải trả cao gấp nhiều lầnvốn chủ sở hữu nên khả năng thanh toán không đảm bảo

Tính đến 31/12/2008, một số đơn vị có tỷ lệ tổng nợ phải trả trên vốn chủ sở hữu rất cao (trên 10lần) là Tổng công ty Xây dựng Công trình Giao thông 1 với 21,6 lần; Tổng công ty Lắp máy ViệtNam với 17,4 lần; Tổng công ty Xây dựng Công trình Giao thông 4 với 14 lần; Tổng công tyXây dựng Công nghiệp VN với 12,9 lần, Tập đoàn Công nghiệp tàu thủy VN (Vinashin) với 10,9lần…

Báo cáo của Ngân hàng nhà nước Việt Nam cũng cho biết, tính đến 31/12/2008, tổng nợ tổ chứctín dụng của 7 tập đoàn gồm Dầu khí, Than khoáng sản, Cao su, Dệt may, Công nghiệp tàu thủy,Điện lực, Bưu chính Viễn thông, không tính tập đoàn Bảo Việt) là 128.786 tỷ đồng, tăng 20,54%

so với cuối 2007 và chiếm gần 10% so với tổng nợ tín dụng đối với nền kinh tế tại cùng thờiđiểm Một số đơn vị có nợ lớn là Tập đoàn điện lực Việt Nam với 66.764 tỷ đồng, chiếm 51,84%tổng nợ tín dụng của 7 tập đoàn Tiếp đến là Tập đoàn Dầu khí Việt Nam với 21.477 tỷ đồng,chiếm 16,67%; Tập đoàn Vinashin nợ 19.885 tỷ đồng, chiếm 15,44%

2.1.4 Nguyên nhân của hạn chế

Nguyên nhân chính dẫn đến thực trạng này chính là những bất cập tồn tại trong khâu quản lý vốnnhà nước

Đề cập đến những thất thoát trong đầu tư công, trước hết phải kể đến sự thiếu đồng bộ của

các văn bản pháp luật Theo báo cáo giám sát, có những văn bản thường xuyên thay đổi trong

Trang 29

thời gian ngắn, tính nhất quán giữa các văn bản không cao, thiếu tính dự báo, làm cho việc triểnkhai thực hiện bị động, lúng túng Các văn bản dưới luật chậm ban hành dẫn đến tình trạng Luậtchờ nghị định, nghị định chờ thông tư Chẳng hạn, một số văn bản địa phương vừa hướng dẫnthực hiện thì văn bản của Trung ương lại có sự thay đổi khiến việc nắm bắt, triển khai áp dụnggặp nhiều khó khăn, nhất là đối với cấp huyện, cũng như ảnh hưởng không nhỏ đến việc thựchiện nhiệm vụ kiểm soát thanh toán vốn đầu tư Nhiều trường hợp do chủ trương đầu tư sai,quyết định đầu tư sai, đầu tư theo phong trào, theo mệnh lệnh hành chính mà không tính toán kỹlưỡng các điều kiện địa lý, điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế - xã hội Điển hình là các chươngtrình mía đường, xi măng lò đứng.Trong quá trình xây dựng quy hoạch vẫn còn xảy ra tình trạngquy hoạch sai, thiếu đồng bộ, quy hoạch phải điều chỉnh nhiều, quy hoạch chưa rõ ràng, minhbạch và công khai Nhiều dự án quy hoạch thiếu hẳn các căn cứ kinh tế, xã hội; thiếu các phântích kinh tế toàn diện và khoa học.

Tình trạng đầu tư dàn trải cũng góp phần làm tăng lãng phí và thất thoát trong đầu tư công.Nhiều đơn vị không hề có kế hoạch trung và dài hạn trong việc bố trí kế hoạch vốn đầu tư cho dự

án nên rất bị động Sự phối hợp, lồng ghép các nguồn vốn trên địa bàn chưa tốt làm cho nguồnvốn bị phân tán, bố trí dàn trải dẫn đến hiệu quả đầu tư thấp Đầu tư chủ yếu vẫn chạy theo sốlượng, mặc dù các tỉnh đều có chủ trương bố trí vốn tập trung nhưng thực trạng đầu tư dàn trảivẫn phổ biến ở nhiều địa phương ở nhiều nơi, kế hoạch bố trí vốn chỉ đáp ứng được 1/3 đến 1/2

dự toán được duyệt nên phải kéo dài thời gian đầu tư Còn có sai sót trong viec ban hành quyếtđịnh đầu tư như: quyết định đầu tư sai mục đích, vượt thẩm quyền, không phù hợp với thực tế,gây lãng phí, thất thoát Cộng với tư tưởng ỷ lại, trông chờ sự đầu tư của Nhà nước còn khá phổbiến; khả năng huy động các nguồn vốn khác để đầu tư các công trình thiết yếu còn nhiều hạnchế Một số địa phương chưa chú trọng bố trí vốn trả nợ đầu tư xây dựng cơ bản, bên cạnh đólại phát sinh nợ mới

Một bất cập nữa là sự tuỳ tiện của các đơn vị tư vấn và thiếu sót khi thẩm định của các cơ quanquản lý Nhà nước Các cơ quan chức năng có nhiệm vụ kiểm tra về vốn đầu tư, công tác thẩmđịnh dự án, lập dự toán và quyết toán công trình chưa làm hết trách nhiệm trong việc chấp hànhquy định của Nhà nước về đầu tư xây dựng dẫn đến nhiều sai phạm trong đầu tư công: viphạm quy chế đấu thầu xây dựng, mua sắm đồ dùng, trang thiết bị, thông đồng với nhà thầu khaikhống giá thanh toán gây lãng phí vốn…

Trong lĩnh vực hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước:Một lỗ hổng lớn trong việc quản lý

các tập đoàn hiện nay là chưa tách biệt được quyền quản lý vốn nhà nước và vốn chủ quản Điềunày dẫn đến việc các tập đoàn đầu tư vào lĩnh vực tài chính trong khi năng lực của cán bộ thìchưa cho phép, kéo theo việc thất thoát vốn

Một bất cập nữa là việc nhà nước đã dành quá nhiều đặc quyền cho các doanh nghiệp quốcdoanh, đặc biệt là quyền khai thác tài nguyên khoáng sản, dẫn đến độc quyền giá bán, gây méo

mó thị trường Không những thế, những ưu đãi ấy còn làm nảy sinh tâm lý ỷ lại của các doanhnghiệp nhà nước, khiến hoạt động sản xuất kinh doanh ko hiệu quả

29

Trang 30

Hiện nay, nhằm khắc phục tình trạng trên, nhà nước cũng đã chủ trương cổ phần hóa các doanhnghiệp làm ăn không hiệu quả, và thành lập tổng công ty đầu tư và kinh doanh vốn nhà nướcSCIC Thống kê của Nhóm tư vấn chính sách Bộ tài chính cho thấy, tính đến đầu năm 2009, cảnước đã thực hiện sắp xếp được 5.556 doanh nghiệp và 8 tổng công ty Nhà nước, trong đó cổphần hóa được 3.854 doanh nghiệp và bộ phận doanh nghiệp (chiếm 69,4% tổng số doanhnghiệp đã sắp xếp), giao 196 doanh nghiệp, bán 155 doanh nghiệp, khoán và cho thuê 30 doanhnghiệp, sáp nhập hợp nhất 531 doanh nghiệp, còn lại các hình thức khác là 790 doanh nghiệp.Tuy nhiên quá trình này trên thực tế vẫn chứa đựng nhiều bất cập

Về cổ phần hóa việc chậm tiến độ, vốn huy động được sau cổ phần hóa không nhiều, số nhà đầu

tư nước ngoài có trình độ quản trị, công nghệ lại chưa được tham gia rộng rãi.Thậm chí, nhiềukết quả khảo sát còn chỉ ra, có không ít trường hợp cổ phần hóa còn mang tính khép kín, nội bộ,nhiều doanh nghiệp được cổ phần hóa với giá trị dưới mệnh giá

Một vấn đề nữa, là trong gần 20 năm tiến hành cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước đến nay (bắtđầu từ năm 1991), dù đã cổ phần hóa được trên 4.000 doanh nghiệp, song đại đa số vẫn là doanhnghiệp có quy mô vừa và nhỏ, nên chắc chắn kinh nghiệm cổ phần hóa các doanh nghiệp lớn cònthiếu, kỹ năng cổ phần hóa còn nhiều lúng túng

Mặt khác, quá trình cổ phần hóa còn có nhiều vướng mắc dường như mang tính “thâm niên”trong suốt thời gian dài vừa qua, như việc tính giá trị thương hiệu, giá trị quyền sử dụng đất, vịtrí địa lý, phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp, cơ chế bảo vệ cổ đông nhỏ lẻ

Về hoạt động của SCIC: Tổng công ty đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước được thành lập dựa

trên mô hình Temasek của Singapore, nhận được rất nhiều kỳ vọng sẽ cải thiện được tình trạnglãng phí và không hiệu quả trong đầu tư vốn nhà nước Cho đến nay SCIC đã tiếp nhận và thựchiện quyền đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước tại hơn 900 doanh nghiệp Tuy nhiên, vẫn còn rấtnhiều khó khăn cản trở việc SCIC thực hiện vai trò của mình

Đầu tiên, mặc dù quy định: "SCIC được chủ động lựa chọn và quyết định lĩnh vực đầu tư, kinhdoanh theo nguyên tắc thị trường", thế nhưng SCIC vẫn chưa được quyền chủ động này Cụ thể,SCIC phải chịu nhiều thủ tục hành chính trong đấu giá, thoả thuận bán CP Đặc biệt, đa số phầnviệc hoặc phải xin phép, hoặc phải kiến nghị và chờ phê duyệt ,

Việc hạn hẹp phương thức thoái vốn, bán cổ phần; việc bắt buộc nhà đầu tư chiến lược phải mua

cổ phần theo giá bình quân mà không tính đến giá trị thương hiệu, công nghệ, kỹ năng quản trị cũng không hấp dẫn nhà đầu tư Những rào cản này đã khiến SCIC gặp khó khăn trong việc thoáivốn, cơ cấu lại phần vốn và doanh nghiệp Hơn nữa, SCIC còn gặp khó khăn trong việc hợp tác,nhất là với những đối tác lớn

Ngoài ra, chính SCIC hiện nay cũng vẫn hoạt động theo cơ chế hành chính, trong khi nguồnnhân lực, hoạt động đầu tư, kinh doanh lại đòi hỏi theo cơ chế thị trường Vì thế, SCIC đang chịu

Trang 31

nguy cơ chảy máu chất xám hoặc thiếu nhân lực giỏi hoạt động trong lĩnh vực vốn nhiều rủi ronày.

2.2 Thực trạng và vai trò của vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam

2.2.1 Thực trạng và vai trò của vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam

Việt Nam bắt đầu mở cửa nhận dòng vốn FDI tư năm 1987 với việc thông qua luật đầu tư nướcngoài đầu tiên , từ đó đến nay chúng ta đã thu hút được một lượng lớn FDI trong suốt hơn 20năm dù đã trải những giai đoạn kinh tế thế giới khó khăn như khủng hoảng kinh tế 1997 ở khuvực đông nam á hay khủng hoảng tài chính năm 2008 , đó là minh chứng cho sức hút mạnh mẽcủa Việt Nam

Trong năm 2009 vừa qua do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế thì lượng vốn FDI vào ViệtNam có phần giảm sút mạnh so với năm 2008 : vốn FDI đăng ký năm 2009 đạt 21,482 tỷ USD.Giải ngân vốn FDI trong năm qua ước tính khoảng 10 tỷ USD

Khi xét tới vấn đề thu hút ODA có một thực tế dễ dàng nhận ra đó là việc phân bổ vốn ODA theođịa phương và vùng kinh tế có sự chên lệch rõ ràng khi các vùng như Đồng bằng sông Hồng ,Nam Bộ cũng như các thành phố lớn như T.P Hồ Chí Minh , Hà Nội , Đồng Nai , Bình Dương thu hút trên 70% lượng vốn đăng kí

Xét theo hình thức thì FDI đưa vào Việt Nam qua 3 hình thức chủ yếu là doanh nghiệp 100%vốn , doanh nghiệp liên doanh và hợp đồng hợp tác kinh doanh Doanh nghiệp FDI đầu tiên đó

là Vietsovpetro là kết quả liên doanh của Việt Nam và liên bang nga , tính đến hết năm 2007, chủyếu các doanh nghiệp ĐTNN thực hiện theo hình thức 100% vốn nước ngoài, có 6.685 dự ánĐTNN với tổng vốn đăng ký 51,2 tỷ USD, chiếm 77,2% về số dự án và 61,6% tổng vốn đăng ký.Theo hình thức liên doanh có 1.619 dự án với tổng vốn đăng ký 23,8 tỷ USD, chiếm 18,8% về

số dự án và 28,7% tổng vốn đăng ký Theo hình thức Hợp đồng hợp tác kinh doanh có 221 dự ánvới tổng vốn đăng ký 4,5 tỷ USD chiếm 2,5% về số dự án và 5,5% tổng vốn đăng ký Số còn lạithuộc các hình thức khác như BOT, BT, BTO Có thể so sánh tỷ trọng dự án hoạt động theo hìnhthức 100% vốn nước ngoài tính đến hết năm 2004 là 39,9%, theo hình thức liên doanh là 40,6%

và theo hình thức hợp doanh là 19,5% để thấy được hình thức 100% vốn nước ngoài được cácnhà đầu tư lựa chọn hơn

2.2.1.2 Vai trò của FDI với tăng trưởng kinh tế Việt Nam

Thứ nhất : FDI là nguồn vốn bổ sung quan trọng cho nhu cầu vốn đầu tư toàn xã hội nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế

Việt Nam là một nước kinh tế còn nghèo nàn , tỉ lệ tích lũy của nền kinh tế thấp mà nhu cầu vốncho phát triển kinh tế là rất lớn Trong suốt thời kỳ 5 năm 1991-1995, tỷ trong đầu tư nướcngoài chiếm 22% và đóng góp khoảng 30% tổng số vốn đầu tư trong nước Còn tính riêng 5 năm1996-2000 so với 5 năm trước thì tổng số vốn đầu tư mới đạt khoảng 20,73% tỷ USD, tăng

31

Ngày đăng: 03/04/2013, 10:38

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w