1. Trang chủ
  2. » Kinh Doanh - Tiếp Thị

“Mối quan hệ qua lại giữa đầu tư với tăng trưởng và phát triển kinh tế"

70 655 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Mối Quan Hệ Qua Lại Giữa Đầu Tư Với Tăng Trưởng Và Phát Triển Kinh Tế
Tác giả Nhóm 3
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh Tế Đầu Tư
Thể loại Đề Tài
Định dạng
Số trang 70
Dung lượng 1,3 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tăng trưởng và phát triển kinh tế luôn là mục tiêu hướng tới của nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Tăng trưởng và phát triển kinh tế luôn là mục tiêu hướng tới của nhiều quốcgia trên thế giới, trong đó có Việt Nam Từ khi giành được độc lập năm 1975 và đặcbiệt là từ sau năm 1986, khi Việt Nam thực hiện chính sách đổi mới, Đảng và Nhànước ta luôn đặt mục tiêu phát triển kinh tế lên hàng đầu với định hướng đến năm

2020 Việt Nam sẽ cơ bản trở thành một nước công nghiệp Để đạt được mục tiêutrên thì đầu tư là một yếu tố cực kỳ quan trọng vì đầu tư, nói rõ hơn là đầu tư pháttriển, không những làm gia tăng tài sản của cá nhân nhà đầu tư, mà còn trực tiếplàm gia tăng tài sản vật chất cho nền kinh tế, có tác động rất mạnh mẽ đến phát triểnkinh tế

Trong những năm gần đây, nền kinh tế Việt Nam đã đạt được tốc độ tăng trưởng kinh

tế tương đối cao, đặc biệt năm 2007, tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt mức cao nhất trong lịchsử: 8,5%, những năm 2008, 2009 mặc dù chịu ảnh hưởng chung của suy thoái kinh tế, songtăng trưởng kinh tế vẫn ổn định ở mức ở mức 6.15% và 5.32% Một vấn đề cấp thiết đượcđặt ra là làm thế nào để duy trì tốc độ tăng trưởng và phát triển kinh tế ấy trong một thời giandài

Từ thực trạng kinh tế Việt Nam trong những năm qua cần có một cái nhìn tổng quan

và đánh giá đúng đắn về mối quan hệ qua lại giữa đầu tư với tăng trưởng và phát triển Nhận

thức được tính chất quan trọng của vấn đề, chúng tôi lựa chọn đề tài: “Mối quan hệ qua lại giữa đầu tư với tăng trưởng và phát triển kinh tế”, với mục đích làm rõ một số vấn đề lý

luận và thực tiễn về tác động của đầu tư đến tăng trưởng, phát triển kinh tế và ngược lại.Trên cơ sở đó đưa ra một số giải pháp nhằm phát huy tối đa mối quan hệ này để phục vụ cho

sự nghiệp phát triển đất nước

Trang 2

CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ MỐI QUAN HỆ QUA LẠI GIỮA ĐẦU TƯ VỚI TĂNG TRƯỞNG VÀ

Đầu tư nói chung là sự hi sinh các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các hoạtđộng nào đó nhằm thu về các kết quả nhất định trong tương lai lớn hơn các nguồnlực đã bỏ ra để đạt được các kết quả đó Như vậy mục tiêu của mọi công cuộc đầu

tư là đạt được các kết quả lớn hơn so với những hi sinh về nguồn lực mà người đầu

tư phải gánh chịu khi tiến hành đầu tư Nguồn lực phải hi sinh đó có thể là tiền, làtài nguyên thiên nhiên, là sức lao động và trí tuệ

Tóm lại, đầu tư là việc sử dụng phối hợp các nguồn lực vào các hoạt động nào

đó nhằm đem lại lợi ích hoặc mục tiêu, mục đích của chủ đầu tư

Ba loại hình đầu tư này luôn luôn tồn tại trong nền kinh tế và có mối quan hệtương hỗ với nhau Đầu tư phát triển tạo tiền đề để tăng tích lũy, phát triển hoạtđộng đầu tư tài chính và đầu tư thương mại Ngược lại, đầu tư tài chính và đầu tưthương mại hỗ trợ và tạo điều kiện để tăng cường đầu tư phát triển

Trang 3

Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này, chúng ta tập trung chủ yếu vào hoạtđộng đầu tư phát triển

2 Tăng trưởng và phát triển kinh tế

2.1 Tăng trưởng kinh tế

Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng thu nhập của nền kinh tế trong một khoảngthời gian nhất định (thường là một năm) Sự tăng trưởng thể hiện ở quy mô và tốc

độ Quy mô tăng trưởng phản ánh sự gia tăng nhiều hay ít, còn tốc độ tăng trưởngđược sử dụng với ý nghĩa so sánh tương đối và phản ánh sự gia tăng nhanh haychậm giữa các thời kì Như vậy, bản chất của tăng trưởng là phản ánh sự thay đổi vềlượng của nền kinh tế

Có rất nhiều chỉ tiêu để đánh giá sự tăng trưởng kinh tế như: Tổng giá trị sảnxuất (GO- Gross Output); Tổng sản phẩm quốc nội (GDP – Gross DomesticProduct); Tổng thu nhập quốc dân (GNI – Gross National Income); Thu nhập quốcdân (NI – National Income); Thu nhập quốc dân khả dụng (NDI – NationalDisposable Income); thu nhập bình quân đầu người (GDP/người)…

2.2 Phát triển kinh tế

Hiện nay mọi quốc gia đều phấn đấu vì mục tiêu phát triển và trải qua thời gian,khái niệm về phát triển cũng đã đi đến thống nhất Phát triển kinh tế được hiểu làquá trình biến đổi cả về lượng và chất, nó là sự kết hợp chặt chẽ quá trình hoànthiện của hai vấn đề kinh tế và xã hội ở mỗi quốc gia Theo cách hiểu như vậy, pháttriển phải là một quá trình lâu dài và do các nhân tố nội tại của nền kinh tế quyếtđịnh Nội dung của phát triển kinh tế được khái quát theo ba tiêu thức:

Một là, sự gia tăng tổng mức thu nhập của nền kinh tế và mức gia tăng thu

nhập bình quân trên đầu người Đây là tiêu thức thể hiện quá trình biến đổi về lượngcủa nền kinh tế, là điều kiện cần để nâng cao mức sống vật chất của một quốc gia vàthực hiện những mục tiêu khác của phát triển

Hai là, sự biến đổi theo đúng xu thế của cơ cấu kinh tế Đây là tiêu thức

phản ánh sự biến đổi về chất kinh tế của một quốc gia Để phân biệt các giai đoạnphát triển kinh tế hay so sánh trình độ phát triển kinh tế giữa các nước với nhau,người ta thường dựa vào dấu hiệu về dạng cơ cấu ngành kinh tế mà quốc gia đó đạtđược

Ba là, sự biến đổi ngày càng tốt hơn trong các vấn đề xã hội Mục tiêu cuối

cùng của sự phát triển kinh tế trong các quốc gia không phải là tăng trưởng haychuyển dịch cơ cấu kinh tế mà là việc xóa bỏ nghèo đói, suy dinh dưỡng, sự tănglên của tuồi thọ bình quân, khả năng tiếp cận đến các dịch vụ y tế, nước sạch, trình

Trang 4

độ dân trí giáo dục của quảng đại quần chúng nhân dân v.v… Hoàn thiện các tiêuchí trên là sự thay đổi về chất xã hội của quá trình phát triển.

2.3 Phát triển bền vững

Phát triển nhanh phải đi đôi với phát triển bền vững, hai mặt tác động lẫn nhauđược thể hiện ở cả tầm vĩ mô và vi mô, ở cả tầm ngắn hạn và dài hạn Phát triển bềnvững là quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý, hài hòa giữa ba mặt của

sự phát triển gồm : Tăng trưởng kinh tế, cải thiện các vấn đề xã hội và bảo vệ môitrường

Phát triển kinh tế về mặt lượng phải đi liền với nâng cao chất lượng, hiệu quả

và sức cạnh tranh của nền kinh tế Trong khi khai thác các yếu tố phát triển theochiều rộng, phải đặc biệt coi trọng các yếu tố phát triển theo chiều sâu Phải gắntăng trưởng kinh tế với phát triển văn hoá, phát triển toàn diện con người, thực hiệndân chủ, tiến bộ và công bằng xã hội, tạo nhiều việc làm, cải thiện đời sống, khuyếnkhích làm giàu hợp pháp đi đôi với xoá đói, giảm nghèo Từng bước thu hẹp khoảngcách phát triển giữa các vùng Phải rất coi trọng bảo vệ và cải thiện môi trườngngay trong từng bước phát triển, không gây ô nhiễm và huỷ hoại môi trường Pháttriển kinh tế phải đi đôi với việc bảo đảm ổn định chính trị - xã hội; ổn định chínhtrị - xã hội là tiền đề, điều kiện để phát triển nhanh và bền vững

II MỐI QUAN HỆ QUA LẠI GIỮA ĐẦU TƯ VỚI TĂNG TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ

1.Đầu tư tác động đến tăng trưởng và phát triển kinh tế

1.1 Đầu tư tác động về mặt tăng trưởng kinh tế

1.1.1 Đầu tư phát triển tác động đến tổng cung của nền kinh tế

Hàm tổng cung- hàm số nêu lên mối quan hệ giữa sự tăng lên của đầu ra với sựtăng lên của các yếu tố đầu vào (vốn, lao động, tài nguyên thiên nhiên và khoa họccông nghệ) của nền kinh tế được biểu diễn như sau:

Y= f (K, L, R, T)

Một dạng khác là hàm Cobb– Douglas có dạng:

Y = T Kα Lβ Rγ T

Ở đây α, β, γ là các số lũy thừa, phản ánh tỷ lệ cận biên của các yếu tố đầu vào

Ta thiết lập được mối quan hệ theo tốc độ tăng trưởng của các biến số như sau:

g = t + αk + βl + γr

Trong đó: g: Tốc độ tăng trưởng của GDP

k, l, r lần lượt là tốc độ tăng trưởng của các yếu tố đầu vào

Trang 5

t: phần dư còn lại, phản ánh tác động của khoa học công nghệ

Như vậy, có thể thấy 4 nhân tố của hàm sản lượng là K, L, R, T Mối quan hệđầu tư tác động đến 4 nhân tố này thông qua đó làm tăng sản lượng (quan hệ tácđộng thuận chiều) được cụ thể hóa bằng những phân tích lý luận dưới đây:

a Đầu tư vào vốn

Vai trò của vốn đầu tư đến nền kinh tế còn được thể hiện ở những lý thuyết kinh

tế qua các thời đại Có rất nhiều nhà kinh tế chứng minh vai trò của vốn đầu tư đếntăng trưởng và phát triển kinh tế Tiêu biểu là mô hình Harrod – Domar Mô hìnhthể hiện mối gia tăng vốn với tổng sản phẩm

Mô hình Harrod - Domar giải thích mối quan hệ giữa tốc độ tăng trưởng kinh tếvới yếu tố tiết kiệm và đầu tư vốn

Để xây dựng mô hình, các tác giả đưa ra 2 giả định:

- Lao động đầy đủ việc làm, không có hạn chế với cung lao động

- Sản xuất tỷ lệ với khối lượng máy móc

Y

 : Sản lượng gia tăng trong kì

S : Tổng tiết kiệm trong năm

g= : Tốc độ tăng trưởng kinh tế

Trang 6

Thay vào công thức tính ICOR, ta có:

Y 

Phương trình phản ánh tốc độ tăng trưởng kinh tế:

Y ICO

Y s Y

Như vậy, theo Harrod - Domar, tiết kiệm là nguồn gốc của tăng trưởng kinh

tế Muốn gia tăng sản lượng với tốc độ g thì cần duy trì tỷ lệ tích luỹ để đầu tư trongGDP là s với hệ số ICOR không đổi Mô hình thể hiện tiết kiệm S là nguồn vốn củađầu tư I, đầu tư làm gia tăng vốn sản xuất (K), gia tăng vốn sản xuất sẽ trực tiếpgia tăng Y Cũng lưu ý rằng, do nghiên cứu ở các nước tiên tiến, nhằm xem xétvấn đề: để duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế 1% thì đầu tư phải tăng bao nhiêu, nênnhững kết luận của mô hình cẩn được kiểm nghiệm kỹ khi nghiên cứu đối với cácnước đang phát triển như ở nước ta Ở những nước đang phát triển, vấn đề khôngđơn thuần chỉ là duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế như cũ mà quan trọng là phảităng với tốc độ cao hơn Đồng thời do thiếu vốn, thừa lao động, họ thường sử dụngnhiều nhân tố khác phục vụ tăng trưởng

Cụ thể hơn vai trò của vốn đầu tư đối với nền kinh tế được thể hiện như sau:

Vốn đầu tư hợp lý tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế

Các chính sách, cơ chế huy động và phân bổ vốn hợp lý không chỉ góp phầnlàm gia tăng quy mô vốn trong nền kinh tế mà còn nâng cao hiệu quả sử dụng vốn,gia tăng mức độ đóng góp của nhân tố vốn trong tốc độ tăng trưởng, do đó, nângcao được chất lượng tăng trưởng

Ngược lại, các chủ trương, chính sách đầu tư không hợp lý, năng lực quản lýyếu kém có thể dẫn đến sự mất cân đối trong huy động các nguồn lực, hiệu quả vàmức độ đóng góp của các nguồn lực không tương xứng với tiềm năng, dẫn đếnnhững tác động tiêu cực trong tăng trưởng kinh tế, tạo ra chất lượng tăng trưởng

Trang 7

không cao Chẳng hạn, với chính sách bao cấp trong đầu tư (qua chế độ cấp phátvốn, tín dụng…) một mặt sẽ tạo ra sự khan hiếm và lãng phí vốn trong một số đốitượng được bao cấp, phân bổ vốn không hợp lý và dẫn đến hiệu quả đầu tư khôngcao.

Chính sách đầu tư của một quốc gia, năng lực quản lý hoạt động đầu tư của cáccấp Các yếu tố của môi trường đầu tư và yếu tố thể chế trong nền kinh tế thị trường

có tác động mạnh đến hiệu quả sử dụng vốn đầu tư và các nguồn lực khác và saucùng tác động đến chất lượng tăng trưởng kinh tế

Tác động của việc sử dụng vốn đầu tư đến năng suất nhân tố tổng hợp TFP

Năng suất nhân tố tổng hợp (Total Factor Productivity – TFP) là chỉ tiêu phảnánh kết quả sản xuất do sử dụng hiệu quả nhân tố vốn và lao động (Các nhân tố hữahình – được xác định bằng số lượng), do tác động của các yếu tố vô hình như cảitiến quản lý, đổi mới công nghệ, hợp lý hóa sản xuất, nâng cao trình độ lao động…Năng suất nhân tố tổng hợp cho biết mức độ đóng góp vào tăng trưởng kinh tế củacác yếu tố đầu vào bao gồm yếu tố vốn đầu tư, lao động và các yếu tố ngoài hai yếu

tố này

Sử dụng vốn đầu tư (một nhân tố đầu vào) hiệu quả có ảnh hưởng đến mức tănggiảm của TFP và do đó tác động đến chất lượng tăng trưởng kinh tế Tác động củaviệc sử dụng vốn đầu tư đến chỉ tiêu năng suất nhân tố tổng hợp không chỉ gồm tácđộng trực tiếp mà còn có sự tác động gián tiếp thông qua việc đầu tư vốn vào nhân

tố lao động (một yếu tố đầu vào hữu hình khác) và vào các yếu tố vô hình như nângcao trình độ quản lý, cải thiện môi trường thể chế … Đầu tư nâng cao chất lượngnguồn nhân lực trực tiếp làm tăng năng suất lao động và ảnh hưởng nhất định đếnnăng suất nhân tố tổng hợp do nâng cao trình độ tay nghề, hợp lý hóa quá trình sảnxuất, tổ chức lao động… Từ đó có tác động đến chất lượng tăng trưởng kinh tế Cóthể nói, TFP chỉ có thể tăng nhanh khi chất lượng nguồn nhân lực gia tăng

Tác động của việc sử dụng vốn đầu tư đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH-HĐH

Cơ cấu kinh tế là tổng thể các yếu tố cấu thành nền kinh tế, liên hệ chặt chẽ, tácđộng qua lại với nhau trong không gian và thời gian, trong những điều kiện kinh tế

xã hội nhất định, được thể hiện cả về mặt định tính và định lượng, phù hợp với mụctiêu đã xác định của nền kinh tế Sử dụng vốn đầu tư hợp lý, hiệu quả theo cách đầu

tư trọng tâm trọng điểm trên cơ sở qui hoạch, kế hoạch đầu tư, xây dựng một cơ chếđầu tư hợp lý có tác dụng quan trọng trong việc chuyển dịnh, đổi mới cơ cấu kinh tếngành, cơ cấu kinh tế vùng, lãnh thổ, cơ cấu theo các thành phần kinh tế, cơ cấukinh tế thành thị nông thôn… đồng thời góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế cao

Trang 8

Nói cách khác, kết quả của hoạt động sử dụng vốn đầu hợp lý là sự thay đổi cơ cấukinh tế theo hướng ngày càng hợp lý hơn, phát triển toàn diện hơn và theo hướngCNH, HĐH Điều này đồng nghĩa với việc nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế.

Vốn đầu tư giúp nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp và của nền kinh tế

Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp và của nền kinh tế được đánh giá quanăng lực cạnh tranh của hàng hóa và dịch vụ mà doanh nghiệp và nền kinh tế tạo ra

Sử dụng vốn đầu tư bất hợp lý, không hiệu quả, công tác qui hoạch, kế hoạch đầu tưcòn nhiều yếu kém dẫn đến chất lượng thấp, giá thành sản phẩm cao và năng lựccạnh tranh thấp Trên góc độ đầu tư, để nâng cao năng lực cạnh tranh, một trong cácyếu tố then chốt có tính đột phá là thực hiện đa dạng hóa các nguồn vốn và tăngcường tính cạnh tranh giữa các nguồn vốn huy động Bản thân các nguồn vốn, mộttrong những nguồn lực cơ bản cho đầu tư, khi được đặt trong môi trường cạnh tranh

và có cơ chế huy động và phân bổ vốn theo tín hiệu của thị trường thì hiệu quả đầu

tư mới được chú trọng đúng mức, do đó chất lượng tăng trưởng mới được đề cao

Tác động của vốn đầu tư đến chất lượng và giá thành sản phẩm

Chất lượng và giá thành sản phẩm là các chỉ tiêu quan trọng phản ánh mặt chấtcủa tăng trưởng kinh tế Chất lượng và giá thành sản phẩm lại chịu sự tác động lớncủa hoạt động tiết kiệm, chống lãng phí thất thoát vốn và việc sử dụng hiệu quả vốnđầu tư

Tóm lại, hoạt động sử dụng vốn có tác động quan trọng đến tăng trưởng kinh tế

cả về mặt số lượng lẫn chất lượng

b Đầu tư vào lao động

Nguồn lao động trở thành lợi thế cạnh tranh của nhiều nước trên thế giới trong

đó có Việt Nam Ở những nước này trình độ công nghệ còn nhiều hạn chế, dân sốtrong độ tuổi lao động chiếm tỷ lệ rất cao Chính vì vậy, hướng đi tốt nhất là tậndụng lợi thế cạnh tranh của đất nước, tập trung vào những ngành nghề kinh tế sửdụng nhiều lao động, vốn đầu tư chưa phải là nhiều để thúc đầy sản xuất phát triển

Vai trò hai mặt của lao động trong quá trình phát triển kinh tế

Lao động một mặt là một bộ phận của nguồn lực phát triển, đó là yếu tố đầu vàokhông thể thiếu của quá trình sản xuất Mặt khác lao động là một bộ phận của dân

số, những người được hưởng lợi ích của sự phát triển kinh tế suy cho cùng đó làtăng trưởng kinh tế nâng cao đời sống vật chất tinh thần của con người

Lao động với tăng trưởng kinh tế

Vai trò của lao động với tăng trưởng kinh tế được xem xét qua các chỉ tiêu về

số lượng lao động, trình độ chuyên môn, sức khỏe và sự kết hợp giữa lao động và

Trang 9

các yếu tố đầu vào khác Các chỉ tiêu được thể hiện tập trung thông qua mức tiềncông của người lao động khi tiền công của người lao động tăng có nghĩa chi phí sảnxuất tăng lên phản ánh khả năng sản xuất tăng lên Đồng thời khi mức tiền côngtăng làm cho thu nhập có thể sử dụng của người lao động cũng tăng do đó khả năngchi tiêu của người lao động tăng Ở các nước đang phát triển, mức tiền công củangười lao động nói chung là thấp do đó ở những nước này lao động chưa phải làđộng lực mạnh cho sự cho sự phát triển Để nâng cao vai trò của người lao độngtrong phát triển kinh tế cần thiết có các chính sách nhằm giảm bớt lượng cung laođộng, đồng thời tạo ra các nguồn lực một cách đồng bộ.

Đầu tư phát triển nguồn nhân lực là một bộ phận của đầu tư phát triển, nó là

việc chi dùng vốn trong hiện tại để tiến hành các hoạt động nhằm nâng cao vàkhuyến khích đóng góp tốt hơn kiến thức, thể lực của người lao động, để đáp ứngtốt hơn cho nhu cầu sản xuất

Đầu tư phát triển bao gồm : đầu tư những tài sản vật chất và đầu tư phát triển

những tài sản vô hình Đầu tư phát triển nguồn nhân lực là một trong những nội

dung của đầu tư những tài sản vô hình Đầu tư phát triển nguồn nhân lực bao gồmnhững nội dung cơ bản sau: đầu tư cho hoạt động đào tạo lực lượng lao động, đầu tưcho công tác chăm sóc sức khỏe y tế, đầu tư cải thiện môi trường, điều kiện làmviệc của người lao động …

c Đầu tư vào tài nguyên thiên nhiên

Tài nguyên thiên nhiên là tất cả các nguồn lực của tự nhiên; bao gồm đất đai,không khí, nước, các loại năng lượng và những khoáng sản nằm trong lòng đất…Con người có thể khai thác và sử dụng những ích lợi do tài nguyên thiên nhiên bantặng để thoả mãn những nhu cầu đa dạng của mình

Tài nguyên thiên nhiên là một yếu tố nguồn lực quan trọng

Có thể nói tài nguyên thiên nhiên là yếu tố thúc đẩy sản xuất phát triển, gópphần chuyển dịch cơ cấu kinh tế Trong giai đoạn đầu phát triển, các nước đangphát triển thường quan tâm nhiều đến việc xuất khẩu sản phẩm thô, đó là những sảnphẩm được khai thác trực tiếp từ nguồn tài nguyên thiên nhiên của đất nước, chưaqua chế biến hoặc ở dạng sơ chế Nguồn tài nguyên thiên nhiên cũng là cơ sở đểphát triển các ngành sản xuất nông nghiệp, công nghiệp chế biến, các ngành côngnghiệp nặng, công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng, thủy tinh, sành sứ… Tàinguyên thiên nhiên chỉ trở thành sức mạnh kinh tế khi con người biết khai thác và

sử dụng một cách có hiệu quả

Tài nguyên thiên nhiên là cơ sở tạo tích lũy vốn và phát triển ổn định

Trang 10

Có nhiều quốc gia nhờ những ưu đãi của điều kiện tự nhiên đa dạng, phong phúnên có thể rút ngắn quá trình tích lũy vốn bằng cách khai thác các sản phẩm thô đểbán hoặc để đa dạng hóa nền kinh tế tạo nguồn tích lũy vốn ban đầu cho sự nghiệpcông nghiệp hóa đất nước.

Hơn nữa, sự giàu có về tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt về năng lượng giúp chomột quốc gia ít bị lệ thuộc hơn vào các quốc gia khác và có thể tăng trưởng mộtcách ổn định, độc lập khi thị trường tài nguyên thiên nhiên thế giới bị rơi vào trạngthái bất ổn

Từ những giá trị to lớn như vậy của tài nguyên thiên nhiên mà hoạt động đầu tưrất cần chú trọng đến lĩnh vực này Phải biết khai thác thể mạnh của từng ngành,từng vùng mà có hướng đầu tư hợp lý Vùng có trữ lượng tài nguyên thiên nhiênphong phú thì ta chú trọng vào công tác khai thác nhưng đi kèm là bảo tồn, tránhhoạt động đầu tư khai thác cạn kiệt nguồn tài nguyên Từ đó mới tạo ra được mộthoạt động đầu tư hiệu quả và bền vững, kéo theo đó là tăng lợi nhuận và phát triểnkinh tế

d Đầu tư vào khoa học công nghệ

Khoa học là tập hợp những hiểu biết và tư duy nhằm khám phá những thuộctính tồn tại khách quan của các hiện tượng tự nhiên và xã hội Công nghệ là tập hợpcác phương pháp, quy trình, kĩ năng, bí quyết, công cụ và phương tiện để biến đồicác nguồn lực thành các sản phẩm hay dịch vụ phục vụ đời sống xã hội

Đầu tư vào khoa học công nghệ giúp mở rộng khả năng sản xuất, thúc đầy tăng trưởng và phát triển kinh tế

K.Marx đã dự đoán rằng: đến giai đoạn công nghiệp, việc sản sinh ra sự giàu cóthực sự không phụ thuộc nhiều vào tình trạng chung của khoa học và sự tiến bộ của

kĩ thuật hay sự vận dụng khoa học vào sản xuất

Dưới tác động của khoa học công nghệ, các nguồn lực sản xuất được mở rộng:

mở rộng khả năng phát hiện khai thác và đưa vào sử dụng các nguồn tài nguyênthiên nhiên, kể cả tài nguyên tái sinh và không tái sinh làm biến đổi chất lượngnguồn lực lao động nhờ đó nâng cao năng suất lao động mở rộng khả năng huyđộng, phân bổ và sử dụng các nguồn vốn đầu tư một cách có hiệu quả Khả năng đóđược thể hiện thông qua quá trình hiện đại hóa các tổ chức trung gian tài chính, các

hệ thống thông tin liên lạc, giao thông vận tải

Khoa học công nghệ tạo điều kiện chuyển từ phát triển kinh tế theo chiều rộngsang phát triển kinh tế theo chiều sâu.Với vai trò này, khoa học và công nghệ làphương tiện để chuyển nền kinh tế nông nghiệp sang nền kinh tế công nghiệp và

Trang 11

nền kinh tế tri thức Trong đó phát triển nhanh các ngành công nghệ cao sử dụngnhiều lao động trí tuệ là đặc điểm nổi bật.

Trước đây trong suốt một thời gian dài, quan điểm sự tăng trưởng kinh tế phụthuộc nhiều vào các yếu tố vốn, tài nguyên, lao động Nhưng cách mạng khoa học

kĩ thuật đã chứng minh ngoài các yếu tố trên còn có các yếu tố khác ngày càng giữ

vị trí quan trọng đối với tăng trưởng kinh tế đó là đổi mới công nghệ, đổi mới tổchức quản lý… Đặc biệt khi đứng trước những vấn đề về môi trường, sự cạn kiệtnguồn tài nguyên thì yếu tố khoa học công nghệ càng trở nên quan trọng Sự đónggóp của yếu tố này khó được xác định một cách trực tiếp nhưng được thể hiện quaviệc sử dụng có hiệu quả các yếu tố khác như tăng năng suất lao động, tăng hiệuquả sử dụng vốn, nâng cao công suất sử dụng máy móc th iết bị

Thúc đẩy quá trình hình thành và chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ không chỉ đẩy nhanh tốc độphát triển của các ngành, mà còn làm cho phân công lao động xã hội ngày càng trởnên sâu sắc và đưa đến phân chia các ngành thành nhiều phân ngành nhỏ Xuấthiện nhiều ngành nhiều lĩnh vực kinh tế mới Từ đó làm thay đổi cơ cấu kinh tế theohướng tích cực Cơ cấu kinh tế trong nội bộ mỗi ngành cũng biến đổi theo hướngngày càng mở rộng quy mô sản xuất ở những ngành có hàm lượng kĩ thuật côngnghệ cao

Tăng sức cạnh tranh của hàng hóa, thúc đẩy phát triển kinh tế thị trường

Mục tiêu cuối cùng của các doanh nghiệp là tối đa hóa lợi nhuận Muốn vậy cácdoanh nghiệp phải sản xuất những mặt hàng đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thịtrường Những yêu cầu đó chỉ được thực hiện khi áp dụng tiến bộ khoa học côngnghệ vào trong sản xuất kinh doanh Nhờ đó không chỉ tạo ra lơi thế trong cạnhtranh, mà còn tạo ra nhiều loại sản phẩm mới, tăng quy mô sản xuất của doanhnghiệp, nâng cao vị thế doanh nghiệp trên thị trường Việc áp dụng tiến bộ khoa họccông nghệ có những tác động sau:

+ Các yếu tố sản xuất như tư liệu sản xuất, lao động ngày càng hiện đại và đồng bộ + Quy mô sản xuất mở rộng, thúc đẩy ra đời và phát triển các loại hình doanhnghiệp mới

+ Tạo nhịp độ cao hơn trong mọi hoạt động sản xuất kinh doanh

+ Chiến lược kinh doanh từ chỗ hướng nội, thay thế hàng nhập khẩu chuyển sanghướng ngoại hướng vào xuất khẩu, từ thị trường trong nước hướng ra thị trường thếgiới, tăng sức canh tranh trên thị trường thế giới

1.1.2 Đầu tư phát triển tác động đến tổng cầu của nền kinh tế

a Kích cầu trong tăng trưởng kinh tế:

Trang 12

Các học thuyết kinh tế trước trường phái Keynes thường chủ yếu quan tâm đếnyếu tố cung và đồng nhất sự tăng trưởng kinh tế Tuy nhiên vào những năm 30 củathế kỷ XX khủng hoảng kinh tế, thất nghiệp diễn ra thường xuyên và lý thuyết củatrường phái Keynes đã ra đời đánh dấu sự phát triển mới về kinh tế Lý thuyết nàynhấn mạnh đến yếu tố cầu và coi tổng cầu là nguyên nhân của sự tăng trưởng cũngnhư suy thoái kinh tế.

Cầu tiêu dùng giảm dẫn đến hàng hóa ế thừa, kinh tế trì trệ: Theo ông khimức thu nhập tăng lên thì xu hướng tiêu dùng giảm đi còn xu hướng tiết kiệm trungbình tăng lên, do đó xu hướng tiết kiệm cận biên sẽ tăng lên Việc giảm xu hướngtiêu dùng sẽ dẫn đến tiêu dùng giảm xuống Cầu giảm dẫn đến hàng hóa ế thừakhông bán được Các nhà sản xuất bi quan về nền kinh tế sẽ thu hẹp quy mô sảnxuất hoặc nếu không sẽ bị phá sản Chính những điều này dẫn đến hiện tượng thấtnghiệp xảy ra, tệ nạn xã hội bùng phát Theo Keynes, sự sụt giảm đầu tư chính lànguyên nhân của khủng hoảng kinh tế xã hội ở các nước tư bản vào những năm 30.Cũng theo Keynes tổng cầu tăng sẽ kích thích tổng cung tăng và tạo ra nền kinh

tế đạt tới một sự cân bằng mới ở mức sản lượng cao hơn mức sản lượng cũ từ đókinh tế sẽ tăng trưởng

b Quan điểm của Keynes về đầu tư với tổng cầu:

Số nhân đầu tư phản ánh vai trò của đầu tư đối với sản lượng Nó thấy sảnlượng tăng bao nhiêu khi đầu tư tăng một đơn vị

Công thức k Y I (1)

Trong đó: ∆Y là mức gia tăng sản lượng

∆I là mức gia tăng đầu tư

k là số nhân đầu tư

Từ công thức (1) ta có: ∆Y= k ∆I

Như vậy, việc gia tăng đầu tư có tác dụng khuyếch đại sản lượng lên sốnhân lần Trong công thức trên k là số dương lớn hơn 1

Vì I = S có thể biến đổi công thức (1) thành:

MPC MPS

S I

Y

k    1 1 1

Trong đó : MPC : khuynh hướng tiêu dùng biên

MPS : khuynh hướng tiết kiệm biên

Nếu MPC càng lớn thì k càng lớn, do đó độ khuyếch đại của sản lượng cànglớn, sản lượng càng tăng, công ăn việc làm càng gia tăng

Trang 13

Thực tế, việc gia tăng đầu tư dẫn đến gia tăng cầu về các yếu tố tư liệu sản xuất(máy móc thiết bị, nguyên vật liêu…) và qui mô lao động Sự kết hợp hai yếu tố nàylàm cho sản xuất phát triển, kết quả là gia tăng sản lượng nền kinh tế.

Mô hình số nhân phản ánh mối quan hệ giữa thu nhập với tăng đầu tư Theoông, mỗi sự gia tăng về đầu tư đều kéo theo sự gia tăng về nhu cầu bổ sung côngnhân, nâng cao về tư liệu sản xuất Do vậy làm tăng tiêu dùng, tăng giá bán hàng,làm tăng việc làm làm cho công nhân và tất cả đều có thu nhập

Tóm lại đầu tư làm tăng tổng cầu kéo theo sự tăng lên thu nhập và tăng trưởngkinh tế nói chung

1.2 Đầu tư phát triển tác động tới chuyển dịch cơ cấu kinh tế

1.2.1 Những lý thuyết về chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Những lý thuyết về chuyển dịch cơ cấu kinh tế có những đại diện tiêu biểu là:

Mô hình 5 khu vực của Rostow, mô hình 2 khu vực của Harry Oshima, Lý thuyếtphát triển cân đối của R Nurkse, Rosenstein – Rodan và lý thuyết phát triển khôngcân đối (hay các cực tăng trưởng) của A Hirschman, F Perrons Nhìn chung cácnhà kinh tế đều cho rằng nền kinh tế xã hội luôn trải qua các giai đoạn phát triển từthấp đến cao và kéo theo đó là mỗi giai đoạn đều có một cơ cấu kinh tế đặc trưnggắn với một yêu cầu riêng về tỉ lệ đầu tư và cơ cấu đầu tư sự thay đổi theo hướngtích cực của cơ cấu kinh tế Như Rostow, kinh tế xã hội trải qua các giai đoạn cơcấu kinh tế từ nông nghiệp thuần túy, sang nông- công nghiệp trong giai đoạn chuẩn

bị cất cánh, đến cơ cấu công nghiệp – nông nghiệp – dịch vụ ở giai đoạn cất cánh, là

cơ cấu công nghiêp – dịch vụ - nông nghiệp trong giai đoạn trưởng thành, và cuốicùng xã hội đạt tiêu dùng cao thì cơ cấu kinh tế có dạng dịch vụ - công nghiệp

Sự thay đổi cơ cấu ngành này được giải thích do xã hội luôn phải tồn tại cơ cấuđầu tư khác nhau giữa các ngành Ðể phát triển được, cần phải tập trung đầu tư vàomột số ngành nhất định, tạo ra một "cú hích" thúc đẩy và có tác dụng lôi kéo đầu tưtrong các ngành khác theo kiểu lý thuyết số nhân, từ đó kéo theo sự phát triển củanền kinh tế Trong mỗi giai đoạn phát triển, vai trò "cực tăng trưởng" của các ngànhtrong nền kinh tế là không giống nhau Vì vậy, cần tập trung những nguồn lực (vốnkhan hiếm) cho một số lĩnh vực cụ thể trong một thời điểm nhất định Mặt khác, dotrong thời kỳ đầu của quá trình công nghiệp hóa, các nước đang phát triển rất thiếucác nguồn lực sản xuất và không có khả năng phát triển cùng một lúc đồng bộ tất cảcác ngành hiện đại Vì thế, tập trung phát triển các ngành trọng điểm gần như là một

sự lựa chọn bắt buộc

Trang 14

Tóm lại: phát triển kinh tế gắn với một cơ cấu kinh tế phù hợp cho từng giai đoạn Đầu tư là giải pháp định hướng cho cơ cấu kinh tế theo kế hoạch Vậy đầu tư

có vai trò là nhân tố quyết định trong quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế.

1.2.2 Lý luận về vai trò của đầu tư với chuyển dịch cơ cấu kinh tế

a Đối với cơ cấu ngành kinh tế:

Việc đầu tư vào ngành nào, quy mô vốn là bao nhiêu, đồng vốn được sửdụng như thế nào đều tác động mạnh mẽ và trực tiếp đến sự phát triển của ngànhnói riêng và của cả nền kinh tế nói chung Cụ thể, đầu tư sẽ góp phần tăng cườngvật chất kĩ thuật, nâng cao hàm lượng công nghệ qua đó nâng cao năng suất laođộng của ngành Nhờ đó sẽ tạo ra sản lượng cao hơn với giá thành thấp hơn Mặtkhác, đầu tư là tiền đề tập trung các nguồn lực khác của nền kinh tế (lao động, tàinguyên, vốn dư thừa…) cho mục tiêu phát triển ngành Chính đầu tư chứ khôngphải các quyết định hành chính là nhân tố trực tiếp nhất có thể huy động tất cả cácyếu tố đầu vào cần thiết cho sự phát triển của ngành Không những thế việc đầu tưcòn tạo ra điều kiện vật chất cho sự ra đời của những ngành mới Sự thay đổi tỉtrọng giữa các ngành và sự ra đời của những ngành mới chính là chuyển dịch cơ cấukinh tế ngành

b.Đối với cơ cấu lãnh thổ kinh tế:

Có thể dễ dàng nhận thấy bất cứ vùng nào nhận được một sự đầu tư thích hợpđều có điều kiện để phát huy mạnh mẽ những thế mạnh của mình Những vùng tậptrung nhiều khu công nghiệp lớn đều là những vùng rất phát triển của một quốc gia.Những vùng có điều kiện được đầu tư sẽ là đầu tàu kéo các vùng khác cùng pháttriển Những vùng kém phát triển có thể nhờ vào đầu tư để thoát khỏi đói nghèo vàgiảm dần khoảng cách với các vùng khác Nếu xét cơ cấu lãnh thổ theo góc độthành thị và nông thôn thì đầu tư là yếu tố bảo đảm cho chất lượng của đô thị hoá.Việc mở rộng các khu đô thị dựa trên các quyết định của chính phủ sẽ chỉ là hìnhthức nếu không đi kèm với các khoản đầu tư hợp lý Đô thị hoá không thể gọi làthành công thậm chí còn cản trở sự phát triển nếu cơ sớ hạ tầng không đáp ứngđược các nhu cầu của người dân Các dịch vụ y tế, giáo dục… cũng cần được đầu tưcho phù hợp với sự phát triển của một đô thị

c.Đối với cơ cấu thành phần kinh tế:

Đối với mỗi quốc gia, việc tổ chức các thành phần kinh tế chủ yếu phụ thuộcvào chiến lược phát triển của chính phủ Các chính sách kinh tế sẽ quyết định thànhphần nào là chủ đạo; thành phần nào được ưu tiên phát triển; vai trò; nhiệm vụ củacác thành phần trong nền kinh tế…Ở đây đầu tư đóng vai trò nhân tố thực hiện

Trang 15

Tóm lại, nhìn tư góc độ lý thuyết hay thực tiễn đều thấy được mối quan hệ và vai trò tất yếu của đầu tư phát triển đối với quá trình dịch chuyển cơ cấu kinh tế của mỗi quốc gia.

1.3 Đầu tư tác động tới tiến bộ xã hội

Tiến bộ xã hội phản ánh sự vận động của xã hội từ thấp đến cao, từ đơn giản

đến phức tạp, là sự vận động của xã hội loài người từ hình thái kinh tế xã hội nàyđến hình thái kinh tế xã hội khác cao hơn, hoàn thiện hơn về cơ sở hạ tầng kinh tếlẫn kiến trúc thượng tầng về pháp lý, chính trị và các hình thức xã hội Lịch sử xãhội loài người nói chung bao giờ cũng vận động theo hướng tiến bộ mà mỗi hìnhthái kinh tế xã hội là một nấc thang của tiến bộ xã hội Tiến bộ xã hội mà trung tâmcủa nó là vấn đề phát triển con người được xem là tiêu thức đánh giá mục tiêu cuốicùng của phát triển Nó được đánh giá qua các khía cạnh chính gồm: một số chỉtiêu phản ánh nhu cầu cơ bản của con người và chỉ tiêu về nghèo đói, bất bình đẳng

Lý luận về tác động của đầu tư tới tiến bộ xã hội:

Đầu tư với vai trò là một nhân tố vô cùng quan trọng quyết định trực tiếp tớităng trưởng kinh tế cũng đồng thời là một nhân tố gián tiếp góp phần xây dựng một

xã hội tiến bộ Tất cả những hoạt động đầu tư hợp lý và đúng trọng điểm góp phầnmang lại một nền kinh tế tăng trưởng nhanh thông qua đó nâng cao một số chỉ tiêuphản ánh nhu cầu của con người, đó là những nhu cầu về mức sống vật chất, nhucầu giáo dục, y tế- chăm sóc sức khỏe, nhu cầu về việc làm Hoạt động đầu tư tácđộng tới tăng trưởng kinh tế từ đó nâng cao thu nhập cho người dân, cải thiện mứcsống vật chất sau đó là tiếp cận các dịch vụ cơ bản của xã hội như y tế, giáo dục.Hoạt động đầu tư cũng trực tiếp cung cấp tạo công ăn việc làm cho người dân, gópphần giảm tỷ lệ thất nghiệp

1.4 Đầu tư tác động tới môi trường

Đầu tư trong vai trò là nhân tố thực hiện đối với tăng trưởng và phát triển kinh

tế đã đóng góp một phần không nhỏ trong việc tác động tới môi trường từ nhiều gócđộ

Ở góc độ tích cực chúng ta có thể nhận thấy thông qua các mục tiêu, kế hoạchđặt ra trong công tác huy động vốn, nguồn lực vào các vùng kinh tế, các khu vựckinh tế có môi trường bị ô nhiễm để khắc phục và giảm bớt sự ô nhiễm, phân bổ hàihòa, cân bằng lại môi trường sinh thái Những hình thức đầu tư phát triển sản xuất

sử dụng nguyên liệu tái chế, tận dụng, tiết kiệm

Ở góc độ tiêu cực, vấn đê ô nhiễm môi trường là một thực tế không thể tránhkhỏi Đầu tư đã tác động một cách trực tiếp và lâu dài, gây ra hậu quả nghiêm trọng

mà cái giá phải trả cho thế hệ mai sau thực sự là một bài toán khó giải Đầu tư tăng

Trang 16

trưởng và phát triển kinh tế nhưng cũng đồng thời lấy đi nguồn lực vô cùng lớnchính là: nguồn tài nguyên thiên nhiên, đó có thể là nguồn tài nguyên thiên hữu hạnhoặc vô hạn nhưng nếu lấy đi mà không có biện pháp cân đối, tiết kiệm thì hậu quảmất cân bằng sinh thái, các hiểm họa về môi trường xảy ra là một việc khó lường.Những hoạt động đầu tư trên cơ sơ nguồn lực sẵn mang tính chất không thể tái tạođang ngày càng cạn kiệt nếu không có biện pháp tiết kiệm, sử dụng hợp lý và tìmkiếm nguyên liệu thay thế Những hoạt động đầu tư có đầu vào là nguồn tài nguyên

có khả năng tái tạo thì việc cân đối sử dụng hợp lý không được bảo đảm khiến mấtcân bằng sinh thái, không kịp tái tạo thậm chí biến mất Không chỉ có thế, hoạt độngđầu tư mà đi kèm với nó là những chất thải độc hại thải ra môi trường với ý thứccủa các nhà đầu tư chưa cao, chạy theo lợi nhuận cùng với sự kiểm soát trong việc

xử lý chất thải chưa chặt chẽ đã khiến môi trường tự nhiên đang ngày càng ô nhiễmnặng nề Môi trường vừa là đầu vào, vừa là đầu ra của tất cả những hoạt động đầu

tư phát triển, tác động của đầu tư tới môi trường có thể là trực tiếp hoặc gián tiếpnhưng đó cũng chính là một trong những yếu tố quyết đinh cho một nền kinh tế pháttriển và bền vững

2 Tác động ngược lại của tăng trưởng và phát triển kinh tế đến đầu tư

2.1 Tăng trưởng & phát triển kinh tế góp phần cải thiện môi trường đầu tư

Môi trường đầu tư phải được hệ thống pháp luật và chính sách của nhànước đảm bảo Hệ thống pháp luật trước hết là luật đầu tư công bằng, hợp lý vàđược đảm bảo thực thi trong thực tiễn đối với mọi thành phần kinh tế tạo dựng mộtnền kinh tế thị trường, với những quy luật vốn có phát huy tác dụng tích cực của cơchế thị trường Nhờ đó các nguồn vốn đầu tư được huy động, phân bổ sử dụng cóhiệu quả Vấn đề này trực tiếp liên quan đến việc hình thành đồng bộ các yếu tố thịtrường (trong đó có thị trường tài chính), đến quá trình chuyển đổi cơ chế quản lýnền kinh tế, đến việc hoàn thiện hệ thống chính sách và khuôn khổ pháp lý đảm bảocho hoạt động nền kinh tế

Tăng trưởng và phát triển kinh tế làm cho nền kinh tế có nội lực lớn hơn,quy mô vốn của toàn bộ nên kinh tế ngày một phát triển Ngân sách chính phủ ngàymột nhiều tạo điều kiện cho việc đầu tư thêm cho cơ sở hạ tầng ngày một tốt hơn.Đường xá, cầu cống được xây dựng nhiều hơn, chất lượng tốt hơn Điện, nước, dich

vụ viễn thông công nghệ thông tin ngày càng phát triển Đây chính là những điềukiện không thể tốt hơn của một môi trường đầu tư để kêu gọi các nhà đầu tư thamgia đầu tư tìm kiếm lợi nhuận

Để có thể đảm bảo nguồn vốn cho đầu tư phát triển nền kinh tế phải huyđộng vốn thông qua các kênh huy động vốn khác ngoài ngân sách nhà nước Một

Trang 17

trong số đó là ODA, FDI, cá nhân, tổ chức,… là những nguồn vốn quan trọng bậcnhất trong đầu tư phát triển Để huy động được nhiều hơn những nguồn lực đó nhànước chính phủ phải hoàn thiện hơn nữa thể chế chính sách nhằm kêu gọi đầu tư.Đảm bảo đặt lợi ích của nhà đầu tư lên hàng đầu Nền kinh tế càng phát triển vốnđầu tư càng nhiều, yêu cầu hoàn thiện cơ chế chính sách đầu tư càng tăng đi cùngvới nó là môi trường đầu tư ngày một thông thoáng hơn hứa hẹn đem lại nhiều lợinhuận hơn cho nhà đầu tư Tăng trưởng và phát triển kinh tế làm hoàn thiện hơnmôi trường đầu tư thông qua việc hoàn thiện cơ chế chính sách.

2.2 Tăng trưởng và phát triển kinh tế làm tăng tỷ lệ tích luỹ, cung cấp thêm vốn cho đầu tư:

Vấn đề tăng trưởng ở đây được nhìn nhận như một yếu tố tạo sự hấp dẫnngày càng lớn đối với vốn đầu tư cả trong nước và nước ngoài Vấn đề này liênquan đến một nguyên tắc mang tính chủ đạo trong việc thu hút vốn đầu tư: Vốnđược sử dụng càng hiệu quả thì khả năng thu hút vốn càng lớn Thực chất của mốiquan hệ này nằm trong mối quan hệ nhân quả của các sự vật

Thứ nhất với năng lực tăng trưởng được đảm bảo, năng lực tích lũy của nền

kinh tế có khả năng gia tăng Khi đó quy mô nguồn vốn trong nước có thể huy động

sẽ được cải thiện

Thứ hai triển vọng tăng trưởng và phát triển càng cao cũng là tín hiệu tốt thu

hút các nguồn vốn đầu tư nước ngoài Từ đó dẫn đến tích lũy được nhiều vốn cungcấp cho hoạt động đầu tư

Tăng trưởng và phát triển kinh tế tạo ra sự tin tưởng vững chắc chonhững nhà đầu tư đã tham gia đầu tư và tạo ra một lực hút lớn lao đối với nhữngnhà đầu tư còn đang phân vân trong việc có tham gia đầu tư hay không Tăngtrưởng và phát triển kinh tế giúp hoàn thiện hơn cơ sở hạ tầng kĩ thuật đây chính làđiều kiên tiên quyết để thu hút nguồn đầu tư nước ngoài thông qua FDI và ODA.Với một nền kinh tế cón đang phát triển như ở nước ta thì đầu tư nước ngoài chính

là một trong những ngồn vốn quan trọng bậc nhất cung cấp cho đầu tư Làm chonguồn vốn đầu tư ngày lớn hơn Phát triển kinh tế thể hiện một sự tăng lên cả vềchất và lượng của nền kinh tế Nền kinh tế ngày một hoàn thiện hơn Cá nhân doanhnghiệp tổ chức kinh doanh thu được lợi nhuận lớn hơn Quy mô tích lũy cũng nhờ

đó mà tăng theo

Trang 18

2.3 Tăng trưởng kinh tế góp phần hoàn thiện hơn hạ tầng cơ sở vật chất kĩ thuật.

Xây dựng hạ tầng cơ sở vật chất kĩ thuật là một trong những điều kiện đầu tiêncấp thiết để tăng trưởng kinh tế Chính vì vậy xây dựng hạ tầng kĩ thuật là mộttrong những phương tiện để đạt được tăng trưởng kinh tế Khi nền kinh tế càng tăngtrưởng và phát triển mạnh thì yêu cầu về cơ sở hạ tầng kĩ thuật ngày càng cao thìyêu cầu đăt ra đối với hạ tầng, cơ sở, vật chất kĩ thuật đó là sự hoàn thiện hơn cả vềlượng và chất Tăng trưởng kinh tế đi cung với nó là tiến bộ về khoa học kĩ thuậtnhững tiến bộ này quay trở lại tác động vào cơ sở vật chất kĩ thuật Điều này gópphần làm hiện đại hơn cơ sở hạ tâng kĩ thuật phù hợp với sự phát triển của nền kinh

tế đang thay đổi từng ngày

2.4 Tăng trưởng kinh tế góp phần nâng cao năng lực khoa học kĩ thuật và công nghệ.

Trong mô hình tiến bộ công nghệ của Solow: Tiến bộ công nghệ ở đâyđược hiểu là bất kỳ biện pháp nào cho phép tạo ra nhiều sản lượng hơn Nên có thểthấy ở đây phát triển sẽ làm cho khoa học phát triển Solow cũng đã chỉ ra sự tiến

bộ về khoa học kĩ thuật là một trong những điều kiện quan trọng nhất để tạo ralượng sản phẩm nhiều hơn, chất lượng tốt hơn làm cho cuộc sống con người ngàymột sung túc đầy đủ hơn Đó chính là một trong những điều kiện để phát triển kinh

tế Chính vậy tăng cường phát triển khoa học kĩ thuật công nghệ là một trong nhữngvấn đề sống còn trong phát triển kinh tế Nền kinh tế phát triển tạo điều kiện chođầu tư phát triển khoa học kĩ thuật công nghệ ngày một nhiều hơn Phát triển kinh tếcàng cao yêu cầu đối với chất lượng và mẫu mã sản phẩm cũng khắt khe hơn Điều

đó bắt buộc các doanh nghiệp nghiên cứu cải tiên công nghệ để không bị các doanhnghiệp khác đẩy ra khỏi thị trường Cùng với việc phát triển kinh tế đó là trình độdân trí ngày một nâng cao Tạo điều kiện tiếp thu và phát triển khoa học kĩ thuậtmới cho sản xuất và sinh hoạt

Chính phủ sẽ có các chính sách nhằm khuyến khích tiến bộ công nghệ nhưbao gồm miễn thuế cho hoạt động nghiên cứu và triển khai, có thể chính phủ sẽ trựctiếp cung cấp vốn cho các nghiên cứu cơ bản Ngoài ra còn hoàn thiện cơ chế bảo

vệ bản quyền sáng chế đối với các phát minh Không chỉ vậy kinh tế ngày càng pháttriển cũng làm gia tăng quy mô ngân sách nhà nước Qua đó cũng làm cho nguồnvốn đầu tư cho khoa học kĩ thuật tư ngân sách nhà nước ngày một tăng Đây chính

là tiền đề để nâng cao năng lực khoa học kĩ thuật và công nghệ

Trang 19

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG MỐI QUAN HỆ QUA LẠI GIỮA ĐẦU TƯ VỚI TĂNG TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ Ở VIỆT NAM

I ĐẦU TƯ TÁC ĐỘNG ĐẾN TĂNG TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ 1.Đầu tư tác động tăng trưởng kinh tế.

1.1 Đầu tư tác động đến tổng cung nền kinh tế

1.1.1 Đầu tư vào vốn

a Nguồn vốn đầu tư trong nước

Vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước

Năm 1995 vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước là 13575 tỷ đồng, năm 2000 đã là

39006 tỷ đồng tức là gấp gần 2,9 lần năm 1995, năm 2009 là 153820 tỷ đồng gấp3.94 lần năm 2000 Điều này đã cho thấy vốn đầu tư từ Ngân sách Nhà nước liêntục tăng nhanh qua các năm

Thực hiện vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước năm 2009 ước tính đạt 153,8nghìn tỷ đồng, vượt 106,8% kế hoạch năm, trong đó vốn trung ương đạt 63,9 nghìn

tỷ đồng; vốn địa phương đạt 89,8 nghìn tỷ đồng

Năm 2009 vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước của Bộ Nông nghiệp và Phát triểnNông thôn thực hiện được 3715,9 tỷ đồng, bằng 125,8% kế hoạch năm; Bộ Côngthương 252,2 tỷ đồng, bằng 106%; Bộ Y tế 1065,1 tỷ đồng, bằng 105,3%; Bộ Vănhoá, Thể Thao và Du lịch 541,1 tỷ đồng, bằng 100,5%; Bộ Giáo dục và Đào tạo787,2 tỷ đồng, bằng 102,5%; Bộ Giao thông Vận tải 10924,6 tỷ đồng, bằng 113,9%;

Bộ Xây dựng 828,5 tỷ đồng, bằng 91,9%

Vốn đầu tư từ doanh nghiệp

Nhìn chung vốn đầu tư từ doanh nghiệp nhà nước đã tăng mạnh trong thờigian vừa qua Từ năm 1996-2000, con số này là 25391,8 tỷ đồng, đến giai đoạn2001- 2005, vốn đầu tư của doanh nghiệp nhà nước rót vào nền kinh tế là 52205,25

Vốn đầu tư từ tiết kiệm dân cư

Trong giai đoạn từ năm 1990 đến 2005, tiền gửi tiết kiệm của dân cư vào ngân hàngbình quân đạt mức cao Lý do chính ở đây là với lãi suất hấp dẫn của các ngân hàng,người dân thấy được lợi suất của họ sẽ tăng thêm nhiều nếu gửi tiền tiết kiệm của

Trang 20

mình vào các ngân hàng.Trong giai đoạn này các ngân hàng thương mại phát triểnkhá nhanh với những mức lãi suất huy động tiết kiệm cao.

Tuy nhiên trong những năm gần đây, khi thị trường chứng khoán của ViệtNam bắt đầu sôi động khi 2 sàn giao dịch chứng khoán được xây dựng và đưa vào

sử dụng tại T.P Hồ Chí Minh và Hà Nội, tiền tiết kiệm của dân chúng đổ vào kênhvốn này đã làm giảm đi tỷ lệ tiền gửi ngân hàng

Báo cáo mới đây của Bộ Kế hoạch - Đầu tư cho biết, trong 3 tháng đầu nămnăm 2008, điểm đáng chú ý nhất trên lĩnh vực huy động vốn và cho vay của nềnkinh tế là tiền gửi VND của dân cư tăng rất thấp, chỉ tăng 6,6% so với mức tăng13,2% của cùng kỳ năm 2007 Theo Bộ Kế hoạch - Đầu tư, nguyên nhân của tìnhtrạng này do thời gian qua nhiều doanh nghiệp đã phát hành cổ phiếu, trái phiếu đểtăng vốn và rất nhiều người dân đã dùng tiền đầu tư vào chứng khoán thay vì gửivào ngân hàng

Tuy nhiên, việc giảm tiền gửi vào dân cư không ảnh hưởng nhiều đến tổnghuy động vốn của các ngân hàng Đơn giản là khi các tổ chức phát hành cổ phiếu vàtrái phiếu thu hút lượng vốn lớn lại chuyển vào ngân hàng để gửi Như vậy cũng cónghĩa là kênh dẫn vốn cho đầu tư qua ngân hàng vẫn vận hành tốt trong thời gianvừa qua

b Nguồn vốn đầu tư từ nước ngoài

Nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức ODA (Official Development Assistance)

Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho biết, tổng giá trị vốn ODA giải ngân tính đến20/11/2009 ước đạt 1, 990 tỷ USD, so với kế hoạch dự kiến cả năm 2009 vượtkhoảng 5% Điều này là nhờ sự điều hành sát sao của Chính phủ; nỗ lực to lớn củacác ngành, các cấp và các nhà tài trợ trong việc đẩy nhanh tiến độ thực hiện và giảingân nguồn vốn ODA theo chủ trương kích cầu đầu tư của Chính phủ Cùng với đó

là sự phối hợp thực hiện nhiều sáng kiến nhằm hài hòa quy trình thủ tục và nâng caohiệu quả viện trợ theo tinh thần của Tuyên bố Paris, Cam kết Hà Nội và Chươngtrình hành động Accra

Các dự án ODA thời gian này tập trung chủ yếu ở vùng Đồng bằng sông Hồng vớitrên 22%, tiếp đến là Đông Nam Bộ gần 21%, Bắc Trung Bộ khoảng 16% và Đồngbằng Cửu Long trên 13%

Nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI (Foreign Direct Investment)

Tính đến 22/10/09, cả nước có 10.805 dự án còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký174,7 tỷ USD Các nhà đầu tư nước ngoài đã đầu tư vào 18/21 ngành trong hệ thốngphân ngành kinh tế quốc dân, trong đó lĩnh vực công nghiệp chế biến và chế tạo vẫn

Trang 21

là lĩnh vực thu hút Đầu tư nước ngoài lớn nhất chiếm 62,1% số dự án và 50,6% vốnđăng ký tại Việt Nam Đầu tư vào kinh doanh bất động sản đang gia tăng mạnh mẽtrong 2 năm trở lại đây với việc ban hành Luật Kinh doanh bất động sản và đổi mớichính sách đất đai, đưa lĩnh vực kinh doanh bất động sản trở thành là lĩnh vực đứngthứ 2 trong thu hút ĐTNN với 312 dự án, tổng vốn đăng ký 38,4 tỷ USD, chiếm2,9% số dự án và 22% tổng vốn đăng ký tại Việt Nam Tiếp theo là các lĩnh vựcdịch vụ lưu trú và ăn uống, xây dựng, thông tin và truyền thông, nghệ thuật và giảitrí

Đến nay, 89 quốc gia và vùng lãnh thổ đã có đầu tư tại Việt Nam, trong đó ĐàiLoan là nhà đầu tư số 1 với 2.010 dự án còn hiệu lực, tổng vốn đăng ký 21,28 tỷUSD Hàn Quốc đứng thứ 2 với 2.283 dự án còn hiệu lực, tổng vốn đăng ký 20,4 tỷUSD Tiếp theo là nhà đầu tư Malaysia, Nhật Bản và Singapore

Nguồn vốn đầu tư gián tiếp FPI (Foreign Portfolio Investment)

Có thể thấy, FPI là một khái niệm khá mới mẻ, nhất là ở nước ta, vì chúng xuất hiện

và phát triển gắn liền với sự hình thành và phát triển của thị trường chứng khoánquốc gia và quốc tế

Trên thực tế, mặc dù FPI dùng để chỉ các hình thức đầu tư không phải là đầu tưtrực tiếp nước ngoài truyền thống (tức đầu tư để lập doanh nghiệp 100% vốn nướcngoài, lập liên doanh hoặc công ty cổ phần và kinh doanh theo hợp đồng hợp táckinh doanh…), song sự phân biệt này không phải lúc nào cũng rạch ròi và thốngnhất

Thực tiễn 3 giai đoạn thu hút vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài ở nước ta thờigian qua cho thấy sự tác động vừa đề cập ở trên:

-Giai đoạn 1 (1988 – 1997): là thời kỳ mở đầu cho dòng vốn FPI vào Việt Namtheo xu hướng đổi mới và mở cửa thu hút đầu tư nước ngoài Trong giai đoạn này,

có 7 Quỹ đầu tư nước ngoài được thành lập với tổng số vốn được huy động khoảng

400 triệu USD

-Giai đoạn 2 (1998 – 2002): là thời kỳ khủng hoảng và hậu khủng hoảng tài chính

- tiền tệ châu Á khiến các dòng vốn đổ vào châu Á bị chững lại và Việt Nam cũngchịu ảnh hưởng chung của xu hướng này với việc giảm sút và thu hẹp đáng kể quy

mô thu hút của cả FDI và FPI Trong số 7 Quỹ đầu tư kể trên có 5 Quỹ rút khỏi ViệtNam, 1 Quỹ thu hẹp trên 90% quy mô quỹ, chỉ còn duy nhất Quỹ VietnamEnterprise Investment Fund được thành lập tháng 7-1995 với quy mô vốn 35 triệuUSD (nhỏ nhất trong số 7 Quỹ) là còn hoạt động cho đến nay

- Giai đoạn 3 (từ 2003 - nay): là thời kỳ phục hồi trở lại của dòng vốn FPI vàoViệt Nam cùng với xu hướng tăng cường cải thiện môi trường đầu tư, phát triển các

Trang 22

định chế thị trường tài chính, sàn giao dịch chứng khoán hoạt động sôi nổi, đặc biệt

là chủ trương và quyết tâm của Chính phủ đẩy mạnh cổ phần hóa và nới lỏng tỷ lệnắm giữ cổ phần của các nhà đầu tư nước ngoài trong các doanh nghiệp nhà nướclớn được cổ phần hóa (từ 30% lên 49%)… Tổng cộng đến nay, FPI mà Việt Namthu hút được bằng khoảng 2-3% so với tổng vốn FDI đã thu hút được trong cùngthời kỳ (so với tỷ lệ trung bình 30-40% của các nước khu vực thì đây là tỷ lệ khiêmtốn…)

Các nguồn vốn khác từ nước ngoài

Bên cạnh nguồn thu từ FDI, xuất khẩu và viện trợ, nguồn kiều hối cũng là mộtnguồn lực quan trọng không kém Việt kiều là một bộ phận không tách rời của dântộc Nguồn lực của Cộng đồng người Việt ở nước ngoài còn rất to lớn Điều đó thểhiện rất rõ qua số lượng kiều hối được gửi về hàng năm và số doanh nghiệp do ViệtKiều đầu tư về nước Từ 1991-2004, kiều hối tăng bình quân trên 10%/năm Năm

1991, kiều hối chuyển về mới đạt 31 triệu đô-la, đến năm 1995 đạt gần 300 triệu,năm 1999 đạt hơn 1 tỷ đô-la, năm 2003 đã lên tới 2,6 tỷ và năm 2004 ước đạt 3 tỷđô-la Dự đoán với đà tăng trưởng này, đến năm 2010 lượng kiều hối sẽ là gần 5 tỷ.Các doanh nghiệp Việt Kiều có quy mô vừa và nhỏ hoạt động trong nhiều lĩnh vực.Cộng đồng người Việt có cống hiến cho đất nước đang được dành nhiều ưu đãi vàđược khuyến khích mở rộng kinh doanh tại Việt Nam Đó là định hướng nhất quán

và đang được triển khai thực hiện từ trung ương đến địa phương

Cùng với nguồn thu từ kiều hối, thu từ các dịch vụ du lịch, vận tải vãnglai cũng tăng nhanh, và là nguồn vốn chảy trực tiếp vào các doanh nghiệp kinhdoanh dịch vụ Thông qua các khoản thuế, các doanh nghiệp này trực tiếp đóng gópvào ngân sách nhà nước

Bên cạnh những thành tựu về hiệu quả tác động của vốn đến tăng trưởng kinh tếViệt Nam thì thực tế nền kinh tế Việt Nam sử dụng chưa thực sự có hiệu quả nguồn

vốn Điều này thể hiện rất rõ thông qua hệ số ICOR của Việt Nam.Việc sử dụng

đồng vốn đầu tư của chúng ta rất kém hiệu quả đã được thừa nhận bởi các chuyêngia kinh tế trong và ngoài nước cũng như thừa nhận chính thức của Chính phủ ViệtNam Dù tính theo cách nào đi chăng nữa thì một sự thật hiển nhiên là hiệu quảđồng vốn của chúng ta bỏ ra là không cao, vào loại thấp nhất so với các nước trongkhu vực

Nếu tính trong thời kỳ 1991-2007 chỉ số ICOR của VN là 4,86 lần so với 4 lần củaTrung Quốc thời kỳ 2001-2006, 4,1 lần của Thái Lan (1981-1995), 4,6 lần củaMalaysia (1981-1995), 3,7 lần của Indonesia (1981-1995), 3 lần của Hàn Quốc

Trang 23

(1961-1980) và Đài Loan 2,7 lần (1961-1980) Qua đó cho thấy hiệu quả đầu tư củachúng ta là rất thấp.

Nếu tính hiệu quả một đồng vốn bỏ ra thu lại bao nhiêu thì càng thấy rõ năng suấtlao động của Việt Nam không những không tăng lên mà còn giảm đi Điều đó cũngnói nên rằng các yếu tố khai thác để phát triển theo chiều rộng đang cạn kiệt dần.Nếu không tăng cường khai thác các yếu tố chiều sâu như áp dụng các công nghệmới, lao động chất xám… thì hiệu quả vốn đầu tư khó mà tăng lên được

Hệ số ICOR Việt Nam qua các giai đoạn

Qua bảng chỉ số ICOR chúng ta thấy rằng hiệu quả đầu tư của chúng ta càng ngàycàng thấp khi chỉ số ICOR ngày một gia tăng

1.1.2 Đầu tư vào nguồn nhân lực

Đầu tư vào dân số-kế hoạch hóa, y tế, giáo dục-đào tạo.

Xác định rõ nguồn nhân lực tác động mạnh mẽ đến tăng trưởng phát triển kinh tếnên đầu tư vào phát triển nguồn nhân lực luôn được nhà Nước ta quan tâm đúngmức, điều đó được thể hiện rất rõ trong khoản chi cho dân số kế hoạch hóa, y tế,giáo dục- đào tạo

ICOR VN

Trang 24

Chi ngân sách nhà nước cho đầu tư phát triển nguồn nhân lực

Đầu tư tạo việc làm cho lao động

Nhà nước tạo việc làm cho lao động thông qua các chương trình mục tiêu quốcgia về việc làm Trong những năm qua đã có sự lồng ghép hiệu quả với chươngtrình phát triển kinh tế xã hội khác, thực hiện các dự án về tín dụng việc làm với lãisuất ưu đãi từ Quỹ quốc gia về việc làm, góp phần thúc đẩy chuyển dich cơ cấu laođộng, gắn dạy nghề với tạo việc làm, thúc đẩy thị trường lao động phát triển, tạo và

tự tạo việc làm cho từ 300-350 nghìn lao động trên năm Quỹ quốc gia giải quyếtviệc làm có mục tiêu hỗ trợ những người lao động tự tạo việc làm, tính đến năm

2007 tổng nguồn vốn cho vay lên trên 2.900 tỷ, tạo ra 25-30% việc làm được giảiquyết mỗi năm Tuy nhiên ngân sách đầu tư cho phát triển tạo việc làm còn quá ít sovới nhu cầu hàng năm, bình quân mỗi năm chưa tới 300 tỷ, chỉ đáp ứng được 35-40% nhu cầu vay vốn tạo việc làm cho nhân dân Suất đầu tư cho mỗi chỗ làm việctrong thực hiện cấc dự án cho vay theo chính sách hỗ trợ việc làm cho người nghèothấp nên chất lượng của giải quyết việc làm theo các dự án đạt được chưa cao

Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách tạo thuận lợi phát triển các hoạt độnggiao dịch trên thị trường Đến nay đã có 150 trung tâm giới thiệu việc làm và hàngnghìn doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực tư vấn, giới thiệu việc làm cho hàngtriệu lượt người Các hội chợ việc làm, tháng tạo việc làm, sàn giao dịch việc làmđược tổ chức thường xuyên, đặc biệt là những trang thông tin chuyên về việc làm

như www.vietnamworks.com.vn đã tích cực gắn kết người lao động và người sử

dụng lao động

Xuất khẩu lao động

Để giải quyết sức ép việc làm trong nước, phát triển thu nhập cho người laođộng, nhà nước đã tiến hành các chính sách nhằm khuyến khích xuất khẩu lao động

ra nước ngoài Ở một số địa phương đã phối hợp cùng các ngân hàng tiến hành chongười lao động đi vay tiền để xuất khẩu Ví dụ người lao động sẽ được vay 20 triệu

để đi Malaysia với thu nhập trung bình 4 triệu/tháng

Theo thống kê, hiện nay, tổng số lao động Việt Nam đang làm việc ở nướcngoài nhiều nhất là Malaysia là trên 100 nghìn người, trong đó một số nghề thu

Trang 25

nhập từ 5– 7 triệu đồng/tháng Thứ hai là Đài Loan có trên 90 nghìn người có thunhập lên tới 300 – 500 USD/tháng và sau đó là Hàn Quốc có trên 30 nghìn, thunhập bình quân của lao động khoảng 900 - 1000 USD/tháng

Đầu tư cải thiện môi trường lao động

Tiền lương

Việt Nam quy định phân biệt mức lương tối thiểu ở doanh nghiệp trong nước vàdoanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Đây là sự ưu đãi của chính phủ dành chocác doanh nghiệp trong nước khi sức cạnh tranh của chúng còn yếu, tuy nhiên 2mức lương tối thiểu này sẽ dần được tăng lên theo hướng mức tăng ở doanh nghiệptrong nước tăng nhanh hơn mức tăng ở doanh nghiệp FDI Dự kiến đến năm 2012, 2mức lương này sẽ được thống nhất theo cam kết của Việt Nam gia nhập WTO

Bảng: Mức lương tối thiểu chung áp dụng từ 1/1/2008

Hiện nay, thị trường lao động trong khu vực nhà nước có một số vấn đề cần giảiquyết: sự bảo hộ về cạnh tranh, sự thiếu ràng buộc về ngân sách, và việc đảm bảoviệc làm vĩnh viễn đã dẫn đến tình trạng tuyển quá nhiều lao động so với mức cầnthiết, nhiều doanh nghiệp quốc doanh trả lương cho công nhân rất hậu và thườngcao hơn nhiều so với hiệu quả công việc của họ Tiền lương có xu hướng bình quânhơn: trả lương quá cao cho lao động không có trình độ chuyên môn cao, đối với laođộng có trình độ chuyên môn cao lại trả lương thấp hơn khu vực ngoài quốc doanh.Điều này dẫn đến hiện tượng “chảy máu chất xám” đối với các lao động có trình độcao từ khu vực nhà nước sang khu vực tư nhân Bên cạnh đó, các hợp đồng lao

Trang 26

động quá chặt chẽ không những làm cho chi phí kinh doanh tăng thêm mà còn giớihạn quyền của người chủ sử dụng lao động trong quá trình thuê, sử dụng, sa thải và

400 triệu

Việc mua bảo hiểm cho nguồn nhân lực của doanh nghiệp giúp ổn định đượctâm lý của người lao động, bảo đảm nguồn tài chính vững mạnh của doanh nghiệpkhi có bất kỳ biến cố nào trong quá trình hoạt động kinh doanh Những vụ sập hầm

ở các mỏ than, những vụ tai nạn lao động ở các công trình xây dựng và vụ sậpnhịp dẫn cầu Cần Thơ ngày 26/09/2007, cho thấy vấn đề bảo hiểm con người hiệnvẫn chưa thực sự được nhiều doanh nghiệp Việt Nam chú trọng

Mặc dù có quỹ hỗ trợ cán bộ công đoàn nhưng thực tế cho thấy chủ doanhnghiệp mới là người trả lương chính cho cán bộ công đoàn nên CBCĐ không dámđứng ra lãnh đạo, tổ chức đòi quyền lợi cho công nhân Đã có nhiều trường hợp,chủ DN lại chấm dứt HĐLĐ với CBCĐ vào thời điểm hết HĐLĐ, chứ không phảingay sau thời điểm diễn ra đình công

Điều kiện làm việc

Nhà nước đã ban hành các tiêu chuẩn về điều kiện lao động của công nhân ápdụng cho mọi doanh nghiệp như điều kiện vê vệ sinh, tiêu chuẩn không khí nhưng

Trang 27

qua kết quả kiểm tra, giám sát hàng năm của Trung tâm SKLĐ-MT ở các khu côngnghiệp ở Bình Dương cho thấy, điều kiện làm việc ở các doanh nghiệp (DN) hiệnnay là đáng lo ngại, đặc biệt là đối với các DN vừa và nhỏ, DN tư nhân nằm ngoàicác khu công nghiệp (KCN) Khoảng 50 - 60% DN không có cơ sở riêng, họ phảithuê hoặc sử dụng ngay nhà mình để làm cơ sở sản xuất, trong khi sản xuất không

ổn định, ngại đầu tư sửa chữa nâng cấp Bên cạnh đó, tình hình vệ sinh kém chiếm

tỷ lệ rất cao - trên 30%, vệ sinh trung bình khoảng 25% và khoảng 70% DN ngoàicác KCN không có hệ thống xử lý nước thải, hệ thống ống khói không bảo đảm, cáccông trình vệ sinh, công trình phúc lợi không bảo đảm yêu cầu; điều kiện vệ sinhnhà xưởng, bảo hộ lao động không bảo đảm; thiếu cán bộ theo dõi sức khỏe và antoàn lao động (nếu DN nào có thì kiến thức cũng còn hạn chế nhiều)

1.1 3 Đầu tư vào tài nguyên thiên nhiên

Việc khai thác triệt để tài nguyên ở Việt Nam những năm qua thể hiện chủtrương lấy tài nguyên thiên nhiên làm chỗ dựa tối ưu trong quá trình "đổi mới"nhằm tăng trưởng kinh tế Nhà nước đã có những chính sách cũng như biện pháp khaithác tài nguyên thiên nhiên một cách hợp lý và đồng bộ nhằm khai thác có hiệu quả nguồntài nguyên đất, năng lượng, khoáng sản… Nhiều mỏ tài nguyên khoáng sản được điều tra,khảo sát và tiến hành đầu tư vốn để khai thác có định hướng, hiệu quả như dự án khai thác

mỏ sắt Thạch Khê (Hà Tĩnh), dự án khai thác bô-xít ở Tây Nguyên Trong lĩnh vực nănglượng, hiện nay đã và đang có rất nhiều dự án đầu tư xây dựng các nhà máy lọc dầutại Việt Nam, tiêu biểu là nhà máy lọc dầu Dung Quất tại Quảng Ngãi, nhà máy lọcdầu Nghi Sơn tại Thanh Hóa, nhà máy lọc dầu Vũng Rô tại Phú Yên nhằm tận dụngkhai thác hợp lý tài nguyên năng lượng trong nước, không phụ thuộc quá nhiều đếnnền kinh tế thế giới khi có khủng hoảng Nhà nước đã có những chính sách hợp lý,các chế tài hành chính để quản lý việc khai thác và sử dụng hợp lý và nguồn tàinguyên Các nguồn tài nguyên đất đai, rừng, nước vẫn được nhà nước quan tâmtheo dõi đúng mực Nhiều doanh nghiệp đã tận dụng, đổi mới công nghệ để khai thác đạthiệu quả cao mà không khai thác cạn kiệt nguồn tài nguyên không thể tái chế

Tuy nhiên bên cạnh đó việc khai thác bừa bãi, khai thác chui, không được sự chophép của nhà nước vẫn xảy ra thường xuyên như tình trạng khai thác gỗ, than… Mặt kháchiện tượng chưa xem trọng nguồn tài nguyên thiên nhiên, chưa gắn liền với việc khai thác vàcải tạo, phục hồi làm nguồn tài nguyên ngày càng cạn kiệt Đặc biệt vấn đề ô nhiếm môitrường do hậu quả của việc khai thác tài nguyên thiên nhiên bất hợp lý luôn là vấn đề đượcnhắc nhở nhiều trong thời gian gần đây như các dự án khai thác titan ở Bình Định, dự ánkhai thác bô-xít ở Tây Nguyên…

Trang 28

Từ những thực trạng nêu trên cần đưa ra các chính sách cũng như giải pháp để đầu tưvào khai thác tài nguyên thiên nhiên ở Việt Nam đạt hiệu quả cao nhất

1.1.4 Đầu tư vào khoa học công nghệ

- Thành tựu

Các kết quả khảo sát cho thấy, so với 4 – 5 năm trước đây, trình độ công nghệ vàđổi mới công nghệ đã có chuyển biến tích cực Một lượng vốn đầu tư không nhỏ đãđược rót vào việc nhập khẩu cũng như nghiên cứu phát triển khoa học công nghệtrong thời gian qua

Hàng năm mức đầu tư KH-CN cho nông nghiệp tăng từ 10-15% Viện Khoa họcnông nghiệp Việt Nam (VAAS) đã triển khai thực hiện một khối lượng đề tài KH-

CN khá lớn trong đó có lĩnh vực quan trọng là tạo ra giống cây trồng có năng suất,chất lượng cao công nghệ sinh học (mà trọng tâm là công nghệ chuyển gen) và cấy

mô được ứng dụng ngày một rộng rãi Bên cạnh đó còn có rất nhiều những chươngtrình nghiên cứu, đề tài khoa học được triển khai ở các trường đại học đã đạt đượcnhiều thành tựu đã góp phần đưa nước ta thành nước xuất khẩu gạo hàng đầu thếgiới (chỉ sau Thái Lan), xuât khẩu cà phê thứ 2 thế giới, hạt điều xuất khẩu đứng thứnhất thế giới…

Về mặt công nghiệp, dịch vụ Số lượng các phát minh sáng chế được nghiên cứu vàsản xuất thành công trong nước không ngừng được tăng cao Việt Nam cũng đã làmchủ được một số công nghệ cao chuyên ngành trong các lĩnh vực như điện tử- tinhọc- viễn thông, thăm dò, khai thác dầu khí, công nghiệp đóng tầu… Trong lĩnh vựcdầu khí, hiện nay đã và đang có rất nhiều dự án đầu tư xây dựng các nhà máy lọcdầu tại Việt Nam, tiêu biểu là nhà máy lọc dầu Dung Quất tại Quảng Ngãi, nhà máylọc dầu Nghi Sơn tại Thanh Hóa, nhà máy lọc dầu Vũng Rô tại Phú Yên Đặc biệt,nhờ việc làm chủ công nghệ tiên tiến mà ngành đóng tàu nước ta được xếp vào top

5 cường quốc đóng tàu trên thế giới

Theo báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư: đã có trên 194 KCN với diện tích sửdụng tự nhiên trên 46.000 ha, đất công nghiệp chiếm khoảng 65% (trên 30.000 ha)

đã thu hút 3325 dự án nước ngoài với tổng số vốn đầu tư trên 39 tỷ USD Từ sựhình thành các KCN, nhiều mô hình mới đang được hình thành gắn kết các KCNvới khu đô thị và khu dịch vụ (như mô hình khu liên hợp đô thị công nghiệp dịch vụBình Dương); 13 khu kinh tế (gọi tắt là KKT) đặc thù đã và đang được hình thànhViệc hình thành các KKT hướng tới hoàn thiện hơn mô hình KCN; khai thác hiệuquả tài nguyên và tiềm năng đặc thù của từng địa phương và vùng lãnh thổ

Những thành quả trong nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ không chỉ

có ý nghĩa về mặt khoa học mà đã được chuyển giao và ứng dụng vào thực tế sản

Trang 29

xuất nên hiệu quả sản xuất cùng với uy tín chất lượng sản phẩm đã được nâng lênđem lại hiệu quả đáng kể về kinh tế Qua đó ta có thể thấy, đi cùng sự gia tăngmạnh mẽ đầu tư vào nền kinh tế Việt Nam là sự phát triển vũ bão của năng lực côngnghệ quốc gia.

- Hạn chế :

Hoạt động nghiên cứu và ứng dụng KH-CN ở nước ta còn chậm, mức đầu tư thấp,các nhà khoa học chưa được quan tâm, hỗ trợ kịp thời Việt Nam đầu tư khoảng0,6% GDP cho KHCN Trong khi đó, tỷ lệ đầu tư cho R&D của các nước EU là1,95% GDP, Nhật Bản là 3,15% GDP, Trung Quốc là 1,31% GDP, Hoa Kì là 2,595GDP, Hàn Quốc là gần 5%GDP

Nguồn vốn đầu tư còn bị sử dụng lãng phí, chưa đem lại hiệu quả , phân bổ dàntrải, không có trọng tâm Lãng phí trong việc mua sắm trang thiết bị đầu tư, trongviệc chi trả cho các hoạt đọng nghiên cứu không có tính ứng dụng cao Hàng năm,Nhà nước chi ra hàng nghìn tỷ đồng cho KH-CN nhưng kết quả thu được là không

rõ ràng, sản phẩm KH-CN của nứớc ta trong nhiều năm vừa qua không định lượngđược, chất lượng kém, không có chỗ đứng trên thị trường thế giới

Mạng lưới cơ quan nghiên cứu và triển khai của nước ta còn nhiều bất hợp lý,hoạt động khép kín, rời rạc, thiếu liên kết và chưa được đầu tư đủ mạnh để có thểtạo ra thế mạnh và hiệu quả hợp tác Chính sách của nhà nước chưa thực sự thúcđẩy cho đầu tư đổi mới công nghệ

Hạ tầng cơ sở KH&CN của nước ta còn rất yếu kém Chất lượng các kết quảnghiên cứu nói chung chưa cao Nhiều đề tài và kết quả nghiên cứu còn chưa đápứng đầy đủ những chuẩn mực khoa học

Đầu tư đổi mới cho KHCN ở các doanh nghiệp tại nước ta còn thấp.hiện naycác doanh nghiệp việt nam đang sử dụng công nghệ tụt hậu so với mức trung bìnhcủa thế giới 2-3 thế hệ, tuy nhiên vấn đề này chưa được đầu tư giải quyết hợp lí.Theo kết quả khảo sát tại 1200 doanh nghiệp tại Việt Nam thì chỉ có khoảng 0,1%doanh thu hàng năm của doanh nghiệp được dành cho đổi mới công nghệ Việcnhập khẩu công nghệ hàng năm của các doanh nghiệp Việt Nam cũng chỉ dưới 10%tổng kim ngạch xuất khẩu và chỉ bằng ¼ của các nước phát triển, như Ấn Độ cómức đàu tư cho KHCN là 5% và Hàn Quốc là 10% doanh thu hàng năm Bên cạnh

đó việc đổi mới công nghệ thiết bị ở các doanh nghiệp mới chỉ dừng lại ở việc đimua máy móc thiết bị mới và nắm các thao tác cần thiết để vận hành chúng Phầnlớn các doanh nghiệp đều không có những nghiên cứu chuyên sâu để làm chủ, cảitiến và phát triển công nghệ Việc đổi mới công nghệ thiết bị trong các doanh

Trang 30

nghiệp được tiến hành khá bị động,theo sức ép của thị trường, chưa mang tính tíchcực và chưa mang tầm chiến lược phát triển lâu dài.

Tỷ trọng số DN công nghiệp thuộc nhóm ngành công nghệ cao của Việt Namchỉ bằng 1/5 tổng số doanh nghiệp công nghiệp Tính theo giá trị sản xuất của ngànhchế biến, thì nhóm ngành công nghệ cao của Việt Nam chỉ chiếm 19,9% Phần lớnnhững ngành công nghệ cao chủ yếu là sản xuất lắp ráp, là ngành tuy có giá trị sảnxuất lớn, nhưng lại có giá trị gia tăng nhỏ, như lắp ráp sản phẩm điện tử, lắp ráp ôtô,

xe máy… các DN tư nhân trong lĩnh vực điện tử, viễn thông, công nghệ thông tincòn rất nhỏ và phần lớn sử dụng công nghệ lạc hậu Tỷ trọng DN công nghiệp thuộcnhóm ngành công nghệ cao của Việt Nam thấp, trong khi tỷ trọng nhóm ngành côngnghệ thấp lại rất cao

1.2 Đầu tư tác động đến tổng cầu nền kinh tế

Thực trạng ở Việt Nam, đầu tư tác động đến tổng cầu nền kinh tế thấy rõ kết quảqua hai gói kích cầu đầu tư

Chính phủ Việt Nam đã sử dụng 17.000 tỷ đồng để kích cầu đầu tư, thực hiện thôngqua bù lãi suất khi doanh nghiệp vay vốn lưu động phục vụ cho sản xuất, kinhdoanh Mức bù lãi suất là 4% cho các khoản vay vốn lưu động theo tiêu chí nêu trêntrong năm 2009 Đối tượng được vay gồm các doanh nghiệp thuộc các thành phầnkinh tế Đầu mối cho vay là các ngân hàng thương mại Việt Nam Thời điểm thựchiện bắt đầu ngay từ đầu năm 2009 Thời hạn hỗ trợ lãi suất tối đa không quá 12tháng

Chương trình bù lãi suất này nhằm hỗ trợ doanh nghiệp giảm bớt khó khăn, tiếp cậnđược với nguồn vốn ngân hàng với chi phí hợp lý, tạo động lực cho hệ thống ngânhàng, tổ chức tín dụng mở rộng hoạt động huy động vốn và cung ứng vốn cho nềnkinh tế

Kết quả của gói kích cầu đầu tư thứ nhất đã ngăn chặn suy giảm kinh tế, duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế hợp lý, bền vững:

Về tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước

Năm 2009, tổng sản phẩm trong nước tăng 5,32%, bao gồm: khu vực nông, lâmnghiệp và thủy sản tăng 1,83%; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 5,52%; khuvực dịch vụ tăng 6,63% Tốc độ tăng trưởng kinh tế năm 2009 tuy vẫn thấp hơn tốc

độ tăng 6,18% của năm 2008, nhưng đã vượt mục tiêu tăng 5% của kế hoạch Trongbối cảnh kinh tế thế giới suy thoái, nhiều nền kinh tế tăng trưởng âm mà kinh tếnước ta đạt được tốc độ tăng trưởng dương tương đối cao như trên là một thànhcông lớn, nền kinh tế nước ta đã vượt qua thời kỳ suy giảm tăng trưởng, chứng tỏ

Trang 31

các chính sách, giải pháp ngăn chặn suy giảm kinh tế triển khai trong năm vừa quaphù hợp với tình hình thực tế, đã và đang phát huy hiệu quả tích cực.

Về sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản

Giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản 6 tháng đầu năm 2009 theo giá sosánh 1994 đạt 97,1 nghìn tỷ đồng, tăng 2,76% so với cùng kỳ năm trước, nhưng 6tháng cuối năm đã đạt 122,8 nghìn tỷ đồng, tăng 3,16% so với 6 tháng cuối năm

2008 Giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản năm 2009 theo giá so sánh 1994ước tính tăng 3% so với năm 2008, bao gồm nông nghiệp tăng 2,2%; lâm nghiệptăng 3,8%; thuỷ sản tăng 5,4%

Về sản xuất công nghiệp

Giá trị sản xuất công nghiệp tháng 1/2009 theo giá so sánh 1994 giảm 0,2% so vớicùng kỳ năm 2008; các tháng tiếp theo tuy đạt mức tăng trưởng dương nhưng vớitốc độ thấp (Bình quân 6 tháng đầu năm chỉ tăng 4,8%); nhưng những tháng cuốinăm đã tăng trên dưới 10% Tính chung cả năm 2009, giá trị sản xuất công nghiệpước tính đạt 696,6 nghìn tỷ đồng, tăng 7,6% so với năm 2008, bao gồm khu vựckinh tế Nhà nước tăng 3,7%; khu vực ngoài Nhà nước tăng 9,9%; khu vực có vốnđầu tư nước ngoài tăng 8,1% (dầu mỏ và khí đốt tăng 9,2%, các ngành khác tăng8%)

Về hoạt động dịch vụ

Hoạt động thương mại và dịch vụ sôi động hơn trong những tháng cuối năm do sảnxuất trong nước phục hồi, nhu cầu tiêu dùng tăng lên và giá cả hàng hoá, dịch vụtương đối ổn định Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng theogiá thực tế cả năm ước tính đạt 1197,5 nghìn tỷ đồng, tăng 18,6%; nếu loại trừ yếu

tố giá thì mức tăng đạt 11% so với năm 2008

Trong mức tăng của tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng năm

2009, khu vực kinh tế cá thể tăng 20,3%; kinh tế tư nhân tăng 22,9%; kinh tế Nhànước tăng 1,4%; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tăng 9,5%; kinh tế tập thể tăng18,8% Xét theo ngành kinh doanh thì kinh doanh thương nghiệp tăng 18,6%; kháchsạn, nhà hàng tăng 18,4%; dịch vụ tăng 20,3%; du lịch tăng 1,9%

Từ những kết quả tích cực đã đạt được từ gói kích cầu đầu tư thứ nhất, Chính phủViệt Nam tiếp tục triển khai gói kích cầu thứ 2 về đầu tư, tiêu dùng, ngăn chặn suygiảm kinh tế và đảm bảo an sinh xã hội với giá trị là 8 tỷ USD (tương đương 10%GDP), hướng vào các nguồn vốn trung và dài hạn trong thời gian tối đa 24 tháng.Gói kích cầu thứ hai này sẽ là sự bổ sung hoàn hảo cho gói kích cầu thứ nhất vàhoàn chỉnh hơn chủ trương chống suy giảm kinh tế đang được đề ra

Trang 32

Từ những thực trạng trên ta thấy rõ được tác động của kích cầu đầu tư đến tăngtrưởng kinh tế Kích cầu đầu tư làm gia tăng sản lượng kết hợp với tác động giatăng sản lượng từ các yếu tố đầu tư vốn, lao động và nhân tố năng suất tổng hợp, đãlàm rõ mối quan hệ một chiều đầu tư tác động đến tăng trưởng kinh tế

2 Tác động về mặt chuyển dịch cơ cấu kinh tế

2.1 Đầu tư với chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành

♦ Hiệu quả của việc tăng tỷ trọng đầu tư của ngành trong tăng trưởng kinh tế

Bảng: Hệ số co giãn giữa việc thay đổi cơ cấu đầu tư với thay đổi cơ cấu kinh tế

42.438

41.558

42.462

42.311

42.981

44.313

41.049

Tỷ trọng ĐT ngành

DV

46.926

48.815

49.97

50.228

49.452

48.999

51.852

là năm 2008 với 0.232%

Xét theo cơ cấu 3 ngành kinh tế, tương tự phần trên, tính hệ số của công nghiệp vàdịch vụ theo giai đoạn Đối với ngành công nghiệp, H2(2000-2004)=0.56 H2(2005-2008) = 0.114 H2>0 cho thấy sự gia tăng tỷ trọng của đầu tư đã đóng góp vào tăngtrưởng kinh tế Đối với ngành dịch vụ, H2(2000-2004) = 0.412 H2(2005-2008) = -0.122 <0 Hiệu quả không tương xứng với những gì đã bỏ ra

Trang 33

2.2 Tác động của đầu tư tới dịch cơ cấu vùng, lãnh thổ

Ngoài ra các vùng có tiềm lực khác nhau lại được đầu tư để phát triển những ngànhnghề sản phẩm khác nhau Đầu tư phát triển giúp mỗi vùng có thể phát triển kinh tếbền vững,liên kết với các vùng miền địa phương khác tạo thành một chỉnh thể đồngnhất cùng phát triển

Các vùng kinh tế trọng điểm ngày càng phát huy vai trò là các “cực tăng trưởng” của nền kinh tế: Ba vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, Trung Bộ,

Nam Bộ có vị trí kinh tế - xã hội đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển của cảnước Là vùng lãnh thổ phát triển năng động nhất của cả nước; nơi tập trung cácthành phố lớn như Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng và Hồ Chí Minh với mật độ dân sốđông; nơi tập trung đông khu công nghiệp, các khu chế xuất và các cảng biển, sânbay quan trọng nhất của cả nước

Ba vùng KTTĐ đóng góp ngày càng lớn cho xuất khẩu và thu ngân sách của cả

nước, làm quy mô của nền kinh tế ngày càng lớn Năm 2008, vị trí của ba vùng

KTTĐ so với cả nước đã tăng lên đáng kể: tỷ trọng GDP so với cả nước từ 59,8%năm 2000 lên 64,7% năm 2008; tỷ trọng giá trị gia tăng công nghiệp năm 2008 là77,5%; ba vùng KTTĐ đã đóng góp trên 87% trị giá hàng xuất khẩu và 86% thungân sách của cả nước Thời kỳ 2001-2008, ba vùng KTTĐ đã đóng góp 62,2% chotăng trưởng GDP của cả nước, 69,4% cho tăng trưởng công nghiệp và 64,4% chotăng trưởng khu vực dịch vụ Tăng trưởng bình quân GDP của cả nước đạt khoảng7,75%, trong khi đó ba vùng KTTĐ có tốc độ tăng bình quân 12,9%

Mạng lưới kết cấu hạ tầng đã được tăng cường đáng đáp ứng yêu cầu phát triển,hợp tác của 3 vùng Đặc biệt là mạng lưới bưu chính viễn thông, cung cấp nướcsạch của ba vùng phát triển đáng kể Ba vùng KTTĐ đã thu hút được khối lượng lớn

vốn đầu tư, nhất là đầu tư nước ngoài Năm 2007, ba vùng KTTĐ đã thu hút 352,8

nghìn tỷ đồng, chiếm 48,5% vốn đầu tư xã hội của cả nước Ước vốn đầu tư của ba

Trang 34

vùng trong năm 2008 đạt khoảng 464,8 nghìn tỷ đồng (cả nước đạt khoảng 730,4nghìn tỷ đồng) Thời kỳ 2001-2007, ba vùng KTTĐ đã thu hút được 8713 dự án đầu

tư trực tiếp nước ngoài với tổng số vốn đăng ký đạt 86,5 tỷ USD, chiếm tới 86,9%đầu tư FDI của cả nước Riêng năm 2007, ba vùng KTTĐ đã thu hút được 1389 dự

án (bằng 90% cả nước) với tổng số vốn đăng ký khoảng 12,7 tỷ USD (bằng 80,7%

cả nước) Các dự án đầu tư đến lượt nó giải quyết được phần nào vấn đề việc làmcho những lao động trong vùng, tạo nên những cơ sở vật chất kỹ thuật mới cho nềnkinh tế, từng bước đưa địa phương phát triển Lượng vốn đầu tư cho những tỉnhmiền núi tăng và đóng góp vào GDP của các tỉnh này cũng tăng đáng kể Cơ cấukinh tế vùng đã có sự chuyển dich đáng kể, những vùng miền núi đã giảm gánhnặng của đất nước và góp phần đáng kể vào tổng sản phẩm quốc gia

b.Những tác động tiêu cực

Làm gia tăng khoảng cách giữa các vùng: Tuy nhà nước đã cố gắng dàn trải vốn

đầu tư, có chú trọng đến những vùng khó khăn, vùng miền núi, kém phát triểnnhưng hiệu quả đạt được không hoàn toàn như ý muốn Vốn tuy đã có nhưng chưathật cao để vực dậy được hoàn toàn những khó khăn hiện hữu.Mặc dù những nămqua đã cố gắng điều chỉnh cơ cấu đầu tư giữa các vùng, nhưng tỷ lệ đầu tư của cácvùng miền Núi phía Bắc, Duyên hải Miền Trung, vùng Tây Nguyên vẫn còn ở mứckhiêm tốn Đầu tư cho các công trình liên vùng, liên tỉnh còn kém, bị chia cắt theođịa giới hành chính địa phương

Trong những năm vừa qua, quá trình đô thị hóa diễn ra khá nhanh chóng Dân sốtập trung quá đông ở những vùng kinh tế phát triển, ngược lại quá thưa thớt ở nhữngvùng nông thôn hay miền núi Đô thị hóa là một sự chuyển dịch rất tốt song nếu đôthị hóa tập trung quá nhiều ở một khu vực thì chính nó lại tạo ra quá nhiều sức ép,những vấn đề xã hội nổi cộm Ở những vùng có địa hình tự nhiên không ưu đãi,thưa thớt về nguồn vốn đầu tư, thưa thớt về dân số, thưa thớt nhà máy, công trình…trong khi đó tài nguyên lại sẵn có và không được khai thác sử dụng hiệu quả

Chưa có tính đồng bộ, nhất quán, mối liên kết giữa các địa phương, vùng còn lỏng lẻo, mỗi địa phương đều có chính sách riêng nhưng nhìn tổng thể lại mâu thuẫn, không vì mục tiêu chung: Mỗi địa phương đều có một hướng đi riêng

để phát huy nhưng lợi thế của vùng nhưng phải trong khuôn khổ định hướng pháttriển chung của đất nước Nguồn vốn ngân sách là có hạn vì vậy việc phân bổ chocác vùng sao cho hợp lý là việc khó khăn Không thể phân bổ một cách dàn trải, vàkhông theo định hướng phát triển của mỗi vùng Do đó để có nguồn lực cho đầu tưphát triển mỗi địa phương phải có những chính sách thu hút đầu tư riêng Tuy nhiêntrong những năm gần đây, thiếu sự đồng bộ trong chính sách phát triển ở mỗi địa

Trang 35

phương Địa phương nào cũng muốn phát triển mà không mấy quan tâm xem đầu tưnhư thế nào cho phù hợp với tiềm lực và điều kiện kinh tế xã hội của địa phươngmình

2.3 Tác động tới mặt chuyển dịch cơ cấu theo thành phần kinh tế

Nhìn chung, có thể thấy sau đổi mới cơ cấu đầu tư xét theo thành phần kinh tế củanước ta đã có những chuyển biến đúng hướng theo chủ trương của Đảng và nhànước: khuyến khích tất cả các thành phần kinh tế, động viên mọi nguồn lực thamgia phát triển kinh tế xã hội Tuy nhiên, sự chuyển dịch diễn ra còn chậm, chưatương xứng với tiềm lực và nhu cầu phát triển của đất nước Thông qua cơ cấu vốnđầu tư và cơ cấu GDP đối với mỗi thành phần kinh tế qua từng giai đoạn phát triểncủa nước ta

Bảng:Cơ cấu GDP và vốn đầu tư theo thành phần sở hữu vốn(%)

Cơ cấu GDP theo thành phần Cơ cấu VĐT theo thành phần

Kinh tế có vốn đầu tư nước

từ năm 2000 đến 2005 Các số liệu trên cho thấy hiệu quả vốn đầu tư ở thành phầnkinh tế này là thấp, càng gia tăng đầu tư vào đây thì hiệu quả càng giảm

Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài chiếm vào khoảng 20 -32% trong tổng vốn đầu

tư và vào khoảng 14- 19% GDP Vốn đầu tư nước ngoài đã bổ sung và trở thànhthành phần quan trọng trong tổng mức đầu tư vào nền kinh tế Tác động của nókhông dừng lại ở phần mà nó làm ra, đóng góp vào GDP mà còn tạo mối liên hệ vớicác thành phần kinh tế khác trong quá trình đặt hàng và lan tỏa của hiệu ứng đầu tưkhi kích thích đầu tư ở các thành phần kinh tế khác Tuy nhiên số vốn của thành

Ngày đăng: 03/04/2013, 10:38

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Qua bảng chỉ số ICOR chúng ta thấy rằng hiệu quả đầu tư của chúng ta càng ngày càng thấp khi chỉ số ICOR ngày một gia tăng. - “Mối quan hệ qua lại giữa đầu tư với tăng trưởng và phát triển kinh tế"
ua bảng chỉ số ICOR chúng ta thấy rằng hiệu quả đầu tư của chúng ta càng ngày càng thấp khi chỉ số ICOR ngày một gia tăng (Trang 23)
Bảng: Hệ số co giãn giữa việc thay đổi cơ cấu đầu tư với thay đổi cơ cấu kinhtế Đơn vị: % - “Mối quan hệ qua lại giữa đầu tư với tăng trưởng và phát triển kinh tế"
ng Hệ số co giãn giữa việc thay đổi cơ cấu đầu tư với thay đổi cơ cấu kinhtế Đơn vị: % (Trang 31)
2.3 Tác động tới mặt chuyển dịch cơ cấu theo thành phần kinhtế - “Mối quan hệ qua lại giữa đầu tư với tăng trưởng và phát triển kinh tế"
2.3 Tác động tới mặt chuyển dịch cơ cấu theo thành phần kinhtế (Trang 34)
Bảng: Cơ cấu GDP và vốn đầu tư theo thành phần sở hữu vốn(%) - “Mối quan hệ qua lại giữa đầu tư với tăng trưởng và phát triển kinh tế"
ng Cơ cấu GDP và vốn đầu tư theo thành phần sở hữu vốn(%) (Trang 34)
Bảng: HDI Việt Nam qua các năm - “Mối quan hệ qua lại giữa đầu tư với tăng trưởng và phát triển kinh tế"
ng HDI Việt Nam qua các năm (Trang 36)
Bảng: Đánh giá về môi trường kinh doanh theo năm - “Mối quan hệ qua lại giữa đầu tư với tăng trưởng và phát triển kinh tế"
ng Đánh giá về môi trường kinh doanh theo năm (Trang 42)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w