1. Trang chủ
  2. » Kinh Doanh - Tiếp Thị

ĐẶC ĐIỂM CỦA ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN VÀ SỰ QUÁN TRIỆT CÁC ĐẶC ĐIỂM CỦA ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN TRONG CÔNG TÁC QUẢN LÝ ĐẦU TƯ

57 746 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đặc Điểm Của Đầu Tư Phát Triển Và Sự Quán Triệt Các Đặc Điểm Của Đầu Tư Phát Triển Trong Công Tác Quản Lý Đầu Tư
Tác giả Nhóm 1_Lớp Kinh Tế Đầu Tư
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh Tế Đầu Tư
Thể loại Đề Tài
Định dạng
Số trang 57
Dung lượng 81,33 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các thành quả của hoạt động đầu tư phát triển mà là các công trình xây dựng thường phát huy tác dụng ở ngay tại nơi nó được tạo dựng

Trang 1

Đề tài

ĐẶC ĐIỂM CỦA ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN

VÀ SỰ QUÁN TRIỆT CÁC ĐẶC ĐIỂM CỦA ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN TRONG

CÔNG TÁC QUẢN LÝ ĐẦU TƯ

Mục lụcLời mở đầu 5

Trang 2

Chương I 7

1 Khái luận chung 7

1.1 Khái niệm 7

1.2 Phân loại đầu tư phát triển 8

2 Đặc điểm của đầu tư phát triển và vận dụng trong công tác quản lý 12

2.1 Quy mô tiền vốn, vật tư,lao động cần thiết cho hoạt động đầu tư thường rất lớn 12

2.2 Thời kì đầu tư kéo dài 13

2.3 Thời gian vận hành các kết quả đầu tư kéo dài 15

2.4 Các thành quả của hoạt động đầu tư phát triển mà là các công trình xây dựng thường phát huy tác dụng ở ngay tại nơi nó được tạo dựng 16

2.5 Đầu tư phát triển có độ rủi ro cao 18

Chương II 22

1 Hệ thống quản lý hoạt động đầu tư tại Việt Nam 22

1.1 Hệ thống pháp luật về đầu tư 22

1.2 Quản lý vĩ mô 23

1.3 Quản lý vi mô 26

2 Sự quán triệt các đặc điểm của đầu tư phát triển trong công tác quản lý hoạt động đầu tư 27

2.1 Quy mô tiền vốn, vật tư, lao động cần thiết cho hoạt động đầu tư thường rất lớn 27

Trang 3

2.2 Thời kì đầu tư kéo dài 34

2.3 Thời gian vận hành các kết quả đầu tư kéo dài 36

2.4 Các thành quả của hoạt động đầu tư phát triển mà là các công trình xây dựng thường phát huy tác dụng ở ngay tại nơi nó được tạo dựng 37

2.5 Đầu tư phát triển có độ rủi ro cao 37

Chương III 41

1 Định hướng đầu tư Việt Nam 41

2 Một số giải pháp tăng cường quán triệt đặc điểm của đầu tư phát triển trong công tác quản lý hoạt động đầu tư 43

2.1 Quy mô tiền vốn, vật tư, lao động cần thiết cho hoạt động đầu tư thường rất lớn 43

2.2 Thời kì đầu tư kéo dài 51

2.3 Thời gian vận hành các kết quả đầu tư kéo dài 53

2.4 Các thành quả của hoạt động đầu tư phát triển mà là các công trình xây dựng thường phát huy tác dụng ở ngay tại nơi nó được tạo dựng 53

2.5 Đầu tư phát triển có độ rủi ro cao 54

Kết luận 56

Lời mở đầu

Sau chiến tranh, Việt Nam trong con mắt nhìn nhận của thế giới vẫn chỉ là một quốc gia nghèo, đông dân, cơ sở hạ tầng bị tàn phá nặng nề Trong thời điểm đó, chúng ta

Trang 4

đã phải đối mặt với muôn vàn khó khăn từ kinh tế (mất mát viện trợ tài chính từ khối các nước xã hội chủ nghĩa trước đây, sự yếu kém của nền kinh tế tập trung) cho đến chính trị (bộ máy nhà nước non trẻ) Sau một loạt các chính sách sai lầm đẩy Việt Nam vào các cuộc khủng hoảng trầm trọng thì tới Đại hội Đảng lần thứ VI năm 1986, chính phủ đã chấp thuận chính sách Đổi mới theo đó cải tổ bộ máy nhà nước, và chuyển đổi nền kinh tế theo hướng kinh tế thị trường Từ đó, nền kinh tế Việt Nam dần khởi sắc Từ tình trạng nghèo nàn, lạc hậu, đến nay nước ta đã trở thành một trongnhững quốc gia có tốc độ tăng trưởng vào loại nhanh nhất trong khu vực và trên thế giới, được đánh giá cao và được cả thế giới công nhận về thành tích xoá đói giảm nghèo và phát triển con người

Để có được sự thay đổi bộ mặt đất nước như hiện nay, không thể phủ nhận vai trò của hoạt động đầu tư phát triển và công tác quản lý hoạt động đầu tư Với các chủ trương,

cơ chế, chính sách thông thoáng mở cửa thu hút nguồn lực cả trong và ngoài nước , nguồn vốn đầu tư không còn bó hẹp trong ngân sách nhà nước mà đã được mở rộng rất nhiều và đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của đất nước Tuy nhiên, cũng cần tinh táo nhận định hiện trạng đầu tư hiện nay của Việt Nam: tình trạng tham nhũng không được cải thiện và luôn bị xếp hạng ở mức độ cao của thế giới cộng với các khó khăn về vốn, đào tạo lao động, đất đai, cải cách hành chính, cơ sở hạ tầng gây

ra cho hoạt động đầu tư với hàng chục ngàn thủ tục từ 20 năm trước đang tồn tại và không phù hợp với nền kinh tế thị trường nên với con số cam kết đầu tư trực tiếp của nước ngoài (FDI) cao kỷ lục 61 tỉ USD năm 2008 chưa nói lên được mức độ tin tưởngcủa các nhà đầu tư quốc tế đối với Việt Nam và Việt Nam đang bị các nước trong khu vực bỏ lại khá xa, theo Báo cáo phát triển Việt Nam 2009 của Ngân hàng Thế giới thì Việt Nam đã bị tụt hậu về kinh tế tới 51 năm so với Indonesia, 95 năm so với Thái

Trang 5

tăng trưởng kinh tế thì cần thiết phải có sự đánh giá đúng những thành công và thất bại trong sự quán triệt các đặc điểm của đầu tư phát triển vào công tác quản lý hoạt động đầu tư, từ đó vạch ra phương hướng phát triển kinh tế đất nước trong những nămtới.

Bài viết “Đặc điểm của đầu tư phát triển và sự quán triệt các đặc điểm của đầu tư

phát triển trong công tác quản lý đầu tư” tập trung nghiên cứu những thành tựu và

hạn chế khi áp dụng các đặc điểm này vào Việt Nam, qua đó rút ra bài học kinhnghiệm nhằm tiếp tục quán triệt, nâng cao hiệu quả thực hiện dự án, góp phần thúcđẩy quá trình phát triển đất nước

Nhóm đã hết sức cố gắng nhưng vì thời gian nghiên cứu còn hạn hẹp và kinh nghiệmcũng như kiến thức còn hạn chế nên đề tài không tránh khỏi nhiều sai sót, nhóm thựchiện mong nhận được góp ý của thầy cùng toàn thể các bạn để bài viết được hoànthiện hơn Tập thể nhóm xin chân thành cảm ơn thầy giáo PGS.TS Từ Quang Phương

và thầy giáo TS Phạm Văn Hùng đã giúp nhóm hoàn thành được bài viết này

Chương I

Lý luận chung về đầu tư phát triển Đặc điểm và vận dụng trong công tác quản lý

Trang 6

1 Khái luận chung

1.1 Khái niệm

1.1.1 Đầu tư là sự hy sinh các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các hoạt động nào đó

nhằm đem lại cho nhà đầu tư các kết quả nhất định trong tương lai mà kết quả nàythường phải lớn hơn các chi phí về các nguồn lực đã bỏ ra Nguồn lực bỏ ra có thể làtiền, là tài nguyên thiên nhiên, là tài sản vật chất khác hoặc sức lao động Sự biểu hiệnbằng tiền tất cả các nguồn lực đã bỏ ra trên đây gọi là vốn đầu tư

1.1.2 Đầu tư phát triển là bộ phận cơ bản của đầu tư, là việc chi dùng vốn trong hiện

tại để tiến hành các hoạt động nhằm làm tăng thêm hoặc tạo ra những tài sản vật chất(nhà xưởng thiết bị ) và tài sản trí tuệ (tri thức, kỹ năng ), gia tăng năng lực sảnxuất, tạo thêm việc làm và vì mục tiêu phát triển

*Phân biệt đầu tư phát triển với các loại đầu tư khác

a Đầu tư tài chính: Là loại đầu tư trong đó người có tiền bỏ tiền ra cho vay hoặc

mua các chứng chỉ có giá để hưởng lãi suất định trước (gửi tiết kiệm, mua trái phiếuchính phủ) hoặc lãi suất tuỳ thuộc vào kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh củacông ty phát hành Đầu tư tài chính không tạo ra tài sản mới cho nền kinh tế (nếukhông xét đến quan hệ quốc tế trong lĩnh vực này) mà chỉ làm tăng giá trị tài chínhcủa tổ chức, cá nhân đầu tư

b Đầu tư thương mại: Là loại đầu tư trong đó người có tiền bỏ ra để mua hàng hoá

và sau đó bán với giá cao hơn nhằm thu lợi nhuận cho chênh lệch giá khi mua và khibán Loại đầu tư này cũng không tạo ra tài sản mới cho nền kinh tế (nếu không xét đếnngoại thương), mà chỉ làm tăng tài sản tài chính của người đầu tư trong quá trình mua

đi bán lại, chuyển giao quyền sở hữu hàng hoá giữa người bán với người đầu tư và

Trang 7

người đầu tư với khách hàng của họ Đầu tư thương mại có tác dụng thúc đẩy quátrình lưu thông của cải vật chất do đầu tư phát triển tạo ra, từ đó thúc đẩy đầu tư pháttriển, tăng thu cho ngân sách, tăng tích luỹ vốn cho phát triển sản xuất, kinh doanhdịch vụ nói riêng và nền sản xuất xã hội nói chung.

c Đầu tư phát triển: Xét về bản chất chính là đầu tư tài sản vật chất và sức lao động

trong đó người có tiền bỏ tiền ra để tiến hành các hoạt động nhằm tăng thêm hoặc tạo

ra tài sản mới cho mình đồng thời cho cả nền kinh tế, từ đó làm tăng tiềm lực sản xuấtkinh doanh và mọi hoạt động sản xuất khác, là điều kiện chủ yếu tạo việc làm, nângcao đời sống của mọi người dân trong xã hội Đó chính là việc bỏ tiền ra để xây dựng,sửa chữa nhà cửa và kết cấu hạ tầng, mua sắm trang thiết bị và lắp đặt chúng trên nền

bệ, bồi dưỡng đào tạo nguồn nhân lực, thực hiện các chi phí thường xuyên gắn liềnvới sự hoạt động của các tài sản này nhằm duy trì hoặc tăng thêm tiềm lực hoạt độngcủa các cơ sở đang tồn tại, bổ sung tài sản và tăng thêm tiềm lực của mọi lĩnh vựchoạt động kinh tế - xã hội của đất nước

1.2 Phân loại đầu tư phát triển

1.2.1 Theo bản chất của các đối tượng đầu tư

Hoạt động đầu tư phát triển bao gồm đầu tư cho các đối tượng vật chất (đầu tư tài sản vật chất hoặc tài sản thực như nhà xưởng, máy móc, thiết bị ) và đầu tư cho các đối tượng phi vật chất (đầu tư tài sản trí tuệ và nguồn nhân lực như đào tạo, nghiên cứu khoa học, y tế )

1.2.2 Theo phân cấp quản lý

Đầu tư phát triển được chia thành đầu tư theo các dự án quan trọng quốc gia, dự ánnhóm A, B, C Tùy theo tính chất và quy mô đầu tư của dự án mà phân thành dự án

Trang 8

quan trọng quốc gia, dự án nhóm A, B, C, trong đó dự án quan trọng quốc gia doQuốc hội quyết định, nhóm B và C do Bộ trưởng, Thủ tướng cơ quan ngang bộ, cơquan trực thuộc chính phủ , UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quyết định.

1.2.3 Theo lĩnh vực hoạt động của các kết quả đầu tư

Có thể phân chia các hoạt động đầu tư thành đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh,đầu tư phát triển khoa học kĩ thuật, đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng ( kĩ thuật và xãhội)

1.2.4 Theo đặc điểm hoạt động của các kết quả đầu tư

Các hoạt động đầu tư được phân chia thành:

 Đầu tư cơ bản nhằm tái sản xuất các tài sản cố định

 Đầu tư vận hành nhằm tạo ra các tài sản lưu động cho các cơ sở sản xuất, kinh doanhdịch vụ mới hình thành, tăng thêm tài sản lưu động cho các cơ sở hiện có, duy trì sựhoạt động của cơ sở vật chất – kĩ thuật không thuộc các doanh nghiệp

1.2.5 Theo giai đoạn hoạt động của các kết quả đầu tư trong quá trình tái sản xuất xã hội

Có thể phân hoạt động đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh thành:

 Đầu tư thương mại là hoạt động đầu tư mà thời gian thực hiện đầu tư và hoạt động củacác kết quả đầu tư để thu hồi vốn đầu tư ngắn, vốn vận động nhanh, độ mạo hiểm thấp

do trong thời gian ngắn tính bất định không cao, lại dễ dự đoán và dự đoán dễ đật độchính xác cao

Trang 9

 Đầu tư sản xuất là loại đầu tư dài hạn ( 5, 10, 20 năm hoặc lâu hơn ), vốn đầu tư lớn,thu hồi chậm, thời gian thực hiện đầu tư lâu, độ mạo hiểm cao vì tính kỹ thuật củahoạt động đầu tư phức tạp, phải chịu tác động của nhiều yếu tố bất định trong tươnglai không thể dự đoán hết và dự đoán chính xác được ( về nhu cầu, giá cả đầu vào vàđầu ra, cơ chế chính sách, tốc độ phát triển khoa học kĩ thuật, thiên tai, sự ổn địnhchính trị ) Loại đầu tư này phải được chuẩn bị kỹ, phải cố gắng dự đoán những gì cóliên quan đến kết quả và hiệu quả của hoạt động đầu tư trong tương lai xa, xem xétcác biện pháp xử lý khi các yếu tố bất định xảy ra để đảm bảo thu hồi đủ vốn và có lãikhi hoạt động đầu tư kết thúc

1.2.6 Theo thời gian thực hiện và phát huy tác dụng của các kết quả đầu tư

Có thể phân chia thành:

 Đầu tư dài hạn là việc đầu tư xây dựng các công trình đòi hỏi thời gian đầu tư dài,khối lượng vốn lớn, thời gian thu hồi vốn lâu Đó là các công trình thuộc lĩnh vực sảnxuất, đầu tư phát triển khoa học kĩ thuật, xây dựng cơ sở hạ tầng Đầu tư dài hạnthường chứa đựng những yếu tố khó lường, rủi ro lớn do đó cần có những dự báo dàihạn, khoa học

 Đầu tư ngắn hạn là loại đầu tư tiến hành trong một thời gian ngắn, thường do nhữngchủ đầu tư ít vốn thực hiện, đầu tư vào những hoạt động nhanh chóng thu hồi vốn.Tuy nhiên rủi ro đối với hình thức đầu tư này cũng rất lớn

1.2.7 Theo quan hệ quản lí của chủ đầu tư

Hoạt động đầu tư có thể phân chia thành:

Trang 10

 Đầu tư gián tiếp: là loại đầu tư trong đó người bỏ vốn không trực tiếp tham gia điềuhành quản lí quá trình thực hiện và vận hành các kết quả đầu tư.Người có vốn thôngqua các tổ chức tài chính trung gian để đầu tư phát triển.Đó là việc Chính phủ thôngqua các chương trình tài trọ không hoàn lại hoặc hoàn lại với lãi suất thấp cho Chínhphủ của nước khác vay để phát triển kinh tế xẫ hội, là việc các cá nhân hay các tổchức mua các chứng chỉ có giá như cổ phiếu, trái phiếu để hưởng lợi tức (hay là đầu

tư tài chính).Đầu tư gián tiếp là phương thức huy động vốn cho đầu tư phát triển

 Đầu tư trực tiếp: là hình thức đầu tư trong đó người bỏ vốn trực tiếp tham gia quản lí,điều hành quá trình thực hiện và vận hành kết quả đầu tư.Loại đầu tư này tạo ra nhữngnăng lực sản xuất phục vụ mới (cả về lượng và chất) Đây là loại đầu tư để tái sản xuất

mở rộng, là biện pháp chủ yếu để tăng thêm việc làm cho người lao động, là triệt để

để thực hiện đầu tư tài chính và đầu tư chuyển dịch.Đầu tư trực tiếp được thực hiệnbởi người trong nước và người nước ngoài, được thực hiện ở nước sở tại và cả ở nướcngoài

1.2.8 Theo nguồn vốn trên phạm vi quốc gia

Hoạt động đầu tư được chia thành:

 Đầu tư bằng nguồn vốn trong nước: các hoạt động đầu tư được tài trợ từ nguồn vốntích lũy của ngân sách, của doanh nghiệp, tiền tiết kiệm của dân cư

 Đầu tư bằng nguồn vốn nước ngoài: hoạt động đầu tủ được thực hiện bằng các nguồnvốn đầu tư trực tiếp và gián tiếp nước ngoài

1.2.9 Theo vùng lãnh thổ

Trang 11

Chia thành đầu tư phát triển của các vùng lãnh thổ,các vùng kinh tế trọng điểm, đầu tưphát triển khu vực thành thị và nông thôn Cách phân loại này phản ánh tình hình đầu

tư của từng tỉnh, từng vùng kinh tế và ảnh hưởng của đầu tư đối với tình hình phát triển kinh tế - xã hội ở từng địa phương

2 Đặc điểm của đầu tư phát triển và vận dụng trong công tác quản lý

2.1 Quy mô tiền vốn, vật tư, lao động cần thiết cho hoạt động đầu tư thường rất lớn

2.1.1 Đặc điểm

Vốn đầu tư phát triển là bộ phận cơ bản của vốn nói chung vốn đầu tư phát triển làbiểu hiện bằng tiền toàn bộ những chi phí đã chi ra để tạo ra năng lực sản xuất(tăng thêm tài sản cố định và tài sản lưu động) và các khoản đầu tư phát trỉển khác.Trên phạm vi nền kinh tế, vốn đầu tư phát triển bao gồm: vốn đầu tư xây dựng cơbản, vốn lưu động bổ sung và vốn đầu tư phát triển khác.Trong đó, vốn đầu tư xâydựng cơ bản là quan trọng nhất Đó là những chi phí bằng tiền để xây dựng mới,

mở rộng, xây dựng lại hay là khôi phục năng lực sản xuất của tài sản cố định trongnền kinh tế Quy mô các dự án đầu tư có lớn hay không thể hiện ở nguồn vốn đầutư

2.1.2 Vận dụng

Quy mô vốn đầu tư lớn đòi hỏi phải có giải pháp tạo vốn và huy động vốn hợp lý,xây dựng các chính sách, quy hoạch, kế hoạch đầu tư đúng đắn, quản lý chặt chẽ

Trang 12

tổng vốn đầu tư, bố trí vốn theo tiến độ đầu tư, thực hiện đầu tư trọng tâm trọngđiểm.

Nguồn vốn huy động cho các dự án có thể do ngân sách nhà nước cấp phát, ngânhàng cho vay, vốn góp cổ phần, vốn liên doanh , vốn tự có hoặc vốn huy động từcác nguồn khác Để đảm bảo tiến độ thực hiện đầu tư của dự án, vừa để tránh ứđọng vốn nên các nguồn tài trợ không chỉ xem xét về mặt lượng mà cả về thờiđiểm nhận được tài trợ Các nguồn vốn dự kiến này phải đảm bảo chắc chắn Sựđảm bảo này thể hiện ở tính pháp lý và cơ sở thực tế của các nguồn vốn huy động.Lao động cần sử dụng cho các dự án rất lớn, đặc biệt đối với các dự án trọng điểmquốc gia Do đó, công tác tuyển dụng, đào tạo, sử dụng và đãi ngộ cần tuân thủ một

kế hoạch định trước, sao cho đáp ứng tốt nhất nhu cầu từng loại nhân lực theo tiến

độ đầu tư, đồng thời hạn chế đến mức thấp nhất những ảnh hưởng tiêu cực do vấn

đề “hậu dự án” tạo ra như việc bố trí lại lao động, giải quyết lao động dôi dư…

 Vốn, lao động, vật tư là những tiền đề cho bất kì cho một hoạt động đầu tư pháttriển nào Vì các dự án tiêu tốn một lượng rất lớn các yếu tố trên, do đó người lập dự

án phải tính toán chi tiết cả về mặt chi phí và mặt lợi nhuận để đảm bảo dự án phải cólãi cho nhà đầu tư và đóng góp cho sự phát triển chung của xã hội

2.2 Thời kì đầu tư kéo dài

2.2.1 Đặc điểm

Thời kỳ đầu tư được tính từ khi khởi công thực hiện dự án cho đến khi dự án hoàn thành và đưa vào hoạt động Do quy mô các dự án đầu tư thường rất lớn nên thời gian hoàn thành các dự án thường tốn rất nhiều thời gian, có khi tới hàng chục nămnhư các công trình thuỷ điện, xây dựng cầu đường

Trang 13

Thời gian thực hiện các dự án đầu tư dài kéo theo sự ảnh hưởng đến tiến độnghiệm thu công trình và đưa vào sử dụng, do đó có thể làm giảm hiệu quả đầu tư,thời gian thu hồi vốn chậm.Thời gian đầu tư càng dài thì rủi ro cũng như chi phíđầu tư lại càng lớn (những biến động của thị trường lao động , thị trường vật tư, dolạm phát hay do sự ảnh hưởng biến động kinh tế thế giới làm cho chi phí thực hiệnbiến đổi, thường theo hướng xấu nó làm sai khác các tính toán ban đầu của người lập

dự án) , hơn nữa, nó còn ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp

2.2.2 Vận dụng

Vốn đầu tư lớn, thường nằm khê đọng trong suốt quá trình thực hiện đầu tư Do đó,

để nâng cao hiệu quả vốn đầu tư, cần tiến hành phân kỳ đầu tư, bố trí vốn và cácnguồn lực tập trung hoàn thành dứt điểm từng hạng mục công trình, quản lý chặtchẽ tiến độ đầu tư, khắc phục tình trạng thiếu vốn, nợ đọng vốn đầu tư xây dựng cơbản

Cụ thể, trong giai đoạn thực hiện đầu tư dựa vào giai đoạn chuẩn bị đã được làmchi tiết và rõ ràng, cần tuân thủ đúng lịch trình của dự án Các bước cơ bản : hoàntất các thủ tục để triển khai thực hiện dự án, thiết kế và lập dự toán thi công côngtrình , thi công xây lắp , nghiệm thu và đưa vào vận hành thử Trong giai đoạn nàyvốn nằm ứ đọng ko sinh lời, các công trình máy móc nguyên vật liệu chịu sự tácđộng của tự nhiên dẫn đến hao mòn về mặt vật lý Do đó trong giai đoạn này cầnnhanh chóng thực hiện xong nhưng vẫn phải đmả bảo chất lượng công trình Tiếnhành giải ngân vốn hoàn tất dứt điểm hạng mục công trình

 Thời kì đầu tư kéo dài làm tăng mức độ rủi ro cho các dự án Do đó nhiệm vụ củanhà đầu tư là luôn luôn phải giám sát quá trình thực hiện, nhiệm vụ của nhà thầu là rútngắn nhất thời gian có thể nhưng vẫn đảm bảo được chất lượng công trình.

Trang 14

2.3 Thời gian vận hành các kết quả đầu tư kéo dài

2.3.1 Đặc điểm

Thời gian vận hành các kết quả đầu tư được tính từ khi đưa vào hoạt động cho đếnkhi hết hạn sử dụng và đào thải công trình.Các thành quả của hoạt động đầu tư cóthể kéo dài hàng chục năm hoặc lâu hơn thế như Vạn lý trường thành ở TrungQuốc, nhà thờ và đấu trường La Mã ở Italia trong quá trình vận hành các kết quảcủa đầu tư phát triển chịu tác động cả hai mặt, tích cực và tiêu cực của nhiêù yếu tố

tự nhiên, chính trị, kinh tế, xã hội Đây là đặc điểm có ảnh hưởng rất lớn đếncông tác quản lý hoạt động đầu tư

2.3.2 Vận dụng

Để thích ứng với đặc điểm này, công tác quản lý hoạt động đầu tư cần chú ý một

số nội dung sau:

 Cần xây dựng cơ chế và phương pháp dự báo khoa học cả ở cấp vĩ mô và

vi mô về nhu cầu thị trường đối với sản phẩm đầu tư tương lai, dự kiến khảnăng cung từng năm và toàn bộ vòng đời dự án Nếu như sản phẩm không

có toàn bộ thông tin về nhu cầu thị trường thì hoạt động sản xuất kinhdoanh của doanh nghiệp sẽ không đảm bảo đúng theo quy luật cung cầu,đặc biệt trong nền kinh tế thị trường hiện nay Mặt khác nếu việc dự báokhông khoa học và chính xác thì hoạt động của doanh nghiệp có thể sẽ bịthiệt hại

 Quản lý tốt quá trình vận hành, nhanh chóng đưa các thành quả đầu tư vào

sử dụng, hoạt động tối đa công suất, nhanh tróng thu hồi vốn đầu tư tránhhao mòn vô hình Để vận hành tốt, cũng cần phải chú ý bảo dưỡng, nâng cấp

Trang 15

thành phần của công trình để đem lại hiệu quả thu hồi vôn nhanh nhất, kéodài thời gian thu lợi nhuận sau đó.

 Chú ý đúng mức đến yếu tố độ trễ thời gian trong đầu tư Đầu tư trong nămnhưng thành quả đầu tư chưa chắc đã phát huy tác dụng ngay trong năm đó

mà từ những năm sau và kéo dài trong nhiều năm Đây là đặc điểm rấtriêng của đầu tư, ảnh hưởng lớn đến công tác quản lý hoạt động đầu tư

 Sau khi kết thúc quá trình thực hiện, nhà thầu bàn giao kết quả cho nhà đầu tư.Nhà đầu tư sẽ cần phải tìm những phương pháp quản lý, nghiên cứu thị trường đểvận hành kết quả đó một cách tốt nhất

2.4 Các thành quả của hoạt động đầu tư phát triển mà là các công trình xây dựng thường phát huy tác dụng ở ngay tại nơi nó được tạo dựng

2.4.1 Đặc điểm

Các điều kiện tự nhiên của vùng như khí hậu, đất đai có tác động rất lớn trong việc thi công, khai thác và vận hành các kết quả đầu tư Đối với các công trình xây dựng, điều kiện về địa chất ảnh hưởng rất lớn không chỉ trong thi công mà cả tronggiai đoạn đưa công trình vào sử dụng, nếu nó không ổn định sẽ làm giảm tuổi thọ cũng như chất lượng công trình Tình hình phát triển kinh tế của vùng ảnh hưởng trực tiếp tới việc ra quyết định và quy mô vốn đầu tư Ngoài ra môi trường xã hội cũng ảnh hưởng rất lớn đến việc thực hiện các dự án đầu tư như phong tục tập quán, trình độ văn hóa

2.4.2 Vận dụng

Công tác quản lý hoạt động đầu tư cần chú ý một số nội dung sau:

Trang 16

 Cần phải có chủ chương đầu tư và quyết định đầu tư đúng Đầu tư cái gì,công suất bao nhiêu là hợp lý….cần phải được nghiên cứu kỹ lưỡng, dựatrên nhưng căn cứ khoa học Ví dụ, công suất xây dựng nhà máy sàng tuyểnthan ở khu vực có mỏ than phụ thuộc rất nhiều vào trữ lượng than của mỏ.Nếu trữ lượng than của mỏ ít thì quy mô nhà máy không thể lớn, để đảm bảocho nhà máy hành năm hoạt động hết công suất với số năm tồn tại của nhàmáy theo dự kiến trong dự án.

 Lựa chọn địa điểm đầu tư hợp lý Địa điểm đầu tư tác động lâu dài đến hoạtđộng và lợi ích của doanh nghiệp, đồng thời ảnh hưởng lâu dài đến khu vựcdân cư xung quanh Để lựa chọn địa điểm thực hiện đầu tư đúng phải dựatrên những căn cứ khoa học, dựa vào một hệ thống các chỉ tiêu kinh tế, chínhtrị, xã hội, môi trường, văn hóa…Cần xây dựng một bộ tiêu chí khác nhau

và nhiêu phương án so sánh để lựa chọn vùng lãnh thổ và địa điểm đầu tư cụthể, tạo điều kiện nâng cao hiệu quả vốn đầu tư Cụ thể:

o Địa điểm đầu tư phải phù hợp với quy hoạch chung, bảo đảm an ninhkhông gây ô nhiễm môi trường

o Môi trường tự nhiên phải phù hợp với yêu cầu đặt ra của dự án

o Đia điểm lựa chọn có diện tích đủ rộng để bố trí các cơ sở sản xuất dễdàng cho mở rộng đầu tư

o Địa điểm lựa chọn phải tiện lợi cho việc vận tải, gần vùng cung cấpnguyên vật liệu

 Địa điểm đầu tư là một nhân tố quan trọng quyết định quá trình thực hiện dự án vàquá trình vận hành kết quả thuận lợi và đạt hiệu quả hay không Do đó người lập dự

án đầu tư phải luôn luôn tính đến tất cả các yếu tố về tự nhiên, kinh tế xã hội của vùng

Trang 17

ảnh hưởng đến dự án, và tùy vào từng dự án mà ảnh hưởng của từng yếu tố là khácnhau.

2.5 Đầu tư phát triển có độ rủi ro cao

2.5.1 Đặc điểm

Mọi kết quả và hiệu quả của quá trình thực hiện đầu tư chịu nhiều ảnh hưởng củacác yếu tố không ổn định theo thời gian và điều kiện địa lý của không gian Doquy mô vốn đầu tư lớn, thời kỳ đầu tư kéo dài và thời gian vận hành các kết quảđầu tư cũng kéo dài nên mức độ rủi ro của hoạt động đầu tư phát triển thường rấtcao Có rất nhiều rủi ro trong hoạt động đầu tư

a) Phân loại rủi ro

 Rủi ro về kinh tế: rủi ro về kinh tế là khi một doanh nghiệp hay một ngành có thể bị ảnh hưởng xấu do nền kinh tế của Quốc gia có những sự biến động suy thoái và có khả năng làm giảm nhu cầu về những sản phẩm của Doanh nghiệp,

do đó làm giảm doanh thu và lợi nhuận của Doanh nghiệp

o Rủi ro về lãi xuất : đối với một Doanh nghiệp sản xuất thì rủi ro lãi suất

là rủi ro khi chi phí trả lãi vay của Doanh nghiệp cao hơn khả năng tạo ralợi nhuận của Doanh nghiệp và mức độ rủi ro về lãi suất cũng khác nhaugiữa các ngành với nhau tùy theo cơ cấu nợ vay của các ngành đó

o Rủi ro về ngoại hối : là rủi ro khi có sự biến động bất lợi về tỷ giá ngoại hối đến giá thành các nguồn vật tư đầu và hoặc giá bán các sản phẩm, kết quả làm giảm lợi nhuận của Công ty

 Rủi ro về pháp luật: rủi ro luật pháp là rủi ro mang tính hệ thống, có ảnh hưởng chung đến toàn ngành Khi có những thay đổi trong chính sách quản lý về vĩ

Trang 18

mô của Chính phủ bao gồm chậm trễ trong việc cấp phép đầu tư, triển khai dự

án, những thay đổi quy hoạch hoặc hoặc chậm trễ thực hiện các cam kết đều có những tác động bất lợi đến tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty

Ví dụ: các rủi ro về thời tiết ví dụ như trong quá trình đâu tư gặp phải mưa bão, lũlụt làm cho các hoạt động thi công công trình đều phải dừng lại ảnh hưởng rấtlớn đến tiến độ và hiệu quả đầu tư Các rủi ro về thị trường như giá cả, cung cầucác yếu tố đầu vào và sản phẩm đầu ra thay đổi, ví dụ như do thông tin trong sữaTrung Quốc có chất gây bệnh sỏi thận mà cầu về sữa giảm sút nghiêm trọng, hoạtđộng đầu tư mở rộng cơ sở sản xuất chế biến sữa của một số doanh nghiệp vì thếcũng bị ngưng trệ rủi ro do điều kiện chính trị xã hội không ổn định: Dự án BôXít Tay nguyên đã vấp phải sự phản đối quyết liệt của các nhà khoa học và dân cưbản địa vì nguy cơ hủy hoại môi trường và tác động tiêu cực đến văn hóa - xã hộiTây Nguyên và có thể tổn thương cả một nền văn hóa bản địa

Trang 19

 Đánh giá mức độ rủi ro Rủi ro xảy ra có khi rất nghiêm trọng nhưng cókhi chưa đến mức gây nên những thiệt hại về kinh tế Đánh giá đúng mức

độ rủi ro sẽ giúp đưa ra những biện pháp phòng chống phù hợp

 Xây dựng các biện pháp phòng và chống rủi ro Mỗi loại rủi ro và mức độrủi ro nhiều hay ít sẽ có biện pháp phòng và chống tương ứng nhằm hạnchế đến mức thấp nhất các thiệt hại có thể có do rủi ro này gây ra

Cụ thể, công cụ quản lý rủi ro đầu tư là một phần trong lập dự án, chiến lược đầu

tư có thể đem lại lợi nhuận hoặc gây ra thiệt hại Nâng cao công cụ phân tích rủi ro

có thể đảm bảo rằng dự án có thể đem lại lợi nhuận lớn nhất và tránh được nhữngthiệt hại Hai công cụ được đưa ra:

Các quy định giới hạn : để tránh những nguy cơ phát sinh trong quá trình

thi công dự án, một là nhà nước phải cung cấp các quy định , hai là bên chủđầu tư và bên thi công phải thống nhất với nhau về các điều khoản sử dụngvốn, tiến trình thực hiện trên cơ sở phân tích chi phí lợi ích, tác động ngoạiứng ( như môi trường, xã hội …)

Phân tích thị trường bằng phần mềm Một số phần mềm máy tính cung

cấp phần mềm cơ sở dữ kiệu nội bộ công ty và tích hợp tất cả mọi thứ mà

Trang 20

một nhà lập và quản lý dự án cần Tạo điều kiện dêc dàng tổ chức và chia sẻthông tin với các nhân viên chịu trách nhiệm quản lý rủi ro đầu tư.

Tùy chọn khác cho quản lý rủi ro đầu tư

Chiến lược đầu tư thay thế (AIS) - Các doanh nghiệp có đủ nguồn lực để chi

cho việc phân tích tài chính có thể quyết định xem xét đầu tư vào các quỹ phòng

hộ cho tương lai cho phép quản lý rủi ro hiệu quả hơn

Quản lý Đầu tư công ty - khi phần mềm quản lý rủi ro có thể mất quá nhiều tài

nguyên của mình để thực hiện, đặc biệt nếu bạn là một phần của một công ty nhỏ Thuê một công ty chuyên nghiệp, hay một chuyên gia là giải pháp tối ưu

 Các rủi ro đầu tư ảnh hưởng lớn đến việc thi công cũng như việc vận hành thu lợi nhuận Nhà đầu tư cần phải có những biện pháp phòng tránh phát hiện vàđối phó kịp thời Ngoài ra , để hỗ trợ cho các doanh nghiệp, nhà nước cũng cầnban hành các bộ luật nhằm hạn chế rủi ro

Trang 21

Chương II Thực trạng vận dụng đặc điểm của hoạt động đầu tư trong

công tác quản lý đầu tư tại Việt Nam

1 Hệ thống quản lý hoạt động đầu tư tại Việt Nam

1.1 Hệ thống pháp luật về đầu tư

Trước 2006, cụ thể là trong giai đoạn 2000 đến tháng 6 năm 2006, mọi hoạt độngđầu tư tại Việt Nam đều phải tuân thủ theo Luật khuyến khích đầu tư trong nướcnăm 1998 và Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1996 Trước tình hình kinh

tế trong nước có nhiều chuyển biến mạnh mẽ khi tiến tới hội nhập kinh tế quốc tế,đòi hỏi phải có một bộ luật chung nhằm đạt được sự nhất quán trong các quy địnhpháp lý, từ đó tạo điều kiện cho các nhà đầu tư, các doanh nghiệp nâng cao hiệuquả trong hoạt động đầu tư của mình

Đứng trước yêu cầu thực tế đó, ngày 29 tháng 11 năm 2005, tại Kỳ họp thứ 8,Quốc hội khóa XI đã thông qua Luật đầu tư 2005 (Luật Đầu tư chung) Luật cóhiệu lực từ ngày 01 tháng 07 năm 2006, thay thế cho Luật đầu tư nước ngoài tạiViệt Nam năm 1996, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật đầu tư nước ngoàinăm 2000 và Luật khuyến khích đầu tư trong nước năm 1998.Sau ngày ban hànhLuật gần một năm, ngày 22 tháng 9 năm 2006, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã kíphê chuẩn Nghị định số 108/2006/NĐ-CP nhằm hướng dẫn thi hành Luật đầu tư2005

Trang 22

Sự kiện này là một sự chuyển đổi môi trường rất lớn đối với các nhà đầu tư, doanhnghiệp trong nước, cũng như tạo ra sự thống nhất, phù hợp với thông lệ quốc tếcho các hoạt động đầu tư từ nước ngoài vào Việt Nam.

Luật Đầu tư chung là một trong hai luật kinh doanh quan trọng (cùng với LuậtDoanh nghiệp thống nhất ban hành năm 2005) để đẩy nhanh tốc độ phát triển khuvực kinh tế tư nhân cũng như đầu tư nước ngoài và góp phần kích thích tăngtrưởng kinh tế Luật đầu tư mới đã xóa bỏ sự phân biệt đối xử giữa các doanhnghiệp, các nhà đầu tư thuộc mọi thành phần kinh tế, giữa đầu tư trong nước vàđầu tư nước ngoài, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đổi mới và quá trình hội nhậptoàn diện

Tuy vậy, sau khi ban hành và đưa vào áp dụng, Luật đầu tư 2005 cũng bộc lộ nhiềubất cập Nhiều ý kiến của doanh nghiệp cũng như của các chuyên gia pháp luật,kinh tế cho rằng, các cơ chế quản lý như trong Luật Đầu tư chung thể hiện sự canthiệp quá sâu của Nhà nước vào các hoạt động kinh doanh của nhà đầu tư Các quyđịnh chi tiết của Luật Đầu tư chung đã làm sinh ra thêm những giấy phép “con”,tạo ra sự nặng nề về mặt thủ tục cho các hoạt động đầu tư Trong tương lai, LuậtĐầu tư 2005 có thể tiếp tục được sửa đổi, bổ sung nhằm tạo điều kiện cho cácdoanh nghiệp cũng như các tổ chức, cá nhân trong hoạt động đầu tư, đáp ứng nhucầu phát triển của nền kinh tế

1.2 Quản lý vĩ mô

Dựa trên việc nắm bắt các đặc điểm của đầu tư phát triển, ở mức độ vĩ mô chính phủ đã có những cơ chế chính sách trong lĩnh vực đầu tư phát triển có nhiều đổi mới, góp phần quan trọng trong việc cải thiện môi trường đầu tư, khuyến khích các

Trang 23

phát triển có độ rủi ro cao đòi hỏi ở cấp độ vĩ mô phải xây dựng các chính sách, quy hoạch, kế hoạch dầu tư đúng đắn, quản lý chặt chẽ tổng vốn đầu tư, bố trí vốn đầu tư, thực hiện đầu tư có trọng tâm trọng điểm.Cùng với đó phải đưa ra các phương pháp dự báo nhận diện rủi ro cho các doanh nghiệp trong nền kinh tế Chính phủ đã ban hành các chính sách phù hợp huy động các nguồn lực cho đầu tưphát triển, nguồn vốn đầu tư phát triển ngày càng được đa dạng hoá, cơ chế bao cấp trong dầu tư dần được xoá bỏ Cùng với đó đã nâng cao hiệu quả sử dụng và

nỗ lực cải thiện môi trường kinh tế chính trị cho đầu tư, củng cố lòng tin đối với các nhà đầu tư trong và ngoài nước

Cơ chế quản lý vốn đầu tư phát triển đã có nhiều thay đổi Các văn bản pháp quy trong lĩnh vực đầu tư phát triển luôn được cập nhật, đổi mới, phù hợp theo hướng phân cấp mạnh hơn trong quản lý đầu tư và xây dựng, đồng thời tăng cường vai tròkiểm tra, giám sát của các cơ quan quản lý nhà nước Nhiều nghị định mới, văn bản luật mới được ban hành thay thế cho những nghị định không còn phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế-xã hội và xu hướng toàn cầu hoá như (luật đất đai, luật tài nguyên, luật đầu tư, luật đấu thầu…)

Cùng với đó, Nhà nước cũng thực hiện đổi mới trong công tác quy hoạch, thực hiện tốt vai trò định hướng đầu tư và là công cụ quản lý của nhà nước Chất lưọng của công tác quy hoạch đã được chú ý, gắn kết với thực tế, bám sát với nhu cầu thị trường, khai thác tốt hơn tiềm năng, thế mạnh của từng địa phương

Kiện toàn và tăng cường năng lực các bộ quản lý dự án đầu tư phát triển Đa dạng hoá các hình thức và mở rộng các lĩnh vực cho đầu tư nước ngoài là một hướng đi mới mà Bộ kế hoạch và đầu tư đang nghiên cứu để kiến nghị Chính phủ nhằm thu hút nhiều hơn nữa nguồn vốn đầu tư cho phát triển

Trang 24

Nhiều giải pháp cải thiện môi trường đầu tư đang được triển khai mạnh mẽ Đối với vốn ODA, những khó khăn sẽ được tập trung tháo gỡ là giải phóng mặt băng, bảo đảm đối ứng trong các dự án, đấu thầu và sử dụng tư vấn, kiện toàn và tăng cường năng lực của đội ngũ cán bộ quản lý dự án, cải thiện thủ tục hành chính và haì hoà hoá các thủ tuch đối với các nhà tài trợ Các giải pháp thu hút vốn FDI được chú trọng đẩy mạnh là khâu quy hoạch, nhất là gắn quy hoạch ngành, sản phẩm với quy hoạch vùng, nâng cao chất lượng và tính khả thi của danh mục ưu tiên gọi vốn FDI Liên quan đến giải pháp về cơ chế chính sách vĩ mô, Chính phủ yêu cầu các ngành chức năng khi soạn thảo, bổ sung, sữa đổi chính sách, luật phấp phải tính đến tác động của chúng tới FDI, bảo đảm tính nhất quán, thông thoáng hơn và áp sát hơn với cac quy định của tổ chức WTO Các cơ chế chính sách ưu đãi về thuế, đất sẽ đặc biệt quan tâm đến các nhà đầu tư đã có dự án đang hoạt động tại Việt Nam, đồng thời cũng có nhưng quy chế riêng đói với các công ty xuyên quóc

Tuy nhiên trong quản lý công tác đầu tư ở cấp vĩ mô cũng còn một số hạn chế Vớimột quốc gia đang phát triển nhanh như Việt Nam, nhu cầu vốn rất lớn Tuy nhiên thực tế hiệu quả sử dụng các nguồn vốn của Việt Nam thì chưa cao Theo chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan: “Việt Nam, tồn tại một nghịch lý là nước nghèo nhưng không biết tiêu tiền hợp lý, gây lãng phí” Chúng ta chưa quan tâm đầy đủ việc sử dụng hiệu quả các nguồn vốn đầu tư kể cả ngân sách, nguồn đầu tư trong nước cũng như nước ngoài và ODA Đầu tư trong nước là một nguồn lực tốt, thậm chí năm 2006, đầu tư trong nước còn lớn hơn FDI Hầu hết đầu tư trong nước là các

DN tư nhân, các cá nhân, do đó, họ có lợi ích thực, thúc đẩy hiệu quả càng cao càng tốt Tuy nhiên hiệu quả sử dụng vốn trong nước vẫn còn hạn chế do tác động chung của cac nguôn lực khác: Cơ chế chính sách, vấn đề cơ sở hạ tầng và cả

Trang 25

những ưu đãi lớn dành cho DN nhà nước Đáng ra, tư nhân có thể sử dụng nguồn vốn hiệu quả hơn rất nhiều Tất nhiên không phủ nhận sự yếu kém của DN tư nhân trong nước, nhưng yếu tố quan trọng chính là môi trường kinh doanh còn quá nhiều nhân tố bất ổn, do chính nhà nước tạo ra Về cơ sở hạ tầng, nhiều nhà đầu tư nước ngoài mong đầu tư nhưng bản thânViệt Nam lai chưa tạo điều kiện đầy

đủ.Hình thức BOT đã được luật hoá nhưng chưa có hướng dẫn thực sự để DN nước ngoài tham gia Cách đây chưa lâu, Phần Lan đã mất 5-7 năm để đàm phán

để tham gia xây dựng hạ tầng, để đạt được kí kết Họ phải mất them 2 năm đàm phán về giá cung cấp điện nhưng không có kết quả Cuối cùng nước này đã rút dự

án ra khỏi Vệt Nam Chúng ta càn rút ra kinh nghiệm để tránh những sai lầm trongcông tác quản lý đầu tư

Bên cạnh đó có một bộ phận doanh nghiệp nhà nước vẫn chưa làm tốt quá trình đầu tư.Trong đó công tác đấu thầu là bất cập nhất Nghiên cứu cho thấy: trong tổng

số 400 hợp đồng thuộc 6 khoản tín dụng đã được phân tích, có sự tham gia của

Trang 26

1000 công ty, 1500 người, 50 ngân hang và hơn 250 giao dịch Dựa trên kết quả phân tích ban đầu này, 110 hợp đồng đã được chọn lựa để phân tích sâu không pháthiện thấy dấu hiệu bất thường trong công tác quản lý tài chính và giải ngân Ngoài

ra chất lượng của các công trình xây dựng chấp nhận được ở phần lớn trong số 40 công trình đã được kiểm tra Tuy nhiên phân tích sâu hơn cho thấy có dấu hiệu liênkết giữa các nhà thầu trong hầu hết các cuộc đấu thầu đã thẩm tra Đặc biệt nghiên cứu còn cho thấy hầu hết giá bỏ thầu đều nằm trong khoảng rất hẹp Điều đó có thể

ký giải được trên cơ sở việc nhiêu nhà thầu thường căn cứ vào các định mức về giáđựơc quy định chính thức vì phần lớn là các DNNN

Nhiêu chủ đầu tư ở Việt Nam do một bộ phận doanh nghiệp nhà nước vẫn chưa

làm tốt quá trình đầu tư.Trong đó công tác đấu thầu là bất cập nhất.nên khi đứng trước những biến động của thị trường lạm phát cao, giá nguyên vật liệu, lãi suất

tăng cao ( kể từ cuối năm 2007) gần như đứng trước nguy cơ phá sản, nhiều công trình thi công bị bỏ dở dang do chủ đầu tư không huy động được nguồn vốn.Qua

đó cồn thể hiện sự non kém trong năng lực quản lý và sử dụng vốn của các doanh nghiệp

2 Sự quán triệt các đặc điểm của đầu tư phát triển trong công tác quản lý hoạt động đầu tư

2.1 Quy mô tiền vốn, vật tư, lao động cần thiết cho hoạt động đầu tư thường rất lớn

2.1.1 Tình hình tạo vốn và huy động vốn

Các kênh tạo vốn từ nhà nước như ngân sách, tín dụng đầu tư phát triển không ngừnggia tăng qua thời gian theo sự gia tăng nói chung của nền kinh tế, lượng vốn này

Trang 27

chiếm khoảng 30% tổng vốn đầu tư xã hội 70% còn lại chúng ta dựa vào huy độngtrong dân cư, doanh nghiệp, thu hút vốn nước ngoài Tuy nhiên, những kênh huy độngvốn như vậy không ổn định và phụ thuộc nhiều vào tình hình kinh tế thế giới.

Thống kê hàng năm của bộ tài chính (đơn vị: tỷ dồng)

Các nguồn vốn giải ngân vượt kế hoạch:

 Vốn đầu tư thuộc ngân sách nhà nước tăng gần 63% so với năm 2008, tăng42,7% so với kế hoạch năm, và chiếm 22,5% tổng vốn đầu tư toàn xã hội

Trang 28

 Vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước tăng 25% so với thực hiện năm

2008, chiếm 7% tổng vốn đầu tư toàn xã hội

Tuy nhiên do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng của kinh tế toàn cầu nên một số kênhhuy động vốn chưa đạt mục tiêu đề ra:

 Nguồn vốn đầu tư trái phiếu Chính phủ đạt 80,4% kế hoạch giao

 Vốn đầu tư của doanh nghiệp nhà nước chỉ bằng 75,9% kế hoạch, giảm 7,7% sovới thực hiện năm 2008, chiếm 8,4% tổng vốn đầu tư toàn xã hội

 Vốn đầu tư của dân cư và doanh nghiệp tư nhân đạt 93,8% kế hoạch, tăng22,5% so với thực hiện năm 2008, chiếm 30,8% tổng vốn đầu tư toàn xã hội

 Vốn FDI đạt khoảng 82% kế hoạch, giảm 22% so với thực hiện năm 2008,chiếm 21% tổng vốn đầu tư toàn xã hội

Về thu hút vốn ODA, năm 2009 tổng vốn ODA ký kết đạt 5,456 tỷ USD, tổng vốnODA giải ngân đạt khoảng 3 tỷ USD

2.1.2 Quản lý, sử dụng vốn

Với một quốc gia đang phát triển nhanh như Việt Nam, nhu cầu vốn rất lớn Tuynhiên, trên thực tế, hiệu quả sử dụng các nguồn vốn của Việt Nam hiện nay đếnđâu? Điều đáng buồn là phải công nhận một nghịch lí “chúng ta là một nước nghèonhưng không biết tiêu tiền hợp lí, gây ra lãng phí” Chúng ta chưa quan tâm đầy đủviệc sử dụng hiệu quả các nguồn vốn đầu tư kể cả ngân sách, nguồn đầu tư trongnước cũng như nước ngoài và ODA

Ngày đăng: 03/04/2013, 10:38

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Về tình hình các dự án giải thể trước thời hạn xét theo ngành kinh tế, tính đến hết năm 2005, ngành công nghiệp và xây dựng có nhiều dự án bị giải thể nhất và tỷ lệ  vốn đầu tư bị giải thể cũng cao nhất, chiếm tới 43% - ĐẶC ĐIỂM CỦA ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN VÀ SỰ QUÁN TRIỆT CÁC ĐẶC ĐIỂM CỦA ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN TRONG CÔNG TÁC QUẢN LÝ ĐẦU TƯ
t ình hình các dự án giải thể trước thời hạn xét theo ngành kinh tế, tính đến hết năm 2005, ngành công nghiệp và xây dựng có nhiều dự án bị giải thể nhất và tỷ lệ vốn đầu tư bị giải thể cũng cao nhất, chiếm tới 43% (Trang 29)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w