1. Trang chủ
  2. » Kinh Doanh - Tiếp Thị

Các nhân tố ảnh hưởng đến chi đầu tư. Giải thích tình hình kích cầu đầu tư ở nước ta

68 666 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Các nhân tố ảnh hưởng đến chi đầu tư. Giải thích tình hình kích cầu đầu tư ở nước ta
Người hướng dẫn Thầy Từ Quang Phương
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh tế
Thể loại Đề tài
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 68
Dung lượng 788,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LÍ LUẬN CHUNG VỀ CHI TIÊU ĐẦU TƯ VÀ KÍCH CẦU ĐẦU TƯ

Trang 1

ĐỀ TÀI: Các nhân tố ảnh hưởng đến chi đầu tư Giải thích tình

hình kích cầu đầu tư ở nước ta.

MỤC LỤC

CHƯƠNG I: LÍ LUẬN CHUNG VỀ CHI TIÊU ĐẦU TƯ VÀ KÍCH CẦU

ĐẦU TƯ I.Một số khái niệm cơ bản

1.Khái niệm về đầu tư

2.Phân loại đầu tư

3 Chi tiêu đầu tư

II Các nhân tố ảnh hưởng đến chi tiêu đầu tư

1 Lợi nhuận kì vọng

2 Lãi suất tiền vay

3 Sản lượng quốc gia

4 Chu kì kinh doanh

5 Đầu tư nhà nước

6 Môi trường đầu tư

7 Lợi nhuận thực tế

8 Các nhân tố vĩ mô khác

III Kích cầu đầu tư

1 Khái niệm

2 Ý nghĩa của kích cầu đầu tư

3 Các biện pháp kích cầu đầu tư

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ VÀ TÌNH HÌNH KÍCH CẦU

ĐẦU TƯ Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2000 ĐẾN NAY

I.Thực trạng đầu tư ở Việt Nam giai đoạn 2000 đến nay

1.Đầu tư trong nước

a Đầu tư nhà nước

b Đầu tư dân doanh trong nước

2.Đầu tư từ nước ngoài

Trang 2

a Đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI

b Viện trợ phát triển chính thức ODA

c Nguồn kiều hối của kiều bào ở nước ngoài

II.Tình hình kích cầu đầu tư ở Việt Nam

1.Chính sách lãi suất

2.Chính sách thuế

3.Đầu tư nhà nước

4.Chính sách tỷ giá

5.Bình ổn giá, kiềm chế lạm phát

6 Xúc tiến thương mại

CHƯƠNG III: GIẢI PHÁP ĐỀ XUẤT NÂNG CAO HIỆU QUẢ CHI ĐẦU TƯ VÀ KÍCH CẦU ĐẦU TƯ Ở NƯỚC TA

I.Nhóm giải pháp thu hút và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn

1 Huy động và sử dụng nguồn vốn nhà nước

2 Huy động và sử dụng nguồn vốn FDI

3 Huy động và sử dụng nguồn vốn ODA

II Nhóm giải pháp cải thiện môi trường đầu tư

1.Nhóm giải pháp về luật pháp, chính sách

2.Nhóm giải pháp về qui hoạch

3.Nhóm giải pháp về cải thiện cơ sở hạ tầng

4.Nhóm giải pháp về nguồn nhân lực

5.Nhóm giải pháp về khoa học công nghệ

6.Nhóm giải pháp về giải phóng mặt bằng

7.Nhóm giải pháp về phân cấp, cải cách hành chính

8.Nhóm giải pháp về xúc tiến đầu tư

9.Nhóm giải pháp ổn định hóa môi trường vĩ mô

III.Nhóm giải pháp nhằm tăng hiểu quả các gói kích cầu

1.Về phía Cơ quan quản lý Nhà nước

2.Về phía các đối tượng được thụ hưởng lợi ích từ gói kích cầu

Trang 3

LỜI MỞ ĐẦU

Đầu tư là hoạt động không thể thiếu được trong nền kinh tế của các quốc gia, dù là quốc gia phát triển hay quốc gia đang phát triển Đầu tư góp phần tạo nên tăng trưởng kinh tế, phát triển xã hội Có thể nói đầu tư đã trở thành mối quan tâm hàng đầu của chính phủ các nước nói chung và của chính phủ Việt Nam nói riêng

Hoạt động đầu tư là hoạt động mang tính chất lâu dài được thể hiện ởthời gian thực hiện đầu tư, thời gian cần hoạt động để có thể thu hồi số vốn

đã bỏ ra đối với các cở sở vật chất kĩ thuật phục vụ sản xuất kinh doanh Do

đó không tránh khỏi sự tác động hai mặt tích cực và tiêu cực của các yếu tốkhông ổn định về tự nhiên, xã hội, chính trị, kinh tế Mọi kết quả và hiệu quảcủa quá trình thực hiện đầu tư cũng chịu ảnh hưởng của các yếu tố không ổnđịnh theo thời gian và điều kiện địa lý của không gian Bởi vậy, để đảm bảocho mọi công cuộc đầu tư được tiến hành thuận lợi, đạt được mục tiêu mongmuốn, đem lại hiệu quả kinh tế - xã hội cao thì phải xác định được các nhân

tố ảnh hưởng đến đầu tư, nghiên cứu các tác động của chúng, từ đó đưa rađược các giải pháp hạn chế tác động tiêu cực và gia tăng tác động tích cực.Đây là vấn đề cần phải được quan tâm đúng mức

Chúng tôi thực hiện đề tài này cũng nhằm làm rõ về các yếu tố ảnhhưởng đến chi đầu tư, từ đó giải thích tình hình kích cầu đầu tư ở Việt Nam

và các giải pháp đưa ra nhằm hoàn thiện những thiếu sót về đầu tư Bài làm

có thể còn nhiều thiếu sót, chúng tôi rất mong nhận được y kiến đóng góp từ

Trang 4

thầy cô và các bạn Chúng tôi xin chân thành cảm ơn thầy Từ QuangPhương đã chỉ bảo và giúp đỡ chúng tôi hoàn thành đề tài này.

Chương I: LÍ LUẬN CHUNG VỀ CHI TIÊU ĐẦU TƯ VÀ KÍCH

CẦU ĐẦU TƯ

I.Một số khái niệm cơ bản:

1 Khái niệm về đầu tư:

Đầu tư là quá trình sử dụng các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các hoạtđộng nhằm thu được những kết quả và mục tiêu nhất đinh trong tương lai.Mục tiêu của mọi công cuộc đầu tư là đạt được những kết quả cao hơn so với những hi sinh về các nguồn lực đầu tư phải gánh chịu khi tiến hành đầu tư

Các nguồn lực phải bỏ ra có thể là tiền, tài nguyên thiên nhiên sức lao động và trí tuệ Những kết quả thu được có thể là sự gia tăng tài sản tài chính, tài sản vật chất, tài sản trí tuệ, nguồn nhân lực có khả năng làm việc với năng suất lao động cao cho nền kinh tế và toàn bộ xã hội

2 Phân loại đầu tư:

Nếu đứng trên góc độ quan hệ quản lý của chủ đầu tư thì đầu tư được chia làm 2 loại: đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp

- Đầu tư gián tiếp là hoạt động đầu tư mà người bỏ vốn không trực tiếp tham gia quản lí, điều hành quá trình thực hiện và vận hành kết quả đầu tư chẳng hạn như các nhà đầu tư tham gia mua bán cổ phiếu và trái phiếu trên thị trường chứng khoán thứ cấp

- Đầu tư trực tiếp là hoạt động đầu tư mà người bỏ vốn trực tiếp tham gia quản lý điều hành quá trình thực hiện và vận hành kết quả đầu tư Đầu tư trực tiếp bao gồm đầu tư thương mại, đầu tư tài chính và đầu tư phát triển

Đầu tư tài chinh và đầu tư thương mại hay còn gọi là đầu tư dịch chuyển đây là hình thức đầu tư trong đó việc bỏ vốn là nhằm dịch chuyểnquyền sở hữu giá trị của tài sản Trong đầu tư dịch chuyển không có sự gia tăng của taì sản Chỉ có sự gia tăng về tài sản tài chính của người đầu

tư Loại đầu tư này gián tiếp làm tăng tài sản của nền kinh tế thông qua sựđóng góp tài chính tích lũy của các hoạt động đầu tư này cho đầu tư phát

Trang 5

triển, cung cấp vốn cho hoạt động đầu tư phát triển và tạo thúc đẩy quá trình lưu thông phân phối sản phẩm do quá trình đầu tư phát triển tạo ra Đầu tư phát triển là bộ phận cơ bản của đầu tư, là hoạt động chi dùng vốn nhằm duy trì và tạo ra những năng lực sản xuất mới, những tiềmlực mới của nền kinh tế, tạo them công ăn việc làm và vì mục tiêu phát triển Đầu tư phát triển là hình thức đầu tư đóng vai trò quan trọng với sự tăng trưởng và phát triển của mỗi quốc gia Đầu tư phát triển là tiền đề, cơ

sở cho các hoạt động đầu tư khác Các hoạt động đầu tư khác không thể tồn tại và vận động nếu thiếu đầu tư phát triển

3. Chi tiêu đầu tư:

Xét ở tầm vĩ mô,chi tiêu đầu tư là sự dịch chuyển vốn từ các khoản tiết kiệm của hộ gia đình và chính phủ sang khu vực kinh doanh nhằm làm tăng lượng sản phẩm đầu ra và góp phần vào tăng trưởng kinh tế Chi tiêu đầu tư bao gồm quyết định trì hoãn tiêu dùng, tìm kiếm và tích lũy vốn để tăng tiềm năng sản xuất cho nền kinh tế

Trên góc độ vi mô, chi tiêu đầu tư là quá trình nhà đầu tư quyết định thời điểm thực hiện đầu tư và kết hợp các nguồn lực với tỷ lệ như thế nào

để quá trình thực hiện đầu tư đạt được kết quả cao nhất

II Các nhân tố ảnh hưởng đến chi tiêu đầu tư:

1 Lợi nhuận kì vọng:

1.1 Lý thuyết của Keynes:

Theo Keynes thì lợi nhuận kì vọng là 1 trong 2 yếu tố cơ bản quyết định đến đầu tư

Lợi nhuận kì vọng là khoản lợi nhuận nhà đầu tư mong muốn sẽ thu được trong tương lai khi ra quyết định đầu tư

Nếu lợi nhuận kì vọng lớn hơn lãi suất cho vay thì nhà đầu tư sẵn sàng

bỏ vốn để kinh doanh Nếu lợi nhuận kì vọng thấp và nhỏ hơn tiền lãi thu đượcthì nhà đầu tư sẽ không bỏ vốn sản xuất kinh doanh mà gửi tiền vào ngân hàng

Có hai chỉ tiêu định lượng để xác định lợi nhuận của một dự án đó là tỷ suất lợi nhuận vốn đầu tư và hệ số hoàn vốn nội bộ của dự án Tỷ suất lợi nhuận phản ánh mức lợi nhuận thu được tính trên một đơn vị đầu tư Hệ

số hoàn vốn nội bộ là lãi suất dự án có thể đạt được để đảm bảo cho tổng các khoản thu của dự án cân bằng với các khoản chi ở thời gian mặt bằng hiện tại

Trang 6

Các nhà đầu tư không căn cứ vào tỷ suất lợi nhuận thông thường mà căn cứ vào tỷ suất lợi nhuận biên để quyết định đầu tư Tỷ suất lợi nhuận biên thường giảm dần.

Tỷ suất lợi nhuận có quan hệ tỷ lệ thuận một chiều với đầu tư Một ngành có tỷ suất lợi nhuận cao thì người ta sẽ đầu tư vào nhiều Vậy

tỷ suất lợi nhuận giúp đưa ra quyết định đầu tư vào đâu Tuy nhiên nếu đầu tư nhiều thì hiệu quả sẽ giảm Lúc này ta xét đến tỷ suất lợi nhuận biên Tỷ suất lợi nhuận biên cho biết nên đầu tư bao nhiêu, lượng vốn nhưthế nào

Tỷ suất lợi nhuận= lợi nhuận / vốn đầu tư(%)

Tỷ suất lợi nhuận biên=Δlợi nhuận/ Δvốn đầu tư.(%)lợi nhuận/ Δlợi nhuận/ Δvốn đầu tư.(%)vốn đầu tư.(%)

Tỷ suất lợi nhuận biên của dự án giảm do các nguyên nhân cơ bản sau:

Thứ nhất: khi tăng chi tiêu đầu tư, nhu cầu vốn đầu tư tăng lên Nhu cầu

vốn tăng làm lãi suất cho vay tăng( tức là giá cả của đồng vốn tăng lên) làm cho chi phí sản xuất kinh doanh tăng Nếu các yếu tố khác ko đổi thì khi đó lợi nhuận giảm làm cho tỷ suất lợi nhuận biên giảm

Thứ hai: xuất phát từ phương diện cung sản phẩm cho thị trường Khi

gia tăng đầu tư và kết quả đầu tư đã đi vào hoạt động phát huy kết quả trong thực tiễn thì cung sản phẩm sẽ tăng nghĩa là có nhiều sản phẩm được cung ứng vào nền kinh tế Cung tăng dẫn đến giá sản phẩm giảm chi phí sản xuất coi như ổn định, tỷ suất lợi nhuận vốn đầu tư giảm

Khi quy mô vốn đầu tư tăng thì hiệu quả biên của vốn giảm dần nên các nhà đầu tư chỉ tiếp tục đầu tư đến khi hiệu quả biên của vốn lớn hơn lãi suất của vốn vay trên thị trường vốn Khi nào hiệu quả biên của vốn thấp hơn mức lãi suất vốn vay tức là lợi nhuận tăng thêm thấp hơn so với chi phí tăng thêm thì các nhà đầu tư sẽ ngừng việc đưa thêm vốn vào mở rộngsản xuất điểm cân bằng đạt được khi hiệu quả biên của vốn đầu tư bằng với lãi suất cho vay của ngân hàng

Theo Keynes tỷ suất lợi nhuận là đại lượng khó xác định Tuy nhiên chính điều đó lại thúc đẩy các nhà đầu tư bỏ vốn để đầu tư Lợi nhuận thu được có thể rất cao, có thể thấp, thậm chí có thể âm nên kích thích các nhàđầu tư bỏ vốn với kì vọng có thể thu được lợi nhuận cao Bên cạnh đó họ cũng phải đối mặt với những rủi ro có thể xảy ra Đó là tính hai mặt của đầu tư, chấp nhận rủi ro để thu được lợi nhuận kì vọng

1.2 Một số yếu tố ảnh hưởng đến lợi nhuận kì vọng:

- Cung cầu hàng hóa:

Cầu là lượng hàng hóa mà người tiêu dùng muốn mua và có khả năng mua tại các mức giá khác nhau trong khoảng thời gian xác định Cầu hàng

Trang 7

hóa phụ thuộc vào nhiều yếu tố Đó là thu nhập, mức sống, thói quen tiêu dùng và thị hiếu của người dân Nếu cầu tiêu dùng trên thị trường tăng thì lợi nhuận kì vọng của doanh nghiệp tăng và ngược lại.

Cung hàng hóa là lượng hàng hóa mà người sản xuất muốn bán và có khả năng bán tại những mức giá khác nhau trong khoảng thời gian xác định Trước hết nó phụ thuộc vào khả năng sản xuất của xã hội tức là khatnăng kết hợp các yếu tố đầu vào, công nghệ sản xuất bên cạnh đó là các yếu tố khác như chính sách thuế, các kỳ vọng… Khi cung hàng hóa trên thị trường tăng thì giá hàng hóa giảm xuống làm cho lợi nhuận của doanh nghiệp giảm xuống, nếu cung hàng hóa trên thị trường thấp dẫn đến giá hàng hóa tăng làm cho lợi nhuận kì vọng của doanh nghiệp tăng lên

- Mức độ rủi ro:

Một trong những đặc điểm của đầu tư phát triển là lượng vốn lớn, thời kì đầu tư kéo dài đồng nghĩa với độ rủi ro cao Rủi ro là một đặc điểm cơ bản của hoạt động đầu tư Phạm vi ảnh hưởng của rủi ro rất rộng chẳng hạn như những thay đổi không lường trước của giá cả, công nghệ Một hoạt động có mức độ rủi ro thấp thường có lợi nhuận kì vọng cao hơnhoạt động đầu tư có mức độ rủi ro cao Để giảm thiểu những tác động của rủi ro thì cần có các biện pháp quản lý rủi ro như nhận diện chính xác rủi

ro, đánh giá mức độ rủi ro và xây dựng biện pháp phòng chống rủi ro

- Các nguồn lực đầu tư vào quá trình sản xuất:

Khi quyết định đầu tư, các nhà đầu tư phải xác đinh được các yếu tố đầu vào để đảm bảo cho quá trình thực hiện đầu tư cũng như vận hành kếtquả đầu tư Việc sử dụng các yếu tố đầu vào nào, số lượng bao nhiêu và chất lượng ra sao ảnh hưởng rất nhiều đến số lượng và chất lượng sản phẩm đầu ra và ảnh hưởng đến lợi nhuận của doanh nghiệp Các yếu tố đầu vào cụ thể là:

Các điều kiện về nguồn nhân lực: số lượng và chất lượng lao động Khi xem xét nguồn nhân lực thì ta phải chú ý đến khả năng dự báo tăng dân

số, tiền lương, trình độ học vấn và văn hóa của người lao động

Nguồn vốn cho hoạt động đầu tư phát triển: khả năng huy động vốn trên thị trường tài chính và tỷ lệ phân bổ vốn cho hoạt động đầu tư

Về nguồn nguyên nhiên liệu đầu vào: phụ thuộc vào chính sách bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, các chính sách đền bù giải phóng mặt bằng, mối liên hệ giữa các ngành kinh tế…

Về trình độ công nghệ: phụ thuộc vào các quy định về chuyển giao công nghệ, khả năng nghiên cứu và tiếp thu của đội ngũ khoa học trong nước

Về cơ sở hạ tầng: phần lớn được đầu tư từ ngân sách nhà nước nên phụ thuộc vào quy hoạch vùng và nguồn ngân sách

- Thuế:

Trang 8

Thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước, vừa là công cụ tái phân phối cùa cải xã hội vừa là công cụ điều tiết phân bổ vốn giữa các ngành , vùng miền Thuế tác động đến cung cầu trên thị trường Thuế thu nhập cá nhân làm giảm thu nhập của người dân làm giảm cầu tiêu dùng, thuế còn tác động đến giá các yếu tố đầu vào làm tăng chi phí sản xuất và ảnh hưởng đến cung hàng hóa Mà cung cầu hàng hóa lại ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận kì vọng của doanh nghiệp Mặt khác, thuế thu nhập doanh nghiệp còn trực tiếp ảnh hưởng đến lợi nhuận của doanh nghiệp Vấn đề ở đây là xây dựng một chính sách thuế phù hợp Nếu ưu đãi quá mức sẽ gây thất thu ngân sách và giảm đầu tư công cộng Còn nếu thuế quá cao sẽ làm giảm khả năng cạnh tranh của các mặt hàng sản xuất trong nước và gây ra hiện tượng trốn thuế, buôn lậu.

2.Lãi suất tiền vay:

2.1 Khái niệm:

Lãi suất được hiểu theo nghĩa chung nhất là giá cả của tín dụng, giá cảcủa quan hệ vay mượn hoặc cho thuê hoặc cho thuê các dịch vụ về vốn dưới hình thức tiền tệ hoặc dưới dạng thức các tài sản khác nhau Khi đến hạn, người đi vay trả cho người cho vay một khoản tiền dôi ra ngoài số tiền vốn gọi là tiền lãi Tỷ lệ phần trăm của số tiền lãi trên số tiền vốn gọi

là lãi suất

Lãi suất là cơ sở để các cá nhân cũng như doanh nghiệp đưa ra quyết định kinh tế của mình xem đầu tư vốn của mình vào danh mục đầu tư này hay danh mục đầu tư khác

Trong điều kiện nền kinh tế thị trương hiện nay, chính sách lãi suất còn được sử dụng như một công cụ góp phần điều tiết kinh tế vĩ mô Thông qua việc thay đổi mức lãi suất và cơ cấu lãi suất trong từng thời kí nhất định, chính phủ có thể tác động đến quy mô và tỷ trọng các loại vốn đầu tư, do vậy tác động đến quá trình điều chỉnh cơ cấu;tốc độ tăng

trưởng, sản lượng, tỷ lệ thất nghiệp và tình hình lạm phát của đất nước Mặt khác, lãi suất còn góp phần điều tiết các luồng vốn đi ra và đi vào củamột nước Nếu mức lãi suất trong nước thấp hơn mức lãi suất trên thị trường vốn quốc tế trong bối cảnh mở cửa thị trường vốn thì dòng vốn đầu tư sẽ chảy ra nước ngoài, đầu tư trong nước giảm Ngược lại nếu lãi suất trong nước cao hơn thì sẽ có dòng vốn từ nước ngoài chảy vào làm tăng đầu tư trong nước

2.2 Phân biệt lãi suất thực và lãi suất danh nghĩa:

Để hiểu rõ tác động của lãi suất đến đầu tư ta cần phân biệt hai loại lãi suất: lãi suất thực và lãi suất danh nghĩa

Trang 9

Lãi suất mà các ngân hàng trả cho người gửi tiền gọi là lãi suất danh nghĩa Lãi suất danh nghĩa trước hết phụ thuộc vào cung cầu vốn vay trên thị trường Lãi suất được điều chỉnh để tạo ra sự cân bằng trên thị trường vốn Ngoài ra lãi suất cũng chịu ảnh hưởng của sự điều tiết ngân hàng nhànước thông qua chính sách tiền tệ như lãi suất cơ bản, nghiệp vụ thị

trường mở, tỉ lệ dự trữ bắt buộc, lãi suất chiết khấu

Lãi suất thực tế là lãi suất danh nghĩa sau khi đã loại trừ yếu tố lạm phát Lãi suất thực và lãi suất danh nghĩa liên hệ với nhau qua công thức:

r = (1+i)/(1+π) – 1) – 1

trong đó r: lãi suất thực

i: lãi suất danh nghĩa

π) – 1: tỷ lệ lạm phát.

Thông thường nhiều trường hợp khi tỷ lệ lạm phát nhỏ hơn 10% thì lãi suất thực và lãi suất danh nghĩa liên hệ với nhau qua công thức đơn giản:

r = i- π) – 1

Mối liên hệ giữa lãi suất thực và lãi suất danh nghĩa cho ta thấy một

xu hướng thực tế, lạm phát càng cao lãi suất thực càng nhỏ

Trong phân tích tài chính của một dự án đầu tư lãi suất được sử dụng

là lãi suất thực tế Lãi suất thực tế là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của doanh nghiệp và hộ gia đình

2.3 Mối quan hệ giữa lãi suất, tỷ suất lợi nhuận và quy mô vốn đầu tư:

a Quan hệ giữa lãi suất và quy mô vốn đầu tư:

Chủ đầu tư sẽ quyết định đầu tư khi hệ số hoàn vốn nội bộ IRR của

dự án lớn hơn lãi suất thực tế, vì vậy lãi suất càng cao càng có ít dự án đầu tư hơn, nhu cầu đầu tư giảm

Tuy nhiên nếu lãi suất càng thấp thì sẽ có nhiều dự án IRR thấp được triền khai tức là những dự án ít hiệu quả, độ rủi ro cao Khi đó nền kinh tế

có thể tăng trưởng nhanh do tổng đầu tư tăng nhưng có thể dẫn đến lạm phát cao, chính phủ buộc phải thực hiện các biện pháp kiểm soát tiền tệ Những dự án có hiệu quả thấp sẽ bị lỗ và tiếp tục vay vốn, nhiều dự án bị phá sản, nền kinh tế bị suy thoái Ngoài ra nếu lãi suất trong nước thấp hơn lãi suất thế giới thì có thể dòng vốn trong nước sẽ chảy ra nước ngoài làm cho đầu tư trong nước giảm

Mặt khác theo công thức: I=a-b×r

Trong đó: a: đầu tư tự định , b: độ nhạy của đầu tư

r: lãi suất

Trang 10

Đầu tư và lãi suất tỷ lệ nghịch với nhau Lãi suất càng tăng thì chi phí vốn vay của doanh nghiệp tăng dẫn đến lợi nhuận thực của doanh nghiệp giảm Theo lý thuyết quỹ nội bộ của đầu tư thì đầu tư tỷ lệ thuận với lợi nhuận thực của doanh nghiệp do đó khi lợi nhuận thực giảm thìđầu tư giảm Trên thực tế vẫn có nhiều doanh nghiệp vẫn quyết định tăng quy

mô vốn đầu tư khi lãi suất ở mức cao Đó là những doanh nghiệp nhận thấy nếu mở rộng quy mô sản xuất sẽ thu được lợi nhuận cao, hoặc nhữngdoanh nghiệp vừa và nhỏ sử dụng ít vốn đầu vaònên tác động của lãi suất đến quyết định đầu tư là không lớn nên vẫn quyết định đầu tư Bên cạnh

đó có những doanh nghiệp khi lãi suất thấp vẫn không tăng quy mô vốn đầu tư vì nhận thấy việc mở rộng đầu tư không mang lại nhiều lợi nhuận

và có độ rủi ro cao Vậy bất kỳ sự tăng giảm nào của lãi suất cũng luôn gây bất lợi cho nền kinh tế việc giữ cho lãi suất ổn định là yêu cầu bức thiết để tăng cơ cấu đầu tư, ổn định nền kinh tế

-Khi quy mô vốn thay đổi:

Khi quy mô vốn tăng đồng nghĩa với việc mở rộng sản xuất nhưng nếu lượng tăng không đủ lớn để tác động đến cầu vốn thì lãi suất không đổi Nếu quy mô vốn tăng đủ lớn để tác động làm đường cầu vốn vay dịchchuyển sang phải, trong khi cung vốn vay không đổi thì lãi suất tăng Trong trường hợp quy mô sản xuất lớn, hiệu quả trong sản xuất cao dẫn đến lợi nhuận tăng lên, khi đó phần tích lũy cho tái đầu tư tăng lên, giảm

áp lực vay vốn với các ngân hàng,lãi suất sẽ được điều chỉnh giảm xuống

D i

I O

Trang 11

Khi quy mô vốn giảm, cầu vốn giảm làm cho lãi suất cũng giảm xuống.

Vậy lãi suất và quy mô vốn đầu tư tác động đến nhau thông qua quan hệ cung cầu về vốn vay Trong đó, lãi suất tác động đến cung cầu qũy cho vay, còn quy mô vốn phụ thuộc vào cầu quỹ cho vay Lãi suất tăng tác động làm giảm quy mô vốn, lãi suất giảm thì quy mô vốn đầu tư lại tăng lên

b, Mối quan hệ giữa quy mô vốn và tỷ suất lợi nhuận

Như đã nêu ở phần lợi nhuận kỳ vọng thì tỷ suất lợi nhuận tăng sẽ làm tăng quy mô vốn đầu tư Tỷ suất lợi nhuận giảm làm quy mô đầu tư không tăng nữa hoặc có thể bị thu hẹp

Theo chiều ngược lại, tác động của quy mô vốn đầu tư đến tỷ suất lợinhuận là khi quy mô vốn đầu tư tăng lên thì tỷ suất lợi nhuận cũng giảm dần

c, Mối quan hệ giữa lãi suất và tỷ suất lợi nhuận:

- Tỷ suất ảnh hưởng đến lãi suất:

Tỷ suất lợi nhuận giảm làm cho quy mô vốn đầu tư giảm kéo theo nhu cầu về vốn vay giảm trong khi cung cầu về quỹ cho vay không thay đổi

Từ đó lãi suất giảm để kích thích đầu tư tăng để làm cân bằng cung cầu quỹ cho vay

Tỷ suất lợi nhuận tăng làm quy mô vốn đầu tư tăng làm cầu về quỹ chovay tăng trong khi cung cầu của quỹ cho vay không tăng kịp vì vậy để tăng cung quỹ cho vay đáp ứng sự tăng lên của cầu về vốn vay thì lãi suất phải tăng

Lãi suất ảnh hưởng tới tỷ suất lợi nhuận:

Trong ngắn hạn: tỷ suất lợi nhuận là nói đến lợi nhuận ròng sau khi

đã khấu trừ chi phí trong đó chi phí thanh toán lãi suất cho ngân hàng cũng chiếm một phần không nhỏ Do đó khi lãi suất tăng thì lợi nhuận giảm dẫn đến tỷ suất lợi nhuận giảm

Trong dài hạn lợi nhuận giảm làm cho doanh nghiệp phải thu hẹp đầu

tư làm cho cung sản phẩm trên thị trường giảm trong khi cầu về hàng hóa trên thị trường không thay đổi làm cho giá hàng hóa tăng lên Lợi nhuận tăng dẫn đến tỷ suất lợi nhuận cũng tăng Nếu hoạt động đầu tư có nhiều rủi ro hoặc vì một lý do nào đấy doanh nghiệp không mở rộng đầu tư thì

tỷ suất lợi nhuận không thay đổi

2.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến lãi suất:

- Cung cầu qũy cho vay:

Lãi suất là giá cả cho vay vì vậy bất kỳ một sự thay đổi nào của cung hoặc cầu hoặc cả cung và cầu quỹ cho vay không cùng một tỷ lệ cũng làm thay đổi lãi suất vốn vay, tuy mức biến động ít nhiều phụ thuộc vào

Trang 12

quy định của chính phủ và ngân hàng trung ương song đa số các nước có nền kinh tế thị trường đều căn cứ vào nguyên lý này để xác định lãi suất

Từ điều này cho thấy chúng ta có thể tác động vào cung cầu trên thị

trường vốn để thay lãi suất trong nền kinh tế cho phù hợp với từng thời kỳ: chẳng hạn như thay đổi cơ cấu đầu tư, tập trung vốn đầu tư cho các dự

án trọng điểm Mặt khác muốn duy trì sự ổn định của lãi suất thì sự ổn định của thị trường vốn phải được đảm bảo vững chắc

-Lạm phát kỳ vọng:

Khi lạm phát được dự đoán sẽ tăng lên trong một thời kỳ nào đó, lãi suất có xu hướng tăng Điều này có thể được giải thích bằng hai hướng tiếp cận Thứ nhất xuất phát từ mối quan hệ giữa lãi suất thực và lãi suất danh nghĩa cho thấy để duy trì lãi suất thực không đổi, tỷ lệ lạm phát tăng đòi hỏi lãi suất danh nghĩa phải tăng lên tương ứng thứ hai công chúng

dự đoán lạm phát tăng sẽ dành phần tiết kiệm của mình cho việc dự trữ hàng hóa hoặc những dạng thức tài sản phi tài chính khác như vàn ngoại

tệ mạnh hoặc đầu tư vốn ra nước ngoài nếu cố thế Tất cả điều này đều làm giảm cung quỹ cho vay và gây áp lực tăng lãi suất của các nhà băng cũng như trên thị trường điều này cho thấy tầm quan trọng của việc khắc phục tâm lý lạm phát đối với việc ổn định lãi suất, sự ổn định và tăng trưởng của nền kinh tế

- Bội chi ngân sách nhà nước:

Bội chi ngân sách nhà nước trực tiếp làm cho cầu của quỹ cho vay tăng làm tăng lãi suất Sau nữa bội chi ngân sách sẽ tác động đến tâm lý công chúng về gia tăng mức lạm phát và do vậy sẽ gây áp lực tăng lãi suất trên một giác độ khác, thông thường khi bội chi ngân sách tăng chính phủ thường gia tăng việc phát hành trái phiếu Cung trái phiếu trên thị trường tăng làm cho giá trái phiếu trên thị trường có xu hướng giảm xuống, lãi suất thị trương vì vậy mà tăng lên Hơn nữa tài sản có của các ngân hàng thương mại gia tăng ở khoản mục trái phiếu chính phủ, dự trữ vượt quá giảm, lãi suất ngân hàng cũng sẽ tăng

- Các chính sách của chính phủ:

Chính phủ có thể thông qua chính sách lãi suất để điều chỉnh cơ cấu kinh tế của một vùng miền địa phương nào đó Có thế dùng chính sách lãi suất ưu đãi để hỗ trợ các vùng miền địa phương phát triển ngành nghề kinh tế mà chính phủ mong muốn

Những thay đồi trong chính sách thuế của chính phủ cũng ảnh hưởng tới lãi suất Thuế thu nhập cá nhân và thuế lợi tức công ty ảnh hưởng đến lãi suất như ảnh hưởng của thuế đến giá cả hàng hóa Nếu các hình thức thuế này tăng lên cũng có nghĩa là điều tiết đi một phần thu nhập của cá nhân và tổ chức cung cấp dịch vụ tín dụng hay những người tham gia kinh

Trang 13

doanh chứng khoán Thông thường ai cũng quan tâm đến thu nhập thực

tế, lợi nhuận sau thuế hơn là thu nhập danh nghĩa Do vậy để duy trì một mức lãi suất nhất định thì phải cộng thêm vào lãi suất cho vay những thay đồi về thuế

- Những thay đổi về đời sống xã hội:

Sự thay đổi của lãi suất còn chịu nhiều ảnh hưởng của các yếu tố về đời sống xã hội Đó là sự phát triển của thị trường tài chính với các công

cụ tài chính đa dạng phong phú, độ phát triển của các tổ chức tài chính trung gian bên cạnh đó là sự cạnh tranh trong hoạt động cung cấp dịch vụ của các tổ chức này, hiệu suất sử dụng vốn hay tỷ suất đầu tư cận biên trong nền kinh tế trong các thời kỳ khác nhau do sự thay đổi công nghệ vàphát triển mạng tính chu kỳ của nền kinh tế cũng tác động đến sự thay đổilãi suất thêm nữa là tình hình về kinh tế chính trị cũng như những biến động về tài chính quốc tế… đều ít nhiều tác động đến sự thay đổi lãi suất của các nước khác

3.Sản lượng quốc gia:

3.1.Khái niệm:

Sản lượng quốc gia hay tổng sản phẩm trong nước là giá trị của tất cả hàng hóa và dịch vụ cuối cùng được sản xuất trên lãnh thổ quốc gia trong một thời kỳ nhất định

GDP được chia thành bốn thành tố bao gồm tiêu dùng, đầu tư, chi tiêuchính phủ mua hàng hóa dịch vụ và xuất khẩu ròng:

Hơn nữa khi GDP tăng sẽ tạo tâm lý lạc quan trong dân chúng Người dân lạc quan vào thu nhập trong tương lai nên tiếp tục tăng chi tiêu, các doanh nghiệp tin tưởng vào triển vọng của nền kinh tế nên sẽ gia tăng đầu

tư, mở rộng sản xuất Quá trình này sẽ tạo ra hiệu ứng số nhân tức là từ một sư gia tăng của sản lượng sẽ dẫn đến sự tăng lên nhiều lần của đầu tư

và sản lượng Công thức của số nhân đầu tư:

m = Y/I

Trang 14

số nhân đầu tư biểu diễn mối quan hệ giữa mức gia tăng sản lượng và gia tăng đầu tư.

-Nguyên tắc gia tốc đầu tư

Tốc độ tăng sản lượng và tốc độ tăng vốn không giống nhau, theo lý thuyết này để sản xuất ra một lượng đầu ra cho trước cần có một lượng vốn đầu tư nhất định Tương quan giữa sản lượng và vốn đầu tư có thể

được biều diễn theo công thức: x= K/Y suy ra: K=x*Y.

Trong đó K: vốn đầu tư tại thời kỳ nghiên cứu

Y: sản lượng tại thời kỳ nghiên cứu

x: hệ số gia tốc đầu tư.

Như vậy nếu x không đổi thì khi quy mô sản lượng sản xuất tăng dẫn

đến nhu cầu về vốn đầu tư tăng và ngược lại Sản lượng phải tăng liên tụcthì đầu tư mới có thể tăng với cùng tốc độ hoặc không đổi so với thời kỳ trước

* Đặc điểm của lí thuyết gia tốc đầu tư:

- Phản ánh quan hệ giữa sản lượng với đầu tư Nếu x không đổi trong kì

kế hoạch thì có thể sử dụng công thức để lập kế hoạch khá chính xác

- Phản ánh sự tác động của tăng trưởng kinh tế đến đầu tứ Khi kinh tế tăng trưởng cao, sản lượng nền kinh tế tăng , cơ hội kinh doanh lớn, dẫn đến tiết kiệm tăng cao và đầu tư tăng nhiều

4.Chu kì kinh doanh:

4.1.Khái niệm chu kỳ kinh doanh:

Chu kỳ kinh doanh là sự biến động của GDP thực tế theo trình tự ba

pha: suy thoái, phục hồi và hưng thịnh Nói cách khác đó là sự biến động của nền kinh tế quanh xu thế tăng trưởng dài hạn bao gồm cả thời kỳ tăng trưởng nhanh và thời kỳ suy thoái của nền kinh tế

Suy thoái là pha mà GDP thực tế giảm đi Ở Mỹ và Nhật Bản, quy định nếu tốc độ tăng trưởng mang giá trị âm hai quý liên tiếp thì gọi là suy thoái

Phục hổi là pha trong đó GDP thực tế tăng trở lại bằng với mức trước khi xảy ra suy thoái Điểm ngoặt giữa pha suy thoái và phục hồi là đáy của chu kỳ kinh tế

Khi GDP thực tế tiếp tục tăng và cao hơn trước khi xảy ra suy thoái thì nền kinh tế đang ở giai đoạn hưng thịnh Kết thúc pha hưng thịnh lại bắt đầu một pha suy thoái mới Điểm ngoặt giữa pha hưng thịnh và suy thoái

là đỉnh của chu kỳ kinh tế

Trang 15

4.2.Tác động của chu kỳ kinh doanh đến chi tiêu đầu tư:

Chu kỳ kinh doanh tác động gián tiếp đến quyết định đầu tư của doanh nghiệp thông qua lợi nhuận kỳ vọng

-Khi nền kinh tế đang đi lên thì đầu tư tăng Theo lý thuyết tính kinh tế của quy mô, trong những điều kiện nhất định thì việc gia tăng quy mô sản lượng sản xuất có thể giúp chủ đầu tư tiết kiệm được chi phí sản xuất, họ tin rằng lợi nhuận có thể tăng cao, gia tăng đầu tư

Mặt khác khi chu kỳ kinh doanh đang đi lên thì quy mô của nền kinh tế

mở rộng làm nhu cầu đầu tư của toàn bộ nền kinh tế cũng như các doanh nghiệp và cá nhân, tổ chức cũng tăng lên Ngược lại khi chu kỳ kinh doanh đi xuống thì quy mô nền kinh tế thu hẹp, các doanh nghiệp không muốn chi tiêu đầu tư vì họ dự kiến cầu thị trường sụt giảm mạnh, sản phẩm thiếu đầu ra, lợi nhuận kỳ vọng thấp, thậm chí có thể âm( thua lỗ)Khi nền kinh tế đi xuống thì tồng đầu tư giảm nhưng xét từng nhà đầu tư chưa chắc đã giảm Không phải lúc nào sự tăng, giảm chi tiêu của các doanh nghiệp cũng thuận chiều với xu hướng lên xuống của chu kỳ kinh

tế của toàn bộ nền kinh tế Bởi vì nên kinh tế suy thoái nhưng doanh nghiệp vẫn đầu tư phát triển sản phẩm mới thay thế sản phẩm cũ vì sản

Trang 16

phẩm cũ đã mất chỗ đứng trên thị trường hoặc sản phẩm cũ đã kết thúc một chu kỳ sống của nó Hoặc cũng có một số doanh nghiệp đầu tư vào các thị trường ngoài nước khi nền kinh tế trong nước đang trên đà đi xuống.

5 Đầu tư nhà nước:

5.1 Khái niệm đầu tư nhà nước:

Trong đầu tư xã hội có đầu tư nhà nước và đầu tư của doanh nghiệp hay

nói cách khác, đầu tư nhà nước là một bộ phân của đầu tư xã hội Nó bao gồm đầu tư từ ngân sách nhà nước (NSNN), đầu tư từ nguồn vốn tín dụng phát triển của nhà nước và đầu tư của các doanh nghiệp nhà nước

5.2.Vai trò của đầu tư nhà nước đối với chi đầu tư:

Đầu tư nhà nước là một hoạt động cơ bản trong chi đầu tư, nguồn vốn từ hoạt động này cũng có ý nghĩa quan trọng đối với đầu tư phát triển Các

dự án đầu tư từ nguồn vốn của nhà nước thường không nhằm mục đích thu lợi mà có tác dụng trợ giúp, điều tiết, định hướng cho đầu tư của toàn

xã hội Cụ thể đó là cải thiện cơ sở hạ tầng cho đất nước, xây dựng và phát triển các khu công nghiệp, khu chế xuất, phát triển các vùng nguyên liêu để tạo điều kiện phát triển kinh tế

Đầu tư từ NSNN là nguồn đầu tư quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế – xã hội của quốc gia Nguồn lực này thường được sử dụng cho các dự án kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh, hỗ trợ các

dự án của doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực cần sự tham gia của nhà nước, chi cho công tác lập và thực hiện các dự án quy hoạch tổng thể pháttriển kinh tế xã hội vùng, lãnh thổ, quy hoạch xây dựng đô thị và nông thôn Nguồn chi này có thể tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động chi đầu tư khác vì nó giúp cải thiện môi trường đầu tư và đồng thời là nguồn chi không thể thiếu của mỗi quốc gia Tuy nhiên, nếu hoạt động chi

NSNN không hợp lý, sai mục đích, thất thoát sẽ gây ra thâm hụt ngân sách nhà nước, ảnh hưởng xấu đến nền kinh tế

Nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước có tác dụng tích cực trong việc giảm đáng kể bao cấp vốn trực tiếp của nhà nước Bên cạnh đó,nguồn vốn này còn phục vụ công tác quản lý và điều tiết kinh tế vĩ mô Việc phân bổ và sử dụng vốn tín dụng đầu tư còn khuyến khích phát triển kinh tế – xã hội, chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Ở nước ta hiện nay, các doanh nghiệp nhà nước vẫn chiếm vai trò chủ đạo trong nền kinh tế, nguồn vốn của doanh nghiệp nhà nước chiếm tỉ trọng lớn trong tổng vốn đầu tư của toàn xã hôi Đầu tư từ các doanh nghiệp này góp phần rất lớn cho sự phát triển kinh tế từ việc kết hợp với

Trang 17

các doanh nghiệp tư nhân thực hiện các hoạt động đầu tư Tuy nhiên trongmột số trường hợp đầu tư nhà nước lấn át đầu tư tư nhân như cạnh tranh không công bằng, hạn chế sự phát triển của một số doanh nghiệp tư nhân Nhìn chung, nếu đầu tư nhà nước được thực hiện một cách hợp lý, đúng hướng có thể góp phần làm tăng hiệu quả chi đầu tư, phát triển kinh tê –

xã hội

6 Môi trường đầu tư:

Môi trường đầu tư như một chất xúc tác ban đầu cho quyết định của nhàđầu tư Sự cải thiện môi trường đầu tư có quyết định vô cùng quan trọng đối với chi đầu tư và nền kinh tế Nếu môi trương đầu tư thuận lợi có thể tăng chi đầu tư và tổng đầu tư của toàn xã hội

Trong môi trường đầu tư có nhiều yếu tố, cụ thể là: Cơ sở hạ tầng kĩ thuật của xã hội; môi trường chính trị; hệ thống chính sách của nhà nước

và môi trường luật pháp, hệ thống pháp lý liên quan đến hoạt động đầu tư

6.1.Cơ sở hạ tầng kĩ thuật của xã hội:

Cơ sở hạ tầng ở đây mang tính xúc tác cho hoạt động đầu tư, tạo điều kiện cho kinh tế xã hội phát triển Những quốc gia có cơ sở hạ tầng phát triển sẽ thúc đẩy các nhà đầu tư tích cực đầu tư sản xuất, làm tăng chi cho đầu tư

6.2 Môi trường chính trị:

Là nhân tố vô cùng quan trọng của môi trường đầu tư Ổn định chính trị

sẽ tạo ra sự ổn định về kinh tế xã hội và giảm bớt độ rủi ro cho nhà đầu tư

Từ đó khuyến khích các nhà đầu tư bỏ vốn thực hiện hoạt động của mình, đặc biệt đối với nhà đầu tư nước ngoài, ổn định chính trị là một yếu tố hàng đầu trong việc ra quyết định đầu tư vào một quốc gia khác

6.3 Môi trường luật pháp:

Quá trình đầu tư liên quan đến nhiều lĩnh vực hoạt động trong một thời gian dài, nên một môi trường pháp lý ổn định và có hiệu lực là một yếu tố quan trọng để quản lý và thực hiện đầu tư một cách có hiệu quả Môi trường này bao gồm các chính sách, quy định, luật cần thiết đảm bảo sự nhất quán, không mâu thuẫn,chồng chéo nhau và có hiệu lực cao Những chính sách cụ thể ảnh hưởng tới chi đầu tư là:

- Chính sách sở hữu: Mục đích là kiểm soát các hoạt động của các nhà đầu tư, khống chế một mức vốn sở hữu đối với từng nhà đầu tư

- Chính sách thuế: bao gồm các nội dung liên quan đến các loại thuế, mức thuế, thời gian miễn giảm thuế, thời gian khấu hao và các điều kiện

ưu đãi đầu tư khác

Trang 18

- Chính sách lệ phí: quy định về các khoản tiền phải nộp như phí dịch vụcấp giấy phép, dịch vụ cơ sở hạ tầng

- Chính sách quản lý ngoại hối: bao gồm các quy định về mở tài khoản ngoại tệ, tỷ giá hối đoái, chuyển ngoại tệ ra nước ngoài Những quy định này có ảnh hương lớn tới nhà đầu tư nước ngoài

-Quản lý hoạt động đầu tư: trong quá trình hình thành và triển khai dự án đầu tư, chủ đầu tư phải chịu sự quản lý của các cơ quan có thẩm quyền từ khâu cấp giấy phép, thẩm định dự án đến quản lý thực hiện dự án

- Ngoài những chính sách trên còn có những chính sách khác mà nhà đầu

tư cần xem xét khi đưa ra quyết định đầu tư như:

Chính sách về công nghệ

Chính sách về bảo vệ môi trường

Chính sách về lao động, tiền lương

Chính sách về việc sử dụng các nguồn tài nguyên

7 Lợi nhuận thực tế:

Liên quan đến mối quan hệ giữa đầu tư và lợi nhuận thực tế ta có thể xem xét đến lí thuyết quỹ đầu tư nội bộ, thể hiện qua phương trình

I = f (lợi nhuận thực tế)

Do đó dự án nào đem lại lợi nhuận cao sẽ được lựa chọn Vì lợi nhuận cao, thu nhập giữ lại cho đầu tư sẽ lớn và mức đầu tư sẽ cao hơn Nguồn vốn có thể huy động cho đầu tư bao gồm: lợi nhuận giữ lại, tiền trích khấu hao, đi vay các loại trong đó bao gồm cả việc phát hành trái phiếu và bán cổ phiếu Lợi nhuận giữ lại và tiền trích khấu hao tài sản là nguồn vốn nội bộ của doanh nghiệp, còn đi vay và phát hành trái phiếu, bán cổ phiếu là nguồn vốn huy động từ bên ngoài Vay mượn thì phải trả

nơ, trường hợp nền kinh tế lâm vào tình trạng suy thoái, doanh nghiệp có thể không trả được nợ và lâm vào phá sản Do đó việc đi vay khôn phải là hấp dẫn, trừ khi có ưu đãi Cũng tương tự, việc tăng vốn đầu tư bằng phát hành trái phiếu cũng không phải là biện pháp hấp dẫn, còn bán cổ phiếu

để tài trợ cho đầu tư chỉ được các doanh nghiệp áp dụng khi hiệu quả của dựa án đầu tư là rõ ràng và thu nhập do dự án đem lại trong tương lai sẽ lớn hơn chi phí đã bỏ ra

Chính vì vậy, theo lí thuyết quỹ đầu tư nội bộ thì doanh nghiệp thườngchọn biện pháp tài trợ cho đầu tư từ các nguồn vốn nội bộ và chính sự gia tăng của lợi nhuận sẽ làm cho mức đầu tư của doanh nghiệp lớn hơn Mục đích cuối cùng mà nhà đầu tư hướng tới là thu lợi nhuận Trước khi quyết định thực hiện hoạt động đầu tư của mình, nhà đầu tư phải phân tích, xem xét khả năng thu lợi nhuận của dự án rồi mới thực hiện đầu tư

Trang 19

8 Các nhân tố vĩ mô khác:

Không trực tiếp can thiệp vào nên kinh tế, nhà nước điều tiết sản lượng

của nền kinh tế gián tiếp thông qua 2 chính sách vĩ mô là chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ, từ thay tác động tới chi tiên đầu tư

- Chính sách tài khoá: là chính sách của chính phủ nhằm tác động tới tổng cầu và sản lượng của nền kinh tế, thông qua hai công cụ là thuế và chi tiêu của chính phủ

Chính sách thuế có tác động rất lớn đến chi đầu tư Đối với những lĩnh vực cần khuyến khích đầu tư, nhà nước có thể giảm mức thuế đầu tư để thu hút các nhà đầu tư Mặt khác đối với những lĩnh vực cần hạn chế, nhà nước sẽ đưa ra chính sách thuế khắt khe hơn Thuế cũng là nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước, là nguồn vốn đầu tư nhà nước vô cung quan trọng Tùy thuộc điều kiện cụ thể mà nhà nước sẽ đưa ra chính sách tài khóa thắt chặt hoặc mở rộng Chính sách tài khóa mở rộng là chính sách tài khóa nhằm kích thích tổng cầu và tăng sản lượng cân bằng thông qua việc tăng chi tiêu chính phủ hoặc giảm thuế Mặt khác việc tăng thuế hoặcgiảm chi tiêu chính phủ để cắt giảm tổng cầu được gọi là chính sách tài khóa thắt chặt

Chính sách thuế thay đổi cũng tác động đến lợi nhuận kì vọng, từ đó ảnh

hưởng đến chi đầu tư

- Chính sách tiền tệ: Nhằm điều tiết cung tiền tệ thông qua các chính sách như: chính sách lãi suất, chính sách tỉ giá, nghiệp vụ thị trường mở Cũng như chính sách tài khóa, chính sách tiền tệ có chính sách tiền

tệ mở rộng và chính sách tiền tệ thắt chặt Khi cần giảm lượng tiền cung ứng, ngân hàng trung ương thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt, ngược lại, khi cần tăng lượng tiền cung ứng, ngân hàng nhà nước thực hiện các chính sách tiền tệ mở rộng Keynes lập luận rằng khi nền kinh tế lâm vào khủng hoảng, chính sách tiền tệ tương đối ít hiệu quả hơn Hơn nữa khi kinh tế khủng hoảng hay các nhà đầu tư bi quan về triển vọng kinh tế trong tương lai, lãi suất cần giảm để khuyến khích các doanh nghiệp đầu

tư nhiều hơn

Mặt khác, khi chính phủ thay đổi tỉ giá cũng làm ảnh hưởng đến nhiều hoạt động đầu tư, đặc biệt là các nhà đầu tư nước ngoài Trước khi đầu tư vào một nước, các nhà đầu tư nước ngoài sẽ xem xét tỉ giá, giá trị đồng tiền của quốc gia đó, kết hợp với nhiều yếu tố khác nữa rồi mới đưa ra quyết định đầu tư

III Kích cầu đầu tư:

Trang 20

1 Khái niệm:

Kích cầu là một giải pháp nhằm kích thích, khuyến khích tiêu dùng với mục tiêu làm tăng tổng cầu, tổng cung hàng hóa xã hội, thúc đẩy sản xuất phát triển

Kích cầu đầu tư là tổng hợp tất cả các biện pháp chính sách, các công cụ pháp lý được sử dụng một cách có hệ thống và đồng bộ nhằm thu hút ngày càng nhiều vốn đầu tư để đáp ứng nhu cầu tăng trưởng phát triển kinh tế xã hội trong một giai đoạn hay thời kì nhất định

Theo lý thuyết của keynes, thành phần của tổng cầu bao gồm:

AD = C + I+ G + NX

Trong đó:

C -chi tiêu của hộ gia đình

I - đầu tư của tư nhân

G- chi tiêu của chính phủ, trong đó có chi thường xuyên và chi cho đầu tư phát triển

NX- xuất khẩu ròng

Như vậy, theo lý thuyết của keynes, kích cầu tức là phải làm tăng sản lượng và mức nhân dụng, làm tăng nhu cầu đầu tư của tư nhân và chính phủ

2 Ý nghĩa của kích cầu đầu tư:

Kích cầu đầu tư có vai trò vô cùng quan trọng đối với mỗi quốc gia, đặc biệt là ở các nước đang phát triển Các nước đang phát triển thường có đặc điểm là thu nhập thấp, trình độ công nghệ lạc hậu, năng suất thấp bởi vậy cần có biện pháp kích cầu để thúc đẩy kinh tế xã hội phát triển

Nếu có biện pháp kích cầu đầu tư thích hợp sẽ làm tăng nhu cầu đầu tư, tăng lượng vốn đầu tư toàn xã hội, từ đó làm tăng tổng cung Vốn đầu tư được sử dụng hiệu quả sẽ có tác động đến tăng trưởng kinh tế, góp phần chuyển dịch cơ cấu theo ngành, vùng lãnh thổ và theo thành phần kinh tế Đầu tư nước ngoài còn thu hút khoa học công nghệ hiện đại, làm thay đổi

bộ mặt của toàn bộ nền kinh tế, cải thiện các vấn đề xã hội Như vậy kích cầu đầu tư có tác dụng rất quan trọng ở mỗi quốc gia và mang tính tất yếu trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội dài hạn Vai trò cụ thể của kích cầu:

-Giúp hoàn thiện và nâng cao kết cấu hạ tầng xã hội

-Nâng cao trình độ của nguồn nhân lực

-Nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế

-Đạt mục tiêu tăng trưởng và phát triển kinh tế đất nước

Trang 21

3 Các biện pháp kích cầu đầu tư:

Theo quan điểm của keynes, để kích cầu đầu tư chính phủ có thể tác động vào nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến nhu cầu đầu tư là lãi suất, bên cạnh đó là các nhân tố tác động gián tiếp nhưng không kém phần quan trọng như thuế, chi phí sản xuất, môi trường đầu tư Sau đây là các biện pháp cụ thể để kích cầu đầu tư

- Khi chính phủ thực hiện giảm lãi suất thì đầu tư tăng

- Thông qua nghiệp vụ thị trường mở: khi NHTW mua trái phiếu trên thịtrường, cung tiền tăng làm giảm lãi suất, đầu tư tăng

- NHTW giảm tỉ lệ dự trữ bắt buộc đối với ngân hàng thương

mại(NHTM): khi đó, NHTM sẽ dự trữ ít hơn và cho vay nhiều hơn, cung tiền tăng và đầu tư tăng

-NHTW giảm lãi suất chiết khấu: lãi suất chiết khấu là lãi suất mà

NHTM vay tiền từ NHTW Khi lãi suất chiết khấu giảm, NHTM sẽ tin tưởng vào khả năng trả nợ của mình trong tương lai nhờ vay tiền từ

NHTW nên sẽ cho vay nhiều hơn, làm cung tiền tăng, đầu tư tăng

3.2 Chính sách thuế:

Khi thuế tăng, lợi nhuận của doanh nghiệp sẽ giảm do chi phí tăng Do

đó, để kích cầu, chính phủ cần giảm thuế, đặc biệt là thuế doanh nghiệp Các chính sách cụ thể có thể áp dụng như:

Trang 22

Khi tỉ giá giữa đồng ngoại tệ và đồng nội tệ tăng, đồng ngoại tệ sẽ đắt hơn tương đối so với đồng nội tệ, khi ấy sẽ thu hút nhiều nhà đầu tư nước ngoài hơn.

3.4 Đầu tư nhà nước:

Cần thực hiện đầu tư nhà nước một cách có hiệu quả, đúng hướng để hỗ trợ kinh tế phát triển Đặc biệt là đối với các nước đang phát triển, tiến hành đầu tư công nhằm nâng cao điều kiện cơ sở vật chất kĩ thuật là nhân

tố không thể thiếu để kích cầu đầu tư

Chi phí để đầu tư cho xây dựng cơ sở hạ tầng là rất lớn, vì vậy khi đâu

tư, đặc biệt là các nhà đầu tư nước ngoài luôn quan tâm đến chất lượng cơ

sở hạ tầng – điều quyết định hiệu quả đầu tư của ho

Ngoài việc đầu tư vào cơ sở hạ tầng của xã hội, nhà nước cũng cần chú ýđầu tư xây dựng những khu vực đặc biệt như khu chế suất, khu công nghiệp, khu công nghệ cao Khu chế xuất là khu vực địa lý được khoanh vùng với các quy chế đặc biệt là tách khỏi các quy định về thuế

quan,thương mại của một nước Khu công nghiệp là khu vực địa lý được phân chia và phát triển một cách có hệ thống theo một kế hoạch tổng thể nhằm cung cấp các dịch vụ kĩ thuật càn thiết Khu công nghệ cao là nhữngkhu nhằm thu hút các nhà đầu tư nước ngoài vào những lĩnh vực sử dụng công nghệ hiện đại Nói chung, để kích cầu đầu tư thì một biên pháp là sử dụng đầu tư công một cách hiệu quả để cung cấp một môi trường đầu tư tốt nhất cung với các điều kiện ưu đãi cho nhà đầu tư

3.5 Các biện pháp phát triển thị trường tài chính:

Hiện nay có rất nhiều nguồn lục của xã hôi vẫn chưa được sử dụng hoặc

sử dụng không đúng cách, không mang lại hiệu quả cao Bởi vậy, cần tạo

ra nhiều kênh huy động vốn để tập trung nguồn lực của toàn xã hội cho đầu tư

Bên cạnh đó cũng cân chú trọng công tác thẩm định và quản lý sử dụng vốn nhằm đảm bảo hiệu quả của các dự án đầu tư

3.6 Xúc tiến đầu tư nước ngoài, tìm kiếm thị trường mới:

Xúc tiến đầu tư là các hoạt động nhằm giới thiệu, quảng cáo cơ hội đầu

tư và hỗ trợ đầu tư Các hoạt động này do các quan chưc chính phủ, các nhà khoa học, các tổ chức, các doanh nghiệp thực hiện dưới nhiều hìnhthức như tổ chức các hội thảo khoa học, các chuyến viếng thăm ngoại giao cấp chính phủ, diễn đàn đầu tư, tham khảo, quan sát và thông qua các phương tiện thông tin, xây dựng các mạng lưới văn phòng đại diện ở nước ngoài

Một môi trường đầu tư tốt nhưng nếu ít được thế giới biết đến hoặc biết không đầy đủ, sai lệch thì cũng kém thu hút các nhà đầu tư Thông qua

Trang 23

xúc tiến, ta cũng có thể tìm kiếm dược những thị trường mới để tăng cầu đầu tư.

3.7 Kiềm chế lạm phát, bình ổn giá cả:

Trong một nền kinh tế có lạm phát thì dù kinh tế có tăng trưởng cao, thu

nhập quốc dân cao thì cũng chưa chắc mang lại mức sống cao hơn cho người dân Hơn nữa trong điều kiện nền kinh tế có lạm phát thì tích lũy của nền kinh tế sẽ không đủ cho đầu tư và hoạt động đầu tư cũng khó mang lại hiệu quả

Bởi vậy, nhà nước cần có biện pháp để kiểm soát lạm phát, bình ổn giá

cả để tạo tâm lý an tâm cho nhà đầu tư khi tham gia đầu tư

3.8 Hệ thống chính sách pháp luật của nhà nước:

Một môi trường có tính pháp lý ổn định sẽ thu hút được nhiều nhà đầu tư

hơn Vì vậy, để kích cầu đầu tư cần tạo dựng một môi trường luật pháp đảm bảo sự nhất quán, không mâu thuẫn, chồng chéo và có tính hiệu lực cao

Đồng thời, trong giai đoạn toàn cầu hóa như hiện nay, nhà nước cần điềuchỉnh chính sách pháp luật cho phù hợp với môi trường quốc tế

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ VÀ TÌNH HÌNH KÍCH CẦU ĐẦU TƯ Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2000 ĐẾN NAY.

I Thực trạng đầu tư ở Việt Nam

1 Đầu tư trong nước

1.1 Đầu tư nhà nước

Nguồn vốn đầu tư nhà nước bao gồm : nguồn vốn của ngân sách nhà nước, nguồn vốn tín dụng đi vay đầu tư phát triển của nhà nước và nguồn vốn đầu tư phát triển của doanh nghiệp nhà nước

Thực hiện mục tiêu phục hồi tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt mức cao hơn năm 2009, nhiều dự án, công trình trọng điểm năm 2010 đã được các cấp, các ngành tập trung chỉ đạo quyết liệt, đẩy nhanh tiến độ nhằm sớm hoàn thành kế hoạch đề ra Bên cạnh đó, hoạt động đầu tư xây dựng của các địaphương trên cả nước cũng phát triển khá mạnh nên giá trị sản xuất xây dựng năm 2010 theo giá thực tế ước tính đạt 545,2 nghìn tỷ đồng, tăng 23,1% so với năm trước, trong đó khu vực nhà nước đạt 184,7 nghìn tỷ đồng, tăng 23,4%; khu vực ngoài nhà nước và loại hình khác đạt 345,5 nghìn tỷ đồng, tăng 23,0%; khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đạt 15 nghìn tỷ đồng, tăng 22,7%

Trang 24

Tổng vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện năm 2010 theo giá thực tế ước tính

đạt 830,3 nghìn tỷ đồng, tăng 17,1% so với năm 2009 và bằng 41,9%

GDP, trong đó có 1980 tỷ đồng từ nguồn ngân sách trung ương và 4487,5

tỷ đồng từ nguồn vốn trái phiếu Chính phủ được Thủ tướng cho phép ứng

trước để bổ sung và đẩy nhanh tiến độ thực hiện một số dự án quan trọng

hoàn thành trong năm 2010 Trong tổng vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện

năm nay, vốn khu vực Nhà nước là 316,3 nghìn tỷ đồng, chiếm 38,1%

tổng vốn và tăng 10%; khu vực ngoài Nhà nước 299,5 nghìn tỷ đồng,

chiếm 36,1% và tăng 24,7%; khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

214,5 nghìn tỷ đồng, chiếm 25,8% và tăng 18,4%

Nghìn

tỷ đồng

Cơ cấu (%)

So với năm

2009 (%)

Khu vực ngoài Nhà nước 299,5 36,1 124,7

Khu vực có vốn đầu tư trực tiếp

Vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện năm 2010

Vốn đầu tư từ khu vực nhà nước luôn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng vốn

đầu tư toàn xã hội, và luôn có sự tăng trưởng cao trong các năm Xét về

cơ cấu, vốn ngân sách chiếm khoảng 50% tổng vốn đầu tư từ khu vực nhà

nước, còn 50% là từ các nguồn vốn tín dụng, các doanh nghiệp Nhà nước

Đầu tư vốn nhà nước

316,300 287,435

209,031 197,989

185,102 161,635

139,831 126,558

114,738 101,973

89,417

0 50000

Trang 25

Trong một báo cáo gần đây, Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho biết, tổng chi ngân sách cho đầu tư phát triển chung trong giai đoạn 2001-2010 khoảng

60 tỷ USD, chiếm khoảng 8,4% so với GDP

Giai đoạn 10 năm tới, nhu cầu này tiếp tục tăng lên Theo tính toán của Chính phủ, từ nay đến năm 2020, nhu cầu vốn cho cơ sở hạ tầng của Việt Nam chiếm 10-11% GDP Cụ thể hơn, trong vòng 5 năm tới, nước ta sẽ cần khoảng 70-80 tỷ USD để đầu tư cho lĩnh vực này

So với GDP và ngân sách của Việt Nam thì đây là một sự quá sức Lãnh đạo Bộ Tài chính, trong các diễn đàn đầu tư, cũng đã nhiều lần thừa nhân,với với điều kiện tài chính hiện tại thì nguồn vốn của Chính phủ khó có thể đáp ứng hết được nhu cầu cho đầu tư cơ sở hạ tầng Và rõ ràng, khôngthể chỉ trông chờ vào nguồn vốn của Chính phủ để phát triển cơ sở hạ tầng như mong muốn, mà cần có sự tham gia mạnh mẽ hơn của khu vực

tư nhân

Trong những năm qua, đầu tư cho hạ tầng đã được Chính phủ rất chú trọng, hay đúng hơn, Chính phủ đầu tư với gánh nặng đang vượt quá sức mình Hàng năm, ngoài nguồn từ ngân sách xuất ra, phần thiếu còn lại trông chờ nhiều vào hai nguồn đi vay Vay trong nước bằng trái phiếu và vay nước ngoài thông qua vốn ODA và vay trái phiếu quốc tế Điều này

Đầu tư vốn nhà nước

316,300 287,435

209,031 197,989

185,102 161,635

139,831 126,558 114,738

101,973 89,417

Trang 26

khiến cho số nợ quốc gia của Việt Nam dù vẫn ở trong ngưỡng an toàn

nhưng đã xấp xỉ ngưỡng cảnh báo an toàn

Vốn đầu tư của khu vực kinh tế NN phân theo nguồn vốn

Vốn ngân sách nhà nước Vốn vay Vốn của các DNNN

Dù đã xoay đủ mọi cách, nhưng một thực tế đau đầu là chúng ta liên

tục thiếu vốn cho các công trình hạ tầng quan trọng Một trong những ví

dụ điển hình là việc thiếu vốn cho nhiều công trình nguồn điện của đất

nước Hàng chục dự án điện bị chậm với một nguyên nhân liên tục

được nêu lên là thiếu vốn Bên cạnh đó, một vẫn nạn lớn của các dự án

giao thông là bị chậm tiến độ cũng được đổ cho thiếu vốn

Thậm chí, hiện nay, Việt Nam đang rất thiếu các cảng lớn để thức đẩy

lưu thông hàng hóa Chúng ta đã tính đến những phương án lớn như: cảng

Lạch Huyện ở Hải Phòng; Vân Phong ở Khánh Hòa Song, việc triển

khai đến nay vẫn rất khó khăn mà nguyên nhân chính bắt đầu từ câu

chuyện vốn

Bên cạnh đó, một nỗi khổ lớn của DN chính là của DN chính là hệ thống

đường bộ xuyên quốc gia đã quá tải và xuống cấp so với nhu cầu ngày

càng phát triển, nhưng việc đầu tư mở rộng và nâng cấp sẽ gặp khó khăn

vì thiếu vốn

Trong khi đó, nguồn vốn vay cả trong và ngoài nước ngày càng khó

khăn Huy động trái phiếu chính phủ trong nước đang gặp khó khăn khi

hai năm gần đây khi lượng huy động vốn tăng lên nhưng không phải lúc

Trang 27

nào cũng có được số lượng như mong muốn Không những thế, việc nhà nước huy động vốn thông qua trái phiếu đã ảnh hưởng đến nguồn vốn chung của xã hội, khiến cho một số kênh huy động khác bị ảnh hưởng như đã từng xảy ra trong 2010.

Còn đối với ODA không chỉ Việt Nam đang tiến tới ngưỡng an toàn cho phép mà nguồn vay ưu đãi này đang ngày càng co hẹp lại khi Việt Nam được công nhận là một nước co thu nhập trung bình Chúng ta buộc phải

đi vay thương mại với chi phí cao hơn và điều kiện khắt khe hơn Dù vay bằng nguồn nào và theo cơ chế nào thì tất cả đều là món nợ quốc gia mà ngân sách buộc phải trả trong tương lai Đó là gánh nặng cho ngân sách quốc gia vốn đã eo hẹp lại đang bị chia sẻ bởi nhiều nhu cầu như hiện nay

Tuy nhiên một thực tế là năm gần đây, việc sử dụng vốn ngân sách trong các dự án đầu tư hay vi phạm các quy định về đầu tư công, chậm trễ về tiến độ, bố trí vốn không đúng quy định, giải ngân vốn chậm khiến cho tình trạng đầu tư manh mún, dàn trải, kém hiệu quả xảy ra chủ yếu trong lĩnh vực này, gây ảnh hưởng không tốt đến kết quả và kế hoạch phát triển chung của đất nước

Vừa qua, một loạt biện pháp nhằm cắt giảm chi tiêu công đã được Chínhphủ đề ra: rà soát toàn bộ các công trình, dự án đầu tư năm 2011 - vốn được nuôi nấng nhờ "bầu sữa mẹ"; xác định đúng địa chỉ các công trình,

dự án cần ngừng, đình hoãn, giãn tiến độ thực hiện trong năm

Chính phủ cũng sẽ rà lại danh mục đầu tư của các tập đoàn, tổng công ty nhà nước để xóa bớt các dự án đầu tư kém hiệu quả, dàn trải Các công trình, dự án mới không thật sự cấp thiết xin tạm thời "nghỉ ngơi"

Ngay sau đó, Bộ Kế hoạch - Đầu tư đã làm việc với các Bộ ngành, địa phương để cụ thể hóa chủ trương chi tiêu công hợp lý, đúng mực, đúng chỗ, tiết kiệm

Lần này, Chính phủ đã hạ quyết tâm triển khai các giải pháp trên khi 9 đoàn kiểm tra lập tức đồng loạt ra "ra quân" thực hiện yêu cầu trên của Thủ tướng

Có lẽ, Chính phủ sáng suốt đã nhìn thấy nguy cơ từ việc đầu tư ồ ạt, mỗi năm một nhiều lên, thậm chí phải bảo lãnh vay trong, ngoài nước để phục

vụ các dự án đầu tư công

Có lẽ, những bài học thấm thía về sự đầu tư ngoài kế hoạch, sự "vung tay quá trán" trong khi hiệu quả sử dụng vốn kém, dẫn tới thua lỗ, phá sản Rồi chỉ số ICOR ngày càng tăng cao, hiệu quả đầu tư công đứng cao nhất "từ dưới lên" so với các khu vực kinh tế khác

Thế mới có chuyện, báo cáo hàng năm tổng hợp về các công trình dự án đầu tư bằng Ngân sách Nhà nước, người ta đã quá quen và cảm thấy như

Trang 28

là chuyện thường thấy trước các cụm từ "chậm tiến độ", "chìa tay" xin bổ sung tăng vốn Mà lạ là, trong số đó, không ít công trình thuộc nhóm A, các dự án cấp bách có ý nghĩa quyết định đối với đất nước - chậm vẫn

hoàn chậm, kém vẫn hoàn kém

Lại nữa, dù kêu gọi đầu tư tránh dàn trải trong khi ngân sách eo hẹp

nhưng số lượng các dự án đầu tư công ngày càng phình lên Chiếc bánh

vốn đã nhỏ nay lại bị "chia năm sẻ bảy", thế nên điệp khúc chậm, đói vốn lại được nhắc tới

Thực tế, siết chặt đầu tư công, ngừng, đình hoãn, giãn tiến độ các dự án chưa cấp bách, không hiệu quả để chống lạm phát không phải là mới

Năm 2008, khi đối mặt khủng hoảng kinh tế, giải pháp này đã được đưa ranhưng kết cục "mong đợi ngậm ngùi"

Thời gian cứ trôi, số các dự án cứ tăng, trong khi ngân sách cứ vơi dần Bức tranh đầu tư công vẫn còn mảng tối của sự lãng phí và kém hiệu quả.Trong tình huống khó khăn hiện nay, một lần nữa, biện pháp này lại được đưa ra Chấp nhận cắt giảm đầu tư, có thể làm giảm tăng trưởng nhưng sẽ đạt được mục tiêu cấp thiết nhất là kiềm chế lạm phát Tuy không phải là mới, nhưng đây là một biện pháp đúng đắn

b.Đầu tư dân doanh trong nước:

Đầu tư dân doanh trong nước bao gồm phần tích luỹ của dân cư và của các doanh nghiệp dân doanh (công ty trách nhiệm hữu hạn, doanh nghiệp

tư nhân, công ty cổ phần, hợp tác xã…)

Nguồn vốn này luôn chiếm một tỷ lệ đáng kể trong tổng vốn đầu tư xã

hội, hỗ trợ đắc lực cho nguồn vốn đầu tư của nhà nước

Vốn đầu tư dân doanh trong nước

109,754 74,388

Trang 29

Có thể thấy rằng tỷ lệ vốn đầu tư dân doanh trong nước trong tổng đầu tư

xã hội ngày càng gia tăng, chứng tỏ tầm quan trọng của khu vực này tronghoạt động đầu tư phát triển

Năm 2010 thị trường ngoại tệ, vàng diễn biến phức tạp, khó lường, khiến các doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp ngoài quốc doanh nói riêng gặp rất nhiều khó khăn trong việc đầu tư Việc điều hành nền kinh tế vĩ

mô liên quan đến các thị trường tiền tệ, chứng khoán, bất động sản, thị trường vàng hiện không có điều tiết thống nhất dẫn đến mỗi biến động của thị trường thế giới đều tác động đến hành vi đầu cơ, do vậy đầu vào của doanh nghiệp sản xuất không thể kiểm soát và hiệu quả sản xuất kinh doanh có thể bằng 0 thậm chí là âm

Một phần khác trong nguồn vốn dân doanh trong nước đó là nguồn vốn được hình thành từ lợi nhuận để lại của các doanh nghiệp dân doanh Nguồn vốn này được sử dụng chủ yếu để mở rộng quy mô sản xuất, đổi mới công nghệ… Hiện nay các doanh nghiệp đều rất chú trọng đến việc

sử dụng nguồn vốn này cho việc phát triển doanh nghiệp, nhằm thu được nhiều lợi nhuận hơn

2.Đầu tư từ nước ngoài:

2.1 Đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI.

Trang 30

Mặc dù xu hướng đầu tư toàn cầu trong những năm qua không có biến động lớn với việc Trung Quốc là nước thu hút phần lớn các nguồn vốn đầu tư nước ngoài vào khu vực, các nước Đông am Á cũng là địa điểm để các nhà đầu tư nước ngoài chọn để đa dạng hoá tài sản vốn Việt Nam đã duy trì được môi trường chính trị ổn định và xây dựng được hành lang pháp lý thu hút đầu tư nước ngoài gồm ưu đãi về thuế, về đất đai, chi phí dịch vụ, chuyển lợi nhuận ra nước ngoài, về thành lập liên doanh, tham gia giao dịch trên thị trường chứng khoán… cùng với việc cho mở rộng lĩnh vực được phép đầu tư và nâng số phần trăm vốn được đóng góp trongliên doanh đã giúp doanh nghiệp đầu tư nước ngoài chủ động và làm ăn

có lãi

Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, giai đoạn 2001-2010, Việt Nam thu hút 12.213 dự án ĐTNN, với tổng vốn đăng ký khoảng 192 tỷ USD và vốn thực hiện khoảng 63 tỷ USD Sự xuất hiện của những dự án ĐTNN ở nhiều địa phương đã tạo cú hích thúc đẩy tăng trưởng kinh tế

Đầu tư trực tiếp của nước ngoài được cấp giấy phép

thời kỳ 2000-2010

6.8

18.6 21.5

71.7

21.3 12 2.8 3.1 2.9 3.2 4.5 3.3

11.5

10 2.4 2.4 2.6 2.6 2.8

Trang 31

Trong 5 năm 2001 – 2005 khu vực đầu tư nước ngoài đóng góp khoảng 15,5% GDP Giá trị xuất khẩu của khu vực đầu tư nước ngoài (không kể dầu thô) cũng gia tăng nhanh chóng qua các năm trong năm 2001 – 2005 đạt trên 34 tỷ USD, đóng góp 35% tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu của

cả nước; tính cả dầu thô tỷ lệ này là 56% Riêng năm 2006, xuất khẩu đạt 14,6 tỷ USD tăng 30,1% so với năm trước

Trong vài năm gần đây, rất nhiều doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

đã bắt đầu có lãi Đó là một nhân tố đáng khích lệ

FDI đã giúp Việt Nam phát triển nhiều ngành công nghiệp và sản phẩm Hiện nay, FDI chiếm 100% về khai thác dầu, sản xuất ô tô, máy giặt, tủ lạnh, máy điều hoà nhiệt độ, thiết bị văn phòng, … FDI cũng chiếm 60%sản lượng thép tấm, 28% xi măng, 33% sản phẩm điện/điện tử, 76% thiết

bị y tế

FDI cũng đã giúp Việt Nam có một bước tiến lớn hơn vào các thị trường quốc tế, cải thiện tiềm năng xuất khẩu của Việt nam FDI chiếm một tỷ lệ đáng kể trong các ngành công nghiệp chủ đạo của Việt Nam, cụ thể là 42% công nghiệp giầy da, 25% trong may mặc và 84% trong điện tử, máytính và các linh kiện

Đóng góp của FDI cho Ngân sách Nhà nước trong giai đoạn 2001 - 2005

là khoảng 3,67 tỷ đô-la Mỹ, với mức tăng nộp ngân sách năm sau cao hơnnăm trước, năm 2006 đạt 1,4 tỷ USD, tăng 36,3% so với năm 2005

Nhìn vào cơ cấu vốn đăng ký, một điều dễ nhận thấy là vốn đăng ký giảm mạnh chủ yếu do vốn đăng ký mới sụt giảm Với 839 dự án đã được cấp Giấy chứng nhận đầu tư trong năm 2009, số dự án mới chỉ bằng 53,9% so với 2008 và vốn đăng ký mới ước đạt 16,34 tỉ USD, chỉ bằng 24,6% so với năm 2008 Điều này là hệ quả của suy thoái kinh tế toàn cầu, các nhà đầu tư trở nên dè dặt hơn trong các quyết định đầu tư mở rộng hoạt động ra nước ngoài

Nếu như năm 2008, năm thu hút FDI đạt mức kỷ lục 71,7 tỉ USD, số dự

án có quy mô vốn đăng ký trên 1 tỉ USD là 11 dự án, mức vốn đăng ký bình quân một dự án khoảng 65 triệu USD thì năm 2009, số lượng dự án quy mô trên 1 tỉ USD đã giảm 50%, chỉ còn 5 dự án, quy mô bình quân 1

dự án cũng chỉ bằng 1/3 của năm 2008, khoảng 25 triệu USD/dự án Điều này dường như phản ánh sự thận trọng hơn của các nhà đầu tư khi quyết định đăng ký đầu tư

Trang 32

Mặc dù số dự án và số vốn đăng ký FDI trong năm 2009 chỉ đạt ở mức thấp khoảng 21,48 tỷ USD (bằng 30% so với năm 2008), nhưng ngược lại, vốn thực hiện vẫn đạt ở mức khá (khoảng 10 tỷ USD, chỉ giảm 13%

so với năm 2008)

Tuy nhiên, lĩnh vực thu hút đầu tư lại có sự dịch chuyển mạnh mẽ Trong khi năm 2008 các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài tập trung chủ yếu vào ngành công nghiệp (912 dự án cấp mới với tổng mức đầu tư 35,6

tỷ USD, chiếm 58,6% số dự án và 53,4% tổng số vốn cấp mới), thì trong năm qua dòng vốn tập trung vào các ngành dịch vụ, đặc biệt là kinh doanhBĐS và lĩnh vực dịch vụ lưu trú và ăn uống Số dự án cấp mới ngành dịch

vụ năm 2009 là 498 dự án với 13,2 tỷ USD (59,3% số dự án và 81,2% tổng FDI cấp mới), các dự án công nghiệp giảm mạnh chỉ đạt 325 dự án với 3 tỷ USD

Cũng theo báo cáo của Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch và Đầu tư), trong tháng 3 đã có 1,39 tỷ USD vốn FDI được giải ngân, mức cao nhất kể từ đầu năm đến nay Tính chung, 3 tháng qua, vốn FDI giải ngân đạt 2,54 tỷ USD, cao hơn cả con số 2,37 tỷ USD vốn đăng ký

Có thể nhận thấy, vốn FDI giải ngân đã có bước tăng trưởng khá mạnh kể

từ đầu năm, khởi đầu chỉ có 420 triệu USD trong tháng 1, tiếp đến tăng lên 730 triệu USD tại tháng 2, và trong tháng 3 đã tăng gần gấp đôi so vớitháng trước

Trong khi đó, vốn đăng ký tăng thêm cũng trong xu hướng gia tăng Cụ thể, vốn FDI đăng ký tăng thêm tháng 1 là 5 dự án với 5 triệu USD, tháng

2 là 9 dự án và 81 triệu USD, thì trong tháng 3 đã có 23 dự án đăng ký tăng vốn với tổng vốn đăng ký 248 triệu USD Như vậy, trong quý 1 đã có

37 dự án tăng vốn với cam kết 334 triệu USD, so với cùng kỳ chỉ bằng 31% về số dự án nhưng lại chiếm 83% về vốn đăng ký, tỷ lệ khá cao so với nhiều tháng trước đó

Cũng trong quý I/2011 đã có 76 dự án FDI trong lĩnh vực chế biến, chế tạo được cấp chứng nhận đầu tư, với tổng vốn đăng ký trên 1,3 tỷ USD Nếu tính cả 200 triệu USD của 30 dự án tăng vốn, thì cả vốn đăng ký và cấp mới trong lĩnh vực này của quý đầu năm nay là khoảng 1,55 tỷ USD, chiếm 65,4% tổng vốn FDI vào Việt Nam trong vòng 3 tháng qua

Tổng hợp lại, quý 1/2011 đã có 2,37 tỷ USD vốn FDI đăng ký cả cấp mới và tăng vốn, tương đương khoảng 67% cùng kỳ năm 2010

"Nhiều người lo vốn FDI đăng ký mới không cao, nhưng bù lại, vốn giải ngân vẫn rất tích cực Khi các dự án trong lĩnh vực chế biến, chế tạo đi vào hoạt động, sẽ góp phần gia tăng năng lực sản xuất, tạo hàng hóa cho thị trường Việt Nam", GS- TSKH Nguyễn Mại, nguyên Phó chủ nhiệm

Ủy ban Nhà nước về Hợp tác và Đầu tư bình luận

Trang 33

Theo Tổng cục Thống kê, trong 3 tháng đầu năm, các doanh nghiệp FDI

đã đóng góp 10,457 tỷ USD (tính cả dầu thô) trong tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước và đang xuất siêu gần 1 tỷ USD (nếu không tính dầu thô, vẫn nhập siêu 588 triệu USD) Ngược lại, các doanh nghiệp trong nước đã nhập siêu tới gần 4 tỷ USD

3 tháng đầu năm, nhập siêu của Việt Nam đã giảm dần so với trước, trong khi Trung Quốc, nhà xuất khẩu lớn của thế giới lại bắt đầu nhập siêu Đây

là một chiều hướng rất tích cực và có sự đóng góp đáng kể của các doanh nghiệp FDI

Không thể phủ nhận những đóng góp của các doanh nghiệp có vốn đầu

tư trực tiếp nước ngoài vào sự phát triển kinh tế- xã hội của Việt Nam nhưtạo công ăn việc làm, tăng thu nhập, du nhập công nghệ và phương thức quản lý… Tuy nhiên, đã đến lúc cần phải đánh giá thực sự đúng mức về những mặt trái của FDI tại Việt Nam cũng như giá trị thực mà dòng vốn này mang lại Nghiên cứu của GS Nguyễn Quang Thái và Bùi Trinh cho thấy, trong 10 năm (1999- 2009), hệ số sử dụng vốn (ICOR) của khu vực nhà nước, tư nhân và FDI lần lượt là 7,76; 3,54 và 7,91 Hệ số TFP

(chuyển giao công nghệ) của các khu vực này trong thời gian đó tương ứng là 8,6; 3,1 và – 17,6 Điều này chứng tỏ hiệu quả đầu tư của khu vực FDI là rất thấp, còn chuyển giao công nghệ hầu như là không có

Trang 34

Trong báo cáo năng lực cạnh tranh Việt Nam do CIEM và Học viện Cạnh tranh Châu Á cùng thực hiện cũng rút ra một số kết luận quan trọng.Theo báo cáo, FDI vào Việt Nam có đóng góp đáng kể đến tăng trưởng xuất khẩu, góp phần tạo việc làm, nhưng không giúp tăng nhiều mức độ thịnh vượng của quốc gia ngoài việc tạo công ăn việc làm ở mức tiền lương tối thiểu trong khu vực chế tạo

Nghiên cứu của các cơ quan thực hiện báo cáo cũng chỉ rõ: “Không thấy nhiều bằng chứng về tác dụng tràn của FDI đối với phần còn lại của nền kinh tế trong việc nâng cao năng suất và trình độ công nghệ”

Cũng báo cáo cho rằng các lợi thế của Việt Nam trong thu hút FDI như lao động chi phí thấp đang dần mất đi, trong khi kỹ năng lao động chưa được cải thiện tương ứng “Việt Nam cần một chiến lược mới nếu muốn thu hút FDI chất lượng cao, tạo nhiều giá trị hơn là chỉ tạo việc làm với mức lương tối thiểu”, báo cáo kết luận

Lâu nay, mục tiêu quan trọng nhất đặt ra khi mở của đón đầu tư nước

Ngày đăng: 03/04/2013, 10:38

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1: Lãi suất tiền vay là biến nội sinh của hàm cầu đầu tư - Các nhân tố ảnh hưởng đến chi đầu tư. Giải thích tình hình kích cầu đầu tư ở nước ta
Hình 1 Lãi suất tiền vay là biến nội sinh của hàm cầu đầu tư (Trang 10)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w