1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Thiết kế phương án dạy học một số bài phần “Từ trường của dòng điện chạy trong dây dẫn có hình dạng khác nhau.

78 719 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 78
Dung lượng 9,23 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để nhằm mục tiêu phát triển tiềm năng sáng tạo, bồi dưỡng tư duy khoa học, phát triển hành động tự chủ tìm tòi giải quyết vấn đề của học sinh trong quá trình chiếm lĩnh tri thức cần tuân

Trang 1

Khóa luận tốt nghiệp

LỜI CẢM ƠN

Đối với một sinh viên năm cuối, chọn một đề tài và nghiên cứu thành

khóa luận tốt nghiệp là một việc làm không dễ dàng Để có được khóa luận này,

em đã rất may mắn được sự định hướng của các thầy cô trong tổ phương pháp

giảng dạy từ kì một năm thứ tư Trong quá trình thực hiện các thầy cô rất tận tình

giúp đỡ và góp ý cho em, động viên em cố gắng hoàn thành Chính vì vậy, ở

khóa luận này, trước hết, em xin được trân trọng cảm ơn TS Ngô Diệu Nga,

người đã hướng dẫn, theo dõi và chỉ bảo tận tình từ lúc em nhận đề tài đến lúc

hoàn thành Em xin chân trọng cảm ơn các thầy cô tổ Phương pháp giảng dạy đã

lắng nghe và đóng góp những ý kiến quí báu cho khóa luận tốt nghiệp của em

Nhân đây, em cũng xin trân trọng cảm ơn ban chủ nhiệm khoa, các

thầy cô giáo và các bạn sinh viên đã luôn động viên, giúp đỡ và tạo mọi điều

kiện thuận lợi để em hoàn thành khóa luận này

Hà Nội, tháng 05 năm 2008

Sinh viên

Phạm Thị Hảo

Trang 2

Khóa luận tốt nghiệp

A PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Chúng ta đang bước những bước đi đầu tiên của thế kỉ XXI – thế kỉ của trí

tuệ, của nền văn minh hiện đại, thời kì của sự bùng nổ tri thức và khoa học công

nghệ… Nhưng xã hội dù có hiện đại hóa, phát triển cao đến đâu thì sự phát triển

đó cũng đòi hỏi mỗi con người phải được hoàn thiện về giáo dục Vì vậy, để hòa

nhập với tốc độ phát triển của nền khoa học và kĩ thuật trên thế giới thì sự nghiệp

giáo dục cũng phải nhanh chóng đổi mới nhằm tạo ra những con người có trình

độ kiến thức, năng lực, trí tuệ sáng tạo và phẩm chất đạo đức tốt Chính vì vậy

trong sự nghiệp đổi mới toàn diện của đất nước ta hiện nay, đổi mới nền giáo dục

là một trong những vấn đề hàng đầu Công cuộc đổi mới này đòi hỏi nhà trường

phải tạo ra những con người lao động tự chủ, năng động và sáng tạo Bởi lẽ đó

nghị quyết Trung ương lần thứ IV Ban chấp hành Trung ương Đảng cộng sản

Việt Nam khóa VIII đã khẳng định “đổi mới phương pháp dạy và học ở các cấp

học, bậc học, áp dụng những phương pháp giáo dục hiện đại để bồi dưỡng cho

học sinh năng lực sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề” Tại hội nghị lần thứ VI

Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa IX , Đảng ta đã nhấn mạnh hơn nữa về

chiến lược phát triển giáo dục trong những năm tới (2001-2010) “cải tiến

phương pháp dạy và học theo hướng phát huy tính tích cực chủ động sáng tạo

của người học, tăng cường thực hành, thực tập, kết hợp chặt chẽ giữa đào tạo,

nghiên cứu khoa học và lao động sản xuất ứng dụng mạnh mẽ công nghệ thông

tin và các thành tựu khác của khoa học, công nghệ vào việc dạy học” Nghị

quyết Trung ương II khóa VIII cũng nhấn mạnh: “đổi mới mạnh mẽ phương

pháp giáo dục, khắc phục nối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy

sáng tạo của người học”

Phạm Thị Hảo Lớp A – K54 Vật Lý

2

Trang 3

Khóa luận tốt nghiệp

Trước mục tiêu như vậy nhiệm vụ đề ra cho những người làm công tác

nghiên cứu giáo dục là phải đổi mới phương pháp dạy và học ở tất cả các cấp

học, bậc học….áp dụng những phương pháp giáo dục hiện đại bồi dưỡng cho

học sinh năng lực tư duy sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề Nâng cao chất

lượng dạy học các môn ở trường phổ thông trong đó có vật lí học là một trong

những vấn đề luôn được quan tâm nghiên cứu và giải quyết nhằm đạt được

những mục tiêu “nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài” Điều

này cũng được thể chế hóa trong luật giáo dục Luật giáo dục điều 28.2 đã ghi

“phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác chủ động

sáng tạo của học sinh, phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học Bồi

dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn,

tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú, học tập của học sinh”

Những năm ngần đây, dưới sự chỉ đạo của Đảng và nhà nước đã tiến hành

cải cách giáo dục, mục tiêu cải cách đều hướng vào việc nâng cao chất lượng

giáo dục, trực tiếp góp phần cải thiện nguồn nhân lực Một trong những nội dung

chính của cải cách giáo dục là đổi mới SGK

Trong hệ thống chương trình Vật lí lớp 11, chương “Từ trường” là một

chương quan trọng, có rất nhiều ứng dụng trong kĩ thuật và đời sống Việc nắm

vững kiến thức ở phần này là tạo điều kiện để nghiên cứu tốt phần Cảm ứng điện

từ, Dao dộng điện từ, Điện từ trường

Xuất phát từ những vấn đề nêu trên với mong muốn góp phần vào công

cuộc đổi mới phương pháp dạy học, nâng cao chất lượng giáo dục, 51/8tôi chọn

đề tài: Thiết kế phương án dạy học một số bài phần “Từ trường của dòng điện

chạy trong dây dẫn có hình dạng khác nhau” ở lớp 11 THPT theo hướng phát

huy tính tích cực, tự chủ của học sính

Trang 4

Khóa luận tốt nghiệp

2) Mục đích của đề tài

Nghiên cứu xây dựng phương án dạy học, theo hướng phát triển hoạt

động nhận thức tích cực, tự chủ của học sinh trong quá trình xây dựng kiến thức

phần “Từ trường của dòng điện chạy trong dây dẫn có hình dạng khác nhau” ở

lớp 11 THPT

3) Đối tượng nghiên cứu

- Hoạt động học tập, nhận thức của HS và hoạt động của GV trong việc tổ

chức nhận thức, định hướng hoạt động của HS

- Nội dung kiến thức phần “Từ trường” Vật lí 11 - THPT

4) Giả thuyết khoa học

Vận dụng quan điểm lí luận dạy học hiện đại, căn cứ vào mục tiêu của

chương trình Vật lí phổ thông, có thể thiết kế được các phương án dạy học các

bài học Vật lí theo hướng phát huy được tính tích cực, tự chủ của HS THPT

5) Nhiệm vụ của đề tài

Để đạt được mục tiêu đề ra, đề tài có những nhiệm vụ chủ yếu sau:

+ Nghiên cứu cơ sở lí luận của việc tổ chức tình huống học, hướng dẫn

HS tích cực, tự chủ chiếm lĩnh kiến thức để vận dụng vào quá trình giảng dạy

6) Phương pháp nghiên cứu

- Nghiên cứu lí luận

- Điều tra tình hình dạy và học

Phạm Thị Hảo Lớp A – K54 Vật Lý

4

Trang 5

Khóa luận tốt nghiệp

B PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN

1.1 PHƯƠNG HƯỚNG ĐỔI MỚI DẠY HỌC [6]

Chúng ta đang sống trong thế kỉ XXI, thế kỉ của trí tuệ sáng tạo đất nước

ta đang bước vào thời kì CNH, HĐH đất nước, viễn cảnh sôi động tươi đẹp

nhưng cũng nhiều thách thức đòi hỏi nghành giáo dục – đào tạo có những đổi

mới căn bản, mạnh mẽ, vươn tới ngang tầm với sự phát triển chung của thế giới

và khu vực sự nghiệp giáo dục – đào tạo phải góp phần quyết định vào việc bồi

dưỡng trí tuệ khoa học, năng lực trí tuệ cho thế hệ trẻ

Từ nửa thế kỷ qua và nhất là ngày nay, khoa học giáo dục trên thế giới, coi

trọng những nghiên cứu đổi mới dạy học ở trường phổ thông theo hướng đảm

bảo được sự phát triển năng lực sáng tạo của HS, bồi dưỡng tư duy khoa học,

năng lực tìm tòi chiếm lĩnh tri thức, năng lực giải quyết vấn đề thích ứng được

với thực tiễn cuộc sống, với sự phát triển của nền kinh tế tri thức Phương hướng

đổi mới này đòi hỏi phải phân tích để nhận rõ những nhược điểm, hạn chế căn

bản của thực trạng dạy học và chỉ ra được những nguyên tắc chỉ đạo và giải pháp

cơ bản để khắc phục được những hạn chế đó và thực hiện được những mục tiêu

mong muốn

Theo kiểu dạy học truyền thống cũ, điều quan tâm chủ yếu của GV là sự

trình bày bài giảng của mình về các kiến thức cần dạy cho HS sao cho đảm bảo

được nội dung chính xác, sâu sắc, đầy đủ nghĩa là theo kiểu học này, trung tâm

chú ý là nội dung kiến thức cần dạy

Dần dần người ta đã nhận rõ rằng, nếu chỉ quan tâm bản thân nội dung

kiến thức thì dù được trình bày tốt đến đâu cũng vẫn chưa phải là sự xác định

một cách cụ thể học sinh cần đạt được những khả năng gì trong hoặc sau khi học

Trang 6

Khóa luận tốt nghiệp

và bằng cách nào đảm bảo cho HS đạt được các khả năng đó – đó là một nhược điểm

cơ bản của kiểu dạy học cũ Nó hạn chế chất lượng và hiệu quả dạy học

Để nhằm mục tiêu phát triển tiềm năng sáng tạo, bồi dưỡng tư duy khoa

học, phát triển hành động tự chủ tìm tòi giải quyết vấn đề của học sinh trong quá

trình chiếm lĩnh tri thức cần tuân thủ những điểm sau trong quá trình dạy học:

- Cần thực hiện được chức năng mới của người giáo viên: Thầy, Cô giáo

không phải chỉ là người có quyền lực quyết đoán truyền giảng áp đặt tri thức, mà

tốt hơn phải là người chỉ đạo hành động, nhà tư vấn của học sinh, với chức năng

quan trọng là tổ chức tình huống học tập, kiểm tra, định hướng hoạt động học và

thể chế hóa tri thức

- Cần khêu gợi để HS suy nghĩ từ vốn kinh nghiệm hiểu biết của mình,

đưa ra ý kiến giải pháp của mình, đồng thời biết thu thập sử dụng thông tin từ

nhiều nguồn khác nhau và biết tự kiểm tra, đánh giá theo cách tiếp cận của nhận

thức khoa học để xây dựng được những kết luận đáng tin cậy

- Cần tập cho HS có thói quen đặt câu hỏi trong quá trình học tập, cần

khởi xướng sự trao đổi, tranh luận trong lớp học.Ở đó HS sẽ học được việc tham

khảo, thảo luận ý kiến của người khác; biểu đạt tư tưởng của mình, đào sâu,

chỉnh lý, hoàn thiện những suy nghĩ của mình

Có thể hình dung diễn biến của hoạt dộng dạy học theo kiểu dạy học đổi

mới này bằng hình ảnh dưới đây:

- GV tổ chức tình huống (giao nhiệm vụ cho HS), HS hăng hái đảm nhận

nhiệm vụ, gặp khó khăn, nảy sinh vấn đề cần tìm tòi giải quyết Dưới sự chỉ đạo

của GV, vấn đề được diễn đạt chính xác hóa, phù hợp với mục tiêu dạy học các

nội dung cụ thể đã xác định

- HS tự tìm tòi giải quyết vấn đề đặt ra Với sự theo dõi, đinh hướng, giúp

đỡ của GV, hoạt động học của HS diễn ra theo một tiến trình hợp lý, phù hợp với

những đòi hỏi phương pháp luận

Phạm Thị Hảo Lớp A – K54 Vật Lý

6

Trang 7

Khóa luận tốt nghiệp

- GV chỉ đạo sự trao đổi, tranh luận của HS; bổ sung tổng kết, khái quát

hóa, thể chế hóa tri thức, kiểm tra kết quả học phù hợp với mục tiêu dạy học các

nội dung cụ thể đã xác định

Như vậy, với kiểu dạy học đổi mới thì nét đặc trưng của hoạt động dạy là:

Tổ chức tình huống học tập kiểm tra định hướng hành động học độc lập, tự chủ,

sáng tạo, trao đổi tranh luận của HS; bổ sung, chính những đặc trưng của hoạt động

học là: ý thức được vấn đề (nhiệm vụ) cần giải quyết; độc lập suy nghĩ kết hợp với

ghi nhận thông báo có kiểm tra, phê phán để xác định giải pháp; tự chủ giải quyết

nhiệm vụ học, kết hợp với trao đổi, tranh luận để xây dựng được tri thức

Việc đổi mới dạy học như vậy đã chuyển học sinh từ vị trí “ Tôi học

thuộc, tôi làm theo mẫu” lên vị trí không chỉ như vậy mà còn là “Tôi tự hỏi, tôi

tự tìm tòi giải quyết vấn đề”

1.2 CÁC LUẬN ĐIỂM KHOA HỌC XUẤT PHÁT TRONG

NGHIÊN CỨU CHIẾN LƯỢC DẠY HỌC PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG

TÍCH CỰC, SÁNG TẠO TÌM TÒI GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ CỦA HỌC

SINH [6]

Quán triệt các quan điểm cơ bản về mục tiêu dạy học các môn khoa học,

cùng với việc quán triệt các quan điểm hoạt động khi bàn về bản chất của việc

học và quan điểm hiện đại về phương pháp luận khoa học, GS-TS Phạm Hữu

Tòng đã chỉ ra sáu luận điểm cơ bản làm nền tảng “Chiến lược dạy học phát

triển hoạt động tự chủ chiếm lĩnh tri thức, bồi dưỡng tư duy khoa học – kỹ thuật

và năng lực giải quyết vấn đề” Nội dung của sáu luận điểm đó là:

1.2.1 Về vai trò quan trọng của sự dạy là thực hiện được việc tổ chức,

kiểm tra, định hướng hữu hiệu hoạt động học

Sự học nói chung là sự thích ứng của người học với những tình huống

thích đáng, làm nảy sinh và phát triển ở người học những dạng tri thức hoạt động

Trang 8

Khóa luận tốt nghiệp

xác định, phát triển ở người học những năng lực thể chất, tinh thần và nhân cách

cá nhân Nói riêng, sự học có chất lượng một tri thức khoa học mới nào đó phải

là sự thích ứng của người học với những tình huống vấn đề thích đáng Chính

quá trình thích ứng này là hoạt động của người học xây dựng lên tri thức mới với

tính cách là phương tiện tối ưu giải quyết tình huống mới Đồng thời đó là quá

trình góp phần làm phát triển năng lực nhận thức thực tiễn và nhân cách của

người học Bởi vậy, vai trò quan trọng của GV trong dạy học môn khoa học là tổ

chức được những tình huống vấn đề và thực hiện được sự kiểm tra, định hướng

hoạt động hữu hiệu, cho phép gợi ra cho HS hoạt động học tập tự chủ, tích cực

dẫn tới sự chiếm lĩnh được tri thức khoa học theo cách tiếp cận hiện thực tương

tự như các nhà khoa học

1.2.2 Về sự cần thiết tổ chức tình huống vấn đề trong dạy học

Tri thức khoa học được xây dựng khi nhà khoa học có động cơ giải quyết

một vấn đề, tìm tòi giải đáp cho một câu hỏi đặt ra mà việc tìm tòi giải đáp cho

câu hỏi đó chính là tìm tòi một cái mới, chứ không thể chỉ đơn thuần là việc tái

hiện, lặp lại các kiến thức và cách thức hoạt động quen thuộc sẵn có Bởi vậy

trong dạy học môn khoa học, GV cần tổ chức những tình huống vấn đề Đó

chính là việc tổ chức tình huống trong đó xuất hiện những vấn đề cần giải quyết

mà HS tự mình có khả năng tham gia giải quyết và do đó sẽ suy nghĩ đưa ra giải

pháp riêng của mình, tự tìm tòi cách giải quyết thích hợp Chính trong những

điều kiện đó với sự giúp đỡ, định hướng của GV, HS sẽ xây dựng được cho mình

những tri thức khoa học sâu sắc, vững chắc và vận dụng được, đồng thời qua quá

trình đó năng lực trí tuệ của HS phát triển

1.2.3 Về sự thiết lập được sơ đồ biểu đạt logic của tiến trình nhận thức

khoa học đối với tri thức cần dạy

Phạm Thị Hảo Lớp A – K54 Vật Lý

8

Trang 9

Khóa luận tốt nghiệp

Nhận thức thực tế khách quan (nhận thức một tình huống vấn đề vật lí) là

biểu đạt nó bằng một mô hình hợp thức (mô hình có hiệu lực) Quá trình nhận

thức khoa học thực tế khách quan xét cho cùng là một quá trình vận động vô tận

của việc xây dựng mô hình, hợp thức hóa mô hình và hoàn thiện mô hình Tiến

trình giả quyết vấn đề, xây dựng tri thức vật lý đó là tiến trình “tự đề xuất vấn đề

nghiên cứu đến suy đoán giải pháp, khảo sát lý thuyết (thực nghiệm), rồi xem xét

đánh giá khả năng chấp nhận của các kết quả tìm được, trên cơ sở vận dụng

chúng để giải thích tiên đoán các sự kiện và xem xét phù hợp giữa lý thuyết và

thực nghiệm” Do vậy, trong dạy học, hoạt động nhận thức khoa học của HS cần

được định hướng phù hợp với tiến trình xây dựng tri thức như thế Việc này đòi

hỏi sự phân tích sâu sắc cấu trúc nội dung tri thức cần dạy và xác lập được sơ đồ:

“từ tình huống xuất phát thế nào, nảy sinh vấn đề gì, tìm tòi giải quyết vấn đề và

đi tới kết quả nào” một cách phù hợp với trình độ HS và xét trong suốt quá trình

xây dựng, kiểm tra và vận dụng tri thức mới, trong đó xác định được điều kiện

cần thiết và những câu hỏi định hướng hữu hiệu cho hành động tìm tòi giải quyết

vấn đề một cách thích hợp với phương pháp nhận thức khoa học và ứng dụng

thực tiễn

1.2.4 Về sự cần thiết sử dụng những quan niệm vốn có của học sinh

trong việc tổ chức tình huống và định hướng hành động giải quyết vấn đề

của học sinh trong quá trình xây dựng kiến thức mới

Tri thức mới được xây dựng dựa trên các tri thức đã có và đồng thời còn

phải đối chọi lại với các quan niệm đã có nhưng lại là trở lực đối với tri thức

mới Tri thức mới với ý nghĩa đúng đắn của nó chỉ có thể thực sự được xác lập,

hòa nhập vào vốn hiểu biết riêng của HS, khi mà nó được xây dựng trên cơ sở tri

thức đã có của HS, đồng thời làm biến đổi và khắc phục được các quan niệm cũ,

cách hiểu cũ sai lạc, trái ngược với nó

Trang 10

Khóa luận tốt nghiệp

Bởi vậy, trong dạy học, cần nghiên cứu các quan niệm hoặc cách hiểu sai

lầm vốn có của HS có liên quan tới các tri thức cần xây dựng Chúng là chỗ dựa,

đồng thời là trở lực tất yếu cần khắc phục đối với quá trình xây dựng tri thức

mới Cần sử dụng quan niệm vốn có của HS vào việc xây dựng tình huống vấn

đề và định hướng hoạt động giải quyết vấn đề một cách hữu hiệu sao cho tạo

được điều kiện cho những quan niệm đó được HS vận dụng, được thử thách

trong quá trình kiểm tra hợp thức hóa khiến cho HS tự nhận thấy chỗ sai lầm,

thấy cần thay đổi quan niệm, khắc phục sai lầm để xây dựng được một tri thức

mới phù hợp

1.2.5 Về sự cần thiết phát huy tác dụng của sự trao đổi và tranh luận

của Học sinh trong quá trình chiếm lĩnh tri thức

Sự xây dựng mỗi tri thức khoa học là một quá trình mang tính xã hội

Nhận thức của mỗi cá nhân, thành viên xã hội, tiến triển trong sự tương tác xã

hội và xung đột xã hội – nhận thức Trong nghiên cứu khoa học, kết quả nghiên

cứu của nhà khoa học có sự đóng góp cộng đồng các nhà khoa học Kết quả

nghiên cứu của mỗi cá nhân nhà khoa học có sự hỗ trợ của người khác Kết quả

đó được trình bày, thông báo và trải qua tranh luận phản bác bảo vệ trong cộng

đồng các nhà khoa học Nhờ đó, kết quả nghiên cứu được chỉnh lý, bổ xung,

hoàn thiện và được cộng đồng khoa học chấp nhận khi đó mới có được những tri

thức khoa học có đầy đủ giá trị Sự học tập xây dựng tri thức của HS sẽ được tạo

thuận lợi và có hiệu quả hơn nhờ sự trao đổi và tranh luận với những người

ngang hàng Trong điều kiện đó sẽ phát huy được ảnh hưởng của sự môi giới, hỗ

trợ của những người trong cộng đồng đối với mỗi cá nhân qua vùng phát triển

gần nhất của cá nhân

1.2.6 Về sự cần thiết tổ chức tiến trình dạy học phỏng theo tiến trình

nghiên cứu xây dựng bảo vệ tri thức khoa học

Phạm Thị Hảo Lớp A – K54 Vật Lý

10

Trang 11

Khóa luận tốt nghiệp

Để phát huy tổng hợp các nhân tố tác động: Vai trò của HS trong sự tự chủ

hành động xây dựng kiến thức, vai trò của GV trong sự tổ chức tình huống vấn

đề và định hướng hành động tìm tòi xây dựng kiến thức của HS; vai trò tương

tác xã hội (của tập thể HS) đối với quá trình nhận thức của mỗi cá nhân HS và

đồng thời cho HS tập quen với quá trình xây dựng bảo vệ cái mới trong nghiên

cứu khoa học Đó mới là sự dạy khoa học, bản chất của sự dạy học khoa học là

dạy học giải quyết vấn đề phù hợp với cách tiếp cận của sự nhận thức khoa học

1.3 ĐỊNH HƯỚNG THIẾT KẾ TIẾN TRÌNH DẠY HỌC THEO

HƯỚNG PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG TÌM TÒI SÁNG TẠO GIẢI

QUYẾT VẤN ĐỀ VÀ TƯ DUY KHOA HỌC CỦA HỌC SINH [6].

Quán triệt tổng hợp các luận điểm xuất phát của việc nghiên cứu đổi mới

dạy học đã trình bày ở trên, có thể rút ra kết luận khái quát chỉ đạo việc nghiên

cứu thiết kế tiến trình dạy học các tri thức cụ thể như sau:

Muốn nâng cao chất lượng, hiệu quả dạy học; đảm bảo cho HS chiếm lĩnh

được các kiến thức, kĩ năng; đồng thời bồi dưỡng được tư duy khoa học, tư duy

sáng tạo, phát triển ở HS hành động tự chủ tìm tòi giải quyết vấn đề trong quá

trình chiếm lĩnh tri thức khoa học và do đó chuẩn bị tốt cho HS có thể thích ứng

với thực tiễn cuộc sống không ngừng phát triển, thì đòi hỏi việc thiết kế hoạt

động dạy học phải được thực hiện một cách khoa học theo một qui trình hợp lý

gồm các bước sau:

1.3.1 Xác định mục tiêu dạy học cụ thể.

1.3.1.1 Khái niệm mục tiêu dạy học

Mục tiêu dạy học là cái đích mà GV mong muốn đạt được khi dạy học

một kiến thức cụ thể

Đối với kiểu dạy học truyền thống, trung tâm chú ý là nội dung kiến thức, với

mục tiêu là HS nắm được, nhớ được nội dung của bài học, do vậy GV chỉ quan tâm

Trang 12

Khóa luận tốt nghiệp

tới việc trình diễn, giảng giải, nhồi nhét kiến thức vào đầu óc HS, còn HS lắng

nghe một cách thụ động và ghi nhớ một cách máy móc Với kiểu dạy học như

vậy, với trung tâm chú ý là nội dung kiến thức như vậy thì không bao giờ có thể

phát huy tính tích cực, tự chủ, sáng tạo của HS

Tìm cách khắc phục những đặc điểm nêu trên, từ thực tiễn dạy học và sự

phát triển của khoa học sư phạm, trên thế giới, trong mấy thập kỷ nay để hình

thành quan niệm vể kiểu dạy mà trung tâm chú ý là những khả năng mà người

học cần đạt được trong và sau khi dạy Chúng là kết quả mà sự dạy mang lại ở

người học, gọi là mục tiêu thao tác

Diễn đạt mục tiêu dạy học cụ thể (với nghĩa là mục tiêu thao tác) là diễn

đạt những hành vi mà sự dạy yêu cầu HS phải thể hiện ra khi dạy một kiến thức

cụ thể Những hành vi này là minh chứng cho hành động học mà HS cần có và

kết quả học mà HS cần đạt được khi học kiến thức cụ thể đó Những hành vi này

cho phép có căn cứ để điều tra đánh giá hiệu quả dạy học

Nếu chú trọng các mục tiêu thao tác, khi chuẩn bị dạy học một nội dung

cụ thể, giáo viên cần trả lời câu hỏi:

+ Dạy cái gì?

+ Người học phải biết gì hoặc biết làm gì trước, trong và sau khi dạy học?

+ Thực tế người học biết cái gì?

+ Cần dạy thế nào?

1.3.1.2 Tầm quan trọng của mục tiêu dạy học

Việc xác định được các mục tiêu dạy học có tầm quan trọng đặc biệt, nhằm:

+ Có phương hướng, tiêu chí để quyết định về nội dung, phương pháp,

phương tiện dạy học

+ Có ý thức rõ ràng về cái cần kiểm tra đánh giá khi kết thúc mỗi môn

học, học phần hay trong quá trình giảng dạy từng kiến thức cụ thể

Phạm Thị Hảo Lớp A – K54 Vật Lý

12

Trang 13

Khóa luận tốt nghiệp

+ Cho người học biết kết quả của sự học, giúp họ có kế hoạch tổ chức

công việc học tập của mình

+ Có ý tưởng rõ ràng về các kiến thức, kĩ năng, thái độ cần có của GV

1.3.1.3 Điều kiện để mục tiêu đạt được thực sự có ý nghĩa là mục tiêu thao tác

Mục tiêu phải được diễn đạt theo người học chứ không phải theo người

dạy Khả năng người học có được phải được diễn tả bằng một động từ có nghĩa,

ví dụ: Hiểu, vận dụng làm bài tập…

Kết quả mong đợi phải được mô tả dưới dạng một hành vi quan sát được,

ví dụ: Phát biểu, làm bài tập, trả lời…

Ví dụ: Mục tiêu dạy học kiến thức: Từ trường của một số dòng điện có

dạng đơn giản

Học sinh phát biểu được đặc điểm đường sức từ của từ trường của dòng

điện thẳng, tròn và trong ống dây và qui tắc xác định chiều của đường sức từ

trong các loại mạch này.Vận dụng thành thạo qui tắc đó trong các trường hợp

khác nhau của chiều dòng điện

1.3.1.4 Làm thế nào để xác định được mục tiêu dạy học cụ thể.

Để xác định được mục tiêu dạy học cụ thể như trên đòi hỏi GV phải

nghiên cứu chương trình, nội dung tài liệu SGK để tìm hiểu sâu sắc tri thức cần

dạy, mô hình hóa được tiến trình khoa học xây dựng kiến thức bằng sơ đồ biểu

đạt dưới đây

Phạm Thị Hảo Lớp A – K54 Vật Lý

13

Vấn đề / bài toán( Đòi hỏi tìm kiếm xây dựng)

Điều kiện cần sử dụng để đi tìm câu trả lời cho vấn đề đặt ra

Trang 14

Khóa luận tốt nghiệp

1.3.2 Tổ chức tình huống có vấn đề

Với tiến trình dạy học giải quyết vấn đề thì tình huống có vấn đề đóng vai trò

đặc biệt quan trọng trong mỗi tiết học, trong cả quá trình học Nó là hoàn cảnh trong

đó xuất hiện mâu thuẫn nhận thức mà HS chấp việc giải quyết mâu thuẫn đó như

một nhiệm vụ học tập và sẵn sàng mang sức lực và trí tuệ ra để giải quyết

Vấn đề / bài toánĐòi hỏi kiểm nghiệm / ứng dụng thực tiễn kiến thức)

Điều kiện cần sử dụng để đi tìm câu trả lời cho vấn đề đặt ra theo 2 cách:

Suy luận và thí nghiệm (Giải pháp)

Giải bài toán nhờ thí nghiệm và quan sát

Sơ đồ 2: Dạng khái quát của sơ đồ mô phỏng tiến trình khoa học giải quyết

vấn đề, kiểm nghiệm hoặc ứng dụng một kiến thức cụ thể

KẾT LUẬN CHUNG

Trang 15

Khóa luận tốt nghiệp

“Vấn đề” được dùng để chỉ một khó khăn, một nhiệm vụ nhận thức mà người

học không thể giải quyết được chỉ bằng kinh nghiệm có sẵn, theo khuôn mẫu sẵn có,

nghĩa là không thể dùng tư duy tái hiện mà phải tìm tòi sáng tạo để giải quyết và khi

giải quyết được thì người học đã thu nhận được kiến thức, kĩ năng mới

Vấn đề chứa đựng câu hỏi nhưng đó là câu hỏi về một cái chưa biết, câu

hỏi mà câu trả lời là một cái mới phải tìm tòi sáng tạo mới xây dựng được, chứ

không phải câu hỏi chỉ đơn thuần yêu cầu nhớ lại những kiến thức đã có

1.3.2.2 Tình huống có vấn đề

“Tình huống có vấn đề” là tình huống mà khi học sinh tham gia thì gặp

một khó khăn, HS ý thức được vấn đề, mong muốn giải quyết vấn đề đó và cảm

thấy với khả năng của mình thì hi vọng có thể giải quyết được, do đó bắt tay vào

việc giải quyết vấn đề đó Nghĩa là tình huống đó kích thích nhận thức tích cực

của học sinh đề xuất và giải quyết vấn đề đã đề xuất

Tình huống vấn đề cơ bản: Là tình huống ở đó xuất hiện câu hỏi có tác

dụng định hướng tư duy tìm tòi của chủ thể học, nhằm trúng mục tiêu nội dung của

kiến thức cần tìm kiếm Việc xây dựng một tình huống mới thực chất là quá trình triển

khai giải quyết tình huống cơ bản đó, có thể là một quá trình chuyển liên tiếp từ tình

huống này sang tình huống khác, trong đó có “Tình huống vấn đề cơ bản” Việc giải

quyết các tình huống đó cuối cùng đạt được câu trả lời cho câu hỏi đã đặt ra ở tình

huống vấn đề cơ bản

1.3.2.3.Các kiểu tình huống có vấn đề.

Khi HS được lôi cuốn vào hoạt động tích cực thực hiện nhiệm vụ (có tiềm

ẩn vấn đề) mà HS đã đảm nhận, HS nhanh chóng nhận thấy sự bất ổn của tri thức

đã có của mình, vấn đề xuất hiện, HS ở vào một tình huống (tình thế) có thể

thuộc một trong những loại sau:

Trang 16

Khóa luận tốt nghiệp

- Tình thế lựa chọn : Chủ thể ở trạng thái suy tính cân nhắc, khi cấn lựa

chọn một phương án thích hợp nhất trong những điều kiện xác định để giải quyết

vấn đề (tức là cần lựa chọn một mô hình vận hành được)

- Tình thế bất ngờ: Chủ thể ở trạng thái ngạc nhiên, khi gặp cái mới lạ,

chưa hiểu vì sao, cần biết căn cứ và lý lẽ (tức là cần có mô hình mới)

- Tình thế bế tắc: Chủ thể ở trạng thái túng bí, chưa biết làm thế nào để

giải quyết được khó khăn gặp phải, cần phải có cách giải quyết (tức là cần có mô

hình mới)

- Tình thế không phù hợp: Chủ thể ở trạng thái băn khoăn, nghi hoặc, khi

gặp sự kiện mới, trái ngược với lẽ thường, với kết quả có thể rút ra được từ căn

cứ lẽ đã có, do đó cần xét lại để có căn cứ lý lẽ thích hợp hơn (tức là cần có mô

hình thích hợp hơn)

- Tình thế phán xét: Chủ thể ở trạng thái nghi vấn khi gặp các cách giải

thích với các căn cứ lý lẽ khác nhau, cần xem xét kiểm tra các căn cứ lý lẽ đó

(tức là cần kiểm tra, hợp thức hóa mô hình đã được đề cập)

- Tình thế đối lập: Chủ thể ở trạng thái nghi vấn khi gặp một cách giải

thích có vẻ lôgic, nhưng lại xuất phát từ một căn cứ lý lẽ đã được chấp nhận (tức

là phê phán, bác bỏ mô hình không hợp thức, bảo vệ mô hình hợp thức đã có)

1.3.2.4 Điều kiện cần của việc tạo tình huống vấn đề và định hướng

hoạt động giải quyết vấn đề.

Việc tổ chức được các tình huống có vấn đề và định hướng hành động học

giải quyết vấn đề đòi hỏi:

* Thứ nhất: GV có dụng ý tìm cách cho HS tự giải quyết một vấn đề,

tương ứng với việc xây dựng một tri thức khoa học cần dạy Do đó, GV cần nhận

định về câu hỏi đặt ra, các khó khăn trở lực HS phải vượt qua khi giải đáp câu

hỏi đó

* Thứ hai: GV phải xác định rõ kết quả giải quyết mong muốn đối với

vấn đề được đặt ra là: HS chiếm lĩnh được tri thức khoa học cụ thể gì (diễn đạt

cụ thể một cách cô đọng, chính xác nội dung đó)

Phạm Thị Hảo Lớp A – K54 Vật Lý

16

Trang 17

Khóa luận tốt nghiệp

* Thứ ba: GV soạn thảo được một nhiệm vụ (có tiềm ẩn vấn đề) để giao

cho HS, sao cho HS sẵn sàng đảm nhậm nhiệm vụ đó Điều này đòi hỏi GV phải

chuẩn bị cho HS những điều kiện cần thiết khiến cho HS tự cảm thấy mình có

khả năng tham gia giải quyết nhiệm vụ đặt ra và được lôi cuốn vào hoạt động

tích cực giải quyết nhiệm vụ đó

Để soạn thảo được một nhiệm vụ như vậy cần có hai yếu tố cơ bản:

- Tiền đề hay tư liệu (thiết bị, sự kiện, thông tin) cần cung cấp cho HS

hoặc gợi ra cho HS

- Lệnh hoặc câu hỏi đề ra cho HS

* Thứ tư: Trên cơ sở vấn đề cần giải quyết, kết quả mong đợi, những quan

niệm, khó khăn trở lực của HS trong điều kiện cụ thể, GV cần đoán trước những

đáp ứng có thể của HS và dự định tiến trình định hướng, giúp đỡ HS khi cần một

cách hợp lí phù hợp với tiến trình khoa học giải quyết vấn đề

1.3.3 Xác định việc định hướng khái quát chương trình hóa hành

động nhận thức tự chủ, tích cực của học sinh và việc tổ chức hợp lý hoạt

động của cá nhân và tập thể học sinh

Nghiên cứu sự định hướng hành động nhận thức của HS trong

dạy học có phân biệt được các kiểu định hướng khác nhau, tương ứng

với các mục tiêu rèn luyện khác nhau, đòi hỏi ở HS có các hành động

nhận thức với các trình độ khác nhau:

1.3.3.1 Các kiểu định hướng hành động học tập trong dạy học

- Định hướng tái tạo thao tác cụ thể: HS theo dõi, thực hiện bắt chước,

lặp thao tác mẫu cụ thể do người dạy chỉ ra

- Định hướng tái tạo Angorit: Người dạy (GV) chỉ ra một cách khái quát

tổng thể trình tự hành động để người học tự chủ giải quyết được nhiệm vụ Với

chương trình hành động rõ ràng, chặt chẽ của hai kiểu định hướng này, người

dạy hướng HS vào việc huy động áp dụng kiến thức, cách thức hoạt động HS có

thể thực hiện được nhiệm vụ mà họ đảm nhận Nghĩa là HS chỉ cần tái tạo những

hành động trong tình huống đã quen thuộc

Trang 18

Khóa luận tốt nghiệp

- Định hướng tìm tòi: Là kiểu định hướng trong đó người dạy không chỉ

ra cho HS một cách tường minh các kiến thức và cách thức hoạt động HS cần áp

dụng, mà người dạy chỉ đưa cho HS những gợi ý sao cho HS có thể tự tìm tòi,

huy động hoặc xây dựng những kiến thức và cách thức hoạt động thích hợp để

giải quyết trong tình huống không phải là quen thuộc đối với họ

- Định hướng khái quát chương trình hóa: Là kiểu định hướng phối hợp

các đặc điểm của các kiểu định hướng trên trong đó sự định hướng được chương

trình hóa theo các bước:

+ Sự định hướng ban đầu đòi hỏi HS tự lực tìm tòi giải quyết vấn đề đã đặt ra

+ Nếu HS không đáp ứng được thì sự giúp đỡ tiếp theo của GV là sự phát

triển định hướng khái quát ban đầu (gợi ý thêm, cụ thể hóa/ chi tiết hóa thêm một

bước) để thu hẹp phạm vi, mức độ phải tìm tòi giải quyết cho vừa sức HS

+ Nếu HS vẫn không đáp ứng được thì sự định hướng của GV chuyển đần

sang định hướng tái tạo Khi cần phải chuyển sang kiểu định hướng tái tạo thì

trước hết phải sử dụng sự hướng dẫn angorit (hướng dẫn trình tự các hành động

thao tác hợp lý) để theo đó HS giải quyết vấn đề đã đặt ra

+ Nếu HS vẫn không đáp ứng được thì mới thực hiện sự hướng dẫn tái tạo đối

với mỗi hành động/ thao tác cụ thể riêng biệt của trình tự hành động/ thoa tác đó

1.3.3.2 Ưu nhược điểm của các kiểu định hướng

*Kiểu định hướng tái tạo: Đảm bảo được hiệu quả hình thành kiến thức,

rèn luyện kĩ năng cho HS và tạo cơ sở cần thiết cho HS có thể thích ứng được sự

định hướng tìm tòi Nhưng như vậy kiểu định hướng này không đáp ứng được

yêu cầu rèn luyện tư duy sáng tạo của HS

*Kiểu định hướng tìm tòi: Nhằm rèn luyện cho HS tư duy sáng tạo, năng

lực giải quyết vấn đề đáp ứng mục tiêu đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài của

sự nghiệp giáo dục nhưng việc thực hiện nó không phải đơn giản, nó phụ thuộc

vào trình độ hiểu biết và khả năng sư phạm của GV vào sự nghiên cứu để hiểu

sâu sắc đối tượng HS và vào trình độ HS

Phạm Thị Hảo Lớp A – K54 Vật Lý

18

Trang 19

Khóa luận tốt nghiệp

*Kiểu định hướng khái quát chương trình hóa: Là sự vận dụng phối hợp

hai kiểu định hướng trên, tạo cơ hội cho HS phát huy hành động tìm tòi sáng tạo

của mình, đồng thời vẫn đảm bảo cho HS đạt tới được tri thức cần dạy

1.3.3.3 Hệ thống các câu hỏi đề xuất vấn đề, định hướng tư duy trong các

tình huống dạy học theo quá trình khoa học xây dựng vận dụng kiến thức mới

* Câu hỏi kích thích HS có nhu cầu kiến thức để giải quyết vấn đề:

Phương hướng cơ bản của việc tổ chức tình huống có vấn đề ở pha khởi

đầu là việc GV mô tả một tình huống, hay đặt ra một nhiệm vụ dẫn HS tới chỗ

phải trả lời câu hỏi thuộc loại: “Sẽ như thế nào, nếu… ?”, “Phải làm thế nào,

để ”, “Vì sao như thế?”, Làm thế nào để tạo ra trong thức tế?” Tình huống

này đòi hỏi HS phải nhận ra và vận hành một mô hình xác định nào đó Sự bất

ổn hóa tri thức do phải nhận ra và vận hành một mô hình nào đó Sự bất ổn hóa

tri thức do HS chưa có đủ kiến thức và kỹ năng phù hợp và do đó có nhu cầu xác

lập một mô hình hoặc sửa đổi một mô hình đã có (nhưng không phù hợp) sẽ là

động lực của tiến trình xây dựng, vận dụng tri thức mới

* Câu hỏi định hướng nội dung kiến thức cần xác lập:

Việc tìm cách trả lời câu hỏi như trên gắn liền với việc đặt ra câu hỏi “Có

mối liên hệ nào (có cái gì) chi phối mà từ đó sẽ suy ra được câu trả lời cho câu

hỏi đặt ra?” Câu hỏi này đòi hỏi HS phải vận hành một mô hình nào đó Vì vậy

điều quan trọng trước hết sẽ là phải xác định và thảo luận về mô hình đó

* Câu hỏi yêu cầu xác định giải pháp tìm tòi, xác lập kiến thức cần xây

dựng, vận dụng:

Nếu không thể sử dụng một mô hình đã có mà cần xác lập một mô hình

mới, thì câu hỏi được đặt ra tiếp theo sẽ là: “Một cách lý thuyết, có thể xác lập

tính chất, mối liên hệ đó (mô hình giả thuyết) như thế nào?; hoặc “Làm thế nào

Trang 20

Khóa luận tốt nghiệp

thì có thể sẽ quan sát, đo được cái gì cần cho sự xác lập tính chất, mối liên hệ, và

từ đó rút ra kết luận gì?”

* Câu hỏi yêu cầu diễn đạt chính xác, cô đọng kiến thức xác lập được:

Kiến thức xác lập cần được diễn đạt chính xác, cô đọng để có thể vận

dụng, nghĩa là cần trả lời được câu hỏi: “Nội dung của kiến thức đã được xác lập

cần được diễn đạt một cách chính xác, cô đọng như thế nào?”

* Câu hỏi yêu cầu vận dụng, kiểm tra kiến thức đã xác lập:

Việc sử dụng mô hình đã lựa chọn cho phép rút ra câu trả lời cho các câu

hỏi: “Vì sao như thế?; Có tác dụng gỉ? (giải thích thế nào)”; “Sẽ như thế nào,

nếu…?”; “ Phải thế nào, để…?”; “Làm thế nào để tạo ra được…trong thức tế?”

Đó là loại câu hỏi yêu cầu vận dụng kiến thức được xác lập Việc xem xét sự phù

hợp giữa lý thuyết và thực nghiệm trong việc trả lời các câu hỏi này là sự kiểm

tra, hợp thức hóa tri thức mới

1.3.3.4 Tổ chức hợp lý hoạt động của cá nhân và của tập thể học sinh.

Trong lớp (trong mỗi tiết học) mỗi HS phải hoạt động để tự chiếm lĩnh

kiến thức theo nhịp độ của riêng mình Tuy nhiên, việc thảo luận nhóm và tranh

luận ở lớp không những tạo điều kiện cho HS có thể giúp đỡ gợi ý, hỗ trợ lẫn

nhau trong việc tìm tòi nghiên cứu bảo vệ ý kiến của mình, hợp thức hóa những

kết quả nghiên cứu bảo vệ ý kiến của mình, hợp thức hóa những kết quả nghiên

cứu phải được cộng đồng chấp nhận mà còn rèn luyện cho HS năng lực tự khẳng

định, năng lực giao tiếp ứng xứ trong tiết học GV có thể tổ chức hoạt động

nhóm theo hai kiểu sau:

- Kiểu 1: Nhiệm vụ thống nhất cho cả lớp và sản phẩm thống nhất.

Các nhóm hoạt động độc lập thực hiện một mục tiêu do GV qui định, thảo

luận trong nhóm để đi tới kết luận Cuối cùng đại diện của nhóm công bố kết quả

của nhóm mình trước lớp và tranh luận để đi tới kết quả chung

Phạm Thị Hảo Lớp A – K54 Vật Lý

20

Trang 21

Khóa luận tốt nghiệp

Khi HS làm việc trong nhóm GV theo dõi giúp đỡ riêng từng nhóm nếu

cần Khi tổ chức tranh luận chung cả lớp, GV đóng vai trò là trọng tài, giúp HS

khẳng định những ý đúng, sửa chữa những ý sai, bổ xung những ý chưa đầy đủ

để đạt được sự thống nhất trong cả lớp

- Kiểu 2: Nhiệm vụ chung cho cả lớp, phân công cho mỗi nhóm thực hiện

một phần riêng, cuối cùng lắp ráp các kết quả của các nhóm thành một sản phẩm

duy nhất, chung cho cả lớp Kiểu này áp dụng cho những bài học phức tạp gồm

nhiều mục tiêu, bộ phận mà mỗi nhóm HS không đủ thời gian hay thiết bị để

hoàn thành tất cả Sau khi nêu nhiệm vụ chung, GV phân công mỗi nhóm một

nhiệm vụ độc lập

VD: Khi dạy bài “ Từ trường của một số dòng điện có dạng đơn giản”, sau khi

HS cùng GV đưa ra phương án dùng từ phổ để quan sát hình ảnh của các đường sức

từ GV phân công cho mỗi nhóm tiến hành một thí nghiệm tạo từ phổ của từ trường

của dòng điện thẳng hoặc dòng điện tròn hoặc dòng điện trong ống dây

1.3.4 Các pha của tiến trình dạy học giải quyết vấn đề

Để phát huy tổng hợp các nhân tố tác động: Vai trò của HS trong sự tự chủ

hành động xây dựng kiến thức; Vai trò của GV trong tổ chức tình huống học tập

và định hướng hành động tìm tòi xây dựng tri thức của HS; Vai trò tương tác của

xã hội (của tập thể HS) đối với quá trình nhận thức của mỗi cá nhân HS, đồng

thời cho HS tập quen với quá trình xây dựng và bảo vệ cái mới trong nghiên cứu

khoa học, thì cần tổ chức tiến trình dạy học phỏng theo tiến trình xây dựng, bảo

vệ tri thức mới trong nghiên cứu khoa học Tiến trình dạy học giải quyết vấn đề

trải qua các pha được diễn tả bằng sơ đồ của tiến trình dạy học phỏng theo tiến

trình xây dựng, bảo vệ tri thức mới trong nghiên cứu khoa học

* Pha thứ nhất: Chuyển giao nhiệm vụ bất ổn hóa tri thức, phát biểu vấn

đề (tương ứng với (1) và (2) trong sơ đồ (3)) GV giao cho HS nhiệm vụ tiềm ẩn

vấn đề Dưới sự hướng dẫn của GV, HS quan tâm đến nhiệm vụ đặt ra, sẵn sàng

nhận và tự nguyện thực hiện nhiệm vụ

Trang 22

Khóa luận tốt nghiệp

* Pha thứ hai: HS hành động độc lập, tự chủ, trao đổi, tìm tòi giải quyết

vấn đề (tương ứng với (3) và ô (4) trong sơ đồ (3)).

HS độc lập xoay sở vượt qua khó khăn, có sự định hướng của GV khi cần

HS diễn đạt, trao đổi với người khác trong nhóm về cách giải quyết vấn đề

và kết quả thu được, qua đó chỉnh lí, hoàn thiện tiếp

Dưới sự hướng dẫn của GV, hành động của HS được định hướng phù hợp

với tiến trình nhận thức khoa học và thông qua các tình huống thứ cấp (khi cần)

* Pha thứ ba: Tranh luận thể chế hóa, vận dụng tri thức mới (tương ứng

với (5) và ô (6) trong sơ đồ (3))

Dưới sự hướng dẫn của GV, HS tranh luận, bảo vệ cái xây dựng được GV

chính xác hóa, bổ sung, thể chế hóa tri thức mới Học sinh chính thức ghi nhận

tòi giải quyết vấn đề

Pha thứ ba: Tranh

luận, thể chế hóa,

vận dụng tri thức

mới

(2) Phát biểu vấn đề - bài toán

(3) Giải quyết vấn đề: Suy đoán, thực hiện giải pháp

(4) Kiểm tra, xác nhận kết quả: Xem xét

sự phù hợp của lý thuyết và thực nghiệm

(5) Trình bày, thông báo, thảo luận, bảo

vệ kết quả

(6) Vận dụng tri thức mới để giải quyết nhiệm vụ đặt ra tiếp theo

(1) Tình huống có vấn đề tiềm ẩn

Hình 3: Sơ đồ các pha của tiến trình dạy học phỏng theo

tiến trình xây dựng, bảo vệ tri thức mới trong nghiên cứu

khoa học

Trang 23

Khóa luận tốt nghiệp

1.3.5 Kiểm tra đánh giá kiến thức kỹ năng của học sinh

1.3.5.1 Khái niệm kiểm tra đánh giá.

Kiểm tra đánh giá được hiểu là sự theo dõi, tác động của người dạy đối

với người học nhằm thu được những thông tin cần thiết để đánh giá

1.3.5.2 Chức năng của kiểm tra đánh giá.

Chức năng sư phạm của kiểm tra đánh giá

+ Chức năng chuẩn đoán chuẩn bị dạy học

+ Chức năng chỉ đạo, định hướng hoạt động học

+ Chức năng xác nhận thành tích học tập, hiệu quả dạy học

* Chức năng chuẩn đoán chuẩn bị dạy học

Các bài kiểm tra / trắc nghiệm có thể được sử dụng như phương tiện thu

nhận thông tin cần thiết cho việc xác định hoặc việc cải tiến nội dung, mục tiêu

và phương pháp dạy học

Nhờ việc xem xét kết quả kiểm tra, đánh giá kiến thức, người ta biết trình

độ đầu vào của người học, từ đó xem xét các nội dung, phương pháp dạy học

tiếp theo một cách phù hợp Đồng thời việc xem xét kết quả kiểm tra đánh giá

cũng cho phép đề xuất hướng bổ sung những sai sót, phát huy những kết quả

trong cải tiến hoạt động dạy học đối với các phần kiến thức đã giảng dạy

* Chức năng chỉ đạo, định hướng hoạt động học.

Trang 24

Khóa luận tốt nghiệp

Các bài kiểm tra/ trắc nghiệm có thể được sử dụng như phương tiện,

phương pháp dạy học, thông qua việc kiểm tra đánh giá để dạy Đó là các câu

hỏi kiểm tra từng phần, kiểm tra đánh giá để chỉ đạo hoạt động học

Các bài kiểm tra giao cho HS, sinh viên nếu được soạn thảo một cách

công phu có thể được xem như một cách diễn đạt mục tiêu dạy học cụ thể đối

với các kiến thức, kĩ năng nhất định Nó có tác dụng định hướng hoạt động học

tập tích cực tự chủ của HS, sinh viên Việc xem xét, thảo luận về các câu hỏi trắc

nghiệm, nếu được thực hiện, tổ chức một cách khoa học đúng lúc có thể xem

như một phương pháp dạy học tích cực giúp cho người học chiếm lĩnh được kiến

thức một cách tích cực, sâu sắc và vững chắc, đồng thời có thể giúp cho người

dạy kịp thời bổ sung, điều chỉnh hoạt động dạy có hiệu quả

* Chức năng xác nhận thành tích học tập, hiệu quả dạy học.

Các bài kiểm tra / trắc nghiệm được sử dụng để đánh giá thành tích học

tập, xác nhận trình độ nhận thức, kiến thức kĩ năng của người học

Việc kiểm tra đánh giá trình độ kiến thức, kĩ năng đòi hỏi phải soạn thảo

nội dung các bài kiểm tra / trắc nghiệm và các tiêu chí đánh giá, căn cứ theo các

mục tiêu dạy học cụ thể đã được xác định cho từng kiến thức kĩ năng Các bài

kiểm tra / trắc nghiệm như vậy có thể được sử dụng để nghiên cứu đánh giá mục

tiêu dạy học và hiệu quả của phương pháp dạy học

Ba chức năng sư phạm của kiểm tra, đánh giá nêu trên được thực hiện

tương ứng với qui trình kiểm tra đánh giá kiến thức, kĩ năng của HS theo thời

điểm khác nhau của quá trình dạy học hay một học phần đó là:

- Kiểm tra khi bắt đầu dạy học một học phần

- Kiểm tra trong quá trình dạy học một học phần

- Kiểm tra sau khi kết thúc một học phần

1.3.5.3 Nguyên tắc chung cần quán triệt trong kiểm tra , đánh giá

Phạm Thị Hảo Lớp A – K54 Vật Lý

24

Trang 25

Khóa luận tốt nghiệp

Nguyên tắc chung quan trọng là: Việc kiểm tra đánh giá kiến thức, kỹ

năng cần được tiến hành theo một qui trình hoạt động chặt chẽ gồm năm pha

* Xác định rõ mục đích kiểm tra đánh giá.

Việc kiểm tra đánh giá có thể có các mục đích khác nhau tùy trường hợp,

thông thường việc kiểm tra đánh giá có các mục đích:

- Kiểm tra kiến thức kỹ năng để đánh giá trình độ xuất phát của người

học có liên quan với việc xác định nội dung phương pháp dạy học một môn

học, học phần

- Kiểm tra đánh giá nhằm mục đích dạy học: Bản thân việc kiểm tra đánh

giá nhằm định hướng hoạt động chiếm lĩnh kiến thức cần dạy

- Kiểm tra nhằm mục đích đánh giá thành tích kết quả học tập, nghiên cứu

đánh giá mục tiêu, phương pháp dạy học

* Xác định nội dung cụ thể của kiến thức kỹ năng cần kiểm tra đánh giá

Các tiêu chí cụ thể của mục tiêu dạy học với từng kiến thức, kỹ năng đó để

làm căn cứ đối chiếu các thông tin cần thu và sẽ thu được trong kiểm tra

Việc xác định nội dung kiến thức cần chính xác, cụ thể, cô đọng

Việc xác định các mục tiêu, tiêu chí đánh giá cần dựa trên quan niệm rõ

ràng và sâu sắc về các mục tiêu dạy học

* Xác định rõ biện pháp thu lượm thông tin (hình thức kiểm tra) phù hợp

với đặc điểm của nội dung kiến thức kỹ năng cần kiểm tra, phù hợp với mục đích

kiểm tra đánh giá và điều kiện cho phép Tùy trường hợp mà các hình thức kiểm

tra có thể là: Quan sát / vấn đáp / tự luận hay trắc nghiệm… Cần nhận rõ ưu,

nhược điểm của mỗi hình thức kiểm tra và khắc phục được tối đa các ưu nhược

điểm của mỗi hình thức đó

Trang 26

Khóa luận tốt nghiệp

* Xây dựng các câu hỏi, các đề kiểm tra, các bài trắc nghiệm cho phép

thu lượm các thông tin tương ứng với các tiêu chí, mục tiêu đã xác định và phù

hợp với hình thức kiểm tra đã lựa chọn

* Tiến hành kiểm tra, thu lượm thông tin (chấm) Xem xét kết quả và kết

luận đánh giá

Chấm điểm các bài kiểm tra căn cứ theo một thang điểm được xây dựng

phù hợp với các tiêu chí đánh giá đã xác định Xem xét kết quả thu được, rút ra

kết luận đánh giá tương ứng với mục đích kiểm tra đã xác định

1.4 THÍ NGHIỆM VẬT LÝ TRONG TIẾN TRÌNH DẠY HỌC GIẢI

QUYẾT VẤN ĐỀ [2]

1.4.1 Các loại thí nghiệm vật lý được sử dụng trong dạy học vật lý

*TN O vật lý là gì?

TNO vật lý là sự tác động có chủ định, có hệ thống của con người vào cá

đối tượng của hiện thực khách quan Thông qua sự phân tich các điều kiện mà

trong đó đã diễn ra sự tác động và các kết quả của sự tác động, ta có thể tác động

được một tri thức mới

*Các loại TN O được sử dụng trong dạy học vật lý:

- TNO vật lý được dùng trong dạy học vật lý ở trường THPT có hai loại:

TNO biểu diễn (TNO do GV tiến hành là chính, tuy có thể có sự hỗ trợ của HS) và

TNO thực tập (TNO do HS tự tiến hành dưới sự hướng dẫn của GV)

- TNO biểu diễn được GV tiến hành ở trên lớp, trong các giờ học nghiên

cứu kiến thức mới và có thể ở các giờ học củng cố kiến thức của HS TNO biểu

diễn có các loại sau: TNO mở đầu, TNO nghiên cứu hiện tượng (TNO nghiên cứu

khảo sát và thí nghiệm nghiên cứu minh họa), TNO minh họa (kiểm chứng), TNO

củng cố

- TNO thực tập là thí nghiệm do HS tự tiến hành trên lớp (trong phòng

TNO), ngoài lớp, ngoài nhà trường hoặc ở nhà với các mức độ tự lực khác nhau

Phạm Thị Hảo Lớp A – K54 Vật Lý

26

Trang 27

Khóa luận tốt nghiệp

TNO thực tập được chia làm ba loại: TNO trực diện, TNO thực hành (Thí nghiệm

thực hành đồng loạt, thí nghiệm thực hành cá thể),TNO quan sát vật lý ở nhà

1.4.2 Vị trí của thí nghiệm trong tiến trình dạy học vấn đề

Các loại TNO vật lý mà chúng tôi trình bày ở trên nằm ở ba pha của tiến

trình dạy học giải quyết vấn đề

- Ở pha thứ nhất:

TNO chủ yếu được dùng để tạo tình hướng có vấn đề, tạo được nhu cầu

hứng thú học tập của HS, lôi cuốn HS vào hoạt động nhận thức Nên ở pha này

GV thường dùng TNO mở đầu hay HS tiến hành TNO trong thời gian rất ngắn

- Ở pha thứ hai:

TNO được dùng bao gồm cả hai loại TNO (TNO biểu diễn và TNO thực tập)

Nếu cần xây dựng kiến thức mới thì dùng TNO biểu diễn có thể là nghiên cứu

khảo sát, có thể là nghiên cứu kiểm chứng còn nếu cần khái quát hóa lý thuyết,

kiểm tra tính đúng đắn của các hệ quả lý thuyết thì có thể dùng thí nghiệm thực

tập của học sinh hay thí nghiệm biểu diễn của giáo viên

- Ở pha thứ ba:

TNO được dùng để củng cố nhằm giúp HS vận dụng kiến thức đã học để

giải thích, dự đoán hiện tượng, qua đó nắm vững kiến thức đã học hoặc có thể

dùng TNO quan sát ở nhà

Như vậy, TNO vật lý giữ một vai trò đặc biệt quan trọng, nó là cơ sở để

xây dựng, chứng minh kiến thức vật lý Do đó nó là yếu tố không thể thiếu được

trong dạy học vật lý TNO kết hợp với sự phân tích lý thuyết làm cho HS hiểu sâu

sắc mối quan hệ giữa các khái niệm, định luật khái quát với thực tiễn , làm kiến

thức HS vững chắc hơn, đồng thời phát triển tư duy vật lý của HS

Tổ chức các TNO vật lý trong quá trình dạy học không chỉ đơn thuần là

rèn cho HS thao tác tiến hành TNO mà phải bồi dưỡng cho HS năng lực thực

nghiệm bao gồm cả hai mặt: Hoạt động tư duy (đầu óc) và hoạt động thể chất

(các giác quan) Để đạt được mục đích đó việc tổ chức các TNO trong dạy học

trải qua các bước sau:

Trang 28

Khóa luận tốt nghiệp

Bước 1: Đề suất phương án TNO để kiểm tra dự đoán, giả thiết hay

nghiệm lại một quy tắc, định luật

Bước 2: Thiết kế TNO cụ thể

Bước 3: Lắp ráp và tiến hành TNO

Bước 4: Xử lí kết quả rút ra nhận xét

Với từng TNO, ở những bài học cụ thể, tùy thuộc vào điều kiện cơ sở vật

chất, trình độ HS, thời gian tiết học mà GV có thể tổ chức hướng dẫn HS tiến

hành một số bước hoặc toàn bộ các bước hoặc HS tự lực hoàn toàn để phát huy

tích cực, tự chủ sáng tạo của HS, hoàn thành kế hoạch bài giảng

1.5 TÍNH TÍNH CỰC CỦA HỌC SINH TRONG HỌC TẬP [6].

1.5.1 Tính tích cực của học sinh trong dạy học vật lý.

Tính tích cực học tập là một hiện tượng sư phạm biểu hiện ở sự cố gắng

cao về nhiều mặt trong học tập (L.V.Rebrova, 1975) Học tập là một trường hợp

riêng của nhận thức: “một sự nhận thức đã được làm cho dễ dàng đi và được

thực hiện dưới sự chỉ đạo của GV” (P N Erđơniev, 1974) Vì vậy, nói tới tích

cực học tập thực chất là nói tới tính tích cực nhận thức, mà tính tích cực nhận

thức là trạng thái hoạt động nhận thức của học sinh đặc trưng ở khát vọng học

tập, cố gắng trí tuệ và nghị lực cao trong quá trình nắm vững kiến thức Khác

với quá trình nhận thức trong nghiên cứu khoa học, quá trình nhận thức trong

học tập không nhằm phát hiện những điều con người chưa biết về bản chất, quy

luật của các hiện tượng khách quan mà nhằm lĩnh hội những tri thức mà loài

người đã tích luỹ được Tuy nhiên trong học tập HS cũng phải : “khám phá” ra

những điều mới đối với bản thân mình Dù đó chỉ là khám phá ra những điều loài

người đã biết

Con người chỉ thực sự nắm vững cái mà chính mình đã giành được bằng

hoạt động của bản thân HS sẽ thông hiểu và ghi nhớ những gì đã trải qua hoạt

động nhận thức tích cực của mình, trong đó các em đã phải có những cố gắng trí

tuệ, đó là chưa nối lên tới một trình độ nhất định, thì sự học tập tích cực sẽ mang

Phạm Thị Hảo Lớp A – K54 Vật Lý

28

Trang 29

Khóa luận tốt nghiệp

tính nghiên cứu khoa học và người học cũng có thể tìm ra kiến thức mới cho

nhân loại

1.5.2 Các biểu hiện của tính tích cực học tập

Có trường hợp tính tích cực học tập biểu hiện ở những hoạt động cơ bắp

nhưng quan trọng là sự biểu hiện ở những hoạt động trí tuệ; hai hình thức biểu

hiện này thường đi liền với nhau Theo G I Sukina (1979) có thể nêu những dấu

hiệu của tính tích cực hoạt động trí tuệ như sau:

- HS khảo sát tự nguyện tham gia trả lời các câu hỏi của GV, bổ xung câu

trả lời của bạn, thích được phát biểu ý kiến của mình về vấn đề nêu ra

- HS hay nêu thắc mắc, đòi hỏi giải thích cặn kẽ những vấn đề GV trình

bày chưa rõ

- HS chủ động vận dụng linh hoạt những kiến thức, kỹ năng đã được học

để giải quyết vấn đề mới

- HS mong muốn được đóng góp với thầy với bạn những thông tin mới lấy

từ những nguồn khác nhau, có khi vượt ra ngoài môn học, bài học

Ngoài những biểu hiện nói trên mà GV dễ nhận thấy còn có những biểu

hiện về mặt xúc cảm, khó nhận thấy hơn, như thờ ơ hay hào hứng, phớt lờ hay

ngạc nhiên, hoan hỉ hay buồn chán trước một nội dung náo đó của bài học hoặc

khi tìm ra lời giải cho một bài tập Những dấu hiệu này biểu hiện khác nhau ở

từng cá thể HS, bộc lộ rõ ở các lớp HS bé, kín đáo ở HS lớp trên

G I Ukina còn phân biệt những biểu hiện của tính tích cực học tập về mặt

ý trí

- Tập chung chú ý vào vấn đề đang học

- Kiên trì làm song các bài tập

- Không nản trước những tình huống khó khăn

- Thái độ phản ứng khi chuông báo hết tiết học: Tiếc rẻ cố làm cho xong

hoặc vội vàng gấp vở chờ được lệnh ra chơi

1.5.3 Các cấp độ của tính tích cực học tập

Trang 30

Khóa luận tốt nghiệp

Có thể phân biệt ở ba cấp độ khác nhau từ thấp lên cao:

- Bắt chước: HS tích cực bắt chước hoạt động của GV của bạn bè Trong

hành động bắt chước cũng phải có sự gắng sức của thần kinh và cơ bắp

- Tìm tòi: HS tìm cách độc lập giải quyết bài tập nêu ra, mò mẫm những

cách giải khác nhau để tìm ra lời giải hợp lý nhất

- Sáng tạo: HS nghĩ ra cách giải mới độc đáo hoặc cấu tạo những bài tập mới,

hoặc cố gắng lắp đặt những TNO mới để chứng minh bài học Tất nhiên mức độ

sáng tạo của HS là sáng tạo những kiến thức đã có trong kho tàng kiến thức của loài

người nhưng đó chính là mầm mống để phát triển trí sáng tạo về sau

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Trong chương 1 tôi trình bày về cơ sở lí luận hiện đại về dạy học nhằm

phát triển hoạt động nhận thức tích cực, tự chủ, sáng tạo và tư duy khoa học của

Học sinh trong học tập, bao gồm những vấn đề sau:

- Theo quan điểm hiện đại về dạy học vật lý ở trường phổ thông dạy học là

dạy giải quyết vấn đề, quá trinh hoạt động nhận thức của học sinh phỏng theo

hoạt động của các nhà khoa học, học sinh trao đổi, tranh luận, tự tìm tòi giải

quyết vấn đề đặt ra

- Thiết lập sơ đồ biểu đạt lôgic của tiến trình nhận thức khoa học đối với

tri thức cần dạy, vừa đáp ứng được đòi hỏi phương pháp luận của tiến trình khoa

học xây dựng tri thức, vừa phù hợp với trình độ nhận thức của học sinh

- Để học sinh tích cực, tự chủ tham gia vào việc xây dựng tri thức mới, cần

phải tổ chức tình huống có vấn đề trong học tâp sao cho học sinh sẵn sàng tham

gia và tích cực giải quyết vấn đề

- Để đảm bảo cho học sinh không những lĩnh hội được tri thức cần thiết mà

qua đó trí tuệ các em còn được rèn luyện, năng lực tư duy khoa học được phát triển

thì cần có sự định hướng hành động học của học sinh một cách đúng đắn Trong

quá trình học sinh tự lực tham gia giải quyết vấn đề phải xây dựng đượhệ thống

câu hỏi, các câu gợi ý theo kiểu định hướng khái quát chương trình hóa

Phạm Thị Hảo Lớp A – K54 Vật Lý

30

Trang 31

Khóa luận tốt nghiệp

- Để phát huy đầy đủ vai trò của giáo viên, vai trò của học sinh trong hoạt

động dạy và học, phát huy vai trò của xã hội đối với quá trình nhận thức của mỗi

cá nhân đồng thời tạo điều kiện cho học sinh làm quen với việc xây dựng và bảo

vệ cái mới trong nghiên cứu khoa học thì cần thiết thực hiện tiến trình dạy theo

các pha phỏng theo tiến trình xây dựng tri thức mới trong nghiên cứu khoa học

Tất cả những điều trên sẽ được em vận dụng vào quá trình thiết kế

phương án dạy học phần “Từ trường của một số dòng điện có dạng đơn giản”

trong chương trình Vât lý lớp 11 – THPT

CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH NỘI DUNG VÀ TIẾN TRÌNH

KHOA HỌC XÂY DỰNG TRI THỨC CHƯƠNG

từ

Lực từ tác dụng lên một đoạn dây dẫn thẳng dài

Lực từ tác dụng giữa hai dòng điện thẳng dài song song

Lực từ tác dụng lên dòng điện chạy trongkhungdây

Lực từ tác dụng lên hạt mang điện chuyển động

Dòng điện trong ống dây dài

Trang 32

Khóa luận tốt nghiệp

DIỄN GIẢI

Trong thực tế có các loại tương tác như: Nam châm – nam châm, nam

châm – dòng điện, dòng điện – dòng điện Các tương tác này không phải là

tương tác điện, chúng có chung một bản chất và được gọi là tương tác từ Vấn đề

là tương tác từ được truyền như thế nào? Và các lực tương tác này có phương,

chiều, độ lớn ra sao?

Tương tác từ truyền đi nhờ môi trường vật chất đặc biệt gọi là từ trường,

đó là môi trường bao quanh các điện tích chuyển động Để hiểu về từ trường,

trong chương trình Vật lý 11 – PTTH đề cập hai vấn đề:

- Mô tả từ trường bằng các đường sức từ

- Xét tính chất cơ bản của từ trường là tác dụng lực lên hạt mang điện chuyển

động trong nó Đại lượng đặc trưng cho tính chất này là véctơ cảm ứng từ

Về đường sức từ, dạng của nó được xác định nhờ hình ảnh của từ phổ,

chiều của đường sức từ dựa vào sự định hướng của kim nam châm đặt trong từ

trường, trong trường hợp này từ trường do dòng điện sinh ra thì chiều đường sức

ứng từ xác định bằng qui tắc nắm bàn tay phải hoặc qui tắc đinh ốc 1, 2

Về véctơ cảm ứng từ, đây là đại lượng đặc trưng cho từ trường tại một

điểm về mặt tác dụng lực Khi vẽ được đường sức từ thì sẽ xác định được

Phạm Thị Hảo Lớp A – K54 Vật Lý

32

Trang 33

Khóa luận tốt nghiệp

phương, chiều của véctơ cảm ứng từ tại một điểm trên đường sức từ đó Độ lớn

của véctơ cảm ứng từ trong chương trình này chỉ thông báo một số công thức

tính độ lớn véctơ cảm ứng từ ở một số điểm đặc biệt trong từ trường của các

dòng điện:

1) Dòng điện chạy trong dây dẫn thẳng dài

2) Dòng điện trong khung dây tròn

3) Dòng điện trong ống dây dài

Về lực từ, bằng thực nghiệm rút ra được qui tắc bàn tay trái để xác định

phương, chiều của lực từ Độ lớn của lực từ tính bằng công thức Ampe Dựa vào

đó ta xác định được các véctơ lực từ như:

1) Lực từ trường đều tác dụng lên một đoạn dòng điện thẳng

2) Lực tương tác giữa hai dòng điện thẳng dài song song

3) Lực từ tác dụng lên dòng điện chạy trong khung dây và từ đó xác định

được mômen từ

4) Lực từ tác dụng lên hạt mang điện chuyển động trong từ trường (lực

lorenxo)

Từ sự phân tích rõ cấu trúc của chương, tôi chọn mảng kiến thức về đường

sức từ làm đề tài nghiên cứu của mình

2.2 NỘI DUNG KIẾN THỨC KĨ NĂNG CẦN CÓ SAU KHI HỌC

2.2.1 Nội dung về kiến thức

Sau khi học xong chương “Từ trường” học sinh cần nắm vững các nội

dung kiến thức sau:

2.2.1.1 Các kiến thức về “ Từ trường”.

2.2.1.1.1 Khái niệm tương tác từ.

Tương tác từ là tương tác giữa các hạt mang điện chuyển động

- Tương tác giữa hai nam châm

Trang 34

Khóa luận tốt nghiệp

- Tương tác giữa dòng điện – nam châm

- Tuơng tác giữa hai dòng điện

2.2.1.1.2 Khái niệm từ trường

Từ trường là dạng vật chất tồn tại xung quanh nam châm, dòng điện

( hay xung quanh các hạt mang điện chuyển động), tính chất cơ bản của từ

trường là tác dụng lực từ lên nam châm hay một dòng điện đặt trong nó

2.2.1.1.3 Đường sức từ

Để biểu diễn từ trường trong không gian ta vẽ các đường sức từ Đó là

những đường mà tiếp tuyến ở mỗi điểm trùng với phương của véctơ cảm ứng từ,

chiều của nó trùng với chiều của véctơ cảm ứng từ tại điểm đó

* Tính chất của các đường sức từ

- Tại một điểm trong từ trường, có thể vẽ một đường sức từ đi qua và chỉ

một mà thôi

- Các đường sức từ là những đường cong kín.Trong trường hợp nam châm ở

ngoài nam châm các đường sức từ đi ra ở cực Bắc, đi vào ở cực Nam của nam châm

- Các đường sức từ không cắt nhau

- Nơi nào cảm ứng từ lớn hơn thì các đường sức từ ở đó vẽ mau hơn (dày

hơn), nơi nào cảm ứng từ nhỏ hơn thì các đường sức từ ở đó vẽ thưa hơn

* Từ phổ: Là hình ảnh các mạt sắt sắp xếp trong từ trường Dựa vào từ

phổ ta biết được gần đúng về hình dạng và sự phân bố các đường sức từ của từ

trường

2.2.1.1.4 Cảm ứng từ

Cảm ứng từ tại một điểm là đại lượng đặc trưng cho từ trường tại điểm đó

về phương diện tác dụng lực và là đại lượng đo bằng thương số giữa lực từ tác

dụng lên lên một đoạn dây dẫn có độ dài đủ nhỏ mang dòng diện đặt vuông góc

Phạm Thị Hảo Lớp A – K54 Vật Lý

34

- Điểm đặt: tại điểm khảo sát

- Phương: trùng với trục của nam châm thử đặt tại điểm đó

- Chiều: từ cực Nam Bắc của nam châm thử nằm cân bằng tại điểm đó

- Độ lớn: Véctơ cảm ứng từ

Trang 35

Khóa luận tốt nghiệp

với đường cảm ứng từ tại điểm đó và tích của cường độ dòng điện với độ dài

đoạn dây đó

2.2.1.1.5 Nguyên lý chồng chất từ trường

Véctơ cảm ứng từ tại một điểm do nhiều dòng điện gây ra bằng tổng

các véctơ cảm ứng từ do dòng điện gây ra tại điểm ấy

B B i

2.2.1.1.6 Từ trường của dòng điện trong các mạch có dạng khác nhau

- Từ trường của dòng điện trong dây dẫn thẳng dài vô hạn

+ Đường sức từ là những đường tròn đồng tâm nằm trong mặt phẳng

vuông góc với dây dẫn

+ Chiều của đường sức từ xác định bằng qui tắc nắm bàn tay phải hay

qui tắc đinh ốc 1

- Véctơ cảm ứng từ tại điểm M:

r là khoảng cách từ điểm tính cảm ứng từ tới dây dẫn

I là cường độ dòng điện trong dây dẫn thẳng dài vô hạn

- Từ trường của dòng điện trong khung dây tròn

+ Dạng đường sức từ: Các đường sức từ đều là những đường cong

Càng gần tâm O độ cong của các đường sức từ càng giảm Đường sức từ qua tâm

O là đường thẳng

- Điểm đặt: tại M

- Phương: tiếp tuyến với đường sức từ tại M

- Chiều: Theo chiều đường sức từ

- Độ lớn:

Véctơ cảm ứng từ

Trang 36

Khóa luận tốt nghiệp

+ Chiều đường sức từ: Xác định bằng qui tắc nắm bàn tay phải hoặc

- Từ trường của dòng điện trong ống dây

+ Dạng các đường sức từ: Các đường sức từ bên trong ống dây là các

đường thẳng song song cách đều Bên ngoài ống dây là những đường cong có

dạng giống như đường sức từ của nam châm thẳng

+ Chiều các đường sức từ bên trong ống dây được xác định theo qui tắc

nắm bàn tay phải hoặc qui tắc đinh ốc 2

+ Trong ống dây từ trường đều có

Trong đó: n là số vòng dây trên một mét chiều dài của ống

I là cường độ dòng điện chạy trong ống dây

- Phương: song song với trục ống dây

- Chiều: Theo chiều đường sức từ

- Độ lớn:

- Điểm đặt: trung điểm của đoạn dây

- Phương: vuông góc

- Chiều: xác định theo qui tắc bàn tay trái

- Độ lớn: theo công thức ampe Lực

Véctơ cảm ứng từ

- Điểm đặt: tại tâm

- Phương: Vuông góc với mặt phẳng khung

- Chiều: Theo chiều đường sức từ

- Độ lớn:

Trang 37

Khóa luận tốt nghiệp

2.2.1.2.2 Lực tương tác giữa hai dây dẫn song song mang dòng điện

- Hai dây dẫn song song có dòng điện cùng chiều hút nhau, ngược chiều

- Một khung dây mang dòng điện đặt trong một từ trường đều, sẽ chịu tác

dụng của một ngẫu lực từ làm khung dây quay quanh một trục

- Vị trí mặt phẳng khung dây vuông góc với đường cảm ứng từ thì M =0

gọi là vị trí cân bằng của khung

- Vị trí mặt phẳng khung song song với đường cảm ứng từ thì momen

ngẫu lực cực đại Mmax =I.B.S S là mặt phẳng giới hạn bởi khung dây

2.2.1.2.4 Lực lorenxơ

Lực từ tác dụng lên một hạt mang điện chuyển động trong từ trường gọi

là lực lorenxơ

2.2.2 Các kỹ năng cơ bản cần rèn luyện

* Kĩ năng thảo luận nhóm:

Luyện tập, đề xuất phương án thí nghiệm kiểm tra dự đoán

Lực

Trang 38

Khóa luận tốt nghiệp

Tiến hành một số thí nghiệm đơn giản như: tương tác giữa nam châm –

nam châm, nam châm – dòng điện, dòng điện – dòng điện thí nghiệm tạo từ phổ

* Kĩ năng vận dụng:

HS vận dụng được:

- Kĩ năng biểu diễn các đường sức từ (của nam châm, dòng điện chạy

trong các mạch có dạng khác nhau) đúng dạng, đúng độ lớn (mau thưa)

- Kĩ năng từ sự định hướng của nam châm, vẽ các đường sức từ của

nam châm (dạng, chiều) từ đó xác định các cực của nam châm và ngược lại

- Thành thạo qui tắc nắm bàn tay phải và qui tắc đinh ốc 1,2 xác định

chiều đường sức từ của dòng điện trong các loại dây dẫn

- Thành thạo qui tắc bàn tay trái xác định hướng một trong ba đại lượng

khi biết hướng của hai đại lượng kia

- Kĩ năng tính toán các đại lượng trong công thức: tính B F M, ,

- Thành thạo các kiến thức toán học như: cộng vecto, hệ thức lượng giác

2.3 NHỮNG THUẬN LỢI, KHÓ KHĂN CỦA GV KHI DẠY

CHƯƠNG “TỪ TRƯỜNG” VÀ KHÓ KHĂN, SAI LẦM CỦA HỌC SINH

KHI HỌC CHƯƠNG NÀY.

Qua hai đợt thực tập sư phạm cùng với việc dự giờ và giảng dạy, tham

khảo ý kiến của các thầy cô giáo ở trường thức tập và thông qua bài kiểm tra của

học sinh, tôi đã rút ra được một số thuận lợi và khó khăn của các thầy cô giáo khi

dạy chương từ trường cũng như những khó khăn, sai lầm của học sinh khi học

Trang 39

Khóa luận tốt nghiệp

- Đồ dùng dạy học: Nam châm, kim nam châm dễ kiếm, dễ tìm Để HS quan

sát hình dạng của đường sức từ của nam châm bằng thí nghiệm từ phổ

dưới sự hướng dẫn của GV, HS có thể làm được và cho kết quả nhanh

- Nam châm và hiện tượng từ là những cái HS đã biết và quen thuộc từ

lâu, khi nói đến nam châm là HS nghĩ ngay đến hiện tượng từ và khi nói đến từ

là nghĩ ngay đến nam châm Đó là thuận lợi và nên lợi dụng những hiểu biết một

cách tự nhiên này để giới thiệu về hiện tượng từ rồi sau đó dần dần làm cho HS

hiểu vấn đề chính xác hơn

- HS được học phần điện trường nên khi dạy phần này HS sẽ so sánh nam

châm nhỏ với điện tích thử

b) Khó khăn

- So với tương tác tĩnh điện thì tương tác từ phức tạp hơn Tương tác

tĩnh điện là tương tác giữa hai hạt mang điện đứng yên, tương tác từ là tương tác

giữa hai hạt mang điện chuyển động Lực tĩnh điện giữa hai hạt mang điện có

phương là đường thẳng qua hai hạt đó, lực từ giữa hai hạt mang điện chuyển

động được xác định không phải chỉ bằng điện tích của các hạt mà còn bằng cả

trạng thái chuyển động của các hạt đó Vì vậy thông số xác định lực từ lớn hơn

thông số xác định lực tĩnh điện

- Coi vị trí của nam châm thử xác định cho hướng của véctơ cảm ứng

từ Nhưng không giải thích được vì sao nam châm thử lại nằm dọc theo véctơ

cảm ứng từ, thành ra việc đưa ra hướng của véctơ cảm ứng từ là áp đặt

- Sau khi khảo sát phương, chiều của lực từ, hợp lý hơn cả là tiếp theo

đó ta khảo sát độ lớn của lực từ Nhưng HS vẫn chưa có khái niệm độ lớn

véctơ cảm ứng từ Nên đến đây phải tạm dừng việc khảo sát lực từ và chuyển

sang nghiên cứu độ lớn cảm ứng từ Do vậy lực từ và cảm ứng từ trình bày đan

xen nhau

Ngày đăng: 01/04/2015, 18:26

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Phạm Hữu Tòng – Lý luận dạy học Vật lý ở trường trung học – Nhà xuất bản Giáo dục – 2001 Khác
2. Nguyễn Đức Thâm – Nguyễn Ngọc Hưng – Phạm Xuân Quế - Phương pháp dạy học Vật lý ở trường phổ thông – Nhà xuất bản Đại học Sư phạm – 2002 Khác
3. Nguyễn Đức Thâm – Nguyễn Ngọc Hưng – Tổ chức hoạt động nhận thức cho HS trong dạy học vật lý ở trường phổ thông Khác
4. Phạm Hữu Tòng – Nguyễn Đức Thâm – Phạm Xuân Quế - Tài liệu bồi dưỡng thường xuyên giáo viên THPT (chu kì III 2004 – 2007 ) – Nhà xuất bản Đại học Sư phạm – 2006 Khác
5. Phạm Hữu Tòng – Lí luận dạy học Vật lí 1 – Nhà xuất bản Đại học Sư phạm - 2005 Khác
6. Phạm Hữu Tòng – Dạy học Vật lí ở trường phổ thông theo hướng phát triển hoạt động tích cực, sáng tạo và tư duy khoa học – Nhà xuất bản Đại học Sư phạm – 2006 Khác
8. Sách giáo viên lớp 11 NC – Nhà xuất bản giáo dục 2007 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1: Dạng khái quát của sơ đồ mô phỏng tiến trình khoa học giải quyết  vấn đề, đề xuất kiến thức cụ thể - Thiết kế phương án dạy học một số bài phần “Từ trường của dòng điện chạy trong dây dẫn có hình dạng khác nhau.
Sơ đồ 1 Dạng khái quát của sơ đồ mô phỏng tiến trình khoa học giải quyết vấn đề, đề xuất kiến thức cụ thể (Trang 13)
Sơ đồ 2: Dạng khái quát của sơ đồ mô phỏng tiến trình khoa học giải quyết  vấn đề, kiểm nghiệm hoặc ứng dụng một kiến thức cụ thể - Thiết kế phương án dạy học một số bài phần “Từ trường của dòng điện chạy trong dây dẫn có hình dạng khác nhau.
Sơ đồ 2 Dạng khái quát của sơ đồ mô phỏng tiến trình khoa học giải quyết vấn đề, kiểm nghiệm hoặc ứng dụng một kiến thức cụ thể (Trang 14)
Sơ đồ các pha của tiến - Thiết kế phương án dạy học một số bài phần “Từ trường của dòng điện chạy trong dây dẫn có hình dạng khác nhau.
Sơ đồ c ác pha của tiến (Trang 22)
2.1. SƠ ĐỒ CẤU TRÚC NỘI DUNG CHƯƠNG “TỪ TRƯỜNG”. - Thiết kế phương án dạy học một số bài phần “Từ trường của dòng điện chạy trong dây dẫn có hình dạng khác nhau.
2.1. SƠ ĐỒ CẤU TRÚC NỘI DUNG CHƯƠNG “TỪ TRƯỜNG” (Trang 31)
Sơ đồ 1:  Tương tác từ - Thiết kế phương án dạy học một số bài phần “Từ trường của dòng điện chạy trong dây dẫn có hình dạng khác nhau.
Sơ đồ 1 Tương tác từ (Trang 44)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w