Với kết quả thu được, tác giả đưa ra những đề xuất: Về phương pháp tính giá thành sản phẩm: Tác giả đã đưa ra đặc điểm quy trình công nghệ sản xuất, đối với ngành chế biến thủy sản có cù
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là đề tài nghiên cứu do tôi thực hiện Các số liệu
và kết luận nghiên cứu trình bày trong luận văn là trung thực và chưa được ai
sử dụng trong bất kỳ luận văn nào trước đây.
Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình
Học viên
LÊ THỊ THU HẰNG
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến các thầy, cô giáo, đặc biệt là người hướng dẫn khoa học PGS.TS Nguyễn Thị Đông đã hướng dẫn, chỉ bảo, giúp đỡ nhiệt tình tác giả trong suốt quá trình thực hiện luận văn.
Do tính phức tạp của đề tài nghiên cứu, cộng với khả năng cũng như kinh nghiệm của tác giả còn nhiều hạn chế nên luận văn không tránh khỏi những thiếu sót nhất định
Tác giả rất mong nhận được những sự đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo và những nhà nghiên cứu khác để nội dung được nghiên cứu trong luận văn hoàn thiện hơn.
Trang 3MỤC LỤC
Trang 4DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
CPSX Chi phí sản xuất
CPNVLTT Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp CPNCTT Chi phí nhân công trực tiếp
CPSXDDDK Chi phí sản xuất dở dang đầu kỳCPSXDDCK Chi phí sản xuất dở dang cuối kỳ
Trang 5DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ Danh mục bảng biểu
Biểu 2.1: Định mức sử dụng NVL cho một áo sơ mi LL
Biểu 2.2: Đơn giá tiền lương cho từng việc sản phẩm gia công
Danh mục sơ đồ
Trang 6và đưa ra phương hướng hoàn thiện.
Hiện nay, công tác kế toán của các doanh nghiệp được thực hiện theo một trong hai chế độ kế toán doanh nghiệp ban hành theo quyết định số 15/2006/QĐ-BTC ngày 20/3/2006 đối với các loại hình, quy mô doanh nghiệp hoặc quyết định 48/2006/QĐ-BTC ngày 14/9/2006 đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa của Bộ trưởng Bộ tài chính Việc sử dụng chế độ kế toán của doanh nghiệp quy định việc sử dụng hệ thống chứng từ, tài khoản, hạch toán, hệ thống sổ sách, và hệ thống báo cáo của doanh nghiệp.
Đề tài nhằm tổng kết lại hệ thống lý thuyết, những quy định về hạch toán kế toán về chi phí sản xuất và các phương pháp tính giá thành trong loại hình doanh nghiệp sản xuất.
• Về mặt thực tiễn
Sự cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường diễn ra rất gay gắt, sự sống còn của mỗi doanh nghiệp phụ thuộc rất lớn vào sức mạnh của sự cạnh tranh Đối với mỗi đơn vị sản xuất kinh doanh, muốn tồn tại được cần phải chiếm lĩnh được thị trường, được người tiêu dùng chấp nhận sản phẩm của doanh nghiệp cả về chất lượng và giá cả Các doanh nghiệp đều mong muốn có một
sự kết hợp tối ưu giữa các yếu tố sản xuất nhằm tạo ra những sản phẩm có chất lượng cao và giá cả hợp lý mà người tiêu dùng có thể chấp nhận được
Trang 7Mặt khác, doanh nghiệp cũng cần phải thường xuyên theo dõi thông tin về giá
cả thị trường để có thể tính toán chi phí sản xuất như thế nào để thu lại được một lợi nhuận tối đa.
Ngày nay, khi sự cạnh tranh không chỉ đơn thuần là sự cạnh tranh về chất lượng của sản phẩm mà còn là sự cạnh tranh về giá cả, thì vấn đề giảm chi phí, hạ giá thành sản phẩm luôn luôn được đặt lên mục tiêu hàng đầu đối với mỗi doanh nghiệp.Vấn đề này tuy không còn mới mẻ, nhưng nó luôn là vấn đề mà mọi doanh nghiệp quan tâm hàng đầu Vậy các doanh nghiệp cần
có biện pháp gì để có thể đạt được mục tiêu: Giảm chi phí, hạ giá thành nhưng vẫn đảm bảo chất lượng của sản phẩm, tạo ra sức cạnh tranh trên thị trường.
Chính vì vậy, việc hạch toán chi phí và tính đúng giá thành sản phẩm tại các doanh nghiệp có ý nghĩa rất lớn trong công tác quản lý chi phí, tính giá thành, mặt khác tạo điều kiện cho các doanh nghiệp có biện pháp phấn đấu hạ thấp giá thành và nâng cao chất lượng sản phẩm Đó là một trong những điều kiện quan trọng để sản phẩm của doanh nghiệp có thể đứng vững được trên thị trường và có sức cạnh tranh với các sản phẩm cùng loại trên thị trường của các doanh nghiệp khác Hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm là một trong những phần hành quan trọng cuả kế toán, nó có vai trò đặc biệt quan trọng trong công tác quản lý của doanh nghiệp nói riêng cũng như quản lý vĩ mô của nhà nước nói chung.
Ngành may mặc ngành truyền thống của Việt Nam phục vụ cho tiêu dùng trong nước cũng như xuất khẩu Trong năm 2012, hàng dệt may xuất khẩu đạt 15,09 tỷ USD, tăng 7,5% so với năm 2011 với các thị trường chính gồm Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản và Hàn Quốc Yêu cầu của các thị trường tiêu thụ sản phẩm ngày càng cao về chất lượng cũng như giá cả cần có tính cạnh tranh với sản phẩm các quốc gia khác như Trung Quốc Ngoài ra, các doanh nghiệp
Trang 8trong ngành dệt may cũng phải đối mặt với những khó khăn trong huy động vốn, tổ chức sản xuất Bản thân Tổng Công ty CP May 10 có nhiều nhà máy,
xí nghiệp, thực hiện nhiều dây chuyển sản xuất phức tạp, việc tính chính xác
và quản lý chi phí sản xuất luôn là vấn đề cấp thiết và cần hoàn thiện ngày một tốt hơn.
Đề tài nhằm nghiên cứu quy định kế toán chi phí sản xuất và phương pháp tính giá thành sản phẩm may mặc gia công xuất khẩu tại Tổng công ty
CP may 10 nhằm đánh giá công tác kế toán và giải pháp nhằm phục vụ công tác kiểm soát chi phí, xác định giá thành tại công ty.
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu thuộc lĩnh vực đề tài
Bài viết của tác giả Ngô Thành Nam, 2009, Hoàn thiện hệ thống kế toán tại các doanh nghiệp ngành may mặc trên địa bàn tỉnh Hải Dương, Báo
kinh tế và dự báo, đã có những giải pháp hoàn thiện cho các doanh nghiệp ngành may trên địa bàn tỉnh này Trên cơ sở khảo sát số liệu thực tế, giải pháp
mà tác giả đưa ra gồm:
Hoàn thiện việc phân loại chi phí: tác giả đã đề xuất hướng phân loại theo mức độ ứng xử trong doanh nghiệp may mặc Với chi phí sản xuất chung phát sinh như khảo sát hầu hết là chi phí hỗn hợp thì các doanh nghiệp có thể
sử dụng phương pháp cực đại – cực tiểu hoặc bình phương bé nhất để tách thành biến phí và định phí
Tác giả đề xuất hoàn thiện hạch toán thiệt hại trong doanh nghiệp may mặc thông qua việc quy định rõ tỷ lệ sản phẩm hỏng trong và ngoài định mức tại doanh nghiệp để loại trừ chi phí ngoài định mức khỏi giá thành.
Với đặc điểm các doanh nghiệp gia công theo các đơn đặt hàng, tác giả
đề xuất lựa chọn kỳ tính giá thành theo thời gian gia công đơn đặt hàng sẽ giúp tiết kiệm thời gian và công sức va tính toán chính xác.
Để quản lý chi phí sản xuất, các doanh nghiệp cần xây dựng hệ thống định mức chi phí sản xuất
Trang 9Xây dựng và vận hành hệ thống kế toán quản trị chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm.
Bài viết đã có những hướng hoàn thiện cho kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm doanh nghiệp may mặc trên địa bàn tỉnh Hải Dương theo cả hướng kế toán tài chính và kế toán quản trị Tuy nhiên, giải pháp đưa
ra chưa có số liệu tính toán, các bước thực hiện giải pháp và kết quả cụ thể của các giải pháp hoàn thiện.
Nghiên cứu của Nguyễn Bích Hương Thảo (2013) đăng trên Tạp chí Tài
chính số 8 “Kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm cho các doanh nghiệp chế
biến thủy sản” đã đi vào khảo sát ngành chế biến thủy sản Tác giả đã tìm hiểu công
tác kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm tại doanh nghiệp Với kết quả thu được, tác giả đưa ra những đề xuất:
Về phương pháp tính giá thành sản phẩm: Tác giả đã đưa ra đặc điểm quy trình công nghệ sản xuất, đối với ngành chế biến thủy sản có cùng quy trình nhưng tạo ra một nhóm sản phẩm cùng loại có quy cách khác nhau, kế toán phải xác định tỷ lệ giá thành giữa tổng giá thành thực tế và giá thành theo định mức.
Ngoài ra, tác giả còn có đề xuất ứng dung kế toán quản trị nâng cao quản lý và kiểm soát chi phí gồm xây dựng định mức chi phí cho CPNVLTT, CPNCTT, CPSXC.
Đề tài đã đi sâu vào ảnh hưởng của đặc điểm quy trình công nghệ, đặc điểm sản phẩm để đánh giá công tác kế toán và đưa ra những hoàn thiện cho công tác kế toán chi phí cũng như tính giá thành sản phẩm nằm trong lĩnh vực chế biến thủy sản.
Qua việc tổng hợp lại những nghiên cứu trước, tác giả thấy rằng việc nghiên cứu kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm đã có hệ thống
cơ sở lý luận hướng dẫn một các tổng quát Tuy nhiên, chưa có lý thuyết nghiên cứu cụ thể cho hoạt động may gia công xuất khẩu trong các doanh nghiệp
Trang 10dệt may Do vậy, tác giả đã lựa chọn đề tài “ Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm may mặc gia công xuất khẩu tại Tổng công ty May 10”.
3 Xác lập mục tiêu nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu, khái quát hóa để xây dựng một mô hình lý thuyết về kế toán chi phí, tính giá thành trong các DNSX nói chung và đi sâu vào loại hình may gia công xuất khẩu, nhằm hệ thống một cách khoa học nhất
về mô hình này giúp người làm kế toán có được cái nhìn lý luận một cách có
hệ thống và tổng thể, toàn diện hơn.
Bên cạnh đó luận văn tiến hành khảo sát thực tế tại Tổng Công ty CP May
10 về kế toán chi phí, tính giá thành sản phẩm may mặc gia công xuất khẩu Thông qua đó phát hiện những mặt hạn chế còn tồn tại và đề xuất các giải pháp hoàn thiện kế toán chi phí, tính giá thành sản phẩm may mặc GCXK.
Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề trên, trong quá trình nghiên cứu tác giả luôn chú trọng vào việc tìm lời giải cho các câu hỏi sau:
- Kế toán chi phí, tính giá thành sản phẩm tại các DNSX dựa trên lý luận nào?
- Thực trạng về kế toán chi phí, tính giá thành sản phẩm may mặc gia công xuất khẩu tại Tổng Công ty CP May 10 như thế nào?
- Cần có những giải pháp nào để hoàn thiện kế toán chi phí, tính giá thành sản phẩm may mặc giao công xuất khẩu tại Tổng Công ty CP may 10?
4 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu nhằm mục đích khái quát hóa lại hệ thống lý luận về kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong các doanh nghiệp sản xuất.
Tìm hiểu những đặc điểm và thực trạng kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm của hoạt động may gia công xuất khẩu trong các công ty may Từ đó, đánh giá thực trạng kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong hoạt động may gia công xuất khẩu.
Đưa ra giải pháp hoàn thiện công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm may mặc gia công xuất khẩu trong các doanh nghiệp dệt may.
5 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu:
Trang 11Đề tài tập trung vào nghiên cứu công tác kế toán chi phí, tính giá thành sản phẩm may mặc gia công xuất khẩu tại Tổng công ty CP May 10.
- Đề tài chỉ thực hiện khảo sát tại Tổng công ty CP May 10
- Đề tài chỉ đặt ra vấn đề nghiên cứu trong phạm vi số liệu năm 2012-2013
- Nội dung nghiên cứu:
Việc nghiên cứu chỉ thực hiện trên phương diện kế toán tài chính trong công ty
Về chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tập trung vào hoạt động may gia công phục vụ xuất khẩu
6 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp thu thập dữ liệu
Thu thập dữ liệu sơ cấp: dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua phỏng vấn
nhân viên kế toán từ công ty nghiên cứu
Thông qua việc chọn ra đối tượng phỏng vấn là nhân viên kế toán tại công ty, phỏng vấn các vấn đề liên quan đến các loại chi phí phát sinh trong hoạt động may gia công và kế toán tập hợp chi phí sản xuất, phương pháp đánh giá sản phẩm làm dở, phương pháp tính giá thành tại công ty nhằm tìm ra tình trạng chung cũng như thực trạng riêng về kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong công ty
Cụ thể:
- Thời gian phỏng vấn:Tháng 3/2013
- Số người được phỏng vấn: 10 người, gồm: kế toán vật tư, kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành, kế toán tổng hợp và các nhân viên kế toán phần hành liên quan
Thu thập dữ liệu thứ cấp: Dữ liệu thứ cấp được tiến hành tập hợp, phân loại
và chọn lọc các thông tin liên quan đến vấn đề kế toán chi phí sản xuất và phương pháp tính giá thành sản phẩm hoạt động may gia công xuất khẩu từ các văn bản, quy định pháp luật, các báo cáo, những công trình nghiên cứu tương tự về kế hoạch phát triển ngành dệt may xuất khẩu nhằm nắm được môi trường pháp lý chung cho các DN hoạt động may mặc nói chung và hoạt động may gia công xuất khẩu nói riêng Đồng thời, dựa vào các chính sách kế toán, quy trình kế toán chi phí
Trang 12sản xuất và các phương pháp tính giá thành sản phẩm, BCTC đã được công bố của công ty để biết được tình hình thực tế công ty cũng những những vấn đề còn tồn đọng, những khúc mắc chung và riêng cần giải quyết tại công ty.
Phương pháp phân tích thông tin
Đối với dữ liệu thứ cấp
Sau khi thu thập và tổng hợp câu trả lời của các chuyên gia, tác giả sử dụng các phương pháp gồm: tổng hợp thông tin, so sánh, đối chiếu, phân tích, phán đoán,
… đánh giá thông tin
Đối với dữ liệu sơ cấp
Sau khi tìm hiểu được những quyết định, thông tư, văn bản pháp lý ảnh hưởng đến kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành tại công ty nhằm so sánh và tìm hiểu thực trạng tại doanh nghiệp và phân tích sự tác động của những văn bản pháp lý đến
kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại các công ty nghiên cứu
7. Kết cấu luận văn
Ngoài lời cam đoan, lời cảm ơn, mục lục, danh mục chữ viết tắt, danh mục sơ đồ và bảng biểu, lời mở đầu, tài liệu tham khảo, các phụ lục, nội dung chính của luận văn được chia thành ba chương như sau:
Chương 1: Lý luận chung về kế toán chi phí, tính giá thành sản phẩm trong các doanh nghiệp sản xuất
Chương 2: Thực trạng kế toán chi phí, tính giá thành sản phẩm may mặc gia công xuất khẩu tại Tổng công ty CP May 10.
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện kế toán chi phí, tính giá thành sản phẩm may mặc gia công xuất khẩu tại Tổng Công ty CP May 10.
Trang 13CHƯƠNG 1:
LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN CHI PHÍ, TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TRONG CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT 1.1 Kế toán chi phí, tính giá thành sản phẩm trong các DNSX và vai trò của kế toán chi phí, tính giá thành sản phẩm.
1.1.1 Khái niệm chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm
1.1.1.1 Khái niệm chi phí sản xuất
Thuật ngữ chi phí có từ thời trung cổ (từ thế kỷ thứ V sau công nguyên) từ đó cho đến nay người ta vẫn quan niệm chi phí như là những hao phí phải bỏ ra để đổi lấy
sự thu về Xét về bản chất, chi phí sản xuất là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ hao phí về lao động sống cần thiết và lao động vật hoá thực tế mà doanh nghiệp đã chi
ra trong quá trình sản xuất kinh doanh trong một thời kỳ nhất định
Quá trình sản xuất kinh doanh là quá trình doanh nghiệp khai thác, sử dụng lao động, vật tư, tiền vốn … để sản xuất kinh doanh sản phẩm, lao vụ, dịch vụ Đó
là quá trình doanh nghiệp bỏ ra các chi phí về lao động sống như: chi phí tiền lương, tiền công, tiền trích bảo hiểm xã hội … gắn với việc sử dụng lao động, chi phí về lao động vật hoá như chi phí về nguyên liệu, vật liệu, công cụ dụng cụ, tài sản cố định … để thực hiện hoạt động sản xuất kinh doanh Chỉ có những chi phí liên quan đến hoạt động sản xuất mới được tính vào chi phí sản xuất Chi phí sản xuất phát sinh thường xuyên trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp để phục vụ cho quản lý và hạch toán kinh doanh, chi phí sản xuất được tập hợp theo thời kỳ hàng tháng, hàng quý, hàng năm
Vì vậy, khái niệm đầy đủ: chi phí sản xuất là biểu hiện bằng tiền của tổng số
hao phí lao động sống cần thiết, hao phí lao động vật hoá và các chi phí khác ( như lãi vay, các khoản bảo hiểm xã hội …) liên quan đến quá trình sản xuất mà doanh nghiệp phải chi ra để tiến hành hoạt động sản xuất trong một thời kỳ nhất định.
Trong đó : + Hao phí lao động sống: biểu hiện như tiền lương, các khoản trích theo lương của người lao động phát sinh ghi vào chi phí sản xuất
Trang 14+ Hao phí lao động vật hoá: biểu hiện của nó là giá trị nguyên vật liệu sử dụng, công cụ dụng cụ xuất dùng, khấu hao tài sản cố định phục vụ cho sản xuất Đây là các tư liệu lao động và đối tượng lao động được người lao động tác động và chuyển hóa thành sản phẩm.
Theo chuẩn mực VAS 01 – “Chuẩn mực chung” thì “Chi phí là tổng giá trị
khoản làm giảm lợi ích trong kỳ kế toán dưới hình thức các khoản tiền chi ra, các khoản khấu trừ tài sản hoặc phát sinh các khoản nợ dẫn đến làm giảm vốn chủ sở hữu, không bao gồm khoản phân phối cho cổ đông hoặc chủ sở hữu”
Xét theo tính chất cá biệt thì chi phí sản xuất bao gồm tất cả các chi phí mà doanh nghiệp phải chi ra để tồn tại và tiến hành các hoạt động sản xuất, bất kể đó là chi phí cần thiết hay không cần thiết, khách quan hay chủ quan
Tuy nhiên, trong cùng một thời kỳ, ở cùng một doanh nghiệp chi phí và chi tiêu không hoàn toàn giống nhau cả về định lượng và định tính, có trường hợp chi phí nhưng không phải là chi tiêu và ngược lại có khoản chi tiêu nhưng chưa hoặc không phải là chi phí
Chi tiêu của doanh nghiệp là sự chi ra, sự giảm đi thuần tuý của tài sản doanh
nghiệp không kể các khoản đã dùng vào việc gì và dùng như thế nào Mặc dù chi
tiêu là cơ sở của chi phí song chi phí của doanh nghiệp sẽ không bao gồm các khoản chi tiêu có đặc điểm sau:
- Các khoản chi tiêu làm giảm 1 tài sản này nhưng làm tăng 1 tài sản khác hoặc làm giảm 1 khoản nợ phải trả trong doanh nghiệp
- Các khoản chi tiêu làm tăng 1 khoản nợ phải trả nhưng đồng thời làm tăng 1 tài sản hoặc giảm 1 khoản nợ phải trả khác của doanh nghiệp
Như vậy, chi phí chỉ bao gồm các trường hợp làm giảm tài sản hoặc tăng khoản nợ phải trả nhưng không kèm theo các biến động khác Do có sự không phù hợp giữa thời gian phát sinh các khoản chi tiêu và thời gian phát huy tác dụng của
nó đối với thu nhập của doanh nghiệp nên chi phí và chi tiêu có sự khác biệt về thời gian: Khoản chi tiêu ở kỳ này nhưng còn được chờ phân bổ ở kỳ sau (chi phí trả trước) Khoản được tính vào chi phí của kỳ này ( chi phí phải trả ) nhưng chưa được
Trang 15chi tiêu (sẽ chi ở các kỳ sau).
Còn theo Giáo trình kế toán quản trị (2004), trường Đại học Kinh tế quốc
dân: Chi phí là một khoản hao phí bỏ ra để thu được một số sản phẩm hoặc dịch vụ nào đó Bản chất của chi phí phải mất đi để đổi lấy một khoản thu về
Các khái niệm trên tuy khác nhau về cách diễn đạt, về mức độ khái quát nhưng đều thể hiện bản chất của chi phí là những hao phí phải bỏ ra để đổi lấy sự thu về, có thể thu về dưới dạng vật chất định lượng được như số lượng sản phẩm hoặc thu về dưới dạng tinh thần hay dịch vụ được phục vụ
1.1.1.2 Khái niệm giá thành sản phẩm
Giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền của các khoản hao phí lao động sống và lao động vật hóa mà DN bỏ ra có liên quan đến khối lượng sản phẩm, công việc, lao vụ và dịch vụ đã hoàn thành
Giá thành sản phẩm là thước đo giá trị và cũng là một đòn bẩy kinh tế, nó là một chỉ tiêu kinh tế quan trọng trong hệ thống các chỉ tiêu quản lý của DN, là chỉ tiêu tổng hợp, phản ánh kết quả sử dụng các loại tài sản trong quá trình hoạt động SXKD cũng như tính đúng đắn của các giải pháp mà DN đã thực hiện nhằm mục đích hạ thấp chi phí, tăng lợi nhuận
Tùy thuộc vào đặc điểm kinh tế kỹ thuật của mỗi ngành SX, kết cấu giá thành bao gồm các khoản mục chi phí khác nhau, ví dụ trong ngành sản xuất công nghiệp, giá thành bao gồm chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí SX chung
1.1.2 Phân loại chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm
1.1.2.1 Phân loại chi phí sản xuất
Theo cách phân loại này, toàn bộ chi phí sản xuất của doanh nghiệp được chia thành:
+ Chi phí nguyên vật liệu: Là toàn bộ giá trị các loại nguyên vật liệu chính,
nhiên liệu, phụ tùng thay thế, vật liệu xây dựng cơ bản… mà doanh nghiệp đã sử
dụng cho hoạt động SX
Trang 16+ Chi phí nhân công: Là toàn bộ tiền lương, tiền công phải trả, tiền trích BHXH, BHYT, BHTN, KPCĐ của công nhân và nhân viên hoạt động SX trong doanh nghiệp.
+ Chi phí khấu hao TSCĐ: Là toàn bộ tiền trích khấu hao TSCĐ sử dụng cho
SX của doanh nghiệp
+ Chi phí dịch vụ mua ngoài: Là toàn bộ số tiền doanh nghiệp chi trả về các dịch vụ mua ngoài như tiền điện, tiền nước….phục vụ cho hoạt động SX của doanh nghiệp
+ Chi phí khác bằng tiền: Là toàn bộ các chi phí khác dung cho hoạt động SX ngoài 4 yếu tố trên
Theo quy định, giá thành sản xuất, trừ ngành xây dựng cơ bản, bao gồm 3 khoản mục chi phí là:
+ Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: Bao gồm chi phí về các loại nguyên vật liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu sử dụng trực tiếp vào việc chế tạo sản xuất sản phẩm
+ Chi phí nhân công trực tiếp: Bao gồm các chi phí về tiền lương, phụ cấp phải trả và các khoản trích BHXH, BHYT, BHTN, KPCĐ trên tiền lương của công nhân trực tiếp sản xuất
+ Chi phí sản xuất chung: Là chi phí dùng cho việc quản lý và phục vụ sản xuất cho bộ phận sản xuất, phân xưởng sản xuất
Theo cách này, toàn bộ chi phí sản xuất được chia thành biến phí, định phí, chi phí hỗn hợp
+ Biến phí: Là những chi phí thay đổi về tổng số khi có sự thay đổi về khối lượng sản phẩm, công việc hoàn thành, chẳng hạn như chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp….Biến phí thay đổi theo tỷ lệ thuận với khối lượng sản phẩm, công việc hoàn thành, nhưng lại là hằng số nếu tính trên một đơn vị sản phẩm
+ Định phí: Là những chi phí không đổi so với khối lượng sản phẩm, công việc hoàn thành, chẳng hạn các chi phí về khấu hao TSCĐ, chi phí về thuê mặt bằng
Trang 17SX….Định phí tính cho một đơn vị sản phẩm hoàn thành sẽ thay đổi nếu số lượng sản phẩm thay đổi.
+ Chi phí hỗn hợp: Là loại chi phí mà bản thân nó bao gồm cả yếu tố của định phí và biến phí
+ Chi phí trực tiếp: Là những chi phí liên quan trực tiếp đến từng đối tượng
kế toán tập hợp chi phí mà kế toán có thể quy nạp trực tiếp cho từng đối tượng chịu chi phí Trong quản trị doanh nghiệp nói chung và kế toán quản trị nói riêng, nếu loại chi phí này chiếm đa số trong tổng chi phí thì sẽ thuận lợi cho việc kiểm soát chi phí và dễ dàng trong việc xác định nguyên nhân gây ra chi phí
+ Chi phí gián tiếp: Là các chi phí có liên quan đến nhiều đối tượng kế toán tập hợp chi phí khác nhau nên không thể quy nạp trực tiếp cho từng đối tượng tập hợp chi phí được mà phải tập hợp theo từng nơi phát sinh chi phí khi chúng phát sinh, sau đó quy nạp cho từng đối tượng theo phương pháp phân bổ gián tiếp
+ Chi phí kiểm soát được: Là chi phí mà các nhà quản trị ở một cấp quản lý nào đó xác định được lượng phát sinh của nó, có thẩm quyền quyết định về sự phát sinh chi phí đó, cấp quản lý đó kiểm soát được những chi phí này
+ Chi phí không kiểm soát được: Là những chi phí mà các nhà quản trị ở một cấp quản lý nào đó không thể dự đoán chính xác sự phát sinh của nó và không có thẩm quyền quyết định đối với khoản chi phí đó
+ Chi phí chênh lệch: Là những chi phí có ở phương án này nhưng chỉ có ở một phần hoặc không có ở phương án khác
+ Chi phí cơ hội: Là chi phí bị mất đi vì lựa chọn phương án và hành động này thay vì lựa chọn phương án hay hành động khác Như vậy, ngoài những chi phí kinh doanh đã được tập hợp trong sổ sách kế toán, trước khi ra quyết định, nhà quản trị còn phải xem xét chi phí cơ hội phát sinh do những yếu tố kinh doanh có thể sử dụng theo cách khác mà những cách này cũng mang lại lợi nhuận
Trang 18+ Chi phí chìm: Là những chi phí đã phát sinh, nó có trong tất cả các phương
án SXKD được đưa ra xem xét lựa chọn Đây là những chi phí mà nhà quản trị phải chấp nhận không có sự lựa chọn Bởi vậy, chi phí chìm luôn là là thông tin không thích hợp cho việc xem xét, lựa chọn phương án tối ưu
1.1.2.2 Phân loại giá thành sản phẩm
Để giúp cho việc nghiên cứu và quản lý tốt giá thành sản phẩm, kế toán cũng cần phải phân biệt các loại giá thành khác nhau
Trong lý luận cũng như trong thực tiễn, công tác quản lý, kế hoạch hóa giá thành từ khâu chỉ đạo, thực hiện, tổng kết, rút kinh nghiệm ở các doanh nghiệp công nghiệp thường có nhiều loại giá thành khác nhau Việc phân loại giá thành sẽ giúp phân tích được những biến động của chi tiêu giá thành và chiều hướng của chúng để
có biện pháp thích hợp nhằm hạ giá thành sản phẩm Căn cứ các tiêu thức khác nhau, giá thành được phân thành các loại khác nhau
- Giá thành kế hoạch: Là giá thành được tính trên cở sở chi phí sản xuất kế hoạch và số lượng sản phẩm sản xuất kế hoạch Việc tính giá thành kế hoạch do bộ phận kế hoạch của doanh nghiệp thực hiện và được tiến hành trước khi bắt đầu quá trình sản xuất, chế tạo sản phẩm, giá thành kế hoạch là mục tiêu phấn đấu của doanh nghiệp, là căn cứ để so sánh, phân tích, đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch
hạ giá thành của doanh nghiệp
- Giá thành định mức: Là giá thành được tính trên cơ sở các định mức chi phí hiện hành và chỉ tính cho đơn vị sản phẩm Giá thành định mức là công cụ quản lý định mức của doanh nghiệp, là thước đo chính xác để xác định kết quả sử dụng tài sản, vật
tư, lao động trong sản xuất, giúp đánh giá đúng đắn các giải pháp kinh tế kỹ thuật đã thực hiện trong quá trình hoạt động sản xuất nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh
- Giá thành thực tế: Là giá thành được tính trên cơ sở số liệu chi phí sản xuất thực tế đã phát sinh và tập hợp được trong kỳ cũng như sản lượng sản phẩm thực tế
đã sản xuất trong kỳ Giá thành thực tế chỉ có thể tính toán, được sau khi kết thúc quá trình sản xuất, chế tạo sản phẩm và được tính toán cho cả chỉ tiêu tổng giá
Trang 19thành và giá thành đơn vị Giá thành thực tế là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp, phản ánh kết quả phấn đấu của doanh nghiệp trong việc tổ chức và sử dụng các giải pháp kinh
tế, kỹ thuật, tổ chức và công nghệ….để thực hiện quá trình sản xuất sản phẩm, là cơ
sở để xác định kết quả hoạt động SXKD của doanh nghiệp và nghĩa vụ của doanh nghiệp đối với Nhà nước cũng như đối với các đối tác liên doanh liên kết
- Giá thành sản xuất: Là giá thành bao gồm toàn bộ toàn bộ các chi phí cố định và chi phí biến đổi thuộc chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp và chi phí sản xuất chung Chỉ tiêu giá thành sản xuất toàn bộ có ý nghĩa quan trọng trong quản trị doanh nghiệp Dựa vào giá thành sản xuất toàn bộ, doanh nghiệp có thể xác định được kết quả sản xuất sản phẩm là lãi hay lỗ Nó đóng vai trò chủ yếu trong các quyết định mang tính chiến lược dài hạn Quyết định ngừng sản xuất hay tiếp tục sản xuất một loại sản phẩm nào đó
- Giá thành sản phẩm theo biến phí chỉ bao gồm các biến phí sản xuất, kể cả biến phí trực tiếp và biến phí gián tiếp Như vậy trong các phương pháp xác định giá thành sản xuất theo biến phí, các chi phí cố định được tính ngay vào báo cáo kết quả kinh doanh như các chi phí thời kỳ trong niên độ mà không tính vào giá thành sản xuất Do giá thành sản xuất chỉ bao gồm biến phí sản xuất nên gọi là giá thành sản xuất bộ phận Trên cơ sở giá thành sản xuất bộ phận, doanh nghiệp sẽ xác định được lãi gộp trên biến phí (số dư đảm phí) và cho phép mô hình hóa một cách đơn giản mối quan hệ chi phí – khối lượng – lợi nhuận
- Giá thành toàn bộ của sản phẩm tiêu thụ là giá thành sản xuất toàn bộ cộng các chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp hay giá thành sản xuất theo biến phí cộng định phí sản xuất và các chi phí bán hang, chi phí quản lý doanh nghiệp Giá thành toàn bộ sản phẩm tiêu thụ chỉ được xác định khi sản phẩm đã tiêu thụ và được sử dụng để xác định kết quả tiêu thụ của doanh nghiệp
1.1.3 Vai trò của kế toán chi phí, tính giá thành sản phẩm
Tổ chức kế toán chi phí sản xuất chính xác, hợp lý và tính đúng, tính đủ giá thành có ý nghĩa rất lớn trong công tác quản lý chi phí, giá thành , trong việc kiểm
Trang 20tra tính hợp pháp hợp lệ của chi phí phát sinh ở doanh nghiệp nói chung và ở các doanh nghiệp sản xuất nói riêng Với chức năng là ghi chép, tính toán, phản ánh và giám đốc thường xuyên liên tục sự biến động của vật tư, tài sản, tiền vốn, kế toán sử dụng thước đo hiện vật và thước đo giá trị để quản lý chi phí Thông qua số liệu do
kế toán tập hợp chi phí, tính giá thành, người quản lý doanh nghiệp biết được chi phí và giá thành thực tế của từng sản phẩm Qua đó, nhà quản trị có thể phân tích tình hình thực hiện kế hoạch sản phẩm, tình hình sử dụng lao động, vật tư, vốn là tiết kiệm hay lãng phí để từ đó có biện pháp hạ giá thành, đưa ra những quyết định phù hợp với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Hạ giá thành sản phẩm mà vẫn đảm bảo chất lượng là điều kiện quan trọng để doanh nghiệp kinh doanh trên thị trường
Việc phân tích đúng đắn kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh chỉ có thể dựa trên giá thành sản phẩm chính xác Về phần giá thành thì giá thành lại chịu ảnh hưởng của kết quả tổng hợp chi phí sản xuất sản xuất Do vậy, tổ chức tốt công tác
kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm để xác định nội dung, phạm vi chi phí cấu thành trong giá thành cũng như lượng giá trị các yếu tố chi phí đã dịch chuyển vào sản phẩm hoàn thành là yêu cầu rất cần thiết đối với các doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp sản xuất nói riêng
Tính đúng, tính đủ giá thành sản phẩm là tiền đề để xác định kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, tránh tình trạng lãi giả, lỗ thật như một số năm trước đây Khi nền kinh tế đang trong thời kế hoạch hoá tập trung, các doanh nghiệp hoạt động theo chỉ tiêu pháp lệnh, vật tư, tiền vốn do cấp trên cấp, giá thành là giá thành kế hoạch định sẵn Vì vậy, công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm chỉ mang tính hình thức Chuyển sang nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp được chủ động hoạt động sản xuất kinh doanh theo phương hướng riêng và phải tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh của mình Để có thể cạnh tranh được trên thị trường, công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm còn phải thực hiện đúng theo những quy luật khách quan.Như vậy, kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm sản xuất là phần không thể thiếu được đối với
Trang 21các doanh nghiệp sản xuất khi thực hiện chế độ kế toán, hơn nữa là nó có ý nghĩa to lớn và chi phối chất lượng công tác kế toán trong toàn doanh nghiệp.
Vậy tóm lại giá thành sản phẩm trong các doanh nghiệp có các vai trò cơ bản sau đây:
- Chức năng thước đo bù đắp chi phí : Giá thành sản phẩm biểu hiện hao phí
về vật chất mà các doanh nghiệp đã bỏ ra để sản xuất và tiêu thụ sản phẩm Những hao phí vật chất này cần phải được bù đắp đầy đủ kịp thời để đảm bảo yêu cầu tái sản xuất Bù đắp hao phí sản xuất là vấn đề quan tâm đầu tiên của các doanh nghiệp bởi hiệu quả kinh tế được thể hiện ra trước hết là ở chỗ doanh nghiệp có khả năng
bù lại những gì mà mình đã bỏ ra hay không Đủ bù đắp là khởi đầu của hiệu quả và
là yếu tố đầu tiên để xem xét hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp
- Chức năng thước đo hiệu quả, chất lượng của hoạt động sản xuất kinh
doanh: Thông qua chỉ tiêu giá thành có thể đánh giá được hiệu quả của quá trình
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, nó chứng minh được khả năng phát triển và hiệu quả việc sử dụng các yếu tố vật chất của doanh nghiệp Giá thành sản phẩm còn thể hiện hiệu quả của toàn bộ các biện pháp kinh tế - kỹ thuật mà doanh nghiệp
đã thực hiện trong quá trình sản xuất kinh doanh, bởi vì sự hoạt động của doanh nghiệp đều tác động đến việc sử dụng yếu tố vật chất để thực hiện quá trình sản
xuất và tiêu thụ sản phẩm.
- Chức năng lập giá: Sản phẩm do các doanh nghiệp sản xuất ra là sản phẩm
hàng hoá được thể hiện giá trị thị trường thông qua giá cả Khi được sử dụng làm căn cứ lập giá thì giá thành sản phẩm phải bao gồm những hao phí được xã hội chấp nhận và phải loại bỏ khỏi giá thành những hao phí bất hợp lý
- Chức năng đòn bẩy kinh tế: lợi nhuận của doanh nghiệp cao hay thấp phụ
thuộc vào giá thành sản phẩm Hạ giá thành sản phẩm là biện pháp cơ bản để tăng cường lợi nhuận, tạo nên tích luỹ để tái sản xuất mở rộng Cùng với các phạm trù kinh tế khác như: giá cả, chất lượng … giá thành sản phẩm thực tế đã trở thành đòn bẩy kinh tế quan trọng thúc đẩy doanh nghiệp tăng cường hiệu quả kinh doanh phù hợp với nguyên tắc hạch toán kinh doanh trong điều kiện kinh tế thị trường
Trang 221.2 Kế toán chi phí, tính giá thành sản phẩm trong hệ thống các chuẩn mực kế toán Việt Nam
Kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm chịu sự chi phối
và được nằm rải rác trong các chuẩn mực kế toán Việt Nam số 01, số 02, số 03, số
04, cụ thể:
Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam số 01 (VAS 01) ban hành kèm theo quyết
định số 165/2002/QĐ-BTC ngày 31 tháng 12 năm 2002, kế toán chi phí sản xuất cần tuân thủ 7 nguyên tắc kế toán sau:
- Nguyên tắc cơ sở dồn tích: Mọi nghiệp vụ kinh tế, tài chính của doanh
nghiệp liên quan đến tài sản, nợ phải trả, nguồn vốn chủ sở hữu, doanh thu, chi phí phải được ghi sổ kế toán vào thời điểm phát sinh, không căn cứ vào thời điểm thực tế thu hoặc thực tế chi tiền hoặc tương đương tiền Báo cáo tài chính lập trên cơ sở dồn tích phản ảnh tình hình tài chính của doanh nghiệp trong quá khứ, hiện tại và tương lai
Như vậy, mọi chi phí phát sinh của doanh nghiệp phải được ghi nhận tại thời điểm phát sinh, không căn cứ vào dòng tiền ra và vào doanh nghiệp Chỉ khi tuân thủ đúng nguyên tắc này, báo cáo tài chính mới phản ánh được tình hình tài chính của doanh nghiệp trong quá khứ, hiện tại và tương lai
- Nguyên tắc giá gốc: Tài sản phải được ghi nhận theo giá gốc Giá gốc của
tài sản được tính theo số tiền hoặc khoản tương đương tiền đã trả, phải trả hoặc tính theo giá trị hợp lý của tài sản đó vào thời điểm tài sản được ghi nhận Giá gốc của tài sản không được thay đổi trừ khi có quy định khác trong chuẩn mực kế toán cụ thể
Mọi tài sản của doanh nghiệp khi xuất dùng (nguyên vật liệu và công cụ dụng cụ) phải được ghi nhận theo giá gốc, khi phản ánh chúng theo giá thị trường tại thời điểm đưa tài sản đó vào quá trình sản xuất sản phẩm Thực hiện nguyên tắc này để đảm bảo tính khách quan của số liệu kế toán, xác định được kết quả kinh doanh và đơn giản hơn trong việc ghi chép, thuận lợi cho công tác quản lý
- Nguyên tắc phù hợp: Việc ghi nhận doanh thu và chi phí phải phù hợp với
nhau Khi ghi nhận một khoản doanh thu thì phải ghi nhận một khoản chi phí tương
Trang 23ứng có liên quan đến việc tạo ra doanh thu đó Chi phí tương ứng với doanh thu gồm chi phí của kỳ tạo ra doanh thu và chi phí của các kỳ trước hoặc chi phí phải trả nhưng liên quan đến doanh thu của kỳ đó
Do đó, tất cả các khoản chi phí cấu thành nên sản phẩm sẽ được tập hợp tạo
ra giá vốn của sản phẩm đó và phải phù hợp với doanh thu của sản phẩm được cung cấp trong một khoảng thời gian xác định
- Nguyên tắc nhất quán: Các chính sách và phương pháp kế toán doanh nghiệp
đã chọn phải được áp dụng thống nhất ít nhất trong một kỳ kế toán năm Trường hợp
có thay đổi chính sách và phương pháp kế toán đã chọn thì phải giải trình lý do và ảnh hưởng của sự thay đổi đó trong phần thuyết minh báo cáo tài chính
Tuân thủ nguyên tắc nhất quán, đảm bảo cho việc ghi nhận các yếu tố chi phí một cách hợp lý, không tạo nên các thay đổi bất thường trong giá thành sản phẩm (khi thay đổi về phương pháp khấu hao TSCĐ, phương pháp xác định trị giá hàng xuất kho,…trong kỳ kế toán)
- Nguyên tắc thận trọng: Thận trọng là việc xem xét, cân nhắc, phán đoán cần
thiết để lập các ước tính kế toán trong các điều kiện không chắc chắn Nguyên tắc thận trọng đòi hỏi: Phải lập các khoản dự phòng nhưng không lập quá lớn, không đánh giá cao hơn giá trị của các tài sản và các khoản thu nhập, không đánh giá thấp hơn giá trị của các khoản nợ phải trả và chi phí, doanh thu và thu nhập chỉ được ghi nhận khi có bằng chứng chắc chắn về khả năng thu được lợi ích kinh tế, còn chi phí phải được ghi nhận khi có bằng chứng về khả năng phát sinh chi phí
Cần phải tuân thủ nguyên tắc này để hạn chế tối đa những bất lợi trong tương lai
- Nguyên tắc trọng yếu: Thông tin được coi là trọng yếu trong trường hợp nếu
thiếu thông tin hoặc thiếu chính xác của thông tin đó có thể làm sai lệch đáng kể báo cáo tài chính, làm ảnh hưởng đến quyết định kinh tế của người sử dụng báo cáo tài chính Tính trọng yếu phụ thuộc vào độ lớn và tính chất của thông tin hoặc các sai sót được đánh giá trong hoàn cảnh cụ thể Tính trọng yếu của thông tin phải được xem xét trên cả phương diện định lượng và định tính
Trang 24Chi phí sản xuất, kinh doanh phát sinh trong quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp như giá vốn hàng bán, chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp, chi phí lãi tiền vay và các chi phí liên quan đến hoạt dộng cho các bên khác
sử dụng tài sản sinh ra lợi tức, tiền bản quyền Những chi phí này phát sinh dưới dạng tiền và các khoản tuơng đương tiền, hàng tồn kho, khấu hao máy móc, thiết bị Chi phí sản xuất được ghi nhận trong báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh khi các khoản chi phí này làm giảm bớt lợi ích kinh tế trong tương lai có liên quan đến việc giảm bớt tài sản hoặc tăng nợ phải trả và chi phí này phải được xác định một cách đáng tin cậy Các chi phí sản xuất được ghi chép trong báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh phải tuân thủ theo nguyên tắc phù hợp giữa doanh thu và chi phí Một khoản CPSX được ghi nhận ngay vào báo báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh trong kỳ khi chi phí đó không đem lại lợi ích kinh tế trong các kỳ sau
Theo quy định của VAS 02 được ban hành theo quyết định số
149/2001/QĐ-BTC ngày 31 tháng 12 năm 2001 và được áp dụng từ ngày 01/01/2002 Chuẩn mực này đưa ra những quy định và hướng dẫn các nguyên tắc và phương pháp kế toán hàng tồn kho gồm có:
- Xác định giá trị và kế toán hàng tồn kho được tính vào chi phí
- Ghi giảm giá trị hàng tồn kho cho phù hợp với giá tri thuần có thể thực hiện được và phương pháp tính giá trị hàng tồn kho làm cơ sở ghi sổ kế toán và lập báo cáo tài chính
Đối tượng điều chỉnh của chuẩn mực là hàng tồn kho như tài sản được giữ đề bán trong kỳ SXKD bình thường(thành phẩm), hay đang trong quá trình sản xuất, kinh doanh dở dang(bán thành phẩm hay các sản phẩm dở dang) và các nguyên vật liệu, công cụ, dụng cụ sản xuất Như vậy đối tượng điều chỉnh của chuẩn mực này cũng chính là đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm Nội dụng chính của chuẩn mực đề cặp đến là là cách xác định trị giá của hàng tồn kho theo phương pháp giá gốc
Theo chuẩn mực này “ Giá gốc hàng tồn kho bao gồm: Chi phí mua, chi phí
chế biến và các chi phí liên quan trực tiếp khác phát sinh để có được hàng tồn kho
Trang 25ở địa điểm và trạng thái hiện tại”.
Các chi phí được tính vào giá gốc của hàng tồn kho là:
- Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp gồm: giá mua của hàng tồn kho và chi phí mua hàng(bốc dỡ, vận chuyển,…), các khoản chiết khấu thương mại và giảm giá hàng mua do hàng mua không đúng quy cách, phẩm chất được trừ khỏi chi phí mua
- Chi phí nhân công trực tiếp bao gồm: chi phí lương, các khoản phụ cấp có tính chất lương, khoản trích theo lương theo quy định của pháp luật
- Chi phí sản xuất chung bao gồm: các chi phí khác có liên quan trực tiếp đến quá trình sản xuất sản phẩm như CPSX chung cố định và CPSX chung biến đổi
Chi phí SXC chung cố định là những chi phí sản xuất gián tiếp, thường không thay đổi theo số lượng sản phẩm sản xuất như chi phí khấu hao, chi phí bảo dưỡng máy móc thiết bị nhà xưởng, chi phí quản lý hành chính ở các phân xưởng quản lý sản xuất…chi phí SXC cố định phân bổ vào chi phí chế biến cho mỗi đơn vị sản phẩm được dựa trên công suất bình thường của máy móc sản xuất Nếu mức sản phẩm thực tế sản xuất ra cao hơn công suất bình thường thì CPSXC cố định được phân bổ cho mỗi đơn vị sản phẩm theo chi phí thực tế phát sinh Còn mức sản phẩm thực tế sản xuất ra nhỏ hơn công suất bình thường thì CPSXC cố địnhchỉ được phân
bổ vào chi phí chế biến cho mỗi đơn vị sản phẩm theo mức công suất bình thường Khoản CPSX chung không phân bổ được ghi nhận là CPSX kinh doanh trong kỳ
+ Chi phí sản xuất chung biến đổi là những CPSX gián tiếp, thường thay đổi trực tiếp hoặc gần như trực tiếp theo số lượng sản phẩm sản xuất ra như chi phí vật liệu gián tiếp, chi phí nhân công gián tiếp CPSXC biến đổi được phân bổ hết vào chi phí chế biến cho mỗi đơn vị sản phẩm theo chi phí thực tế phát sinh
Tóm lại, quá trình kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm về thực chất cũng là xác định giá trị hàng tồn kho theo nguyên tắc giá gốc nên giá thành sản phẩm sản xuất hoàn thành trong kỳ bao gồm 03 yếu tố CPSX kể trên có liên quan trực tiếp tới quá trình sản xuất chuẩn mực cũng đưa ra hướng dẫn giúp loại bỏ những chi phí không tính vào giá gốc của hàng tồn kho hay là các chi phí cần loại trừ khi tính giá thành sản phẩm như: chi phí vật liệu, nhân công, chi
Trang 26phí sản xuất kinh doanh khác phát sinh trên mức bình thường, chi phí bảo quản hàng tồn kho (trừ các khoản chi phí bảo quản hàng tồn kho cần thiết cho quá trình sản xuất tiếp theo), chi phí bán hàng, chi phí quản lý công ty Trường hợp một quy trình sản xuất ra nhiều loại sản phẩm trong cùng một khoảng thời gian mà chi phí chế biến của mỗi loại sản phẩm không được phán ánh một cách tách biệt, thì chi phí chế biến được phân bổ cho các loại sản phẩm phụ được tính theo giá trị thuần có thể thực hiện được và giá trị này được trừ khỏi chi phí chế biến đã tập hợp chung cho sản phẩm chính.
- Chuẩn mực này cũng đưa ra phương pháp tính trị giá hàng tồn kho áp dụng cho mọi doanh nghiệp, bao gồm các phương pháp sau:
+ phương pháp bình quân gia quyền: giá trị từng loại hàng tồn kho được tính theo giá trị trung bình của từng loại hàng tồn kho tương tự đầu kỳ và giá trị từng loại hàng tồn kho được mua hoặc sản xuất trong kỳ Giá trị trung bình có thể được tính theo thời kỳ, hoặc mỗi khi một lô hàng nhập về, công thức tính giá bình quân gia quyền
Đơn giá bình quân
Trị giá thực tế tồn đầu kỳ + trị giá nhập trong kỳ
SL SP tồn đầu kỳ + SL SP nhập trong kỳ+ Phương pháp nhập trước – xuất trước (FIFO): theo phương pháp này thì hàng tồn kho được mua trước hoặc sản xuất trước thì được xuất trước, và hàng tồn kho còn lại cuối kỳ là hàng tồn kho được mua hoặc sản xuất gần thời điểm cuối kỳ theo phương pháp này thì giá trị hàng xuất kho được tính theo giá trị lô hàng nhập kho ở thời điểm đầu kỳ hoặc gần đầu kỳ, giá trị của hàng tồn kho được tính theo giá của hàng nhập kho ở thời điểm cuối kỳ hoặc gần cuối kỳ còn tồn kho
+ Phương pháp nhập sau – xuất trước (LIFO) : hàng tồn kho được mua sau hay sản xuất sau thì được xuất trước, và hàng tồn kho còn lại cuối kỳ là hàng tồn kho được mua hay sản xuất trước đó Theo phương pháp này, giá trị hàng tồn kho được tính theo giá của lô hàng nhập sau hoặc gần sau cùng, giá trị của hàng tồn kho được tính theo giá của hàng nhập kho đầu kỳ hoặc gần đầu kỳ còn tồn kho
+ Phương pháp tính theo giá đích danh: theo phương pháp này, sản phẩm, vật
tư hàng hóa của những lô nhập trước được ưu tiên xuất ra trước Như vậy, giá trị
Trang 27thực tế của sản phẩm, vật tư hàng hóa xuất kho được tính theo số lượng xuất và đơn giá của những lần nhập trước theo trình tự thời gian nhập kkhok và giá trị của sản phẩm, vật tư hàng hóa tồn kho cuối kỳ sẽ là giá trị nhập kho của những lần sau cùng Đây là phương án tốt bởi nó tuân thủ nguyên tắc phù hợp của kế toán, chi phí thực tế phù hợp với doanh thu thực tế Giá trị của hàng xuất kho đem bán phù hợp với doanh thu mà nó tạo ra Hơn nữa, giá trị hàng tồn kho được phản ánh đúng theo giá trị thực tế của nó
Khấu hao TSCĐ có ảnh hưởng rất lớn tới chi phí sản xuất sản phẩm tại các doanh nghiệp, bởi vì lượng TSCĐ sử dụng cho việc sản xuất sản phẩm là rất lớn,
TSCĐ thường có giá trị cao Theo quy định của VAS 03, VAS 04 được ban hành
theo quyết định số 149/2001/QĐ-BTC ngày 31 tháng 12 năm 2001:
Giá trị phải khấu hao của TSCĐ hữu hình được phân bổ một cách có hệ thống trong thời gian sử dụng hữu ích của chúng Phương pháp khấu hao phải phù hợp với lợi ích kinh tế mà tài sản đem lại cho doanh nghiệp Số khấu hao của từng
kỳ được hạch toán vào chi phí sản xuất, kinh doanh trong kỳ, trừ khi chúng được tính vào giá trị của các tài sản khác
Trong quá trình sản xuất công ty nào cũng dùng các tư liệu sản xuất như nhà xưởng , máy móc thiết bị và các TSCĐ khác Khi các yếu tố này tham gia trong quá trình sản xuất thì giá trị của nó được chuyển dịch dần dần vào giá trị của các sản phẩm – phần giá trị này được gọi là giá trị hao mòn của TSCĐ do tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh Đây được hiểu là “sự giảm dần giá trị sử dụng và giá trị của TSCĐ do tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh, do bào mòn của tự nhiên,
do tiến bộ khoa học kỹ thuật…trong quá trình hoạt động của TSCĐ”
“Mọi TSCĐ của doanh nghiệp có liên quan đến hoạt động kinh doanh đều phải trích khấu hao Mức trích khấu hao TSCĐ được hạnh toán vào chi phí kinh doanh trong kỳ7” Vì vậy, doanh nghiệp phải tính toán và phân bổ giá trị KH TSCĐ vào chi phí kinh doanh trong kỳ theo quyết định của chuẩn mực kế toán số 03 “ TSCĐ hữu hình” và chuẩn mực kế toán số 04 “TSCĐ vô hình” Khấu hao TSCĐ là việc tính toán và phân bổ một cách có hệ thống nguyên giá TSCĐ vào chi phí sản
Trang 28xuất kinh doanh trong thời gian sử dụng TSCĐ đó TSCĐ chiếm tỷ trọng lớn trong tổng cơ cấu tài sản của doanh nghiệp, vì vậy việc tính toán xác định chi phí KH TSCĐ luôn là công tác trọng tâm trong kế toán CPSX và tính giá thành sản phẩm.
Có ba phương pháp khấu hao TSCĐ hữu hình, gồm: Phương pháp khấu hao đường thẳng; Phương pháp khấu hao theo số dư giảm dần và Phương pháp khấu hao theo số lượng sản phẩm Tùy thuộc vào mục đích của hoạt động sản xuất kinh doanh và nhu cầu tái đầu tư TSCĐ trong doanh nghiệp mà các doanh nghiệp có thể
sử dụng các phương pháp khấu hao cho phù hợp
Về chi phí sửa chữa TSCĐ, nếu chi phí về sửa chữa và bảo dưỡng TSCĐ hữu hình nhằm mục đích khôi phục hoặc duy trì khả năng đem lại lợi ích kinh tế của tài sản theo trạng thái hoạt động tiêu chuẩn ban đầu được tính vào chi phí sản xuất, kinh doanh trong kỳ, không làm tăng nguyên giá cũng như thời gian sử dụng hữu ích của TSCĐ Nếu chi phí sửa chữa TSCĐ chắc chắn làm tăng lợi ích kinh tế trong tương lai do sử dụng tài sản đó, thì được ghi tăng nguyên giá của TSCĐ này Việc tăng lợi ích kinh tế trong tương lai được thể hiện qua các điểm như làm tăng thời gian sử dụng hữu ích, hoặc làm tăng công suất sử dụng của chúng; sửa chữa, cải tiến, nâng cấp bộ phận của TSCĐ hữu hình làm tăng đáng kể chất lượng sản phẩm sản xuất ra; áp dụng quy trình công nghệ sản xuất mới làm giảm chi phí hoạt động của tài sản so với trước
1.3 Kế toán chi phí, tính giá thành sản phẩm trong chế độ kế toán theo
QĐ 15/2006/QĐ-BTC
Quá trình tập hợp chi phí và tính giá thành sản phẩm là một quá trình bắt đầu
từ việc lập chứng từ phản ánh chi phí phát sinh đến khâu phản ánh vào tài khoản, tính giá thành sản phẩm và nhập kho thành phẩm Trong quá trình này, kế toán tài chính có vai trò cung cấp các thông tin kinh tế mang tính pháp lý và hợp lý, cụ thể thông qua chứng từ phát sinh thể hiện chi phí đầu vào và tổng chi phí này được thể hiện ở đầu ra trong chi phí hợp lý của thành phẩm nhập kho và chi phí bất thường trên định mức trong giá vốn hàng bán
1.3.1 Đối tượng và phương pháp tập hợp chi phí sản xuất
Trang 291.3.1.1 Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất
Là phạm vi, giới hạn mà các chi phí sản xuất cần phải tập hợp nhằm đáp ứng yêu cầu kiểm tra, giám sát chi phí sản xuất và yêu cầu tính giá thành sản phẩm
Việc xác định đối tượng kế toán tập hợp chi phí là khâu đầu tiên quan trọng của công tác kế toán chi phí sản xuất Có xác định đúng đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất mới đáp ứng được yêu cầu quản lý chi phí sản xuất, mới tổ chức tốt công việc kế toán tập hợp chi phí sản xuất từ khâu ghi chép ban đầu, tổng hợp số liệu, tổ chức ghi sổ kế toán
Việc xác định đối tượng tập hợp chi phí sản xuất thực chất là xác định nơi phát sinh chi phí và đối tượng chịu chi phí Việc xác định đối tượng tập hợp chi phí sản xuất phải căn cứ vào đặc điểm qui trình công nghệ sản xuất sản phẩm, loại hình sản xuất, đặc điểm tổ chức sản xuất, yêu cầu và trình độ quản lý cũng như yêu cầu tính giá thành sản xuất của doanh nghiệp
-Đặc điểm qui trình công nghệ sản xuất sản phẩm của mỗi doanh nghiệp khác nhau là khác nhau Với những loại sản phẩm toàn bộ qui trình sản xuất mà từ khi đưa nguyên liệu, vật liệu chính vào cho đến khi tạo ra sản phẩm là một quy trình khép kín không thể chia nhỏ được, đó là qui trình công nghệ sản xuất giản đơn, trong trường hợp này chi phí sản xuất sẽ được tập hợp cho toàn bộ quy trình sản xuất đó
Bên cạnh đó, có những quy trình công nghệ sản xuất mà từ khi đưa nguyên liệu, vật liệu chính vào cho đến khi tạo ra sản phẩm cuối cùng có thể được chia nhỏ thành nhiều giai đoạn công nghệ khác nhau, kết thúc mỗi giai đoạn công nghệ tạo ra nửa thành phẩm hoặc các bộ phận chi tiết sản phẩm, đó là quy trình công nghệ sản xuất phức tạp kiểu chế biến liên tục hoặc chế biến song song Trong trường hợp này chi phí sản xuất có thể được tập hợp cho từng giai đoạn công nghệ trong toàn bộ quy trình sản xuất sản phẩm đó
-Đặc điểm tổ chức sản xuất: Trong trường hợp doanh nghiệp tổ chức sản xuất theo các phân xưởng, tổ đội sản xuất, để quản lý chi phí sản xuất có thể tập hợp chi phí sản xuất theo từng phân xưởng, tổ, đội sản xuất
-Đặc điểm về loại hình sản xuất: có thể sản xuất hàng loạt với khối lượng lớn
Trang 30(mặt hàng sản xuất ổn định), hoặc sản xuất theo đơn đặt hàng (mặt hàng sản xuất không ổn định) hoặc sản xuất theo đơn chiếc Từ đó mà chi phí sản xuất có thể tập hợp cho toàn bộ quy trình sản xuất, hay theo từng đơn đặt hàng, hoặc theo từng sản phẩm đơn chiếc.
-Yêu cầu quản lý và yêu cầu tính giá thành của doanh nghiệp : tuỳ thuộc vào yêu cầu quản lý chi phí hạch toán kinh tế nội bộ để xác định đối tượng tập hợp chi phí sản xuất hợp lý
Tuỳ thuộc vào đặc điểm tình hình của doanh nghiệp ở các ngành mà đối tượng tập hợp chi phí sản xuất có thể là :
+ Đối với ngành công nghiệp: từng loại sản phẩm, từng công việc, nhóm sản phẩm cùng loại, từng chi tiết, bộ phận sản phẩm, từng phân xưởng, từng đơn đặt hàng …
+ Đối với ngành xây dựng cơ bản : từng công trình, hạng mục công trình, phân xưởng sản xuất hay đội xây dựng, từng đơn đặt hàng …
1.3.1.2 Phương pháp tập hợp và phân bổ chi phí sản xuất
Phương pháp này yêu cầu kế toán phải tổ chức công tác hạch toán một cách
cụ thể, tỷ mỷ từ khâu lập chứng từ ban đầu, tổ chức hệ thống tài khoản, hệ thống sổ
kế toán theo đúng đối tượng tập hợp chi phí đã xác định
Phương pháp này áp dụng đối với chi phí sản xuất có liên quan đến nhiều đối tượng tập hợp chi phí sản xuất không thể tổ chức ghi chép ban đầu riêng theo từng đối tượng tập hợp chi phí riêng biệt
Để tập hợp và phân bổ chi phí sản xuất cho các đối tượng có liên quan kế
Trang 31toán phải tiến hành theo trình tự sau:
- Tổ chức ghi chép ban đầu ( ghi chứng từ gốc ) chi phí sản xuất có liên quan đến nhiều đối tượng theo từng địa điểm phát sinh chi phí, từ đó tổng hợp số liệu trên chứng từ kế toán theo địa điểm phát sinh chi phí
- Chọn tiêu chuẩn phân bổ phù hợp với từng loại chi phí để tính toán, phân bổ chi phí sản xuất đã tổng hợp cho các đối tượng liên quan
C C
T H
Trong đó : C : Tổng chi phí đã tổng hợp cần phân bổ
T : Tổng tiêu thức phân bổ
Tn :Tiêu chuẩn phân bổ của đối tượng n
- Tính chi phí sản xuất phân bổ cho từng đối tượng liên quan (Cn)
Cn = Tn x HTrong đó Cn: là chi phí sản xuất phân bổ cho đối tượng n
Đại lượng tiêu chuẩn dùng để phân bổ (còn được gọi là đơn vị công) được lựa chọn tuỳ vào từng trường hợp cụ thể Tính chính xác, độ tin cậy của thông tin về chi phí phụ thuộc rất nhiều vào tính hợp lý của tiêu chuẩn phân bổ được lựa chọn
Việc xác định tiêu chuẩn phân bổ chi phí có thể được xác định riêng rẽ theo từng nội dung chi phí cần phân bổ, khi đó cũng phải xác định hệ số phân bổ theo từng nội dung chi phí này hoặc cũng có thể xác định chung cho tất cả các chi phí cần phân bổ Việc xác định tiêu chuẩn phân bổ tuỳ thuộc vào từng đặc thù cụ thể của từng doanh nghiệp
1.3.2 Kế toán tập hợp chi phí sản xuất
1.3.2.1 Kế toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
Chi phí NVLTT bao gồm các khoản chi phí về NVL chính, nửa thành phẩm mua ngoài, vật liệu phụ… sử dụng trực tiếp cho việc sản xuất chế tạo sản phẩm hoặc trực tiếp thực hiện các lao vụ, dịch vụ
Trang 32CP NVLTT thường chiếm tỷ trọng lớn trong tổng chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm của các doanh nghiệp Chi phí NVLTT thường được quản lý theo các định mức chi phí do doanh nghiệp xây dựng Chi phí NVLTT thực tế trong kỳ được xác định căn cứ vào các yếu tố sau:
+ Trị giá NVL xuất dùng trực tiếp cho quá trình sản xuất chế tạo sản phẩm hoặc thực hiện các lao vụ dịch vụ trong kỳ Bộ phận giá trị NVLTT xuất dùng thường được xác định căn cứ vào các chứng từ xuất kho NVLTT cho các đối tượng Khi phát sinh các khoản chi phí về NVLTT kế toán căn cứ vào các phiếu xuất kho, các chứng
từ khác có liên quan để xác định giá vốn của số NVL dùng cho sản xuất chế tạo sản phẩm (Theo phương pháp tính giá vốn NVL mà doanh nghiệp đã lựa chọn)
+ Trị giá NVL trực tiếp còn lại đầu kỳ các bộ phận, phân xưởng sản xuất.Đây
là giá trị của NVL trực tiếp đã xuất kho cho quá trình sản xuất ở kỳ trước nhưng chưa sử dụng đến được chuyển cho quá trình sản xuất kỳ này
+ Trị giá phế liệu thu hồi (nếu có): Đây là giá trị của phế liệu thu hồi được tại các bộ phận sản xuất trong kỳ, được xác định căn cứ vào số lượng phế liệu thu hồi
và đơn giá phế liệu mà doanh nghiệp đã sử dụng trong kỳ hạch toán
Chi phí NVLTT thực tế trong kỳ được xác định theo công thức:
Trị giá NVLTT xuất dùng trong kỳ -
Trị giá NVLTT xuất còn lại cuối kỳ
-Trị giá phế liệu thu hồi (Nếu có)Chi phí NVLTT dùng để sản xuất sản phẩm tại các doanh nghiệp chủ yếu là chi phí trực tiếp, nên thường được tập hợp trực tiếp cho từng đối tượng trên cơ sở các “ Số chi tiết chi phí NVL trực tiếp” được mở cho từng đối tượng căn cứ vào chứng từ xuất kho vật tư và báo cáo sử dụng vật tư ở từng bộ phận sản xuất
Trong trường hợp chi phí NVLTT có liên quan đến nhiều đối tượng tập hợp chi phí mà không thể tập hợp trực tiếp được thì có thể sử dụng phương pháp tập hợp
và phân bổ gián tiếp Khi đó tiêu chuẩn sử dụng để phân bổ chi phí NVLTT cho các đối tượng có thể là:
Trang 33- Đối với chi phí NVL chính, nửa thành phẩm mua ngoài có thể lựa chọn tiêu chuẩn phân bổ là: Chi phí định mức, chi phí kế hoạch, khối lượng sản phẩm sản xuất…
-Đối với chi phí vật liệu phụ, nhiên liệu… Tiêu chuẩn phân bổ có thể lựa chọn là: Chi phí định mức, chi phí kế hoạch, chi phí NVL chính, khối lượng sản phẩm sản xuất
Chứng từ sử dụng
- Hóa đơn giá trị gia tăng của các yếu tố mua vào: vật liệu chính, vật liệu phụ
- Phiếu xuất kho
- Phiếu xuất kho kiêm vận chuyển nội bộ
Tài khoản sử dụng
Để kế toán chi phí NVLTT, kế toán sử dụng TK 621
Để phản ánh NVL xuất dùng cho sản xuất sản phẩm, kế toán vẫn sử dụng TK
621 Các chi phí được phản ánh trên TK 621 không ghi theo chứng từ xuất dùng NVL mà được ghi một lần vào cuối kỳ hạch toán Sau khi tiến hành kiểm kê, sẽ xác định được giá trị hàng tồn kho và đang đi đường
1.3.2.2 Kế toán chi phí nhân công trực tiếp
Chi phí NCTT là những khoản tiền phải trả cho công nhân trực tiếp sản xuất sản phẩm hoặc trực tiếp thực hiện các loại lao vụ, dịch vụ gồm: Tiền lương chính, tiền lương phụ, các khoản phụ cấp, tiền trích bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn theo số tiền lương của công nhân sản xuất
Chi phí về tiền lương(tiền công) được xác định cụ thể tùy thuộc vào hình thức tiền lương sản phẩm hay thời gian mà DN áp dụng.Số tiền lương phải trả cho công nhân sản xuất cũng như các đối tượng lao động khác thể hiện trên bảng tính và thanh toán lương, được tổng hợp phân bổ cho các đối tượng kế toán chi phí sản xuất trên bảng phân bổ tiền lương.Trên cơ sở đó các khoản trích theo lương (BHXH, BHYT, KPCĐ, BHTN) tính vào chi phí nhân công trực tiếp được tính toán căn cứ
Trang 34vào số tiền lương công nhân sản xuất của từng đối tượng và tỷ lệ trích quy định theo quy chế tài chính hiện hành của từn thời kỳ
Giống như chi phí vật liệu trực tiếp, chi phí NCTT thường là các khoản chi phí trực tiếp nên nó được tập hợp trực tiếp vào các đối tượng tập hợp chi phí liên quan.Trong trường hợp không tập hợp trực tiếp được thì chi phí NCTT cũng được tập hợp chung sau đó kế toán sẽ phân bổ cho từng đối tượng theo tiêu chuẩn phân
bổ hợp lý Các tiêu chuẩn thường được sử dụng để phân bổ chi phí nhân công trực tiếp là: Chi phí tiền lương định mức(hoặc kế hoạch), giờ công định mức, giờ công thực tế, khối lượng sản phẩm sản xuất ra…
* Chứng từ sử dụng
- Bảng chấm công
- Bảng thanh toán tiền lương
- Bảng phân bổ tiền lương và BHXB
- Kết chuyển chi phí NCTT để tính giá thành sản phẩm
- Kết chuyển chi phí NCTT vượt trên mức bình thường
Kế toán chi phí nhân công trực tiếp có thể khái quát theo sơ đồ sau:
1.3.2.3 Kế toán chi phí sản xuất chung
Chi phí sản xuất chung là các khoản chi phí cần thiết khác phục vụ cho quá trình sản xuất sản phẩm phát sinh ở các phân xưởng, bộ phận sản xuất Chi phí SXC bao gồm:
+ Chi phí nhân viên phân xưởng: Phản ánh CP liên quan phải trả cho nhân viên phân xưởng, bao gồm: Chi phí tiền lương, tiền công, các khoản phụ cấp lương,
Trang 35các khoản trích BHXH, BHYT, KPCĐ, BHTN, tính cho nhân viên phân xưởng như: Quản đốc phân xưởng, nhân viên kinh tế, nhân viên thống kê, thủ kho phân xưởng, nhân viên tiếp liệu, vận chuyển nội bộ…
+ Chi phí vật liệu: Phản ánh chi phí vật liệu dùng chung cho phân xưởng, như vật liệu dùng cho sửa chữa, bảo dưỡng TSCĐ thuộc phân xưởng quản lý, sử dụng, vật liệu dùng cho nhu cầu văn phòng phân xưởng…
+ Chi phí dụng cụ sản xuất: Phản ánh CP về công cụ, dụng cụ sản xuất dùng cho phân xưởng sản xuất như khuôn mẫu đúc, gá lắp, dụng cụ cầm tay…
+Chi phí KH TSCĐ: Bao gồm KH của tất cả TSCĐ sử dụng ở phân xưởng
SX như KH của máy móc thiết bị, KH của nhà xưởng, phương tiện vận tải…
+ Chi phí dịch vụ mua ngoài: Phản ánh chi phí dịch vụ mua ngoài để phục vụ cho các hoạt động của phân xưởng như chi phí sửa chữa TSCĐ, CP điện, nước
+ Chi phí khác bằng tiền: Phản ánh những CP bằng tiền ngoài những khoản chi phí kể trên, phục vụ cho hoạt động của phân xưởng như chi phí tiếp khách, hội nghị…ở phân xưởng
Chi phí sản xuất chung được tập hợp theo từng phân xưởng, đội sản xuất, quản lý chi tiết theo từng yếu tố chi phí, mặt khác CP SXC còn phải tổng hợp theo chi phí cố định và chi phí biến đổi Cuối kỳ sau khi đã tập hợp được chi phí SXC theo từng phân xưởng, kế toán tính toán phân bổ CP SXC cho từng đối tượng kế toán chi phí sản xuất trong phân xưởng theo những tiêu chuẩn phân bổ hợp lý Việc tính toán xác định chi phí sản xuất chung tính vào chi phí chế biến sản phẩm còn phải căn cứ vào mức công xuất hoạt động thực tế của phân xưởng
Chi phí SXC cố định được phân bổ vào CP chế biến cho mỗi đơn vị sản phẩm được dựa trên công xuất bình thường của máy móc sản xuất.Trường hợp mức sản phẩm thực tế sản xuất cao hơn công xuất bình thường, phân chi phí SXC không phân bổ, được ghi nhận là chi phí sản xuất, kinh doanh trong kỳ
Chi phí SXC biến đổi được phân bổ hết trong kỳ theo chi phí thực tế
- Hóa đơn GTGT
- Bảng thanh toán tiền lương
Trang 36- Bảng tính và trích khấu hao tài sản cố định
- Bảng phân bổ nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ
1.3.2.4 Kế toán tổng hợp chi phí sản xuất toàn doanh nghiệp
Cuối kỳ kế toán, sau khi tập hợp CP NVLTT, chi phí NCTT và chi phí SXC theo từng đối tượng trên các TK 621, TK 622, TK 627, kế toán sẽ tiến hành kết chuyển hoặc phân bổ các loại chi phí này để tập hợp toàn bộ CPSX cho từng đối tượng chịu chi phí, tiến hành kiểm kê và đánh giá sản phẩm làm dở cuối kỳ, thực hiện tính giá thành các loại sản phẩm, công việc, lao vụ, dịch vụ do doanh nghiệp đã hoàn thành trong kỳ
Để tập hợp và tính giá thành sản phẩm hoàn thành theo phương pháp kê khai thường xuyên, kế toán sử dụng TK 154- Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang Tài khoản này thường được chi tiết theo từng đối tượng tính giá thành sản phẩm
Sau khi đã tổng hợp chi phí SX phát sinh trong kỳ, để tính được giá thành sản phẩm hoàn thành, kế toán DN cần phải tổ chức kiểm kê, đánh giá khối lượng sản phẩm dở dang cuối kỳ theo phương pháp phù hợp
Thông tin về giá trị sản phẩm dở dang có ảnh hưởng và cũng tác động đến giá trị hàng tồn kho trên bảng cân đối kế toán và ảnh hưởng đến lợi nhuận trên báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh Do vậy, việc đánh giá sản phẩm dở dang có ý nghĩa quan trọng đối với công tác kế toán tập hợp chi phí SX và giá thành sản phẩm của DN Trong thực tế, các DN có thể lựa chọn áp dụng các phương pháp sau để đánh giá sản phẩm dở dang cuối kỳ:
Trang 37- Phương pháp đánh giá sản phẩm dở dang theo chi phí NVLTT hoặc chi phí NVLC trực tiếp
-Phương pháp đánh giá sản phẩm dở dang theo khối lượng sản phẩm hoàn thành tương đương
- Phương pháp đánh giá sản phẩm dở dang theo chi phí định mức
Căn cứ vào kết quả đánh giá sản phẩm dở dang và chi phí SX đã tập hợp được, kế toán tổ chức tính giá thành sản phẩm, lao vụ hoàn thành bằng phương pháp kỹ thuật phù hợp, trên cơ sở công thức tính giá thành cơ bản:
+
Chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ
-Chi phí SX
dở dang cuối kỳGiá
Khác với các DN theo dõi hàng tồn kho theo phương pháp kê khai thường xuyên, ở các DN áp dụng phương pháp kiểm kê định kỳ, các nghiệp vụ phát sinh liên quan đến hàng tồn kho không được ghi sổ liên tục Bởi vậy cuối kỳ doanh nghiệp phải tiến hành kiểm kê tất cả các loại NVL, thành phẩm trong kho và tại các phân xưởng để xác định chi phí của sản phẩm hoàn thành và của hàng đã bán
TK sử dụng : thay vì dùng TK 154 kế toán sử dụng TK 631 – Giá thành sản xuất và nguyên tắc sử dụng tương tự tài khoản 154 – CP SXKDDD trong phương pháp KKTX
Sơ đồ quy trình kế toán tập hợp chi phí sản xuất theo 02 phương pháp hạch
toán hàng tồn kho được trình bày theo sơ đồ 1.1 và sơ đồ 1.2.
Kế toán chi phí sản xuất tại doanh nghiệp hạch toán hàng tồn kho theo
phương pháp kê khai thường xuyên được thể hiện qua sơ đồ 1.1 Trong đó:
(1): Xuất kho NVL phục vụ cho sản xuất sản phẩm
Trang 38(2): chi phí NVL, nhân công, SXC mua ngoài dùng ngay cho sản xuất SP(3): Tính lương và các khoản trích theo lương tính vào chi phí
(4): Các chi phí vật liệu, dụng cụ, khấu hao phục vụ chung cho phân xưởng(5): Kết chuyển chi phí NVLTT, CPNCTT, CPSXC vượt định mức
(6): Kết chuyển CP NVLTT, CP NCTT, CPSXC sang chi phí SXKDD(7): Giá trị phế liệu thu hồi bán hoặc nhập kho
(8): Kết chuyển giá trị sản phẩm hoàn thành nhập kho
(9): Kết chuyển giá trị sản phẩm hoàn thành gửi bán ngay không qua kho(10): Kết chuyển giá trị sản phẩm hoàn thành bán thẳng không qua kho
(4) (5) (5) (2) (2) (2)
TK111, 112,…
TK152TK621TK154TK111, 152,…
(1) (6) (7)
TK133TK632TK622
TK 334, 338
(3) (6)
Trang 40Sơ đồ 1.1 Kế toán chi phí sản xuất theo phương pháp kê khai thường xuyên
Kế toán chi phí sản xuất tại doanh nghiệp hạch toán hàng tồn kho theo
phương pháp kiểm kê định kỳ được thể hiện qua sơ đồ 1.2.
TK 621
Kết chuyển chi phí NVL trựctiếp
TK 622
Kết chuyển chi phí Nhân công trực tiếp
TK 627
Kết chuyển CPSX chung được phân bổ
Kết chuyển CPSX chung cố định không được phân bổ
Kết chuyển CPSX dở dang đầu kỳ
Kết chuyển CPSX
dở dang cuối kỳ