Để có thể lựa chọn và vận dụng phối hợp tốt nhất các phương pháp dạy học, cần căn cứ vào mục đích, yêu cầu; nội dung và đặc trưng của các môn học; căn cứ vào đặc điểm nhận thức, đặc điểm
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
KHOA TÂM LÝ- GIÁO DỤC
HỌC PHẦN: TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC
THỰC HIỆN MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP
DẠY HỌC HIỆN ĐẠI
GVHD: TS NGÔ ĐÌNH QUA SVTH: Trần Thị Ngọc Thắm
Trần Huỳnh Khương Hoàng Công Đoàn Trần Thị Trang
Lê Thị Bích
Tp Hồ Chí Minh, tháng 12 năm 2012
Trang 21 Lời mở đầu
Phương pháp dạy học là tổng hợp cách thức hoạt động của thầy và trò nhằm thực hiện tối ưu mục đích, nhiệm vụ dạy học Trong thực tiễn dạy học không có phương pháp nào là vạn năng, mỗi phương pháp đều có những ưu điểm và những hạn chế nhất định Nghệ thuật sư phạm của người giáo viên là phải biết vận dụng kết hợp một cách khoa học và hợp lí các phương pháp dạy học sao cho phát huy hết mức những ưu điểm, khắc phục những nhược điểm của từng phương pháp dạy học nhằm đạt hiệu quả dạy học tối ưu.
Để có thể lựa chọn và vận dụng phối hợp tốt nhất các phương pháp dạy học, cần căn cứ vào mục đích, yêu cầu; nội dung và đặc trưng của các môn học; căn cứ vào đặc điểm nhận thức, đặc điểm lứa tuổi của người học; căn cứ vào thực tiễn các điều kiện và phương tiện dạy học v.v Trên cơ sở đó, giáo viên tổ chức, điều khiển, học sinh tự tổ chức, tự điều khiển hoạt động dạy và học nhằm giúp người học chiếm lĩnh nội dung học vấn và vận dụng linh hoạt, sáng tạo trong thực tiễn.
Quá trình dạy học nói chung, dạy học hiện đại nói riêng về bản chất là quá trình thực hiện một cách có tổ chức các hoạt động sư phạm cụ thể theo các quy định của chương trình dạy học nhằm đạt được các mục tiêu dạy học là phát triển toàn diện con người về các mặt: Kiến thức, kỹ năng và thái độ Tiếp cận hiện đại trong dạy học hướng tới những quan niệm mới, xu thế mới trong dạy học ngày
nay, quan tâm tới việc người học sẽ làm được gì sau quá trình đào tạo, chứ không thuần túy là chỉ biết được gì; quan tâm tới người dạy sẽ dạy như thế nào,
để đánh thức tiềm năng, nhu cầu cần lĩnh hội kiến thức, kỹ năng của người học,
chứ không phải chỉ là dạy nội dung gì cho người học
Nếu như dạy học truyền thống, mục tiêu là chuyển tải nội dung tri thức từ vốn học vấn của giáo viên, từ sách và tài liệu học tập tới học sinh, đòi hỏi các
em phải học thuộc, phải nhớ và vận dụng một khối lượng tri thức đã sắp sẵn, thì trong quá trình dạy học hiện đại, với phương pháp tổ chức điều khiển của giáo viên hướng vào hoạt động của học sinh các em phải tự mình tìm tòi, phát hiện,
Trang 3chiếm lĩnh nội dung học vấn một cách thông minh, tích cực chủ động, sáng tạo bằng các thao tác tư duy, các hành động trí tuệ của chính bản thân các em.
Xuất phát từ điều đó nhóm 7 xin được lựa chọn một số phương pháp dạy
học hiện đại để ứng dụng vào dạy học môn Giáo dục công dân lớp 10, bài “ Tình yêu – Hôn nhân – Gia đình”.
2 Lý luận về phương pháp dạy học hiện đại
a Dạy học giải quyết vấn đề.
Dạy học giải quyết vấn đề là một cách tếp cận trong lĩnh vực phương pháp Nó
là một tập hợp nhiều phương pháp dạy học mà trung tâm là phương pháp bài toán (bài toán nhận thức)
Đặc điểm của bài toán nhận thức.
- Nó phải phát xuất từ cái quen thuộc, vừa sức với học sinh
- Không mang tính đơn thuần, mà đòi hỏi học sinh phải xử lý dữ kiện “đã dữ kiện “đã cho” của bài toán, tìm tòi phát hiện mà đi tới đáp án Tóm lại bài toán phải chứa đựng một trở ngại nhận thức, buộc học sinh phải tự lực vượt qua
- Mẫu thuẫn chủ chốt của bài toán phải kích thích sự tìm tòi, phát hiện của học sinh vào tình huống có vấn đề - có nghĩa là phải cấu tạo lại mâu thuẫn của bài toán, sao cho nó mang tính tìm tòi, khám phá Đây là đặc điểm quan trọng nhất
- Mâu thuẫn của bài toán được học sinh tự giác nhận thức như một nhu cầu bên trong, bức thiết cần giải quyết bằng được, khi đó học sinh được đặt trong tình huống có vấn đề
- Trong cách tổ chức giải quyết bài toán, học sinh chiếm lĩnh được cả kiến thức, cách thức giải và cả niềm vui của nhận thức
- Dạy học giải quyết vấn đề bao gồm một (hoặc một chuỗi) bài toán nhận thức chứa đựng mẫu thuẫn giữa cái đã cho và cái cần tìm, được cấu trúc một cách sư phạm làm cho bài toán mang tính chất ơrixtic.bài toán nêu vấn đề - ơrixtic – hạt nhân của phương pháp dạy học này
Quy trình xây dựng bài toán nhận thức.
Trang 4- Xác định mục tiêu bài dạy
- Xác định đơn vị kiến thức bài dạy (nắm rất chắc nội dung kiến thức bài dạy)
- Thiết kế bài toán nhận thức cho từng đơn vị kiến thức
- Kiểm tra bài toán xây dựng có phù hợpv ới mục đích, nộidung và trình
độ của học sinh hay không Chú ý dữ kiện “đã những câu hỏi của bài toán
Quy trình giải quyết bài toán nhận thức ở trên lớp.
- Tóm tắt và phân tích dữ kiện (bên ngoài và bên trong)
- Nêu vấn đề cần giải quyết (dữ kiện cơ bản)
- Xác định hướng giải quyết
- Phân tích từng giả thuyết để tìm giả thiết đủng rút ra kết luận và hoàn chỉnh nội dung bài học
Ưu điểm và nhược điểm.
- Giúp học sinh nắm tri thức và phát triển hoạt động trí tuệ một cách sâu xắc và vững chắc, đặc biệt là phát triển năng lực tư duy độc lạp sáng tạo
- Nâng cao hứng thú học tập, rèn luyện năng lực tìm kiếm, phát hiện vấn
đề, năng lực vận dụng tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, bước đầu làm quen với phương pháp học tập và nghiên cứu khoa học
- Bồi dưỡng những phẩm chất, tác phong của người làm khoa học, người lao động mới tự chủ, năng động, sáng tạo: biết thu thập, phân tích, xử lý dữ kiện “đã thông tin, bết giải quyết vấn đề…
- Tốn nhiều thời gian để nghiên cứu tài liệuhọc tập
- Khó thực hiện đối với tất cả nội dung dạy học hoặc các nội dung dạy học quá mới hay phức tạp
- Khó thực hiện đối với học sinh yếu
- Đòi hỏi giáo viên sự chuẩn bị bài công phu và kinh nghiệm tổ chức
Trang 5b Dạy học theo nhóm nhỏ.
Dạy học theo nhóm nhỏ là kiểu phương pháp dạy học, trong đó học sinh được chia thành nhóm và dưới sự chỉ đạo của giáo viên, trao đổi những ý dữ kiện “đã nghĩ, nguồn kiến thức, giúp đỡ, hợp tác với nhau trong việc lĩnh hội tri thức, hình thành kỹ năng kỹ xảo
Các bước thực hện dạy học theo nhóm nhỏ trên lớp.
Bước 1: Thành lập nhóm học tập
Việc phân chia nhóm thường dựa trên số lượng học viên, chủ đề bài học, và đặc điểm của học sinh Có thể chia nhóm theo cách ngẫu nhiên, hoặc tùy theo tiêu chuẩn
mà giáo viên đặt ra như giới tính, học lực… Cấu trúc của các nhóm có thể được giữ nguyên hoặc thay đổi số lượng thành viên trong nhóm có thể từ 2 – 20 người, tuy nhiên nhóm lý dữ kiện “đã tưởng là từ 4 – 6 người
Bước 2: Giới thiệu nội dung, mục tiêu
Giáo viên giới thiệu nội dung và cung cấp một số thông tin để định hướng cho hoạt động nhóm Nên giới thiệu nội dung và mục tiêu theo cách nhìn của học sinh để
họ có thể hiểu ngay yêu cầu và lý dữ kiện “đã do hoạt động của họ sau đó đề ra nhiệm vụ cụ thể cho các nhóm
Bước 3: Thảo luận nhóm
Nhóm sẽ ngồi thành từng chỗ để dễ dàng trao đổi ý dữ kiện “đã kiến, để giáo viên dễ dàng quan sát, động viên hoặc gợi ý dữ kiện “đã nếu cần trong quá trình hoạt động của nhóm Nhóm có nghiệm vụ thu thập ý dữ kiện “đã kiến trong nhóm để báo cáo trước lớp
Bước 4: Thảo luận lớp
Các nhóm báo cáo trước lớp, nếu cần các nhóm có thể thảo luận với nhau để đi đến kết luận
Bước 5: Giáo viên tổng kết và khái quát kết quả học tập
Nhiệm vụ của giáo viên khi học sinh hoạt động nhóm:
Điều động: Giáo viên di chuyển khắp các nhóm theo dõi công việc, xem các nhóm có tìm ra cách giải quyết hợp lý dữ kiện “đã nhất hay không, tìm những sai lầm mà các nhóm mắc phải, sai lầm điển hình, sai lầm chưa được sửa chữa
Trang 6Đặt câu hỏi bổ sung: Giáo viên có thể dùng các kỹ thuật như nhắc lại ý dữ kiện “đã kiến, nhấn mạnh các khái niệm, ý dữ kiện “đã quan trọng hay tóm tắt, liên kết các báo cáo của nhóm trong nội dung bài học
Nếu có nhóm nào đó gặp khó khăn giáo viên có thể tham giavào với tư cách chỉ đạo thảo luận nhằm giải quyết những khó kăn
Ưu nhược điểm của dạy học theo nhóm nhỏ.
+ Các thành viên cùng có cơ hội tham gia chia sẻ ý dữ kiện “đã kiến và kinh nghiệm + Có thể thay đổi cấu trúc của nhóm, tạo cơ hội cho các thành viên có thể trao đổi nhiều người với nhau
+ Tạo cơ hội đẻ hội họp các ý dữ kiện “đã kiến và quan điểm khác nhau, giúp quá trình giải quyết vấn đề
+ Xây dựng ý dữ kiện “đã thức làm việc theo nhóm
+ Một hoặc hai thành viên của nhóm có thể trội hơn thì các thành viên có thể bị co lạivà bớt tham gia hoạt động của nhóm
+ Phương pháp này tốn nhiều thời gian hơn để có sự tham gia của tất cả thành viên Không phù hợp với lớp đông học viên, nên đòi hỏi số lượng học viên trong lớp khoảng 25 – 30 học viên
c Dạy học theo dự án
Dạy học theo dự án được hiểu như một phương pháp dạy học hướng ọc sinh đến việc tiếp thu tri thức và kỹ năng thông qua quá trình giải quyết một bài tập tình huống, được gọi là một dự án ( project ) mô phỏng môi trường các em đang sống và sinh hoạt
Trong cách học theo dự án học sinh học tập theo nhóm để giải quyết những vấn
đề có thật trong cuộc sống, theo sát chương trình học và có phạm vi kến thức liên môn Học sinh có thể đóng các vai trong các nghành nghề khác nhau và hoàn thành vai trò
đó dựa trên kiến thức và kỹ năng nhất định Còn giáo viên thì tạo vai trò cho học sinh sao cho gắn với nội dung bài học và giúp đỡ họ hoàn thành vai trò ấy các phương tiện hoàn thành dự án gồm rất nhều nguồn như sách giáo khoa, Internet, đĩa CD, các chuyên gia và các nguồn tài liệu khác Dự án có thể bó hẹp trong phạm vi lớp học và
Trang 7kéo dài 1 – 2 tuần cũng có khi vượt ra ngoài phạm vi lớp họcvà kéo dài trong suốt một học kì hay một khóa học
Vai trò của giáo viên và học sinh.
Học sinh quyết định cách tiếp cận vấn đề và các hoạt động cần tiến hành để giải quyết vấn đề Học sinh là người thu thập tài liệu từ nhiều nguồn khác nhau, rồi tổng hợp, phân tích và tích lũy kiến thức từ quá trình làm việc của họ
Trong suốt quá trình học sinh học thực hiện dự án, giáo viên giữ vai trò như người hướng, người tham vấn chứ không “cầm tay chỉ việc” cho học sinh của mình
Quy trình dạy học theo dự án gồm các bước sau.
Vấn đề trong thực tiễn
Phát hiện dự án
Xác định mục tiêu dự án
Lập kế hoạch thực hiện dự án (phân nhóm, gợi ý dữ kiện “đã nguồn tài nguyên)
Triển khai dự án (thu thập và xử lý dữ kiện “đã thông tin, theo dõi, đôn đốc)
Trình bày kết quả của dự án ( trình bày sản phẩm, đánh giá sản phẩm)
Ưu nhược điểm của phương pháp dạy học theo dự án.
Học sinh là người chiụ trách nhiệm chính của việc học, và tự xây dựng kiến thức của mình
Thiết lập mối quan hệ với cuộc sống ở ngoài môi trường lớp học
Hướng đến các vấn đề của thế giới thật
Phát triển kỹ năng sống như kỹ năng làm việc tốt với người khác, kỹ năng đưa quyết định chín chắn, kỹnăng chủ động giải quyết vấn đề phức tạp
Tạo điều kiện cho nhiều phong cách học khác nhau được triển khai
Nhiệmvụ học đến được với tất cả học sinh
Công nghệ thông tin được tích hợp vào quá trình học, học sinh không học công nghệ thông tin một cách riêng lẻvì có lí do để học công nghệ thông tin chẳng hạn như để trình bày sản phẩm của dự án
Tuy nhiên, dạy học theo dự án cần có điều kiện như phương tiện và điều kiện dạy và học, tốn thời gian và đôi khi việc giải quyết dự án không gắn với nộ dung môn học trong chương trình dạy học
Trang 83 Thực hành một số phương pháp dạy học hiện đại
GIÁO ÁN TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC
Bài 12: CÔNG DÂN VỚI TÌNH YÊU HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH
( 2 TIẾT)
I MỤC TIÊU BÀI HỌC
1 Về kiến thức:
- Phát biểu được thế nào là tình yêu? Phân tích khái niệm và cho ví dụ về tình yêu.
- Phát biểu được thế nào là tình yêu chân chính? Phân tích khái niệm và cho ví dụ về tình yêu chân chính.
- Nêu được những điều cần tránh trong tình yêu Phân tích và cho ví dụ.
2 Về kĩ năng:
- Vận dụng các kiến thức về tình yêu để có thái độ đúng đắn trong tình yêu và quan niệm về tình yêu.
- Biết phân biệt thế nào là tình yêu chân chính và tình yêu không chân chính
-Thực hiện tốt trách nhiệm của bản thân
3 Về thái độ:
Trang 9- Đồng tình, ủng hộ các quan niệm, thái độđúng và tiến bộ về tình yêu.
- Phê phán những nhận thức và hành vi lệch lạc, sai trái về quan niệm tình yêu
II Nội dung
Kiến thức trọng tâm:
Tình yêu
Tình yêu chân chính
Những điều cần tránh trong tình yêu
Kiến thức mới và khó:
Quan niệm về tình yêu của thanh thiếu niên hiện nay
Tình yêu chân chính tình yêu mang tính xã hội
III PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
- Phương pháp diễn giải, vấn đáp, đàm thoại, thảo luận nhóm nhỏ, sách giáo khoa, giải quyết vấn đề, trò chơi, dạy học trực quan.
IV)TÀI LIỆU VÀ PHƯƠNG TIỆN DẠY HỌC
- Sách giáo khoa lớp 10
- Sách báo và tài liệu liên quan
- Sách thiết kế bài giảng 10
- Tranh, ảnh ca dao tục ngữ có liên quan
V)HOẠT ĐỘNG DẠY VÀ HỌC
1 Vào bài mới.(1phút)
Vấn đề tình yêu, hôn nhân và gia đình là một trong những vấn đề vô cùng quan trọng trong đời sống mỗi con người nói riêng cũng như sự ổn định của Đất nước nói chúng Vậy hiểu thế nào cho đúng, cho đủ về vấn đề này thì chúng ta sẽ cùng đi tìm hiểu bài hôm nay Bài 12: CÔNG DÂN VỚI TÌNH YÊU, HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH
HỌC
Trang 10Hoạt động 1 (15 phút)
Gv:Trong cuộc sống tình cảm của mỗi cá
nhân tình yêu giữ vị trí đặc biệt Nó góp phần thúc
đẩy hành vi và làm bộc lộ phẩm chất đạo đức của
cá nhân
Tình yêu có nội dung rất rộng trong bài này
chúng ta sẽ đề cập tới tình yêu nam nữ
Gv: Chia nhóm nhỏ (8 em học sinh 1 nhóm)
Yêu cầu: Các nhóm hãy thảo luận thảo luận để
cùng nhau tìm ra những định nghĩa vui về tình yêu
trong các bài thơ, ca dao hoặc tất cả các lĩnh vực: Toán
học, hóa học, vật lý dữ kiện “đã, lịch sử, địa lý dữ kiện “đã, văn học,…
Tiến hành cho các nhóm thảo luận, quan sát các
nhóm, hỗ trợ nhóm khi cần thiết
HS: Trình bày kết quả: từng lĩnh vực một, các
nhóm lắng nghe bổ sung cho nhau
Gv: nhận xét và kết luận
Gv: theo các em ở lứa tuổi của chúng ta có
nên yêu chưa?
Hs: trả lời
Gv: chưa nên yêu vì đang trong tuồi ăn học
mà tình yêu thì phải có sự hiến dâng cho nhau
cuộc sống nên các em dễ dàng đánh mất tương lai
của mình
1.Tình yêu
a Tình yêu là gì?
Tình yêu là sự rung cảm và quyến luyến sâu sắc giữa hai người khác giới Ở
họ có sự phù hợp về nhiều mặt…làm cho họ có nhu cầu gần gũi, gắn bó với nhau, tự nguyện sống vì nhau và sẵn sàng hiến dâng cho nhau cuộc sống của mình
Trang 11- Nhớ ai bổi hổi bồi hồi
Như đứng đống lửa như ngồi đống than
- Giĩ đâu giĩ mát sau lưng
Bụng đâu bụng nhớ người dưng thế này
Gv: Như vậy tình yêu thường cĩ những biểu
hiện cơ bản nào?
Hs: nhớ nhung, quyến luyến, giận hờn,
buồn, ghen…
Gv: Tình yêu cĩ nhiều biểu hiện, nhưng cĩ
lẽ nỗi nhớ da diết, mãnh liệt là biểu hiện thường
trực trong tình yêu
Có ý kiến cho rằng:Tình yêu là
chuyện riêng tư của mỗi người, không liên
quan gì đến người khác
• Theo em, ý kiến đó là đúng
hay sai?
HS : Trả lời
Gv: Điều đĩ chưa hồn tồn đúng
Tình yêu là tình cảm sâu sắc, đáng trân
trọng, tuy nhiên khơng nên cho rằng đĩ chỉ
hồn tồn là việc riêng tư của mỗi người
• Tình yêu đặt ra những vấn đề
gì cho xã hội?
Hs: Trả lời:
GV: Những vấn đề cho xã hội như: tình yêu
->hơn nhân->gia đình->dân số-> giáo dục->việc
làm,->nhà ở…
Tình yêu là tình cảm thiêng liêng của cá
nhân cần được tơn trọng Nhưng tình yêu của cá
nhân khơng hồn tồn tách rời với xã hội bởi cá
nhân là một phần của xã hội Trước hết tình yêu
Tình yêu luơn luơn mang tính xã hội
Xã hội khơng can thiệp đến tình yêu cá nhân nhưng cĩ trách nhiệm hướng dẫn mọi người cĩ quan niệm đúng đắn về tình