MỞ ĐẦU 1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI Trong các cuộc khởi nghĩa, chiến tranh hay vận động cách mạng, vấn đề căn cứ địa – hậu phương trở thành vấn đề mang tính quy luật, đồng thời là nhân tố thường xuyên quyết định thắng lợi của cuộc chiến tranh, khởi nghĩa hay các cuộc cách mạng. Tiến trình lịch sử thế giới và lịch sử dân tộc Việt Nam đã khẳng định điều này. Kế thừa truyền thống đánh giặc giữ nước của dân tộc, trên cơ sở quán triệt và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin về khởi nghĩa và chiến tranh cách mạng vào nước ta, trong quá trình lãnh đạo cách mạng, lãnh tụ Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam hết sức chú trọng vấn đề xây dựng căn cứ địa, đây là một trong những nhân tố tạo nên thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thắng lợi một phần là nhờ có Căn cứ địa Bắc Sơn – Vũ Nhai, Căn cứ địa Cao Bằng, Khu giải phóng Việt Bắc và hàng chục chiến khu trong cả nước. Bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng chọn và xây dựng Căn cứ địa Việt Bắc trở thành trung tâm đầu não của cuộc kháng chiến. Nhiều vùng tự do, căn cứ địa – hậu phương đã được xây dựng trên khắp cả nước: Thanh – Nghệ – Tĩnh, Nam – Ngãi – Bình – Phú, Đồng Tháp Mười, U Minh, Chiến khu Đ… Đây là một nhân tố hết sức quan trọng đưa đến thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Pháp và can thiệp Mỹ (1945-1954). Từ năm 1954 đến 1975, để chống lại cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ – một nước đế quốc mạnh nhất thế giới từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai đến nay, Đảng ta đã tiến hành cuộc chiến tranh cách mạng để giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, thống nhất Tổ quốc, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước. Để hoàn thành nhiệm vụ cách mạng to lớn này, ngoài việc xây dựng miền Bắc thành hậu phương vững mạnh, thành căn cứ địa cách mạng của cả nước, Đảng ta còn chủ trương xây dựng và phát triển hệ thống căn cứ địa trên các địa bàn chiến lược ở miền Nam như Trị Thiên, Tây Nguyên, Trung Trung Bộ, Nam Trung Bộ, Đông Nam Bộ, Tây Nam Bộ… Do tác động của mục tiêu và nhiệm vụ cách mạng đặt ra, cũng như các điều kiện tự nhiên, kinh tế, chính trị, xã hội ở khu vực, vùng miền mà ở miền Nam thời chống Mỹ có nhiều loại hình căn cứ địa với các quy mô khác nhau. Mặt khác, các căn cứ địa cách mạng ở miền Nam thời chống Mỹ có những điểm giống nhau nhưng cũng có nhiều nét riêng do điều kiện lịch sử địa phương quy định. Song, tất cả các căn cứ địa đã góp phần tạo ra tiềm lực to lớn để quân và dân miền Nam đánh thắng các chiến lược chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ. Với vai trò và vị trí to lớn trên đây, vấn đề căn cứ địa trở thành một phận hữu cơ của cuộc chiến tranh cách mạng ở miền Nam thời chống Mỹ. Đây là một đối tượng lịch sử cần được nghiên cứu để làm sáng tỏ vai trò và vị trí của một phương thức chiến tranh cách mạng, góp phần làm sáng tỏ đầy đủ về lịch sử của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước vĩ đại do dân tộc ta tiến hành. Vấn đề căn cứ địa thời chống Mỹ không chỉ cần và phải được khôi phục, đánh giá một cách khách quan với những biểu hiện của nó, mà còn phải làm rõ những điểm nổi bật có tính vùng miền của các căn cứ địa trên các địa bàn chiến lược ở miền Nam. Để góp phần thực hiện mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu trên, vấn đề nghiên cứu căn cứ địa cách mạng ở khu vực Trung Trung Bộ (bao gồm các tỉnh, thành phố: Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên) cũng đặt ra hết sức cần thiết. Đây là địa bàn chiến lược hết sức quan trọng ở Khu V; là cửa ngõ từ Biển Đông vào miền Trung và Tây Nguyên; là bàn đạp để tỏa đi các hướng chiến lược và các chiến trường khác, đồng thời cũng là điểm đầu tiếp nhận sự chi viện từ miền Bắc vào bằng đường bộ và đường biển. Vì vậy, Trung Trung Bộ là địa bàn giao tranh ác liệt giữa ta và địch. Tại đây, nhiều căn cứ địa cách mạng đã được xây dựng như: Khu Sông Đà (Đà Nẵng), Nước Oa, Nước Là, Sơn – Cẩm – Hà, Tiên Sơn (Quảng Nam), Trà Bồng, Sơn Tây (Quảng Ngãi), Núi Bà, Hòn Chè (Bình Định), Thồ Lồ, Vân Hòa (Phú Yên)… Các căn cứ địa cách mạng ở Trung Trung Bộ đã hoàn thành tốt chức năng và nhiệm vụ của mình, góp phần to lớn vào thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước tại địa bàn cũng như trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ nói chung của cả dân tộc. Lịch sử hình thành, phát triển cùng những đóng góp của các căn cứ địa cách mạng ở Trung Trung Bộ trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước từ lâu đã thu hút sự quan tâm của giới nghiên cứu. Tuy nhiên, cho đến nay, vì nhiều lý do khác nhau, vấn đề căn cứ địa cách mạng ở Trung Trung Bộ mới chỉ được đề cập một cách khái lược trong các công trình nghiên cứu về cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước trên chiến trường Khu V cũng như trong các công trình tổng kết lịch sử truyền thống địa phương. Do vậy, việc nghiên cứu vấn đề Căn cứ địa cách mạng ở Trung Trung Bộ trong kháng chiến chống Mỹ (1954-1975) sẽ mang lại nhiều ý nghĩa khoa học và thực tiễn. Về ý nghĩa khoa học, luận án làm rõ quá trình hình thành, phát triển, vai trò, vị trí, đặc điểm của căn cứ địa cách mạng ở Trung Trung Bộ trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Qua đó, bổ sung một số tư liệu làm rõ vai trò lãnh đạo của các cấp ủy Đảng đối với vấn đề căn cứ địa; sự linh hoạt, sáng tạo trong hoạt động tổ chức, xây dựng căn cứ địa cách mạng ở các vùng miền. Kết quả nghiên cứu sẽ góp phần làm sáng tỏ đường lối chiến tranh nhân dân của Đảng và chiến lược xây dựng căn cứ địa đã được vận dụng một cách sáng tạo vào thực tiễn cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước ở Trung Trung Bộ. Kết quả nghiên cứu của luận án còn góp phần bổ sung kiến thức nghiên cứu về lịch sử cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước nói chung, đặc biệt là đối với Trung Trung Bộ nói riêng. Về ý nghĩa thực tiễn, từ những cứ liệu nghiên cứu để bước đầu rút ra những bài học kinh nghiệm là một yêu cầu cần thiết nhằm phục vụ việc thực hiện nhiệm vụ xây dựng thế trận an ninh – quốc phòng trên địa bàn hiện nay. Kết quả nghiên cứu của luận án cũng sẽ góp phần vào việc giáo dục truyền thống yêu nước và cách mạng cho các tầng lớp nhân dân, là cơ sở để trùng tu và bảo tồn các di tích căn cứ địa kháng chiến thời chống Mỹ. Đây còn là nguồn tài liệu quý báu để nghiên cứu và dạy học về lịch sử cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước ở các bậc học.
Trang 1ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
TRẦN THÚY HIỀN
CĂN CỨ ĐỊA CÁCH MẠNG Ở TRUNG TRUNG BỘ
TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ
(1954-1975) Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam
Mã số: 62 22 03 13 LUẬN ÁN TIẾN SĨ LỊCH SỬ
Người hướng dẫn khoa học:
1 PGS.TS Trần Ngọc Long
2 PGS.TS Trương Công Huỳnh Kỳ
HUẾ - NĂM 2015
Trang 2DANH MỤC NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT
An toàn khu: ATK
Ban Chấp hành Trung ương: BCHTƯ
Trang 3MỤC LỤC
Trang phụ bìa i
Lời cam đoan ii
Lời cảm ơn iii
Mục lục 2
DANH MỤC NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT 0
MỞ ĐẦU 6
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 6
2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 9
3 MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU 10
4 N GUỒN TƯ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 11
5 ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN ÁN 12
6 BỐ CỤC CỦA LUẬN ÁN 12
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 13
1.1 Tình hình nghiên cứu 13
1.1.1 Nhóm các công trình nghiên cứu về căn cứ địa cách mạng nói chung 13 1.1.2 Nhóm các công trình nghiên cứu về căn cứ địa cách mạng ở miền Nam trong kháng chiến chống Mỹ 18
1.1.3 Nhóm các công trình trực tiếp phản ánh hoạt động xây dựng và bảo vệ căn cứ địa cách mạng ở Trung Trung Bộ 19
1 2 Những vấn đề luận án kế thừa từ các công trình nghiên cứu đã xuất bản 30
1.3 Những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu 30
CHƯƠNG 2: KHÔI PHỤC VÀ BẢO VỆ CĂN CỨ ĐỊA CÁCH MẠNG Ở TRUNG TRUNG BỘ (1954-1960) 32
2.1 Những yếu tố tác động đến quá trình xây dựng, bảo vệ và phát huy vai trò căn cứ địa cách mạng ở Trung Trung Bộ 32
Trang 42.1.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế – xã hội 32 2.1.2 Truyền thống yêu nước và cách mạng của nhân dân Trung Trung Bộ 43
2.1.3 Căn cứ địa cách mạng ở Trung Trung Bộ trong quá trình vận động
Cách mạng Tháng Tám và kháng chiến chống thực dân Pháp 48 2.2 Quá trình phục hồi căn cứ địa cách mạng ở Trung Trung bộ (1954- 1960) 56 2.2.1 Âm mưu và thủ đoạn xóa bỏ căn cứ địa cách mạng của địch 56 2.2.2 Chủ trương của ta 59
2.2.3 Quá trình phục hồi căn cứ địa cách mạng ở Trung Trung Bộ đáp ứng
yêu cầu của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước 62 2.3 Cuộc đấu tranh bảo vệ căn cứ địa cách mạng 73
* Tiểu kết chương 2 78
TRÒ CĂN CỨ ĐỊA CÁCH MẠNG Ở TRUNG TRUNG BỘ (1961-1975) 80 3.1 Căn cứ địa cách mạng ở Trung Trung Bộ trong giai đoạn chống chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” (1961-1965) 80
3.1.1 Tiếp tục củng cố các căn cứ địa miền núi, phát triển căn cứ địa ở vùng
đồng bằng 80 3.1.2 Đẩy mạnh cuộc chiến đấu bảo vệ căn cứ địa 86 3.2 Chủ động xây dựng kết hợp với bảo vệ căn cứ địa cách mạng, góp phần đánh thắng chiến lược “Chiến tranh cục bộ” (1965-1968) 92
3.2.1 Phát triển thực lực căn cứ địa cách mạng đáp ứng yêu cầu chống chiến
lược “Chiến tranh cục bộ” 92
3.2.2 Tổ chức chiến đấu, đánh thắng các cuộc hành quân càn quét của địch
vào căn cứ 98 3.2.3 Phát huy vai trò hậu phương tại chỗ của căn cứ địa cách mạng 104 3.3 Khôi phục căn cứ địa cách mạng, tạo thế và lực mới góp phần kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến (1969-1975) 107
Trang 53.3.1 Củng cố căn cứ địa cách mạng sau Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968 (1969-1973) 107 3.3 2 Đẩy mạnh phát triển thực lực căn cứ địa cách mạng (1973-1975) 114
* Tiểu kết chương 3 121
4.1 Một số đặc điểm của căn cứ địa cách mạng ở Trung Trung Bộ 124
4.1.1 Căn cứ địa cách mạng ở Trung Trung Bộ phong phú về loại hình, đa
dạng về quy mô và hình thức tổ chức 124
4.1.2 Căn cứ địa cách mạng ở Trung Trung Bộ thường xuyên có sự biến động 129 4.1.3 Căn cứ địa cách mạng ở Trung Trung Bộ có khả năng đảm bảo sản xuất
tự túc, tự cấp 131
4.1.4 Hệ thống căn cứ địa cách mạng ở Trung Trung Bộ dễ bị chia cắt, cô lập
khi địch tập trung lực lượng đánh phá mạnh 133 4.2 Vai trò của căn cứ địa cách mạng ở Trung Trung Bộ 135
4.2.1 Nơi đứng chân và hoạt động của các cơ quan lãnh đạo, chỉ đạo, chỉ huy
kháng chiến của Khu V và các tỉnh trên địa bàn 135
4.2.2 Là hậu phương tại chỗ, trực tiếp bảo đảm cung cấp sức người, sức của cho các lực lượng kháng chiến; nơi nhân dân gửi gắm niềm tin vào thắng lợi
của sự nghiệp cách mạng 137
4.2.3 Là bàn đạp xuất phát tiến công của các LLVT tổ chức các chiến dịch, trận đánh tiêu hao sinh lực địch và phát triển chiến tranh du kích 139 4.2.4 Là nơi tiếp nhận sự chi viện bằng đường bộ, đường biển cho chiến trường Khu V, góp phần hình thành thế bao vây chia cắt, trực tiếp uy hiếp lực
lượng của địch ở Trung Trung Bộ 141 4.3 Một số bài học kinh nghiệm 144
4.3.1 Xây dựng căn cứ địa cách mạng phải chú trọng đặc điểm địa – chính trị,
địa – quân sự, địa – kinh tế, địa – văn hoá của địa phương 144
Trang 64.3.2 Phát huy vai trò của tổ chức Đảng, chính quyền và các đoàn thể nhân
dân trong quá trình xây dựng và bảo vệ căn cứ địa cách mạng 146
4.3.3 Tăng cường xây dựng, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân, thực hiện tốt
chính sách dân tộc của Đảng 148
4.3.4 Xây dựng căn cứ địa cách mạng vững mạnh toàn diện, kết hợp xây
dựng với bảo vệ, bảo vệ để xây dựng 152
4.3.5 Kết hợp đồng thời việc xây dựng căn cứ địa cách mạng ở miền núi với xây dựng căn cứ du kích ở vùng địch tạm chiếm, các cơ sở, “lõm chính trị”
trong nội đô 155
* Tiểu kết chương 4 157 KẾT LUẬN 158 DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC LIÊN QUAN ĐÃ CÔNG BỐ 162 TÀI LIỆU THAM KHẢO 163 NHÂN CHỨNG LỊCH SỬ 1
Trang 7MỞ ĐẦU
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Trong các cuộc khởi nghĩa, chiến tranh hay vận động cách mạng, vấn đề căn
cứ địa – hậu phương trở thành vấn đề mang tính quy luật, đồng thời là nhân tố thường xuyên quyết định thắng lợi của cuộc chiến tranh, khởi nghĩa hay các cuộc cách mạng Tiến trình lịch sử thế giới và lịch sử dân tộc Việt Nam đã khẳng định điều này
Kế thừa truyền thống đánh giặc giữ nước của dân tộc, trên cơ sở quán triệt và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin về khởi nghĩa và chiến tranh cách mạng vào nước ta, trong quá trình lãnh đạo cách mạng, lãnh tụ Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam hết sức chú trọng vấn đề xây dựng căn cứ địa, đây là một trong những nhân tố tạo nên thắng lợi của cách mạng Việt Nam Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thắng lợi một phần là nhờ có Căn cứ địa Bắc Sơn – Vũ Nhai, Căn cứ địa Cao Bằng, Khu giải phóng Việt Bắc và hàng chục chiến khu trong cả nước Bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng chọn và xây dựng Căn cứ địa Việt Bắc trở thành trung tâm đầu não của cuộc kháng chiến Nhiều vùng tự do, căn cứ địa – hậu phương đã được xây dựng trên khắp cả nước: Thanh – Nghệ – Tĩnh, Nam – Ngãi – Bình – Phú, Đồng Tháp Mười,
U Minh, Chiến khu Đ… Đây là một nhân tố hết sức quan trọng đưa đến thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Pháp và can thiệp Mỹ (1945-1954)
Từ năm 1954 đến 1975, để chống lại cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc
Mỹ – một nước đế quốc mạnh nhất thế giới từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai đến nay, Đảng ta đã tiến hành cuộc chiến tranh cách mạng để giải phóng miền Nam, bảo
vệ miền Bắc, thống nhất Tổ quốc, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước Để hoàn thành nhiệm vụ cách mạng to lớn này, ngoài việc xây dựng miền Bắc thành hậu phương vững mạnh, thành căn cứ địa cách mạng của cả nước, Đảng ta còn chủ trương xây dựng và phát triển hệ thống căn cứ địa trên các địa bàn
Trang 8Bộ, Đông Nam Bộ, Tây Nam Bộ… Do tác động của mục tiêu và nhiệm vụ cách mạng đặt ra, cũng như các điều kiện tự nhiên, kinh tế, chính trị, xã hội ở khu vực, vùng miền mà ở miền Nam thời chống Mỹ có nhiều loại hình căn cứ địa với các quy
mô khác nhau Mặt khác, các căn cứ địa cách mạng ở miền Nam thời chống Mỹ có những điểm giống nhau nhưng cũng có nhiều nét riêng do điều kiện lịch sử địa phương quy định Song, tất cả các căn cứ địa đã góp phần tạo ra tiềm lực to lớn
để quân và dân miền Nam đánh thắng các chiến lược chiến tranh xâm lược của
đế quốc Mỹ
Với vai trò và vị trí to lớn trên đây, vấn đề căn cứ địa trở thành một phận hữu
cơ của cuộc chiến tranh cách mạng ở miền Nam thời chống Mỹ Đây là một đối tượng lịch sử cần được nghiên cứu để làm sáng tỏ vai trò và vị trí của một phương thức chiến tranh cách mạng, góp phần làm sáng tỏ đầy đủ về lịch sử của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước vĩ đại do dân tộc ta tiến hành Vấn đề căn cứ địa thời chống Mỹ không chỉ cần và phải được khôi phục, đánh giá một cách khách quan với những biểu hiện của nó, mà còn phải làm rõ những điểm nổi bật có tính vùng miền của các căn cứ địa trên các địa bàn chiến lược ở miền Nam
Để góp phần thực hiện mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu trên, vấn đề nghiên cứu căn cứ địa cách mạng ở khu vực Trung Trung Bộ (bao gồm các tỉnh, thành phố:
Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên) cũng đặt ra hết sức cần thiết Đây là địa bàn chiến lược hết sức quan trọng ở Khu V; là cửa ngõ từ Biển Đông vào miền Trung và Tây Nguyên; là bàn đạp để tỏa đi các hướng chiến lược và các chiến trường khác, đồng thời cũng là điểm đầu tiếp nhận sự chi viện từ miền Bắc vào bằng đường bộ và đường biển Vì vậy, Trung Trung Bộ là địa bàn giao tranh ác liệt giữa ta và địch Tại đây, nhiều căn cứ địa cách mạng đã được xây dựng như: Khu Sông Đà (Đà Nẵng), Nước Oa, Nước Là, Sơn – Cẩm – Hà, Tiên Sơn (Quảng Nam), Trà Bồng, Sơn Tây (Quảng Ngãi), Núi Bà, Hòn Chè (Bình Định), Thồ Lồ, Vân Hòa (Phú Yên)… Các căn cứ địa cách mạng ở Trung Trung Bộ đã hoàn thành tốt chức năng và nhiệm vụ của mình, góp phần to lớn vào thắng lợi của
Trang 9cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước tại địa bàn cũng như trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ nói chung của cả dân tộc
Lịch sử hình thành, phát triển cùng những đóng góp của các căn cứ địa cách mạng ở Trung Trung Bộ trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước từ lâu đã thu hút
sự quan tâm của giới nghiên cứu Tuy nhiên, cho đến nay, vì nhiều lý do khác nhau, vấn đề căn cứ địa cách mạng ở Trung Trung Bộ mới chỉ được đề cập một cách khái lược trong các công trình nghiên cứu về cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước trên chiến trường Khu V cũng như trong các công trình tổng kết lịch sử truyền thống địa
phương Do vậy, việc nghiên cứu vấn đề Căn cứ địa cách mạng ở Trung Trung Bộ
trong kháng chiến chống Mỹ (1954-1975) sẽ mang lại nhiều ý nghĩa khoa học và
thực tiễn
Về ý nghĩa khoa học, luận án làm rõ quá trình hình thành, phát triển, vai trò,
vị trí, đặc điểm của căn cứ địa cách mạng ở Trung Trung Bộ trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước Qua đó, bổ sung một số tư liệu làm rõ vai trò lãnh đạo của các cấp ủy Đảng đối với vấn đề căn cứ địa; sự linh hoạt, sáng tạo trong hoạt động tổ chức, xây dựng căn cứ địa cách mạng ở các vùng miền Kết quả nghiên cứu sẽ góp phần làm sáng tỏ đường lối chiến tranh nhân dân của Đảng và chiến lược xây dựng căn cứ địa đã được vận dụng một cách sáng tạo vào thực tiễn cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước ở Trung Trung Bộ
Kết quả nghiên cứu của luận án còn góp phần bổ sung kiến thức nghiên cứu
về lịch sử cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước nói chung, đặc biệt là đối với Trung Trung Bộ nói riêng
Về ý nghĩa thực tiễn, từ những cứ liệu nghiên cứu để bước đầu rút ra những
bài học kinh nghiệm là một yêu cầu cần thiết nhằm phục vụ việc thực hiện nhiệm vụ xây dựng thế trận an ninh – quốc phòng trên địa bàn hiện nay Kết quả nghiên cứu của luận án cũng sẽ góp phần vào việc giáo dục truyền thống yêu nước và cách mạng cho các tầng lớp nhân dân, là cơ sở để trùng tu và bảo tồn các di tích căn cứ địa kháng chiến thời chống Mỹ Đây còn là nguồn tài liệu quý báu để nghiên cứu và dạy học về lịch sử cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước ở các bậc học
Trang 10Từ những ý nghĩa khoa học và thực tiễn trên đây, chúng tôi chọn vấn đề Căn
cứ địa cách mạng ở Trung Trung Bộ trong kháng chiến chống Mỹ (1954-1975) làm
đề tài nghiên cứu cho luận án Tiến sĩ Lịch sử chuyên ngành Lịch sử Việt Nam
2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu:
Quá trình xây dựng, bảo vệ và phát huy vai trò của căn cứ địa cách mạng ở Trung Trung Bộ trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước
Phạm vi nghiên cứu:
Về thời gian: Từ năm 1954 đến năm 1975 Tuy nhiên, để việc trình bày nội
dung chính được logic, luận án có đề cập khái quát các căn cứ địa cách mạng trước năm 1954
Về không gian: Thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, địa bàn Trung
Trung Bộ bao gồm các địa phương: Quảng Nam – Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên Trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, từ tháng 7-1962, chính quyền Việt Nam Cộng hòa chia Quảng Nam – Đà Nẵng thành hai tỉnh Quảng Nam và Quảng Tín Tỉnh Quảng Nam gồm 9 quận: Điện Bàn, Duy Xuyên, Đại Lộc, Đức Dục, Hiếu Đức, Hiếu Nhơn, Hòa Vang, Quế Sơn, Thượng Đức và thị xã Đà Nẵng Tỉnh Quảng Tín gồm 6 quận: Hậu Đức, Hiệp Đức, Lý Tín, Tam Kỳ, Tiên Phước và Thăng Bình Về phía chính quyền cách mạng, từ cuối năm 1962 đến năm 1967, tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng được tách lại thành 2 tỉnh Quảng Nam và Quảng Đà Tỉnh Quảng Nam (chính quyền Việt Nam Cộng hòa gọi là tỉnh Quảng Tín) gồm các huyện Quế Sơn, Thăng Bình, Tam Kỳ, Tiên Phước, Phước Sơn, Trà My Tỉnh Quảng Đà (địch gọi là tỉnh Quảng Nam) gồm các huyện Hòa Vang, Đại Lộc, Điện Bàn, Duy Xuyên, Đông Giang, Tây Giang, Nam Giang, thị xã Hội An và thành phố
Đà Nẵng Từ năm 1964 đến tháng 11-1967, thực hiện sự chỉ đạo của Khu ủy V, thành phố Đà Nẵng tách ra khỏi tỉnh Quảng Đà, gồm 3 quận: quận Nhất, quận Nhì
và quận Ba Tháng 11-1967, trước cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân, tỉnh Quảng Đà và thành phố Đà Nẵng hợp nhất thành Đặc khu Quảng Đà So với các tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, mặc dù Quảng Nam – Đà Nẵng là địa bàn trải qua nhiều lần tách, nhập, song về cơ bản địa giới hành chính của địa
Trang 11phương này không thay đổi Do vậy, từ đây đến khi kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Trung Trung Bộ bao gồm: Quảng Nam, Quảng Đà, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên
Như vậy, về cơ bản địa bàn Trung Trung Bộ không có sự thay đổi, chủ yếu vẫn bao gồm các tỉnh, thành phố: Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên
Về nội dung: Luận án nghiên cứu những vấn đề lý luận về căn cứ địa cách
mạng trong chiến tranh giải phóng; những yếu tố tác động đến quá trình phục hồi, xây dựng, bảo vệ và phát huy vai trò căn cứ địa (điều kiện địa lý tự nhiên, dân cư, tình hình kinh tế – xã hội, truyền thống lịch sử; tình hình xây dựng căn cứ địa trước khi bước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ); những âm mưu, thủ đoạn đánh phá căn
cứ của Mỹ và chính quyền Việt Nam Cộng hòa; chủ trương của Đảng về xây dựng căn cứ địa trong mỗi giai đoạn cách mạng; hoạt động xây dựng căn cứ về các mặt: chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa – xã hội; các cuộc chiến đấu bảo vệ căn cứ; đặc điểm, vai trò và một số bài học đúc rút từ quá trình xây dựng và bảo vệ căn cứ địa cách mạng ở Trung Trung Bộ trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975)
3 MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
Mục đích:
Nghiên cứu, phục dựng một cách căn bản và tương đối đầy đủ về hệ thống căn
cứ địa cách mạng ở Trung Trung Bộ nhằm phục vụ công tác nghiên cứu, giảng dạy, giáo dục truyền thống và bổ sung tư liệu về cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của quân và dân trên địa bàn Bên cạnh đó, luận án góp phần cung cấp những luận
cứ cho việc xây dựng thế trận an ninh – quốc phòng ở địa bàn Trung Trung Bộ trong tình hình mới
Nhiệm vụ:
Để đạt được mục đích nêu trên, luận án tập trung giải quyết một số nhiệm vụ chủ yếu sau:
- Luận giải và làm rõ những yếu tố tác động đến quá trình xây dựng, bảo vệ
và phát huy vai trò căn cứ địa cách mạng ở Trung Trung Bộ
Trang 12- Phân tích những âm mưu, thủ đoạn của Mỹ và chính quyền Việt Nam Cộng hòa trong việc xóa bỏ căn cứ địa; chủ trương, biện pháp xây dựng và bảo vệ căn cứ địa cách mạng của Trung ương Đảng và đảng bộ các địa phương; hoạt động của quân và dân các tỉnh Trung Trung Bộ trong quá trình xây dựng, bảo vệ và phát huy vai trò của căn cứ địa, hậu phương tại chỗ
- Luận giải và làm rõ những đặc điểm của căn cứ địa cách mạng ở Trung Trung Bộ đặt trong mối quan hệ đối sánh với căn cứ địa ở một số vùng miền; đúc rút những bài học kinh nghiệm về xây dựng, bảo vệ căn cứ địa cách mạng ở Trung Trung Bộ
4 N GUỒN TƯ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Nguồn tư liệu bao gồm:
- Các văn kiện: Hệ thống các văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà
nước và Quân đội nhân dân Việt Nam về cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước
- Tác phẩm của các vị lãnh tụ và lãnh đạo: Tác phẩm của Hồ Chí Minh, lãnh
đạo Đảng, Nhà nước và Quân đội về cách mạng giải phóng dân tộc, về cuộc kháng chiến chống Mỹ, về căn cứ địa cách mạng trong chiến tranh giải phóng dân tộc
- Tài liệu lưu trữ: Các tài liệu liên quan đến cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu
nước hiện được lưu trữ ở Bộ Tư lệnh Quân khu V; Trung tâm lưu trữ Quốc gia II, thành phố Hồ Chí Minh; Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam; Viện Lịch sử Đảng; Ban Tuyên giáo các tỉnh, thành phố: Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên
- Các công trình nghiên cứu đã công bố: Các công trình nghiên cứu về cuộc
kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam, Viện Mác – Lênin, Viện Lịch sử Đảng; Các chuyên khảo, bài viết, báo cáo khoa học đã được công bố trên các tạp chí chuyên ngành trong những năm gần đây; Các công trình Lịch sử Đảng bộ, Lịch sử kháng chiến và Lịch sử lực lượng vũ trang nhân dân địa phương các tỉnh, thành phố, quận (huyện) trên địa bàn; Các luận án, luận văn về đề tài căn cứ địa cách mạng đã được bảo vệ và xuất bản
- Tài liệu khảo sát thực tế: Tài liệu khảo sát thực địa tại các di tích căn cứ địa
cách mạng trên địa bàn nghiên cứu
Trang 13- Các hồi ký cách mạng: Hồi ký và lời kể của các cán bộ lão thành cách mạng,
nhân chứng lịch sử sống và hoạt động ở địa bàn Trung Trung Bộ
Phương pháp nghiên cứu:
Kết hợp sử dụng phương pháp lịch sử và phương pháp logic là chủ yếu Ngoài
ra, trong quá trình nghiên cứu còn sử dụng một số phương pháp: so sánh, thống kê, phân tích, tổng hợp, khái quát trên cơ sở khảo cứu các nguồn tư liệu văn bản, thực địa và tiếp xúc nhân chứng lịch sử Riêng đối với nguồn tư liệu khai thác từ các nhân chứng lịch sử, tác giả tiến hành đối chiếu, so sánh với các tư liệu văn bản để chọn lọc, khai thác những thông tin có giá trị tin cậy
về xây dựng căn cứ địa, hậu phương vào thực tiễn cách mạng ở Trung Trung Bộ
- Đánh giá một cách tương đối khách quan về vai trò của căn cứ địa đối với cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước ở Trung Trung Bộ
- Kết quả nghiên cứu của luận án có thể sử dụng làm tài liệu nghiên cứu, giảng dạy lịch sử kháng chiến chống Mỹ, lịch sử địa phương và giáo dục truyền thống ở Trung Trung Bộ
6 BỐ CỤC CỦA LUẬN ÁN
Ngoài Mở đầu (7 trang), Kết luận (4 trang), Danh mục các công trình khoa học liên quan đã công bố (1 trang), Tài liệu tham khảo (15 trang), Phụ lục (34 trang), nội dung chính của luận án được chia làm 4 chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu (19 trang)
Chương 2: Khôi phục và bảo vệ căn cứ địa cách mạng ở Trung Trung Bộ
(1954-1960) (48 trang)
Chương 3: Kết hợp xây dựng với bảo vệ và phát huy vai trò căn cứ địa cách
mạng ở Trung Trung Bộ (1961-1975) (44 trang)
Trang 14CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
1.1 Tình hình nghiên cứu
Liên quan đến nội dung luận án đã có một số công trình trong nước phản ánh,
đề cập với nhiều cấp độ và từ nhiều cách tiếp cận khác nhau Trong đó, tựu trung lại
có thể khu trú vào các nhóm như sau:
1.1.1 Nhóm các công trình nghiên cứu về căn cứ địa cách mạng nói chung
Vấn đề căn cứ địa được đề cập trước hết phải kể đến là công trình Chiến thuật
du kích của Hồ Chí Minh (Hồ Chí Minh Toàn tập, Tập 3, Nxb Chính trị Quốc gia,
HN, 2011) và Chọn căn cứ địa của Trường Chinh (Cách mạng dân tộc dân chủ
nhân dân Việt Nam, Tập 1, Nxb Sự Thật, HN, 1976) Các công trình này xác định căn cứ địa là nơi có địa thế hiểm yếu, vừa có lợi cho việc tiến công, vừa có lợi cho việc phòng ngự của lực lượng du kích Việc xây dựng căn cứ địa gắn liền với xây dựng lực lượng vũ trang (LLVT) Một trong những vấn đề có ý nghĩa quyết định trong việc lựa chọn địa bàn xây dựng căn cứ địa là phải có sự ủng hộ, giúp đỡ của đông đảo quần chúng nhân dân
Vấn đề căn cứ địa còn được đề cập khá cụ thể ở một số công trình, trong đó
có thể kể đến là Bài giảng về đường lối quân sự của Đảng của Võ Nguyên Giáp
(Viện Khoa học Quân sự, HN, 1974) Ở công trình này, tác giả đã khái quát những đặc trưng cơ bản của căn cứ địa cách mạng trong chiến tranh giải phóng; phân tích
và luận giải về vai trò của căn cứ địa cách mạng Trong đó, nhấn mạnh sự cần thiết phải giải quyết vấn đề xây dựng địa bàn đứng chân và tiềm lực kháng chiến, nếu không có đường lối đúng đắn để thực hiện vấn đề này thì không thể tiến hành chiến tranh cách mạng lâu dài nhằm đi đến thắng lợi Tác giả khẳng định chỗ đứng chân của cách mạng để tiến hành khởi nghĩa và chiến tranh là cơ sở chính trị, căn cứ địa, hậu phương Đây là vấn đề quan trọng trong đường lối quân sự của Đảng Bên cạnh
đó, tác giả cũng vạch ra quy luật hình thành và phát triển của cơ sở chính trị, căn cứ
Trang 15địa, hậu phương trong chiến tranh nhân dân ở nước ta là phải triệt để dựa vào nhân dân, đi từ xây dựng cơ sở chính trị của quần chúng đến xây dựng căn cứ địa, hậu phương từ không đến có, từ nhỏ đến lớn, từ chưa hoàn chỉnh đến ngày càng hoàn chỉnh Bài giảng xác định trong chiến tranh nhân dân rộng lớn, địa bàn nông thôn là chỗ dựa vững chắc và lâu dài của cách mạng Do vậy, việc xây dựng căn cứ địa, hậu phương vững mạnh ở nông thôn rừng núi và đồng bằng là yêu cầu “có tính chất chiến lược của chiến tranh nhân dân” [103, tr 231] Ngoài ra, cũng phải hết sức coi trọng việc xây dựng cơ sở chính trị ở thành thị Có xây dựng được căn cứ địa, hậu phương tại chỗ ở khắp nơi, cách mạng mới có thể xây dựng, phát huy được tiềm lực của từng địa phương, từng chiến trường để đánh địch một cách rộng khắp, tạo thành thế cài răng lược giữa ta và địch Do đó, có thể uy hiếp và tiến công địch một cách
thường xuyên Tập Bài giảng đường lối quân sự của Đảng thể hiện sự chỉ đạo hết
sức sâu sắc của Võ Nguyên Giáp đối với vấn đề xây dựng căn cứ địa – hậu phương trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước
Trong công trình Nghiên cứu văn kiện của Đảng về chống Mỹ, cứu nước của
Viện Mác – Lênin và Viện Lịch sử Quân sự – Bộ Quốc phòng, (Nxb Sự Thật, HN, 1986) có bài Vấn đề hậu phương – căn cứ địa và tuyến hậu cần chiến lược trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của Ngô Vi Thiện Bài viết phân tích chủ trương
của Đảng trong việc lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng hậu phương lớn miền Bắc, xây
dựng căn cứ địa ở chiến trường miền Nam và tuyến hậu cần vận tải – chiến lược
trong kháng chiến chống Mỹ
Căn cứ địa cách mạng: truyền thống và hiện tại của Văn Tạo đăng trên Tạp
chí Lịch sử quân sự số 4-1995, phân tích nội dung và bản chất của căn cứ địa cách mạng Trong đó, tác giả luận giải điều kiện hình thành căn cứ địa, tính chất dân tộc
và cách mạng của căn cứ địa thể hiện trên các mặt: địa – chính trị, địa – quân sự, địa – kinh tế, địa – văn hóa; đặc điểm, vai trò của căn cứ địa cách mạng trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược
Nhìn chung, những công trình trên đã khái quát những điều kiện hình thành cũng như việc lựa chọn địa bàn xây dựng căn cứ địa; đồng thời luận giải, phân tích
Trang 16vai trò của căn cứ địa trong chiến tranh giải phóng Những vấn đề mang tính lý luận này sẽ trở thành tư tưởng chỉ đạo và “kim chỉ nam” cho quá trình xây dựng, bảo vệ
và phát huy vai trò căn cứ địa cách mạng
Vấn đề căn cứ địa cách mạng cũng được đề cập cụ thể hơn trong một số công
trình lịch sử trong đó có thể kể đến như: Quân khu 5 Thắng lợi và những bài học
trong kháng chiến chống Mỹ, Tập Hai, (Nxb Quân đội nhân dân, HN, 1982); Tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước Thắng lợi và bài học (Nxb Chính trị
Quốc gia, HN, 1996); Chiến tranh cách mạng Việt Nam (1945-1975) Thắng lợi và
bài học (Nxb Chính trị Quốc gia, HN, 2000) Đây là những công trình tổng kết sự
lãnh đạo của Đảng đối với cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước Trong đó tập trung vào một số nội dung cơ bản và cốt yếu: đường lối chiến lược, sách lược và phương pháp cách mạng; những bài học kinh nghiệm được đúc kết trong quá trình tiến hành chiến tranh cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch
Hồ Chí Minh Ở các công trình này, vấn đề căn cứ địa được luận giải, phân tích dưới góc độ là “một vấn đề lớn trong đường lối kháng chiến chống Mỹ, cứu nước” [11, tr 237], “vấn đề cốt tử trong chiến tranh cách mạng” [61, tr 161] Vai trò của căn cứ địa trong quá trình kháng chiến được làm rõ: là nơi đứng chân của các cơ quan lãnh đạo, chỉ huy kháng chiến, nơi xây dựng lực lượng cách mạng; là bàn đạp xuất phát của LLVT tiến công địch, nơi tiếp nhận mọi nguồn chi viện và khai thác tại chỗ ngày càng nhiều sức người sức của phục vụ cho nhu cầu chiến trường Một trong những bài học cơ bản được các công trình luận giải khá sâu sắc là phải dựa vào nhân dân, phát huy sức mạnh nhân dân trong xây dựng và bảo vệ căn cứ vững mạnh Đánh giá về vấn đề xây dựng hệ thống căn cứ địa và hậu phương trong hai cuộc kháng chiến, các công trình khẳng định đây là bước phát triển mới về lý luận chiến tranh nhân dân, chiến tranh cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam
Bộ Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975) gồm 9 tập của Bộ
Quốc phòng – Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam (Nxb Chính trị Quốc gia – Sự Thật,
HN, 2013) là công trình nghiên cứu toàn diện và có hệ thống về cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước Ở Tập IX của bộ sách này có đề cập khá sâu vấn đề căn cứ
Trang 17địa cách mạng ở miền Nam với tư cách là “nhân tố trực tiếp bảo đảm thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ ”[44, tr 368] Công trình khái quát những đóng góp của căn cứ địa cách mạng miền Nam: cung cấp sức người, sức của cho chiến trường; cơ sở để xây dựng, duy trì và phát triển lực lượng cách mạng; địa bàn đứng chân của bộ đội chủ lực; một trong những nhân tố cơ bản để xây dựng thế chiến lược của chiến tranh nhân dân; nơi tiếp nhận, bảo quản, phân phối vũ khí, phương tiện chiến tranh, hàng hóa từ miền Bắc chi viện cho miền Nam; một trong những nhân tố cơ bản để xây dựng và tăng cường tiềm lực, sức mạnh của cách mạng Tuy nhiên, do đối tượng nghiên cứu và phạm vi phản ánh rộng, bao gồm các chiều cạnh của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước nên vấn đề căn cứ địa cách mạng chỉ được đề cập, phản ánh một cách khái lược, chủ yếu tập trung vào đánh giá vai trò của căn cứ địa cách mạng, chưa có điều kiện tập trung khảo cứu quá trình phát triển cũng như đặc điểm của căn cứ địa cách mạng trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước
Dưới góc độ nghiên cứu sâu về hậu phương – căn cứ địa trong chiến tranh cách mạng Việt Nam, cuốn Hậu phương chiến tranh nhân dân Việt Nam (1945-
1975) (Nxb Quân đội nhân dân, HN, 1997) là công trình nghiên cứu có tính chất hệ thống và toàn diện nhất về quá trình xây dựng và phát huy vai trò của hậu phương trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược Công trình tập trung kiến giải về vai trò của các căn cứ địa cách mạng với tư cách là hậu phương tại chỗ ở miền Nam trong kháng chiến chống Mỹ; đồng thời khẳng định hậu phương tại chỗ là một trong những nhân tố cơ bản để xây dựng và tăng cường tiềm lực, sức mạnh của cách mạng và phát triển chiến tranh nhân dân trên khắp ba vùng chiến lược Thế và lực của cách mạng có thể chuyển hóa từ yếu sang mạnh
dựa trên cơ sở của việc xây dựng hệ thống căn cứ địa – hậu phương vững chắc
Công trình đặc biệt nhấn mạnh vai trò của nhân dân trong việc xây dựng căn cứ địa
– hậu phương vững mạnh: nói đến căn cứ địa – hậu phương là nói đến vai trò của nhân dân, căn cứ địa – hậu phương vững chắc trước hết và chủ yếu là ở lòng dân
Có dân là có tất cả [33, tr 281- 282]
Trang 18Trên Tạp chí Phát triển Nhân lực số 3(29)-2012 có bài viết Căn cứ địa, một
biểu tượng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng trong 30 năm chiến tranh giải phóng của Trần Đơn, đã luận giải về vấn đề căn cứ địa; đồng thời khái quát làm nổi bật vai trò của căn cứ địa trong chiến tranh cách mạng Việt Nam: đó là khu vực tập kết các cơ quan đầu não và lực lượng kháng chiến; nơi đứng chân và tổ chức chiến đấu, bảo vệ các cơ quan lãnh đạo, chỉ huy; nơi củng cố và huấn luyện các LLVT cách mạng của toàn miền, khu và các địa phương; là đầu mối các hành lang chiến lược, là chỗ dựa tin cậy của các lực lượng kháng chiến, nơi bảo đảm một phần quan trọng tiềm lực của cuộc kháng chiến; là chỗ dựa, nơi bày thế trận tiêu diệt đối phương tại chỗ; đồng thời làm nơi xuất phát, bàn đạp cho các lực lượng kháng chiến tiến công địch ngoài căn cứ…[102, tr 36-37-38] Tác giả bài viết khẳng định:
“Trong chiến tranh cách mạng Việt Nam, căn cứ địa đã tồn tại như một biểu tượng của cuộc kháng chiến, tiêu biểu cho ý chí, sức mạnh tinh thần của toàn dân; là chỗ dựa về mặt chính trị tinh thần, nơi hướng về, hy vọng và khích lệ đồng bào khắp nơi kháng chiến” [102, tr 39] Tuy nhiên, do phạm vi bài đăng trên tạp chí bị giới hạn bởi dung lượng, nên còn nhiều nội dung về căn cứ địa cách mạng chưa được khảo cứu
Tóm lại, qua các công trình nêu trên, những vấn đề lý luận về căn cứ địa đã được làm sáng tỏ bao gồm: xây dựng căn cứ địa là vấn đề chiến lược, có ý nghĩa quyết định đối với thắng lợi của chiến tranh nhân dân; địa bàn được lựa chọn để xây dựng căn cứ phải đảm bảo thế tiến công và phòng ngự của LLVT; quy luật xây dựng căn cứ là phải dựa vào nhân dân; vai trò của căn cứ địa đối với cuộc kháng chiến chống Mỹ: địa bàn đứng chân của lực lượng kháng chiến, bàn đạp xuất phát tiến công địch của LLVT, hậu phương tại chỗ của chiến tranh nhân dân… Những vấn đề mang tính lý luận trên đây sẽ là cơ sở cho việc hoạch định đường lối kháng chiến và thực tiễn chỉ đạo hoạt động xây dựng, bảo vệ, phát huy vai trò của căn cứ địa cách mạng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước
Trang 191.1.2 Nhóm các công trình nghiên cứu về căn cứ địa cách mạng ở miền Nam trong kháng chiến chống Mỹ
Chủ đề căn cứ địa cách mạng ở miền Nam trong kháng chiến chống Mỹ nói chung cũng đã được khảo cứu trong một số công trình nghiên cứu, luận án Tiến sĩ
lịch sử:
Chiến khu ở miền Đông Nam Bộ (1945-1954),(Nxb Thành phố Hồ Chí Minh,
1996) của Hồ Sơn Đài là công trình nghiên cứu quá trình xây dựng, đặc điểm phát
triển và luận giải vai trò quan trọng của các chiến khu đối với cuộc kháng chiến
chống thực dân Pháp trên địa bàn miền Đông Nam Bộ Căn cứ địa kháng chiến
chống Mỹ ở miền Đông Nam Bộ (1954-1975), luận án Tiến sĩ Lịch sử của Trần Thị
Nhung, Viện Khoa học Xã hội Thành phố Hồ Chí Minh, 2001 đã đi sâu khảo cứu khá công phu về tổ chức và hoạt động của các căn cứ địa ở miền Đông Nam Bộ
trong kháng chiến chống Mỹ (1954-1975) Căn cứ địa cách mạng ở Tây Ninh trong
chiến tranh giải phóng (1945-1975) của Bộ Tư lệnh (BTL) Quân Khu 7 – Tỉnh ủy
Tây Ninh (Nxb Quân đội nhân dân, HN, 2002) là tập hợp những bài viết của nhiều
tác giả về quá trình xây dựng, bảo vệ và phát huy vai trò của căn cứ địa cách mạng
ở Tây Ninh trong kháng chiến chống Mỹ Căn cứ địa U Minh trong hai cuộc kháng
chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược (1945-1975), luận án Tiến sĩ
Lịch sử của Trần Ngọc Long, Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam, 2006 là công trình
nghiên cứu về quá trình hình thành, phát triển và những đóng góp của Căn cứ địa U
Minh trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược (1945-1975) Căn cứ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước ở Cực Nam Trung Bộ (1954- 1975), luận án Tiến sĩ lịch sử của Chu Đình Lộc, Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam,
2011 đi sâu nghiên cứu về quá trình xây dựng, bảo vệ và phát huy vai trò của các căn cứ kháng chiến ở Cực Nam Trung Bộ trong kháng chiến chống Mỹ (1954-
1975) Kỷ yếu hội thảo khoa học Căn cứ địa cách mạng tỉnh Bình Thuận trong 30
năm chiến tranh giải phóng (1945-1975) của Quân Khu 7 và Tỉnh ủy Bình Thuận,
tháng 8-2012 là tập hợp các bài viết về quá trình xây dựng, bảo vệ và phát huy vai
Trang 20trò của căn cứ địa cách mạng ở Bình Thuận trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược
Nhìn chung, đây là những công trình chuyên khảo về một số căn cứ địa cụ thể tiêu biểu ở miền Nam trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước Bằng nhiều cách tiếp cận, phân tích và luận giải khác nhau, các công trình nêu trên đều tập trung làm rõ những nội dung thuộc về, hoặc liên quan đến căn cứ địa cách mạng như: bối cảnh ra đời; sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy Đảng, chính quyền đối với sự thành lập và hoạt động của các căn cứ địa cách mạng; cuộc đấu tranh bảo vệ và phát huy vai trò của căn cứ địa trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ; đặc điểm của các căn cứ địa; những bài học kinh nghiệm được rút ra và vận dụng trong sự nghiệp bảo
vệ Tổ quốc hiện nay Qua việc nghiên cứu những công trình kể trên, tác giả có điều kiện kế thừa về mặt phương pháp luận trong nghiên cứu về căn cứ địa cách mạng Hơn nữa, đây cũng là một hệ thống tư liệu quý để tác giả thực hiện việc so sánh, đối chiếu, trên cơ sở đó rút ra những đặc điểm riêng của địa phương
1.1.3 Nhóm các công trình trực tiếp phản ánh hoạt động xây dựng và bảo
vệ căn cứ địa cách mạng ở Trung Trung Bộ
Cuộc khởi nghĩa Trà Bồng và miền Tây Quảng Ngãi (Nxb Quân đội nhân dân,
1975) là công trình phục dựng tương đối có hệ thống và toàn diện về cuộc khởi nghĩa Trà Bồng và phong trào cách mạng ở miền Tây Quảng Ngãi trong những năm 1954-1960 Liên quan đến vấn đề căn cứ địa, công trình phản ánh cuộc chiến đấu chống lại các hoạt động càn quét của địch, bảo vệ căn cứ địa cách mạng của quân dân Trà Bồng và miền Tây Quảng Ngãi; đồng thời tái hiện khá rõ hoạt động xây dựng, củng cố Căn cứ địa Trà Bồng trên các mặt kinh tế, văn hóa, giáo dục
Khu 5 – 30 năm chiến tranh giải phóng (Tập II, Tập III) của Trần Quý Cát
(BTL Quân Khu 5 xuất bản năm 1989) và Nam Trung Bộ kháng chiến (1945-1975)
của Hội đồng biên soạn lịch sử Nam Trung Bộ kháng chiến (Nxb Chính trị Quốc
gia, HN, 1995) là những công trình chủ yếu phục dựng một cách cơ bản cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước trên địa bàn các tỉnh thuộc Khu V và Nam Trung Bộ Trong các công trình này, chủ trương của Đảng về xây dựng căn cứ địa cách mạng,
Trang 21quá trình ra đời, hoạt động chiến đấu bảo vệ căn cứ địa cách mạng của quân dân các tỉnh, thành phố: Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên được trình bày một cách khái lược, đan xen với diễn biến của cuộc kháng chiến chống
Mỹ, cứu nước trên địa bàn Khu V và Nam Trung Bộ
Những sự kiện lịch sử hậu cần chiến trường Khu V (1954-1975) của Cục hậu
cần – Quân Khu 5 (Nxb Đà Nẵng, 1989) và Công tác Đảng, công tác chính trị
LLVT Quân Khu V (1945-2000) – Biên niên, Tập 2, Quyển 1 (1954-1965) của Đảng
ủy – BTL Quân Khu V (Nxb Quân đội nhân dân, HN, 2002) là các công trình chứa
đựng những thông tin thuộc về hoặc liên quan đến vấn đề căn cứ địa được trình bày dưới hình thức biên niên lịch sử bao gồm: chủ trương về xây dựng căn cứ địa cách mạng của Liên Khu ủy V và Đảng bộ các địa phương; hoạt động xây dựng, đấu tranh bảo vệ căn cứ địa cách mạng của Khu V, của các địa phương ở Trung Trung Bộ; các hoạt động sản xuất lương thực, vũ khí, tiếp nhận, vận chuyển hàng chi viện của miền Bắc cho chiến trường Khu V
Trong công trình Một số kinh nghiệm chỉ đạo chiến tranh nhân dân địa phương ở Khu 5 trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975) của BTL Quân
Khu 5 – Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam (Nxb Quân đội nhân dân, HN, 1999), các tác giả khái quát về đặc điểm tình hình và những bước phát triển của chiến tranh nhân dân trên địa bàn Khu V Qua đó, rút ra một số bài học kinh nghiệm về chỉ đạo chiến tranh nhân dân ở địa phương trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước Đánh giá quá trình xây dựng căn cứ địa cách mạng trên chiến trường Khu V, công trình nhận định đây là “vấn đề chiến lược cơ bản trong chỉ đạo chiến tranh” [51, tr 125] Bàn về vấn đề căn cứ địa, hậu phương trực tiếp trên chiến trường Khu V, các tác giả chỉ rõ: “căn cứ địa là những vùng ta đã giải phóng và đã được xây dựng toàn diện cả
về chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội” [51, tr 140]; việc xây dựng căn cứ địa phải đáp ứng yêu cầu liên hoàn, nhiều huyện, nhiều tỉnh nhằm đảm bảo mọi nhu cầu xây dựng và chiến đấu cho các lực lượng bám trụ và chiến đấu Dựa trên thực tiễn chiến đấu ở chiến trường Khu V, công trình đưa ra một số kiến giải về điều kiện để xây dựng căn cứ địa, đó là: có cơ sở chính trị vững chắc, có LLVT mạnh, có
Trang 22địa hình thuận lợi để tiến công và phòng thủ, có khả năng tối thiểu về đảm bảo cơ
sở vật chất, kỹ thuật Đối với Khu V, địa bàn để xây dựng các căn cứ địa là Tây Nguyên và miền Tây các tỉnh ven biển Nam – Ngãi – Bình – Phú Có thể xem đây
là công trình đã đề cập tương đối sâu về căn cứ địa cách mạng trên địa bàn Khu V
Chuyên đề Xây dựng và bảo vệ hệ thống căn cứ địa phương trên chiến trường
Khu 5 trong kháng chiến chống đế quốc Mỹ (1954-1975) do Bộ Tổng Tham mưu
biên soạn (Nxb Quân đội nhân dân, HN, 2001) có thể được coi là công trình tổng kết có tính chất chuyên khảo đi sâu phân tích quá trình hình thành, xây dựng và bảo
vệ căn cứ địa cách mạng trên địa bàn Khu V; qua đó rút ra một số bài học kinh nghiệm: xây dựng hệ thống căn cứ liên hoàn cả ở rừng núi và đồng bằng đảm bảo cho yêu cầu phát triển của từng giai đoạn kháng chiến; từ những căn cứ địa nhỏ lẻ, phát triển thành hệ thống căn cứ địa liên hoàn, hình thành hậu phương tại chỗ; xây dựng đi đôi với bảo vệ căn cứ địa; căn cứ địa – hậu phương tại chỗ phải đáp ứng yêu cầu chiến đấu và xây dựng của từng thời điểm chiến tranh Đây là một chuyên
đề tổng kết; vả lại do địa bàn phản ánh khá rộng (bao gồm cả Tây Nguyên) nên những nội dung được đề cập đều mang tính khái quát, sơ lược Đặc biệt là quá trình hình thành, phát triển, vai trò, nhiệm vụ cụ thể của từng căn cứ địa ở các tỉnh, thành phố thuộc Trung Trung Bộ chưa được đi sâu nghiên cứu một cách có
1 trong hoạt động của
“vành đai diệt Mỹ” Một số bài viết trong cuốn sách đã tập trung luận giải sự khác nhau giữa “căn cứ lõm” và căn cứ chiến đấu; đồng thời nêu bật vai trò của một số
1 Căn cứ lõm, căn cứ của lực lượng kháng chiến nằm sâu trong vùng địch tạm chiếm trong kháng chiến chống Pháp và kháng chiến chống Mỹ; xuất hiện trong chiến tranh nhân dân Việt Nam để đấu tranh chống địch có hiệu quả Căn cứ lõm thường có quy mô không lớn nhưng chiếm giữ vị trí xung yếu mà lực lượng kháng chiến dựa vào đó để xây dựng và phát triển lực lượng phục vụ cho đấu tranh chính trị và đấu tranh vũ trang trong vùng địch hậu (Bộ Quốc phòng – Trung tâm Từ điển Bách khoa Quân sự (2007), Từ điển thuật
ngữ Quân sự, Nxb Quân đội nhân dân, HN, tr 96)
Trang 23
“căn cứ lõm” tiêu biểu như: Đa Mặn – Mỹ Thị, Thạc Gián ở Đà Nẵng trong những năm kháng chiến chống Mỹ, cứu nước Tuy nhiên, đây là một cuốn kỷ yếu Hội thảo; hơn nữa đối tượng nghiên cứu là “Vành đai diệt Mỹ” nên vấn đề căn cứ địa cũng chưa được phản ánh nhiều
Công trình Lịch sử Quân sự Việt Nam, Tập 11: Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975) của Bộ Quốc phòng – Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam (Nxb
Chính trị Quốc gia, HN, 2005) cũng đề cập một cách khái lược đến sự hình thành của một số căn cứ địa cách mạng ở Hiên (Quảng Nam), Trà Bồng, Sơn Hà, Ba Tơ (Quảng Ngãi), Vĩnh Thạnh (Bình Định), Thồ Lồ, Ma Dú (Phú Yên), Bác Ái (Ninh Thuận), trong đó tập trung vào hoạt động đấu tranh chống địch dồn dân, bảo vệ căn
cứ địa cách mạng của đồng bào Vĩnh Thạnh (2-1959), cuộc khởi nghĩa Trà Bồng và miền Tây Quảng Ngãi (8-1959)
Công trình Lịch sử Giao bưu – Thông tin các tỉnh từ Quảng Trị đến Ninh Thuận và Tây Nguyên trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ (1954-1975) do Bộ Bưu
chính Viễn thông – Tổng Công ty Bưu chính Viễn thông Việt Nam biên soạn (Nxb
Bưu Điện, 2005) cung cấp những thông tin về quá trình hình thành, xây dựng và phát triển của các tuyến hành lang, mạng lưới giao bưu, thông tin nội tỉnh, liên tỉnh phục vụ đưa đón cán bộ, liên lạc, chuyển tài liệu về căn cứ ở các tỉnh từ Quảng Trị
đến Ninh Thuận và Tây Nguyên trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ
Công trình Lịch sử ngành hậu cần LLVT tỉnh Phú Yên (1945-1975) do Đảng
ủy – Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Phú Yên xuất bản năm 2005 đã luận giải về quá trình
hình thành các căn cứ địa cách mạng ở Phú Yên cũng như hoạt động tiếp nhận, cất giấu, vận chuyển vũ khí, thuốc men của Trung ương tại Vũng Rô theo tuyến đường Hồ Chí Minh trên biển; công tác sản xuất tự cấp, tự túc, công tác quân y, vấn đề sản xuất vũ khí ở các căn cứ địa trên địa bàn Phú Yên trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước
Công trình Lịch sử An ninh Khu V thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975) của Bộ Công an – Tổng cục Xây dựng lực lượng Công an nhân dân –
Trang 24Viện Lịch sử Công an, (Nxb Công an nhân dân, 2008) phản ánh sự chỉ đạo, lãnh đạo của Ban An ninh Khu V đối với hoạt động bảo vệ Đảng, bảo vệ vùng giải phóng và căn cứ địa cách mạng Bên cạnh đó, một số cuộc chiến đấu chống địch càn quét, bảo vệ an toàn căn cứ địa cách mạng của khu, của các tỉnh thuộc Trung Trung Bộ cũng được trình bày tương đối cụ thể trong công trình này
Công trình Quá trình xây dựng và truyền thống của Ban Tổ chức Liên Khu ủy
V (1945-1975) (Ban liên lạc Ban tổ chức Liên Khu ủy V xuất bản năm 2008) đi sâu làm rõ một số nội dung liên quan đến hoạt động xây dựng căn cứ địa bao gồm: chuẩn hóa địa điểm đóng cơ quan của Liên khu V, Khu ủy V trong kháng chiến chống Mỹ; diễn biến cuộc chiến đấu bảo vệ Mật khu Đỗ Xá (4-1963); phong trào xây dựng làng chiến đấu; hoạt động sản xuất và huy động sự đóng góp của nhân dân đối với cuộc kháng chiến
Trong các công trình Lịch sử Đảng bộ cấp tỉnh: Lịch sử Đảng bộ tỉnh Bình
Định (1954-1975) (Ban Thường vụ Tỉnh ủy Bình Định xuất bản năm 1996); Lịch sử
Phú Yên kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975) (Ban Tuyên Giáo Tỉnh ủy
Phú Yên ấn hành năm 1996); Lịch sử Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi (1954-1975) (Nxb,
Chính trị Quốc gia, HN, 1999); Lịch sử Đảng bộ Quảng Nam – Đà Nẵng
(1930-1975) (Nxb Chính trị Quốc gia, HN, 2006), vấn đề căn cứ địa cách mạng được phản ánh ở nhiều khía cạnh: chủ trương của Đảng bộ địa phương về xây dựng căn cứ địa cách mạng; hoạt động chiến đấu của LLVT và nhân dân chống các cuộc hành quân càn quét của Mỹ và quân đội Việt Nam Cộng hòa (VNCH), bảo vệ căn cứ địa; một
số thành quả trong quá trình xây dựng căn cứ địa, vùng giải phóng trên các lĩnh vực quân sự, kinh tế, văn hóa, giáo dục, y tế Tuy nhiên, do phạm vi nghiên cứu khá rộng nên những nội dung liên quan đến vấn đề căn cứ địa cũng chỉ được trình bày một cách khái lược, không đầy đủ Quá trình ra đời, quy mô, nhiệm vụ, vai trò của từng căn cứ địa chưa được làm rõ Bên cạnh đó, kết quả nghiên cứu chủ yếu dựa trên nguồn tư liệu của chính quyền cách mạng mà chưa có sự khai thác tài liệu của chính quyền VNCH để có sự so sánh, đối chiếu, kiểm chứng nhằm phân tích một cách khách quan khoa học về âm mưu, thủ đoạn đánh phá của địch đối với các căn
Trang 25cứ địa cách mạng; địa điểm đóng cơ quan; tổ chức hoạt động, vai trò của các căn cứ địa… Tuy nhiên, đây vẫn là nguồn tài liệu chính thống cung cấp những tư liệu, sự kiện, những đánh giá có giá trị tin cậy cao đối với tác giả trong quá trình thực hiện luận án
Các công trình của LLVT cấp tỉnh: Quảng Ngãi Lịch sử chiến tranh nhân dân
30 năm (1945-1975), (Nxb Tổng hợp Nghĩa Bình và Bộ Chỉ huy Quân sự Nghĩa
Bình,1988); Bình Định Lịch sử chiến tranh nhân dân 30 năm (1945-1975), (Bộ Chỉ
huy Quân sự tỉnh Bình Định xuất bản năm 1992); Phú Yên 30 năm chiến tranh giải
phóng (1945-1975), (Bộ Chỉ huy Quân sự Phú Yên xuất bản năm 1993); Lịch sử
LLVT nhân dân tỉnh Quảng Nam, Tập II (1954-1975) (Nxb Quân đội nhân dân, HN,
2003) cũng đề cập một số nội dung thuộc về hoặc liên quan đến vấn đề căn cứ địa bao gồm: chủ trương của Đảng bộ địa phương đối với công tác xây dựng căn cứ địa cách mạng, âm mưu và thủ đoạn đánh phá của Mỹ và chính quyền VNCH đối với các căn cứ, các cuộc chiến đấu của LLVT và nhân dân làm thất bại các cuộc càn quét lớn của địch vào căn cứ địa, phong trào bố phòng chiến đấu bảo vệ căn cứ địa Tuy nhiên, ở các công trình này, vấn đề căn cứ địa cách mạng cũng chỉ được
đề cập, phản ánh một cách khái lược chủ yếu trên lĩnh vực quân sự; các hoạt động xây dựng căn cứ địa cách mạng về chính trị, kinh tế, văn hóa – xã hội hầu như chỉ được đề cập thoảng qua
Ngoài các công trình kể trên, còn có một số bài báo đăng trên các tạp chí chuyên ngành đề cập đến hoạt động xây dựng căn cứ địa ở Khu V nói chung, hoặc một số căn cứ tiêu biểu ở các địa phương
Bài Tìm hiểu quá trình hình thành căn cứ địa miền núi Khu V trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của Trần Hữu Đính, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử số 3-
1986 đã phân tích, luận giải âm mưu và thủ đoạn đánh phá của địch đối với miền núi Khu V; nhấn mạnh chủ trương của Đảng về xây dựng căn cứ địa cách mạng, quá trình phát triển các “khu bất hợp pháp” thành những căn cứ đứng chân vững chắc của cách mạng như căn cứ Tung Bủng, Cô Sia, Tân Túc, Đắc Min, xã Đoàn,
xã Hiếu (Kon Tum), huyện 2, huyện 7 (An Khê), Nam Bắc đường 9 (Trị Thiên),
Trang 26Trà Bồng, Sơn Hà, Ba Tơ (Quảng Ngãi), Tây Vĩnh Thạnh (Bình Định), Thồ Lồ, Ma
Dú (Phú Yên), huyện Hiên (Quảng Nam); đồng thời trình bày khái quát diễn biến một số cuộc đấu tranh bảo vệ và xây dựng căn cứ địa của quân dân Bác Ái (Ninh Thuận), Vĩnh Thạnh (Bình Định), Trà Bồng (Quảng Ngãi) trong giai đoạn 1954-1960
Đi sâu phản ánh các hoạt động chiến đấu bảo vệ căn cứ địa cách mạng ở miền
núi tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng có bài Vai trò của các dân tộc ít người ở miền núi
tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước (1954-1975) của
Nguyễn Tiến Hỷ, Tạp chí Lịch sử Đảng tháng 4-1987 Ở bài viết này, tác giả phân
tích làm nổi bật những đóng góp to lớn của các dân tộc miền núi Quảng Nam – Đà
Nẵng trong phong trào khởi nghĩa vũ trang và xây dựng căn cứ địa đầu tiên của tỉnh Bài Về khởi nghĩa từng phần ở miền núi Khu V năm 1959 của Nguyễn Văn
Minh, Tạp chí Lịch sử Đảng số 1-1988 đã luận giải bối cảnh ra đời và vai trò của các căn cứ địa cách mạng ở miền núi Khu V đối với cuộc Đồng khởi (1959-1960) như: Tung Bủng, Tân Túc, Đắc Min, xã Đoàn, xã Hiếu (Kon Tum), huyện 2, huyện
7 (An Khê), Nam – Bắc đường 9 (Trị Thiên), Trà Bồng, Sơn Hà, Ba Tơ (Quảng Ngãi), Tây Vĩnh Thạnh (Bình Định), Thồ Lồ, Ma Dú (Phú Yên), huyện Hiên (Quảng Nam)… Bên cạnh đó, bài viết cũng phân tích tác động của cuộc khởi nghĩa từng phần của nhân dân miền núi Khu V, mà đỉnh cao là khởi nghĩa Trà Bồng đối với việc bảo vệ và phát triển căn cứ địa cách mạng ở miền núi
Bài Căn cứ Nước Là – Mật khu Đỗ Xá của Trần Văn Giáp, Tạp chí Lịch sử
Quân sự tháng 8-2011 đã tập trung khảo cứu một căn cứ cụ thể, trong đó đi sâu
phân tích vị trí chiến lược của Căn cứ Nước Là – Mật khu Đỗ Xá, sự chỉ đạo của
Liên Khu ủy V đối với phong trào cách mạng Khu V tại căn cứ; diễn biến của một
số cuộc chiến đấu tiêu biểu làm thất bại các cuộc càn quét lớn của địch đánh vào căn cứ trong những năm 1962, 1963
Bài Khu căn cứ Nước Oa, Tạp chí Lịch sử Quân sự tháng 11-2011 của Phan
Thị Ánh Tuyết giới thiệu khái quát về địa điểm đứng chân của Khu ủy và BTL Quân Khu V trong những năm cuối của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước Tuy
Trang 27nhiên, bài viết chỉ ở dạng giới thiệu tư liệu, chưa làm rõ được vai trò, nhiệm vụ của
Căn cứ Nước Oa trong kháng chiến chống Mỹ
Về phía tác giả luận án, cũng đã công bố một số bài viết trên các tạp chí
chuyên ngành liên quan trực tiếp đến đề tài như: Căn cứ K20 trong kháng chiến
chống Mỹ, cứu nước, Tạp chí Lịch sử Quân sự tháng 6-2011; Khu Sông Đà trong
kháng chiến chống Mỹ, Tạp chí Khoa học và Giáo dục Trường Đại học Sư phạm Đà
Nẵng tháng 1-2011; Đấu tranh bảo vệ căn cứ Trà Bồng trong kháng chiến chống
Mỹ (1959-1965), Tạp chí Khoa học và Giáo dục Trường Đại học Sư phạm Đà Nẵng
tháng 3-2012; Các bài viết luận giải hoàn cảnh ra đời, vai trò và hoạt động đấu tranh của các căn cứ: K20, Sông Đà, Trà Bồng trong kháng chiến chống Mỹ Riêng bài
Kế hoạch chống phá căn cứ địa kháng chiến ở các tỉnh duyên hải Trung Trung Bộ của chính quyền VNCH trong“Chiến tranh đặc biệt”, Tạp chí Lịch sử Quân sự
tháng 3-2013 đi sâu phân tích các thủ đoạn, biện pháp đánh phá của địch trên các phương diện quân sự, chính trị, kinh tế đối với căn cứ địa cách mạng ở Trung Trung
Bộ trong những năm đầu của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước Gần đây có bài Tìm hiểu một số căn cứ địa cách mạng ở các tỉnh Nam – Ngãi – Bình – Phú trong kháng chiến chống Pháp (1945-1954), Tạp chí Khoa học và Công nghệ Đại
học Đà Nẵng tháng 8-2014, đề cập đến quá trình hình thành, tổ chức và hoạt động
của một số căn cứ địa cách mạng tiêu biểu ở các tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng,
Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên trong kháng chiến chống Pháp
Nghiên cứu dưới góc độ luận văn Thạc sĩ, tác giả Đậu Văn Việt với đề tài Khu
Đông trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước ở Bình Định (1962-1975),
Trường Đại học Quy Nhơn (2008), đã làm rõ cơ sở, điều kiện và chủ trương xây dựng căn cứ địa cách mạng ở Khu Đông của Tỉnh ủy Bình Định trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước; một số hoạt động xây dựng căn cứ địa cách mạng ở Khu Đông Qua công trình này, tác giả góp phần tái hiện bức tranh hiện thực lịch sử về quá trình hình thành và phát triển của căn cứ địa cách mạng ở Khu Đông, làm rõ đặc điểm, vai trò và những đóng góp của căn cứ đối với cuộc kháng chiến chống
Mỹ ở tỉnh Bình Định Tuy nhiên, tác giả chủ yếu nghiên cứu diễn biến của sự kiện
Trang 28lịch sử, chưa rút ra được những bài học kinh nghiệm trong xây dựng và bảo vệ căn
cứ địa Bên cạnh đó, Khu Đông chỉ là một bộ phận trong hệ thống căn cứ địa cách mạng của tỉnh Bình Định, tác giả chưa có sự so sánh đối chiếu với các căn cứ khác
Đề tài Căn cứ của Tỉnh ủy Quảng Ngãi trong kháng chiến chống Mỹ, cứu
nước (1954-1975), luận văn Thạc sĩ, Trường Đại học Quy Nhơn (2011) của Nguyễn
Phương Anh trình bày khái quát các điều kiện tự nhiên, kinh tế – xã hội, bối cảnh ra đời, quá trình xây dựng và phát triển của căn cứ Tỉnh ủy Quảng Ngãi trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước; các hoạt động chiến đấu bảo vệ căn cứ Từ đó, rút ra đặc điểm, vai trò và những kinh nghiệm trong xây dựng căn cứ Tỉnh ủy Quảng Ngãi Ở công trình này, do giới hạn của một đề tài Thạc sĩ, tác giả chưa có điều kiện
đi sâu nghiên cứu toàn bộ hệ thống căn cứ địa cách mạng ở Quảng Ngãi mà chỉ giới thiệu một số căn cứ tiêu biểu
Trong những năm qua, được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, nhiều cuộc hội thảo khoa học về căn cứ địa cách mạng đã được tổ chức, thu hút sự quan tâm của nhiều nhà khoa học và nhân chứng lịch sử
Tháng 10-2003, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Phú Yên phối hợp với Sở Văn hóa – Thông tin và Ủy ban nhân dân huyện Sơn Hòa tổ chức Hội
thảo Di tích căn cứ kháng chiến tỉnh Phú Yên Hội thảo tập trung làm rõ một số nội
dung: Phục dựng tương đối chân thực di tích một số căn cứ kháng chiến: Thồ Lồ –
Ma Dú (Đồng Xuân), Phước Tân, Sơn Long – Sơn Định – Sơn Xuân (Sơn Hòa); xác định và chuẩn hóa địa điểm trú đóng của một số cơ quan Đảng, chính quyền, mặt trận, dân vận, quân sự, công an, bệnh viện Xác định địa điểm diễn ra nhiều sự kiện lịch sử quan trọng như Đại hội Đảng bộ Tỉnh lần thứ II (tháng 1-1965), Đại hội Đảng bộ Tỉnh lần thứ V (9-1973), các kỳ đại hội chính trị hiệp thương bầu Ủy ban nhân dân cách mạng (UBNDCM) lâm thời Hội thảo khẳng định việc khảo sát, nghiên cứu, bảo tồn và tôn tạo di tích các căn cứ kháng chiến là việc làm hết sức cần thiết Nhìn chung, các bài tham luận tại hội thảo chủ yếu tập trung vào vấn đề tôn tạo, bảo tồn các di tích căn cứ cách mạng trên địa bàn tỉnh Phú Yên
Tháng 7-2012, Hội thảo khoa học Căn cứ Liên Khu ủy 5 tại các huyện Bến
Trang 29Hiên, Bến Giằng, tỉnh Quảng Nam (1955-1959) do Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Quảng
Nam tổ chức quy tụ hàng chục nhà nghiên cứu và các nhân chứng với hơn 30 bài viết về Căn cứ Liên Khu ủy V Mặc dù chưa làm rõ được quy mô, các hoạt động xây dựng, bảo vệ Căn cứ Liên Khu ủy V nhưng nhìn chung, các tác giả đã cung cấp một số tư liệu về hoàn cảnh ra đời, bộ máy hoạt động, các địa điểm đóng cơ quan, vai trò của đồng bào miền núi các huyện Đông Giang, Tây Giang (Quảng Nam) trong việc bảo vệ căn cứ; đặc biệt là sự lãnh đạo, chỉ đạo của Liên Khu ủy V đối với phong trào cách mạng ở các địa phương thuộc Khu V trong giai đoạn (1955-1959) Tháng 8-2012, Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Quảng Nam, Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh
Quảng Nam và Huyện ủy Tiên Phước tổ chức Hội thảo khoa học“50 năm chiến
dịch vượt sông Tiên, giải phóng Sơn – Cẩm – Hà (25/9/1962-25/9/2012)” Tại hội
thảo đã có một số bài tham luận liên quan đến sự ra đời, vai trò và hoạt động của Căn cứ Sơn – Cẩm – Hà trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước
Tháng 4-2013, Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Quảng Nam và Huyện ủy Thăng Bình
tổ chức Hội thảo khoa học“Căn cứ lõm Bầu Bính – Ý nghĩa và bài học kinh
nghiệm” Với hàng chục bài viết của các nhà nghiên cứu và nhân chứng lịch sử, hội
thảo đã xác định rõ thời gian hình thành và tồn tại của căn cứ; sự lãnh đạo của Huyện ủy Thăng Bình; hoạt động chiến đấu của quân dân và vai trò của “Căn cứ lõm” Bầu Bính trong hai năm 1971-1972 Hội thảo khẳng định vị trí, vai trò, tầm quan trọng và giá trị lịch sử của “Căn cứ lõm” Bầu Bính, một “căn cứ lõm” lũy thép anh hùng”, một căn cứ điển hình của tỉnh Quảng Nam trong kháng chiến chống Mỹ
Lịch sử căn cứ địa cách mạng tỉnh Phú Yên trong kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược (1945-1975), (Nxb Chính trị Quốc gia, HN, 2013) do
tập thể tác giả Nguyễn Duy Luân, Nguyễn Văn Thưởng, Lê Xuân Đồng và Nguyễn Văn Viễn biên soạn là công trình phục dựng, tổng kết và đánh giá một cách tương đối đầy đủ về quá trình hình thành, xây dựng, bảo vệ và phát huy vai trò của các căn
cứ địa cách mạng ở tỉnh Phú Yên qua hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và
đế quốc Mỹ xâm lược Tuy nhiên, ở công trình này, các tác giả chủ yếu mô tả căn
cứ địa về mặt địa hình, về xây dựng LLVT; đồng thời tập trung tái hiện các cuộc
Trang 30chiến đấu bảo vệ căn cứ địa Hoạt động xây dựng căn cứ về chính trị, kinh tế, văn hóa – xã hội chưa được đề cập
Hòn Tàu đi cùng năm tháng do Huyện ủy Quế Sơn xuất bản năm 2013, là tập
hợp các bài viết của nhiều tác giả từng sống, hoạt động tại Căn cứ Hòn Tàu trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước Các tác giả phân tích khái quát vị trí chiến lược của Căn cứ Hòn Tàu; đồng thời làm rõ vai trò và những đóng góp của căn cứ đối với các cuộc kháng chiến chống xâm lược ở Quảng Nam – Đà Nẵng Một cách tổng quát, dưới nhiều góc độ nghiên cứu và phản ánh khác nhau, các công trình nêu trên đã giải quyết được một số vấn đề:
- Khái quát những vấn đề lý luận cơ bản về căn cứ địa cách mạng; khẳng định vai trò của căn cứ địa cách mạng đối với thắng lợi của hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược; đồng thời nêu lên được những điều kiện cơ bản để xây dựng căn cứ địa vững mạnh mà một trong những yếu tố quan trọng hàng đầu là biết dựa vào dân, xây dựng căn cứ lòng dân
- Làm rõ được sự vận dụng sáng tạo của Đảng bộ các địa phương đối với vấn
đề xây dựng “đất đứng chân” trong kháng chiến chống Mỹ ở miền Nam, trong đó có Đảng bộ các tỉnh ở Trung Trung Bộ
- Tái hiện một số hoạt động chiến đấu chống càn quét, bảo vệ căn cứ địa cách mạng ở Trung Trung Bộ; khái quát sơ lược một số hoạt động về xây dựng LLVT, phát triển kinh tế, giáo dục, y tế, xây dựng căn cứ địa, vùng giải phóng
- Bước đầu đưa ra những nhận xét, đánh giá về một số căn cứ địa riêng lẻ Bên cạnh những vấn đề đã được làm sáng tỏ, do bị giới hạn bởi đối tượng, phạm vi nghiên cứu và một số vấn đề thuộc về tư liệu, phương pháp khảo cứu nên các công trình nêu trên vẫn chưa làm sáng tỏ được các vấn đề:
- Các công trình chưa tái hiện, phục dựng, đánh giá một cách toàn diện, đầy đủ quá trình hình thành, phát triển và những đóng góp của các căn cứ địa cách mạng ở Trung Trung Bộ mà chỉ mới dừng lại mức trình bày khái lược về sự ra đời, hoạt động của một số căn cứ tiêu biểu
Trang 31- Các công trình chỉ tập trung chủ yếu phản ánh những thành quả đạt được trên một số mặt: kinh tế, quân sự, văn hóa – xã hội, chưa luận giải và làm rõ những hạn chế, khó khăn trong hoạt động xây dựng căn cứ ở Trung Trung Bộ nói chung
- Trong quá trình nghiên cứu, chưa có sự so sánh với các địa phương, các khu vực khác trong cả nước để tìm ra những đặc điểm riêng của căn cứ địa cách mạng ở Trung Trung Bộ
- Việc nghiên cứu tổng kết hoạt động xây dựng, bảo vệ căn cứ địa chủ yếu dựa trên các tài liệu của phía cách mạng, chưa có sự tham chiếu với các tài liệu của đối phương Vì vậy, chưa thể hiện được cái nhìn “đa chiều” đối vấn đề căn cứ địa cách mạng ở Trung Trung Bộ
1.2 Những vấn đề luận án kế thừa từ các công trình nghiên cứu đã xuất bản
- Một là, phương pháp luận nghiên cứu vấn đề căn cứ địa cách mạng: Nắm
vững lý luận, khảo cứu tài liệu và tham chiếu thực tế, so sánh giữa các vùng miền
- Hai là, những vấn đề lý luận về căn cứ địa cách mạng trong chiến tranh giải phóng dân tộc: Điều kiện xây dựng căn cứ địa, việc lựa chọn địa bàn phù hợp, hoạt động xây dựng căn cứ vững mạnh toàn diện, kết hợp hoạt động xây dựng và chiến đấu bảo vệ, xây dựng căn cứ lòng dân
- Ba là, hệ thống tư liệu về căn cứ địa cách mạng ở các vùng miền khác nhau
để có cái nhìn tổng quan, trên cơ sở đó tiến hành so sánh, đối chiếu, tìm ra những đặc điểm riêng của căn cứ địa ở Trung Trung Bộ
- Bốn là, những kết quả nghiên cứu về một số căn cứ tiêu biểu ở các địa
phương Trung Trung Bộ trên các phương diện: quá trình ra đời, tổ chức hoạt động, vai trò của căn cứ địa trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ
1.3 Những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu
Căn cứ địa cách mạng ở Trung Trung Bộ là một bộ phận trong hệ thống căn
cứ địa cách mạng ở Khu V và toàn miền Nam Các căn cứ được hình thành rất sớm, ngay từ những năm đầu của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước; đồng thời không ngừng phát triển, đứng vững và phát huy vai trò to lớn đối với cuộc kháng
chiến tại các địa phương Song, các công trình nêu trên mới chỉ dừng lại ở việc khảo
Trang 32cứu ở một vài địa phương, một số căn cứ tiêu biểu, chưa có điều kiện đi sâu nghiên cứu một cách toàn diện về hệ thống căn cứ địa cách mạng ở Trung Trung Bộ Do vậy, những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu, đó là:
- Phục dựng một cách đầy đủ, có hệ thống quá trình xây dựng, bảo vệ và phát huy vai trò của các căn cứ địa cách mạng ở Trung Trung Bộ trên các lĩnh vực: quân
sự, kinh tế, văn hóa, giáo dục, y tế
- Luận giải, làm rõ hơn âm mưu, thủ đoạn đánh phá của quân Mỹ – VNCH đối
với căn cứ địa cách mạng ở Trung Trung Bộ trong mỗi giai đoạn lịch sử trên các lĩnh vực: quân sự, chính trị, kinh tế
- Trên cơ sở khảo cứu, bổ sung và hệ thống hóa tư liệu từ nhiều nguồn để xây dựng góc nhìn “đa chiều” về căn cứ địa cách mạng ở Trung Trung Bộ
- Trong quá trình nghiên cứu, luận án sẽ rút ra và khái quát những đặc điểm của các căn cứ địa cách mạng ở Trung Trung Bộ, đặt trong sự tham chiếu với căn
cứ địa cách mạng ở Cực Nam Trung Bộ, Tây Nguyên và các căn cứ khác ở miền Nam Trên cơ sở đó, tìm ra những điểm tương đồng và khác biệt của hệ thống căn
cứ địa ở miền Nam trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước
- Kết quả nghiên cứu sẽ nhằm tiếp tục khẳng định và làm nổi bật những đóng góp to lớn của các căn cứ địa cách mạng ở Trung Trung Bộ trong quá trình đánh bại các chiến lược chiến tranh: “Chiến tranh đặc biệt”, “Chiến tranh cục bộ”, “Việt Nam hóa chiến tranh” của Mỹ và chính quyền VNCH trên chiến trường Khu V Qua
đó, khái quát những kinh nghiệm từ quá trình xây dựng, bảo vệ và phát huy vai trò căn cứ địa cách mạng ở Trung Trung Bộ để vận dụng vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ngày nay
Tóm lại, yêu cầu tổng kết về mặt lý luận cũng như thực tiễn cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước nói chung, quá trình xây dựng, bảo vệ và phát huy vai trò căn
cứ địa cách mạng trong chiến tranh giải phóng nói riêng đòi hỏi cần phải có những công trình nghiên cứu chuyên khảo, mang tính hệ thống về căn cứ địa cách mạng Nghiên cứu về căn cứ địa cách mạng ở Trung Trung Bộ trong kháng chiến chống
Mỹ, cứu nước nhằm đáp ứng yêu cầu nêu trên hay nói một cách khác, đó là một đòi hỏi tất yếu, khách quan
Trang 33CHƯƠNG 2 KHÔI PHỤC VÀ BẢO VỆ CĂN CỨ ĐỊA CÁCH MẠNG
Ở TRUNG TRUNG BỘ (1954-1960)
2.1 Những yếu tố tác động đến quá trình xây dựng, bảo vệ và phát huy vai trò căn cứ địa cách mạng ở Trung Trung Bộ
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế – xã hội
Về phân vùng địa lý tự nhiên ở Việt Nam, giới nghiên cứu có các quan điểm khác nhau Theo Vũ Tự Lập, vùng Bắc Trung Bộ là địa bàn các tỉnh: Thanh Hóa, Nghệ Tĩnh (tức là Nghệ An và Hà Tĩnh hiện nay); vùng Trung Trung Bộ gồm các tỉnh, thành phố: Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên – Huế, Quảng Nam – Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Bình Định và Phú Yên; các tỉnh, thành phố còn lại của miền Trung là tỉnh Khánh Hòa, Thuận Hải (tức là Ninh Thuận, Bình Thuận hiện nay) thuộc khu vực Nam Trung Bộ [118, tr 87]
Theo sự phân chia của nhà nghiên cứu Lê Bá Thảo, Bắc Trung Bộ gồm các tỉnh, thành phố: Thanh Hóa, Nghệ An và Hà Tĩnh Vùng Trung Trung Bộ của Việt Nam kéo dài từ Quảng Bình cho đến Nam Quảng Ngãi [140, tr 393] Khu vực Nam Trung Bộ trải rộng trên các tỉnh: Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận và Bình Thuận [140, tr 413]
Khi nghiên cứu về địa danh và địa giới hành chính của Việt Nam trong giai đoạn 1945-2002, tác giả Nguyễn Quang Ân xác định vùng duyên hải Nam Trung
Bộ gồm có: Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa [2, tr 90]
Gần đây, trong quá trình nghiên cứu về địa lý kinh tế – xã hội Việt Nam, tác giả Lê Quang Thông cho rằng vùng Nam Trung Bộ bao gồm các tỉnh, thành phố:
Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận, Gia Lai, KonTum, Đắc Lắc, Lâm Đồng [144, tr 369]
Theo tài liệu Tình hình chung Liên khu V (1945-1950), lưu tại Viện Lịch
Trang 34Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận, Đắc Lắc, Kon Tum, Gia Lai, Đồng Nai Thượng, Lâm Viên Địa thế Nam Trung Bộ gồm 2 vùng: vùng đồng bằng và vùng miền núi Trong đó, vùng đồng bằng được chia thành 2 miền: Miền Trung Trung Bộ gồm 4 tỉnh: Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên Miền cực Nam Trung Bộ gồm: Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận, Phan Thiết [146, tr 1]
Trong công trình Trung Trung Bộ đánh giỏi toàn diện (Nxb Quân đội nhân
dân, HN, 1972), chiến trường Trung Trung Bộ bao gồm các tỉnh: Quảng Đà, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc [156, tr 73-77]
Trong những năm đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, địa giới hành chính quân sự của các tỉnh Trung Trung Bộ thuộc địa bàn Chiến khu 5 và Chiến khu 6 Vào cuối năm 1948, thực hiện chủ trương của Trung ương Đảng, Liên khu V được hình thành trên cơ sở hợp nhất các khu 5, 6, 15, gồm 12 tỉnh của Nam Trung Bộ (sau này là Khu V) Cùng thời gian này, Ủy ban Kháng chiến hành chính Nam Trung Bộ và Liên Khu ủy V cũng được thành lập để thực hiện sự lãnh đạo, chỉ huy cuộc kháng chiến ở Liên khu V Riêng đối với Quảng Nam và Đà Nẵng, năm
1946, tiến hành hợp nhất thành liên tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng Từ năm 1950 đến năm 1952, tách ra thành hai đơn vị hành chính độc lập Tuy nhiên, đến tháng 3-
1952, tái hợp thành một đơn vị hành chính là tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng Từ đây đến khi kết thúc cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Trung Trung Bộ thuộc địa bàn Liên khu V và chịu sự chỉ đạo trực tiếp của Liên Khu ủy V
Trong giai đoạn 1955-1966, theo sự phân chia của chính quyền VNCH, miền Nam Việt Nam gồm có Đô Thành Sài Gòn, Trung Nguyên Trung phần, Cao Nguyên Trung phần, Đông Nam phần và Tây Nam phần Trong đó, Trung Nguyên Trung phần bao gồm các tỉnh từ Quảng Trị đến Bình Thuận [2, tr 66-71] Từ năm
1967 đến trước 30-4-1975, theo sự điều chỉnh của đối phương, lúc này, miền Nam Việt Nam gồm có Đô Thành Sài Gòn, Trung Nguyên Trung phần, Cao Nguyên Trung phần và Nam Phần (bao gồm Đông Nam phần và Tây Nam phần trước đó sáp
Trang 35nhập lại) Trong đó, Trung Nguyên Trung phần lúc này vẫn bao gồm các tỉnh từ Quảng Trị đến Bình Thuận [2, tr 71-76 ] Như vậy, các tỉnh Trung Trung Bộ về cơ bản vẫn thuộc Trung Nguyên Trung phần Hơn nữa, ở đây vẫn giữ là một đơn vị hành chính cấp tỉnh như trước đó Về địa giới quân sự, từ tháng 6-1957, các tỉnh thuộc Trung Trung Bộ nằm trên địa bàn thuộc vùng I và vùng II chiến thuật của Quân đội VNCH Đó là Khu chiến thuật 12 (Quân đoàn 1), Khu chiến thuật 22 (Quân đoàn 2) [34, tr 130-132] Tháng 7-1962, Quảng Nam được tách ra thành 2 tỉnh Quảng Nam và Quảng Tín, còn Đà Nẵng vẫn là đơn vị hành chính độc lập Tuy nhiên, về địa giới quân sự không có sự thay đổi
Về phía cách mạng, trong những năm đầu của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, địa giới hành chính – quân sự của Trung Trung Bộ gắn liền với địa bàn chỉ đạo của Liên tỉnh I, Liên tỉnh II Đến giữa năm 1961, Bộ Chính trị quyết định tổ chức chiến trường Nam Trung Bộ thành Khu V và Khu VI Khu V gồm các tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Kon Tum, Gia Lai Cuối năm 1962, tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng được tách thành 2 tỉnh Quảng Nam và Quảng Đà Theo sự chỉ đạo của Khu ủy V, từ tháng 10-1967, thành phố Đà Nẵng tách khỏi tỉnh Quảng Đà, gồm 3 quận: quận Nhất, quận Nhì, quận Ba Đến tháng 11-1967, tỉnh Quảng Đà và thành phố Đà Nẵng hợp nhất thành Đặc khu Quảng Đà Mặc dù Quảng Nam – Đà Nẵng là tỉnh có sự chia tách, điều chỉnh về tên gọi, địa giới hành chính nhiều lần nhưng về cơ bản, trong suốt quá trình kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, các tỉnh Trung Trung Bộ thuộc địa bàn Khu V và sự chỉ đạo trực tiếp của Khu ủy V
Như vậy, do sự chi phối bởi điều kiện chiến trường nên sự phân chia về địa giới hành chính ở các tỉnh của Khu V thường xuyên có sự biến động Vì vậy, theo chúng tôi quan niệm Trung Trung Bộ bao gồm: Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên (hay còn gọi là các tỉnh Nam – Ngãi – Bình – Phú) cũng chỉ
mang tính tương đối
Theo sự phân hóa lãnh thổ, Trung Trung Bộ nằm ở trung độ của đất nước, có diện tích khoảng 27.857,9 km², bao gồm các tỉnh, thành phố: Đà Nẵng, Quảng Nam,
Trang 36Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên Phía Đông của các tỉnh Trung Trung Bộ được bao bọc bởi Biển Đông Phía Tây giáp một phần với Lào và phần chủ yếu giáp với
Tây Nguyên Phía Bắc giáp với Bắc Trung Bộ, phía Nam giáp với Nam Trung Bộ
Điều kiện tự nhiên: Khu vực Trung Trung Bộ thuộc phần cuối của dãy Trường
Sơn Bắc và nửa phần đầu của dãy Trường Sơn Nam, có hình dạng vòng cung vươn
ra Biển Đông Địa hình chia làm 3 vùng rõ rệt:
Vùng rừng núi ở Trung Trung Bộ chiếm khoảng 3/4 diện tích Miền núi phía Tây Trung Trung Bộ là nơi tập trung nhiều ngọn núi cao trên 1.000 m như: núi Cà Đam 1.413 m, núi Đá Vách 1.115 m, núi U Bò 1.100 m, núi Cao Muôn 1.085 m (Quảng Ngãi); núi Bà 1.100 m, núi Dương An 1.000 m (Bình Định); núi Chư Treng 1.238 m, núi La Hiên 1.318 m, hòn Dù 1.470 m, hòn Chúa 1.310 m, núi Chư Ninh 1.636 m (Phú Yên) Quảng Nam là nơi có nhiều ngọn núi cao trên 2.000 m như núi Lum Heo 2.045 m, núi Tiên 2.032 m, Hòn Tà Xiêu 2.053 m, núi Ngọc Niay 2.259
m, Ngọc Kring 2.025 m, núi Ngọc Linh 2.598 m Do địa hình có xu hướng thấp dần
từ Tây sang Đông nên ở Trung Trung Bộ, các ngọn núi thường có sườn dốc đứng, hiểm trở, nối liền với nhau, nhiều nơi vươn sát ra biển, trên núi có nhiều hang, gộp, hốc đá tự nhiên, rất thuận lợi cho hoạt động quân sự: cất giấu vũ khí, lương thực, trú quân và thực hiện tác chiến Núi rừng ở Trung Trung Bộ là kho tài nguyên phong phú về lâm thổ sản với nhiều loại gỗ quý: lim, trắc, huỳnh đàn, gõ, hương, mun, các loại thú rừng: hổ, voi, gấu, lợn, nai, tê tê, trăn… cùng các loại dược liệu quý: sâm Ngọc Linh, quế, sa nhân, trầm hương… Trong kháng chiến, bộ đội chủ lực và nhân dân khai thác tài nguyên rừng phục vụ việc xây dựng nhà ở, doanh trại, cơ quan căn
cứ Tài nguyên rừng là nguồn cung cấp đáng kể về lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh cho cán bộ, nhân dân các căn cứ địa Trên địa bàn rừng núi rộng lớn, quân dân các căn cứ tích cực tổ chức các hoạt động sản xuất: trồng trọt, chăn nuôi, chế tạo vũ khí, thuốc chữa bệnh Qua đó, đã giải quyết được một phần nhu cầu tại chỗ của căn cứ, giảm bớt gánh nặng chi viện từ miền Bắc Bên cạnh những điều kiện thuận lợi cho việc tạo dựng một nền kinh tế tự cấp, tự túc, vùng rừng núi Trung Trung Bộ trùng điệp là khu vực có thế liên hoàn nối liền với Tây Nguyên và Lào Ở
Trang 37đây có đường hành lang chiến lược Bắc – Nam đi qua, có những địa bàn hiểm trở, làm chỗ đứng chân thuận tiện cho lực lượng kháng chiến Tuy nhiên, do địa hình núi cao, dốc đứng, sông suối chia cắt, thiên nhiên khắc nghiệt có những tác động tiêu cực, gây ảnh hưởng đến vấn đề tổ chức xây dựng căn cứ địa và hoạt động cơ động của LLVT
Vùng đồng bằng ven biển chiếm 1/4 diện tích, chủ yếu có quy mô nhỏ, hẹp, bị đồi núi chia cắt thành nhiều mảnh Các huyện đồng bằng: Đại Lộc, Duy Xuyên, Thăng Bình, Điện Bàn (Quảng Nam); Bình Sơn, Sơn Tịnh, Tư Nghĩa, Nghĩa Hành,
Mộ Đức, Đức Phổ (Quảng Ngãi); Hoài Nhơn, Hoài Ân, Phù Mỹ, Phù Cát, An Nhơn, Tuy Phước, Tây Sơn (Bình Định); Tuy Hòa, Tuy An, Sông Cầu (Phú Yên) là nơi tập trung dân cư đông đúc Một số thành phố, thị xã, cảng biển: Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Quy Nhơn, Tuy Hòa tương đối sầm uất Vùng đồng bằng Trung Trung
Bộ là nơi cung cấp nhân tài và vật lực cho kháng chiến Một số nơi có thể xây dựng thành căn cứ du kích, căn cứ lõm
Vùng biển và hải đảo thuộc Trung Trung Bộ trải dài từ đèo Hải Vân (Đà Nẵng) đến Vũng Rô (Phú Yên) với chiều dài khoảng 612 km Bờ biển Trung Trung
Bộ có các bán đảo: Sơn Trà (Đà Nẵng); Phương Mai (Bình Định); Tuy Phong – Vĩnh Cửu, Vịnh Hòa, Xuân Thịnh, An Ninh Đông, An Hải, An Hòa (Phú Yên) và các vịnh Xuân Đài, Vũng Rô Đây là những vị trí thuận lợi cho việc xây dựng các căn cứ quân sự, các điểm tiếp nhận sự chi viện hàng hóa, vũ khí từ miền Bắc vào theo đường biển Nhiều dãy núi ăn thông ra biển như Hải Vân (Đà Nẵng); Núi Bà, Bích Kê, Dương An, (Bình Định); Cù Mông, Đèo Cả (Phú Yên); các khu rừng ven biển ở Trung Trung Bộ rất thuận lợi cho lực lượng kháng chiến sử dụng làm nơi cất giấu vũ khí, trú quân, sử dụng làm bàn đạp để tấn công vào căn cứ của địch
Ngoài khơi bờ biển Trung Trung Bộ có hàng chục đảo lớn nhỏ: quần đảo Hoàng Sa (Đà Nẵng); cụm đảo Cù Lao Chàm (Quảng Nam); đảo Lý Sơn (Quảng Ngãi), đảo Cù Lao Xanh (Bình Định); các đảo Bàn Than, Nhất Tự Sơn, Hải Phú, Hòn Yến, Hòn Chùa, Hòn Dứa, Hòn Cô (Phú Yên) Địa hình các đảo được bao bọc bởi núi cao, bên trong có nhiều hang động và bãi đổ bộ tự nhiên có thể hình thành
Trang 38các căn cứ, nơi tiếp nhận nguồn viện trợ từ miền Bắc và các tuyến vận chuyển bằng đường biển
Trung Trung Bộ có các sông chính: Thu Bồn, Vu Gia, Tam Kỳ (Quảng Nam); Trà Bồng, Trà Khúc, Vệ, Trà Câu (Quảng Ngãi); Kôn, Lại Giang, La Tinh, Hà Thanh (Bình Định); Ba, Kỳ Lộ, Bàn Thạch, Cà Lúi, Cầu, Hinh, Krông Năng, Năng, Trà Bương, Con, Đồng Bò (Phú Yên) Đặc điểm của các sông là bắt nguồn từ những vùng núi cao của dãy Trường Sơn và đều đổ ra Biển Đông Các sông ngắn,
độ dốc lớn, lòng sông cạn và hẹp, dòng chảy mạnh, lại có nhiều thác ghềnh ở thượng lưu nên mùa mưa thường gây lũ lụt lớn Ngược lại, mùa khô lại khô cạn ở
hạ lưu, giảm mực nước ngầm và tạo điều kiện cho sự xâm nhập mặn của biển Hệ thống sông ngòi có vai trò quan trọng trong việc vận chuyển lương thực, vũ khí phục
vụ hoạt động chiến đấu ở các căn cứ địa Tuy nhiên, nó cũng gây nhiều khó khăn đối với hoạt động cơ động của LLVT trong hành quân tác chiến, nhất là cơ giới
Về khí hậu, Trung Trung Bộ có khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa, nhiệt độ trung bình 26 º C Ở các vùng núi cao, nhiệt độ trung bình 23,5 º C Thời tiết ở đây được chia làm 2 mùa mưa, nắng rõ rệt: mùa khô từ tháng 1 đến tháng 8, mùa mưa từ tháng 9 đến tháng 12 Lượng mưa nhiều vào 4 tháng cuối năm nên dễ gây lũ lụt, ngập úng, ách tắc cho hoạt động sản xuất
Về giao thông, để phục vụ cho nhu cầu chiến tranh, Mỹ và chính quyền
VNCH đã tiến hành tu sửa, nâng cấp nhiều tuyến đường huyết mạch chạy qua địa
bàn Trung Trung Bộ như Quốc lộ 1A, đường sắt xuyên Việt, Quốc lộ 14 từ Đà Nẵng lên Tây Nguyên nối liền với Đông Nam Bộ, Quốc lộ 14D xuất phát từ Bến Giằng (Quảng Nam) lên tận biên giới Việt – Lào, Quốc lộ 19 nối liền Bình Định với các tỉnh Tây Nguyên và Hạ Lào, Đường số 7 nối liền Tuy Hòa với Gia Lai Ngoài
ra, các tuyến đường Liên tỉnh lộ 6; Liên tỉnh lộ 7, Liên tỉnh lộ 9 đi qua địa bàn các tỉnh Bình Định, Phú Yên cũng thường xuyên được tu bổ, mở rộng Bên cạnh đó, mỗi tỉnh đều có hệ thống tỉnh lộ nối liền các thành phố, thị xã, thị trấn, các huyện đồng bằng và miền núi Hệ thống giao thông với nhiều tuyến Quốc lộ, đường liên tỉnh, nội tỉnh tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động cơ động chiến đấu, tác chiến của
Trang 39LLVT các binh chủng Tuy nhiên, đây cũng là điểm bất lợi vì địch có thể cơ động tấn công vào các căn cứ địa từ nhiều hướng bằng các phương tiện chiến tranh hiện đại Song song với hệ thống giao thông đường bộ, đối phương còn xây dựng một
hệ thống các cảng biển: Đà Nẵng, Tiên Sa, Quy Nhơn, Vũng Rô cùng với các sân bay: Đà Nẵng, Xuân Thiều, Nước Mặn, Chu Lai, Quy Nhơn, Phù Cát, Củng Sơn, Sông Cầu, Chóp Chài, Đồng Tre, Đông Tác Hệ thống sân bay, cảng biển ở Trung Trung Bộ chủ yếu phục vụ cho các hoạt động quân sự
Bên cạnh đó, trong kháng chiến chống Pháp, năm 1947, chính quyền cách mạng ở các tỉnh Trung Trung Bộ đã huy động lực lượng xây dựng, phục hồi tuyến đường sắt Liên khu V dài 300 km từ Quảng Nam đến Phú Yên Trong kháng chiến chống Mỹ, tuyến đường Đông Trường Sơn đi qua các tỉnh: Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên lên Tây Nguyên Trên tuyến đường vận chuyển trên biển, Khu Sông Đà (Đà Nẵng) đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành tuyến vận tải trên biển thực hiện nhiệm vụ đưa cán bộ từ Nam ra Bắc hoặc vận chuyển cán
bộ cùng hàng hóa từ miền Bắc vào Nam; bến Vũng Rô (Phú Yên) trở thành nơi tiếp nhận vũ khí, thuốc men từ những “tàu Không số” ở miền Bắc chuyển vào
Với điều kiện địa lý tự nhiên như trên, Trung Trung Bộ là địa bàn có vị trí chiến lược quan trọng đối với cả ta và địch Đây là cửa ngõ từ Biển Đông vào Tây Nguyên và Đông Dương, là đầu mối giao thông của các chiến trường trong cả nước
Từ địa thế mặt hướng ra Biển Đông, lưng tựa vào dãy Trường Sơn hùng vĩ, địa hình khu vực này vừa có thế bao quát vừa có thế mở rộng, đồng thời là bàn đạp để tỏa đi các hướng chiến lược khác Trong chiến tranh, Trung Trung Bộ trở thành địa bàn tranh chấp quyết liệt giữa ta và địch
Đối với Mỹ và VNCH, Trung Trung Bộ là bàn đạp để tiến công ra các tỉnh xung quanh, nắm giữ Tây Nguyên, khống chế Biển Đông, tiến tới làm chủ Đông Dương Hệ thống các cảng biển và sân bay lớn ở Trung Trung Bộ là một đầu cầu quan trọng để triển khai lực lượng và cơ sở hậu cần, kỹ thuật cho cuộc chiến tranh xâm lược, là khu vực trọng yếu để tiếp nhận bộ phận lớn vũ khí và phương tiện chiến tranh Vì vậy, để kiểm soát địa bàn này, đối phương đã bố trí một lực lượng
Trang 40chủ lực mạnh Cuối năm 1968, lực lượng quân Mỹ, đồng minh và VNCH ở Trung Trung Bộ có 248.100 quân, trong đó có 120.000 quân Mỹ, 30.000 quân đồng minh
và 98.100 quân VNCH [53, tr 1] Đà Nẵng được xây dựng trở thành khu liên hợp quân sự lớn thứ hai ở miền Nam Bên cạnh hệ thống sân bay và cảng biển hiện đại, ngoài khơi vịnh Đà Nẵng còn có tàu sân bay thuộc Hạm đội 7 của Mỹ thường xuyên túc trực ngày đêm Hệ thống căn cứ quân sự và hậu cần hiện đại được thiết lập ở Trung Trung Bộ nhằm phục vụ cho nhu cầu chiến tranh không chỉ ở Khu V mà cả chiến trường Đông Dương
Đối với ta, Trung Trung Bộ là địa bàn trung tâm, có hành lang chiến lược nối liền 2 miền Nam – Bắc, hội đủ các yếu tố “thiên thời – địa lợi – nhân hòa” có thể xây dựng thành các căn cứ địa chiến lược lâu dài cho khu vực miền Trung và các nước Đông Dương Địa bàn hiểm trở với núi rừng trùng điệp liên hoàn giữa các địa phương và các vùng chiến lược, tiến có thể công, thoái có thế thủ, thuận lợi cho hoạt động chiến tranh nhân dân Lực lượng chủ lực nếu làm chủ được Trung Trung
Bộ sẽ có điều kiện chia cắt lực lượng địch ở các tỉnh miền Trung và Sài Gòn, tạo điều kiện để tiến công và nắm giữ Tây Nguyên Do vậy, ngay từ mùa Hè năm 1958, Liên khu V đã ra Nghị quyết về xây dựng căn cứ địa cách mạng ở miền Tây các tỉnh đồng bằng Khu V
Tóm lại, Trung Trung Bộ có địa thế hiểm trở với núi rừng trùng điệp kín đáo, liên hoàn tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động tiến công và phòng thủ của LLVT Hơn nữa, cũng rất tiện lợi cho việc cất giấu kho tàng, vũ khí, che giấu, bảo tồn lực lượng và triển khai hoạt động chiến tranh du kích Tuy nhiên, điều kiện tự nhiên với khí hậu khắc nghiệt, đất đai kém màu mỡ, địa hình chia cắt bởi núi cao, rừng thẳm, địch thường xuyên đánh phá ác liệt lại ở xa sự chi viện của Trung ương đã ảnh hưởng đến hoạt động xây dựng, bảo vệ và phát huy vai trò của căn cứ địa
Đời sống kinh tế của dân cư ở Trung Trung Bộ bao gồm nhiều ngành nghề:
nông nghiệp, ngư nghiệp, thủ công nghiệp, thương nghiệp… Song, trình độ sản xuất nói chung còn thấp, chủ yếu là lao động thủ công Vùng đồng bằng, ruộng đất tương đối phì nhiêu, sản xuất hai vụ lúa một năm Bên cạnh cây lương thực, nhân dân còn trồng các loại cây công nghiệp: thuốc lá, mía, bông, chè, hồ tiêu… Một số nghề thủ