Tuy nhiên, bên cạnh những đóng góp to lớn đó còn tồn tại một số thách thức đặt ra đối với các làng nghề trong quá trìnhhội nhập là phát triển theo hướng bền vững, đẩy mạnh sản xuất, nâng
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐÔNG ĐÔKHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH
Giảng viên hướng dẫn: NCV.Nguyễn Thanh Cừ
Sinh viên thực hiện: Chu Huyền Trag
Lớp QTDN-K17
HÀ NỘI 6/ 2014
Trang 2MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 3
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VAI TRÒ VÀ CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG TỚI LÀNG NGHỀ 1.1 Khái niệm và phân loại làng nghề 6
1.1.1 Khái niệm: 6
1.1.2 Phân loại làng nghề 7
1.2 Kinh doanh các làng nghề 9
1.3 Vai trò phát triển kinh doanh làng nghề với phát triển nông thôn ở Việt Nam 9
1.3.1 Vai trò trong sự phát triển kinh tế - xã hội 9
1.3.2 Phát huy nội lực địa phương, bảo tồn các giá trị văn hoá dân tộc 13
1.4 Nhân tố ảnh hưởng tới việc phát triển hoạt động kinh doanh làng nghề 14
1.4.1 Nhân tố vĩ mô 14
1.4.2 Nhân tố vi mô 19
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH DOANH ĐỒ GỖ THỦ CÔNG MỸ NGHỆ CỦA CÁC LÀNG NGHỀ TRÊN ĐỊA BÀN THẠCH THẤT-HN NÓI CHUNG VÀ TẠI CHÀNG SƠN NÓI RIÊNG 25
2.1 Tổng quan về các làng nghề trên Địa bàn huyện Thạch Thất 25
2.1.1 Vị trí địa lý 25
2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 26
2.1.3 Quá trình hình thành của làng nghề mộc Chàng Sơn 28
2.1.4 Tình hình phát triển và hoạt động sản xuất của làng nghề 29
2.1.5 Chính sách quản lý của nhà nước 30
2.2 Thực trạng phát triển kinh doanh các sản phẩm đồ gỗ thủ công mĩ nghệ của các làng nghề trên địa bàn huyện thạch thất : điển hình là xã Chàng Sơn 31
2.2.1 Hình thức tổ chức kinh doanh, chủng loại sản phẩm của các làng nghề31
Trang 32.2.3 Thực trạng môi trường làng nghề 37
2.2.4 Các yếu tố đầu vào 39
2.2.5 Thị trường đầu ra 42
2.2.6 Về hạ tầng kỹ thuật 44
CHƯƠNG 3:PHƯƠNG HƯỚNG VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN CỦA CÁC LÀNG NGHỀ 45
3.1 Phương hướng phát triển của các làng nghề 45
3.1.1 Định hướng và mục tiêu phát triển thương mại các sản phẩm đồ gỗ của làng nghề Chàng Sơn đến năm 2015 45
3.1.1.2 Kiến nghị với nhà nước 46
3.2 Giải pháp về vốn kinh doanh 48
3.3 Giải pháp cải thiện môi trường làng nghề 48
3.4 Giải pháp cho hoạt động tổ chức sản xuất 48
3.5 Giải pháp cho nguồn nguyên liệu 49
3.6 Giải pháp phát triển nguồn nhân lực 49
3.7 Giải pháp mở rộng thị trường tiêu thụ 50
Trang 4DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1 Phân bố làng nghề thủ công mỹ nghệ theo nhóm sản phẩm 15
Hình 1.1 Cơ cấu các loại hình kinh tế của nước ta 22
Hình 1.2 Sơ đồ biểu diễn mối quan hệ chặt chẽ từ khâu thu gom nguyên liệu đến khâu hoàn thiện và tiêu thụ sản phẩm của một xí nghiệp sản xuất đồ thủ công nghệ nhỏ: 23
Bảng 2.1: Số doanh nghiệp và hộ sản xuất kinh doanh năm 2011- 2013 31
Bảng 2.2: Quy mô lao động tại cơ sở điều tra năm 2011- 2013 32
Bảng2.3: Lương trung bình của một lao động( đơn vị: triệu đồng) 33
Bảng2.4: Một số sản phẩm chính của làng nghề Chàng Sơn(bộ): 34
Bảng 2.5:Sản lượng tiêu thụ và doanh thu của làng nghề Chàng Sơn từ năm 2011 tới năm 2013: 34
Bảng2.6: Hiệu quả sử dụng vốn(triệu đồng): 35
Bảng2.7:cơ cấu tiêu thụ sản phẩm xã Chàng sơn 43
Trang 5
LỜI MỞ ĐẦU
Trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, các làng nghềtruyền thống ở Việt Nam đã và đang có nhiều đóng góp cho GDP để phát triểnkinh tế của đất nước nói chung phát triển kinh tế nông thôn nói riêng Nhiềulàng nghề truyền thống hiện nay đã được khôi phục, đầu tư phát triển với quy
mô và kỹ thuật cao hơn, hàng hóa được cải thiện đáng kể và ngày càng đadạng về mẫu mã và chất lương, không những phục vụ nhu cầu trong nước màcòn cho xuất khẩu với giá trị lớn Tuy nhiên, bên cạnh những đóng góp to lớn
đó còn tồn tại một số thách thức đặt ra đối với các làng nghề trong quá trìnhhội nhập là phát triển theo hướng bền vững, đẩy mạnh sản xuất, nâng cao chấtlượng sản phẩm, xây dựng thương hiệu, mở rộng thị trường đòi hỏi các làngnghề phải vượt qua để tồn tại, nhất là ở giai đoạn kinh tế còn khó khăn nhưhiện nay Đó chính là những vấn đề cơ bản trong việc phát triển kinh doanhcác sản phẩm của các làng nghề Và các sản phẩm đồ gỗ thủ công mỹ nghệ tạicác làng nghề trên địa bàn huyện Thạch Thất thành phố Hà Nội cũng khôngphải là một ngoại lệ
Nhận thấy những thách thức trên trong quá trình phát triển của các làng nghềtrên địa bàn huyện Thạch Thất, em quyết định nghiên cứu đề tài: “Phát triểnkinh doanh các sản phẩm đồ gỗ thủ công mỹ nghệ tại các làng nghề trên địabàn huyện Thạch Thất thành phố Hà Nội” để tìm hiểu về thực trạng làng nghề
đồ gỗ thủ công mỹ nghệ ở Thạch Thất, trong đó chú trọng đi sâu vào làng nghềtruyền thống ở Chàng Sơn, từ đó tìm ra hướng đi đúng trong việc phát triểnkinh doanh sản phẩm, giúp đỡ một phần nào cho cơ quan quản lý địa phương
có cơ sở để đưa ra những chính sách quản lý phù hợp
Bài báo cáo gồm 3 chương với nội chính sau:
Chương 1: Tổng quan về vai trò và các nhân tố tác đông tới làng nghề
Trang 6Chương 2: Thực trạng phát triển kinh doanh đồ gỗ thủ công mỹ nghệ của cáclàng nghề trên địa bàn huyện Thạch Thất nói chung và xã Chàng Sơn nóiriêng.
Chương3 : Phương hướng và những giaỉ pháp phát triển
Qua đề tài này em mong muốn góp phần nhỏ vào viêc giúp làng nghề truyềnthống Chàng Sơn ngày một phát triển, thị trường ngày càng mở rộng không chỉtrong nước mà còn vươn ra thị trường thế giới.Trong quá trình kiến tập em đãnhận được hợp tác giúp đỡ nhiệt tình từ đảng ủy, ủy ban nhân dân xã ChàngSơn về số liệu cũng như ý kiến góp ý của các hộ dân thuộc khu vực làng nghề
xã Chàng Sơn Đặc biêt, là sự hướng dẫn chỉ bảo tận tình của thầy giáoNGUYỄN THANH CỪ đã giúp em hoàn thành báo cáo kiến tập này
Với kiến thức thực tế còn chưa sâu nên bài viết của em không tránh khỏinhững thiếu xót rất mong nhận được sự thông cảm và ý kiến đóng góp củathâỳ để chuyên đề này được hoàn thiên hơn
Em xin chân thành cám ơn!
Sinh
viên
Chu Huyền Trang
Trang 7CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VAI TRÒ VÀ CÁC NHÂN TỐ TÁC
ĐÔNG TỚI LÀNG NGHỀ 1.1 Khái niệm và phân loại làng nghề
1.1.1 Khái niệm:
Cùng với trồng trọt và chăn nuôi, hầu hết dân cư sống ở vùng nông thôn đều
có hoạt động thêm một số nghề thủ công với mục đích ban đầu sản xuất ra một
số hàng gia dụng phục vụ cho nhu cầu sản xuất và đời sống của hộ gia đìnhmang tính chất tự cung tự cấp trên cơ sở sử dụng nguồn nguyên liệu sẵn có.Nhưng qua một quá trình dài phát triển do có sự khác nhau về tay nghề và kinhnghiệm tích luỹ được ở từng địa phương nhất định đã có sự chuyên môn hoá
và các sản phẩm làm ra bắt đầu đưa ra thị trường trao đổi như những loại hànghoá Đó là quá trình chuyên môn hoá lâu đời và các sản phẩm của địa phương
đó không những bền đẹp mà có giá thành rẻ nên được xã hội chấp nhận Theoquan điểm chung, các hoạt động sản xuất tiểu thủ công nghiệp ở địa phươngnào đó được gọi là nghề khi nào phải tạo ra được một khối lượng sản phẩmchiếm lĩnh thị trường thường xuyên và những người sản xuất, hoặc hộ sản xuất
đó lấy nghề đang hành làm nguồn thu chủ yếu thì mới được xem là có nghề Cho đến nay vẫn chưa có khái niệm chính thống về “làng nghề” Theo giáo
sư Trần Quốc Vượng thì “làng nghề là một làng tuy vẫn còn trồng trọt theo lốitiểu nông và chăn nuôi nhưng cũng có một số nghề phụ khác như đan lát, gốm
sứ, làm tương song đã nổi trội một nghề cổ truyền, tinh xảo với một tầng lớpthợ thủ công chuyên nghiệp hay bán chuyên nghiệp, có phường (cơ cấu tổchức), có ông trùm, ông cả cùng một số thợ và phó nhỏ, đã chuyên tâm, cóquy trình công nghệ nhất định “sinh ư nghệ, tử ư nghệ”, “nhất nghệ tinh, nhấtthân vinh”, sống chủ yếu được bằng nghề đó và sản xuất ra những mặt hàngthủ công, những mặt hàng này đã có tính mỹ nghệ, đã trở thành sản phẩm hàng
và có quan hệ tiếp thị với một thị trường là vùng rộng xung quanh và với thị
Trang 8trường đô thị và tiến tới mở rộng ra cả nước rồi có thể xuất khẩu ra cả nướcngoài.
Một làng được gọi là làng nghề khi hội tụ 2 điều kiện sau:
- Có một số lượng tương đối các hộ cùng sản xuất một nghề;
- Thu nhập do sản xuất nghề mang lại chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng thunhập của làng
Như vậy, không phải bất kỳ làng nào có hoạt động ngành nghề cũng gọi làlàng nghề mà cần đáp ứng một số tiêu chuẩn nhất định
1.1.2 Phân loại làng nghề
Do đặc tính nông nghiệp và quan hệ làng xã Việt Nam, các ngành nghề thủcông được lựa chọn và dễ phát triển trong quy mô cá nhân rồi mở rộng thànhquy mô gia đình Dần dà, các nghề thủ công được truyền bá giữa các gia đìnhthợ thủ công, dần được truyền ra lan rộng ra phát triển trong cả làng, hay nhiềulàng gần nhau theo nguyên tắc truyền nghề Và bởi những lợi ích khác nhau docác nghề thủ công đem lại mà trong mỗi làng bắt đầu có sự phân hóa Nghềđem lại lợi ích nhiều thì phát triển mạnh dần, ngược lại những nghề mà hiệuquả thấp hay không phù hợp với làng thì dần dần bị mai một Từ đó bắt đầuhình thành nên những làng nghề chuyên sâu vào một nghề duy nhất nào đó,như làng gốm, làng chiếu, làng lụa, làng chạm gỗ, làng đồ đồng
1.1.2.1 Tiêu chí phân loại làng nghề
Cũng như phân loại nghề, việc phân loại làng nghề gặp nhiều khó khăn bởitính đa dạng về quy mô, lĩnh vực và lịch sử hình thành; có thể phân loại làngnghề theo các tiêu chí sau:
Trang 9- Làng nghề công nghiệp cơ khí, chế tác như: chế tác vàng bạc, dát vàng, giacông tái chế sắt thép.v.v
- Làng nghề xây dựng;
- Làng nghề dịch vụ
c) Theo quy mô làng nghề:
- Làng nghề quy mô lớn, lan tỏa, liên kết nhiều làng làm cùng một nghề hoặccùng một không gian địa lí lãnh thổ, tạo thành vùng nghề hoặc xã nghề ở đócác làng nghề, có quy mô lao động phi nông nghiệp rất lớn, không chỉ với lựclượng lao động tại chỗ mà còn thu hút nhiều lao động đến làm thuê;
- Làng nghề quy mô nhỏ, là trong phạm vi một làng theo địa giới hành chính
Ở các làng nghề này thường hoạt động kinh doanh một ngành nghề phi nôngnghiệp, được truyền nghề theo phạm vi dòng tộc
d) Theo loại hình kinh doanh của làng nghề có tính phổ biến ở Việt Nam:
- Các làng nghề truyền thống chuyên doanh một chủng loại sản phẩm hànghoá;
- Các làng nghề kinh doanh tổng hợp một số sản phẩm truyền thống;
- Các làng nghề vừa chuyên doanh các sản phẩm truyền thống vừa phát triểncác ngành nghề mới như dịch vụ, xây dựng Loại làng nghề này phát triểnmạnh trong những năm gần đây
e) Theo tính chất hoạt động sản xuất kinh doanh của các làng nghề:
- Các làng nghề vừa sản xuất nông nghiệp vừa kinh doanh các ngành nghề phinông nghiệp;
- Các làng nghề thủ công chuyên nghiệp;
- Các làng nghề sản xuất hàng xuất khẩu
Trang 10(2) Hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định tối thiểu 2 năm tính đến thời điểm
Hiện nay các làng nghề không chỉ còn hình thức sản xuất nhỏ lẻ theo quy môsản xuất gia đình nữa mà đã tập trung sản xuất dưới nhiều hình thức mới vàtiêu biểu vẫn là hình thức sản xuất tập trung theo làng, xã dưới dạng các xínghiệp, các xưởng sản xuất nhỏ nhằm mục đích tập trung, nâng cao tay nghề,cùng nhau cải thiện số lượng và chất lượng các sản phẩm đồ thủ công mỹ nghệngày càng phong phú, đa dạng, đáp ứng được nhu cầu ngày một hoàn thiện củangười tiêu dùng
Ngoài ra, các sản phẩm thủ công mỹ nghệ không chỉ chiếm được sự tin dùngcủa người dân trong nước mà nó còn ngày càng nhận được sự ưa thích củakhách hàng trên thị trường quốc tế nhờ các chính sách thương mại, chính sáchthúc đẩy sản xuất phục vụ xuất khẩu hay sự phát triển mạnh mẽ của ngành dulịch dịch vụ đã đem một lượng lớn du khách từ khắp mọi nơi có cơ hội tiếp xúctrực tiếp để cảm nhận được cái riêng biệt của mặt hàng này so với những mặthàng công nghệ cao hiện nay
Chính vì lẽ đó, kinh doanh các làng nghề đang ngày càng được nhà nướcquan tâm và tạo điều kiện phát triển không chỉ nhằm mục đích phát triển kinh
tế mà còn nhằm quảng bá hình ảnh đất nước qua những sản phẩm này
Trang 111.3 Vai trò phát triển kinh doanh làng nghề với phát triển nông thôn ở Việt Nam
1.3.1 Vai trò trong sự phát triển kinh tế - xã hội
1.3.1.1 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Việc phát triển làng nghề góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở nông thôn,
đa dạng hóa kinh tế nông thôn thúc đẩy quá trình đô thị hóa Bảo tồn và pháttriển làng nghề có tác dụng rõ rệt đối với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tếnông thôn theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Trong quá trình phát triển, các làng nghề đã có vai trò tích cực góp phần tăng
tỷ trọng nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ, chuyển lao động từ sảnxuất nông nghiệp có thu nhập thấp sang ngành nghề phi nông nghiệp có thunhập cao hơn Khi nghề thủ công hình thành và phát triển thì kinh tế nông thônkhông chỉ có kinh tế nông nghiệp thuần nhất mà bên cạnh là các ngành thủcông nghiệp, thương mại và dịch vụ cùng tồn tại và phát triển
Xét trên góc độ phân công lao động thì các làng nghề đã có tác động tích cựctới sản xuất nông nghiệp Nó không chỉ cung cấp tư liệu sản xuất cho khu vựcnông nghiệp mà còn có tác dụng chuyển dịch cơ cấu trong nội bộ ngành nôngnghiệp Mặt khác, kết quả sản xuất ở các làng nghề cho thu nhập và giá trị sảnlượng cao hơn so với sản xuất nông nghiệp; do từng bước tiếp cận với kinh tếthị trường, năng lực kinh doanh được nâng lên, người lao động nhanh chóngchuyển sang đầu tư cho các ngành nghề phi nông nghiệp, đặc biệt là nhữngngành mà sản phẩm có khả năng tiêu thụ mạnh ở thị trường trong nước và thếgiới
Hiện nay, các làng nghề đang phát triển đã đóng góp vai trò quan trọng trongviệc phát triển kinh tế xã hội ở địa phương Sự phát triển của các nghề truyềnthống kéo theo sự phát triển của nhiều nghề khác nhau như thương mại, dịch
vụ, vận tải, thông tin liên lạc, cung cấp điện nước,…và ngược lại, những ngànhnghề này lại hỗ trợ trực tiếp cho sự phát triển của các làng nghề
Trang 12Sự phát triển của làng nghề có tác dụng rõ rệt với quá trình chuyển dịch cơcấu kinh tế nông thôn theo yêu cầu của sự nghiệp CNH- HĐH Sự phát triểnlan tỏa của làng nghề đã mở rộng qui mô địa bàn sản xuất, thu hút nhiều laođộng Đến nay cơ cấu kinh tế ở nhiều làng nghề đạt 60 - 80% cho công nghiệp
và dịch vụ, 20 - 40% cho nông nghiệp
1.3.1.2 Góp phần giải quyết công ăn việc làm, tăng thu nhập cho người lao động trong các làng nghề và các vùng lân cận
Hiện nay, trong các làng nghề đã mở rộng quy mô sản xuất và tạo điều kiệnkhông chỉ cho các thành viên trong gia đình có công ăn việc làm Mặt khácnhiều làng nghề không những thu hút lực lượng lao động lớn ở địa phương màcòn tạo việc làm cho nhiều lao động ở các địa phương khác
Hơn nữa, sự phát triển của các làng nghề đã phát triển và hình thành nhiềunghề khác; nhiều hoạt động dịch vụ liên quan xuất hiện, tạo thêm nhiều việclàm mới, thu hút nhiều lao động Mặt khác, việc phát triển các ngành nghề tạicác làng nghề ở nông thôn sẽ tận dụng tốt thời gian lao động, khắc phục đượctính thời vụ trong sản xuất nông nghiệp, góp phần phân bổ hợp lí lực lượng laođộng nông thôn Vai trò tạo việc làm của các làng nghề còn thể hiện rất rõ ở sựphát triển lan tỏa sang các làng khác, vùng khác, đã giải quyết việc làm chonhiều lao động, tạo ra động lực cho sự phát triển KT-XH ở vùng đó
Qua tổng kết thực tiễn, đã tính toán được rằng cứ xuất khẩu được 1 triệuUSD hàng thủ công mỹ nghệ thì tạo việc làm và thu nhập cho khoảng 3000 -
4000 lao động
Như vậy, vai trò của làng nghề rất quan trọng, được coi là động lực trực tiếpgiải quyết việc làm cho người lao động, đồng thời góp phần làm tăng thu nhậpcho người lao động Ở nơi có làng nghề phát triển thì ở đó có thu nhập và mứcsống cao hơn so với vùng thuần nông
1.3.1.3 Góp phần phát triển du lịch
Trong xu thế hội nhập và mở cửa, làng nghề truyền thống đang dần khẳng
Trang 13Phát triển du lịch làng nghề là con đường hữu hiệu để xóa đói giảm nghèo, xâydựng nông thôn mới; đồng thời góp phần quảng bá hình ảnh, thương hiệu quốcgia
Việc phát triển du lịch làng nghề không chỉ đem lại lợi nhuận kinh tế, giúpngười dân nâng cao thu nhập, giải quyết nguồn lao động địa phương mà còn làmột cách thức để gìn giữ và bảo tồn những giá trị văn hoá truyền thống củadân tộc; đồng thời cũng là một phương thức giới thiệu sinh động về mỗi vùng,miền, địa phương trên đất nước
Theo thống kê, Hà Nội có hơn 1350 làng nghề, với hàng chục nhóm ngànhnghề đang phát triển mạnh: gốm sứ, dệt may, điêu khắc, mây tre đan, khảmtrai Đến nay, nhiều làng nghề hình thành từ lâu đời, nổi tiếng trong và ngoàinước, đã được du khách biết đến và trở thành điểm du lịch hấp dẫn
Thời gian qua, nhiều công ty du lịch lữ hành đã triển khai các tour đưa dukhách đến tham quan nhiều điểm làng nghề nổi tiếng
1.3.1.4 Thu hút vốn nhàn rỗi, tận dụng thời gian và lực lượng lao động.
Khác với một số ngành nghề công nghiệp, đa số các nghề thủ công khôngđòi hỏi số vốn đầu tư lớn, bởi rất nhiều nghề chỉ cần công cụ thủ công, thô sơ
do thợ thủ công tự sản xuất được; đặc điểm của sản xuất trong các làng nghề làqui mô nhỏ, cơ cấu vốn và lao động ít nên phù hợp với khả năng huy động vốn
và các nguồn lực vật chất của các gia đình, đó là lợi thế để các làng nghề cóthể huy động các nguồn vốn nhàn rỗi trong dân vào sản xuất kinh doanh Mặtkhác, do đặc điểm sản xuất lao động thủ công là chủ yếu, nơi sản xuất cũngchính là nơi ở của người lao động nên bản thân nó có khả năng tận dụng và thuhút nhiều lao động, từ lao động thời vụ nông nhàn đến lao động trên độ tuổihay dưới độ tuổi lao động, trẻ em vừa học và tham gia sản xuất dưới hình thứchọc nghề hay giúp việc, lực lượng này chiếm một tỉ lệ đáng kể trong tổng sốlao động làng nghề
1.3.1.5 Thúc đẩy quá trình đô thị hóa
Trang 14Ở những vùng có nhiều ngành nghề phát triển thường hình thành trung tâmgiao lưu buôn bán, dịch vụ và trao đổi hàng hoá Những trung tâm này ngàycàng được mở rộng và phát triển, tạo nên một sự đổi mới trong nông thôn Hơnnữa, nguồn tích lũy của người dân trong làng nghề cao hơn, có điều kiện đểđầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng như đường sá, nhà ở, và mua sắm các tiện nghisinh hoạt Dần dần ở đây hình thành một cụm dân cư với lối sống đô thị ngàymột rõ nét, nông thôn đổi thay và từng bước được đô thị hóa qua việc hìnhthành các thị trấn, thị tứ Vì vậy dễ nhận thấy rằng ở một làng nghề phát triểnthì ở đó hình thành một phố chợ sầm uất của các nhà buôn bán, dịch vụ Xuhướng đô thị hóa nông thôn là xu hướng tất yếu, nó thể hiện trình độ phát triển
về KT-XH ở nông thôn, là yêu cầu khách quan trong phát triển làng nghề
1.3.2 Phát huy nội lực địa phương, bảo tồn các giá trị văn hoá dân tộc
Góp phần bảo tồn giá trị văn hóa dân tộc Do hầu hết các làng nghề có khởinguồn từ sáng tạo của dân cư địa phương nên trong sản phẩm làng nghề từkiểu dáng, mẫu mã đều có những dấu ấn riêng về bản sắc văn hoá của từng địaphương Lịch sử phát triển của các làng nghề truyền thống gắn với lịch sử pháttriển văn hóa dân tộc Nhiều sản phẩm truyền thống có tính nghệ thuật cao,trong đó thể hiện những sắc thái riêng của mỗi làng nghề Bảo tồn và phát triểncác làng nghề truyền thống chính là sự kế thừa và phát huy đội ngũ nghệ nhân
có bàn tay khéo léo cùng những bí quyết nghề quý giá và thông qua đó bảo tồnnhững nét độc đáo của bản sắc dân tộc Việt
Việc định hướng bảo tồn và phát triển làng nghề tại thành phố trong xu thếhội nhập kinh tế quốc tế là việc làm cần thiết hiện nay Để bảo tồn và phát triểncác làng nghề, cần khôi phục sản xuất tại những làng nghề đã và đang bị maimột; chú trọng một số nghề truyền thống, làng nghề truyền thống có từ lâu đời,mang đậm bản sắc văn hoá dân tộc Bên cạnh đó, cần có hướng chuyển đổi đốivới một số ngành nghề, làng nghề khó khăn về thị trường thông qua sự hỗ trợ
về vốn đầu tư, đào tạo nghề, tổ chức sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, tạo điều
Trang 15kiện cho các làng nghề được phục hồi và phát triển, đảm bảo ổn định và cảithiện đời sống của người lao động ở nông thôn.
Làng nghề chứa đựng trong nó những yếu tố nhân văn và những giá trị vănhóa truyền thống quý giá Ngoài những yếu tố kinh tế cần được nghiên cứuphát triển thì làng nghề còn là một đối tượng quan trọng để bảo tồn và pháthuy các giá trị văn hóa phục vụ cho sự nghiệp phát triển văn hóa dân tộc vàxây dựng đất nước
1.4 Nhân tố ảnh hưởng tới việc phát triển hoạt động kinh doanh làng nghề
1.4.1 Nhân tố vĩ mô
1.4.1.1 Chính sách kinh tế
Làng nghề thủ công mỹ nghệ (TCMN) Việt Nam đóng vai trò quan trọngtrong việc thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội ở nông thôn Tuy nhiên, hìnhthức tổ chức sản xuất hộ gia đình vẫn là chủ yếu, tương ứng với đó là quy môvốn của các làng nghề nhìn chung còn nhỏ Để phát triển làng nghề thủ công
mỹ nghệ Việt Nam, Nhà nước nên áp dụng tổng hợp các giải pháp quản lý,trong đó có chính sách vốn và đầu tư tín dụng
-Nhu cầu đầu tư vốn tại các làng nghề TCMN
Làng nghề TCMN ở Việt Nam có lịch sử phát triển hàng nghìn năm Hiệnnay, nước ta có khoảng 2.700 làng nghề, trong đó làng nghề TCMN chiếmkhoảng 30% tổng số làng nghề Các làng nghề tạo việc làm, tăng thu nhập chongười dân khu vực (trung bình thu nhập của người lao động trong các làngnghề cao gấp 3-4 lần so với người lao động thuần nông) Các mặt hàng TCMNViệt Nam đã có chỗ đứng trên thị trường thế giới, được xuất khẩu trên 163quốc gia Việc đầu tư vốn cho làng nghề có vai trò quan trọng:
Đầu tư cho hoạt động sản xuất kinh doanh tại làng nghề sẽ góp phần giảiquyết các vấn đề xã hội và các quan hệ phức tạp khác như: xóa đói giảmnghèo, bài trừ các hủ tục lạc hậu… Các chính sách đầu tư hợp lý sẽ góp phần
Trang 16thực hiện các chính sách xã hội, một vấn đề đều được các nước và các tổ chứcquốc tế quan tâm.
Kinh tế làng nghề đóng vai trò quan trọng trong phát triển nông nghiệp, nôngthôn Các làng nghề nước ta hiện nay đang thiếu vốn để sản xuất, để mở rộngngành nghề, để xây dựng cơ sở vật chất và kết cầu hạ tầng… Do vậy, chínhsách vốn và các hoạt động đầu tư sẽ góp phần đẩy mạnh công nghiệp hóa –hiện đại hóa (CNH – HĐH) tại làng nghề, từng bước hội nhập kinh tế quốc tế
Bảng 1.1 Phân bố làng nghề thủ công mỹ nghệ theo nhóm sản phẩm
Trung
MiềnNam
Tổng
1 Mây tre đan, thêu
ren, cói,đồ gỗ mỹnghệ, sơn mài
Phát triển nông nghiệp, nông thôn theo hướng CNH, HĐH là một chủ trươnglớn của Đảng vả Nhà nước ta Hiện nay, một trong những nội dung quan trọngcủa CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn là phát triển các làng nghề
Các chính sách về vốn và đầu tư, tín dụng đã có nhiều đổi mới, góp phần tạomôi trường và điều kiện thuận lợi cho các hộ gia đình và các DN trong làngnghề phát triển Một số chính sách cụ thể như:
- Công văn số 08/NHNN-TD ngày 4/1/2001 của Ngân hàng Nhà nước ViệtNam về hướng dẫn thực hiện Quyết định 132/2000/QĐ-TTg của Thủ tướng
Trang 17Chính phủ về một số chính sách khuyến khích phát triển ngành nghề nôngthôn.
- Nghị định 151/2006/NĐ-CP ngày 20/12/2006 của Chính phủ về tín dụng đầu
tư và tín dụng xuất khẩu của Nhà nước
- Thông tư số 113/2006/TT-BTC ngày 28/12/2006 của Bộ Tài chính hướngdẫn một số nội dung về ngân sách nhà nước hỗ trợ phát triển ngành nghề nôngthôn theo Nghị định số 66/2006/NĐ-CP ngày 7/7/2006 của Chính phủ
- Nghị định số 41/2010/NĐ-CP ngày 22/4/2010 của Chính phủ về chính sáchtín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn
- Nghị định số 61/2010/NĐ-CP ngày 04/6/2010 của Chính phủ về chính sáchkhuyến khích DN đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn
- Thông tư số 14/2010/TT-NHNN ngày 14/6/2010 của Ngân hàng Nhà nướcViệt Nam về hướng dẫn chi tiết thực hiện Nghị định số 41/2010/NĐ-CP ngày22/4/2010 của Chính phủ về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nôngnghiệp, nông thôn
Nhìn chung, một số chính sách vốn và đầu tư mà Nhà nước ban hành đã gópphần tạo môi trường thuận lợi cho việc phát triển ngành nghề nông thôn nóichung và các làng nghề TCMN nói riêng Những năm gần đây, hệ thống ngânhàng nông nghiệp và phát triển nông thôn đã tập trung thực hiện cho vay theochương trình, dự án mục tiêu, hỗ trợ về tài chính tại các làng nghề Một sốchính sách tín dụng ngân hàng phục vụ phát triển nông nghiệp và nông thôn đãquy định việc Nhà nước hỗ trợ tài chính dưới hình thức tín dụng ngân hàng vớilãi suất ưu đãi, góp phần mở rộng phạm vi và cơ hội tiếp cận nguồn vốn tíndụng hỗ trợ cho các hộ và DN tại các làng nghề Chính phủ tiếp tục hỗ trợ lãisuất vay vốn ngân hàng đối với một số mặt hàng xuất khẩu, trong đó có mặthàng TCMN xuất khẩu của các làng nghề (QĐ178/1998/QĐ-TTg ngày19/9/1998)
Bên cạnh đó, các cơ sở kinh doanh trong các làng nghề còn được Quỹ hỗ trợ
Trang 18phát triển cho vay tín dụng đầu tư, hỗ trợ lãi suất đầu tư, bảo hành tín dụng đầu
tư Tuy nhiên, thực tế hiện nay, cho thấy các nguồn vốn để cung cấp cho cáclàng nghề còn rất hạn chế Việc thiếu vốn xảy ra do khả năng tích lũy để đầu tưphát triển sản xuất của các cơ sở còn thấp và do khả năng tiếp cận các nguồnvốn chính thức hay bán chính thức còn hạn hẹp; do sự liên kết kinh tế với cácđơn vị kinh tế khác còn yếu, chưa linh hoạt Mặt khác, việc thực thi một sốchính sách về vốn, đầu tư tín dụng còn chưa cụ thể, thiếu sự minh bạch
Để đáp ứng được nhu cầu phát triển của làng nghề thì những chính sách vàbiện pháp trên cần phải hoàn thiện, bổ sung trong thời gian tới và phải đáp ứngđược các yêu cầu sau: Phải tạo mọi điều kiện để huy động triệt để các nguồnvốn trong nước và nguồn vốn nước ngoài để đáp ứng nhu cầu sản xuất kinhdoanh của các DN tại làng nghề; Vốn ngân sách phải được coi là nguồn vốnquan trọng cho việc xây dựng các cơ sở hạ tầng tại làng nghề; Vốn tín dụng lànguồn vốn chủ yếu phục vụ cho đầu tư mở rộng sản xuất; Tạo môi trườngthuận lợi thu hút vốn đầu tư nước ngoài, đồng thời tranh thủ các nguồn viện trợcủa chính phủ và các tổ chức phi chính phủ; Chính sách đầu tư vốn cần tậptrung chủ yếu vào những lĩnh vực có khả năng huy động được nhiều sức laođộng, làm ra được nhiều sản phẩm và hàng hóa đạt hiệu quả kinh tế cao
Trang 19Tóm lại, chính sách là một công cụ quan trọng định hướng mọi hoạt động vàhành vi của các chủ thể tham gia hoạt động trong các lĩnh vực kinh tế - xã hội,trong đó các làng nghề TCMN Việc đánh giá thực trạng các chính sách nhànước về hoạt động vốn và đầu tư tín dụng hiện nay trong việc phát triển làngnghề TCMN sẽ là cơ sở để các nhà hoạch định chính sách đưa ra các giải phápnhằm hoàn thiện chính sách vốn và đầu tư nhằm phát triển làng nghề TCMNtrong thời gian tới.
Về các chính sách hỗ trợ của Nhà nước để các làng nghề truyền thống pháttriển gắn với phục vụ phát triển du lịch, theo nhiều đại biểu, các chính sách hỗtrợ của Nhà nước, từ cấp Trung ương cho đến địa phương được đánh giá là yếu
tố quyết định để tháo gỡ những rào cản, trở ngại, khó khăn hiện nay của cáclàng nghề Và cho đến nay, hệ thống chính sách liên quan đến phát triển kinh
tế làng nghề và du lịch làng nghề đã có rất nhiều nhưng còn chung chung,chồng chéo, nguồn lực thực thi hạn chế Vì vậy, hiệu ứng của chính sách còn
mờ nhạt Dẫn tới du lịch tại các làng nghề vẫn còn yếu kém, hiệu quả thấp,dịch vụ còn đơn sơ, nghèo nàn, sản phẩm kém hấp dẫn, kém sức cạnh tranh
1.4.1.3 Chính sách văn hóa –xã hội
Việc triển khai 03 mô hình dạy nghề nông dân đã đạt được những kết quảbước đầu (Mô hình thứ nhất là đào tạo nghề, tổ chức việc làm để xây dựnglàng nghề mới - áp dụng cho những địa phương thiếu ruộng đất, có nhiều laođộng nhưng thiếu việc làm, chính quyền địa phương có nhu cầu quy hoạchhình thành làng nghề mới Mô hình 2 là đào tạo nghề, tổ chức việc làm kết hợpphát triển vùng nguyên liệu tại địa phương Mô hình 3 là đào tạo nghề, tổ chứcviệc làm cho lao động nông thôn để duy trì và phát triển các làng nghề truyềnthống - áp dụng cho các làng nghề hiện có; địa phương có lao động nhưngchưa có nghề, không có việc làm hoặc ít việc làm, ưu tiên dạy ở những làngnghề có triển vọng phát triển bền vững) Đào tạo lao động để phát triển làngnghề đã có sự phối hợp chặt chẽ giữa Hiệp hội doanh nghiệp các tỉnh để theodõi tiến trình hoạt động Thế mạnh trong đào tạo nghề truyền thống đó là: các
Trang 20cơ sở thành viên chủ yếu là các doanh nghiệp, các Hiệp hội sản xuất nhỏ nắmvững kỹ thuật, gắn liền với sản xuất và bao tiêu sản phẩm Tuy nhiên, khókhăn còn tồn tại ở chỗ, kinh nghiệm đào tạo và truyền nghề theo kiểu trực tiếp Các Hiệp hội đã kiến nghị Bộ giao chỉ tiêu đào tạo các nghề truyền thống vàtìm ra cách thức hữu hiệu nhất để Hiệp hội có thể tham gia vào quá trình dạynghề cũng như truyền nghề, tận dụng được những kinh nghiệm chất xám, xâydựng được những chương trình đào tạo ngắn hạn, phát hiện ra những mặtmạnh của các phương thức đào tạo nghề tại các làng nghề trong giai đoạn hiệnnay Đồng thời đề nghị cần có cơ chế rõ ràng, cụ thể để có sự phối hợp chặtchẽ giữa Sở Lao động – Thương binh Xã hội các tỉnh với Hiệp hội làng nghềViệt Nam.
1.4.2 Nhân tố vi mô
1.4.2.1 Khả năng cung ứng đầu vào
Cũng như bất kỳ quá trình sản xuất, khối lượng, chủng loại nguyên vật liệu
và khoảng cách giữa nguồn cung cấp nguyên liệu có ảnh hưởng trực tiếp đếnchất lượng, giá thành, lợi nhuận của các doanh nghiệp Nguồn nguyên liệuchính tại địa phương trong nước, đây chính là lợi thế của làng nghề Thị trườngnguyên liệu không chính thức, phương thức thanh toán do hai bên tự thỏathuận, phụ thuộc thời vụ do tư thương cung cấp nên giá cả lên xuống theo mùa
Sử dụng nguyên liệu đa dạng hoặc thay thế sẽ là xu hướng cần được quan tâm
để làng nghề phát triển bền vững
1.4.2.2 Thị trường tiêu thụ sản phẩm
- Đơn hàng xuất khẩu giảm
Không chỉ thị trường trong nước, mà cả thị trường xuất khẩu, sản phẩm sảnxuất từ các làng nghề truyền thống đang chịu chung cảnh đìu hiu vào nhữngtháng cuối năm
Không xuất khẩu được hàng, nguồn vốn bị tồn đọng, nhiều DN phải vay vốnlãi suất ngân hàng cao nên thua lỗ nặng Bên cạnh đó, nguồn nguyên liệu phục
Trang 21vụ sản xuất của nhiều làng nghề ngày càng khan hiếm và không thể chủ độngđược.
Các đơn đặt hàng cũ đều bị hủy bỏ hoặc được lấy với số lượng ít hơn hẳnkhiến các doanh nghiệp tồn đọng hàng, một số đơn vị đã buộc phải đóng cửasản xuất Nhiều doanh nghiệp điêu đứng vì vốn vay ngân hàng từ đầu năm đểsản xuất, kinh doanh, đến cuối năm hàng hóa chưa bán kịp để trả nợ, lãi suấtlên cao, không đủ tiền trả lương cho công nhân Bên cạnh đó, nguồn nguyênliệu khan hiếm, phải nhập khẩu thêm từ nước ngoài - đã đẩy giá thành sảnphẩm lên cao, khiến cho mặt hàng thủ công rơi vào tình cảnh khó khăn chồngchất khó khăn
- Thị trường nội địa
Thực tế, hàng thủ công mỹ nghệ là sản phẩm có tiềm năng thị trường trongnước rất lớn Khi chuyển hướng từ thị trường xuất khẩu sang nội địa, nếu DNđầu tư mạnh việc phát triển sản phẩm nhờ những thiết kế mới, độc đáo có thểcạnh tranh được với các sản phẩm cùng loại của Trung Quốc, Thái Lan đểchiếm lĩnh thị trường nội địa Tại thời điểm này, mặc dù DN phải chi thêm một
số khoản đầu tư cho việc phát triển sản phẩm, mở showroom, quảng bá, chămsóc khách hàng nhưng bù lại, nhiều đơn hàng trong nước cũng không hề thuakém xuất khẩu, nhất là cung cấp cho nhà hàng, khách sạn, resort … Hiện nay,thị trường xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ nói chung và sản phẩm tranh thủcông mỹ nghệ nói riêng đang giảm sút buộc các DN dần quay lại thị trường nộiđịa, nơi có tiềm năng tiêu thụ lớn nhưng còn bỏ ngỏ
1.4.1.3 Sức cạnh tranh của sản phẩm trong làng nghề
Sản phẩm thủ công mỹ nghệ hiện đã có mặt hầu khắp các quốc gia trên thếgiới với tốc độ tăng trưởng 17,87%/năm Với thị trường EU, xuất khẩu chính
là mặt hàng gỗ, trong đó, Đức, Pháp, Hà Lan đã chiếm 10% tổng hàng hoánhập khẩu Tại Nhật Bản, khách hàng rất ưa chuộng mặt hàng gỗ, hộp đanbằng mây, rổ mây, giỏ mây, bát đĩa tre, khay đan bằng mây… của Việt Nam.Riêng tại thị trường Hoa Kỳ, các sản phẩm sơn mài, bình tre, mành trúc, ghế
Trang 22mây tre, mành tre, bình phong tre, giỏ lục bình… của Việt Nam cũng rất được
ưa chuộng Ngooài ra, thị trường Nam Phi cũng tăng trưởng với nhiều triểnvọng khi có nhiều doanh nghiệp Việt Nam tiến hành xúc tiến thương mại tạiđây
Để sản phẩm thủ công mỹ nghệ cạnh tranh được trên thị trường và kimngạch xuất khẩu đạt giá trị cao tại các thị trường tiềm năng, thì các doanhnghiệp xuất khẩu cần tìm hiểu kỹ các quy định về nhập khẩu Chẳng hạn nhưNhật Bản hay Canada là thị trường có mức nhập khẩu hàng thủ công mỹ nghệcao, do vậy tính cạnh tranh cũng rất mạnh Nhà xuất khẩu muốn thâm nhậpvào các thị trường này cần cân nhắc các yếu tố về sản xuất nhanh hàng mẫu,trả lời thư yêu cầu ngay trong ngày, giao hàng đúng với đặc điểm kỹ thuật đãthoả thuận hay đúng hàng mẫu đã nhất trí từ trước; tính liên tục của nguồncung; duy trì chất lượng cao ở mức giá cạnh tranh; bao bì thích hợp cho vận tảiđường biển… Bên cạnh đó, giá hàng thủ công mỹ nghệ phụ thuộc vào yếu tốchất lượng sản phẩm được làm từ thợ thủ công và loại nguyên vật liệu sử dụng.Đặc biệt, hầu hết các thị trường này đều đòi hỏi hàng hoá phải có chất lượngcao, bền và khi đưa ra bán phải có điều kiện tốt Do đó, các doanh nghiệp xuấtkhẩu lưu tâm cụ thể đến yêu cầu về dán mác và bao gói chính xác Hàng thủcông mỹ nghệ dùng bên ngoài nhà phải đủ khả năng chịu được nhiệt độ và độ
ẩm, trong khi dành cho trẻ em phải thoả mãn yêu cầu về độ an toàn và tiêuchuẩn
Các chuyên gia của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI)cho rằng: Để nâng cao năng lực cạnh tranh cho hàng TCMN ngoài việc quyhoạch xây dựng vùng nguyên liệu, nâng cao chất lượng sản phẩm thì việc đổimới mẫu mã theo hướng chuyên nghiệp cần phải được quan tâm hàng đầu.Nhà nước cần khuyến khích các trường đào tạo, viện nghiên cứu đẩy mạnhnghiên cứu, giảng dạy tạo mẫu sản phẩm, khuyến khích các cơ quan thông tinđại chúng quảng bá rộng rãi những thành tựu mới, sáng tạo mới về mẫu mã
Trang 23Doanh nghiệp cũng cần quan tâm xây dựng đội ngũ thiết kế, đào tạo, bồidưỡng tay nghề cho lực lượng lao động, phát huy lợi thế của đội ngũ nghệnhân, thợ giỏi, trong bảo tồn và sáng tạo mẫu sản phẩm Tại cuộc hội thảo tìmgiải pháp xuất khẩu sản phẩm làng nghề mới đây, ông By Jonathan chuyên gia
Dự án nâng cao cạnh trạnh toàn cầu cho các doanh nghiệp Việt Nam (GCF)cũng đã gợi ý về sự cần thiết phải thành lập trung tâm thiết kế mẫu cho cáclàng nghề Việt Nam Quan tâm đến xây dựng mẫu mã, kiểu dáng cho sảnphẩm TCMN sẽ góp phần tăng sức cạnh tranh trên thị trường xuất khẩu loạimặt hàng này, đồng thời bảo tồn, phát triển làng nghề truyền thống của dântộc
1.4.1.4 Cơ cấu,tổ chức sản xuất kinh doanh
Nghề thủ công mỹ nghệ chiếm tỷ trọng tương đối lớn trong tổng số các loạihình kinh tế của nước ta (chiếm 37%) Tiếp đó là loại hình chế biến lươngthực, thực phẩm chiếm 24%, thấp nhất là loại hình tái chế chất thải chiếm 1%
Hình 1.1 Cơ cấu các loại hình kinh tế của nước ta.
Nguồn: vea.gov.vn Các làng nghề thủ công mỹ nghệ hiện nay ngoài hình thức sản xuất theo quy
mô nhỏ, lẻ, mang tính chất hộ gia đình thì đã hình thành hình thức sản suất tậptrung theo hình thức thu gom sản xuất của một xí nghiệp hay đơn vị thu mualớn để tìm kiếm thị trường tiêu thụ rộng lớn hơn
Trang 25Hình 1.2 Sơ đồ biểu diễn mối quan hệ chặt chẽ từ khâu thu gom nguyên liệu đến khâu hoàn thiện và tiêu thụ sản phẩm của một xí nghiệp sản xuất
1.4.1.6 Nhân tố kết cấu hạ tầng:
Kết cấu hạ tầng KT-XH ở nông thôn bao gồm hạ tầng kinh tế như: kỹ thuật,điện nước, giao thông, thông tin liên lạc, phương tiện đi lại hạ tầng xã hộinhư: phòng khám đa khoa, bệnh viện, các trường học; các loại hình dịch vụnhư: thư viện, bưu điện Hạ tầng ở nông thôn nói chung và các làng nghề nóiriêng còn nghèo nàn, có nhiều cản trở sự phát triển các làng nghề Hệ thốnggiao thông, thông tin liên lạc ở các làng nghề kém, điện cung cấp không đều,cường độ dòng điện yếu Phải thấy rằng, sự hình thành và phát triển bền vữnglàng nghề chỉ có được khi kết cấu hạ tầng được tạo lập đồng bộ, tương đối đầy
đủ ở các làng nghề Ngày nay khi giao lưu kinh tế phát triển, thị trường tiêu
Trang 26thụ sản phẩm không chỉ ở địa phương mà còn vươn tới thị trường rộng lớnkhác; nguồn nguyên liệu phải vận chuyển thì hệ thống giao thông quyết địnhtrực tiếp chi phí hạ giá thành.
Hệ thống cung cấp điện nước tốt, giá rẻ không qua các đơn vị quản lý trunggian, sẽ giúp làng nghề sản xuất liên tục, giảm chi phí, tăng năng suất, đảm bảochất lượng sản phẩm Tiếp theo, hệ thống dịch vụ thông tin tốt sẽ giúp các cơ
sở sản xuất kinh doanh trong làng nghề nắm bắt kịp thời những thông tin vềnhu cầu, giá cả, mẫu mã, chất lượng, thị hiếu để có sự điều chỉnh kịp thờinhanh nhạy, đáp ứng yêu cầu thị trường
Trang 27CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH DOANH CÁC SẢN PHẨM ĐỒ GỖ THỦ CÔNG MĨ NGHỆ CỦA CÁC LÀNG NGHỀ TRÊN
- Đường ranh giới:
Phía Bắc giáp huyện Phúc Thọ
Phía Đông giáp huyện Phúc Thọ, Quốc Oai
Phía Nam giáp huyện Quốc Oai, huyện Kỳ Sơn (tỉnh Hòa Bình)
Phía Tây giáp huyện Ba Vì và thị xã Sơn Tây
Đặc điểm tự nhiên:
Thạch thất là khu vực chuyển tiếp giữa vùng núi và trung du phía Bắc vớivùng đồng bằng Nhìn chung địa hình thấp dần từ Tây sang Đông và chiathành hai dạng địa hình chính:
+ Dạng địa hình bán sơn địa, đồi gò: Độ cao trung bình so với mặt nước biển
từ 10 m đến hơn 15 m Đất phát triển trên nền đá đã phong hóa nhiều nơi cólớp đá ong ở tầng sâu 20 - 50cm
+ Dạng địa hình đồng bằng: bên bờ trái sông tích, địa hình khá bằng phẳng, độcao trung bình khoảng từ 3 đến 10 m so với mặt biển Trong khu vực cũng cónhiều điểm trũng tạo thành các hồ đầm nhỏ
Đặc điểm xã hội
Thạch Thất là huyện ngoại thành phía tây thủ đô Hà Nội
Trang 28- Có diện tích đất tự nhiên 18.459ha
- Dân số 190.150 người (năm 2012)
Với xã Chàng Sơn thuộc huyện thạch thất có:
Trong tổng số hơn 1.800 hộ với khoảng trên dưới 8.000 nhân khẩu của xãChàng Sơn hiện nay thì có tới hơn 70% làm các nghề tiểu thủ công nghiệp,trong đó nghề mộc chiếm đa số
Dân số xã đại đa số là người Kinh, 98% dân số không theo đạo, còn một bộ phận nhỏtheo đạo Thiên Chúa (http://vi.wikipedia.org/wiki/Ch%C3%A0ng_S
%C6%A1n)
Xã nằm cách huyện lỵ Liên Quan khoảng 3 km về phía Đông nam, cáchtrung tâm Hà Nội 30 km về phía Tây bắc Phía Đông và Nam giáp xã Thạch
Xá, phía Tây giáp các xã Cần Kiệm, Kim Quan, Liên Quan; phía Bắc giáp các
xã Hương Ngải, Canh Nậu
2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
- Huyện Thạch Thất có 22 xã và 1 thị trấn Hệ thống giao thông chính có quốc
lộ 32 (phía Bắc), quốc lộ 21 (phía Tây), Đại lộ Thăng Long (phía Nam), tỉnh lộ
419, 420 chạy qua huyện đã tạo ra mạng lưới giao thông thuận lợi cho pháttriển kinh tế - xã hội Thạch Thất cũng là huyện có các dự án lớn như Đại họcQuốc gia Hà Nội, Khu Công nghệ cao Hòa Lạc, Khu Công nghiệp Bắc PhúCát… Mặt khác, huyện cũng nằm trong chuỗi đô thị Miếu Môn, Xuân Mai,Hòa Lạc, là huyện có tiềm năng lớn về phát triển kinh tế, nhất là kinh tế côngnghiệp - TTCN và thương mại, dịch vụ Các làng nghề truyền thống có: Cơkim khí Phùng Xá, mây tre đan Bình Phú, mộc, may Hữu Bằng, mộc ChàngSơn ngày càng phát triển mạnh Theo báo cáo của Phòng Kinh tế huyện, giá trịsản xuất Công nghiệp - TTCN của 9 làng nghề chiểm trên 70% giá trị sản xuấtCông nghiệp - TTCN của huyện.(http://www.baomoi.com/Tiem-nang-lang-nghe-truyen-thong-o-Thach-That/45/5864756.epi)