Đề tài cấp viện
Trang 1Trung tâm khoa học x hội và nhân văn quốc giaã hội và nhân văn quốc gia
Trung tâm nghiên cứu Trung Quốc
========================
Đề tài cấp viện
ngời thực hiện: DVL
hà nộiNghiên cứu đặc điểm đầu t của Đài Loan vào
Trung Quốc đại lục
Trang 2I Lời nói đầu
gày nay, xu thế liên kết kinh tế khu vực và tự do hóa mậu dịch toàncầu đã trở thành một yếu tố quan trọng phát triển mậu dịch quốc tế.Chính sách kinh tế mở với những biến đổi to lớn theo khuynh hớnghội nhập, đã đa các nớc đi vào thực hiện đa phơng hóa và đa dạng hóa cácquan hệ quốc tế theo những mục tiêu xác định Trong xu thế chung đó của thếgiới, các mối quan hệ kinh tế phụ thuộc lẫn nhau, cạnh tranh lẫn nhau về mậudịch cũng nh về mức độ phân công sản xuất giữa các nớc và khu vực ở Châu á
- Thái Bình Dơng sẽ ngày càng trở nên sâu sắc
đợc sự phát triển nhanh nh vậy là vào những năm 1960 Đài Loan đã coi trọngnền kinh tế hớng ngoại, lấy ngoại thơng làm trọng tâm phát triển kinh tế.Sau Hội nghị Trung ơng 3 khóa XI của ĐCS Trung Quốc quyết định thựchiện công cuộc cải cách và mở cửa nền kinh tế, năm 1979 Uỷ ban thờng vụ
Đại hội đại biểu nhân dân Trung Quốc đã công bố: “Th gửi đồng bào ĐàiLoan”, kêu gọi xóa bỏ thù địch, mở mang giao lu kinh tế cùng với nhiều chínhsách thu hút đầu t hấp dẫn, các thơng gia Đài Loan đã bắt đầu chú ý đến vùng
đất này Họ sang Trung Quốc tìm kiếm cơ hội đầu t và trao đổi mậu dịch với
hy vọng lợi dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú cùng nguồn nhâncông giá rẻ Đồng thời, tận dụng lại những ngành sản nghiệp sử dụng nhiềusức lao động đã “xế chiều” tại Đài Loan, và lợi dụng những lợi thế so sánh của
Trang 3bản địa nhằm hình thành một mô hình phân công sản nghiệp giữa Đài Loanvới Trung Quốc và tiến tới phân công quốc tế, tăng sức cạnh tranh
Việt Nam đứng trớc bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, thì việc nghiêncứu các mối quan hệ kinh tế quốc tế khác trong khu vực có vai trò quan trọngtrong việc hoạch định đờng lối chính sách cho mình để hội nhập một cách hợp
lý vào nền kinh tế quốc tế
Nghiên cứu quan hệ kinh tế giữa Đài Loan và Trung Quốc là cần thiết đốivới Việt Nam, bởi Đài Loan luôn là một trong những nhà đầu t nớc ngoài và làbạn hàng thơng mại lớn nhất của Việt Nam Hơn nữa, Trung Quốc lại là một
đối thủ cạnh tranh khốc liệt về thu hút đầu t nớc ngoài của các nớc Đông Nam
á nói chung và Việt Nam nói riêng Đồng thời, Việt Nam cũng có thể học tập
đợc nhiều kinh nghiệm quý báu của Trung Quốc trong quá trình hội nhậpquốc tế Với những lý do đó, tác giả đã lựa chọn vấn đề “Quan hệ kinh tế mậudịch hai bờ eo biển Đài Loan” làm đề tài nghiên cứu cho mình
Về phơng pháp nghiên cứu của đề tài chủ yếu vẫn là những “phơng phápphi can dự” của khoa học xã hội thờng vận dụng dựa trên nguồn t liệu sáchbáo tạp chí thu thập đợc Bao gồm: Phơng pháp phân tích nội dung, phơngpháp phân tích t liệu thống kê hiện có và phơng pháp phân tích lịch sử, so sánhv.v
Về phạm vi nghiên cứu, đề tài lấy mốc từ năm 1979 khi hai bờ đã chínhthức có sự qua lại trao đổi giữa hai bên tới nay Mặt khác, quan hệ kinh tế hai
bờ hết sức phong phú và đa dạng về chủng loại nên đề tài chủ yếu tập trung đivào nghiên cứu hoạt động đầu t giữa Đài Loan và Trung Quốc đại lục Đồngthời, đề tài chủ yếu đứng dới góc độ lịch sử để nhìn nhận và phân tích đặc
điểm của mối quan hệ kinh tế này
Trang 4quan hệ kinh tế hai bờ
Theo đuổi lợi ích kinh tế là động lực chủ yếu để phát triển quan hệ kinh
tế mậu dịch hai bờ eo biển Đài Loan Dới tác động của các nguồn lực kinh tế,quan hệ kinh tế hai bờ đã đạt đợc sự phát triển nhanh chóng, đồng thời nócũng thúc đẩy sự phát triển phồn vinh của nền kinh tế mỗi bên
Trớc những năm 1970, quan hệ hai bờ rơi vào trạng thái đối lập về chínhtrị, quân sự và kinh tế, trạng thái này đã đem lại những thiệt hại lớn không thểtính hết cho cả hai bên Năm 1979, Trung Quốc đại lục tuyên bố mở cửa quan
hệ kinh tế với Đài Loan Lúc đó, Trung Quốc đang ở vào thời kỳ đầu của côngcuộc cải cách nền kinh tế và mở cửa đối ngoại, đồng thời, cũng là điểm ngoặtlịch sử có ý nghĩa to lớn trong tiến trình công nghiệp hóa của Trung Quốc Mởcửa quan hệ kinh tế với Đài Loan không chỉ là sự thay đổi quan trọng chínhsách Đài Loan của Trung Quốc đại lục, mà còn là biện pháp trọng đại trongchiến lợc phát triển kinh tế và chính sách công nghiệp hóa
Vào những năm 1970, Đài Loan do nắm bắt đợc thời cơ có lợi trong hoàncảnh quốc tế, nên đã đạt đợc nhiều thành tựu lớn trong phát triển kinh tế, và cơbản thực hiện đợc quá trình công nghiệp hóa, trở thành khu vực có nền côngnghiệp hóa mới và nền kinh tế đầy sức sống Đến niên đại 80, kinh tế ĐàiLoan đã bớc vào giai đoạn thành thục Lúc này, hoàn cảnh trên đảo Đài Loan
và cục diện kinh tế chính trị thế giới đã có một loạt những thay đổi Để thựchiện phát triển nền kinh tế trên đảo hơn nữa, về khách quan cần phải cải thiện
và phát triển quan hệ giữa hai bờ, bù đắp cho những điều kiện còn hạn chếtrên đảo, mở rộng không gian phát triển kinh tế Do vậy, mặc dù đến năm
1984, chính quyền Đài Loan luôn áp dụng chính sách cự tuyệt giao lu thơngmại giữa hai bờ, nhng do lợi ích trao đổi thơng mại hai bờ rất lớn, các thơngnhân Đài Loan tuyệt đối không bỏ qua cơ hội có lợi này Một khi Trung Quốc
đại lục thực hiện mở cửa thì đã tạo ra sự thôi thúc rất lớn đối với các thơng
Trang 5nhân Đài Loan Do đó, hình thành nên sự đột phá mang tính lịch sử trongquan hệ thơng mại giữa hai bờ, trao đổi mậu dịch gián tiếp từ 77 triệu Nhândân tệ (NDT) năm 1979 đã tăng nhanh lên 5,52 tỷ NDT năm 1984, tăng gấphơn 6 lần.1
Năm 1985, chính quyền Đài Loan đã tuyên bố “ba nguyên tắc” đối vớiquan hệ kinh tế hai bờ, trên thực tế là bắt đầu áp dụng thái độ ngầm thừa nhận
đối với mối quan hệ này Giai đoạn từ năm 1985 đến 1987 là thời kỳ Đài Loankhông có chính sách rõ ràng đối với quan hệ hai bờ, nhiều hoạt động kinh tếthơng mại của các thơng nhân Đài Loan đợc coi là vi phạm pháp luật, tuynhiên nó không thể ngăn cản đợc xu thế phát triển quan hệ kinh tế giữa hai bờ,
đến năm 1987, kim ngạch mậu dịch gián tiếp giữa hai bờ đã tăng lên gần gấp
2 lần, đạt 1,515 tỷ USD
Thời gian 1987-1988, là giai đoạn tính hợp lý của kinh tế đã phá vỡ tínhbất hợp lý của giai đoạn trớc: năm 1987, chính quyền Đài Loan bắt đầu thảlỏng những hạn chế đối với mậu dịch gián tiếp giữa hai bờ eo biển; năm 1988,
Bộ Kinh tế Đài Loan đã công bố chính sách “không truy cứu” đối với hoạt
động mậu dịch gián tiếp giữa thơng nhân Đài Loan với Trung Quốc đại lục Từ
đó, quan hệ kinh tế hai bờ đã phát triển với quy mô lớn hơn, mặc dù trong 10năm tới sự phát triển của quan hệ hai bờ luôn thay đổi khó lờng lúc dừng lúctiến, nhng xu thế trao đổi qua lại kinh tế giữa hai bờ thì không gì ngăn cảnnổi Hiện nay, Đài Loan đã trở thành bạn hàng mậu dịch lớn thứ năm củaTrung Quốc, và là thị trờng nhập khẩu lớn thứ hai; còn Trung Quốc cũng trởthành thị trờng xuất khẩu lớn thứ hai của Đài Loan và là thị trờng xuất siêumậu dịch lớn nhất của Đài Loan
Nhìn chung, quan hệ kinh tế giữa Đài Loan và Trung Quốc đại lục về đạithể đã trải qua ba giai đoạn: giai đoạn 1, từ 1979 đến 1986 là giai đoạn thămdò; giai đoạn 2, từ 1987 đến 1994, là giai đoạn phát triển cao độ; giai đoạn 3,
từ 1995 đến 2001 là giai đoạn tăng trởng ổn định Trải qua thời gian hơn 20
1Long Vĩnh Khu, Quan hệ hợp tác kinh tế hai bờ, Nxb Quản lý kinh tế, 1998, tr 4.
Trang 6năm, quan hệ kinh tế mậu dịch hai bờ luôn luôn đợc tăng cờng và khôngngừng phát triển.
và Trung Quốc đại lục
Thơng nhân Đài Loan từ đầu những năm 80 của thế kỷ 20 bắt đầu tiếnhành hoạt động đầu t vào Trung Quốc đại lục Năm 1983, lần đầu tiên xuấthiện một doanh nghiệp Đài Loan đến đầu t tại Trung Quốc Trớc năm 1987 sốlợng đầu t tơng đối ít, chỉ đến sau năm 1988 mới thực sự là cao trào Đầu t củathơng nhân Đài Loan vào Trung Quốc là một quá trình phát triển từ sơ cấp đếncao cấp, từ cục bộ đến toàn diện, từ động thái nhỏ đến động thái lớn Vậy, vìsao họ lại đến Trung Quốc đầu t trong khi phải chịu rất nhiều những rào cản từchính quyền Đài Loan Hay nói cách khác, động cơ đầu t của thơng nhân ĐàiLoan là gì?
III.1 Động cơ đầu t của thơng nhân Đài Loan vào Trung Quốc
Trớc tình trạng chính quyền Đài Loan áp đặt các biện pháp hạn chế
th-ơng nhân Đài Loan sang Trung Quốc đầu t, nhng các thth-ơng nhân Đài Loan với
“trăm phơng ngàn kế” vẫn lần lợt đến Trung Quốc tiến hành các hoạt động
đầu t và mậu dịch Một học giả Đài Loan trong khi phân tích tình hình thơngnhân Đài Loan đến Trung Quốc đại lục đầu t đã có bình luận: “các thơng nhân
Đài Loan đến Trung Quốc đại lục đầu t sớm nhất, phần lớn đều đã dần dần bịthất bại Lý do rất đơn giản, họ đến Trung Quốc đầu t không phải là để tiếnhành công việc kinh doanh thật sự Rất nhiều ngời đã bị thất bại ở Đài Loan và
đến Trung Quốc đại lục để mạo hiểm Có một số thơng nhân khác do tiền vốnkhông đủ, kinh nghiệm sản xuất cũng không có, mà chỉ có t tởng đầu cơ vơvét, đơng nhiên là dễ thất bại” 2 Từ đó có thể thấy, một bộ phận thơng nhân
Đài Loan lúc đầu đến Trung Quốc đầu t với động cơ tiêu cực, nhng đại đa số
2 Liêu Thiên Nhiệm, Điểm mặt các công ty ở Trung Quốc đại lục, “Tạp chí Thông thơng nghiệp
Trung Quốc” Đài Loan, 7/1996.
Trang 7thơng nhân Đài Loan sau này đều đến Đại lục đầu t với những động cơ bìnhthờng
Cái gọi là động cơ bình thờng của thơng nhân Đài Loan cũng chính làtheo đuổi mục đích tối đa hóa lợi nhuận và hiệu quả sản xuất kinh doanh Do
đó, trong khi giá thành lao động và vấn đề môi trờng đang lên cao ở đảo ĐàiLoan, thì thơng nhân Đài Loan đã đem tiền vốn của họ sang Trung Quốc đạilục đầu t, bởi Trung Quốc có giá nhân công và nguồn nguyên liệu tơng đối rẻ,
có cùng một ngôn ngữ và nền văn hóa chung Đồng thời, khi sảy ra cuộckhủng hoảng tài chính tiền tệ Đông Nam á, đầu t ở khu vực này rủi ro tăngcao, thì thơng nhân Đài Loan đã rút lợng lớn tiền ở đây đầu t vào Trung Quốc,bởi Trung Quốc không những có nhiều chính sách u đãi mà còn có tình hìnhkinh tế xã hội ổn định Nói một cách khái quát, sở dĩ thơng nhân Đài Loantiến hành hoạt động đầu t ngày càng nhiều ở Trung Quốc đại lục là do: một là,lợi dụng u thế giá thành sản xuất tơng đối thấp; hai là, đã nhìn thấy tiềm lựcthị trờng to lớn của Trung Quốc
Tất nhiên, các thơng nhân Đài Loan đến Trung Quốc đầu t đều với nhữngmục tiêu và động cơ khác nhau, và có thể phân làm ba loại khuynh hớng đầu
t chủ yếu sau:
Thứ nhất, một bộ phân tơng đối lớn các doanh nghiệp Đài Loan, nhất là
các doanh nghiệp đến Trung Quốc đầu t từ sau thập kỷ 90, đều đã tiến hành
đồng thời với hai mục đính là lợi dụng sức lao động và khai phát thị trờngTrung Quốc đại lục
Thứ hai, một bộ phận doanh nghiệp khác đến Trung Quốc đầu t thì trú
trọng thiên về thị trờng rộng lớn của Trung Quốc và đó là mục tiêu chủ yếu,chính do thông qua việc mở rộng nhu cầu thị trờng ở Trung Quốc đại lục đểthực hiện tối đa hóa lợi nhuận và hiệu quả sản xuất kinh doanh
Thứ ba, còn không ít doanh nghiệp Đài Loan đến Trung Quốc đại lục đầu
t với mục tiêu chỉ đơn thuần là để giành lấy u thế giá thành sản xuất Chủ yếu
là một số xí nghiệp vừa và nhỏ theo loại hình sản xuất tập trung nhiều sức lao
động Hoạt động sản nghiệp của họ từ đầu những năm 1980 phải chịu những
áp lực của giá nhân công cùng với chi phí bảo vệ môi trờng đang tăng cao ở
đảo Đài Loan, nên đã di chuyển những doanh nghiệp tập trung nhiều sức lao
động và mức ô nhiễm cao sang Trung Quốc đại lục - nơi có giá nhân công rẻ
Trang 8và mức độ coi trọng bảo vệ môi trờng lúc đó còn thấp, để tiếp tục duy trì thờicơ tốt thực hiện mục tiêu thu lợi nhuận.
Nhìn chung, với những loại hình doanh nghiệp khác nhau của thơng nhân
Đài Loan thì họ có những mục tiêu và động cơ khác nhau khi đến Trung Quốc
đầu t Các doanh nghiệp vừa và nhỏ theo loại hình tập trung nhiều sức lao
động thì lấy theo đuổi u thế giá thành làm chính, nh các ngành giầy dép, maymặc, v.v Còn những doanh nghiệp Đài Loan theo loại hình lớn hoạt độngtrong các lĩnh vực dịch vụ thì lại coi trọng thị trờng rộng lớn, tức là muốnchiếm lĩnh thị trờng của Trung Quốc đại lục, bởi cái mà họ theo đuổi là chiếnlợc phát triển quốc tế hóa
Đài Loan muốn chiếm lĩnh thị trờng Trung Quốc bao gồm hai lý do: một
là, trong hơn 40 nghìn doanh nghiệp lớn, vừa và nhỏ của thơng nhân Đài Loan
đã cùng nhau phối hợp do điều kiện giao dịch và tập quán Trong nhiều năm,phần lớn các doanh nghiệp loại vừa và nhỏ của Đài Loan gia công xuất khẩunhững linh kiện và nguyên liệu cần thiết vẫn mua từ Đài Loan là chính Để rútngắn thời gian cung ứng linh kiện và hạ thấp giá thành sản xuất, ngày càngnhiều các doanh nghiệp Đài Loan trong cùng ngành sản nghiệp cùng phối hợptiến hành đầu t với nhau, do đó động cơ đầu t của thơng nhân Đài Loan ởTrung Quốc đại lục là lấy chiếm lĩnh thị trờng làm chủ đạo, trong một ý nghĩanhất định đó là sự phối hợp đồng bộ cùng đầu t của các ngành sản nghiệp Hai
là, thị trờng rộng lớn tiềm tàng của Trung Quốc đại lục với dân số hơn 1,2 tỷngời, cùng thị trờng tiêu dùng gần 200 tỷ NDT Theo điều tra, hiện nay sốcông ty Đài Loan sản xuất cho tiêu thụ ở nội địa Trung Quốc với mức 100%chiếm 42,7%, và 30% tiêu thụ nội địa chiếm 31,3%, và 100% sản xuất choxuất khẩu chỉ chiếm 14,6%.3
Quan hệ hợp tác đầu t giữa Đài Loan và Trung Quốc đợc hình thành vàphát triển trong quá trình giao lu thơng mại giữa hai bờ, đặc biệt đợc hìnhthành cùng với những chính sách thơng mại của cả hai bên Do đó, nắm vữngtiến trình phát triển của các chính sách này, là một bớc không thể thiếu đểhiểu biết hiện trạng và xu thế phát triển trong tơng lai của quan hệ hợp tác đầu
t giữa hai bờ eo biển Đài Loan
III.2 Chính sách đầu t của hai bờ.
3 Cao Hiểu Quyên, Đặc trng đầu t của thơng nhân Đài Loan ở Trung Quốc đại lục, Tạp chí “Vấn đề
mậu dịch quốc tế”, số 2 năm 2002, tr 63.
Trang 9III.2.1 Chính sách thu hút đầu t của Trung Quốc đối với Đài Loan
Năm 1987, chính quyền Đài Loan bắt đầu xóa bỏ hạn chế dân chúng xuấtcảnh, và cho phép thông qua mảnh đất khác đến Trung Quốc đại lục thămthân, điều này về khách quan có lợi cho giao lu kinh tế giữa hai bờ có thêm b-
ớc phát triển Quan hệ hai bờ từ đó đã bớc vào giai đoạn phát triển mới
Để thích ứng với thay đổi này của chính quyền Đài Loan, thúc đẩy giao
l-u kinh tế giữa hai bờ và để xây dựng một môi trờng chính sách tốt đẹp, Ql-uốc
vụ viện nớc Cộng hòa nhân dân Trung Hoa đã công bố “Quy địnhvề khuyếnkhích đồng bào Đài Loan đầu t” vào tháng 7/1988 Bản quy định này dùnghình thức pháp lệnh cung cấp cho đồng bào Đài Loan đến Trung Quốc đầu tnhững lĩnh vực rộng lớn Nó hoan nghênh các thơng nhân Đài Loan đến cáctỉnh, các khu tự trị, các thành phố trực thuộc và các đặc khu kinh tế của TrungQuốc đầu t Cụ thể, quy định này:
a Cho phép thơng nhân Đài Loan thành lập doanh nghiệp 100%vốn, doanh nghiệp chung vốn kinh doanh và doanh nghiệp hợp tác kinhdoanh
b Cho phép thơng nhân Đài Loan đến Trung Quốc đại lục triển khaibồi thờng mậu dịch, gia công lắp ráp, hợp tác sản xuất
c Cho phép thơng nhân Đài Loan mua cổ phiếu và trái phiếu củacác doanh nghiệp đại lục
d Cho phép thơng nhân Đài Loan mua bất động sản ở Trung Quốc
e Cho phép thơng nhân Đài Loan có quyền sử dụng đất đai và kinhdoanh khai phát theo pháp luật của Trung Quốc
Đồng thời, quy định này còn thừa nhận mang tính nguyên tắc bảo hộ đầu
t cho các thơng nhân Đài Loan, và còn tạo cho họ một vài những điều kiện u
đãi khác với những nhà đầu t nớc ngoài khác, nh cho phép có quyền thừa kếtheo pháp luật và đối với hình thức đầu t và kỳ hạn đầu t cũng có những quy
định linh hoạt
Tháng 5/1989, Quốc vụ viện đã phê chuẩn cho phép tỉnh Phúc Kiến thànhlập khu đầu t của thơng nhân Đài Loan ở Phúc Châu, Hạ Môn, Hạnh Lâm vàHải Thơng , nhà nớc hỗ trợ tài chính để tăng nhanh xây dựng cơ sở hạ tầngtrong khu đầu t của thơng nhân Đài Loan này Tạo điều kiện tốt nhất cho các
Trang 10thơng nhân Đài Loan đến đây đầu t Sau đó, cùng với sự mở rộng khôngngừng quy mô giao lu quan hệ kinh tế hai bờ, Quốc vụ viện Trung Quốc lạitiếp tục phê chuẩn xây dựng khu đầu t cho thơng nhân Đài Loan ở Giang Tô,Thợng Hải và Thành Đô
Nhằm tăng cờng trao đổi thông tin và liên lạc với thơng nhân Đài Loan,Trung Quốc lại tiếp tục phê chuẩn thành lập “Hiệp hội doanh nghiệp đầu t ĐàiLoan” ở Bắc Kinh, Hải Nam, Thợng Hải, Thâm Quyến, Giang Tô, v.v có tácdụng làm cho giữa các doanh nghiệp Đài Loan với nhau và giữa doanh nghiệp
Đài Loan với chính quyền địa phơng có sự câu thông và phản ánh nhu cầu kịpthời, thúc tiến việc xây dựng quan hệ công cộng tốt đẹp giữa thơng nhân ĐàiLoan với chính quyền địa phơng
Ngày 5/3/1994, để bảo hộ và khuyến khích đầu t của Đài Loan, Uỷ banthờng vụ Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc đã thông qua “Luật bảo hộ đầu
t cho đồng bào Đài Loan của nớc cộng hòa nhân dân Trung Hoa” Luật bảo hộnày quy định: Nhà nớc bảo hộ t sản, tài sản, lợi ích đầu t, quyền lợi kế thừa,chuyển nhợng và các quyền lợi hợp pháp khác theo quy định của pháp luậtcho các nhà đầu t Đài Loan Các nhà đầu t Đài Loan có thể lấy tự do trao đổitiền tệ, thiết bị máy móc hoặc các vật dụng khác, để đầu t Các nhà đầu t ĐàiLoan theo pháp luật thu đợc lợi nhuận đầu t, lợi nhuận hợp pháp khác và tiềnsau khi kết toán, có thể chuyển về Đài Loan hoặc chuyển ra nớc ngoài
III.2.2 Chính sách đầu t của Đài Loan đối với Trung Quốc
Tháng 7/1988, Quốc Dân Đảng đã chế định “Chính sách Đại Lục giai
đoạn hiện nay”, có lựa chọn mở cửa nhập khẩu nguyên liệu nông công nghiệp
từ Trung Quốc đại lục, cho phép thơng nhân Đài Loan tiến hành mậu dịch và
đầu t gián tiếp với Trung Quốc đại lục
Nửa cuối năm 1990, chính quyền Đài Loan đã chế định “Biện pháp quản
lý hàng hóa xuất khẩu gián tiếp đối với khu vực Đại Lục”, nội dung chủ yếucủa nó là:
a Thơng nhân Đài Loan xuất khẩu hàng sang Trung Quốc đại lục,hạn chế ở phơng thức gián tiếp, bên mua phải là ngoài Đại lục hơn nữa đợcchính quyền Đài Loan liệt vào danh sách các doanh thơng của quốc gia hoặckhu vực đợc phép trực tiếp xuất khẩu
Trang 11b Thơng nhân Đài Loan xuất khẩu hàng hóa sang Trung Quốc, dựatheo quy định ký duyệt xuất khẩu hàng hóa nói chung để thực hiện Nhng nếuhàng hóa thuộc loại miễn cấp phát giấy phép vẫn phải đến ngân hàng đợc ủyquyền cấp giấy thông hành xuất khẩu làm thủ tục xin giấy thông hành Hànghóa xuất khẩu sang Đại lục nằm trong khu gia công xuất khẩu và khu vờnkhoa học, thì nên đến nơi quản lý của khu vực đó xin phép.
c Đối với hàng hóa xuất khẩu sang Đại lục, những hàng hóa xuấtkhẩu đó cần phải viết rõ hai chữ “Đại lục”
d Hàng hóa xuất khẩu sang Đại lục, chỉ hạn chế ở những loại không
ảnh hởng đến an toàn hoặc phát triển kinh tế của Đài Loan
Đến tháng 10/1990, chính quyền Đài Loan lại công bố “Biện pháp quản
lý hoạt động đầu t gián tiếp hoặc hợp tác kỹ thuật đối với khu vực Đại lục”,nội dung chủ yếu của nó là:
a Lấy phơng thức “Bảng biểu chính diện”, quy định rõ không chophép đầu t trực tiếp, đầu t gián tiếp áp dụng chế độ giấy phép
b Quy định đầu t gián tiếp có thể tiến hành dới hai hình thức sau:một là, nhân dân Đài Loan, pháp nhân, đoàn thể hoặc cơ quan khác có thểthông qua một công ty nớc ngoài hoặc đơn vị sự nghiệp khác ở Trung Quốc
đại lục tiến hành hoạt động đầu t hoặc hợp tác kỹ thuật; hai là, nhân dân ĐàiLoan, pháp nhân, đoàn thể hoặc cơ quan khác có thể tiến hành hoạt động đầu
t hoặc hợp tác kỹ thuật với công ty Đại lục hoặc đơn vị sự nghiệp của TrungQuốc ở hải ngoại
c Danh sách các ngành sản nghiệp hoặc hạng mục sản phẩm đếnTrung Quốc đầu t phải do Bộ Kinh tế Đài Loan công bố, để không ảnh hởng
đến sự an toàn và phát triển kinh tế của Đài Loan làm nguyên tắc
d Trình tự xin phép là: kim ngạch đầu t dới 1 triệu USD có thể tiếnhành đầu t sau nửa năm rồi báo cáo với Bộ Kinh tế Đài Loan, nhng đầu t trên
1 triệu USD thì trớc khi tiến hành đầu t phải xin giấy phép từ Bộ Kinh tế ĐàiLoan
e Nguyên tắc cơ bản mở cửa đầu t gián tiếp vào đại lục là, các sảnnghiệp không ảnh hởng đến sự an toàn của Đài Loan; không thuộc loại quản
lý xuất khẩu các hạng mục kỹ thuật cao; những kỹ thuật không phải là do
Trang 12ngân sách tài chính chính phủ hỗ trợ nghiên cứu; những hạng mục không tác
động đến sản xuất kinh tế Đài Loan
Theo quy định trên, chính quyền Đài Loan đã liệt ra 14 hạng mục sảnnghiệp cấm đầu t hoặc hợp tác kỹ thuật với Trung Quốc đại lục, và công bố3.353 hạng mục sản phẩm có thể đến Trung Quốc đại lục đầu t, những hạngmục này về cơ bản đều thuộc loại sản nghiệp đã mất tính cạnh tranh trên đảo
và tập trung nhiều sức lao động, gây ô nhiễm môi trờng cao nh: ngành dệtmay, ngành da giầy, ngành thực phẩm, ngành chế tạo sản phẩm cao su, điệngia dụng, v.v
Cùng với quy mô kinh tế mậu dịch hai bờ không ngừng tăng trởng, vàmức độ phụ thuộc của nền kinh tế Đài Loan vào Trung Quốc nâng cao, chínhquyền Đài Loan trong những năm gần đây đã mở rộng những hạn chế về đầu
t và mậu dịch đối với Trung Quốc đại lục, cho phép các sản phẩm nhập khẩu
từ Trung Quốc đại lục lên đến 4.502 hạng mục, và mở rộng các hạng mục sảnphẩm đợc phép sang Trung Quốc đầu t đã tăng lên 4.895 hạng mục Tháng3/1996, Bộ Kinh tế Đài Loan đã công bố Sách trắng về kinh tế mậu dịch hai
bờ Đối với vấn đề thơng nhân Đài Loan đầu t vào Trung Quốc đại lục, sáchtrắng đã tiếp tục nới lỏng những hạn chế về đầu t hơn trớc
Năm 1997, chính quyền Đài Loan lại theo đuổi chính sách “giới cấpdụng nhẫn” (không nóng vội hãy nhẫn nại), vào ngày 15/7 thực hiện chế địnhlại “Biện pháp thẩm tra doanh nghiệp đầu t vào Trung Quốc đại lục”, nghiêmcấm thơng nhân Đài Loan đầu t vào Trung Quốc đại lục các hạng mục nh xâydựng cơ sở hạ tầng, bất động sản và ngành bảo hiểm, v.v , hạn chế kim ngạchcác hạng mục đầu t đơn lẻ không đợc vợt quá 50 triệu USD, đối với nhữngdoanh nghiệp đã niêm yết cổ phiếu trên thị trờng chứng khoán Đài Loan đếnTrung Quốc đại lục đầu t thì thi hành “Chế độ tỉ lệ nghịch kim ngạch đầu t”,tức là những doanh nghiệp nào có tài sản tịnh càng lớn, sang Trung Quốc đầu
t tỉ lệ kim ngạch tích lũy càng thấp Đồng thời yêu cầu các doanh nghiệp ĐàiLoan khi sang Trung Quốc đầu t thì phải đăng ký với chính quyền Đài Loannếu không khi bị kiểm tra sẽ bị phạt từ 1 đến 5 triệu Đài tệ Hơn nữa, chínhquyền Đài Loan công khai cấm các doanh nghiệp lớn của Đài Loan nh Taisu,Tongyi, v.v có những dự án đầu t lớn ở Trung Quốc đại lục
Nh vậy, từ diễn biến sự phát triển của chính sách trao đổi thơng mại giữahai bờ trong những năm qua có thể thấy, Trung Quốc đại lục luôn có thái độhoan nghênh, tích cực chủ động đối với các thơng nhân Đài Loan đến đầu t và
Trang 13làm mọi việc để thúc đẩy quan hệ hợp tác đầu t giữa hai bờ Còn chính quyền
Đài Loan thì lại có thái độ hạn chế quan hệ này phát triển, nên quan hệ giao lugiữa hai bờ vẫn còn gặp nhiều vật cản về mặt chính sách Đến nay, quan hệhợp tác đầu t của hai bờ vẫn phải thông qua mảnh đất thứ ba để gián tiếp tiếnhành, quan hệ này cũng vẫn ở vào trạng thái gián tiếp đơn tính Về các lĩnhvực đầu t cũng chịu nhiều hạn chế của chính quyền Đài Loan, hai bờ vẫn chahình thành nên mối quan hệ hợp tác đầu t bình thờng
III.3 Đặc điểm đầu t của thơng nhân Đài Loan
Theo thống kê của Trung Quốc đại lục, tính đến cuối năm 2001 về lĩnh vực
đầu t, thơng nhân Đài Loan đã đầu t ở Trung Quốc đại lục trên 50.000 dự án đầu
t, với vốn pháp định vợt quá 50 tỷ USD, và vốn thực tế đạt gần 30 tỷ USD Trong
số tất cả các công ty của Đài Loan, ớc khoảng một nửa đã có đầu t ở TrungQuốc, và trên 40% dự án đầu t đã thu lợi nhuận Đài Loan đã trở thành nhà đầu tlớn thứ t của Trung Quốc đại lục, chỉ sau Hồng Kông, Mỹ và Nhật Bản.4 Các th-
ơng nhân Đài Loan đầu t ở Trung Quốc đại lục về kết cấu sản nghiệp, quy mô
đầu t, khu vực phân bố và hình thức đầu t đã biểu hiện những đặc điểm nổi bật,trong phần này đề tài sẽ tập trung trình bầy và phân tích những đặc điểm đónhằm thể hiện một cách toàn diện về hiện trạng đầu t của thơng nhân Đài Loantại Trung Quốc đại lục
III.3.1 Kết cấu sản nghiệp đầu t
Trong giai đoạn đầu thơng nhân Đài Loan đầu t vào Đại lục, mặc dù cácngành sản nghiệp liên quan tơng đối rộng lớn, nhng phần lớn đều là các sảnnghiệp truyền thống có hàm lợng kỹ thuật thấp, giá trị hạn chế, nh ngành sảnxuất giầy, may mặc, đồ chơi… đa số thuộc các ngành sản nghiệp chế biến tậptrung nhiều sức lao động Cùng với sự phát triển của quá trình đầu t của thơngnhân Đài Loan, loại hình đầu t của thơng nhân Đài Loan đã phát triển đến cácloại hình nh lợi dụng môi trờng, khai khẩn đất đai, chiếm hữu thị trờng, khaithác tài nguyên thiên nhiên và loại hình hợp tác kỹ thuật Các lĩnh vực đầu tcủa thơng nhân Đài Loan ngoài những lĩnh vực đầu t sản xuất ra còn mở rộng
đầu t ra các loại hình sản nghiệp thứ ba nh vui chơi giải trí, thơng nghiệp, bất
động sản, dịch vụ tiền tệ… và bắt đầu lan sang các lĩnh vực xây dựng cơ sở hạ
4 Ngô Hiến Bân, Xu thế phát triển của quan hệ thơng mại hai bờ, “Tạp chí Châu á đơng đại”, Số
1/2003, tr 38.