1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

phân tích hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp

80 299 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 80
Dung lượng 1,24 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong điều kiện kinh doanh theo cơ chế thị trường có sự quản lý vĩ mô của nhà nước, các doanh nghiệp thuộc các loại hình sở hữu khác nhau đều bình đẳng trước pháp luật trong kinh doanh do đó có nhiều đối tượng quan tâm đến tình hình hoạt động của dn như chủ dn , nhà cho vay, nhà cung cấp, khách hàng, nhà bảo hiểm...kể cả các cơ quan chính phủ và những người lao động. Mỗi đối tượng quan tâm đến tình hình hoạt động của dn với một góc độ khác nhau. Đối với chủ ngân hàng và các nhà cho vay tín dụng, mối quan tâm chủ yếu của họ là khả năng trả nợ hiện tại và sắp tới của dn. Đối với nhà đầu tư mối quan tâm của họ là các yếu tố rủi ro, thời gian hoàn vốn, mức sinh lãi và khả năng thanh toán vốn. Các cổ đông mối quan tâm hàng đầu của họ là lợi nhuận và khả năng tài trợ do đó cần đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nơi họ có phần vốn góp của mình. Sở giao dịch chứng khoán hay ủy ban chứng khoán nhà nước cần phân tích hoạt động của doanh nghiệp trước khi cho phép phát hành cổ phiếu hay trái phiếu. Các cơ quan khác như thuế, thống kê, cơ quan quản lý cấp trên và các công ty phân tích chuyên nghiệp cần đánh giá đúng thực trạng tài chính của doanh nghiệp, tình hình thực hiện nghĩa vụ đối với nhà nước, những đóng góp hoặc tác động của doanh nghiệp đến tình hình chính sách kinh tế tài chính xã hội ...nhìn chung họ đều quan tâm đến khả năng tạo ra dòng tiền mặt, khả năng sinh lời, khả năng thanh toán và mức sinh lời tối đa. Đối với nhà quản trị doanh nghiệp, phân tích tình hình hoạt động của doanh nghiệp nhằm giúp doanh nghiệp tự đánh giá mình về thế mạnh, thế yếu để củng cố, phát huy hay khắc phục, cải tiến quản lý, phát huy mọi tiềm năng thị trường, khai thác tối đa những nguồn lực của doanh nghiệp nhằm đạt đến hiệu quả cao nhất trong kinh doanh. Kết quả của phân tích là cơ sở để ra các quyết định quản trị ngắn hạn và dài hạn, giúp dự báo, đề phòng và hạn chế những rủi ro bất định trong kinh doanh. Các báo cáo kế toán, báo cáo tài chính phản ánh một cách tổng hợp toàn diện tình hình tài sản, nguồn vốn công nợ, kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong một niên độ kế toán, song những thông tin riêng biệt đó chưa thể hiện được nhiều ý nghĩa và chưa thể hiện hết các yêu cầu, nội dung mà người sử dụng thông tin quan tâm do đó họ thường dùng các công cụ và kỹ thuật cơ bản để phân tích tình hình hoạt động của doanh nghiệp, để thuyết minh các mối quan hệ chủ yếu trong báo cáo tài chính nhằm nghiên cứu tình hình hoạt động hiện tại từ đó đưa ra những quyết định trong tương lai.

Trang 1

PHẦN I

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG

TRONG DOANH NGHIỆP

I Quan điểm về hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp

1 Các khái niệm

Hiệu quả là một phạm trù thể hiện mối quan hệ giữa kết quả đầu ra với chi phíhoặc giá trị của các yếu tố đầu vào và được xem xét một cách tổng thể bao gồm nhiềuhoạt động Hiệu quả phản ánh trình độ sử dụng chi phí nguồn lực đầu vào thấp nhất đểđạt được kết quả đầu ra cao nhất

Chi phí (hoặc giá trị của các yếu tố đầu vào)Trong đó: “kết quả” bao gồm các chỉ tiêu phản ánh kết quả hoạt động kinh doanhcủa một kỳ như: doanh thu, lợi nhuận… “yếu tố đầu vào” sẽ bao gồm các yếu tố phảnánh các nguồn lực mà doanh nghiệp đã huy động như vốn chủ sở hữu, các nguồn tàitrợ khác, tài sản, các loại tài sản…chi phí bao gồm chi phí sản xuất kinh doanh hoặcchi phí về các yếu tố sản xuất khác…

Hiệu quả kinh tế

Hiệu quả về mặt kinh tế phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực để đạt được cácmục tiêu kinh tế ở một thời kỳ nào đó Hiệu quả kinh tế có thể hiểu là hệ số giữa kếtquả thu về với chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó, và nó phản ánh trình độ sử dụngcác nguồn lực tham gia vào quá trình kinh doanh

Tóm lại, hiệu quả kinh tế phản ánh đồng thời các mặt của quá trình sản xuất kinhdoanh như: kết quả kinh doanh, trình độ sản xuất, tổ chức sản xuất và quản lý, trình độ

sử dụng các yếu tố đầu vào…đồng thời nó yêu cầu doanh nghiệp phải phát triển theochiều sâu Nó là thước đo ngày càng trở nên quan trọng của sự tăng trưởng kinh tế và

là chỗ dựa cơ bản để đánh giá việc thực hiện mục tiêu kinh tế của doanh nghiệp trongtừng thời kỳ

Hiệu quả xã hội

Hiệu quả xã hội phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực sản xuất nhằm đạt đượcnhững mục tiêu xã hội nhất định: việc làm, mức tăng về gdp do tác động của dự án, sựcông bằng xã hội, sự tự lập của cộng đồng và sự được bảo vệ hoặc sự hoàn thiện hơncủa môi trường sinh thái Nếu đứng trên phạm vi toàn xã hội và nền kinh tế quốc dânthì hiệu quả xã hội là chỉ tiêu phản ánh ảnh hưởng của hoạt động kinh doanh đối vớiviệc giải quyết những yêu cầu và mục tiêu chung của toàn bộ nền kinh tế xã hội

Hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội có mối quan hệ mật thiết với nhau, chúng làtiền đề của nhau và là phạm trù thống nhất Việc phân biệt hiệu quả kinh tế hay hiệuquả xã hội là tuỳ theo phạm vi và mức độ của sự phân tích là của cá nhân hay cả xã hội

khi xem xét Hiệu quả kinh tế được phân tích trên quan điểm lợi ích cá nhân của từng

người đầu tư, nhà quản lí doanh nghiệp, người cho vay…chỉ tính toán những lời lãi

thông thường trong phạm vi tài chính Hiệu quả xã hội thì được phân tích trên lợi ích

của toàn xã hội để xem xét sự phát triển chung của xã hội như mức tăng trưởng, sựcông bằng xã hội và sự phát triển cộng đồng vv Vì vậy, tuỳ theo phạm vi xem xét làcủa cá nhân hay toàn xã hội mà có hiệu quả kinh tế hay hiệu quả xã hội

Nếu xem xét vấn đề hiệu quả trong phạm vi các doanh nghiệp thì hiệu quả kinh tếchính là hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp

Trang 2

Hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp được xem xét một cách tổng thể bao gồm

hoạt động kinh doanh và hoạt động tài chính Hoạt động kinh doanh và hoạt động tàichính có mối quan hệ qua lại do đó khi phân tích hiệu quả hoạt động cần phải xem xéthiệu quả của hai hoạt động này bởi lẽ một doanh nghiệp có thể có hiệu quả kinh doanhnhưng không có hiệu quả tài chính hoặc hiệu quả tài chính thấp do chính sách tài trợkhông phù hợp với tình hình chung của doanh nghiệp

Hiệu quả kinh doanh là một phạm trù kinh tế, phản ánh trình độ sử dụng các

nguồn lực sẵn có của doanh nghiệp để đạt được kết quả cao nhất với chi phí bỏ ra thấpnhất Hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp không chỉ được xem xét một cách tổnghợp mà còn được nghiên cứu trên cơ sở các yếu tố thành phần của nó, đó là hiệu quả

cá biệt

Hiệu quả tài chính thường được các nhà đầu tư quan tâm, một doanh nghiệp có

hiệu quả tài chính cao thì sẽ có điều kiện tăng trưởng Để phát triển doanh nghiệp phảiđầu tư và sự đầu tư luôn cần các nguồn vốn Có hai nguồn vốn chính là vốn chủ sở hữu

và vốn vay Việc huy động vốn sẽ dễ dàng nếu có những chứng cứ về khả năng tạo racác khoản lãi cao Hơn nữa nếu tỉ lệ này cao người chủ sở hữu dễ dàng chấp nhận đểlại phần lớn lợi nhuận vào việc đầu tư, và như vậy doanh nghiệp có điều kiện bổ sungthêm các phương tiện kinh doanh Do vậy hiệu quả tài chính là mục tiêu chủ yếu củacác nhà quản trị, các nhà lãnh đạo, nhất là trong trường hợp họ cũng là người chủ và

có vốn đầu tư

Sự tồn tại hiệu quả tài chính sẽ đảm bảo an toàn trong một môi trường tài chính,đặc biệt đối với người cho vay vì lợi nhuận đối với họ là một giao ước, một đảm bảođối với sự thay đổi của những điều kiện hiệu quả

Nghiên cứu hiệu quả tài chính nhằm đánh giá sự tăng trưởng tài sản của doanhnghiệp so với tổng tài sản mà doanh nghiệp hiện có, đó là khả năng sinh lời của nguồnvốn chủ sở hữu

2 Ý nghĩa của việc phân tích hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp

Trong điều kiện kinh doanh theo cơ chế thị trường có sự quản lý vĩ mô của nhànước, các doanh nghiệp thuộc các loại hình sở hữu khác nhau đều bình đẳng trướcpháp luật trong kinh doanh do đó có nhiều đối tượng quan tâm đến tình hình hoạt độngcủa dn như chủ dn , nhà cho vay, nhà cung cấp, khách hàng, nhà bảo hiểm kể cả các

cơ quan chính phủ và những người lao động Mỗi đối tượng quan tâm đến tình hìnhhoạt động của dn với một góc độ khác nhau

Đối với chủ ngân hàng và các nhà cho vay tín dụng, mối quan tâm chủ yếu của họ

là khả năng trả nợ hiện tại và sắp tới của dn Đối với nhà đầu tư mối quan tâm của họ làcác yếu tố rủi ro, thời gian hoàn vốn, mức sinh lãi và khả năng thanh toán vốn Các cổđông mối quan tâm hàng đầu của họ là lợi nhuận và khả năng tài trợ do đó cần đánh giáhiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nơi họ có phần vốn góp của mình Sởgiao dịch chứng khoán hay ủy ban chứng khoán nhà nước cần phân tích hoạt động củadoanh nghiệp trước khi cho phép phát hành cổ phiếu hay trái phiếu Các cơ quan khácnhư thuế, thống kê, cơ quan quản lý cấp trên và các công ty phân tích chuyên nghiệp cầnđánh giá đúng thực trạng tài chính của doanh nghiệp, tình hình thực hiện nghĩa vụ đốivới nhà nước, những đóng góp hoặc tác động của doanh nghiệp đến tình hình chính sáchkinh tế tài chính xã hội nhìn chung họ đều quan tâm đến khả năng tạo ra dòng tiềnmặt, khả năng sinh lời, khả năng thanh toán và mức sinh lời tối đa

Đối với nhà quản trị doanh nghiệp, phân tích tình hình hoạt động của doanhnghiệp nhằm giúp doanh nghiệp tự đánh giá mình về thế mạnh, thế yếu để củng cố,

Trang 3

phát huy hay khắc phục, cải tiến quản lý, phát huy mọi tiềm năng thị trường, khai tháctối đa những nguồn lực của doanh nghiệp nhằm đạt đến hiệu quả cao nhất trong kinhdoanh Kết quả của phân tích là cơ sở để ra các quyết định quản trị ngắn hạn và dàihạn, giúp dự báo, đề phòng và hạn chế những rủi ro bất định trong kinh doanh

Các báo cáo kế toán, báo cáo tài chính phản ánh một cách tổng hợp toàn diện tìnhhình tài sản, nguồn vốn công nợ, kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trongmột niên độ kế toán, song những thông tin riêng biệt đó chưa thể hiện được nhiều ýnghĩa và chưa thể hiện hết các yêu cầu, nội dung mà người sử dụng thông tin quan tâm

do đó họ thường dùng các công cụ và kỹ thuật cơ bản để phân tích tình hình hoạt độngcủa doanh nghiệp, để thuyết minh các mối quan hệ chủ yếu trong báo cáo tài chínhnhằm nghiên cứu tình hình hoạt động hiện tại từ đó đưa ra những quyết định trongtương lai

II Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp

1 Các nhân tố bên trong

1.1 Nhân tố vốn

Vốn là điều kiện tiên quyết không thể thiếu đối với mỗi doanh nghiệp trong nềnkinh tế thị trường hiện nay Đây là một nhân tố tổng hợp phản ánh sức mạnh củadoanh nghiệp thông qua khối lượng (nguồn) vốn mà doanh nghiệp có thể huy độngvào kinh doanh, khả năng phân phối, đầu tư có hiệu quả các nguồn vốn cũng như khảnăng quản lý các nguồn vốn kinh doanh

Yếu tố vốn là yếu tố chủ chốt quyết định đến quy mô của doanh nghiệp Nó phảnánh sự phát triển của doanh nghiệp và là cơ sở đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanhcủa doanh nghiệp

1.2 Nhân tố con người

Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, lực lượng lao động của doanh nghiệp cóthể sáng tạo ra công nghệ, kỹ thuật mới và đưa chúng vào sử dụng để tạo ra tiềm nănglớn cho việc nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp Cũng chính lực lượng laođộng sáng tạo ra những sản phẩm mới với kiểu dáng phù hợp với cầu của người tiêudùng, làm cho sản phẩm dịch vụ của doanh nghiệp có thể bán được tạo cơ sở nâng caohiệu quả kinh doanh Lực lượng lao động tác động trực tiếp đến năng suất lao động,đến trình độ sử dụng các nguồn lực khác (máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu …) nêntác động trực tiếp đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp

Ngày nay sự phát triển của khoa học kỹ thuật đã thúc đẩy sự phát triển của nềnkinh tế tri thức Đặc trưng cơ bản của nền kinh tế tri thức là hàm lượng khoa họccông nghệ kết tinh trong sản phẩm (dịch vụ) rất cao Đòi hỏi lực lượng lao động phải

là lực lượng có trình độ khoa học kỹ thuật cao, điều này khẳng định vai trò ngày càngquan trọng của lực lượng lao động đối với việc nâng cao hiệu quả hoạt động củadoanh nghiệp

1.3 Nhân tố trình độ kỹ thuật công nghệ

Công cụ lao động là phương tiện mà con người sử dụng để tác động vào đốitượng lao động Quá trình phát triển sản xuất luôn gắn liền với quá trình phát triển củacông cụ lao động, tăng năng suất lao động, tăng sản lượng, chất lượng sản phẩm và hạgiá thành Như thế, cơ sở vật chất kỹ thuật là nhân tố hết sức quan trọng tạo ra tiềmnăng năng suất, chất lượng và tăng hiệu quả kinh doanh Chất lượng hoạt động củadoanh nghiệp chịu tác động mạnh mẽ của trình độ kỹ thuật, tính đồng bộ của máy mócthiết bị, chất lượng của công tác bảo dưỡng, sửa chữa máy móc

Trang 4

1.4 Nhân tố quản trị doanh nghiệp

Nhân tố quản trị doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng đối với hoạt động sản xuấtkinh doanh của doanh nghiệp Quản trị doanh nghiệp chú trọng đến việc xác định chodoanh nghiệp một hướng đi đúng dắn trong môi trường kinh doanh ngày càng biếnđộng Định hướng đúng là cơ sở để đảm bảo hiệu quả lâu dài của doanh nghiệp

Muốn tồn tại và phát triển doanh nghiệp phải chiến thắng trong cạnh tranh, các lợithế về chất lượng và sự khác biệt hóa sản phẩm, giá cả và tốc độ cung ứng để đảmbảo cho một doanh nghiệp giành chiến thắng trong cạnh tranh phụ thuộc vào nhãnquan và khả năng quản trị của các nhà quản trị doanh nghiệp

Đội ngũ quản trị mà đặc biệt là các nhà quản trị cao cấp lãnh đạo doanh nghiệpbằng phẩm chất và tài năng của mình có vai trò quan trọng, có tính chất quyết định đến

sự thành đạt của doanh nghiệp Kết quả và hiệu quả hoạt động của quản trị doanhnghiệp đều phụ thuộc rất lớn vào trình độ chuyên môn của đội ngũ các nhà quản trịcũng như cơ cấu tổ chức bộ máy quản trị doanh nghiệp, việc xác định chức năng,nhiệm vụ, quyền hạn của từng bộ phận, cá nhân và thiết lập các mối quan hệ giữa các

bộ phận trong cơ cấu tổ chức đó

2 Các nhân tố thuộc môi trường bên ngoài

2.1 Các nhân tố ảnh hưởng thuộc môi trường kinh doanh

Đối thủ cạnh tranh

Bao gồm các đối thủ cạnh tranh sơ cấp (cùng tiêu thụ các sản phẩm đồng nhất) vàcác đối thủ cạnh tranh thứ cấp (sản xuất và tiêu thụ những sản phẩm có khả năng thaythế) Nếu doanh nghiệp có đối thủ cạnh tranh mạnh thì việc nâng cao hiệu quả kinhdoanh sẽ trở nên khó khăn hơn nhiều Bởi vì doanh nghiệp lúc này có thể nâng caohiệu quả kinh doanh bằng cách nâng cao chất lượng, giảm giá thành sản phẩm để đẩymạnh tốc độ tiêu thụ, tăng doanh thu, tăng vòng quay vốn, yêu cầu doanh nghiệp phải

tổ chức lại bộ máy hoạt động tối ưu hơn, hiệu quả cao hơn để tạo khả năng cạnh tranh

về giá cả, chất lượng, mẫu mã… như vậy đối thủ cạnh tranh có ảnh hưởng rất lớn đếnviệc nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp đồng thời tạo ra sự tiến bộ trongkinh doanh, tạo ra động lực phát triển của doanh nghiệp Việc xuất hiện càng nhiều đốithủ cạnh tranh thì việc nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp sẽ càng khókhăn và sẽ bị giảm một cách tương đối

Thị trường

Nhân tố thị trường ở đây bao gồm cả thị trường đầu vào và thị trường đầu ra củadoanh nghiệp Nó là yếu tố quyết định quá trình tái sản xuất mở rộng của doanhnghiệp Đối với thị trường đầu vào: cung cấp các yếu tố cho quá trình sản xuất nhưnguyên vật liệu, máy móc thiết bị… cho nên nó tác động trực tiếp đến giá thành sảnphẩm, tính liên tục và hiệu quả của quá trình sản xuất Còn đối với thị trường đầu raquyết định doanh thu của doanh nghiệp trên cơ sở chấp nhận hàng hóa, dịch vụ củadoanh nghiệp, thị trường đầu ra sẽ quyết định tốc độ tiêu thụ, tạo vòng quay vốn nhanhhay chậm từ đó tác động đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp

Khách hàng

Khách hàng là đối tượng mà doanh nghiệp muốn hướng tới, mọi sự thay đổi nhucầu và quyết định mua hàng đều ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp

2.2 Nhân tố môi trường tự nhiên

Nhân tố này có thể được coi là nhân tố bất khả kháng như thiên tai, dịch hoạ…cótác động trực tiếp lên hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Mức độ tổn

Trang 5

hại về lâu dài hay tức thời là hoàn toàn không thể biết trước được, chỉ có thể dự phòngtrước nhằm giảm nhẹ mà thôi.

2.3 Môi trường chính trị-pháp luật

Môi trường pháp lý bao gồm luật, các văn bản dưới luật,… mọi quy định phápluật về kinh doanh đều tác động trực tiếp kết kết quả và hiệu quả kinh doanh củadoanh nghiệp Môi trường pháp lý đảm bảo tính bình đẳng của mọi loại hình doanhnghiệp cùng hoạt động kinh doanh, cạnh tranh nhau một cách lành mạnh, mỗi doanhnghiệp đều phải chú ý phát triển nội lực, ứng dụng thành tựu khoa học kỹ thuật vàkhoa học quản trị tiên tiến nhằm phát triển kinh doanh của mình

Các yếu tố thuộc môi trường chính trị - pháp luật chi phối mạnh mẽ đến hoạtđộng kinh doanh của doanh nghiệp Sự ổn định chính trị được coi là một tiền đề quantrọng cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Sự thay đổi của môi trường chínhtrị có thể ảnh hưởng có lợi cho một nhóm doanh nghiệp này nhưng lại kìm hãm sựphát triển của nhóm doanh nghiệp khác hoặc ngược lại Mức độ hoàn thiện, sự thayđổi và thực thi pháp luật trong nền kinh tế có ảnh hưởng lớn đến việc hoạch định và tổchức thực hiện chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp

Tóm lại, môi trường chính trị - pháp luật có ảnh hưởng rất lớn đến việc nâng caohiệu quả kinh doanh bằng cách tác động đến hoạt động của doanh nghiệp thông qua hệthống công cụ luật pháp, công cụ vĩ mô…

III Nguồn thông tin sử dụng

1 Thông tin từ hệ thống kế toán:

Phân tích hiệu quả hoạt động dựa trên nền tảng thông tin căn bản là các báo cáotài chính Các báo cáo tài chính phục vụ cho việc xem xét, đánh giá định kỳ về hoạtđộng của doanh nghiệp nhằm cung cấp thông tin hữu ích về một doanh nghiệp cho cácnhà đầu tư, người cho vay cũng như các bên hữu quan khác Hệ thống báo cáo kế toánnước ta bao gồm: bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, báo cáolưu chuyển tiền tệ, và thuyết minh báo cáo tài chính

- Bảng cân đối kế toán: là báo cáo tổng hợp cho biết tình hình tài chính của đơn

vị tại những thời điểm nhất định dưới hình thái tiền tệ Đây là một báo cáo tài chính có

ý nghĩa rất quan trọng đối với mọi đối tượng có quan hệ sở hữu, quan hệ kinh doanhvới dn, giúp cho nhà phân tích nghiên cứu đánh giá một cách khái quát tình hình và kếtquả kinh doanh, khả năng cân bằng tài chính, trình độ sử dụng vốn và những triểnvọng kinh tế, tài chính của dn

- Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh: là báo cáo tài chính tổng hợp cho biết

tình hình tài chính của dn trong từng thời kỳ nhất định, phản ánh tóm lược các khoảnthu, chi phí, kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của toàn doanh nghiệp, kết quảhoạt động sản xuất kinh doanh ttheo từng hoạt động kinh doanh (sản xuất kinh doanh,đầu tư tài chính, hoạt động bất thường) Bên cạnh đó, báo cáo kết quả hoạt động kinhdoanh còn cho biết tình hình thực hiện nghĩa vụ với nhà nước của dn trong thời kỳ đó.Dựa vào số liệu trên báo cáo kết quả kinh doanh, người sử dụng thông tin có thể kiểmtra, phân tích, đánh giá kết quả hoạt động kinh doanh của dn trong kỳ, so sánh với kỳtrước và với doanh nghiệp khác để nhận biết khái quát hoạt động trong kỳ và xu hướngvận động

- Thuyết minh báo cáo tài chính: nhằm cung cấp các thông tin về tình hình sản

xuất kinh doanh chưa có trong hệ thống các báo cáo tài chính, đồng thời giải thích một

số chỉ tiêu mà trong các báo cáo tài chính chưa được trình bày, giải thích thêm mộtcách cụ thể, rõ ràng

Trang 6

Các báo cáo tài chính trong doanh nghiệp có mối quan hệ mật thiết với nhau, mỗi

sự thay đổi của một chỉ tiêu trong báo cáo này trực tiếp hay gián tiếp ảnh hưởng đếncác báo cáo kia, trình tự đọc hiểu được các báo cáo tài chính, qua đó họ nhận biết được

và tập trung vào các chỉ tiêu tài chính liên quan trực tiếp tới mục tiêu phân tích củahọ

2 Các nguồn thông tin khác

2.1 Thông tin liên quan đến tình hình kinh tế

Hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp chịu tác động bởi nhiều nhân tố thuộcmôi trường vĩ mô nên phân tích tài chính cần phải đặt trong bối cảnh chung của kinh tếtrong nước và các nền kinh tế trong khu vực Kết hợp những thông tin này sẽ đánh giáđầy đủ hơn tình hình tài chính và dự báo những nguy cơ, cơ hội đối với hoạt động củadoanh nghiệp Những thông tin cần quan tâm bao gồm: thông tin về tăng trưởng, suythoái kinh tế, về lãi suất ngân hàng, về tỉ lệ lạm phát…

2.2 Thông tin theo ngành

Ngoài những thông tin về môi trường vĩ mô, những thông tin liên quan đếnngành, lĩnh vực kinh doanh cũng cần được chú trọng đó là: mức độ và yêu cầu côngnghệ của ngành, mức độ cạnh tranh và quy mô của thị trường, nhịp độ và xu hướngvận động của ngành, nguy cơ xuất hiện những đối thủ cạnh tranh tiềm tàng

IV Nội dung phân tích hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp

1 Phân tích hiệu quả kinh doanh

1.1 Phân tích hiệu quả kinh doanh cá biệt

Hiệu quả kinh doanh cá biệt là hiệu quả kinh doanh được tạo thành dựa trên việc

sử dụng một nguồn lực nào đó.Để có thể xem xét đánh giá một cách chính xác hiệuquả kinh doanh cá biệt, người ta xây dựng các chỉ tiêu chi tiết cho từng yếu tố của quátrình sản xuất kinh doanh trên cơ sở so sánh từng loại phương tiện, từng nguồn lực vớikết quả đạt được Thông thường, ta sử dụng các chỉ tiêu sau:

1.1.1 Hiệu suất sử dụng tài sản

Hts = Tổng doanh thu

Tổng tài sản bình quânChỉ tiêu hiệu suất sử dụng tài sản thể hiện một đồng tài sản đầu tư tại doanhnghiệp sẽ tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu Giá trị chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ hiệuquả sử dụng tài sản của doanh nghiệp càng lớn, khả năng tạo ra và cung cấp của cảicho xã hội càng cao và do đó hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp cũng sẽ lớn

1.1.2 Hiệu suất sử dụng tài sản cố định

Tài sản cố định đóng vai trò quan trọng trong suốt quá trình hoạt động kinh doanhcủa doanh nghiệp Việc tính toán chỉ tiêu này là hết sức cần thiết nhằm đánh giá vàxem xét nâng cao hiệu suất sử dụng TSCĐ Hiệu suất sử dụng tài sản cố định đượctính theo công thức:

Htscđ = Nguyên giá TSCĐ bình quânDoanh thu thuầnChỉ tiêu này phản ánh một đồng nguyên giá tái sản cố định đem lại bao nhiêu đồngdoanh thu Chỉ tiêu này càng lớn thì hiệu suất sử dụng tài sản cố định càng cao Nếuhiệu suất sử dụng tài sản cố định thấp chứng tỏ doanh nghiệp quản trị tài sản kém, cầnphải phân loại các tài sản cố định để đánh giá hiệu quả sử dụng của từng loại tài sảnnhằm nâng cao hiệu quả sử dụng chúng

Giá trị tài sản cố định được sử dụng trong công thức trên là nguyên giá Bởi vì việctiến hành khấu hao TSCĐ sẽ làm giá trị TSCĐ giảm xuống nhưng năng suất kỹ thuật

Trang 7

thường suy giảm ít hơn và nó còn phụ thuộc vào chính sách khấu hao của doanhnghiệp, nếu các doanh nghiệp khấu hao càng nhanh thì hiệu suất sử dụng TSCĐ sẽcàng lớn từ đó sẽ phản ánh không đúng hiệu suất sử dụng TSCĐ.

1.1.3 Nhóm chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng vốn lưu động

Hiệu quả sử dụng vốn lưu động được đánh giá thông qua các chỉ tiêu:

Số vòng quay vốn lưu động

Vvlđ =

Doanh thu thuần

(vòng)VLĐ bình quân

Chỉ tiêu này cho biết vốn lưu động luân chuyển được bao nhiêu lần trong kỳ Trị giácủa chỉ tiêu này càng lớn chứng tỏ tốc độ luân chuyển của vốn lưu động càng nhanh hayhiệu quả sử dụng vốn lưu động càng tốt Đó là kết quả của việc quản lý vốn hợp lý trongcác khâu dự trữ, tiêu thụ và thanh toán tạo tiền đề cho tình hình tài chính lành mạnh

Hiệu suất sử dụng vốn lưu động có thể được tính cho từng loại tài sản, từng giaiđoạn công việc Hiệu suất này thay đổi không những phụ thuộc vào doanh thu mà cònphụ thuộc nhiều vào sự tăng giảm từng loại tài sản lưu động của doanh nghiệp

Số ngày bình quân một vòng quay

Để phân tích tốc độ luân chuyển của VLĐ qua chỉ tiêu vòng quay VLĐ (KVLĐ), ta

so sánh số vòng quay giữa kỳ phân tích với kỳ gốc

Như vậy đối tượng phân tích trong trường hợp này như sau :

HVLĐ =HVLĐ1 - HVLĐ0Trong đó: HVLĐ1: Số vòng quay VLĐ kỳ phân tích

HVLĐ0: Số vòng quay VLĐ kỳ gốcHai nhân tố ảnh hưởng đến tốc độ luân chuyển của VLĐ lúc này là sự thay đổicủa doanh thu và sự tăng giảm của VLĐ Để làm rõ nguyên nhân của từng nhân tố ta

áp dụng phương pháp thay thế liên hoàn theo công thức sau:

HVLĐ =ADDT + AVLĐTrong đó : ADTT là mức độ ảnh của sự thay đổi doanh thu thuần đến sự tănggiảm hiệu quả sử dụng VLĐ và được tính bằng :

ADTT = VLĐ bình quân kỳ gốcDTT kỳ phân tích - VLĐ bình quân kỳ gốcDTT kỳ gốc

AVLĐ: Là mức độ ảnh hưởng của sự thay đổi VLĐ đến sự tăng giảm hiệu quả sửdụng VLĐ và được tính bằng :

VLĐ bình quân kỳ phân tích VLĐ bình quân kỳ gốc

Để có thể tìm hiểu sâu hơn về hiệu suất sử dụng VLĐ người ta thường đi phântích số vòng quay nợ phải thu và số vòng quay hàng tồn kho, bởi vì giá trị của 2 khoảnmục này thường chiếm tỷ trọng cao trong tổng mục TSLĐ

Số vòng quay cáckhoản phải thu = DTT bán chịu +Thuế GTGT đầu raCác khoản phải thu bình quân

Trang 8

Số vòng quay nợ phải thu cao chứng tỏ tình hình quản lý và thu nợ tốt Nhưng chỉ tiêunày quá cao thì chưa hẳn đã tốt, thể hiện là phương thức bán hàng cứng nhắc, gần như bánhàng thu bằng tiền mặt, nên khó cạnh tranh và mở rộng thị trường Nên tùy vào trường hợp cụthể và sách lược kinh doanh mà vận dụng cho phù hợp chỉ tiêu này.

Số vòng quay của HTK = Giá vốn hàng bán (vòng)

Số dư bình quân HTKChỉ tiêu này nói lên khả năng luân chuyển HTK của doanh nghiệp Trị giá củachỉ tiêu này càng cao thì công việc kinh doanh được đánh giá là có tiến triển, khả nănghoán chuyển loại tài sản này thành tiền cao

1.2 Phân tích hiệu quả kinh doanh tổng hợp

1.2.1 Nhóm chỉ tiêu phân tích khả năng sinh lời từ các hoạt động của doanh nghiệp

Tỉ suất lợi nhuận/doanh thu thuần

Chỉ tiêu này thể hiện mối liên hệ giữa các chỉ tiêu kết quả của doanh nghiệp, một bên làlợi nhuận, một bên là khối lượng cung cấp cho xã hội như giá trị sản xuất, doanh thu Trị giáchỉ tiêu này càng cao chứng tỏ hiệu quả của doanh nghiệp càng lớn Chỉ tiêu này chỉ ra khảnăng quản lí, điều hành công việc kinh doanh có tạo sự thành công toàn diện hay không

Tỉ suất LNTT/DTT = LNTTDTT X 100%

Tỉ suất này nhằm đo lường khả năng sinh lời trên doanh thu của doanh nghiệp, nóphản ánh cứ 100 đồng doanh thu tạo ra thì đạt được bao nhiêu đồng lợi nhuận kế toántrước thuế

Việc so sánh chỉ số này với trung bình ngành hoặc với các doanh nghiệp khác trongcùng ngành sẽ cho thấy được hiệu quả, năng lực cạnh tranh và độ hấp dẫn của doanhnghiệp này so với các doanh nghiệp khác trong cùng ngành Còn nếu so sánh chỉ số nàygiữa các ngành khác nhau thì nó sẽ chỉ ra được ngành hàng kinh doanh nào có tỉ suất lợinhuận cao, điều này rất có ích cho nhà đầu tư trong việc lựa chọn lĩnh vực đầu tư

Khi đánh giá tỉ suất lợi nhuận trên doanh thu cần xem xét đến đặc điểm ngànhnghề kinh doanh, trình độ quản lí chi phí, chính sách khấu hao tscđ trong kỳ, chiếnlược hoạt động và chính sách định giá, mục tiêu thị phần và mục tiêu về lợi nhuận củadoanh nghiệp vì các yếu tố này có ảnh hưởng rất lớn đến khả năng sinh lời của doanhnghiệp

Đối với doanh nghiệp kinh doanh trên nhiều lĩnh vực, và có các đơn vị thành viênthì cần tính toán các chỉ tiêu này theo từng lĩnh vực, từng đơn vị thành viên để đánhgiá cụ thể hơn khả năng sinh lời của doanh nghiệp

Tỉ số này được tính bằng cách lấy tổng lợi nhuận chia cho tổng doanh thu, do đó,lợi nhuận trong công thức này có thể là lợi nhuận trước thuế, lợi nhuận sau thuế hoặclợi nhuận trước thuế và lãi vay Tuy nhiên, do lãi suất thường biến đổi theo thời gian, tỉsuất thuế thu nhập có thể biến đổi và không giống nhau theo từng mặt hàng, từng loạihình kinh doanh cho nên lựa chọn lợi nhuận kế toán trước thuế là hợp lí hơn cả

Tỉ suất LNG/DTT

Trang 9

Chỉ tiêu này được xác định trên cơ sở mối quan hệ giữa lợi nhuận gộp doanh thu,chi phí và lợi nhuận chỉ trong lĩnh vực bán hàng và cung cấp dịch vụ.

Tỉ suất LNG/DTT =

Lợi nhuận gộp

X 100%Doanh thu thuần BH &

CCDV&CCDVThông số này đo lường hiệu quả trong hoạt động bán hàng và cung cấp dịch vụ,cho biết mức sinh lãi của doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ Một công ty cóthông số này cao hơn mức bình quân ngành chứng tỏ họ có nhiều nỗ lực trong cắtgiảm chi phí, nâng cao hiệu quả sử dụng nguyên vật liệu và lao động so với các công

ty khác Đặc biệt thông số này còn phản ánh tính hợp lí trong chính sách định giá của

Doanh thu thuần HĐKD

1.2.2 Phân tích khả năng sinh lợi của tài sản

Tỉ suất sinh lợi của tài sản (ROA)

Tổng tài sản bình quânChỉ tiêu này cho biết 100 đồng tài sản tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận trước thuế.Chỉ tiêu này càng cao phản ánh khả năng sinh lời của tài sản càng lớn

Trong các chỉ tiêu kể trên thì chỉ tiêu tỉ suất sinh lời của tài sản là chỉ tiêu phảnánh tổng hợp nhất Nó thể hiện ảnh hưởng một cách tổng hợp kết quả của các chỉ tiêu

đã nghiên cứu

Tỉ suất sinh lời của tài sản và cách tiếp cận Dupont

Vào năm 1919, công ty dupont bắt đầu sử dụng một cách tiếp cận đặc biệt trongphân tích thông số để đánh giá hiệu quả của công ty

LNTT DT

ROA = x

DT tổng TS bình quân

ROA = tỉ suất LN/DT x Hts

Đo lường hiệu quả chung đo lường khả năng đo lường hiệu quả trong

Về khả năng sinh lợi bằng sinh lợi trên việc sử dụng tài sản

Tài sản hiện có doanh thu để tạo ra doanh thu

Trong chỉ tiêu trên, tỉ suất sinh lời của tài sản là kết quả tổng hợp của những nỗlực nhằm nâng cao hiệu quả cá biệt của các yếu tố sử dụng cho quá trình sản xuất kinhdoanh, là kết quả của những nỗ lực mở rộng thị trường, tăng doanh số, tiết kiệm chiphí Tỉ suất lợi nhuận trên doanh thu hay hiệu suất sử dụng tài sản đều có thể đượcdùng để đánh giá hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp Tuy nhiên, tỉ suất lợi nhuậntrên doanh thu bỏ qua hiệu quả sử dụng tài sản còn hiệu suất sử dụng tài sản thì bỏ quakhả năng sinh lợi trên doanh thu, tỉ suất sinh lời của tài sản giải quyết được nhữngthiếu sót này Công ty sẽ cải thiện được thu nhập trên tổng tài sản (roa) nếu hiệu suất

sử dụng tài sản tăng, tỉ suất lợi nhuận trên doanh thu tăng hoặc cả hai đều tăng Vớicông thức này có thể thấy rằng hai công ty có khả năng sinh lời trên doanh thu và hiệusuất sử dụng tài sản khác nhau có thể tỉ suất sinh lời của tài sản như nhau

Trang 10

Tỉ suất sinh lời kinh tế của tài sản (RE)

Như chúng ta đã biết, lợi nhuận thuần chính là kết quả hoạt động cuối cùng saulãi vay và thuế đã được khấu trừ Do vậy, lợi nhuận thuần bị ảnh hưởng bởi tỉ lệ nợtrong cơ cấu nguồn vốn qua các khoản chi phí lãi vay có liên quan Để loại bỏ ảnhhưởng của cấu trúc tài chính đến chỉ tiêu roa người ta sử dụng lợi nhuận trước thuế vàlãi vay (EBIT) ở công thức trên Từ đó, ta có chỉ tiêu tỉ suất sinh lời kinh tế của tài sản

và được xác định như sau:

RE = Tổng tài sản bình quânEBIT X 100%

RE = LNTT + chi phí lãi vay X 100%

Tổng tài sản bình quânGọi là tỉ suất sinh lời kinh tế của tài sản vì lợi nhuận ở tử số của chỉ tiêu nàykhông quan tâm đến cấu trúc nguồn vốn, nghĩa là không tính đến chi phí lãi vay Tỉsuất này đánh giá khả năng sinh lợi của vốn đầu tư so với chi phí cơ hội khác Áp dụng

tỉ suất này, doanh nghiệp sẽ có quyết định nên huy động từ vốn chủ sở hữu hay huyđộng vốn vay Nếu tỉ suất sinh lời kinh tế của doanh nghiệp lớn hơn lãi suất vay thìdoanh nghiệp nên tiếp nhận các khoản vay và tạo ra phần tích lũy cho người chủ sởhữu và ngược lại Về phía các nhà đầu tư, chỉ tiêu này là căn cứ để xem xét đầu tư vàođâu là có hiệu quả nhất

2 Phân tích hiệu quả tài chính của doanh nghiệp

Hiệu quả tài chính phản ánh trình độ sử dụng vốn của doanh nghiệp để tạo ra thunhập cho cổ đông của mình Để đo lường hiệu quả tài chính, người ta thường sử dụngchỉ tiêu khả năng sinh lời của vốn chủ sở hữu (ROE)

2.1 Khả năng sinh lời vốn chủ

Khả năng sinh lợi vốn chủ sở hữu thể hiện qua mối quan hệ giữa lợi nhuận củadoanh nghiệp với vốn chủ sở hữu, vốn thực có của doanh nghiệp và được xác định quacông thức sau:

Thông thường, một tỉ suất thu nhập trên vốn chủ cao phản ánh công ty đang có cơhội đầu tư lớn và có khả năng quản lí chi phí hiệu quả

Thông số ROE cao thường cho thấy hiệu quả tốt mặc dù điều quan trọng đối vớinhà đầu tư là phải hiểu được nguyên nhân tại sao ROE có xu hướng tăng dần hay giảmdần ROE cao hơn không nhất thiết là một điều mong muốn của cổ đông nếu công typhải chịu một mức rủi ro quá cao khi họ tung sản phẩm ra thị trường hoặc có mức đònbẩy nợ quá cao

2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng sinh lời vốn chủ

Chỉ tiêu tỉ suất sinh lời VCSH chịu sự tác động tổng hợp của nhiều nhân tố Chỉtiêu này phụ thuộc trực tiếp vào các quyết định của các nhà quản lí thông qua cácchính sách khác nhau Tuy nhiên, tùy vào cách tiếp cận hiệu quả tài chính mà có thểđưa ra các nhân tố ảnh hưởng khác nhau Trong đề tài này ta xem xét sự ảnh hưởng

Trang 11

của bốn nhân tố: hiệu quả kinh doanh, đòn bẩy tài chính, khả năng tự chủ về tài chính

và khả năng thanh toán lãi vay

2.2.1 Hiệu quả kinh doanh

Để nhận thấy sự ảnh hưởng của hiệu quả kinh doanh đến tỉ suất sinh lời VCSHchỉ tiêu ROE được chi tiết theo phương trình sau:

HTC = HKD x Tài sản x (1 - T)

VCSH Với T là thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp

HTC là khả năng sinh lời tài chính

HKD là hiệu quả kinh doanh

Công thức trên cho thấy ROE được cấu thành từ các yếu tố đo lường hiệu quảkinh doanh đó là tỉ suất lợi nhuận trên doanh thu và hiệu suất sử dụng tài sản Điều đóchứng minh được rằng hiệu quả kinh doanh ảnh hưởng đến hiệu quả tài chính Nhưvậy hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp cao thì khả năng sinh lời VCSH sẽ cao vàngược lại Nhưng không phải lúc nào hiệu quả kinh doanh tăng thì chắc chắn hiệu quảtài chính sẽ tăng, điều đó còn phụ thuộc vào nhiều nhân tố khác

2.2.2 Khả năng tự chủ về tài chính

Khả năng tự chủ về tài chính được thể hiện qua chỉ tiêu tỉ suất tự tài trợ Có thểthấy rằng ứng với hiệu quả kinh doanh cho trước nếu tỉ suất tự tài trợ càng lớn thì hiệuquả tài chính của doanh nghiệp càng nhỏ Có thể xem xét ảnh hưởng của khả năng tựchủ về tài chính đến hiệu quả tài chính qua công thức sau:

ROE = LNTT X (1 – t) x Tài sản

Hay Htc = ROA x (1-t) x (1/ httt)

Trong đó: Htc : hiệu quả tài chính

Httt: khả năng tự tài trợ của doanh nghiệp

2.2.3 Tác động của độ lớn đòn bẩy tài chính

Đòn bẩy tài chính là tỉ lệ nợ phải trả trên nguồn vốn chủ sở hữu Đòn bẩy tàichính thể hiện cấu trúc nguồn vốn của doanh nghiệp tại một thời điểm, cho thấy mộtđồng vốn mà doanh nghiệp hiện đang sử dụng có bao nhiêu đồng vốn được hình thành

Trong đó : RE : tỉ suất sinh lời kinh tế của tài sản

i : lãi suất vay bình quân

ĐBTC: đòn bẩy tài chính, ĐBTC = nợ phải trả/VCSH

Chỉ tiêu trên cho thấy, nếu hiệu quả kinh doanh (RE) cao sẽ dẫn đến hiệu quả tàichính cao và ngược lại Nhưng nếu một hiệu quả kinh doanh thì chưa đủ vì hiệu quả

Nợ

Trang 12

tài chính còn chịu ảnh hưởng của cấu trúc vốn và tỉ suất lợi nhuận trên vốn hay còn gọi

là đòn bẩy tài chính Tác động của đòn bẩy tài chính có tính 2 mặt:

- khi RE > i : việc vay nợ sẽ làm tăng hiệu quả tài chính của doanh nghiệp, ROEđược “khuyếch đại” với hệ số ĐBTC, trường hợp này ĐBTC được gọi là đòn bẩydương Doanh nghiệp nên vay thêm để kinh doanh nếu có nhu cầu mở rộng kinhdoanh Khi đó, các cổ đông trong công ty sẽ được một khoản “ thưởng” có trị giá :(RE-i) x ĐBTC x (1-t) từ phía nhà cho vay Đó chính là phần giá trị của người cho vaychuyển sang cho cổ đông và được xem như là “ chi phí cơ hội” đối với người cho vay

do họ không phải là nhà đầu tư trực tiếp, không chấp nhận mạo hiểm hay phí tổn đầu

tư trực tiếp đối với họ lớn hơn giá trị của “ chi phí cơ hội” này

- khi RE = i : ROE không hề phụ thuộc vào hệ số ĐBTC, hoạt động kinh tế chỉ

bù đắp được chi phí hoạt động tài chính

- khi RE < i : việc vay nợ sẽ làm giảm hiệu quả tài chính và rủi ro của doanhnghiệp tăng lên do hệ số tự tài trợ giảm, ROE sẽ bị “ thu nhỏ” với hệ số ĐBTC, trườnghợp này đbtc được gọi là đòn bẩy âm Nếu có nhu cầu mở rộng kinh doanh, doanhnghiệp không nên vay thêm vốn mà nên tổ chức lại công việc kinh doanh hoặc thayđổi lĩnh vực kinh doanh Khi đó, các cổ đông trong công ty sẽ mất một khoản có trịgiá: (RE-i) x ĐBTC x (1-t) vì phải chuyển sang người cho vay và được xem như làkhoản rủi ro mà các cổ đông phải gánh chịu do việc đầu tư, kinh doanh kém hiệu quả,trong khi phải trả một khoản lãi vay như đã được kí kết trong hợp đồng vay vốn

Vì lãi tiền vay chỉ phụ thuộc vào số tiền vay và lãi suất vay mà không phụ thuộcvào sản lượng hoặc doanh thu của doanh nghiệp, do đó trong các doanh nghiệp có hệ

số nợ cao mức ảnh hưởng của đòn bẩy tài chính sẽ rất lớn và ngược lại Nói một cáchkhác, một sự biến động nhỏ của lợi nhuận trước thuế và lãi vay sẽ dẫn đến sự thay đổilớn của lợi nhuận vốn chủ sở hữu Những doanh nghiệp không vay nợ thì không cóđòn bẩy tài chính

2.2.4 Khả năng thanh toán lãi vay

Khả năng thanh toán lãi vay là hệ số được xem xét trong mối quan hệ giữa lợi nhuậntrước thuế và lãi vay với lãi vay được xác định bởi công thức:

Khả năng thanh toán

Lãi vayKhả năng thanh toán lãi vay càng lớn chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn càng cao, lợinhuận tạo ra được sử dụng để trả nợ vay và tạo phần tích luỹ cho doanh nghiệp Chỉtiêu này nhỏ hơn hoặc bằng 1 chứng tỏ vốn sử dụng không có hiệu quả, và doanhnghiệp phải dùng vốn chủ sở hữu để trả lãi vay

Mối quan hệ giữa ROE và khả năng thanh toán lãi vay được thể hiện qua côngthức: ROE = RE x (1- 1 /KNTTLV) x (1-t) x (1+ĐBTC)

Trong đó: KNTTLV: là khả năng thanh toán lãi vay

Qua chỉ tiêu trên, ta nhận thấy khi trị giá chỉ tiêu khả năng thanh toán lãi vay lớnhơn 1 thì hiệu quả tài chính của doanh nghiệp sẽ được tăng lên và ngược lại

2.3 Phương pháp phân tích

Trang 13

Để phân tích hiệu quả tài chính, thường so sánh các chỉ tiêu hiệu quả tài chính kìnày so với kì trước, thực tế so với kế hoạch hoặc so sánh giữa các doanh nghiệp cócùng điều kiện, so với trung bình ngành để đánh giá mức độ tăng giảm, mức độ hoànthành kế hoạch, xu hướng phát triển hiệu quả, và biết được vị trí của doanh nghiệp sovới trung bình ngành.

Ngoài ra, có thể thiết lập các công thức thể hiện mối liên quan giữa các chỉ tiêuhiệu quả với các nhân tố ảnh hưởng, qua đó vận dụng phương pháp thay thế liên hoàn

để làm rõ mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đối với khả năng sinh lời vốn chủ sởhữu

Trên cơ sở mức độ ảnh hưởng của các nhân tố, nhà phân tích sẽ tìm hiểu cácnguyên nhân, dự đoán các biện pháp để cải thiện hiệu quả tài chính của doanh nghiệp

Kết luận:

Trong nền kinh tế thị trường phát triển như hiện nay, các doanh nghiệp kinhdoanh nói chung và doanh nghiệp sắt thép, phế liệu nói riêng luôn chịu những sức épcạnh tranh rất lớn trong hoạt động kinh doanh và tài chính Do đó, các nhà quản trịdoanh nghiệp luôn phải nỗ lực để đạt được các mục tiêu trong hoạt động Điều này đòihỏi các nhà quản trị phải được cung cấp những thông tin chính xác và đầy đủ nhất vềtình hình hoạt động cũng như hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, để có thể đưa racác quyết định, chiến lược đúng đắn đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của doanhnghiệp.Vì vậy, việc phân tích hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp có tầm quan trọngrất lớn

Phần I của đề tài đã tổng hợp một số vấn đề lý luận về phân tích hiệu quả hoạtđộng như các khái niệm về hiệu quả hoạt động, phân tích hiệu quả hoạt động, nguồnthông tin sử dụng trong phân tích, các khía cạnh phân tích và hệ thống các chỉ tiêuphân tích hiệu quả trong doanh nghiệp Ngoài những chỉ tiêu đã trình bày trong phần

lý luận, hiện nay, một vài doanh nghiệp sử dụng thêm chỉ tiêu Giá trị kinh tế tăng thêm(EVA) để đo lường khả năng sinh lợi Các chỉ tiêu nói trên vẫn chưa tính đến chi phívốn cho chủ sở hữu trong khi chi phí này là rất ‘ đắt ‘ EVA được hiểu là tổng lợinhuận còn lại sau khi trừ đi tất cả chi phí, trong đó có chi phí vốn Với cách tính nhưvậy, EVA được cho là một chỉ tiêu cho phép đánh giá hiệu quả hoạt động của doanhnghiệp một cách chính xác Tuy nhiên, EVA là một chỉ tiêu khá mới mẻ và phươngpháp đo lường còn khó áp dụng do các thông tin tài chính chưa đầy đủ, nên chưa được

sử dụng phổ biến ở Việt Nam

PHẦN II PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG TẠI CÔNG TY

CỔ PHẦN KIM KHÍ MIỀN TRUNG

Trang 14

I Giới thiệu sơ lược về công ty Cổ phần Kim Khí Miền Trung

1 Quá trình hình thành và phát triển

Quá trình thành lập và phát triển của công ty có thể phân thành hai giai đoạn:

Giai đoạn 1: trước khi cổ phần hóa

Công ty cổ phần Kim Khí Miền Trung là sự kết hợp giữa hai công ty tiền thân:Kim Khí Đà Nẵng và Vật Tư Thứ Liệu Đà Nẵng Nhằm củng cố, tăng cường lợi thếcạnh tranh trong lĩnh vực kinh doanh vật liệu xây dựng tổng hợp, tạo một môi trườngkinh doanh đạt hiệu quả cao, ngày 20/12/1994 Bộ Công nghiệp đã ban hành quyết định

số 1065QĐ/TCCBĐT hợp nhất hai công ty trên thành công ty Kim Khí Và Vật Tư TổngHợp Miền Trung

Công ty chính thức đi vào hoạt động vào ngày 01/01/1995 theo giấy phép ĐKKD

số 109669 của ủy ban kế hoạch tỉnh Quảng Nam-Đà Nẵng cấp ngày 29/12/1994, làdoanh nghiệp nhà nước hoạch toán độc lập, thành viên Tổng công ty Thép Việt Nam Công ty đổi tên thành công ty Kim Khí Miền Trung theo quyết định số 221/QĐ-T-TC ngày 10/02/2004 của HĐQT Tổng công ty Thép Việt Nam

Để phù hợp với xu hướng cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước, ngày30/09/2005, Bộ Công Nghiệp ra quyết định số: 3088/QĐ-BCN phê duyệt phương ánchuyển công ty Kim Khí Miền Trung thành công ty cổ phần KIM KHÍ MIềN TRUNGtheo giấy đăng ký kinh doanh 3208000847 do Sở kế hoạch đầu tư đà Nẵng cấp ngày28/12/2005

Giai đoạn 2: từ khi cổ phần hóa đến nay

Công ty được cổ phần hoá và chính thức đi vào hoạt động theo hình thức cổ phần

từ ngày 01/01/2006 Đây là bước đánh dấu một mốc chuyển đổi quan trọng trong lịch

sử hoạt động, tạo thế chủ động cho công ty trên con đường hội nhập và phát triển

Tên giao dịch của công ty là Central Vietnam Metal Meterial Company

Trụ sở chính đặt tại 16 Thái Phiên Đà Nẵng

Điện thoại 0511 3822 805; fax 0511 3823 306

Công ty có tổng vốn điều lệ là 68.708.850.000 đồng

Cổ phần phát hành lần đầu là 6.543.700 cổ phần tương ứng với mệnh giá cổ phần

là 10.000 đồng Trong đó, cổ phần nhà nước là 5.644.300 tương ứng với 86,25% vốn điều lệ, cổ phần bán ưu đãi cho nhân viên trong công ty chiếm 7,02% (tương đương với 459.00 cổ phần), cổ phần bán đấu giá chiếm 6,73% (bằng 439.000)

Công ty cổ phần Kim Khí Miền Trung là công ty cổ phần có tư cách pháp nhânđầy đủ, thực hiện chế độ hạch toán kinh tế độc lập, được phép mở tài khoản tại cácngân hàng trong nước Hoạt động của công ty phải trong khuôn khổ pháp luật và chịu

sự quản lý của Tổng Công Ty Thép Việt Nam (VSC)

Sau khi cổ phần hoá, vốn điều lệ của công ty là 65.437.000.000 đồng Ngày17/09/2007 công ty đã đăng ký tăng vốn điều lệ lên 68.708.850.000 đồng thông quaviệc trả cổ tức bằng cổ phiếu và đến quí 4/2008, tiến hành tăng vốn lần thứ 2 lên88.708.850.000 đồng

Trong quá trình phát triển, công ty thực sự là cầu nối tin cậy giữa khách hàng vớingành công nghiệp thép Việt Nam và thế giới, thông qua một mạng lưới kinh doanhrộng rãi phục vụ cho nhu cầu của khách hàng tại khu vực và cả nước Cụ thể ngoài vănphòng, công ty có 13 ĐVTT trãi rộng trên khắp cả nước, hoạt động theo sự phân cấp

và uỷ quyền của công ty Nhờ có hệ thống các ĐVTT rộng khắp và sản phẩm, dịch vụ

có chất lượng tốt, công ty luôn thực hiện đầy đủ và kịp thời các cam kết với kháchhàng và đã tạo được uy tín và vị thế trong hoạt động kinh doanh sắt thép trong và

Trang 15

ngoài nước Năm 2007, 2008 Công Ty Cổ Phần Kim Khí Miền Trung được xếp hạngtrong top 500 doanh nghiệp lớn nhất việt nam do báo điện tử vietnamnet kết hợp vớicông ty cổ phần báo cáo đánh giá việt nam công bố.

Từ ngày đầu đi vào hoạt động, công ty gặp rất nhiều khó khăn, việc hợp nhất haicông ty dẫn đến tình trạng số lượng lao động dư thừa, trình độ thấp và không đồng đềugiữa các cá nhân Điều này đã đặt ra một tình trạng cấp bách cho ban lãnh đạo công ty.Tuy nhiên, với quyết tâm và lòng nhiệt tình, ban lãnh đạo cũng như toàn thể cán bộcông nhân viên công ty đã từng bước khắc phục khó khăn trên

Qua một thời gian hoạt động đến nay, công ty đã xây dựng mới nhiều cơ sở vậtchất, trang thiết bị kỹ thuật phục vụ tốt cho cho hoạt động kinh doanh của mình Đồngthời mở rộng mạng lưới kinh doanh cũng như hoạt động kinh doanh, hình thành 9 đơn

vị trực thuộc trên ba miền đất nước Tạo sức mạnh cạnh tranh trong môi trường kinhdoanh luôn biến động, đưa hoạt động kinh doanh của công ty ngày càng phát triển.Giải quyết tốt công ăn việc làm cũng như từng bước cải thiện đời sống cho cán bộcông nhân viên, đóng góp cho ngân sách nhà nước ngày càng cao, từng bước đưa công

ty trở thành một đơn vị kinh doanh và cung ứng vật liệu xây dựng tổng hợp lớn mạnhtrong miền trung và cả nước

2 Đặc điểm hoạt động

2.1 Những thuận lợi và khó khăn

Trong bối cảnh hội nhập nền kinh tế thế giới nền kinh tế nước ta cũng như củathành phố sau đổi mới luôn tăng trưởng cao và ổn định, hệ thống pháp luật ngày cànghoàn thiện, tạo điều kiện cho việc đầu tư phát triển kinh tế thị trường, hội nhập kinh tếthế giới Trong bối cảnh đó công ty đã có những thuận lợi và khó khăn

Thuận lợi

Nền kinh tế Việt Nam đang tiếp tục phát triển ổn định, nhu cầu xây dựng nóichung và nhu cầu đối với các sản phẩm thép là rất lớn Vì vậy việc cung cấp thép củaCông ty còn nhiều tiềm năng phát triển

Công ty đã mối quan hệ tốt với các nhà cung ứng thép trong và ngoài nước nhờ

uy tín đã được ghi nhận trong thời gian qua

Có mạng lưới kinh doanh rộng khắp cả nước được củng cố theo hướng tinh gọn,

đủ sức và lực để giữ vững và phát triển thị phần

Lực lượng lao động của Công ty đã được chọn lọc sau quá trình cổ phần hoá Độingũ cán bộ quản lý và công nhân viên có nhiều kinh nghiệm trong kinh doanh-sản xuấtsắt thép

Thương hiệu CEVIMETAL và thương hiệu thép Miền Trung “MT” đã có vị thếtrên thị trường và có uy tín với khách hàng, được khách hàng trong và ngoài nước biếtđến

Khó khăn

Ngành thép Việt nam phụ thuộc quá nhiều vào ngành thép thế giới, đặc biệt là thịtrường thép Trung Quốc (chiếm 40-50% tổng lượng thép nhập khẩu của Việt nam) Vìvậy kinh doanh thép chứa đựng nhiều rủi ro khi thị trường thế giới biến động theohướng bất lợi hoặc khi chính phủ Trung Quốc thay đổi chính sách vĩ mô đối với ngànhthép nước này

Trong lĩnh vực sản xuất, sản phẩm của Công ty phụ thuộc vào nguồn nguyên liệunhập khẩu Trong thời gian qua giá phôi thép tăng liên tục và có nhiều diễn biến phứctạp khó lường và hiện nay hoạt động sản xuất không còn nữa

Trang 16

Trong lĩnh vực kinh doanh, Công ty chịu sự cạnh tranh gay gắt của các nhà phânphối tư nhân và các doanh nghiệp sản xuất trong ngành thép.

Hoạt động kinh doanh chính của Công ty tập trung vào lĩnh vực thương mại,trong đó chủ yếu là kinh doanh sắt thép Vì vậy mang nhiều rủi ro khi thị trường thépbiến động bất lợi cho Công ty Hoạt động kinh doanh khác (ngoài thép) còn đang giaiđoạn thăm dò thử nghiệm

2.2 Đặc điểm hoạt động kinh doanh

Theo Giấy chứng nhận ĐKKD số 0400101605 ngày 11/02/2009 do Sở Kếhoạch Đầu tư TP Đà Nẵng cấp, ngành nghề kinh doanh chủ yếu của công ty là:

 Kinh doanh, xuất nhập khẩu kim khí (thép xây dựng, phôi thép, thép tấmlá…), vật tư thứ liệu, phế liệu kim loại, vật tư tổng hợp, vật liệu xây dựng

 Gia công sản xuất các sản phẩm kim loại và phế liệu kim loại

 Đại lý tiêu thụ các sản phẩm cho các doanh nghiệp trong và ngoài nước cácmặt hàng thuộc phạm vi kinh doanh của công ty

 Đầu tư, kinh doanh khách sạn, văn phòng cho thuê, chung cư cao tầng

 Kinh doanh kho bãi

 Đại lý phân phối sản phẩm cho các doanh nghiệp trong và ngoài nước

2.3 Đặc điểm hàng hóa mua vào

Thép xây dựng: bao gồm thép tròn cuộn, thép tròn trơn, thép cây, thép vằn… do

các nhà máy trong nước sản xuất như công ty thép Miền Nam, công ty thép Vinakyoei,công ty thép Pomina, công ty gang thép Thái Nguyên, công ty thép Việt Úc, công tythép Việt Hàn, công ty thép Hoà Phát…Thép cuộn dùng để xây dựng các công trìnhdân dụng, công nghiệp, gia công kéo dây Thép cây, thép vằn dùng để xây dựng côngtrình dân dụng và công nghiệp, các công trình yêu cầu chịu lực cao, toà cao ốc, hầm,cầu đường

Phôi thép: bao gồm phôi thép chất lượng q195, q235, 20mnsi… với nhiều kích cỡ

khác nhau, chủ yếu được nhập khẩu từ các nước Nga, Trung Quốc, Thái Lan,Mailaisia…và một số được cung cấp bởi các nhà sản xuất trong nước như công ty thép

Đà Nẵng, công ty thép Đình Vũ Sản phẩm phôi thép chủ yếu phục vụ cho việc cánthép

Thép phế liệu: bao gồm thép phế liệu hms1/2, ray, phế lon ép bánh, ống cắt,…

chủ yếu được nhập khẩu từ các nước Mỹ, Nga, Philippin…và một số được thu gomtrong nước Phế liệu dùng để luyện phôi

Thép chính phẩm: bao gồm thép tấm, lá, hình h,u,i và thép ống đạt tiêu chuẩn,

được nhập khẩu từ các nước nga, trung quốc…và cung cấp bởi các nhà máy sản xuấtthép trong nước như công ty thép Miền Nam, công ty gang thép Thái Nguyên Cácsản phẩm này chủ yếu phục vụ cho việc gia công cơ khí, các cơ sở đóng tàu, khung,kèo, cột bằng thép trong các công trình xây dựng công nghiệp, cầu đường

Nhìn chung đặc điểm hàng hóa mua vào của công ty là:

+ Thép dễ bị gỉ, khả năng chịu nhiệt và thời tiết khá thấp nên cần phải đượcbảo quản cẩn thận trong khâu vận chuyển, nhập kho hàng mua và ở kho bãi

+ Các sản phẩm của thép thường nặng, cồng kềnh nên việc vận chuyển rất khókhăn và tốn chi phí cao

+ Giá thép thường xuyên biến động phụ thuộc vào giá thị trường thế giới

3 Đặc điểm bộ máy tổ chức quản lý tại công ty

3.1 Sơ đồ bộ máy tổ chức quản lý

- Chi nhánh Hà Nội

- Chi nhánh Quảng Nam

- Chi nhánh Quảng Ngãi

- Chi nhánh Khánh Hoà

- Chi nhánh Hồ Chí Minh

- Chi nhánh ĐăkLăk

Các đơn vị trực thuộc Ban Giám đốc

Đại hội đồng cổ đông

Hội đồng quản trị

Ban Kiểm soát

Trang 17

3.2 Chức năng nhiệm vụ của từng bộ phận

Đại hội đồng cổ đông: bao gồm tất cả các cổ đông có quyền bỏ phiếu hoặc người

được cổ đông ủy quyền, là cơ quan quyết định cao nhất của công ty Quyền hạn, nhiệm

vụ của đHĐCĐ được quy định ở điều 26 điều lệ công ty

Hội đồng quản trị: HĐQT là cơ quan quản lý do ĐHĐCĐ bầu và miễn nhiệm,

có đầy đủ quyền hạn để thực hiện tất cả các quyền nhân danh công ty trừ những thẩmquyền thuộc về ĐHĐCĐ Quyền hạn và nhiệm vụ của HĐQT được quy định tại điều

36 điều lệ công ty

Ban kiểm soát: BKS thay mặt cổ đông để kiểm soát mọi hoạt động kinh doanh,

quản trị và điều hành công ty BKS do ĐHĐCĐ bầu và bãi miễn, trong đó ít nhất phải

có một thành viên có chuyên môn về kế toán Bks bầu một thành viên làm trưởng ban,quyền và nhiệm vụ của trưởng bks được quy định tại điều 46 điều lệ công ty

Tổng giám đốc: TGĐ là người điều hành mọi hoạt động của công ty, chịu trách

nhiệm trước HĐQT, trước pháp luật về việc thực hiện các nhiệm vụ và quyền hạnđược giao TGĐ là người đại diện theo pháp luật của công ty Nhiệm kỳ của TGĐ làbốn năm và có thể được bổ nhiệm lại Quyền hạn và nhiệm vụ của TGĐ được quy địnhtại điều 42 điều lệ công ty Các phó TGĐ giúp việc TGĐ và chịu trách nhiệm trước

Quan hệ kiểm soátQuan hệ phối hợpQuan hệ chỉ đạo

Trang 18

TGĐ về các nội dung công việc được phân công, chủ động giải quyết những công việc

đã được TGĐ ủy quyền theo quy định của pháp luật và điều lệ công ty

Các phó tổng giám đốc: Là người tham mưu cho tổng giám đốc trong công tác

quản trị doanh nghiệp Giúp tổng giám đốc xử lý các công việc được giao và được ủyquyền giải quyết công việc khi tổng giám đốc đi vắng Giúp tổng giám đốc công táccán bộ công nhân viên, kỹ thuật hành chính Mỗi phó tổng giám đốc phụ trách một sốcông việc do tổng giám đốc giao và chịu trách nhiệm trước tổng giám đốc

Phòng kế toán tài chính: Tham mưu cho HĐQT, TGĐ trong lĩnh vực kế toán và

tài chính Theo dõi ghi chép hoá đơn chứng từ; kiểm tra, giám sát hoạt động kinhdoanh bằng nghiệp vụ; chấp hành nghiêm chế độ báo cáo, quyết toán đảm bảo yêu cầuchính xác, trung thực, kịp thời, đầy đủ; định kỳ tổng hợp và phân tích tình hình hoạtđộng của công ty báo cáo HĐQT&TGĐ; xây dựng kế hoạch tài chính, vốn, phí, Đảmbảo sử dụng vốn hợp lý, tiết kiệm; tiến hành tự kiểm tra định kỳ công tác tài chính kếtoán ở các ĐVTT

Phòng kế hoạch kinh doanh: Tham mưu cho HĐQT, TGĐ về các lĩnh vực:

công tác kinh doanh, kế hoạch, tổng hợp, thống kê, báo cáo, quản lý kho hàng hoá.Xây dựng kế hoạch, cân đối kế hoạch hàng năm giao cho các đơn vị, hướng dẫn, kiểmtra các đơn vị thực hiện các kế hoạch Tổ chức thực hiện các tác nghiệp cụ thể về kinhdoanh Tổ chức công tác marketing, nghiên cứu dự báo thị trường, theo dõi, quản lýcác hợp đồng kinh tế trong toàn công ty

Phòng xuất nhập khẩu: Tham mưu cho HĐQT, TGĐ trong lĩnh vực kinh doanh

xuất nhập khẩu Xây dựng kế hoạch toàn diện hàng năm về công tác kinh doanh XNKtrình TGĐ phê duyệt; khai thác nguồn hàng, khách hàng và tổ chức thực hiện các Hợpđồng kinh doanh XNK; theo dõi kiểm tra, quản lý các hợp đồng kinh tế về công tácXNK

Phòng tổ chức hành chính: Tham mưu cho HĐQT, TGĐ về các lĩnh vực: tổ

chức cán bộ, lao động tiền lương, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, bảo vệ, quân sự, thanhtra, kiểm tra và giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo, công tác pháp chế quản trị hànhchính, an toàn lao động, thi đua khen thưởng, kỷ luật

Phòng đầu tư phát triển: Tham mưu cho HĐQT, TGĐ về các lĩnh vực: Công

tác đầu tư phát triển, công tác kỹ thuật, công tác xây dựng cơ bản, công tác công nghệthông tin, công tác quản lý hệ thống chất lượng Nghiên cứu, xây dựng các dự án đầu

tư, phát triển; quản lý, sử dụng có hiệu quả tối đa nguồn lực cơ sở vật chất trang thiết

bị hiện có của Công ty

Ban thu hồi nợ và pháp chế hợp đồng kinh tế: Tham mưu cho HĐQT TGĐ về

công tác thu hồi công nợ khó đòi, đề xuất các biện pháp xử lý nợ, công tác pháp chế Hợp đồng kinh tế và giải quyết các tranh chấp về hợp đồng kinh tế

Các đơn vị trực thuộc: thực hiện các chức năng kinh doanh trên cơ sở triển khai

các chiến lược kinh doanh của công ty, tiến hành kinh doanh độc lập và chịu tráchnhiệm về kết quả kinh doanh của mình

4 Tổ chức công tác kế toán

4.1 Tổ chức bộ máy kế toán

Công ty có quy mô tương đối lớn, các ĐVTT được bố trí rộng trên địa bàn cảnước, trình độ quản lý của các ĐVTT cao, phân cấp quản lý tài chính hoàn chỉnh theocấp đơn vị Do vậy công ty áp dụng mô hình tổ chức hệ thống thông tin kế toán phântán, tức là tại văn phòng công ty cũng như tại các ĐVTT đều có tổ chức bộ máy kếtoán Cụ thể, tại các ĐVTT, kế toán làm nhiệm vụ thu thập, xử lý và thông tin về các

Trang 19

nghiệp vụ kinh tế xảy ra tại các đơn vị, cuối kỳ lập báo cáo kế toán của đơn vị mình rồichuyển về văn phòng công ty để tiếp tục xử lý Còn ở văn phòng công ty, ngoài côngtác kế toán tại chính văn phòng, bộ máy kế toán ở đây còn có nhiệm vụ tổng hợp cácbáo cáo do các ĐVTT gởi lên để lập báo cáo cho toàn công ty

Để thực hiện toàn bộ khối lượng công tác kế toán trên, đảm bảo công việc kế toánkhông chồng chéo giữa các phần hành, đảm bảo đối chiếu thường xuyên liên tục thôngtin kế toán giữa các bộ phận, công ty đã tổ chức bộ máy kế toán như sau:

4.1.1 Sơ đồ bộ máy kế toán

Quan hệ chỉ đạo

Quan hệ phối hợp nghiệp vụ

4.1.2 Chức năng nhiệm vụ của từng phần hành kế toán

Kế toán trưởng: Tổ chức bộ máy kế toán, trực tiếp lãnh đạo và điều

hành công tác kế toán trong toàn công ty, đảm bảo tính chính xác trung thực hợp lýtình hình tài chính của công ty, tham mưu cho TGĐ ký kết các HĐKT, xây dựng kếhoạch tài chính

Phó phòng kế toán phụ trách Tổng hợp: Tổng hợp các báo cáo sổ sách củacác ĐVTT gửi lên và của văn phòng công ty để lập Báo cáo tổng hợp chung cho toàncông ty Lập Báo cáo nhanh về tình hình tài chính theo yêu cầu của cấp trên và các cấp

có liên quan

Phó phòng kế toán phụ trách công nợ: Thực hiện công tác lập quyết toán tại

Văn phòng Công ty Theo dõi công nợ nội bộ công ty, tình hình sử dụng vốn của cácĐVTT

Kế toán mua hàng và các khoản phải trả: Theo dõi chi tiết hàng mua

theo từng mặt hàng, nhà cung cấp và tình hình thanh toán với nhà cung cấp Từ đó lập các báo cáo về tình hình nhập xuất tồn hàng hóa

Kế toán bán hàng và các khoản phải thu: Kiểm tra giá cả và chính sách

hàng bán ra, theo dõi hàng bán nội bộ và bán ra bên ngoài Xác định doanh thu bánhàng và doanh thu khác trong kỳ, theo dõi đôn đốc xác nhận thu hồi công nợ tại Vănphòng công ty

và thanh toán

Kế toán bán hàng

và khoản phải thu

Kế toán TSCĐ Kế toán Ngân

hàng

Thủ quỹ

Kế toán các đơn vị trực thuộc

Trang 20

Kế toán tiền mặt và các khoản thanh toán: Thực hiện công tác kế toán

thanh toán bằng tiền, theo dõi chi phí (tổng hợp theo khoản mục, nội dung quản lý).Đối chiếu thu chi với thủ quỹ hằng ngày

Kế toán ngân hàng: Theo dõi: tiền gửi VNĐ và USD của tài khoản công ty

mở tại các ngân hàng, tiền vay và lập thủ tục vay thanh toán các khoản nợ đến hạn,nhận nợ và thanh toán L/C đã mở Báo cáo số dư tại các ngân hàng (tiền gửi-tiềnvay) cho lãnh đạo hằng ngày

Thủ quỹ: Thu và kiểm tra thu tiền theo đúng quy định Chi tiền theo đúng

lệnh chi đã được cấp trên phê duyệt Cập nhật sổ quỹ đối chiếu với kế toán quỹ hàngngày

Kế toán TSCĐ-CCDC và vốn các cổ đông: Theo dõi TSCĐ, CCDC, theo

dõi khoản chi phí chờ phân bổ, theo dõi chi phí đầu tư XDCB, theo dõi vốn các cổđông, chi trả cổ tức hàng năm, theo dõi các dòng đầu tư

Kế toán tại các đơn vị trực thuộc: Các ĐVTT đều tổ chức hoạch toán kế

toán phụ thuộc, Kế toán tại các đơn vị này chịu trách nhiệm theo dõi tất cả cácnghiệp vụ kinh tế phát sinh hằng ngày tại đơn vị mình, tiến hành hạch toán doanhthu chi phí để xác định lợi nhuận, cuối tháng lập Báo cáo và gửi về Văn phòng công

ty để lập Báo cáo tổng hợp toàn công ty

4.2 Hình thức sổ kế toán áp dụng tại công ty

Công ty có quy mô lớn, nghiệp vụ kinh tế phát sinh nhiều, do đó công ty lựachọn hình thức sổ nhật ký chứng từ và sử dụng phần mềm kế toán fast accounting đểphản ánh các nghiệp vụ kinh tế phát sinh trong toàn công ty

TRÌNH TỰ GHI SỔ KẾ TOÁN THEO HÌNH THỨC KẾ TOÁN

Đối chiếu, kiểm tra

Trình tự ghi sổ kế toán theo hình thức kế toán trên máy vi tính:

Nhập liệu

Chứng từ gốc, Bảng tổnghợp chứng từ kế toán

Nhập liệu

Chứng từ gốc, Bảng tổnghợp chứng từ kế toán Tập tin nhật kýTập tin trung gianTập tin nhật kýNhập liệuBáo cáo tài chính, Sổ sách kế toánBáo cáo kế toán quản trị

Chứng từ gốc, Bảng tổng hợp chứng từ kế toán

Tập tin trung gianTập tin nhật ký

Chứng từ kế toán và các bảng phân bổ

Trang 21

Phần mềm Fast Accounting đã được thiết kế lại cho phù hợp với đặc thù của công

ty Thông qua quy trình làm việc trên có thể thấy việc cập nhật dữ liệu vào phần hành

kế toán đã được kiểm soát chặt chẽ qua các công đoạn :

- Công đoạn kiểm tra tính hợp lý, hợp lệ, hợp pháp của chứng từ gốc do kếtoán viên ở các phần hành kế toán cụ thể thực hiện

- Phần mềm tự động kiểm tra các thông số mà kế toán viên khai báo khi cậpnhật chứng từ vào từng phần hành cụ thể, ví dụ: kỳ hạch toán, đối ứng số tiền theonguyên tắc ghi kép ,tự động đối chiếu giữa số liệu tổng hợp với số liệu chi tiết

- Công đoạn kiểm tra lại các số liệu trên các sổ sách của kế toán tổng hợp, kếtoán trưởng đơn vị trước khi phê duyệt

- Công đoạn đối chiếu và kiểm tra thường ngày

Quy trình ghi chép:

Hàng ngày, kế toán căn cứ vào chứng từ kế toán đã được kiểm tra, xác định tàikhoản ghi nợ, ghi có để nhập dữ liệu vào máy tính theo các bảng biểu được thiết kếsẵn trên phầm mềm Theo quy trình, các thông tin được nhập vào máy theo từngchứng từ và tự động nhập vào sổ kế toán tổng hợp và các sổ, thẻ kế toán chi tiết cóliên quan

Phần mềm kế toán có thể đưa ra báo cáo kế toán phục vụ cho công tác quản trịbất cứ khi nào Cuối kỳ, sau khi khoá sổ, phần mềm kế toán sẽ tự thực hiện bút toánkết chuyển, tự lập các báo cáo kế toán tài chính Tất cả các sổ sách ngoài hình thứcbảo quản bằng cách lưu trong máy, đều phải được in ra và lưu trữ

Tại công ty, giữa các kế toán có sự phân công phân nhiệm với nhau và có sự liên

hệ để theo dõi đầy đủ tình hình của phần hành mình chịu trách nhiệm, tránh ghi trùng lắphoặc bỏ sót nghiệp vụ

Phần này đã giới thiệu những đặc thù chung của công ty về qui mô công ty, đặcđiểm hoạt động kinh doanh, đặc điểm tổ chức quản lí, và đặc điểm tổ chức kế toán.Sau đây ta đi sâu phân tích hiệu quả hoạt động của công ty cp kim khí miền trung

II Phân tích hiệu quả hoạt động của công ty cổ phần Kim Khí Miền Trung

Hoạt động của doanh nghiệp được xem xét trên hai khía cạnh là hoạt động kinhdoanh và hoạt động tài chính, đây là hai hoạt động có mối quan hệ qua lại nên phântích hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp phải xem xét đầy đủ cả hai hoạt động này, từ

đó ta có hiệu quả kinh doanh và hiệu quả tài chính

1 Phân tích hiệu quả kinh doanh của công ty

Tập tin trung gianPhần mềm

kế toán

Trang 22

Hiệu quả kinh doanh được tạo thành bởi tất cả các yếu tố của quá trình sản xuấtkinh doanh Do vậy hiệu quả kinh doanh của một doanh nghiệp không chỉ được xemxét một cách tổng hợp mà còn được nghiên cứu trên cơ sở các yếu tố thành phần của

nó, đó là hiệu quả cá biệt

1.1 Phân tích hiệu quả kinh doanh cá biệt

Để phân tích hiệu quả kinh doanh cá biệt của công ty, ta sử dụng các chỉ tiêu sau:hiệu suất sử dụng tài sản, hiệu suất sử dụng TSCĐ và hiệu suất sử dụng vốn lưu động

1.1.1 Phân tích hiệu suất sử dụng tài sản

Hiệu suất sử dụng tài sản được thể hiện bằng mối quan hệ giữa kết quả đạt đượctrên tài sản của doanh nghiệp Chỉ tiêu này cho biết tốc độ chuyển hóa của tài sản đểtạo ra doanh thu

Bảng 2.1: Hiệu suất sử dụng tài sản giai đoạn 2007-2009

Năm 2007: hiệu suất sử dụng tài sản là 5.54 có nghĩa là: vào năm này, cứ 1 đồng

tài sản được đầu tư tại doanh nghiệp đã tạo ra 5.54 đồng doanh thu

Năm 2008: hiệu suất sử dụng tài sản năm nay đạt đến con số 6.59, tức là tăng lên

19% so với năm 2007, ứng với mức tăng 1.05 lần, bởi doanh thu thuần của đơn vị tăngcao (tăng thêm 16%, tương ứng với 193,487 triệu đồng) trong khi giá trị tài sản bìnhquân của doanh nghiệp giảm 2.22% (4,746 triệu đồng)

Nguyên nhân chính khiến tổng doanh thu năm 2008 tăng vượt trội so với 2007 là

sự tăng mạnh của doanh thu BH & CCDV cùng với thu nhập khác Doanh thu BH &CCDV tại đơn vị năm nay đạt 1,368,152 triệu đồng, tăng 16%, tương ứng với gần 185

tỷ đồng Doanh thu khác tăng 8,693 triệu đồng, tương đương với 3008% Doanh thutài chính giảm 126 triệu đồng, nhưng tốc độ giảm của doanh thu này bé hơn nhiều sovới tốc độ tăng của hai doanh thu kia nên không gây ảnh hưởng tiêu cực đến tổngdoanh thu

Năm 2008 là năm có tình hình kinh tế biến động lớn chưa từng thấy trong nhiềunăm trước đây Những tháng nửa đầu năm 2008, thị trường giá cả nguyên vật liệu vàhàng hóa thế giới liên tục tăng và đạt mức kỷ lục vào tháng 6, tháng 7/2008, giá dầuthô vượt mức 140USD/thùng, giá gạo vượt mức 1.000 usd/tấn kéo theo giá các loạisản phẩm khác cũng tăng rất mạnh Từ tháng 6/2008, do ảnh hưởng của khủng hoảngtài chính của mỹ kéo theo khủng hoảng tài chính toàn cầu rồi tiếp theo là suy thoáikinh tế trên toàn thế giới, giá cả nguyên liệu và sản phẩm tụt dốc với tốc độ nhanhchưa từng thấy vào tháng 7/2008

Thị trường thép không là ngoại lệ Thị trường thép thế giới và khu vực trongnăm này tiếp tục có nhiều biến động khó lường, giá phôi thép, thép thành phẩm tăng-giảm mạnh trong năm và khó dự đoán, đặc biệt trong 6 tháng đầu năm giá cả tăngnhanh do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính thế giới Sản phẩm kinh doanh

Trang 23

chính của Công ty trong những năm qua là thép xây dựng và phôi thép nên khi giá bánhai sản phẩm này thay đổi thì doanh thu của Công ty cũng thay đổi theo.Vào khoảngthời gian này, giá thép tăng liên tục trong khi nhu cầu tiêu thụ mặt hàng này cũng tăngkhông ngừng Đây chính là hai yếu tố quan trọng nhất làm doanh thu BH & CCDVnăm 2008 tăng mạnh so với năm 2007

Trước tình hình biến động không ngừng của giá thép, để triển khai thực hiện cácnghị quyết ĐHĐCĐ, HĐQT và ban điều hành đã có những giải pháp linh hoạt trongviệc chỉ đạo, điều hành, tổ chức triển khai, giữ vững sự ổn định kinh doanh, tăngcường công tác quản lý vốn Điều này khiến kết quả kinh doanh của công ty tăng lên(đa số các đơn vị trực thuộc đẩy mạnh tăng sản lượng bán ra và khai thác được doanhthu cao)

Nguyên nhân còn lại khiến hiệu suất sử dụng tài sản năm 2008 tăng mạnh so vớinăm trước là giá trị tài sản bình quân năm này giảm đi 2.22% so với năm 2007, tươngứng với 4,746 triệu đồng

Năm 2009: hiệu suất tài sản năm nay dừng ở con số 4.21, giảm một lượng đáng

kể so với năm 2008 là 36.17%, ứng với mức giảm là 2.38 lần Hai nguyên nhân khiếnhiệu suất tài sản năm nay giảm mạnh so với năm ngoái là tổng doanh thu năm naygiảm mạnh trong khi giá trị tài sản bình quân tăng nhẹ

Tổng doanh thu năm nay đạt 927,137 triệu đồng Ở năm ngoái, chỉ tiêu này là1,380,811 triệu đồng Như vậy, tổng doanh thu năm 2009 đã giảm 453,744 triệu đồng

so với năm 2008, tức là giảm đi 32.86% Nguyên nhân của sự sụt giảm này là dodoanh thu tại mỗi hoạt động vào năm này đều thấp hơn năm trước

- doanh thu BH & CCDV tại đơn vị vào năm nay là 925,163 triệu đồng, chỉ đạt88% kế hoạch nghị quyết ĐHĐCĐ giao và giảm đến 32,38% so với năm 2008 (doanhthu BH & CCDV năm 2008 là 1,368,152 triệu đồng)

- doanh thu tài chính năm nay chỉ đạt 1,436 triệu đồng, kém 2,311 triệu đồng sovới năm trước, tương đương với 61,68%

- thu nhập khác dừng ở con số 538 triệu đồng, giảm gần 8.5 tỷ so với năm ngoái,tức đã giảm đi 94%

Chịu ảnh hưởng từ cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu vào năm 2008, tình hìnhkinh tế thế giới và trong nước vẫn gặp nhiều khó khăn ở năm 2009 Thị trường thépliên tục giảm sút do nhu cầu ngày càng ít đi Thêm đó, mạng lưới kinh doanh của công

ty chưa được mở rộng, công tác quản lý kinh doanh và nhân sự phát sinh nhiều hạnchế nên doanh thu bán ra không đạt chỉ tiêu kế hoạch đề ra và đặc biệt giảm so vớinăm trước

Do ảnh hưởng chung của suy thoái kinh tế, năm 2009 đa số các đơn vị trực thuộcđều giảm sút khối lượng kinh doanh so với năm 2008 Trong đó, một số đơn vị giảm

sút mạnh như xí nghiệp số 1 (=54% so với năm 2008), xí nghiệp số 9 (=44% so với năm 2008), xí nghiệp số 3 (=36% so năm 2008) Trong năm 2009, một số đơn vị kinh

doanh không hiệu quả và lỗ như sau: xí nghiệp kinh doanh vật tư không hiệu quả, CN

tp Hồ Chí Minh lỗ; đặc biệt xí nghiệp số 1 và xí nghiệp số 9 bị lỗ liên tục 2 năm liền

2008 và 2009

Nguyên nhân thứ hai khiến hiệu suất sử dụng tài sản năm 2009 giảm mạnh so vớinăm 2008 là giá trị tài sản bình quân năm nay tăng 5.18% so với năm trước, tươngđương với 10,856 triệu đồng

Để đánh giá chính xác hơn về hiệu quả sử dụng tài sản của công ty ta cần so sánhvới các số liệu của các công ty hoạt động trong cùng lĩnh vực Ở đây, tôi sử dụng số

Trang 24

liệu của hai công ty cùng ngành là Công ty CP Hữu Liên Châu Á (HLA) và Công ty

CP Đầu Tư Thương Mại (SMC)

Bảng 2.2: Hiệu suất sử dụng tài sản của công ty CP Kim Khí Miền Trung với haicông ty cùng ngành khác

đã sử dụng tài sản hiệu quả hơn hai công ty kia, mặc cho sự ảnh hưởng của cuộckhủng hoảng kinh tê Tuy nhiên, năm 2009, hiệu suất sử dụng tài sản của công ty giảmmột lượng lớn hơn hai công ty còn lại, cho thấy hiện nay công tác sử dụng tài sản củacông ty đã phát sinh nhiều hạn chế

Như vậy, qua ba năm gần đây, hiệu suất sử dụng tài sản của công ty thay đổi

không ổn định Việc sử dụng tài sản của công ty vào hoạt động đã có hiệu quả vào năm 2008 nhưng hiện nay đang có xu hướng giảm Điều này chứng tỏ công ty sử dụng tài sản ngày càng kém hiệu quả

Hiệu suất sử dụng tài sản đã cho chúng ta biết sơ lược về hiệu quả sử dụng toàn

bộ tài sản của công ty Tuy nhiên để xem xét hiệu quả kinh doanh cá biệt đầy đủ nhất

và để hiểu thêm nguyên nhân gây nên sự biến động về hiệu suất sử dụng tài sản, ta cầnxem xét đến chỉ tiêu hiệu suất sử dụng tài sản cố định và hiệu suất sử dụng tài sản lưuđộng

1.1.2 Phân tích hiệu suất sử dụng tài sản cố định

TSCĐ đóng vai trò quan trọng trong suốt quá trình hoạt động kinh doanh củadoanh nghiệp Việc tính toán chỉ tiêu này là hết sức cần thiết nhằm đánh giá và xemxét nâng cao hiệu suất sử dụng TSCĐ Dựa vào các báo cáo tài chính, ta có thể lập nênbảng sau:

Bảng 2.3: Hiệu suất sử dụng TSCĐ giai đoạn 2007-2009

Đơn vị tính: triệu đồng

Chênh lệch 08/07

Chênh lệch 09/08 Mức % Mức %

1 DTT 1,187,394 1,380,881 927,137 193,487 16.30 -453,744 -32.86

2 Nguyên giá bình quân

3 Htscđ (3) = (1)/(2) (lần) 28.99 30.7 20.90 1.71 5.88 -9.80 -31.93Hiệu suất sử dụng tài sản cố định của công ty thay đổi không ổn định qua ba năm.Năm 2007, hiệu suất sử dụng tài sản của công ty là 28.99 lần, tức là cứ 1 đồng tài sản

cố định được đưa vào sử dụng thì tạo ra 28.99 đồng doanh thu Đến năm 2008, hiệusuất sử dụng TSCĐ của công ty là 30.7, tăng lên 5.88% so với năm 2007, ứng với mức

Trang 25

tăng 1.71 lần Nhưng sang năm 2009, hiệu suất sử dụng TSCĐ của công ty giảm mạnhcòn 20.90 lần, tức là giảm đi 31.93% so với năm 2008.

Năm 2008: doanh thu thuần tăng và nguyên giá TSCĐ bình quân cũng tăng,

nhưng tốc độ tăng của doanh thu thuần (16.30%) lớn hơn tốc độ tăng của nguyên giátài sản cố định (9.83%) nên hiệu suất sử dụng TSCĐ năm nay lớn hơn năm ngoái.Năm này, nguyên giá TSCĐ hữu hình của công ty có giảm một lượng đáng kể trong tỷtrọng tổng TSCĐ do đập, xây dựng lại và thanh lý nhượng bán Nhưng giá trị bìnhquân TSCĐ vẫn tăng, chủ yếu là do công ty đầu tư nhiều TSCĐ vô hình Công ty chủyếu đất mua để làm kho bãi và thêm mới một số phương tiện vận tải phục vụ cho côngtác bán hàng và một số thiết bị quản lý như máy lạnh, máy in, ở Văn phòng Công ty.Công ty đã chuyển tiền nhận quyền sử dụng lô đất 5.090 m2 tại Cẩm Lệ-Miếu Bông,

Đà Nẵng,…, đầu tư xe ô tô TOYOTA Camry 05 chỗ ngồi, đầu tư cơ sở kinh doanhcho các đơn vị trực thuộc (chuyển quyền sử dụng lô đất CN Quảng Nam) với tổng giátrị thực hiện lên đến 19,670 triệu đồng, đạt 45% tổng mức đầu tư kế hoạch Điều này

đã làm cho nguyên giá tài sản cố định bình quân năm 2008 tăng 9.83 % so với năm2007

Năm 2009: hiệu suất sử dụng tài sản năm nay chỉ đạt 20.90 lần, tức là cứ một

đồng TSCĐ được công ty đưa vào sử dụng thì chỉ tạo ra 20.90 đồng doanh thu thuần,giảm đi 31.93% so với năm 2008, ứng với mức giảm 9.80 lần Sở dĩ như vậy là dodoanh thu thuần năm này chỉ đạt 927,137 triệu đồng, giảm mạnh so với năm 2008 vìcác nguyên nhân đã nêu trên, ứng với mức giảm 32.86% Giá trị tài sản bình quân nămnày cũng giảm, nhưng tốc độ giảm nhẹ hơn nhiều hơn với tốc độ giảm của doanh thuthuần Như vậy, có thể thấy năm 2009 là năm công ty không sử dụng hết nguồn lực tàisản cố định hiện có, việc đầu tư đã không đem lại hiệu quả kinh doanh như mongmuốn

Bảng 2.4: Hiệu suất sử dụng TSCĐ của CEVIMETAL và các công ty cùng ngành

 Có thể thấy, so với các công ty cùng ngành, hiệu suất sử dụng tài sản cố định

hiện nay là tương đối Tuy nhiên, qua ba năm, chỉ tiêu này của công ty biến động nhiều, và hiện đang có xu hướng giảm Điều này chứng tỏ khả năng khai thác TSCĐ của doanh nghiệp hiện nay tồn tại một vài thiếu sót, khiến hiệu suất sử dụng tài sản nói chung của doanh nghiệp cũng giảm sút

1.1.3 Phân tích hiệu suất sử dụng vốn lưu động

Số vòng quay vốn lưu động

Vốn lưu động là một chỉ số liên quan đến lượng tiền một doanh nghiệp cần đểduy trì hoạt động thường xuyên Đây chính là thước đo cho cả hiệu suất và sức mạnh

Trang 26

tài chính ngắn hạn của doanh nghiệp Khả năng quản lý vốn lưu động của doanhnghiệp càng tốt thì nhu cầu vay nợ càng giảm Ngay cả khi doanh nghiệp có tiền nhànrỗi thì việc quản lý vốn lưu động cũng rất cần thiết vì nó đảm bảo rằng lượng vốn nhànrỗi này sẽ được đầu tư một cách hiệu quả nhất cho nhà đầu tư

Công ty CP Kim Khí Miền Trung hoạt động trên lĩnh vực thương mại là chính.Đối với một doanh nghiệp thương mại, vốn lưu động luôn chiếm một tỷ trọng đáng kểtrong tổng vốn kinh doanh và nó luôn luôn thay đổi hình thái biểu hiện trong quá trìnhthu mua, dự trữ và phân phối Đối với doanh nghiệp thương mại, số vòng quay vốn lưuđộng thường cao hơn so với các doanh nghiệp sản xuất, bởi chức năng chính củadoanh nghiệp thương mại là tổ chức lưu thông hàng hóa

Bảng 2.5: Số vòng quay vốn lưu động giai đoạn 2007-2009 (ĐVT: triệu đồng)

1.Ảnh hưởng của doanh thu thuần kd 1.09 -2.75

3.Biến động số vòng quay vlđ (3) = (1) + (2) 1.50 -2.97

Từ bảng phân tích trên, ta có thể thấy được: số vòng quay vốn lưu động củadoanh nghiệp biến thiên qua các năm Cụ thể là số vòng quay vốn lưu động tăng mạnhvào năm 2008 nhưng lại giảm với tốc độ mạnh hơn vào năm 2009

Năm 2008: số vòng quay vốn lưu động của doanh nghiệp là 8.48 vòng, mỗi vòng

là 42 ngày, tăng 1.5 vòng so với năm 2007, ứng với mức tăng 21.48%, khiến số ngàybình quân một vòng giảm 10 ngày

Xét về sự ảnh hưởng cuả các nhân tố đến hiệu suất sử dụng vốn lưu động Trongđiều kiện giá trị bình quân của vốn lưu động không đổi thì những nỗ lực trong việc giatăng doanh số khiến số vòng quay vốn lưu động tăng 1.09 vòng Nguyên nhân của sựtăng trưởng về doanh thu có thể thấy rõ trong phần phân tích trước đây, doanh thuthuần năm 2008 tăng là bởi giá thép bán ra cao đột biến trong 6 tháng đầu năm, cùngvới đó là sự tiến bộ trong công tác thúc đẩy kinh doanh và quản lý nhân sự

Trong điều khiện, doanh thu thuần hoạt động kinh doanh không đổi, kết hợp vớiviệc thực hiện tốt công cuộc quản lý vốn lưu động, số vòng quay vốn lưu động đã tăng0.41 vòng Năm 2008, giá trị vốn lưu động bình quân giảm 8,283 triệu đồng, ứng vớimức giảm là 4.87% Giá trị vốn lưu động bình quân giảm chủ yếu do giá trị hàng tồnkho và giá trị các khoản phải thu giảm

Với tình hình thị trường diễn ra trong năm 2007, công ty dự đoán giá thép vànhu cầu tiêu thụ thép năm 2008 sẽ còn tăng nữa Vì vậy, Ban lãnh đạo Công ty đã raquyết định dự trữ một lượng hàng tồn kho lớn, làm cho tổng tài sản của công ty ở thờiđiểm cuối năm 2007 đạt đến con số rất cao, là 242,937 triệu đồng, dẫn đến việc tổngtài sản bình quân năm này của công ty cũng khá cao Sang năm 2008, đúng như dự

Trang 27

đoán, nhu cầu sử dụng thép vẫn không ngừng tăng đã giúp Công ty giải quyết đi mộtlượng lớn thép đã dự trữ năm trước, khiến hàng tồn kho của công ty giảm mạnh

Xét về khoản phải thu, đặc biệt là khoản phải thu khách hàng: đối với nhữngkhách hàng nước ngoài công ty sử dụng tín dụng thư trong mua bán (L/C), đối vớikhách hàng trong nước, công ty quy đinh lãi suất phạt trong trường hợp khách hàngchậm thanh toán, lãi suất phạt càng tăng nếu thời gian nợ càng dài, điều này đã thúcđẩy khách hàng thanh toán nhanh hơn Đồng thời, công ty đã xây dựng những tiêuchuẩn quan trọng về uy tín tín dụng thông qua việc xem xét những lần trả nợ trước,đánh giá khả năng thanh toán của khách hàng thông qua báo cáo tài chính từ đó hìnhthành nên quy trình đánh giá khách hàng Từ hồ sơ đánh giá này công ty có thể đưa racác chính sách thanh toán phù hợp đối với từng khách hàng, hạn chế được tối đa nhữngkhách hàng có dấu hiệu cạnh tranh yếu, không hợp tác với khách hàng có dấu hiệu dâydưa nợ, xu hướng phát triển không vững chắc

Sự giảm sút trong giá trị hàng tồn kho và khoản phải thu khiến vốn lưu động bìnhquân năm 2008 thấp hơn so với năm 2007

Năm 2009: số vòng quay vốn lưu động sụt giảm đáng kể trong năm này, đạt đến

con số thấp nhất trong 3 năm là 5.51 vòng, mỗi vòng lên đến 65 ngày, giảm 2.97 vòng

so với năm ngoái, ứng với mức giảm 35.05%, khiến số ngày bình quân một vòng quaytăng những 23 ngày

Trong điều kiện vốn lưu động bình quân không đổi thì việc kinh doanh kém hiệuquả khiến hiệu suất vốn lưu động giảm 2.75 vòng Trong cùng một mức doanh thuthuần, công tác quản lý vốn lưu động không được quan tâm đúng mức khiến số vòngquay vốn lưu động giảm 0.22 vòng Qua đó, ta thấy được, sự sụt giảm đáng kể củaviệc luân chuyển vốn lưu động là do ảnh hưởng của cả hai nhân tố trên, trong đó sự hạthấp của doanh số với những nguyên nhân đã nêu rõ trong những phần trước là nhân tố

có sức ảnh hưởng lớn hơn nhiều

Để hiểu rõ hơn về hiệu suất sử dụng vốn lưu động, ta đi vào phân tích vòng quaykhoản phải thu và hàng tồn kho

Số vòng quay khoản phải thu

Bảng 2.7: số vòng quay khoản phải thu giai đoạn 2007-2009

Năm 2008: số dư bình quân các khoản phải thu năm này giảm 7,281 triệu đồng,

tương ứng với 11.95% so với năm 2007, doanh thu thuần và thuế giá trị gia tăng đầu ratăng lên với tốc độ 15.63%, ứng với mức tăng là 194,166 triệu đồng làm cho số vòng

Trang 28

quay khoản phải thu tăng 6.38 vòng, tức là tăng 31.32%, dẫn đến việc kỳ thu tiền bìnhquân giảm đi 23.85% còn 14 ngày Như vậy, trong năm này, song song với việc doanhthu BH & CCDV tăng (với các nguyên nhân đã nói ở trên), doanh nghiệp đã có nhiều

nỗ lực nhằm giảm khoản nợ phải thu để đảm bảo duy trì vốn cho các hoạt động kinhdoanh cần thiết, làm cho số vòng quay nợ phải thu tăng lên đáng kể Việc khoản phảithu giảm xuống trong khi doanh thu BH & CCDV tăng cao đã thể hiện được sự nỗ lực

và cố gắng của ban lãnh đạo công ty trong việc quản lý khoản phải thu cũng như cácnhân viên của công ty trong việc thực thi các chính sách tín dụng

Năm 2009: không có chiều hướng tích cực như năm 2008, khoản phải thu bình

quân trong năm này tăng nhẹ 3.88%, ứng với mức tăng 2,080 triệu đồng Bên cạnh đó,doanh thu BH & CCDV cùng với thuế giá trị gia tăng đầu ra giảm một mức đáng kể là32.38% còn 971,421 triệu đồng, làm cho vòng quay khoản phải thu giảm mạnh còn17.46 vòng, tức là đã giảm đi 34.90%, dẫn đến số ngày thu hồi vốn bình quân tăng hơn53% và là 21 ngày Việc doanh thu giảm mạnh trong khi số dư bình quân khoản phảithu tăng lên cho thấy các chính sách tín dụng áp dụng trong năm 2008 không còn phùhợp với năm 2009

 Từ kết quả phân tích và dựa vào đồ thị ta nhận thấy qua 3 năm hoạt động thì

tốc độ luân chuyển khoản phải thu, cũng như hiệu suất sử dụng tài sản cố định, biến thiên không ổn định và đang có xu hướng giảm dần Đây là dấu hiệu không tốt, thể hiện khả năng hoán chuyển thành tiền của khoản phải thu đang kém dần, lượng vốn bị

ứ đọng, vốn của công ty đang bị khách hàng chiếm dụng, khiến uy tín của doanh nghiệp và niềm tin của nhà đầu tư cũng như người cho vay giảm đi Điều này hết sức bất lợi đối với một công ty cổ phần trong việc huy động vốn mở rộng quy mô sản xuất.

Số vòng quay hàng tồn kho

Tốc độ lưu chuyển hàng tồn kho là công cụ hiệu quả để đánh giá hiệu quả quản lývốn lưu động của doanh nghiệp Tỉ lệ này cho ta biết tốc độ bán hàng của doanhnghiệp Nếu hàng tồn kho nhiều mà doanh thu không tăng thì việc lưu giữ hàng tồnkho nhiều sẽ gây nhiều bất lợi cho doanh nghiệp Nếu nhu cầu tiêu thụ nhiều thì hàngtồn kho nhiều sẽ làm cho quá trình sản xuất, lưu thông hiệu quả và nhanh hơn, đó làmột thuận lợi so với đối thủ cạnh tranh

Bảng 2.8: số vòng quay hàng tồn kho giai đoạn 2007-2009

số vòng quay hàng tồn kho tăng lên 2.16 vòng, đạt được con số 15.91 vòng, mỗi vòng

là 22.63 ngày, ứng với mức giảm 13.59% so với số ngày bình quân một vòng quay củanăm ngoái Tuy nhiên, đến năm 2009, số vòng quay hàng tồn kho giảm xuống mứcthấp nhất trong 3 năm, là 9.57 vòng, tức đã giảm đi 6.34 vòng hay 39.85% Số ngày

Trang 29

bình quân một vòng quay hàng tồn kho gần 38 ngày, tăng lên 15 ngày so với nămtrước.

Năm 2008: sự tăng lên của giá vốn (151,592 triệu đồng) và sự giảm sút của giá trị

hàng tồn kho bình quân (1,677 triệu đồng) khiến số vòng quay hàng tồn kho tăng từ13.74 vòng lên 15.91 vòng, ứng với mức tăng 15.72% Kỳ dự trữ bình quân năm naythấp nhất trong 3 năm là 23 ngày Nguyên nhân chính khiến giá vốn tăng mạnh là dodoanh thu trong năm nay có sự gia tăng đột biến, tức là hàng hóa, thành phẩm tiêu thụnhiều hơn, kéo theo đó là sự gia tăng của giá vốn hàng bán Thêm đó, năm 2008 nàychứng kiến cuộc khủng hoảng kinh tế lớn nhất từ trước đến nay Những tháng nửa đầunăm 2008, thị trường giá cả nguyên vật liệu và hàng hóa thế giới liên tục tăng và đạtmức kỷ lục vào tháng 6, kéo theo đó là giá thép cũng tăng cao chóng mặt Doanh thutăng cùng với giá đầu vào tăng khiến giá vốn hàng bán tăng

Về phía hàng tồn kho, sang năm 2008, do công ty đã thực hiện tốt công tácnghiên cứu thị trường, nắm bắt nhanh nhu cầu thị trường cùng với chính sách bán hànghợp lý, và đúng như dự đoán, nhu cầu sử dụng thép vẫn không ngừng tăng đã giúpCông ty giải quyết đi một lượng lớn thép đã dự trữ năm trước, khiến hàng tồn kho dựtrữ của công ty giảm đi

Năm 2009: cũng như các chỉ tiêu khác của hiệu quả kinh doanh cá biệt, vòng

quay hàng tồn kho năm nay giảm đột ngột đến 39.85% so với năm 2008 xuống còn9.57 vòng, kì dự trự bình quân tăng đến 38 ngày ở mức cao nhất trong 3 năm, ứng vớimức tăng 66.24% Nguyên nhân gây nên sự sụt giảm này là doanh thu BH & CCDVtrong năm nay có sự giảm sút đột biến, doanh thu thấp tức là hàng hóa, thành phẩmtiêu thụ kém đi hơn, kéo theo đó là sự giảm sút của giá vốn hàng bán và sự tồn đọngcủa hàng tồn kho sự trữ

 Số vòng quay hàng tồn kho trong 1năm trở lại đây là khá thấp, ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng VLĐ Qua phân tích cho thấy, doanh nghiệp cần có biện pháp quản

lý HTK hiệu quả hơn, cụ thể là cần cải thiện công tác dự báo nhu cầu thị trường từ đó xác đinh mức dự trữ hợp lí, tránh ứ đọng HTK, đồng thời đẩy mạnh tiêu thụ.

Để xem xét rõ hơn hiệu suất sử dụng vốn lưu động của công ty, ta so sánh chỉtiêu này với các công ty cùng ngành

Bảng 2.9: Số vòng quay vốn lưu động của CEVIMETAL và các công ty cùng ngành

sự thay đổi của các công ty trong ngành

 Như vậy, số vòng quay VLĐ của công ty qua ba năm là khá cao Năm 2008

đánh dấu những chuyển biến tích cực trong hoạt động kinh doanh cũng như trong công tác quản lí VLĐ của công ty mặc cho sự ảnh hưởng mạnh mẽ từ cuộc suy thoái của nền kinh tế thế giới Tuy nhiên, năm 2009 lại cho thấy một cách rõ rệt những hạn chế còn tồn tại trong hai công tác trên Bằng chứng là hiệu suất sử dụng vốn lưu động tăng mạnh vào năm 2008 và đang có xu hướng giảm Vì vậy, trong những năm tới công ty cần có những biện pháp cải thiện hoạt động kinh doanh và xem xét lại vấn đề

Trang 30

quản lí VLĐ như hàng tồn kho, nợ phải thu để đẩy nhanh tốc độ luân chuyển VLĐ và tiết kiệm vốn

 Qua việc phân tích hiệu suất sử dụng tài sản tổng hợp và cá biệt, kết luận rằng

nhìn chung hiệu suất sử dụng tài sản, hiệu suất sử dụng TSCĐ, hiệu suất sử dụng VLĐ của công ty trong giai đoạn 2007 - 2009 là khá cao so với các công ty cùng ngành Hiệu quả kinh doanh cá biệt của công ty qua ba năm có nhiều biến động và hiện đang

có xu hướng giảm.

Hiệu suất sử dụng tài sản cố định và hiệu suất sử dụng VLĐ tăng giảm không ổn định dẫn đến sự bất ổn định của hiệu suất sử dụng tổng tài sản Trong thời gian tới công ty cần nỗ lực đẩy mạnh tốc độ lưu chuyển VLĐ, cụ thể là khoản phải thu và hàng tồn kho, cũng như tận dụng tối đa năng lực TSCĐ để tăng hiệu quả kinh doanh cá biệt

từ đó tăng hiệu quả kinh doanh tổng hợp của toàn công ty.

1.2 Phân tích hiệu quả kinh doanh tổng hợp của công ty

Phần trên đã phân tích hiệu quả kinh doanh cá biệt của công ty, phản ánh hiệu quả củatừng loại nguồn lực Sau đây, ta đi sâu phân tích khả năng sử dụng tổng hợp các nguồn lực

để tạo ra kết quả trong lĩnh vực kinh doanh, đó chính là hiệu quả kinh doanh tổng hợp

1.2.1 Phân tích khả năng sinh lời của hoạt động sản xuất kinh doanh

Khả năng sinh lời của hoạt động sản xuất kinh doanh là chỉ tiêu chính mà các nhàđầu tư, các cổ đông và các nhà quản lý tài chính quan tâm Do đó, muốn thu hút vốn vàthực hiện việc tài trợ thành công cho sự phát triển của công ty thì đòi hỏi doanh nghiệpphải đạt được một tỉ lệ lợi nhuận cao

Phân tích khả năng sinh lời của hoạt động kinh doanh bao gồm việc phân tích,đánh giá khả năng tạo ra lợi nhuận từ các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanhnghiệp thông qua chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận trước thuế/doanh thu thuần, lợi nhuận gộp/doanh thu thuần, tỷ suất lợi nhuận thuần hoạt động kinh doanh/doanh thu thuần

Bảng 2.10: kết quả kinh doanh giai đoạn 2007-2009 (Đơn vị tính: triệu đồng)

DTT BH & CCDV 1,183,232 1,368,152 925,163 184,920 15.63 -442,989 -32.38Giá vốn hàng bán 1,133,677 1,285,269 887,157 151,592 13.37 -398,112 -30.97Lợi nhuận gộp 49,555 82,883 38,006 33,328 67.25 -44,877 -54.14

DT tài chính 3,873 3,747 1,436 -126 -3.25 -2,311 -61.68Cphí tài chính 6,825 17,482 2,180 10,657 156.15 -15,302 -87.53Chi phí bán hàng 23,179 43,276 24,496 20,097 86.70 -18,780 -43.40Chi phí QLDN 12,367 8,774 3,194 -3,593 -29.05 -5,580 -63.60

LN thuần từ HĐKD 11,057 17,098 9,572 6,041 54.64 -7,526 -44.02Thu nhập khác 289 8,982 538 8,693 3007.96 -8,444 -94.01

LN khác 236 7,708 538 7,472 3166.10 -7,170 -93.02Tổng LNKT TT 11,293 24,806 10,110 13,513 119.66 -14,696 -59.24

Bảng 2.11: tỷ trọng chi phí trên doanh thu

Năm 2007 Năm 2008 Năm 2009 2008/2007 2009/2008

Trang 31

Chi phí bán hàng 1.95% 3.15% 2.64% 61.55% -16.19%

Tỉ suất lợi nhuận trước thuế/doanh thu thuần

Bảng 2.12: Tỉ suất LNTT/DTT giai đoạn 2007-2009

1,187,39

4

1,380,88

1 927,137 193,487 15.63 453,744 32.863.Tỉ suất LNTT/DTT

(3) = (1)/(2) x 100 0.95% 1.80% 1.09% 0.85% 88.88 -0.71% -39.30

Từ số liệu trên ta có thể thấy rằng: tỉ suất LNTT/DTT biến thiên không ổn định,

có sự tăng mạnh vào năm 2008 và hiện nay đang có xu hướng giảm Để hiểu rõ thêm

về điều này ta cần đi vào phân tích cụ thể từng năm như sau:

Năm 2007: tỉ suất LNTT/DTT của doanh nghiệp là 0.95%, tức là cứ 100 đồng

doanh thu tạo ra từ hoạt động sản xuất kinh doanh thì thu được 95 đồng lợi nhuận

Năm 2008: doanh thu thuần hoạt động sản xuất kinh doanh tăng 193,487% với

các lý do đã trình bày ở phần trên, ứng với mức tăng là 15.63% Ở năm này, tổng lợinhuận kế toán trước thuế cũng tăng, với tốc độ tăng rất cao là 119.66%, lớn hơn nhiều

so với tôc độ tăng của doanh thu thuần hoạt động sản xuất kinh doanh Điều này khiến

tỉ suất LNTT/DTT tăng vọt so với năm trước những 88.88%, đạt 1.80% Chi phí bánhàng, chi phí tài chính, giá vốn hàng bán và chi phí khác tăng so với năm 2007, nhưng

tỉ trọng tổng chi phí trên doanh thu lại giảm 0.32% Trong khi đó, doanh thu thuầntăng 15.63% so với năm trươc Hai điều này khiến tỷ trọng lợi nhuận kế toán trướcthuế trên doanh thu hay khả năng sinh lời từ hoạt động kinh doanh tăng mạnh

Năm 2009: tỉ suất LNTT/DTT năm nay giảm còn 1.09%, tức là một đồng doanh

thu từ hoạt động kinh doanh sẽ thu về 1.09 đồng lợi nhuận, giảm 0.71 đồng so với năm

2008 Cả lợi nhuận lẫn doanh thu thuần năm nay đều giảm, nhưng tốc độ giảm của lợinhuận thuần là 59.24%, lớn hơn nhiều so với tốc độ giảm của doanh thu thuần là32.86% làm cho tỉ suất LNTT/DTT của năm nay giảm 39.30% so với năm trước Lợinhuận kế toán trước thuế năm nay giảm xuống bởi tất cả các hoạt động của công tyđều không đạt hiệu quả như năm trước, khiến doanh thu thuần từ hoạt động BH &CCDV, doanh thu tài chính đến thu nhập khác đều giảm mạnh

Bảng 2.13: Tỉ suất LNTT/DTT của CEVIMETAL và các công ty cùng ngành

Trang 32

Chỉ tiêu trên phản ánh tất cả hoạt động của công ty mà mức sinh lời của mỗi hoạtđộng là không giống nhau Vì vậy ta sẽ đi sâu phân tích khả năng sinh lời của từnghoạt động thông qua chỉ tiêu tỉ suất LNG/DTT và tỉ suất LN thuần HĐKD/DTT để biếtđược khả năng sinh lời của từng hoạt động đã ảnh hưởng đến khả năng sinh lời củatoàn bộ công ty như thế nào.

Tỷ trọng GVHB/DT 0.96 0.94 0.96 -0.02 -2 0.02 2.08

Tỷ suất LNG/DTT tăng mạnh vào năm 2008 nhưng giảm đi một lượng đáng kểvào năm 2009

Năm 2007: tỉ suất này là 4.19%, nghĩa là cứ 100 đồng doanh thu BH & CCDV sẽ

tạo ra 4.19 đồng lợi nhuận gộp

Năm 2008: tỉ suất này là 6.06%, tăng 45% so với năm trước, tức là, cứ 100 đồng

doanh thu BH & CCDV thì sẽ thu thêm 1.87 đồng lợi nhuận gộp, là thu được 6.06đồng Xét đến các nhân tố ảnh hưởng thì trong năm này, cả doanh thu thuần BH &CCDV và lợi nhuận gộp đều tăng nhưng mức tăng của lợi nhuận gộp lớn hơn nhiều sovới mức tăng của doanh thu thuần, khiến tỉ suất LNG/DTT tăng lên Nguyên nhânkhiến doanh thu thuần hoạt động BH & CCDV tăng đã được nêu ở trên Doanh thuthuần tăng, giá vốn hàng bán tăng mà lợi nhuân gộp vẫn tăng, bởi tốc độ tăng của giávốn hàng bán thấp hơn tốc độ tăng của doanh thu, nói cách khác, tỷ trọng giá vốn hàngbán trên doanh thu thuần năm nay thấp hơn năm trước, thấp hơn 2.08% Điều nàychứng tỏ hoạt động BH&CCDV trong năm này có khả năng sinh lời cao, và thể hiện

nỗ lực của công ty trong việc kiểm soát giá vốn cũng như đẩy mạnh tiêu thụ để giatăng mức sinh lợi của hoạt động BH&CCDV góp phần làm tăng khả năng sinh lờichung của công ty

Năm 2009: tỉ suất LNG/DTT là 4.11%, giảm 1.95 đồng so với năm 2008, đạt mức

thấp nhất trong ba năm Nguyên nhân là do tốc độ giảm của lợi nhuận gộp là 54.14%,lớn hơn nhiều so với tốc độ giảm của doanh thu thuần BH & CCDV là 32.38% Doanhthu thuần BH & CCDV giảm khiến giá vốn hàng bán giảm theo tương ứng nhưng mứcgiảm của giá vốn hàng bán thấp hơn mức giảm của doanh thu làm tỷ trọng GVHB/DTtăng, từ đó làm tỉ suất LNG/DTT giảm xuống

Trang 33

Bảng 2.15: Tỉ suất LNG/DTT của CEVIMETAL và các công ty cùng ngành.

 Như vậy, qua ba năm khả năng sinh lời của hoạt động BH&CCDV thay đổi

không ổn định và hiện nay đang có xu hướng giảm, góp phần hạ thấp khả năng sinh lời của toàn bộ các hoạt động ở công ty.

Tỷ suất LNT

Ta có thể thấy tỉ suất LN thuần HĐKD/DTT mặc dù có sự tăng mạnh trong năm

2008 nhưng lại giảm đi vào năm 2009 Ta đi vào phân tích cụ thể như sau:

Năm 2007: tỉ suất này là 0.93 đồng, tức là cứ 100 đồng doanh thu tạo ra từ hoạt

động kinh doanh thì doanh nghiệp thu về 0.93 đồng lợi nhuận thuần

Năm 2008: tỉ suất này là 1.25%, tăng mạnh lên 0.31 đồng so với năm ngoái, ứng

với tốc độ tăng là 34% Nguyên nhân là do lợi nhuận thuần trong hoạt động kinhdoanh tăng vượt trội (55%), doanh thu thuần cũng tăng, nhưng ở mức thấp hơn (16%).Hoạt động kinh doanh bao gồm hoạt động BH & CCDV và hoạt động tài chính Theocác bảng trên, rõ ràng khả năng sinh lời của hoạt động tài chính ở năm này giảm sút vàđang ở mức âm, chi phí bán hàng lại tăng mạnh (87%) cho nên lợi nhuận thuần từ hoạtđộng kinh doanh tăng là do sự gia tăng doanh số trong việc BH & CCDV

Năm 2009: tỉ suất LN thuần HĐKD/DTT năm này là 1.03%, giảm 17.11% so với

năm 2008, ứng với mức giảm 0.21 đồng Xét đên sự ảnh hưởng của các nhân tố liênquan, ta thấy, lợi nhuận thuần và doanh thu thuần từ hoạt động sản xuất kinh doanhđều giảm nhưng tốc độ giảm của lợi nhuận là cao hơn tốc độ giảm của doanh thu, làmcho tỉ suất này giảm xuống Rõ ràng ở năm này, cả hoạt động BH & CCDV và hoạtđộng tài chính đều không hiệu quả Thêm vào đó, công tác kiểm soát chi phí không tốt,tổng chi phí của doanh nghiệp năm nay lớn hơn năm trước, nhưng tỷ trọng chi phí sovới doanh thu lại cao hơn 0.22%, khiến lợi nhuận thuần giảm đi, làm giảm khả năngsinh lời từ hoạt động kinh doanh của công ty

Bảng 2.17:Tỉ suất LNTHĐKD/DT của CEVILMETAL và các công ty cùng ngành

Trang 34

Trong khi tỉ suất LNG/DT của công ty ở mức tương đối so với hai công ty cùngngành, thì tỉ suất LNT HĐKD/DT bình quân của công ty lại thấp hơn Điều này chothấy khả năng sinh lời từ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đang giảm sút, gópphần làm giảm khả năng sinh lời từ tất cả các hoạt động của doanh nghiệp

1.2.2 Phân tích khả năng sinh lời của tài sản

Tỉ suất sinh lời của tài sản (ROA)

Hiệu quả của việc chuyển vốn đầu tư thành lợi nhuận được thể hiện qua tỉ suấtsinh lời từ tài sản (ROA) ROA càng cao thì càng tốt vì công ty đang kiếm được nhiềulợi nhuận hơn trên lượng đầu tư ít hơn

Bảng 2.18 : tỉ suất sinh lời của tài sản giai đoạn 2007-2009

Chỉ tiêu 2007 2008 2009 Chênh lệch 08/07 Chênh lệch 09/08 Mức % Mức %

1.Tổng LNTT 11,293 24,806 10,110 13,513 120 -14,696 -59.242.Giá trị TS bình quân 214,193 209,447 220,303 -4,746 -2 10,856 5.183.ROA

(3)= (1)/(2)x100 (%) 5.27 11.84 4.59 6.57 125 -7.25 -61.25Bảng phân tích trên cho thấy tỉ suất sinh lời của tài sản tại công ty tăng giảmkhông ổn định Cũng như các chỉ tiêu trên, tỉ suất sinh lời của tài sản tăng ấn tượngvào năm 2008 nhưng giảm đột ngột vào năm 2009

Năm 2007, chỉ tiêu này là 5.27, có nghĩa, cứ 100 đồng tài sản được đầu tư thìdoanh nghiệp thu về 5.27 đồng lợi nhuận trước thuế

Năm 2008, chỉ tiêu này tăng vượt trội lên 11.84, ứng với mức tăng 6.57 đồng, tức là cứ

100 đồng tài sản được đưa vào sử dụng thì thu thêm 6.57 đồng lợi nhuận Ở năm này, lợinhuận trước thuế tăng mạnh một lượng là 13,513 triệu đồng trong khi giá trị tài sản bìnhquân giảm đi 4,746 triệu đồng, khiến tỉ suất lợi nhuận tăng 125% so với năm 2007

Đến năm 2009, ROA giảm còn 4.59 đồng, 100 đồng tài sản bỏ ra chỉ thu về 4.59đồng lợi nhuận, kém năm 2008 những 7.25 đồng Nguyên nhân của sự giảm sút độtngột này là do giá trị tài sản bình quân doanh nghiệp đưa vào sử dụng tăng 5.18%trong khi lợi nhuận kế toán trước thuế lại giảm những 59.24%

Như vậy, doanh nghiệp đã khai thác hiệu quả giá trị của tài sản vào năm 2008 nhưng tỉ suất ROA giảm mạnh vào năm 2009 chứng tỏ công tác quản lý và sử dụng tài sản của doanh nghiệp sa sút rõ rệt Doanh nghiệp cần có những quan tâm đúng mức

để nâng cao chỉ tiêu này.

Để tìm hiểu các nhân tố ảnh hưởng đến tỉ suất sinh lời từ tài sản của công ty

ta sử dụng phương trình Dupont.

Lợi nhuận trước thuế doanh thu

Tỉ suất sinh lời tài sản = x

Doanh thu tổng tài sản bquânROA= hln/dt x hdt/ts

Bảng 2.19: tổng hợp các chỉ tiêu ảnh hưởng đến ROA theo phương trình Dupont

Trang 35

Bảng 2.20: Ảnh hưởng của các nhân tố đến ROA

3 Biến động của tỉ suất sinh lời tài sản

Năm 2008, tỉ suất sinh lời tài sản tăng ở mức 6.57% so với năm 2007 Có nghĩa,trong năm này, cứ 100 đồng tài sản đầu tư tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanhthì thu được nhiều hơn so với năm 2007 là 6.57 đồng lợi nhuận trước thuế Ngược với

sự tăng trưởng của năm 2008, tỉ suất sinh lời tài sản năm 2009 giảm đến 7.25%.Nguyên nhân của sự biến thiên này là do sự ảnh hưởng của hai nhân tố tỉ suấtLNTT/DTT và vòng quay tài sản

- Năm 2008, tỉ suất lợi nhuận trên doanh thu tăng mạnh 89% so với năm trước,làm tỉ suất sinh lời tài sản tăng 4.69% Nguyên nhân làm cho tỉ suất lợi nhuận trêndoanh thu tăng là doanh thu thuần năm 2008 tăng 193,489 triệu đồng hay là tăng15.93% trong khi lợi nhuận trước thuế lại tăng với tốc độ lớn hơn nhiều là 120% sovới năm 2007

- Do tỉ suất lợi nhuận trên doanh thu năm 2009 giảm 39%, kéo theo tỉ suất sinhlời của tài sản giảm 4.65% Trong năm này, lợi nhuận trước thuế giảm mạnh xuốngmức thấp nhất trong ba năm là 10,110 triệu đồng, với tốc độ giảm 59.24% Bênh cạnh

đó, doanh thu giảm với tốc độ 32.86%, như vậy lợi nhuận giảm mạnh và giảm nhanhhơn so với doanh thu, chứng tỏ công ty đã sử dụng lãng phí, làm giảm hiệu quả hoạtđộng kinh doanh

- Giống như tỉ suất lợi nhuận trên doanh thu, năm 2008 hệ số vòng quay tài sản

có tác động tích cực đến chỉ tiêu này Việc sử dụng tài sản hiệu quả trong năm 2008 đãlàm tỉ suất sinh lời của tài sản tăng 1.88% so với năm 2007 Qua phân tích ở phầntrước cho thấy nguyên nhân chính làm hiệu suất sử dụng tài sản tăng là do nhu cầu thịtrường tăng cao khiến lượng hàng tồn kho dự trữ năm 2007 và hàng mới mua năm

2008 được tiêu thụ mạnh

- Năm 2009, vòng quay tài sản giảm khiến tỉ suất sinh lời tài sản giảm 2.60% sovới năm 2008 Nguyên nhân là bởi mặc dù giá trị tài sản bình quân trong năm 2009tăng 5.18% nhưng doanh thu thuần lại giảm đến 32.86% so với năm 2008 Điều nàycho thấy việc yếu kém trong công tác sử dụng tài làm khả năng sinh lời tài sản giảmmạnh

Như vậy, hai nhân tố tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu và vòng quay tài sản tácđộng cùng chiều lên tỷ suât sinh lời của tài sản Trong đó, khả năng sinh lời các hoạtđộng có ảnh hưởng mạnh hơn là nguyên nhân chủ yếu gây nên sự biến động nói trên.Hiện nay, hai chỉ tiêu này cùng tác động tiêu cực lên tỉ suất sinh lời tài sản, làm chokhả năng sinh lời từ tài sản giảm sút

Bảng 2.21 : Tỉ suất sinh lời tài sản của CEVILMETAL và các công ty cùng ngành

Trang 36

Tỉ suất sinh lời tài sản trung bình của công ty là 7.23%, ở mức tương đối so vớihai công ty cùng ngành (SMC là 10.23% và HLA là 4.66%) Tuy nhiên, nếu so sánhriêng từng năm, đặc biệt là năm 2009, ta thấy tỉ suất này thấp hơn nhiều so với SMC

và HLA Điều này cho thấy công tác quản lý và khai thác tài sản của doanh nghiệp cònnhiều hạn chế, gây ảnh hưởng không tốt đến khả năng sinh lời của công ty

 Như vậy, tỉ suất sinh lời tài sản của công ty đang có xu hướng giảm do sự ảnh

hưởng tiêu cực của cả hiệu suất sử dụng tài sản lẫn tỉ suất LNTT/DTT Bằng chứng là ROA năm nay của công ty thấp hơn hẳn so với hai công ty cùng ngành, mặc dù ROA trung bình ba năm cũng ở mức tương đối Vì vậy, trong những năm đến, để tăng khả năng sinh lời từ tài sản, công ty cần nâng cao hiệu suất sử dụng tài sản và gia tăng tỉ suất LNTT/DTT

Tỉ suất sinh lời kinh tế của tài sản (RE)

Chỉ tiêu tỉ suất sinh lời của tài sản đã phản ánh một cách tổng hợp hiệu quả hoạtđộng của doanh nghiệp Tuy nhiên vì lợi nhuận còn chịu tác động bởi cấu trúc nguồnvốn của doanh nghiệp nên để thấy rõ hiệu quả hoạt động thuần kinh tế ở doanh nghiệp,

ta sử dụng chỉ tiêu tỉ suất sinh lời kinh tế (RE) Đây là chỉ tiêu tỉ suất sinh lời từ tài sảnsau khi loại bỏ ảnh hưởng của cấu trúc nguồn vốn, tức phản ánh hiệu quả thực sự củacông ty khi chưa tính đến chi phí lãi vay, để xem thực chất công ty hoạt động như thếnào nếu không sử nguồn vốn vay

Bảng 2.22: tỉ suất sinh lời kinh tế của tài sản giai đoạn 2007-2009

Với tỷ suất sinh lời kinh tế của tài sản ta thấy khả năng sinh lời của tất cả lượng

vốn công ty bỏ ra kinh doanh mà không cần quan tâm công ty đã sử dụng vốn vay hayvốn chủ sở hữu Chỉ tiêu RE đánh giá khả năng sinh lời của vốn đầu tư so với các cơhội khác, điều này giúp công ty quyết định nên huy động từ vốn chủ hay vốn vay.Bảng phân tích trên cho thấy, tỉ suất sinh lời kinh tế của tài sản cao hơn nhiều so với tỉsuất sinh lời tài sản Điều này chứng tỏ nếu loại trừ ảnh hưởng của nguồn vốn thì khảnăng sinh lời của tài sản tốt

Năm 2008, tỉ suất này đạt đến con số 18.98%, tức là cứ 100 đồng tài sản doanhnghiệp đưa vào sử dụng thì thu được gần 19 đồng lợi nhuận, tăng 10.56 đồng so vớinăm 2008 Điều này cho thấy công ty đã sử dụng tốt nguồn tài sản hiện có Nguyênnhân là do tổng tài sản bình quân giảm xuống khi mà EBIT tăng mạnh, trong đó chiphí lãi vay tăng đến 122% so với năm trước

Năm 2009, tương tự như các chỉ tiêu đã phân tích ở trên, chỉ tiêu này giảm mạnh

và ở mức thấp nhất trong ba năm Tỉ suất sinh lời kinh tế năm nay là 6.45%, tương ứnggiảm xuống 66.01% Nguyên nhân xuất phát từ sự sụt giảm mạnh mẽ của lợi nhuận kếtoán trước thuế và chi phí lãi vay trong khi giá trị tài sản bình quân tăng nhẹ

Trang 37

Bảng 2.23: Tỉ suất sinh lời kinh tế tài sản của CEVILMETAL và các công tycùng ngành.

Tương tự như tỉ suất sinh lời tài sản, tỉ suất sinh lời kinh tế tài sản trung bình qua

ba năm của công ty CP Kim Khí Miền Trung ở mức tương đối so với hai công ty cònlại Những tỉ suất này ở năm 2009 lại đạt ở con số thấp nhất và thấp hơn nhiều so vớihai công ty kia Điều này cho thấy, năm 2009 xuất hiện nhiều yếu kém trong công tác

sử dụng tài sản của công ty Trong những năm đến, công ty cần khác phục điều này đểnâng cao khả năng sinh lời của mình

2 Phân tích hiệu quả tài chính của công ty

Hiệu quả tài chính cho biết hiệu quả của doanh nghiệp trong việc tạo ra thu nhậpcho cổ đông của họ, đó là thái độ gìn giữ và phát triển nguồn vốn chủ sở hữu Thôngthường để đánh giá hiệu quả tài chính người ta sử dụng chỉ tiêu tỉ suất sinh lời vốn chủ

sở hữu (ROE)

2.1 Tỉ suất sinh lời của vốn chủ sở hữu (ROE)

Chỉ số ROE là thước đo chính xác để đánh giá một đồng vốn bỏ ra và tích lũy tạo

ra bao nhiêu đồng lời Tỉ lệ ROE càng cao càng chứng tỏ công ty sử dụng hiệu quảđồng vốn của cổ đông, có nghĩa là công ty đã cân đối một cách hài hòa giữa vốn cổđông với vốn đi vay để khai thác lợi thế cạnh tranh của mình trong quá trình huy độngvốn, mở rộng quy mô Cho nên hệ số ROE càng cao thì các cổ phiếu càng hấp dẫn cácnhà đầu tư hơn từ đó doanh nghiệp càng có cơ hội tìm được nguồn vốn mới

Bảng 2.24: tỉ suất sinh lời vốn chủ giai đoạn 2007-2009

Năm 2007, ROE đạt 14.59% nghĩa là cứ 100 đồng vốn chủ sở hữu đầu tư thì thu

về 14.59 đồng lợi nhuận sau thuế Đến năm 2008, chỉ tiêu này tăng với tốc độ 25% ,đạt ở con số 18.22% Nguyên nhân gây nên sự thay đổi tích cực này là lợi nhuận sauthuế và vốn chủ sở hữu đều tăng nhưng lợi nhuận sau thuế tăng với tốc độ 59% nhanhhơn nhiều so với tốc độ tăng của vốn chủ sở hữu Tuy nhiên, năm 2009 cho thấy sựkém hiệu quả trong các hoạt động của công ty khi mà ROE tụt dốc rất nhanh và dừng

ở con số 6.72% 100 đồng vốn chủ sở hữu được doanh nghiệp đầu tư thì chỉ thu về6.72 đồng lợi nhuận sau thuế, giảm những 11.50 đồng so với năm 2008, ứng với tốc độgiảm 63.11% Sở dĩ có sự thay đổi tiêu cực này là do vốn chủ sở hữu năm này tăngthêm 14,865 triệu đồng nhưng không được sử dụng đúng cách khiến lợi nhuận sauthuế giảm mạnh 57.54%, chỉ còn 7,604 triệu đồng

Để hiểu thêm về sự thay đổi không ổn định của ROE, ta đi vào đánh giá cụ thểcác nhân tố như sau

Trang 38

2.2 Đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của vốn chủ

Có thể nhận thấy chỉ tiêu ROE chịu sự tác động tổng hợp của nhiều yếu tố: hiệuquả kinh doanh, đòn bẩy tài chính, tỉ suất tự tài trợ và khả năng thanh toán lãi vay.Bảng 2.25: các nhân tố ảnh hưởng đến ROE qua 3 năm 2007-2009

2.2.1 Ảnh hưởng của hiệu quả kinh doanh

Từ bảng phân tích ta thấy hiệu quả kinh doanh ảnh hưởng mạnh mẽ đến hiệu quảtài chính Hiệu quả kinh doanh có xu hướng tăng trong năm 2008 thể hiện qua sự tăngtrưởng của chỉ tiêu ROA và RE Điều này đã tác động tích cực làm tăng tỉ suất sinh lờicủa vốn chủ sở hữu trong năm này Khi hiệu quả kinh doanh giảm mạnh vào năm

2009, do ROA và RE đều giảm, tỉ suất sinh lời của vốn chủ cũng giảm theo

Hiệu quả kinh doanh là nguồn gốc chủ yếu tạo nên hiệu quả tài chính của doanhnghiệp nên để tăng hiệu quả tài chính trong những năm tới doanh nghiệp nên có biệnpháp nâng cao hiệu quả kinh doanh hơn nữa

2.2.2 Ảnh hưởng của khả năng tự chủ về tài chính

Thông thường, ứng với hiệu quả kinh doanh cho trước, nếu tỉ suất tự tài trợ cànglớn thì hiệu quả tài chính của doanh nghiệp sẽ càng nhỏ Tuy nhiên, bảng phân tíchtrên cho thấy tỉ suất tự tài trợ của doanh nghiệp tăng dần qua các năm nhưng tỉ suấtsinh lời vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp thì tăng giảm không ổn định Năm 2007, tỉsuất tự tài trợ của doanh nghiệp là 36.13%, nghĩa là trong 100 đồng tài sản thì có 36.13đồng được tài trợ từ nguồn vốn chủ sở hữu và tỉ suất sinh lời của tài sản là 8.42%.Năm 2008, tỉ suất tự tài trợ là 46.93% , tăng gần 30% so với năm ngoái Điều nàyđáng lẽ khiến hiệu quả tài chính giảm đi, nhưng thực tế, hiệu quả tài chính đã tăngmạnh

Năm 2009 cho thấy sự yếu kém trong việc sử dụng các nguồn vốn của doanhnghiệp, được thể hiện bởi sự giảm sút mạnh mẽ của chỉ tiêu tỉ suất sinh lời vốn chủ sởhữu Nguyên nhân là do tỉ suất tự tài trợ tiếp tục tăng cao (tăng thêm 9.45%)

Sự tăng trưởng đều đặn của tỉ suất tự tài trợ thể hiện một tình hình tài chính lànhmạnh, công ty có tính độc lập cao về mặt tài chính và ít bị sức ép từ bên ngoài Do đócông ty có thể tạo được một hình ảnh tốt đẹp với các tổ chức tín dụng cũng như cácnhà đầu tư

2.2.3 Ảnh hưởng của độ lớn đòn bẩy tài chính

Trang 39

Đòn bẩy tài chính được định nghĩa là tỉ lệ nợ phải trả trên nguốn vốn chủ sở hữu.Nếu hệ số đòn bẩy tài chính càng cao thì hiệu quả tài chính của doanh nghiệp sẽ tănglên Tuy nhiên, điều này là không phải lúc nào cũng đúng Bảng phân tích trên chothấy, đòn bẩy tài chính giảm dần qua ba năm nhưng tỉ suất sinh lời vốn chủ lại tănggiảm không ổn định.

Năm 2008, đòn bẩy tài chính giảm khá mạnh so với năm trước, giảm với tốc độ36% Nhưng điều này không ảnh hưởng tiêu cực đến tỉ suất sinh lời của vốn chủ, bởihiệu quả kinh doanh năm này tăng vượt trội khiến hiệu quả tài chính cũng tăng cao.Năm 2009, đòn bẩy tài chính tiếp tục giảm, với tốc độ giảm là 16.47% khiến tỉsuất sinh lời của vốn chủ cũng giảm theo

Như vậy, qua ba năm, đòn bẩy tài chính ngày càng giảm và có tác động tiêu cựcđến hiệu quả tài chính của công ty Tuy nhiên, đòn bẩy vẫn lớn hơn lãi suất vay củacông ty, công ty nên vay thêm để kinh doanh nếu có nhu cầu mở rộng kinh doanh màvẫn giữ được hiệu quả kinh doanh như cũ

2.2.4 Ảnh hưởng của khả năng thanh toán lãi vay

Năm 2007, khả năng thanh toán lãi vay đạt 2.68 nghĩa là cứ 1 đồng lãi vay sẽđược đảm bảo bằng 2.68 đồng lợi nhuận trước thuế và lãi vay Chỉ tiêu này lớn hơn 1tức là doanh nghiệp đã sử dụng hiệu quả nguồn vốn vay Lợi nhuận tạo ra không chỉdùng để trả nợ vay mà còn tạo một phần tích lũy cho doanh nghiệp

Năm 2008, khả năng thanh toán lãi vay gần như không thay đổi, trong khi hiệuquả tài chính tăng cao

Năm 2009, khả năng thanh toán lãi vay của doanh nghiệp tăng cao, 1 đồng lãi vay

sẽ được đảm bảo bằng 3.47 đồng lợi nhuận trước thuế và lãi vay, tăng 0.81 đồng so vớinăm ngoái Như vậy, doanh nghiệp đã sử dụng nguồn vốn vay hiệu quả hơn Tuynhiên, điều này không ảnh hưởng tích cực đến tỉ suât sinh lời vốn vay của doanhnghiệp bởi tỉ suất sinh lời vốn chủ năm nay giảm mạnh

Như vậy, khả năng thanh toán lãi vay gần như không ảnh hưởng đến tỉ suất sinhlời của vốn chủ qua ba năm phân tích

Bảng 2.26 : Tỉ suất sinh lời vốn chủ sở hữu của CEVILMETAL và các công ty cùngngành

Tổng hợp lại, ta thấy hiệu quả tài chính của doanh nghiệp trong ba năm có nhiều biến thiên, và hiện đang giảm sút, nguyên nhân chính là do sự tăng giảm đột ngột hiệu quả kinh doanh Năm 2008, với việc đẩy mạnh hiệu quả hoạt động kinh doanh, tỉ suất sinh lời vốn chủ sở hữu đã tăng Năm 2009, tỉ suất sinh lời vốn chủ sở hữu giảm mạnh

do sự sụt giảm đột ngột của hiệu quả hoạt động kinh doanh, ngoài ra sự xuống thấp

Trang 40

của đòn bẩy tài chính và sự tăng lên của khả năng tự tài trợ cũng ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu quả tài chính trong năm này.

Như vậy, trong tương lai, công ty nên tăng cường hiệu quả hoạt động kinh doanh kết hợp với sử dụng hợp lý đòn cân nợ để đẩy mạnh hiệu quả tài chính của mình Bởi

lẽ, điều đó không chỉ làm tăng giá trị doanh nghiệp mà còn tạo tiền đề để tích lũy vốn cho phát triển kinh doanh.

Kết luận :

Qua thực trạng phân tích hiệu quả hoạt động tại công ty Cổ Phần Kim Khí MiềnTrung, ta thấy hiệu quả hoạt động tại công ty thay đổi khó dự đoán, tăng mạnh vàonăm 2008, nhưng hiện đang có xu hướng giảm Hiệu quả kinh doanh cá biệt và hiệuquả kinh doanh tổng hợp năm 2009 đều thấp hơn các năm trước Hiệu quả tài chínhcũng không có biến chuyển tốt và khả năng sinh lời của đồng vốn chủ sở hữu thì đanggiảm mạnh Nếu so với các công ty trong ngành, hiệu quả kinh doanh cá biệt của công

ty ở mức tương đối, còn hiệu quả kinh doanh tổng hợp cũng như hiệu quả tài chínhđang ở mức rất thấp Điều này dẫn đến nhiều khó khăn cho công ty, bởi khả năng sinhlời thường được các cổ đông quan tâm hơn hiệu suất sử dụng tài sản Trong nhữngnăm đến công ty cần có biện pháp tăng tỉ suất lợi nhuận trên doanh thu và tăng tỉ suấtsinh lời của tài sản nhằm tăng khả năng sinh lời, đồng thời tận dụng hiệu ứng đòn bẩytài chính để gia tăng khả năng sinh lời của vốn chủ sở hữu

Việc đánh giá hiệu quả hoạt động của công ty cổ phần Kim Khí Miền Trung chỉmới dựa trên việc phân tích những chỉ tiêu truyền thống, do đó nó chưa phản ánh xácđáng về hiệu quả hoạt động thực sự của công ty

Phần sau sẽ chỉ rõ những ưu khuyết trong công tác hoạt động của công ty Đồngthời, phần này cung cấp một số giải pháp nhằm tăng cường hiệu suất sử dụng tài sản

và khả năng sinh lời từ đó tăng hiệu quả hoạt động của công ty

Ngày đăng: 01/04/2015, 11:19

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

4.1.1. Sơ đồ bộ máy kế toán - phân tích hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp
4.1.1. Sơ đồ bộ máy kế toán (Trang 19)
4.2. Hình thức sổ kế toán áp dụng tại công ty - phân tích hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp
4.2. Hình thức sổ kế toán áp dụng tại công ty (Trang 20)
Bảng 2.7:  số vòng quay khoản phải thu giai đoạn 2007-2009 - phân tích hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp
Bảng 2.7 số vòng quay khoản phải thu giai đoạn 2007-2009 (Trang 27)
Bảng 2.8: số vòng quay hàng tồn kho giai đoạn 2007-2009 - phân tích hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp
Bảng 2.8 số vòng quay hàng tồn kho giai đoạn 2007-2009 (Trang 28)
Bảng 2.10:  kết quả kinh doanh giai đoạn 2007-2009 (Đơn vị tính: triệu đồng) - phân tích hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp
Bảng 2.10 kết quả kinh doanh giai đoạn 2007-2009 (Đơn vị tính: triệu đồng) (Trang 30)
Bảng 2.18 : tỉ suất sinh lời của tài sản giai đoạn 2007-2009 - phân tích hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp
Bảng 2.18 tỉ suất sinh lời của tài sản giai đoạn 2007-2009 (Trang 35)
Bảng 2.20: Ảnh hưởng của các nhân tố đến ROA - phân tích hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp
Bảng 2.20 Ảnh hưởng của các nhân tố đến ROA (Trang 36)
Bảng 2.25: các nhân tố ảnh hưởng đến ROE qua 3 năm 2007-2009 - phân tích hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp
Bảng 2.25 các nhân tố ảnh hưởng đến ROE qua 3 năm 2007-2009 (Trang 39)
Bảng 3.3: Bảng theo dừi thời hạn nợ của cỏc khoản phải thu - phân tích hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp
Bảng 3.3 Bảng theo dừi thời hạn nợ của cỏc khoản phải thu (Trang 53)
Bảng 3.4 : Chỉ tiểu giá trị kinh tế gia tăng giai đoạn 2008 - 2009 - phân tích hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp
Bảng 3.4 Chỉ tiểu giá trị kinh tế gia tăng giai đoạn 2008 - 2009 (Trang 62)
BẢNG CÂN ĐỐI KẾ TOÁN - phân tích hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp
BẢNG CÂN ĐỐI KẾ TOÁN (Trang 73)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w