Tổ chức hoạt động nhận thức nhằm nâng cao tính tích cực, tự lực của học sinh trong dạy học chương “Động lực học chất điểm” Vật lí 10 (Nâng cao) Để thực hiện mục tiêu đòi hỏi: “Giáo viên không những có kiến thức sâu sắc, vững vàng, trình bày chính xác mạch lạc, biết kèm thí nghiệm có hiệu quả…
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA VẬT LÝ
LẠI THỊ ANH THƯ
TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG NHẬN THỨC NHẰM NÂNG CAO TÍNH TÍCH CỰC, TỰ LỰC CỦA HỌC SINH TRONG DẠY HỌC CHƯƠNG
“ĐỘNG LỰC HỌC CHẤT ĐIỂM” VẬT LÍ 10
(NÂNG CAO)
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
HÀ NỘI, 2014
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA VẬT LÝ
LẠI THỊ ANH THƯ
TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG NHẬN THỨC NHẰM NÂNG CAO TÍNH TÍCH CỰC, TỰ LỰC CỦA HỌC SINH TRONG DẠY HỌC CHƯƠNG
“ĐỘNG LỰC HỌC CHẤT ĐIỂM” VẬT LÍ 10
(NÂNG CAO)
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Lí luận và phương pháp dạy học bộ môn Vật lí
Người hướng dẫn khoa học: ThS NGUYỄN VĂN THU
HÀ NỘI, 2014
Trang 3Đặc biệt em xin gửi lời cảm ơn chân thành và lòng biết ơn sâu sắc
nhất tới thầy giáo Thạc sĩ Nguyễn Văn Thu - người đã nhiệt tình chỉ bảo
và hướng dẫn em trong suốt thời gian qua từ khi lựa chọn đề tài cho tới khi hoàn thành khóa luận
Và em cũng xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè đã luôn ở bên em động viên, giúp đỡ và tạo điều kiện tốt nhất để em có thể hoàn thành tốt bài khóa luận này
Mặc dù đã cố gắng nhưng trong quá trình làm khóa luận không tránh khỏi những thiếu sót, khuyết điểm Kính mong thầy, cô giáo và bạn đọc chỉ bảo, góp ý để em rút kinh nghiệm và nâng cao nhận thức hơn nữa trong quá trình học tập và nghiên cứu
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 5 năm 2014
Sinh viên
Lại Thị Anh Thư
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong khóa luận này là trung thực và không trùng lặp với các đề tài khác.Tôi cũng xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện khóa luận này đã được cảm ơn
và các thông tin trích dẫn trong khóa luận đã được chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, tháng 5 năm 2014
Sinh viên
Lại Thị Anh Thư
Trang 5BẢNG CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết đầy đủ Chữ viết tắt
Trang 6MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4 Giả thuyết khoa học 3
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
6 Phương pháp nghiên cứu 3
7 Cấu trúc khoá luận 3
Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIẾN CỦA VIỆC TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG NHẬN THỨC TRONG DẠY HỌC VẬT LÍ Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG 4
1.1 Bản chất hoạt động của việc học tập vật lí ở trường phổ thông 4
1.2.Phát huy tính tích cực, tự lực học tập của học sinh 9
1.3 Các dạng hoạt động nhận thức chủ yếu trong học tập vật lí ở trường THPT 11
1.4 Các dạng hoạt động học tập của học sinh ở trường THPT 16
1.5 Hoạt động sáng tạo của học sinh 17
1.6 Thực trạng của việc tổ chức HĐNT trong dạy học vật lí hiện nay ở một số lớp 10 trường THPT Lý Thái Tổ - Tỉnh Bắc Ninh 18
Chương 2 TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG NHẬN THỨC CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC MỘT SỐ BÀI THUỘC CHƯƠNG II “ĐỘNG LỰC HỌC CHẤT ĐIỂM” 27
2.1 Nội dung kiến thức cơ bản của chương II “Động lực học chất điểm” Vật lí 10 nâng cao 27
2.2 Mục tiêu của chương 28
2.3 Cấu trúc chương 28
2.4 Nội dung chương II “Động lực học chất điểm” 29
Trang 72.5 Tiến trình dạy học một số bài cụ thể thuộc chương “Động lực học
chất điểm” 29
Chương 3 DỰ KIẾN THỬ NGHIỆM SƯ PHẠM 52
3.1 Mục đích thử nghiệm 52
3.2 Đối tượng thử nghiệm 52
3.3 Phương pháp thử nghiệm 52
3.4 Kế hoạch thử nghiệm 52
3.5 Về tổ chức quá trình dạy học 53
3.6 Dự kiến kết quả thử nghiệm 53
KẾT LUẬN 55
TÀI LIỆU THAM KHẢO 57 PHỤ LỤC
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Ngày nay trên thế giới, nhân loại đã và đang thu được những thành tựu
to lớn, khoa học công nghệ phát triển như vũ bão và đang thâm nhập vào sản xuất kinh tế, nó đóng vai trò quyết định như một lực lượng sản xuất trực tiếp Nhu cầu về nguồn nhân lực, đội ngũ trí thức năng động, sáng tạo có tính tự chủ, trí thức dồi dào…
Đối với đất nước ta hiện nay đang trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa - hiện đại hóa, quá trình hội nhập ở nước ta hiện nay đang trong giai đoạn phát triển mạnh mẽ, đặc biệt quan tâm nhất là vấn đề hội nhập về kinh tế và hội nhập về trí thức Đảng và Nhà nước ta đã xác định “Xã hội mới phồn vinh
ở thế kỷ XXI phải là một xã hội dựa vào trí thức, vào tư duy sáng tạo và tài năng sáng chế của con người…”
Con người trong xã hội ngày nay phải là con người của trí thức Vì thế đòi hỏi mỗi người lao động cần có sự năng động, sáng tạo, phải có khả năng
tự định hướng, tự học, tự nghiên cứu, tìm tòi, không ngừng trao đổi về trí thức mới, có thể tích cực chủ động trước những thử thách, biến đổi của khoa học
xã hội
Trước những tính hình đó của thời đại, nảy sinh yêu cầu đổi mới ngành GD
- ĐT cần phải đổi mới mạnh mẽ, sâu sắc toàn diện thì mới có thể theo kịp bước tiến của xã hội, đồng thời thúc đẩy nhà nước phát triển, hội nhập với thế giới Giáo dục nhà trường phổ thông cần phải làm gì? Phải rèn luyện cho học sinh có trình độ cao về đạo đức, về trí thức phổ thông và về kĩ thuật tổng hợp
có chất lượng đào tạo mới, vũ trang cho học sinh những kĩ năng, kĩ xảo cơ bản về hoạt động trí tuệ và lao động tập thể, làm cho họ nắm vững các phương pháp khoa học giúp họ giải quyết và sáng tạo các vấn đề muôn hình muôn vẻ của cuộc sống xã hội
Trang 9Trong vấn đề giáo dục toàn diện đối với học sinh phổ thông thì môn vật
lí đóng vai quan trọng nó giúp cho học sinh nắm được những quy luật từ đơn giản đến phức tạp của hiện tượng tự nhiên, biết được cấu trúc cũng như sự vận động của vật chất, đồng thời giúp cho học sinh phát triển năng lực nhận thức, tư duy sáng tạo và hình thành cho học sinh về nhân cách… Chính vì vậy, việc học sinh nắm vững kiến, kiến thức vật lí và áp dụng kiến thức vật lí vào thực tế là hết sức cần thiết
Để thực hiện mục tiêu đòi hỏi: “Giáo viên không những có kiến thức sâu sắc, vững vàng, trình bày chính xác mạch lạc, biết kèm thí nghiệm có hiệu quả… Mà quan trọng hơn còn phải thể hiện sự gia công sư phạm của mình, khả năng am hiểu học sinh, biết cách tổ chức, hướng dẫn học sinh hoạt động nhận thức có hiệu quả tối ưu, biết tạo hứng thú hăng say hoạt động để nhận thức chiếm lĩnh tri thức, biết rèn luyện cho hoạt động các phương pháp hoạt động, các thao tác tư duy và chân tay, biết suy nghĩ và giải quyết vấn đề một cách sáng tạo
Xuất phát từ điều đó, tôi đã quyết định chọn đề tài Tổ chức hoạt động
nhận thức nhằm nâng cao tính tích cực, tự lực của học sinh trong dạy học chương “Động lực học chất điểm” Vật lí 10 (Nâng cao) với mong muốn góp
phần nào vào việc nâng cao hiệu quả dạy học vật lí ở trường THPT để làm khóa luận tốt nghiệp cho mình
2 Mục đích nghiên cứu
Tổ chức hoạt động nhận thức của học sinh trong dạy học vật lí trong một số bài thuộc nhóm “Động lực học chất điểm”, thuộc SGK vật lí 10 nâng cao nhằm nâng cao chất lượng dạy và học
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
+ Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động nhận thức của học sinh THPT trong học tập môn vật lí
+ Phạm vi nghiên cứu: Thiết kế tiến trình dạy học chương “Động lực học chất điểm” nhằm nâng cao tính tích cực, tự lực của học sinh
Trang 104 Giả thuyết khoa học
Khi giảng dạy một số bài thuộc nhóm kiến thức “Động lực học chất điểm” SGK vật lí 10 nâng cao Bằng cách tổ chức hoạt động nhận thức cho học sinh trong mỗi bài học giúp học sinh nắm vững kiến thức, bồi dưỡng cho học sinh kĩ năng cơ bản trong nhận thức vật lí, góp phần nâng cao chất lượng dạy và học, đáp ứng yêu cầu của chiến lược dạy học mới
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu cơ sở lí luận dạy học theo quan điểm hoạt động và cơ sở khoa học của việc tổ chức hoạt động nhận thức trong học tập vật lí của học sinh
- Điều tra thực trạng vật lí theo chiến lược dạy học mới ở một số trường THPT
- Áp dụng một số biện pháp nhằm bồi dưỡng năng lực hoạt động nhận thức của học sinh theo phương pháp thực nghiệm ở trường THPT
- Thực nghiệm tại trường THPT Lý Thái Tổ - Bắc Ninh để xem xét đánh giá hiệu quả, việc áp dụng các biện pháp đến quá trình học tập vật lí của học sinh
6 Phương pháp nghiên cứu
- Nghiên cứu các tài liệu liên quan đến phương pháp dạy học mới theo hướng tổ chức hoạt động nhận thức cho học sinh
- Điều tra thực tiễn
- Kiểm nghiệm phương pháp nghiên cứu trong phương thức dạy học
7 Cấu trúc khoá luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo đề tài có cấu trúc như sau:
Chương 1 Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc tổ chức HĐNT trong dạy học vật lí ở trường phổ thông
Chương 2 Tổ chức hoạt HĐNT của học sinh THPT khi dạy học chương “Động lực học chất điểm”
Chương 3 Dự kiến thử nghiệm sư phạm
Trang 11NỘI DUNG Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIẾN CỦA VIỆC TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG NHẬN THỨC TRONG DẠY HỌC VẬT LÍ Ở TRƯỜNG
PHỔ THÔNG 1.1 Bản chất hoạt động của việc học tập vật lí ở trường phổ thông
1.1.1 Khái niệm và các thành phần của hoạt động
Theo tâm lí học, A.N Lêonchev đã định nghĩa: Hoạt động được hiểu là một tổ hợp các quá trình con người tác động vào các đối tượng nhằm đạt mục đích thỏa mãn nhu cầu nhất định và kết quả cuả hoạt động mà cụ thể hóa nhu cầu của chủ thể
Ngoài ra, hoạt động còn là tương tác mối liên hệ giữa chủ thể với khách thể, là phương thức tồn tại của con người trong xã hội, trong môi trường xung quanh
Hoạt động bao gồm cả hành vi lẫn tâm lí, ý thức công việc chân tay và công việc trong não
Bất kì một hoạt động nào cũng bao gồm bốn phần cơ bản: Chủ thể, mục đích, đối tượng và vận hành theo quy tắc gián tiếp
* Với hoạt động học:
- Chủ thể của hoạt động
Hoạt động nào cũng có chủ thể tiến hành, chủ thể có thể là một người, cũng có thể là nhiều người Trong hoạt động dạy học, GV là chủ thể hoạt động dạy, HS là chủ thể hoạt động học
- Mục đích của hoạt động
Mục đích của hoạt động thường tạo ra sản phẩm có liên quan trực tiếp hay gián tiếp với việc thỏa mãn nhu cầu của chủ thể Chẳng hạn, trong hoạt động dạy học thì GV truyền đạt lại tri thức khoa học nhằm giúp HS chiếm
Trang 12lĩnh tri thức, kĩ năng, kĩ xảo thỏa mãn nhu cầu nhận thức, chuẩn bị tiềm năng bước vào cuộc sống
- Đối tượng của hoạt động
Hoạt động bao giờ cũng là hoạt động có đối tượng, không bao giờ hoạt động mà không có đối tượng Đó là quá trình con người tác động vào cái gì đấy Chẳng hạn, đối tượng hoạt động học là nhằm vào kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo để biến chúng thành vốn hiểu biết của mình
- Vận hành theo quy tắc gián tiếp
Trong hoạt động học người ta dùng tiếng nói, chữ viết, con số, các hình ảnh trực quan (hình tượng, biểu tượng về sự vật, trí thức quy luật ) làm các công cụ tâm lí để tổ chức điều khiển thế giới tinh thần của mỗi người Giáo viên phải chọn lọc trong số công cụ trên sao cho phù hợp với mỗi bài giảng cụ thể, tri thức cụ thể để tổ chức điều khiển thế giới tinh thần của người học Như vậy, công cụ tâm lí có chức năng trung gian trong hoạt động học và
do đó có tính gián tiếp trong hoạt động học
Đặc điểm của học ngẫu nhiên:
- Chỉ lĩnh hội những gì liên quan trực tiếp tới nhu cầu hứng thú
- Chỉ đưa lại kiến thức tiền khoa học có tính chất ngẫu nhiên, rời rạc, không hệ thống
- Kinh nghiệm lĩnh hội không trùng lặp với mục đích của chính hoạt động hay hành vi mà chỉ hình thành những năng lực thực tiễn do kinh nghiệm hằng ngày đem lại
Trang 131.1.2.2 Hoạt động học
a Đặc điểm của hoạt động học
Học là hoạt động đặc biệt của con người được điều khiển bởi mục đích
tự giác nhằm chiếm lĩnh được tri thức, kĩ năng, kinh nghiệm mà loài người đã tích lũy được đồng thời phát triển những phẩm chất năng lực, hình thành nhân cách của người học
b Cấu trúc của hoạt động học
Theo lí thuyết hoạt động, học với tính chất là một hoạt động có cấu trúc gồm nhiều thành tố có quan hệ và tác động lẫn nhau Một bên là động cơ, mục đích, phương tiện đó là mặt đối tượng của hoạt động, bên kia là hoạt động, hành động và thao tác đó là mặt chủ quan của chủ thể Cuối cùng mỗi hành động được thực hiện bởi nhiều thao tác sắp xếp theo một trình tự xác định, ứng với mỗi thao tác trong những điều kiện cụ thể phải sử dụng những phương tiện, công cụ thích hợp Ta có sơ đồ cấu trúc hoạt động sau:
Động cơ của hoạt động có thể được kích thích từ những kích thích bên ngoài như nhu cầu đời sống xã hội, sự tồn vinh của xã hội đem lại vinh dự cho đất nước, gia đình, bản thân Nhưng quan trọng nhất là sự kích thích bên trong bằng mâu thuẫn nhận thức, mâu thuẫn giữa nhiệm vụ mới giải quyết
Mặt đối tượng của hoạt động Mặt chủ quan của chủ thể
Hình 1
Trang 14vấn đề và khả năng hiện có của học sinh chưa đủ, cần có một sự cố gắng vươn lên tìm kiếm một giải pháp mới để xây dựng một kiến thức mới
Mục đích của hoạt động được thể hiện ở mỗi môn học, mỗi phần học và
cụ thể là mỗi bài học Đó là những mục tiêu cụ thể mà HS phải đạt được sau khi học nó
Trong khi thực hiện một số hành động ta phải sử dụng một số phương tiện có những điều kiện cụ thể, nghĩa là ta đã thực hiện những thao tác Thao tác trí tuệ có vai trò to lớn quyết định trong nhận thức khoa học Bởi vậy việc rèn luyện cho HS những kĩ năng, kĩ xảo, thực hiện các thao tác tư duy trong học tập là hết sức cần thiết
Sự phân biệt giữa hoạt động và hành động cũng có tính chất tương đối nên có thể coi hành động là một hoạt động của thành phần
Như vậy, hành động là một thành phần cơ bản trong cấu trúc của hoạt động Tri thức là sản phẩm của hành động Do vậy muốn HS nắm được tri thức vững vàng thì cần xác định và hình thành hành động một cách có mục đích bằng nhiều thao tác tích cực
c Bản chất của hoạt động học
Hoạt động học là hoạt động hướng vào làm thay đổi chính mình Thông thường các hoạt động khác hướng vào làm thay đổi đối tượng khách quan, trong khi đó hoạt động học lại làm cho chính chủ thể của hoạt động này thay đổi và phát triển
Bản chất của quá trình học tập là quá trình hoạt động nhận thức mang tính tích cực, tự lực “Mỗi tri thức khoa học mới có chất lượng phải là sự thích ứng của người học với những tình huống học tập thích đáng, chính quá trình thích ứng này là hoạt động của người học xây dựng nên tri thức mới với tính cách và phương tiện tối ưu giải quyết tình huống mới Đồng thời đó là quá trình góp phần làm phát triển các năng lực nhận thức, thực tiễn và nhân cách của cá nhân”
Trang 151.1.3 Bản chất của hoạt động học tập vật lí ở trường phổ thông
Hoạt động học tập vật lí ở trường phổ thông là hoạt động nhận thức của học sinh nhằm lĩnh hội kiến thức, trên cơ sở đó tái tạo cho mình những tri thức vật lí mà loài người đã tích lũy được Hoạt động nhận thức các kiến thức vật lí có đặc thù riêng, nó vừa tuân theo quy luật chung của hoạt động nhận thức sáng tạo vừa phù hợp với đặc điểm khoa học vật lí
Nhận thức vật lí là nhận thức khách quan V.I Lê Nin đã chỉ rõ quy luật chung nhất của hoạt động nhận thức là: “Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn, đó là con đường biện chứng của nhận thức chân lí, của sự nhận thức hiện thực khách quan” [8]
Quy luật riêng - con đường sáng tạo trong khoa học vật lí đã được các nhà vật lí nổi tiếng như Anhstanh, M.B.Lăng, M.Bocnơ, PLKaPiSa và nhiều nhà vật lí nổi tiếng khác đều có những phát biểu tương tự nhau về quá trình sáng tạo khoa học
V.G Razumôpxki đã khái quát hóa những lời phát biểu đó và trình bày quá trình sáng tạo khoa học dưới dạng chu trình gồm các giai đoạn chính sau:
Trong quá trình phát triển của vật lí, các nhà khoa học không những khám phá ra, phát minh ra những định luật, thuyết vật lí mà còn sáng tạo ra nhiều phương pháp nhận thức có hiệu quả
Những sự kiện khởi
đầu
Thí nghiệm kiểm tra
Mô hình giả định trừu
tượng
Các hệ quả logic
Hình 2: Chu trình sáng tạo khoa học theo Razumôpxki
Trang 16Từ khái quát hóa những sự kiện đi đến mô hình diễn ra các hệ quả lí thuyết rồi từ hệ quả lí thuyết đến kiểm tra bằng thực nghiệm Nếu các sự kiện thực nghiệm phù hợp với hệ quả dự đoán thì giả thuyết trở thành chân lí khoa học, một định luật, một thuyết vật lí và kết thúc một chu trình Những hệ quả như thế càng nhiều, mở rộng phạm vi ứng dụng của các kết luận đã thu được cho đến khi xuất hiện sự kiện mới không còn phù hợp với thực nghiệm thì điều đó dẫn tới phải xem xét lại lí thuyết cũ, chỉnh lí lại hoặc phải thay đổi và như thế lại phải bắt đầu một chu trình xây dựng kiến thức mới, thiết kế những máy móc mới để kiểm tra, bằng cách đó làm cho kiến thức khoa học ngày càng phong phú [8]
Việc dạy cho học sinh làm quen với các phương pháp nhận thức là hết sức cần thiết ở trường THPT, một trong những phương pháp nhận thức quan trọng là phương pháp thực nghiệm Do đó, để đảm bảo cho HS nắm vững kiến thức vật lí một cách chắc chắn cần phải hình thành cho họ kĩ năng, kĩ xảo không chỉ vận dụng mà còn chiếm lĩnh kiến thức thông qua nhiều hình thức luyện tập khác nhau [3, tr.22]
1.2 Phát huy tính tích cực, tự lực học tập của học sinh
1.2.1 Phát huy tính tích cực học tập của học sinh
Khái niệm: Tính tích cực trong HĐNT của HS là một hiện tượng sư
phạm biểu hiện ở sự cố gắng hết sức cao về nhiều mặt trong học tập Tính tích cực hoạt động học tập là sự phát triển ở mức độ cao hơn trong tư duy, đòi hỏi một quá trình hoạt động "bên trong" hết sức căng thẳng với một nghị lực cao của bản thân, nhằm đạt được mục đích là giải quyết vấn đề cụ thể nêu ra Tính tích cực trong HĐNT của HS thể hiện ở những hoạt động trí tuệ là tập trung suy nghĩ để trả lời câu hỏi nêu ra, kiên trì tìm cho được lời giải hay
Trang 17của một bài toán khó cũng như hoạt động chân tay là say sưa lắp ráp tiến hành thí nghiệm
Các dấu hiệu về tính tích cực trong HĐNT của HS thường được biểu hiện:
– HS khao khát tự nguyện tham gia trả lời các câu hỏi của giáo viên, bổ sung các câu trả lời của bạn và thích được phát biểu ý kiến của mình trước vấn đề nêu ra
– HS hay thắc mắc và đòi hỏi giải thích cặn kẽ những vấn đề các em chưa rõ – HS chủ động vận dụng linh hoạt những kiến thức, kĩ năng đã có để nhận thức các vấn đề mới
– HS mong muốn được đóng góp với thầy, với bạn những thông tin mới nhận từ các nguồn kiến thức khác nhau có thể vượt ra ngoài phạm vi bài học, môn học
Tính tích cực trong HĐNT của HS phổ thông có thể phân biệt theo 3
cấp độ sau:
* Sao chép, bắt chước
* Tìm tòi, thực hiện
* Sáng tạo
1.2.2 Phát huy tính tự lực học tập của học sinh
Khái niệm: Tự lực học tập là hoạt động độc lập chiếm lĩnh kiến thức, kĩ
năng, kĩ xảo,…và kinh nghiệm lịch sử-xã hội loài người nói chung của chính bản thân người học
Trang 18tích cực hoá những kiến thức, kinh nghiệm đã tích luỹ được có liên quan tới việc giải quyết nhiệm vụ và yêu cầu học tập Trên cơ sở đó, xác định những cách thức hợp lí để giải quyết nhiệm vụ và yêu cầu học tập
+ Dự đoán trước những diễn biến tâm lí: cảm xúc, động cơ, ý chí, đánh giá đúng mối tương quan giữa khả năng, nguyện vọng và sự cần thiết phải đạt được kết quả học tập nhất định
+ Động viên mọi sức lực phù hợp với điều kiện và nhiệm vụ đòi hỏi
1.3 Các dạng hoạt động nhận thức chủ yếu trong học tập vật lí ở trường THPT
1.3.1 Quan sát tự nhiên để nhận biết những đặc điểm bên ngoài của sự vật, hiện tượng
“Quan sát là nghiên cứu khoa học trong những điều kiện tự nhiên một hiện tượng nào đó không có sự can thiệp tích cực của con người vào quá trình
biến đổi hiện tượng” [11]
Quan sát hiện tượng có nghĩa là chú ý đến mọi biểu hiện của nó để có thể mô tả tỉ mỉ các dấu hiệu tương ứng với mục đích đề ra Trong khi quan sát, các cơ quan cảm giác của con người không thể đảm bảo ghi nhận được hết các dấu hiệu của sự vật hiện tượng cho nên con người phải sử dụng máy móc, dụng cụ để ghi nhận đầy đủ, chính xác quá trình xảy ra trong sự vật, hiện tượng quan sát [8]
Ở trường THPT, việc quan sát hiện tượng tự nhiên của HS thường đơn giản rất gần gũi với thực tế, không phải sử dụng đến các máy móc tinh vi, phức tạp hay chính xác
1.3.2 Tác động với tự nhiên để làm bộc lộ những mối liên hệ, những đặc tính bên trong của chúng
Vì các hiện tượng vật lí xảy ra rất phức tạp, nên không thể cùng một lúc
có thể phân biệt được những tính chất đặc trưng của từng hiện tượng hay phân
Trang 19biệt được ảnh hưởng của tính chất này đến tính chất khác Do vậy, cần phải tiến hành các thao tác vật chất tác động vào tự nhiên như: “Dùng các TN vật lí trong đó đã đơn giản hóa các hiện tượng làm nổi bật những khía cạnh cần nghiên cứu của hiện tượng, tức là làm cho các quá trình tự nhiên xảy ra ở dạng rõ nhất, ít bị ảnh hưởng của các quá trình khác làm cho phức tạp, nhờ đó
mà HS nhận ra những tính chất đặc trưng của các hiện tượng và mối quan hệ
qua lại giữa các hiện tượng đó”
TN ở đây là quá trình tạo lại hay biến đổi hiện tượng nào đó về điều kiện thuận lợi hơn đúng với mục đích nghiên cứu nó TN có tác dụng tích cực hơn quan sát ở chỗ, nó cho phép người nghiên cứu tham gia vào quá trình diễn ra của hiện tượng nghiên cứu và tạo ra hiện tượng đó, khi cần cho phép phân tích những sự kiện phức tạp thành những sự kiện đơn giản
Như vậy, làm thí nghiệm đòi hỏi nghiên cứu phải quan sát tỉ mỉ, đầy đủ
và chính xác, thay đổi những điều kiện làm bộc lộ những đặc tính bản chất, những mối quan hệ khách quan
1.3.3 Phát hiện vấn đề cần giải quyết
Vấn đề xuất hiện khi con người có nhu cầu hiểu biết cái mới nhưng kiến thức, kinh nghiệm chưa đầy đủ, không đáp ứng được yêu cầu đó dẫn đến nảy sinh mâu thuẫn về nhận thức, khi mâu thuẫn này biến thành nhu cầu hứng thú nhận thức của chủ thể thì mới xuất hiện vấn đề Chủ thể mới ở trong tình huống có vấn đề, sẽ kích thích não bộ buộc chủ thể phải tư duy, tự giác, tích cực nhận thức, vấn đề xuất hiện dưới hình thức câu hỏi Tình huống có vấn đề
là tình huống học sinh thấy hứng thú trong việc giải quyết mâu thuẫn nhận thức, từ đó xuất hiện ở học sinh nhu cầu cần phải tìm cách giải quyết mâu thuẫn này
Trang 201.3.4 Phân tích hiện tượng phức tạp thành hiện tượng đơn giản bị chi phối bởi ít nguyên nhân
“Khái niệm phân tích được hiểu là sự phân chia cái toàn bộ (các sự vật, hiện tượng vật lí phức tạp) thành các yếu tố riêng lẻ (các bộ phận, các tính chất, các mối liên hệ) nhằm nhận thức bản chất của các yếu tố riêng lẻ, xác định vị trí, vai trò, chức năng của các yếu tố riêng lẻ trong cái toàn bộ”
Trong hoạt động nhận thức của học sinh, khâu phân tích hiện tượng là rất cần thiết Mọi hiện tượng vật lí đều phức tạp học sinh phải biết phân tích chia nhỏ sau đó phải biết cách đánh giá, nhận xét để chọn lọc loại bỏ những dấu hiệu thứ yếu tìm ra dấu hiệu đặc trưng, bản chất Thao tác này rất quan trọng khi giải bài tập vật lí, phân tích ý nghĩa vật lí của các khái niệm, định luật, biểu thức toán học, sơ đồ, đồ thị, giải thích, biện luận các kết quả thí nghiệm…
1.3.5 Xây dựng giả thuyết (lời dự đoán) về nguyên nhân và mối quan hệ của hiện tượng quan sát được
Trong phạm vi hoạt động nhận thức của học sinh bằng phương pháp thí nghiệm vật lí, giả thuyết thường là dự đoán (về một nguyên nhân, tính chất, mối liên hệ…) có cơ sở nhưng chưa vững chắc Cơ sở dựa trên kinh nghiệm quan sát hàng ngày chưa nghiên cứu để ý kĩ, chưa hiểu rõ bản chất hoặc dựa trên những hiểu biết đã có nhưng chưa đủ để kết luận một vấn đề cần nghiên cứu
Việc rèn luyện khả năng xây dựng dự đoán cho HS là hết sức cần thiết, chính vì vậy GV vẫn phải là người tổ chức, định hướng thì quá trình học tập của HS mới hiệu quả, phù hợp với từng khả năng nhận thức của mỗi HS
1.3.6 Thực hiện những suy luận logic hay biến đổi toán học từ giả thuyết đi đến hệ quả có thể kiểm tra được bằng thực nghiệm
Khi đã có giả thuyết thì cần phải chứng tỏ, chứng minh một cách có hệ thống tính chân thực hay không chân thực của giả thuyết Có thể thực hiện
Trang 21điều đó bằng cách suy luận lí thuyết từ nó ra hệ quả logic và kiểm tra tính đúng đắn của chúng bằng kết quả thực nghiệm
Để suy được hệ quả, cần thực hiện những suy luận logic, những biến đổi toán học đi từ giả thuyết đến hệ quả
Hệ quả có thể kiểm tra được bằng thực nghiệm và quan sát được trong thực tiễn hay thí nghiệm Việc suy ra hệ quả phải tuân theo đúng các quy tắc suy luận logic
Ở trường THPT, các em đã làm quen với suy luận toán học, suy luận logic vật lí, tuy nhiên trong thực tế biểu hiện của các kiến thức vật lí là rất phức tạp, nên GV phải dùng phương pháp gợi mở để HS xác định được phương hướng rồi quan sát trên thực nghiệm rút ra hệ quả, đo lường được bằng những dụng cụ thí nghiệm sẵn có để phù hợp với khả năng nhận thức của HS
1.3.7 Xây dựng (góp phần xây dựng) phương án thí nghiệm để kiểm tra
hệ quả giả thuyết
Để kiểm tra những hệ quả suy từ giả thuyết có phù hợp với thực tiễn không thì phải xây dựng phương án thí nghiệm Trong khâu này TN đóng vai trò quan trọng vì chỉ có TN mới có thể tiến hành trong những điều kiện đảm bảo cho quá trình diễn biến “dưới dạng thuần khiết”
Trong tự nhiên có ít quá trình xảy ra dưới dạng thuần khiết nên khi làm
TN phải tạo ra một cách nhân tạo các điều kiện đảm bảo cho hiện tượng xảy
ra chỉ chịu tác dụng của một yếu tố xác định có thể khống chế được Để tạo được các điều kiện đó ta phải sử dụng các công cụ kĩ thuật đặc biệt, hay đề xuất các phương án thí nghiệm phù hợp
Học sinh cần tham gia đề xuất phương án thí nghiệm, giáo viên hướng dẫn tổ chức và giám sát thực hiện
Trang 221.3.8 Xử lí thông tin thu thập được để rút ra những kết luận chung
Trong quá trình tiến hành thí nghiệm, việc quan sát thu thập thông tin dữ liệu là hoạt động đòi hỏi phải tỉ mỉ, chính xác Các thông tin thường riêng lẻ, cần được xử lý, thiết lập mối liên hệ bản chất của nó Từ các thông tin đó có thể áp dụng giải thích một số hiện tượng thực tế đơn giản, riêng lẻ đồng thời rút ra những kết luận chung
1.3.9 Đánh giá những kết luận thu được từ thực nghiệm
Sau khi tiến hành phân tích, xử lý các thông tin và dữ liệu thu được từ quan sát TN rồi đối chiếu với hệ quả của giả thuyết Nếu hệ quả của giả thuyết phù hợp với kết quả TN thì giả thuyết đó trở thành chân lý Nếu không phù hợp thì phải xây dựng giả thuyết mới rồi tiếp tục suy ra hệ quả, lập phương án và tiến hành TN
1.3.10 Khái quát hóa các kết quả nghiên cứu rút ra được tính chất hay quy luật hình thành khái niệm, định luật khoa học
Sự trừu tượng hóa, khái quát hóa giữ vai trò quan trọng trong hình thành các khái niệm, định luật mới đối với học sinh THPT Sự trừu tượng hóa cho phép rút ra những tính chất bản chất của sự vật, hiện tượng cần nhận thức đồng thời bỏ qua những tính chất không chủ yếu của nó.Việc tách ra những dấu hiệu của hiện tượng là giai đoạn cần thiết cho việc khái quát hóa các kết quả nghiên cứu, rút ra được tính chất hay quy luật hình thành các khái niệm, định luật khoa học
1.3.11 Vận dụng kiến thức thu được vào những trường hợp cụ thể
HS vận dụng kiến thức thu được để có thể giải bài tập, giải thích hiện tượng, hay sáng tạo khoa học… hoạt động này đòi hỏi khả năng tự lực rất cao đối với HS ở các hình thức hoạt động độc lập cá nhân hay tập thể Nhờ hoạt động này mà HS nắm vững kiến thức, hiểu một cách sâu sắc, đầy đủ, đồng
Trang 23thời kích thích sự hướng theo, say mê học tập, phát triển tư duy, kĩ năng, kĩ xảo, nhằm hình thành phẩm chất, năng lực cá nhân…
1.4 Các dạng hoạt động học tập của học sinh ở trường THPT
1.4.1 Cá nhân học sinh nghiên cứu dưới sự hướng dẫn của giáo viên
Mỗi cá nhân HS là một chủ thể của hoạt động học GV là chủ thể của hoạt động dạy, là người tổ chức, hướng dẫn, chỉ đạo mọi hoạt động của HS sao cho HS tự lực, say mê nghiên cứu khám phá ra những hiểu biết mới, tự chiếm lĩnh lấy kiến thức mới cho bản thân mình
1.4.2 Học sinh đối thoại với giáo viên
Việc đối thoại giữa HS và GV là một hoạt động cần thiết luôn được diễn
ra trong mọi tiết học Thông qua đối thoại GV thu được thông tin từ những câu trả lời của HS từ đó phát hiện ra những sai lầm trong suy nghĩ, lập luận và
sự thiếu hụt kiến thức mà có biện pháp kịp thời giúp đỡ HS tự uốn nắn, sửa chữa nhằm đạt được kết quả mong muốn
1.4.3 Học sinh thảo luận nhóm
Đó là một hình thức kết hợp dạy học toàn lớp và cá thể hóa HS làm việc cùng nhau, tương tác và ràng buộc nhau Các thành viên thảo luận, góp ý xây dựng giúp đỡ nhau hòa hợp thành tinh thần đoàn kết học tập, giải quyết tốt nhất nhiệm vụ học tập được giao và giúp hình thành tích cực nhận thức, hứng thú nhanh chóng với nhiệm vụ được giao
1.4.4 Thảo luận chung cả lớp
Hoạt động thảo luận chung cả lớp là sự mở rộng hoạt động thảo luận
nhóm ở quy mô rộng hơn (cả lớp cùng thảo luận giải quyết một vấn đề)
Hoạt động này có hai hình thức:
+ Thảo luận những kết quả thu được của việc thảo luận từng nhóm + Cả lớp cùng thảo luận giải quyết một vấn đề hoàn toàn mới mẻ
Trong dạy học căn cứ vào vấn đề học tập cụ thể mà GV tổ chức cho HS thảo luận theo hình thức thích hợp sao cho tất cả HS đều tham gia góp ý kiến
Trang 24và hăng say tranh luận, tranh đua trong không khí hòa đồng, cởi mở để đi đến thống nhất chung giải quyết vấn đề hợp lý nhất
1.4.5 Học tập cá nhân ở nhà
Đó là một hoạt động tự giác, độc lập, tự lực của từng cá nhân HS được giao nhiệm vụ cụ thể sau mỗi tiết học, tự lập kế hoạch tiến hành thực hiện nhiệm vụ sao cho phù hợp với điều kiện riêng của mình nhưng phải đảm bảo yêu cầu được giao
1.5 Hoạt động sáng tạo của học sinh
Dạy HS sáng tạo là một mục tiêu được ghi tường minh trong chương trình mới Sáng tạo là một bước phát triển nhảy vọt trong quá trình học tập Không có con đường logic cho sự sáng tạo
J.Piaget thì đi vào quá trình phát triển trí tuệ với phương pháp tiếp cận duy vật biện chứng tạo nên mộ cơ sở khoa học khá chắc chắn cho tâm lí học phát triển: tri thức nảy sinh từ hành động
Còn L.Vưgôtsky lại giả thuyết vấn để phát triển trí tuệ cho lứa tuổi HS một cách độc đáo và có hiệu quả dựa trên lí thuyết về “vùng phát triển gần” Theo ông, chỗ tốt nhất cho sự phát triển nhận thức của HS là vùng phát triển gần Vùng đó là khoảng cách nằm giữa trình độ hiện tại của HS và trình độ phát triển cao hơn cần vươn tới
Với mỗi GV học thuyết này có ý nghĩa: Sự phát triển nhận thức sáng tạo xảy ra tốt nhất khi HS phải đi qua vùng phát triển gần thông qua việc lập luận, tranh luận với nhau hay với người lớn tuổi Để nắm bắt được một công việc đầu tiên cho HS, có thể hiểu được một phần của công việc đó, nhưng nhờ sự hướng dẫn, giải thích, biểu diễn của người khác mà HS hiểu được toàn bộ công việc và khi đó họ sẽ vượt qua vùng phát triển gần, có thể thực hiện độc lập công việc đó
Những lí thuyết về phát triển trí tuệ, nhân cách HS nói trên đều dẫn tới một chiến lược dạy học mới: “Dạy học bằng hoạt động, thông qua hoạt động
Trang 25của HS” Trong chiến lược dạy học mới này HS đã trở thành chủ thể của HĐNT bằng hoạt động, thông qua hoạt động tích cực, tự lực và sáng tạo của bản thân mình mà chiếm lĩnh kiến thức, phát triển năng lực trí tuệ và nhân cách của cá nhân
1.6 Thực trạng của việc tổ chức HĐNT trong dạy học vật lí hiện nay ở một số lớp 10 trường THPT Lý Thái Tổ - Tỉnh Bắc Ninh
1.6.1 Đặc điểm chung về điều kiện kinh tế - xã hội
Bắc Ninh là một tỉnh có nền kinh tế phát triển tốt, có truyền thống hiếu học, sự nghiệp giáo dục luôn được các cấp lãnh đạo cũng như các bậc phụ huynh quan tâm chăm lo tới và tạo điều kiện thuận lợi đầu tư học tập cho con
em mình.Tuy nhiên vì đặc điểm địa bàn tập trung nhiều các khu công nghiệp
và làng nghề thủ công nên vẫn còn một bộ phận các bậc phụ huynh và HS chưa thật sự coi trọng việc học tập, do đó trình độ của HS trườngTHPT Lý Thái Tổ còn chưa được đồng đều
1.6.2 Đặc điểm tư duy của học sinh
Qua quá trình học tập giảng dạy ở trường THPT Lý Thái Tổ và qua việc điều tra, trao đổi, nghiên cứu với các GV cho thấy HS ở một số lớp 10 của trường THPT Lý Thái Tổ có đặc điểm tư duy như sau:
- Tư duy khái niệm,tư duy lí luận trừu tượng đã được hình thành và đã
có điều kiện rèn luyện tuy nhiên suy nghĩ của HS vẫn chưa khái quát
- Kĩ năng lập luận, suy nghĩ của HS đã được rèn luyện nhưng vẫn chưa đạt đến mức độ suy luận phức tạp Điều này là do lỗi HS chưa phát huy được tính tự lực, tích cực và sáng tạo của HS
- Nhiều em có thói quen hoạt động trí óc, suy nghĩ, tìm tòi tuy nhiên đa phần HS thích tỏ ra khéo léo trong sinh hoạt chân tay như lắp ráp, thí nghiệm… Như vậy về mặt tư duy HS ở một số lớp của trường THPT Lý Thái Tổ
đã có điều kiện phát triển tư duy lí luận nhưng chưa đồng đều và ở mức
Trang 26cao, điều này có ảnh hưởng nhiều đến quá trình hoạt động nhận thức khoa học của HS
1.6.3 Đặc điểm chung của chương trình vật lí THPT hiện hành
- Chương trình và sách giáo khoa cải cách đặc biệt là bộ sách nâng cao
có một số ưu điểm như sau: Quán triệt đường lối chính sách của Đảng, thực hiện giáo dục toàn diện, nội dung kiến thức khá đầy đủ, cấu trúc có hệ thống, đảm bảo sự liên tục giữa các cấp học, giữa giáo dục phổ thông và giáo dục
sẽ không đạt hiệu quả cao
1.6.4 Kết quả điều tra của việc tổ chức HĐNT vật lí cho học sinh ở một
số lớp 10 trường THPT Lý Thái Tổ - Tỉnh Bắc Ninh
1.6.4.1 Mục đích của việc điều tra
Nhằm nắm được thực tế của việc tổ chức hoạt động nhận thức vật lí cho
HS ở trường phổ thông theo chương trình hiện hành, sơ bộ đánh giá thực trạng của việc dạy và học làm cơ sở để tổ chức các hoạt động học tập ở từng bài cụ thể
1.6.4.2 Phương pháp điều tra
Để đạt được mục đích trên, chúng tôi sử dụng một số phương pháp điều tra sau:
Tìm hiểu cơ sở vật chất của trường: trang thiết bị, đồ dùng, phòng TN, …
Trang 27 Điều tra GV: phương pháp dạy học thông qua các tiết dự giờ, sinh hoạt tổ chuyên môn,…
Điều tra HS: trao đổi trực tiếp với học sinh, phân tích kết quả học tập qua bảng điểm, các bài kiểm tra, đặc biệt theo dõi khả năng nhận thức của học sinh trong giờ học trên lớp,…
1.6.4.3 Kết quả điều tra
* Thực trạng về phương pháp dạy học của thầy
Phương pháp dạy học phần lớn còn nặng về lí thuyết giảng giải một chiều “thầy giảng, trò nghe”,… hầu hết GV là người giữ vai trò trung tâm khi
tổ chức hoạt động học tập
Một số ít GV có trình độ kiến thức, có phương pháp chọn lọc và sáng tạo khoa học, khả năng tổ chức tốt hoạt động nhận thức cho HS trong các giờ học, phù hợp với đối tượng HS, nhưng chưa thường xuyên
Tuy vậy, trong các tiết học GV chưa khai thác được hết hiệu quả của việc dùng thí nghiệm nên hiệu quả giờ dạy chưa cao
* Thực trạng chung về phương pháp học tập của HS
Hầu hết HS thiên về học lí thuyết, giải bài tập, khả năng thực nghiệm thấp, chưa biết vận dụng vào cuộc sống Tức là HS chỉ ghi nhớ kiến thức chứ không phải được tổ chức thực hiện các hoạt động học tập để tự chiếm lĩnh lấy kiến thức cho mình
* Ảnh hưởng của thực trạng trên đến chất lượng học tập vật lí của HS Điều tra kết quả học tập trung bình học tập môn vật lí năm học 2013 -
2014 tại trường THPT Lý Thái Tổ như sau:
Kết quả điều tra học tập của HS trường Lý Thái Tổ so với cả nước là ở mức khá
Trang 28Qua việc trao đổi với GV về mức độ nhận thức, khả năng nắm vững kiến thức của HS, tham gia dự giờ, nghiên cứu kết quả loại bài kiểm tra 15 phút, 1 tiết, kiểm tra học kì,… tôi nhận thấy:
+ Một số HS rất giỏi và khá, nắm chắc kiến thức, khả năng tư duy tốt, biết vận dụng kiến thức để giải thích những hiện tượng vật lí quen thuộc trong
tự nhiên và đời sống Tuy nhiên, HS vẫn chưa thực sự phát huy hết khả năng của mình
+ Còn lại HS chưa thể xác định được phương hướng dự đoán, suy luận, nhận thức còn chậm không có kĩ năng, kĩ xảo tiếp thu kiến thức, đặc biệt là trong tiến hành thí nghiệm, thảo luận kết quả thực nghiệm chưa được rèn luyện thường xuyên,…
Thực trạng dạy và học môn vật lí còn nhiều hạn chế, để nâng cao chất lượng dạy học cần từng bước thực hiện đổi mới phương pháp dạy học, tăng cường tổ chức cho HS với nhiều biện pháp linh hoạt, thích hợp trong từng điều kiện cụ thể
1.6.4.4 Tăng cường tổ chức hoạt động nhận thức của học sinh trong học tập là một biện pháp nâng cao chất lượng dạy học đáp ứng mục tiêu mới
a) Các biện pháp cơ bản để tăng cường hoạt động nhận thức của học
Trang 29Người dạy phải tạo được môi trường học tập tích cực kích thích cho HS phát triển, thảo luận,… khắc phục dần tâm lý lúng túng, rụt rè, cách học thụ động, ít tự lực suy nghĩ Tức là phải tổ chức cho các em tự chiếm lấy tri thức,
kĩ năng, kĩ xảo
* Tạo điều kiện thuận lợi để học sinh có thể giải quyết thành công những nhiệm vụ được giao
- Lựa chọn một logic nội dung bài học thích hợp
Nội dung kiến thức phổ thông không phải là toàn bộ hệ thống kiến thức vật lí trong khoa học (từ cổ điển đến hiện đại) mà đã được phổ biến dưới dạng đơn giản phù hợp với trình độ của HS Do vậy phải lựa chọn những vấn đề vừa sức và cần phải xác định mức độ mà HS của mình có thể tham gia giải quyết thành công trong hoạt động
Phân chia bài học thành những vấn đề nhỏ, phù hợp với trình độ hiện có của HS Xác định hệ thống nhưng hành động (hoạt động thành phần) học tập
mà HS có thể thực kiện được với sự cố gắng vừa phải xác định được những vấn đề quan trọng để hướng hoạt động của HS tập trung giải quyết vấn đề đó
- Rèn luyện cho học sinh thực hiện các biện pháp cơ bản, một số hoạt
động nhận thức phổ biến
Các thao tác cơ bản trong vật lí cơ bản bao gồm, cả thao tác chân tay và thao tác tư duy, các thao tác chân tay thì HS có thể lĩnh hội một cách nhanh chóng, còn để rèn luyện tao tác tư duy cho HS đòi hỏi người GV cần có nhưng kế hoạch cụ thể, lâu dài Cách hướng dẫn hiệu quả là GV đưa ra những câu hỏi mà để trả lời HS phải thực hiện một vài thao tác tư duy nào đó Nếu
HS trả lời chưa đúng thì phải phân tích, phân chia thành nhưng câu hỏi nhỏ, đơn giản hơn, cứ thế rèn luyện nhiều lần, có thể làm theo hai cách:
+ Làm theo mẫu nhiều lần theo một trình tự chặt chẽ, máy móc
Trang 30+ Rèn luyện theo những sơ đồ định hướng: Đó là những sơ đồ kế hoạch tổng quát
* Tăng cường tổ chức các hình thức học tập mới
- Tăng cường hoạt động cá nhân học sinh
GV trong giờ học trên lớp cũng như ở nhà phải kích thích được khả năng
tự lực trong học tập: tư duy suy nghĩ trả lời nhưng câu hỏi và các bài tập trên lớp cũng như ở nhà phải vừa sức
Thông thường người ta sử dụng hình thức:
Sử dụng phiếu học tập cho mỗi HS Tuy nhiên hình thức này vẫn có những khó khăn nhất định: Sự phối hợp giữa việc ghi bảng của GV với việc làm theo phiếu học tập của mỗi HS
Ngoài ra có thể tổ chức cho từng cá nhân hoạt động thưc tiễn sưu tầm tài liệu, quan sát các hiện tương tự trong tự nhiên và trong đời sống để thu thập dữ liệu nhằm bổ sung cho quá trình học tập trên lớp
- Tổ chức hoạt động theo nhóm
Khi gặp những vấn đề, bài tập tương đối khó và phức tạp GV cần tổ chức cho HS làm việc theo nhóm để họ cùng nhau thảo luận dựa vào sự hiểu biết của từng cá nhân để có thể tìm ra kết luận Các bước tiến hành cho HS học tập theo nhóm:
GV giao nhiệm vụ cho HS, quy định nhiệm vụ cho các nhóm trưởng
và nhiệm vụ của mỗi thành viên trong nhóm để tất cả HS đều có vai trò nhất định và động viên cho HS tích cực tham gia theo tinh thần hợp tác nhằm hoàn thành nhiệm vụ được giao Kết quả làm việc của nhóm sẽ được tập thể cùng giáo viên đánh giá và cũng là kết quả của từng thành viên trong nhóm
HS báo cáo các kết quả: GV yêu cầu đại diện nhóm phát biểu hoặc trình bày kết quả hoạt động của nhóm, các HS khác phải chú ý lắng nghe để nhận xét đúng, sai và bổ sung hoàn chỉnh
Trang 31 Cuối cùng GV sửa chữa, điều chỉnh các nhận xét và đi đến thống nhất kết luận chung
Rèn luyện theo những sơ đồ định hướng: Đó là những sơ đồ kế hoạch tổng quát
* Tăng cường sử dụng các phương tiện dạy học cho học sinh hoạt động
GV tăng cường sử dụng các dụng cụ trực quan: Bảng biểu, mô hình, vật thật để cung cấp thông tin cho HS hoạt động, nếu có thể tăng cường sử dụng
phương tiện dạy học hiện đại như máy chiếu, máy vi tính
* Tăng cường cho học sinh làm quen với các phương pháp nhận thức vật lí, đặc biệt là phương pháp thực nghiệm
Nội dung của phương pháp thực nghiệm dạy học trong vật lí
Là sự vận dụng các phương pháp thực nghiệm trong nghiên cứu khoa học vật lí vào quá trình dạy học vật lí GV là người tổ chức định hướng hoạt động học của HS theo các giai đoạn của phương pháp thực nghiệm để xây dựng, chiếm lĩnh kiến thức, kĩ năng vật lí
Đưa phương pháp thực nghiệm vào dạy học thực chất là sự tổ chức hoạt động tích cực, tự lực, sáng tạo của HS theo các giai đoạn của phương pháp thực nghiệm để xây dựng, chiếm lĩnh kiến thức, kĩ năng vật lí
Các giai đoạn của phương pháp thực nghiệm trong dạy học vật lí
Giai đoạn 1: Nhận biết các sự kiện khởi đầu, phát hiện (nêu câu hỏi) Giai đoạn 2: Xây dựng giả thuyết (câu hỏi dự đoán)
Giai đoạn 3: Từ giả thuyết suy ra hệ quả
Giai đoạn 4: Lập luận phương án và tiến hành thí nghiệm kiểm tra Giai đoạn 5: Ứng dụng kiến thức
Trang 32Trong cả năm giai đoạn của phương pháp thực nghiệm nêu trên vận dụng trong dạy học vật lí có hai giai đoạn đòi hỏi nhiều sáng tạo là: Xây dựng giả thuyết và lập luận phương án và tiến hành thí nghiệm kiểm tra
Rèn luyện cho HS sử dụng phương pháp thực nghiệm trong dạy học vật lí
Vận dụng phương pháp thực nghiệm vật lí vào dạy học vật lí được xem
là việc áp dụng một phương pháp dạy học mới cần thiết và có ý nghĩa to lớn Thực chất của phương pháp dạy học mới (phương pháp thực nghiệm) là ở chỗ
GV tổ chức các tình huống học tập nhằm phát huy tính tích cực, tự lực, sáng tạo, nhớ đó mà HS chiếm lĩnh được kiến thức, kĩ năng một cách sâu sắc, vững chắc, đồng thời qua đó giúp phát triển năng lực nhận thức sáng tạo cho HS
Quá trình rèn luyện phương pháp thực nghiệm cho học sinh
Căn cứ vào trình độ phát triển của HS và mức độ phức tạp của các yếu tố cấu thành phương pháp thực nghiệm, ta có mức độ của quá trình rèn luyện phương pháp thực nghiệm cho HS như sau:
- Mức độ 1: Cho HS làm quen với nội dung của phương pháp thực nghiệm vật lí ở trường phổ thông
HS cần được làm quen với phương pháp thực nghiệm thông qua việc chiếm lĩnh kiến thức vật lí
- Mức độ 2: Vận dụng và rèn luyện kĩ năng sử dụng một số giai đoạn của phương pháp thực nghiệm vật lí
Xây dựng dự đoán
Lập phương án và tiến hành thí nghiệm kiểm tra
Các hoạt động của học sinh khi lập phương án và tiến hành thí nghiệm kiểm tra
- Tìm cách để có đối tượng nghiên cứu