trách nhiệm bồi thường thiệt hại và trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
Trang 1MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 0
NỘI DUNG 1
I Một số vấn đề lí luận về trách nhiệm bồi thường thiệt hại và trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng 1
1 Trách nhiệm bồi thường thiệt hại 1
2 Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng 3
II Lỗi trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng 4
1 Khái niệm về lỗi và ý nghĩa của yếu tố lỗi trong việc xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng 4
2 Hành vi có lỗi và phân biệt hai hình thức lỗi cố ý và lỗi vô ý 8
2.1 Về lỗi cố ý 8
2.2 Về lỗi vô ý 9
III Thực tiễn và việc áp dụng các quy định của pháp luật hiện hành về lỗi trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng và nhận xét 10
1 Một số vụ việc thực tế áp dụng quy định của pháp luật về việc xác định lỗi trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng 11
1.1 Vụ việc thứ nhất 11
1.2 Vụ việc thứ hai 12
1.3 Vụ việc thứ ba 14
2 Nhận xét về những quy định hiện hành của pháp luật về lỗi trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng 16
KẾT LUẬN 20
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 20
Trang 2- xã hội của mỗi quốc gia Do sự phát triển của xã hội, các chế định phápluật cũng dần thay đổi, trách nhiệm bồi thường thiệt hại không còn đượccoi là hình phạt mà là nghĩa vụ bổn phận của người gây thiệt hại nhằmphục hồi tình trạng tài sản của người bị thiệt hại Trong lịch sử pháp luậtcủa nước ta nói riêng, dù dưới hình thức nào thì cũng có thể nhận định chếđịnh bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng xuất hiện từ rất sớm.
Lỗi là một trong bốn điều kiện làm phát sinh trách nhiệm bồithường dân sự nói chung và trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợpđồng nói riêng Xuất phát từ ý nghĩa quan trọng của chế định bồi thườngthiệt hại ngoài hợp đồng trong lý luận cũng như trong thực tiễn, nên emchon đề tài nghiên cứu về “Yếu tố lỗi trong trách nhiệm bồi thường thiệthại ngoài hơp đồng- một số vấn đề lí luận và thực tiễn"
NỘI DUNG
I Một số vấn đề lí luận về trách nhiệm bồi thường thiệt hại và trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
1 Trách nhiệm bồi thường thiệt hại
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại nói chung được quy định tại Điều
Trang 3gồm tổn thất về tài sản, chi phí hợp lí để ngăn chặn, hạn chế, khắc phục thiêt hại, thu nhập thực tế bị mát hoặc bị giảm sút.
3 Người gây thiệt hại về tinh thần cho người khác do xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự nhân phẩm, uy tín của người đó thì việc chấm dứt hành vi vi phạm, xin lỗi cải chính công khai còn phải bồi thường một khoản tiền để bù đắp tổn thất về tổn thất về tinh thần cho người bị thiệt hại”
Theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành thì trách nhiệmBTTH được BLDS 2005 quy định tại Điều 307 về trách nhiệm BTTH nóichung và chương XXI về trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng Tuy nhiên,trong cả hai phần này đều không nêu rõ khái niệm trách nhiệm BTTH màchỉ nêu lên căn cứ phát sinh trách nhiệm, nguyên tắc bồi thường, năng lựcchịu trách nhiệm, thời hạn hưởng bồi thường…
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng được quy định tạichương XXI BLDS 2005 Tiếp cận dưới góc độ khoa học pháp lý chúng
ta thấy rằng, mỗi người sống trong xã hội đều phải tôn trọng quy tắcchung của xã hội, không thể vì lợi ích của mình mà xâm phạm đến quyền
và lợi ích hợp pháp của người khác Khi một người vi phạm nghĩa vụ pháp
lý của mình gây tổn hại cho người khác thì chính người đó phải chịu bấtlợi do hành vi của mình gây ra Sự gánh chịu một hậu quả bất lợi bằngviệc bù đắp tổn thất cho người khác được hiểu là bồi thường thiệt hại
Như vậy, có thể hiểu trách nhiệm bồi thường thiệt hại là một loạitrách nhiệm Dân sự mà theo đó thì khi một người vi phạm nghĩa vụ pháp
lý của mình gây tổn hại cho người khác phải bồi thường những tổn thất
mà mình gây ra
Căn cứ vào nguồn gốc phát sinh, trách nhiệm bồi thường thiệt hạiđược phân thành trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo hợp đồng và tráchnhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Phạm vi bài viết này chỉ đềcập đến trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
Trang 42 Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
Theo quy định tại Điều 604, BLDS 2005: “Căn cứ phát sinh tráchnhiệm bồi thường thiệt hại:
“1 Người nào do lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của cá nhân, xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc chủ thể khác
mà gây thiệt hại thì phải bồi thường
2 Trong trường hợp pháp luật quy định người gây thiệt hại phải bồi thường cả trong trường hợp không có lỗi thì áp dụng quy định đó.”
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng được hiểu là mộtloại trách nhiệm dân sự mà khi người nào có hành vi vi phạm nghĩa vụ dopháp luật quy định ngoài hợp đồng xâm phạm đến quyền và lợi ích hợppháp của người khác thì phải bồi thường thiệt hại do mình gây ra
Nếu trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo hợp đồng bao giờ cũngđược phát sinh trên cơ sở một hợp đồng có trước thì trách nhiệm BTTHngoài hợp đồng là một loại trách nhiệm pháp lý do pháp luật quy định đốivới người có hành vi trái pháp luật xâm phạm đến quyền và lợi ích hợppháp của người khác Hiện nay, pháp luật Việt Nam quy định chủ yếu vềtrách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng đối với hành vi xâm phạm đến tínhmạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản của các cá nhân và tổchức khác
Theo Khoản 1 Điều 604 BLDS quy định về căn cứ phát sinh tráchnhiệm bồi thường thiệt hại và Nghị quyết số 03/2006 / HDTP – TANDTCngày 08/07/2006 hướng dẫn áp dụng một số quy định của BLDS về bồithường thiệt hại ngoài hợp đồng thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại phátsinh khi có các điều kiện: có thiệt hại xảy ra; có hành vi trái pháp luật gâythiệt hại; có mỗi quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hạixảy ra; có lỗi của người gây thiệt hại Như vậy, theo quy định của pháp
Trang 5luật dân sự thì lỗi được coi là một trong những điều kiện phát sinh tráchnhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
Có thiệt hại xảy ra: Thiệt hại là điều kiện quan trọng trong trách
nhiệm bồi thường thiệt hại nói chung và trách nhiệm bồi thường thiệt hạingoài hợp đồng nói riêng bởi mục đích của trách nhiệm bồi thường thiệthại là nhằm bù đắp, khắc phục những tổn thất đã xảy ra cho người bị thiệthại, do đó nếu không có thiệt hại thì cũng không phát sinh trách nhiệm bồithường Theo đó, khoản 1 Điều 307 BLDS quy định: “Trách nhiệm bồithường thiệt hại bao gồm trách nhiệm bồi thường thiệt hại về vật chất,trách nhiệm bồi thường bù đắp tổ thất về tình thần” Như vậy, thiệt hạiđược xác định bao gồm thiệt hại về vật chất và thiệt hại về tinh thần
Hành vi gây thiệt hại là hành vi trái pháp luật: Hành vi trái pháp
luật gây thiệt hại để phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại được hiểu
là những hành vi mà pháp luật cấm, không cho phép thực hiện Cơ sở đểxác định hành vi trái pháp luật là căn cứ vào các quy định của pháp luậttrong từng trường hợp cụ thể
Có mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại và hành vi trái pháp luật:
Đối với trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng thì hành vi tráipháp luật được coi là nguyên nhân và thiệt hại được coi là hậu quả Vềmặt nguyên tắc, hành vi trái pháp luật phải có trước và thiệt hại có sau
II Lỗi trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
1 Khái niệm về lỗi và ý nghĩa của yếu tố lỗi trong việc xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
Lỗi hiểu theo góc độ luật học, từ xưa đến nay có nhiều học giả,trong đó có các luật gia đã quan tâm nhận xét rất khác nhau trong việc xácđịnh yếu tố lỗi trong trách nhiệm dân sự nói chung và trách nhiệm BTTHngoài hợp đồng nói riêng
Trong phạm vi bài viết này, lỗi được thống nhất hiểu là là trạng tháitâm lý của con người có thể làm chủ, nhận thức được hành vi của mình và
Trang 6hậu quả do hành vi đó mang lại Việc đánh giá hình thức, mức độ lỗi trongtrách nhiệm dân sự nói chung, trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợpđồng nói riêng khác với trách nhiệm hình sự Trong trách nhiệm hình sự,hình thức và mức độ lỗi có ý nghĩa rất quan trọng trong việc định tội danh
và quyết định hình phạt Cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải xác định
kẻ phạm tội có lỗi trong việc thực hiện hành vi phạm tội Trong khi đó,đối với trách nhiệm dân sự do gây thiệt hại vấn đề hình thức lỗi và mức độlỗi ảnh hưởng rất ít đến việc xác định trách nhiệm Về nguyên tắc, tráchnhiệm bồi thường thiệt hại phát sinh khi người gây thiệt hại có lỗi, bất kểlỗi đó là lỗi cố ý hay lỗi vô ý
Xung quanh vấn đề lỗi, một câu hỏi thường được đặt ra đó là: Mọitrường hợp trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng đều tiên niệm có sự thiệthại, nhưng có phải mọi sự thiệt hại có đều phát sinh trách nhiệm không?Hay sự thiệt hại đó còn cần phải do một lỗi gây ra? Về vấn đề này có haiquan điểm: một quan điểm cố điển cho rằng phải có lỗi mới có tráchnhiệm, một quan điểm khác lại chủ trương trách nhiệm khách quan khôngcần điều kiện lỗi
Khuynh hướng cổ điển đặt căn bản của trách nhiệm dân sự ngoàihợp đồng trên ý niệm lỗi của người gây ra thiệt hại cho người khác Theo
đó, lỗi là một trong bốn điều kiện làm phát sinh trách nhiệm bồi thường.Chỉ khi nào một người do lỗi của mình mà gây thiệt hại, xâm phạm đếnquyền lợi hợp pháp của người khác thì mới phải bồi thường Cơ sở đểngười bị thiệt hại yêu cầu bồi thường là họ phải chứng minh lỗi của ngườigây thiệt hại
Đây cũng là quan điểm của Điều 604 BLDS: “Người nào do lỗi cố
ý hoặc lỗi vô ý xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm,
uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của cá nhân, xâm phạm danh
dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc chủ thể khác mà gây thiệt hại thìphải bồi thường”
Trang 7Giá trị của khuynh hướng cổ điển khi đặt trách nhiệm trên nền tảnglỗi là đã xác định phạm vi của tự do cá nhân: mọi người trong xã hội đềuđược tự do hoạt động, sự tự do ấy chỉ bị giới hạn bởi quyền lợi của ngườikhác; vậy chỉ khi nào một người do lỗi của mình mà xâm phạm đếnquyền, lợi ích hợp pháp của người khác thì mới phải bồi thường Songtrong tình trạng kinh tế xã hội ngày nay, khuynh hướng cổ điển nhiều khi
tỏ ra chật hẹp và không che chở được một cách có hiệu quả quyền lợi chonạn nhân trong khi việc bồi thường thiệt hại cho người bị thiệt hại là mộtđòi hỏi cấp thiết và chính đáng Thực vậy, trong trường hợp thiệt hại xảy
ra mà không có ai chứng kiến, hoặc xảy ra mà không do lỗi của ai cả, nếubuộc nạn nhân phải dẫn chứng lỗi, tức là gián tiếp bác bỏ quyền đòi bồithường của nạn nhân Ngoài ra khuynh hướng cổ điển cũng không giảithích được trách nhiệm của người chưa thành niên và người mất năng lựchành vi về các thiệt hại do họ gây ra
Khuynh hướng thứ hai đó là khuynh hướng chủ trương trách nhiệmkhách quan, không cần điều kiện lỗi Khuynh hướng này đặt ra tráchnhiệm khách quan cho người gây ra thiệt hại, do đó, trong mọi trườnghợp, người này đều phải chịu trách nhiệm bồi thường Khuynh hướng nàycũng không thỏa đáng vì bảo đảm sự bồi thường cho nạn nhân trong mọitrường hợp không hẳn là một giải pháp ích lợi cho xã hội Trên lập trườnglợi ích công cộng còn phải quan tâm đến quyền tự do hoạt động của cánhân, nếu thừa nhận sự bồi thường mà không đòi hỏi lỗi, mọi sự hoạt độngcủa cá nhận sẽ bị tê liệt vì ai nấy đều không khỏi e sợ gây thiệt hại phảibồi thường mặc dầu không phạm lỗi
Từ những lập luận trên, cùng với thực tế cho thấy các tai nạn mangtính khách quan nhiều khi nằm ngoài sự chi phối, điều khiển của conngười ngày càng gia tăng cùng với sự phát triển của công nghiệp hóa, cơgiới hóa, đe dọa tới sự an toàn về tính mạng, sức khỏe, tài sản của conngười, để bảo đảm công bằng xã hội, bảo vệ nạn nhân Bộ luật dân sự Việt
Trang 8Nam được xây dựng trên cơ sở dung hòa cả hai khuynh hướng trên Bêncạnh những điều khoản quy định yếu tố lỗi là một trong những điều kiệnbắt buộc làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng,BLDS Việt Nam cũng áp dụng chế độ trách nhiệm khách quan đối với cácthiệt hại do tác động của các phương tiện cơ giới, của súc vật và vật vô trithức khác Theo đó, trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong một số trườnghợp có thể phát sinh mà không cần điều kiện lỗi Ví dụ tại Khoản 3 Điều
627 quy định là: “Chủ sở hữu, người được chủ sở hữu giao chiếm hữu, sửdụng nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại ngay cả khi không
có lỗi” Hoặc Điều 624 quy định: “Cá nhân, pháp nhân và các chủ thểkhác làm ô nhiễm môi trường gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quyđịnh của pháp luật, kể cả trường hợp người gây ô nhiễm môi trường không
Trang 9Ngoài ra, đối với người tâm thần, người chưa thành niên dưới 15tuổi, hoặc người bị người khác cố ý dùng chất kích thích làm cho mất khảnăng nhận thức, không điều khiển được hành vi của mình, khi họ có hành
vi trái pháp luật mà gây thiệt hại thì cũng không bị coi là có lỗi, từ đó họcũng không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại Trong trường hợpnày, lỗi được xem xét là lỗi của người quản lý người gây thiệt hại hoặc lỗicủa người đã cố ý dùng chất kích thích làm người khác mất năng lực hành
vi dẫn tới gây thiệt hại
2 Hành vi có lỗi và phân biệt hai hình thức lỗi cố ý và lỗi vô ý
Hành vi có lỗi, theo quy định tại Điều 308 BLDS thì "Người khôngthực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ dân sự, thì phải chịu tráchnhiệm dân sự khi có lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý, trừ trường hợp có thỏa thuậnkhác hoặc pháp luật có quy định khác: Khoản 1 Điều 308 nói trên quyđịnh lỗi do hành vi không thực hiện nghĩa vụ dân sự thì người có hành vi
đó bị coi là có lỗi Theo quy định của khoản 2 Điều 308 BLDS thì nộidung của khoản này có ý nghĩa viện dẫn trực tiếp trong việc xác định tráchnhiệm dân sự ngoài hợp đồng
2.1 Về lỗi cố ý
Khoản 2 Điều 308 BLDS quy định: “Cố ý gây thiệt hại là trườnghợp một người nhận thức rõ hành vi của mình sẽ gây thiệt hại cho ngườikhác mà vẫn thực hiện và mong muốn hoặc không mong muốn, nhưng đểmặc cho thiệt hại xảy ra”
Về mặt khách quan, quy định trên đã dự liệu trường hợp người gâythiệt hại nhận thức rõ hành vi của mình sẽ gây thiệt hại cho người khác màvấn thực hiện, cho dù người đó mong muốn hoặc không mong muốnnhưng đã có thái độ để mặc cho thiệt hại xảy ra thì người đó phải chịutrách nhiệm dân sự về hành vi có lỗi cố ý của mình
Trang 10Về măt chủ quan, người gây thiệt hại khi thực hiện hành vi gây hạiluôn nhằm mục đích có thiệt hại xảy ra cho người khác và được thể hiệndưới hai mức độ:
Mong muốn có thiệt hại xảy ra
Không mong muốn có thiệt hại, nhưng lại để mặc cho thiệt hại xảyra
Mức độ thể hiện ý chí- hành vi của người cố ý gây thiệt hại trongtrường hợp người đó nhận thức rõ hành vi của mình sẽ gây thiệt hại chongười khác mà vẫn thực hiện, thì phải chịu trách nhiệm dân sự do lỗi cố ý
là nguyên nhân của thiệt hai
2.2 Về lỗi vô ý
Khoản 2 Điều 308 BLDS quy định: “Vô ý gây thiệt hại là trườnghợp một người không thấy trước hành vi của mình có khả năng gây thiệthại, mặc dù phải biết hoặc có thể biết trước thiệt hại sẽ xảy ra hoặc thấytrước hành vi của mình có khả năng gây thiệt hại, nhưng cho rằng thiệt hại
sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn chặn được.” Như vậy, lỗi vô ý biểu hiện
ở việc người gây thiệt hại không thấy trước hành vi của mình có khả nănggây ra thiệt hại mặc dù phải thấy trước mà vẫn thực hiện hành vi ấy vì chorằng hậu quả đó không thể xảy ra Ví dụ: A có một vườn cây cạnh nhà Bmột hôm A chặt cây gỗ to để bán Khi làm việc này, A biết là rất nguyhiểm vì cây gỗ có thể đổ vào nhà B Nhưng A cho rằng mình có thể chặtcây đổ về phía vườn nhà Kết quả cây gỗ đó đã đổ vào nhà ông B
Đối với lỗi vô ý, tùy theo mức độ trầm trọng của nó, cũng có thểphân chia thành lỗi nặng, lỗi nhẹ, lỗi rất nhẹ như trong trường hợp tráchnhiệm hợp đồng, nhưng đối với trách nhiệm ngoài hợp đồng, sự phân biệtnày không có lợi ích gì trên thực tế, vì trên nguyên tắc một lỗi rất nhẹcũng đủ để phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
Lỗi vô ý hay lỗi cố ý cần được xem xét trên các căn cứ như thờigian, địa điểm, điều kiện, diễn biến của sự việc, căn cứ vào sự hiểu biết xã
Trang 11hội, nghiệp vụ chuyên môn của người có hành vi gây thiệt hại từ đó kếtluận người gây thiệt hại có nhận thức được hành vi của mình hay không
và buộc phải nhận thức được hay không Khác với cách giải quyết trongtrách nhiệm hình sự dù đối với lỗi vô ý hay lỗi cố ý thì người gây thiệt hạivẫn phải chịu trách nhiệm dân sự Trong trách nhiệm hình sự lỗi vô ý gâythiệt hại nhỏ thì không phải truy cứu trách nhiệm hình sự, còn trong tráchnhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng thì không vì sự cố ý hay vô ýcủa người gây thiệt hại mà xét họ có phải bồi thường hay không hoặc làxét ở mức độ tăng hay giảm mà ở đây chỉ xem xét mức độ giảm bồithường được quy định ở khoản 2 Điều 605 BLDS
Về ý nghĩa của việc phân biệt hai hình thức lỗi: ta nhận thấy rằng,mặc dù Điều 308 BLDS chia “lỗi” thành hai hình thức - lỗi cố ý và lỗi vô
ý nhưng hầu như ý nghĩa của sự phân chia này không được thể hiện trongcác quy định về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, trừ Điều 615 có nhắcđến lỗi cố ý của người dùng rượu hoặc các chất kích thích khác làm chongười khác lầm vào tình trạng mất khả năng nhận thức và điều khiển hành
vi của mình mà gây thiệt hại là căn cứ để xác định trách nhiệm bồi thườngthiệt hại Tuy nhiên đối với mọi trường hợp bồi thường thiệt hại ngoài hợpđồng được quy định cụ thể tại BLDS, việc phân định lỗi cố ý hoặc lỗi vô ýảnh hưởng đến mức bồi thường được quy định tại khoản 2 Điều 605, trong
đó coi yếu tố lỗi vô ý là căn cứ giảm mức bồi thường khi người có hành vitrái pháp luật gây thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế trước mắc vàlâu dài của mình Như vậy, trừ trường hợp quy định tại Điều 615, việcphân biệt lỗi cố ý và lỗi vô ý không có ý nghĩa trong việc xác định hoặcloại trừ trách nhiệm bồi thường của người gây thiệt hại
III Thực tiễn và việc áp dụng các quy định của pháp luật hiện hành
về lỗi trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng và nhận xét