Trong vấn đề GD toàn diện đối với học sinh phổ thông thì môn vật lí đóng vai trò quan trọng nó giúp học sinh nắm được những quy luật từ đơn giản đến phức tạp của hiện tượng tự nhiên, biết được cấu trúc cũng như sự vận động của vật chất, đồng thời giúp học sinh phát triển năng lực nhận thức,
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA VẬT LÝ
===***===
ĐỖ THỊ HỒNG
TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG NHẬN THỨC TRONG DẠY HỌC CHƯƠNG “CÁC ĐỊNH LUẬT BẢO TOÀN” SGK VẬT LÍ 10 (NÂNG CAO) NHẰM PHÁT HUY TÍNH
TỰ LỰC, TÍCH CỰC CỦA HỌC SINH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Lí luận và phương pháp dạy học bộ môn Vật lí
Người hướng dẫn khoa học
ThS NGUYỄN VĂN THU
HÀ NỘI, 2014
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian hoàn thành khóa luận tốt nghiệp, em đã nhận được sự quan tâm, giúp đỡ và tạo điều kiện của các thầy cô giáo trong khoa Vật lí nhất là của các thầy cô giáo trong tổ phương pháp giảng dạy, cùng với sự động viên khích lệ của các bạn sinh viên Em xin chân thành cảm ơn sự giúp
đỡ quý báu này Đặc biệt em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất đến ThS
Nguyễn Văn Thu đã tận tình giúp đỡ hướng dẫn em trong suốt thời gian qua
để em có thể hoàn thành khóa luận này
Mặc dù đã cố gắng hết sức, song thời gian nghiên cứu có hạn nên những vấn đề em trình bày không tránh khỏi những thiếu sót Vì vậy em kính mong nhận được sự chỉ bảo tận tình của thầy cô giáo và sự đóng góp ý kiến của các bạn sinh viên để nghiên cứu của em được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 5 năm 2014
Sinh viên
Đỗ Thị Hồng
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Được sự hướng dẫn tận tình của ThS Nguyễn Văn Thu và sự nỗ lực của
bản thân, tôi đã hoàn thành khóa luận này Tôi xin cam đoan những vấn đề tôi trình bày trong khóa luận này là kết quả nghiên cứu của riêng tôi, không trùng với bất kì kết quả của tác giả nào công bố trước đây
Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Hà Nội, tháng 5 năm 2014
Sinh viên
Đỗ Thị Hồng
Trang 4
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 6
1 Lí do chọn đề tài 6
2 Mục đích nghiên cứu 7
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7
4 Giả thuyết khoa học 8
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 8
6 Phương pháp nghiên cứu 8
7 Cấu trúc khóa luận 8
Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG NHẬN THỨC TRONG DẠY HỌC VẬT LÍ Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG 10
1.1 Bản chất hoạt động của việc học tập vật lí ở trường phổ thông 10
1.2 Phát huy tính tích cực, tự lực của học sinh trong học tập 15
1.3 Các dạng hoạt động nhận thức chủ yếu trong học tập vật lí ở trường THPT 17
1.4 Các dạng hoạt động học tập của học sinh ở trường THPT 22
1.5 Tổ chức HĐNT của học sinh trong học tập vật lí là một biện pháp nâng cao chất lượng dạy học đáp ứng mục tiêu mới 23
1.6 Thực trạng của việc tổ chức HĐNT trong dạy học vật lí hiện nay ở trường THPT Trần Hưng Đạo - Nam Định 29
Chương 2 TỔ CHỨC HĐNT CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC CHƯƠNG “CÁC ĐỊNH LUẬT BẢO TOÀN” 33
2.1 Đặc điểm chung của nhóm kiến thức “Các định luật bảo toàn” SGK Vật lí 10 33
2.2 Tiến trình dạy học một số bài cụ thể thuộc chương “Các định luật bảo toàn” 36
Chương 3 DỰ KIẾN THỬ NGHIỆM SƯ PHẠM 62
3.1 Mục đích thử nghiệm 62
3.2 Đối tượng thử nghiệm 62
3.3 Nhiệm vụ thử nghiệm sư phạm 63
3.4 Phương pháp thử nghiệm 63
3.5 Dự kiến kế hoạch thử nghiệm 63
3.6 Tổ chức quá trình dạy học 63
3.7 Dự liến kết quả thử nghiệm 64
TÀI LIỆU THAM KHẢO 66
Trang 5DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
STT Chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ
1 ĐLBT Định luật bảo toàn
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Thế giới đang xảy ra sự bùng nổ tri thức khoa học và công nghệ Xã hội mới phồn vinh ở thế kỉ XXI phải là một xã hội “dựa vào tri thức”, vào tư duy sáng tạo, vào tài năng sáng chế của con người Để có thể vươn lên được, chúng ta không những phải học hỏi kinh nghiệm của các nước tiên tiến mà còn phải biết vận dụng những kinh nghiệm đó một cách sáng tạo, tìm ra con đường phát triển riêng của đất nước
Con người trong xã hội ngày nay phải là con người của tri thức Vì thế đòi hỏi mỗi người lao động cần có sự năng động, sáng tạo, phải có khả năng
tự định hướng, tự học, tự nghiên cứu, tìm tòi, không ngừng trao đổi về tri thức mới, có thể tích cực chủ động trước những thử thách, biến đổi của khoa học
xã hội
Trước tình hình đó của thời đại, nảy sinh yêu cầu đổi mới ngành GD -
ĐT, cần phải đổi mới mạnh mẽ, sâu sắc toàn diện thì mới có thể theo kịp bước tiến của xã hội, đồng thời thúc đẩy nhà nước phát triển, hội nhập với thế giới
Để thực hiện được yêu cầu đó trước hết chúng ta phải đổi mới PPGD, khắc phục lối truyền thụ một chiều, thực hiện dạy học theo một chiến lược dạy học mới “Dạy học bằng hoạt động thông qua hoạt động của học sinh” Với chiến lược dạy học mới đưa học sinh trở thành chủ thể của HĐNT Thông qua hoạt động tự lực của bản thân mà chiếm lĩnh kiến thức, phát triển tư duy sáng tạo, năng lực thể chất, tinh thần và nhân cách của cá nhân
Trong vấn đề GD toàn diện đối với học sinh phổ thông thì môn vật lí đóng vai trò quan trọng nó giúp học sinh nắm được những quy luật từ đơn giản đến phức tạp của hiện tượng tự nhiên, biết được cấu trúc cũng như sự vận động của vật chất, đồng thời giúp học sinh phát triển năng lực nhận thức,
Trang 7tư duy, sáng tạo và hình thành cho học sinh về nhân cách… Chính vì vậy, việc học sinh nắm vững kiến thức, kiến thức vật lí và áp dụng kiến thức vật lí vào thực tế là hết sức cần thiết
Để thực hiện mục tiêu đó đòi hỏi: “Giáo viên không những có kiến thức sâu sắc, vững vàng, trình bày chính xác mạch lạc, biết làm thí nghiệm có hiệu quả… mà quan trọng hơn còn phải biết thể hiện sự gia công sư phạm của mình, khả năng am hiểu của học sinh, biết cách tổ chức, hướng dẫn học sinh HĐNT có hiệu quả, biết khơi dậy cho học sinh hứng thú, hăng say HĐNT, biết rèn luyện cho học sinh các phương pháp hoạt động, các thao tác tư duy và chân tay, biết suy nghĩ và giải quyết vấn đề một cách sáng tạo”
Trong chương trình vật lí 10 THPT, chương “Các định luật bảo toàn” có ý nghĩa quan trọng, là chương cuối cơ học nên đòi hỏi HS phải vận dụng tất cả kiến thức đã học về động học, động lực học Đây cũng là dịp để GV củng cố, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức cho HS nhằm phát triển năng lực nhận thức, hình thành kĩ năng, kĩ xảo
Xuất phát từ điều đó, tôi đã quyết định chọn đề tài: Tổ chức hoạt động
nhận thức trong dạy học chương “Các định luật bảo toàn” SGK Vật lí 10 (nâng cao) nhằm phát huy tính tự lực, tích cực của học sinh
2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu các hình thức tổ chức hoạt động nhận thức của học sinh trong dạy học vật lí ở trường THPT qua chương “Các định luật bảo toàn” SGK Vật lí 10 nâng cao nhằm nâng cao chất lượng dạy và học
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
+ Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động nhận thức của học sinh THPT trong học tập môn vật lí
+ Phạm vi nghiên cứu: Thiết kế tiến trình dạy học chương “Các định luật
Trang 8bảo toàn” nhằm phát huy tính tự lực, tích cực của học sinh
4 Giả thuyết khoa học
Khi dạy học chương “Các định luật bảo toàn” SGK Vật lí 10 nâng cao – THPT, bằng cách tổ chức hoạt động nhận thức cho học sinh trong mỗi bài học giúp học sinh nắm vững kiến thức, bồi dưỡng cho học sinh kĩ năng cơ bản trong nhận thức vật lí, góp phần nâng cao chất lượng dạy và học đáp ứng yêu cầu chiến lược dạy học mới
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
+ Tìm hiểu cơ sở lí luận dạy học theo quan điểm hoạt động và cơ sở khoa
học của việc tổ chức hoạt động nhận thức trong học tập vật lí của học sinh
+ Nghiên cứu tinh thần, tư tưởng chỉ đạo mục tiêu chương trình, SGK, sách hướng dẫn Vật lí 10
+ Điều tra thực trạng vật lí theo chiến lược dạy học mới ở một số trường THPT
+ Áp dụng một số biện pháp nhằm bồi dưỡng năng lực hoạt động nhận thức của học sinh theo phương pháp thực nghiệm ở trường THPT
+ Thử nghiệm tại trường THPT Trần Hưng Đạo - Nam Định để xem xét, đánh giá hiệu quả việc áp dụng các biện pháp đến quá trình học tập vật lí của học sinh
6 Phương pháp nghiên cứu
+ Nghiên cứu các tài liệu liên quan đến phương pháp dạy học mới theo hướng tổ chức hoạt động nhận thức cho học sinh
+ Điều tra thực tiễn: Giúp cho việc thu thập thông tin, phân tích, so sánh, tổng hợp để nhận xét, đánh giá
+ Kiểm nghiệm phương pháp nghiên cứu trong phương thức dạy học
7 Cấu trúc khóa luận
Trang 9Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo đề tài có cấu trúc như sau:
+ Chương 1 Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc tổ chức HĐNT trong dạy học vật lí ở trường phổ thông
+ Chương 2 Tổ chức HĐNT của học sinh THPT khi giảng dạy chương
“Các định luật bảo toàn”
+ Chương 3 Dự kiến thử nghiệm sư phạm
Trang 10Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG NHẬN THỨC TRONG DẠY HỌC VẬT LÍ Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG
1.1 Bản chất hoạt động của việc học tập vật lí ở trường phổ thông
1.1.1 Khái niệm và các thành phần của hoạt động
Theo tâm lí học, A.N Lêonchev đã định nghĩa: Hoạt động được hiểu là một tổ hợp các quá trình con người tác động vào các đối tượng nhằm đạt mục đích thỏa mãn nhu cầu nhất định và kết quả cuả hoạt động mà cụ thể hóa nhu cầu của chủ thể
Ngoài ra, hoạt động còn là tương tác mối liên hệ giữa chủ thể với khách thể, là phương thức tồn tại của con người trong xã hội, trong môi trường xung quanh Hoạt động bao gồm cả hành vi lẫn tâm lí, ý thức công việc chân tay và công việc trong não
Bất kì một hoạt động nào cũng bao gồm bốn phần cơ bản: Chủ thể, mục đích, đối tượng và vận hành theo quy tắc gián tiếp
* Với hoạt động học:
- Chủ thể của hoạt động:
Hoạt động nào cũng có chủ thể tiến hành, chủ thể có thể là một người, cũng có thể là nhiều người Trong hoạt động dạy học, giáo viên là chủ thể hoạt động dạy, học sinh là chủ thể hoạt động học
- Mục đích của hoạt động:
Mục đích của hoạt động thường tạo ra sản phẩm có liên quan trực tiếp hay gián tiếp với việc thỏa mãn nhu cầu của chủ thể Chẳng hạn, trong hoạt động dạy học thì giáo viên truyền đạt lại tri thức khoa học nhằm giúp học sinh
Trang 11chiếm lĩnh tri thức, kĩ năng, kĩ xảo thỏa mãn nhu cầu nhận thức, chuẩn bị tiềm năng bước vào cuộc sống
- Đối tượng của hoạt động:
Hoạt động bao giờ cũng là hoạt động có đối tượng, không bao giờ hoạt động mà không có đối tượng Đó là quá trình con người tác động vào cái gì đấy Chẳng hạn, đối tượng hoạt động học là nhằm vào kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo để biến chúng thành vốn hiểu biết của mình
- Vận hành theo nguyên tắc gián tiếp:
Trong hoạt động học người ta dùng tiếng nói, chữ viết, con số, các hình ảnh trực quan (hình tượng, biểu tượng về sự vật, trí thức quy luật ) làm các công cụ tâm lí để tổ chức điều khiển thế giới tinh thần của mỗi người Giáo viên phải chọn lọc trong số công cụ trên sao cho phù hợp với mỗi bài giảng cụ thể, tri thức cụ thể để tổ chức điều khiển thế giới tinh thần của người học Như vậy, công cụ tâm lí có chức năng trung gian trong hoạt động học và
do đó có tính gián tiếp trong hoạt động học
Đặc điểm của học ngẫu nhiên:
- Chỉ lĩnh hội những gì liên quan trực tiếp tới nhu cầu hứng thú
- Chỉ đưa lại kiến thức tiền khoa học có tính chất ngẫu nhiên, rời rạc, không hệ thống
- Kinh nghiệm lĩnh hội không trùng lặp với mục đích của chính hoạt động hay hành vi mà chỉ hình thành những năng lực thực tiễn do kinh nghiệm
Trang 12hằng ngày đem lại
1.1.2.2 Hoạt động học
- Đặc điểm của hoạt động học
Học là hoạt động đặc biệt của con người được điều khiển bởi mục đích
tự giác nhằm chiếm lĩnh được tri thức, kĩ năng, kinh nghiệm mà loài người đã tích lũy được đồng thời phát triển những phẩm chất năng lực, hình thành nhân cách của người học
- Cấu trúc của hoạt động học
Theo lí thuyết hoạt động, học với tính chất là một hoạt động có cấu trúc gồm nhiều thành tố có quan hệ và tác động lẫn nhau (hình 1) Một bên là động
cơ, mục đích, phương tiện đó là mặt đối tượng của hoạt động, bên kia là hoạt động, hành động và thao tác đó là mặt chủ quan của chủ thể Cuối cùng mỗi hành động được thực hiện bởi nhiều thao tác sắp xếp theo một trình tự xác định, ứng với mỗi thao tác trong những điều kiện cụ thể phải sử dụng những phương tiện, công cụ thích hợp Ta có sơ đồ cấu trúc hoạt động sau:
Trang 13cho đất nước, gia đình, bản thân Nhưng quan trọng nhất là sự kích thích bên trong bằng mâu thuẫn nhận thức, mâu thuẫn giữa nhiệm vụ mới giải quyết vấn đề và khả năng hiện có của học sinh chưa đủ, cần có một sự cố gắng vươn lên tìm kiếm một giải pháp mới để xây dựng một kiến thức mới
Mục đích của hoạt động được thể hiện ở mỗi môn học, mỗi phần học và cụ thể là mỗi bài học Đó là những mục tiêu cụ thể mà HS phải đạt được sau khi học nó
Trong khi thực hiện một số hành động ta phải sử dụng một số phương tiện có những điều kiện cụ thể, nghĩa là ta đã thực hiện những thao tác Thao tác trí tuệ có vai trò to lớn quyết định trong nhận thức khoa học Bởi vậy việc rèn luyện cho HS những kĩ năng, kĩ xảo, thực hiện các thao tác tư duy trong học tập là hết sức cần thiết
Như vậy, hành động là một thành phần cơ bản trong cấu trúc của hoạt động Tri thức là sản phẩm của hành động Do vậy muốn HS nắm được tri thức vững vàng thì cần xác định và hình thành hành động một cách có mục đích bằng nhiều thao tác tích cực
- Bản chất của hoạt động học
Hoạt động học là hoạt động hướng vào làm thay đổi chính mình Thông thường các hoạt động khác hướng vào làm thay đổi đối tượng khách quan, trong khi đó hoạt động học lại làm cho chính chủ thể của hoạt động này thay đổi và phát triển
Bản chất của quá trình học tập là quá trình hoạt động nhận thức mang tính tích cực, tự lực Mỗi tri thức khoa học mới có chất lượng phải là sự thích ứng của người học với những tình huống học tập thích đáng, chính quá trình thích ứng này là hoạt động của người học xây dựng nên tri thức mới với tính cách và phương tiện tối ưu giải quyết tình huống mới Đồng thời đó là quá trình góp phần làm phát triển các năng lực nhận thức, thực tiễn và nhân cách của cá nhân
Trang 141.1.3 Bản chất của hoạt động học tập vật lí ở trường phổ thông
Hoạt động học tập vật lí ở trường phổ thông là hoạt động nhận thức của học sinh nhằm lĩnh hội kiến thức, trên cơ sở đó tái tạo cho mình những tri thức vật lí mà loài người đã tích lũy được Hoạt động nhận thức các kiến thức vật lí có đặc thù riêng, nó vừa tuân theo quy luật chung của hoạt động nhận thức sáng tạo vừa phù hợp với đặc điểm khoa học vật lí
Nhận thức vật lí là nhận thức khách quan V.I Lênin đã chỉ rõ quy luật chung nhất của hoạt động nhận thức là: “Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn, đó là con đường biện chứng của nhận thức chân lí, của sự nhận thức hiện thực khách quan” [8]
Quy luật riêng - con đường sáng tạo trong khoa học vật lí đã được các nhà vật lí nổi tiếng như Anhstanh, M.B.Lăng, M.Bocnơ, PLKaPiSa và nhiều nhà vật lí nổi tiếng khác đều có những phát biểu tương tự nhau về quá trình sáng tạo khoa học V.G.Razumôpxki đã khái quát hóa những lời phát biểu đó
và trình bày quá trình sáng tạo khoa học dưới dạng chu trình gồm các giai đoạn chính sau (hình 2):
Hình 2 Chu trình sáng tạo khoa học theo Razumôpxki
Trong quá trình phát triển của vật lí, các nhà khoa học không những khám phá ra, phát minh ra những định luật, thuyết vật lí mà còn sáng tạo ra nhiều phương pháp nhận thức có hiệu quả
Những sự kiện khởi
đầu
Thí nghiệm kiểm tra
Mô hình giả định trừu
tượng
Các hệ quả logic
Trang 15Từ khái quát hóa những sự kiện đi đến mô hình diễn ra các hệ quả lí thuyết rồi từ hệ quả lí thuyết đến kiểm tra bằng thực nghiệm Nếu các sự kiện thực nghiệm phù hợp với hệ quả dự đoán thì giả thuyết trở thành chân lí khoa học, một định luật, một thuyết vật lí và kết thúc một chu trình Những hệ quả như thế càng nhiều, mở rộng phạm vi ứng dụng của các kết luận đã thu được cho đến khi xuất hiện sự kiện mới không còn phù hợp với thực nghiệm thì điều đó dẫn tới phải xem xét lại lí thuyết cũ, chỉnh lí lại hoặc phải thay đổi và như thế lại phải bắt đầu một chu trình xây dựng kiến thức mới, thiết kế những máy móc mới để kiểm tra, bằng cách đó làm cho kiến thức khoa học ngày càng phong phú [8]
Việc dạy cho học sinh làm quen với các phương pháp nhận thức là hết sức cần thiết ở trường THPT, phương pháp nhận thức quan trọng là phương pháp thực nghiệm Do đó, để đảm bảo cho HS nắm vững kiến thức vật lí một cách chắc chắn cần phải hình thành cho họ kĩ năng, kĩ xảo không chỉ vận dụng mà còn chiếm lĩnh kiến thức thông qua nhiều hình thức luyện tập khác nhau [4, tr.22]
1.2 Phát huy tính tích cực, tự lực của học sinh trong học tập
1.2.1 Tính tích cực của học sinh trong học tập
1.2.1.1 Khái niệm
Tính tích cực là một hiện tượng sư phạm biểu hiện ở sự cố gắng cao về nhiều mặt trong học tập Vì vậy, nói tới tính tích cực học tập thực chất là nói đến tích cực nhận thức, mà tính tích cực nhận thức là trạng thái hoạt động nhận thức của HS
1.2.1.2 Những biểu hiện của tính tích cực nhận thức
- Thứ nhất là dấu hiệu bên ngoài qua thái độ, hành vi và hứng thú
Nhu cầu, hứng thú nhận thức của HS được thể hiện bằng những dấu hiệu
Trang 16cụ thể sau:
+ Thích thú, chủ động tiếp xúc với đối tượng: thể hiện ở chỗ các em hay nêu thắc mắc, đặt những câu hỏi nhằm hiểu biết nhiều hơn, sâu hơn về đối tượng mà các em tiếp xúc
+ Chú ý quan sát, chăm chú lắng nghe và theo dõi những gì thầy cô làm + Giơ tay phát biểu, nhiệt tình hưởng ứng, bổ sung ý kiến vào câu trả lời của bạn và thích tham gia vào các hoạt động
- Thứ hai là những dấu hiệu bên trong
Biểu hiện như sự căng thẳng trí tuệ, sự nỗ lực hoạt động, sự phát triển của tư duy, ý chí và xúc cảm:
+ Phát hiện nhanh chóng , chính xác những nội dung được quan sát + Các em tích cực sử dụng các thao tác nhận thức, đặc biệt là thao tác tư duy như phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát hóa… vào việc giải quyết các nhiệm vụ nhận thức
+ Tích cực vận dụng vốn kiến thức và kĩ năng đã tích lũy được vào việc giải quyết các tình huống và các bài tập khác nhau
- Thứ ba là kết quả học tập
Kết quả học tập là một dấu hiệu quan trọng và có tính khái quát của tính tích cực nhận thức Chỉ tích cực học tập một cách thường xuyên, liên tục, tự giác mới có kết quả học tập tốt
- Tính tích cực sáng tạo: Tạo ra cái mới có giá trị
1.2.2 Phát huy tính tự lực học tập của học sinh
Trang 171.2.2.2 Biểu hiện của tính tự lực nhận thức
- Ý thức được nhu cầu học tập của mình, yêu cầu của xã hội, của tập thể hoặc nhiệm vụ do người khác đề ra đối với việc học tập của mình
- Ý thức được mục đích học tập, thực hiện được mục đích đó, làm thỏa mãn nhu cầu nhận thức của mình
- Suy nghĩ kĩ, đánh giá đúng những điều kiện hoạt động học tập của mình, tích cực hóa những kiến thức, kinh nghiệm đã tích lũy được có liên quan tới việc giải quyết nhiệm vụ và yêu cầu học tập
- Dự đoán trước những diễn biến tâm lí: cảm xúc, động cơ, ý chí…
1.3 Các dạng hoạt động nhận thức chủ yếu trong học tập vật lí ở trường THPT
1.3.1 Quan sát tự nhiên để nhận biết những đặc điểm bên ngoài của sự vật, hiện tượng
“Quan sát là nghiên cứu khoa học trong những điều kiện tự nhiên một hiện tượng nào đó không có sự can thiệp tích cực của con người vào quá trình
biến đổi hiện tượng” [11]
Quan sát hiện tượng có nghĩa là chú ý đến mọi biểu hiện của nó để có thể mô tả tỉ mỉ các dấu hiệu tương ứng với mục đích đề ra Trong khi quan sát, các cơ quan cảm giác của con người không thể đảm bảo ghi nhận được hết các dấu hiệu của sự vật hiện tượng cho nên con người phải sử dụng máy móc, dụng cụ để ghi nhận đầy đủ, chính xác quá trình xảy ra trong sự vật, hiện
Trang 18tượng quan sát [8]
Ở trường THPT, việc quan sát hiện tượng tự nhiên của học sinh thường đơn giản rất gần gũi với thực tế, không phải sử dụng đến các máy móc tinh vi, phức tạp hay chính xác
1.3.2 Tác động với tự nhiên để làm bộc lộ những mối liên hệ, những đặc tính bên trong của chúng
Vì các hiện tượng vật lí xảy ra rất phức tạp, nên không thể cùng một lúc
có thể phân biệt được những tính chất đặc trưng của từng hiện tượng hay phân biệt được ảnh hưởng của tính chất này đến tính chất khác Do vậy, cần phải tiến hành các thao tác vật chất tác động vào tự nhiên như: “Dùng các TN vật lí trong đó đã đơn giản hóa các hiện tượng làm nổi bật những khía cạnh cần nghiên cứu của hiện tượng, tức là làm cho các quá trình tự nhiên xảy ra ở dạng rõ nhất, ít bị ảnh hưởng của các quá trình khác làm cho phức tạp, nhờ đó
mà học sinh nhận ra những tính chất đặc trưng của các hiện tượng và mối
quan hệ qua lại giữa các hiện tượng đó”
TN ở đây là quá trình tạo lại hay biến đổi hiện tượng nào đó về điều kiện thuận lợi hơn đúng với mục đích nghiên cứu nó TN có tác dụng tích cực hơn quan sát ở chỗ, nó cho phép người nghiên cứu tham gia vào quá trình diễn ra của hiện tượng nghiên cứu và tạo ra hiện tượng đó, khi cần cho phép phân tích những sự kiện phức tạp thành những sự kiện đơn giản
Như vậy, làm thí nghiệm đòi hỏi nghiên cứu phải quan sát tỉ mỉ, đầy đủ
và chính xác, thay đổi những điều kiện làm bộc lộ những đặc tính bản chất, những mối quan hệ khách quan
1.3.3 Phát hiện vấn đề cần giải quyết
Vấn đề xuất hiện khi con người có nhu cầu hiểu biết cái mới nhưng kiến thức, kinh nghiệm chưa đầy đủ, không đáp ứng được yêu cầu đó dẫn đến nảy sinh mâu thuẫn về nhận thức, khi mâu thuẫn này biến thành nhu cầu hứng thú
Trang 19nhận thức của chủ thể thì mới xuất hiện vấn đề Chủ thể mới ở trong tình huống có vấn đề, sẽ kích thích não bộ buộc chủ thể phải tư duy, tự giác, tích cực nhận thức, vấn đề xuất hiện dưới hình thức câu hỏi Tình huống có vấn đề
là tình huống học sinh thấy hứng thú trong việc giải quyết mâu thuẫn nhận thức, từ đó xuất hiện ở học sinh nhu cầu cần phải tìm cách giải quyết mâu thuẫn này
1.3.4 Phân tích hiện tượng phức tạp thành hiện tượng đơn giản bị chi phối bởi ít nguyên nhân
“Khái niệm phân tích được hiểu là sự phân chia cái toàn bộ (các sự vật, hiện tượng vật lí phức tạp) thành các yếu tố riêng lẻ (các bộ phận, các tính chất, các mối liên hệ) nhằm nhận thức bản chất của các yếu tố riêng lẻ, xác định vị trí, vai trò, chức năng của các yếu tố riêng lẻ trong cái toàn bộ”
Trong hoạt động nhận thức của học sinh, khâu phân tích hiện tượng là rất cần thiết Mọi hiện tượng vật lí đều phức tạp học sinh phải biết phân tích chia nhỏ sau đó phải biết cách đánh giá, nhận xét để chọn lọc loại bỏ những dấu hiệu thứ yếu tìm ra dấu hiệu đặc trưng, bản chất Thao tác này rất quan trọng khi giải bài tập vật lí, phân tích ý nghĩa vật lí của các khái niệm, định luật, biểu thức toán học, sơ đồ, đồ thị, giải thích, biện luận các kết quả thí nghiệm…
1.3.5 Xây dựng giả thuyết (lời dự đoán) về nguyên nhân và mối quan hệ của hiện tượng quan sát được
Trong phạm vi hoạt động nhận thức của học sinh bằng phương pháp thí nghiệm vật lí, giả thuyết thường là dự đoán (về một nguyên nhân, tính chất, mối liên hệ…) có cơ sở nhưng chưa vững chắc Cơ sở dựa trên kinh nghiệm quan sát hàng ngày chưa nghiên cứu để ý kĩ, chưa hiểu rõ bản chất hoặc dựa trên những hiểu biết đã có nhưng chưa đủ để kết luận một vấn đề cần nghiên cứu
Việc rèn luyện khả năng xây dựng dự đoán cho học sinh là hết sức cần
Trang 20thiết, chính vì vậy giáo viên vẫn phải là người tổ chức, định hướng thì quá trình học tập của học sinh mới hiệu quả, phù hợp với từng khả năng nhận thức của mỗi học sinh
1.3.6 Thực hiện những suy luận lôgic hay biến đổi toán học từ giả thuyết đi đến hệ quả có thể kiểm tra được bằng thực nghiệm
Khi đã có giả thuyết thì cần phải chứng tỏ, chứng minh một cách có hệ thống tính chân thực hay không chân thực của giả thuyết Có thể thực hiện điều đó bằng cách suy luận lí thuyết từ nó ra hệ quả lôgic và kiểm tra tính đúng đắn của chúng bằng kết quả thực nghiệm
Để suy được hệ quả, cần thực hiện những suy luận lôgic, những biến đổi toán học đi từ giả thuyết đến hệ quả
Hệ quả có thể kiểm tra được bằng thực nghiệm và quan sát được trong thực tiễn hay thí nghiệm Việc suy ra hệ quả phải tuân theo đúng các quy tắc suy luận lôgic
Ở trường THPT, các em đã làm quen với suy luận toán học, suy luận lôgic vật lí, tuy nhiên trong thực tế biểu hiện của các kiến thức vật lí là rất phức tạp, nên giáo viên phải dùng phương pháp gợi mở để học sinh xác định được phương hướng rồi quan sát trên thực nghiệm rút ra hệ quả, đo lường được bằng những dụng cụ thí nghiệm sẵn có để phù hợp với khả năng nhận thức của học sinh
1.3.7 Xây dựng (góp phần xây dựng) phương án thí nghiệm để kiểm tra
hệ quả giả thuyết
Để kiểm tra những hệ quả suy từ giả thuyết có phù hợp với thực tiễn không thì phải xây dựng phương án thí nghiệm Trong khâu này TN đóng vai trò quan trọng vì chỉ có TN mới có thể tiến hành trong những điều kiện đảm bảo cho quá trình diễn biến “dưới dạng thuần khiết”
Trong tự nhiên có ít quá trình xảy ra dưới dạng thuần khiết nên khi làm
Trang 21TN phải tạo ra một cách nhân tạo các điều kiện đảm bảo cho hiện tượng xảy
ra chỉ chịu tác dụng của một yếu tố xác định có thể khống chế được Để tạo được các điều kiện đó ta phải sử dụng các công cụ kĩ thuật đặc biệt, hay đề xuất các phương án thí nghiệm phù hợp
Học sinh cần tham gia đề xuất phương án thí nghiệm, giáo viên hướng dẫn tổ chức và giám sát thực hiện
1.3.8 Xử lí thông tin thu thập được để rút ra những kết luận chung
Trong quá trình tiến hành thí nghiệm, việc quan sát thu thập thông tin dữ liệu là hoạt động đòi hỏi phải tỉ mỉ, chính xác Các thông tin thường riêng lẻ, cần được xử lý, thiết lập mối liên hệ bản chất của nó Từ các thông tin đó có thể áp dụng giải thích một số hiện tượng thực tế đơn giản, riêng lẻ đồng thời rút ra những kết luận chung
1.3.9 Đánh giá những kết luận thu được từ thực nghiệm
Sau khi tiến hành phân tích, xử lý các thông tin và dữ liệu thu được từ quan sát TN rồi đối chiếu với hệ quả của giả thuyết Nếu hệ quả của giả thuyết phù hợp với kết quả TN thì giả thuyết đó trở thành chân lý Nếu không phù hợp thì phải xây dựng giả thuyết mới rồi tiếp tục suy ra hệ quả, lập phương án và tiến hành TN
1.3.10 Khái quát hóa các kết quả nghiên cứu rút ra được tính chất hay quy luật hình thành khái niệm, định luật khoa học
Sự trừu tượng hóa, khái quát hóa giữ vai trò quan trọng trong hình thành các khái niệm, định luật mới đối với học sinh THPT Sự trừu tượng hóa cho phép rút ra những tính chất bản chất của sự vật, hiện tượng cần nhận thức đồng thời bỏ qua những tính chất không chủ yếu của nó Việc tách ra những dấu hiệu của hiện tượng là giai đoạn cần thiết cho việc khái quát hóa các kết quả nghiên cứu, rút ra được tính chất hay quy luật hình thành các khái niệm, định luật khoa học
Trang 221.3.11 Vận dụng kiến thức thu được vào những trường hợp cụ thể
Học sinh vận dụng kiến thức thu được để có thể giải bài tập, giải thích hiện tượng, hay sáng tạo khoa học… hoạt động này đòi hỏi khả năng tự lực rất cao đối với học sinh ở các hình thức hoạt động độc lập cá nhân hay tập thể Nhờ hoạt động này mà học sinh nắm vững kiến thức, hiểu một cách sâu sắc, đầy đủ, đồng thời kích thích sự hướng theo, say mê học tập, phát triển tư duy,
kĩ năng, kĩ xảo, nhằm hình thành phẩm chất, năng lực cá nhân…
1.4 Các dạng hoạt động học tập của học sinh ở trường THPT
1.4.1 Cá nhân học sinh nghiên cứu dưới sự hướng dẫn của giáo viên
Mỗi cá nhân HS là một chủ thể của hoạt động học GV là chủ thể của hoạt động dạy, là người tổ chức, hướng dẫn, chỉ đạo mọi hoạt động của HS sao cho HS tự lực, say mê nghiên cứu khám phá ra những hiểu biết mới, tự chiếm lĩnh lấy kiến thức mới cho bản thân mình
1.4.2 Học sinh đối thoại với giáo viên
Việc đối thoại giữa HS và GV là một hoạt động cần thiết luôn được diễn
ra trong mọi tiết học Thông qua đối thoại GV thu được thông tin từ những câu trả lời của HS từ đó phát hiện ra những sai lầm trong suy nghĩ, lập luận và
sự thiếu hụt kiến thức mà có biện pháp kịp thời giúp đỡ học sinh tự uốn nắn, sửa chữa nhằm đạt được kết quả mong muốn
1.4.3 Học sinh thảo luận nhóm
Đó là một hình thức kết hợp dạy học toàn lớp và cá thể hóa HS làm việc cùng nhau, tương tác và ràng buộc nhau Các thành viên thảo luận, góp ý xây dựng giúp đỡ nhau hòa hợp thành tinh thần đoàn kết học tập, giải quyết tốt nhất nhiệm vụ học tập được giao và giúp hình thành tích cực nhận thức, hứng thú nhanh chóng với nhiệm vụ được giao
Trang 231.4.4 Thảo luận chung cả lớp
Hoạt động thảo luận chung cả lớp là sự mở rộng hoạt động thảo luận
nhóm ở quy mô rộng hơn (cả lớp cùng thảo luận giải quyết một vấn đề)
Hoạt động này có hai hình thức:
+ Thảo luận những kết quả thu được của việc thảo luận từng nhóm + Cả lớp cùng thảo luận giải quyết một vấn đề hoàn toàn mới mẻ
Trong dạy học căn cứ vào vấn đề học tập cụ thể mà GV tổ chức cho HS thảo luận theo hình thức thích hợp sao cho tất cả HS đều tham gia góp ý kiến
và hăng say tranh luận, tranh đua trong không khí hòa đồng, cởi mở để đi đến thống nhất chung giải quyết vấn đề hợp lý nhất
1.4.5 Học tập cá nhân ở nhà
Đó là một hoạt động tự giác, độc lập, tự lực của từng cá nhân HS được giao nhiệm vụ cụ thể sau mỗi tiết học, tự lập kế hoạch tiến hành thực hiện nhiệm vụ sao cho phù hợp với điều kiện riêng của mình nhưng phải đảm bảo yêu cầu được giao
1.5 Tổ chức HĐNT của học sinh trong học tập vật lí là một biện pháp nâng cao chất lượng dạy học đáp ứng mục tiêu mới
1.5.1 Sự khác nhau giữa HĐNT của khoa học và HĐNT của học sinh
Nhà khoa học là những người tìm ra cái mới, giải đáp cái mới mà loài người chưa biết đến Còn học sinh thì tìm ra cho chính bản thân mình cái mà loài người đã biết, đặc biệt giáo viên đã biết đến Điều quan trọng ở đây là học sinh phải tự khám phá lại để có thể tập làm những công việc khám phá trong hoạt động thực tiễn sau này, qua đó mà phát triển năng lực tìm tòi, sáng tạo của mình
Thời gian: Đối với nhà khoa học thời gian nghiên cứu có thể là nhiều tháng, nhiều năm, thậm chí là cả cuộc đời Còn với học sinh thì chỉ có thời
Trang 24gian ngắn ở trên lớp
Phương tiện: Nhà khoa học có thiết bị thí nghiệm, máy móc tinh vi Còn trong trường phổ thông chỉ có những dụng cụ đơn giản, sơ sài, độ chính xác không cao
Tuy nhiên, nhờ việc áp dụng những phương pháp khoa học mà học sinh
có thể làm quen với những cách suy nghĩ khoa học, làm quen dần với các hoạt động sáng tạo Điều này không phải bẩm sinh mà có, nó hình thành trong quá trình hoạt động của chủ thể Bởi vậy, muốn hình thành năng lực học tập sáng tạo phải chuẩn bị cho học sinh những điều kiện cần thiết thuận lợi giúp học sinh thực hiện thành công các hoạt động đó
1.5.2 Các biện pháp cơ bản để tăng cường hoạt động nhận thức cho học sinh
1.5.2.1 Đảm bảo cho học sinh có điều kiện tâm lí thuận lợi để tự HĐNT
* Xây dựng tình huống có vấn đề:
Xây dựng tình huống bằng cách tạo ra mâu thuẫn nhận thức, hứng thú, tìm tòi cái mới, kích thích học sinh tự giác và hăng hái hoạt động Có nhiều cách nhưng quan trọng nhất, có khả năng làm thường xuyên nhất và hiệu quả bền vững nhất là sự kích thích bằng mâu thuẫn nhận thức, mâu thuẫn giữa nhiệm
vụ mới cần giải quyết và khả năng hiện có của học sinh còn nhiều hạn chế
* Việc tạo môi trường sư phạm thuận lợi
Trong quá trình dạy học GV phải tạo được môi trường học tập tích cực kích thích cho HS phát biểu, thảo luận phải khắc phục dần tâm lí lúng túng, rụt rè với cách học thụ động, ít tự lực suy nghĩ của các em Tức là người GV phải biết cách tổ chức để cho HS tự chiếm lĩnh tri thức, kĩ năng, kĩ xảo,
1.5.2.2 Tạo điều kiện để học sinh có thể giải quyết những nhiệm vụ được giao
* Lựa chọn lôgic nội dung bài học một cách thích hợp
Trang 25Nội dung kiến thức phổ thông không phải là toàn bộ kiến thức vật lí trong khoa học (từ cổ điển đến hiện đại) mà nó đã được biến đổi dưới dạng đơn giản, phù hợp với trình độ của học sinh Vì vậy, GV cần phải lựa chọn những vấn đề vừa phải và cần xác định được mức độ mà học sinh của mình có thể tham gia giải quyết thành công trong hoạt động
Cần phải phân chia bài học thành những vấn đề nhỏ, phù hợp với trình
độ hiện có của học sinh Xác định được những vấn đề quan trọng để hướng hoạt động của học sinh giải quyết những vấn đề đó
* Rèn luyện cho học sinh kĩ năng thực hiện các biện pháp cơ bản một số hoạt động nhận thức phổ biến
Trong vật lí có hai thao tác cơ bản là: thao tác chân tay và thao tác tư duy Thao tác chân tay thì học sinh có thể lĩnh hội một cách nhanh chóng, còn để rèn luyện thao tác tư duy thì đòi hỏi người giáo viên cần có những kế hoạch
cụ thể, lâu dài Cách hướng dẫn hiệu quả là người giáo viên đưa ra những câu hỏi mà để trả lời được học sinh cần phải thực hiện một vài thao tác tư duy nào
đó Nếu học sinh trả lời chưa đúng thì giáo viên phải phân tích, phân chia thành những câu hỏi nhỏ, đơn giản hơn, cứ thế rèn luyện nhiều lần Có thể làm theo hai cách sau đây:
+ Làm theo mẫu nhiều lần
+ Rèn luyện theo những sơ đồ định hướng, đó là những sơ đồ, kế hoạch tổng quát
1.5.2.3 Tăng cường tổ chức các hình thức bài tập mới và sử dụng các phương tiện dạy học cho học sinh hoạt động
Ngày nay, hình thức học tập không chỉ đơn thuần diễn ra trên lớp, thầy giảng trò nghe mà ngày càng đòi hỏi hình thức học tập phải phong phú hơn,
đa dạng hơn như: cá nhân học sinh tự nghiên cứu ở nhà hay trên lớp, thảo luận theo nhóm, Nhiều người cho rằng vai trò của GV trên lớp học đã không
Trang 26còn vị trí như trước, nhưng thực ra người GV lúc này có vai trò hết sức quan trọng, đòi hỏi ở người GV không chỉ vững về kiến thức mà còn đòi hỏi khả năng sáng tạo, năng động và khả năng sư phạm hết sức đặc biệt Điều này có nghĩa là người giáo viên có nhiệm vụ: tăng cường tổ chức hướng dẫn tạo điều kiện để học sinh phát biểu, trao đổi, thảo luận, tranh luận về những kết quả hoạt động của học sinh và động viên khuyến khích kịp thời
Theo Ph.N.Gonobolin: “Trong khoa học tâm lí người ta coi năng lực là những thuộc tính tâm lí riêng lẻ của cá nhân nhờ những thuộc tính ấy mà con người hoàn thành tốt đẹp một hoạt động nào đó mà mặc dù bỏ ra ít sức lao động vẫn đạt kết quả cao” [10, tr.61]
* Tăng cường hoạt động cá nhân của học sinh
GV trong giờ học trên lớp cũng như ở nhà phải kích thích được khả năng
tự lực học tập của học sinh: tự lực suy nghĩ để trả lời những câu hỏi trên lớp do
GV đặt ra Vì vậy, GV cần đưa ra những câu hỏi và các bài tập ở trên lớp cũng như ở nhà phải vừa sức Thông thường người ta sử dụng các hình thức sau: + Chuẩn bị phiếu học tập cho mỗi học sinh
+ Tổ chức cho từng cá nhân hoạt động thực tiễn như: sưu tầm tài liệu, quan sát các hiện tượng tự nhiên và trong đời sống để thu thập dữ liệu nhằm
bổ sung cho quá trình học tập ở trên lớp
* Tổ chức hoạt động theo nhóm
Các bước tiến hành tổ chức học sinh học tập theo nhóm:
+ GV giao nhiệm vụ cho HS, quy định nhiệm vụ cho các nhóm trưởng
và nhiệm vụ của mỗi thành viên trong nhóm để tất cả HS đều có vai trò nhất định và động viên cho HS tích cực tham gia theo tinh thần hợp tác nhằm hoàn thiện nhiệm vụ được giao Kết quả làm việc của nhóm sẽ được tập thể cùng giáo viên đánh giá và cũng là kết quả của từng thành viên trong nhóm
+ HS báo cáo kết quả, GV yêu cầu đại diện nhóm phát biểu hoặc trình
Trang 27bày kết quả hoạt động của nhóm, các học sinh khác phải chú ý lắng nghe để nhận xét đúng sai và bổ sung hoàn chỉnh
+ Cuối cùng giáo viên sửa chữa, điều chỉnh các nhận xét và đi đến thống nhất các kết luận chung
* Tăng cường sử dụng các phương tiện dạy học cho học sinh hoạt động
HS cần được sử dụng các phương tiện cần thiết để phục vụ cho việc nhận thức mỗi bài học như: bảng biểu, mô hình, vật thật để cung cấp thông tin cho học sinh hoạt động, nếu có thể tăng cường sử dụng các phương tiện dạy học hiện đại như: máy tính, đèn chiếu,
1.5.2.4 Tăng cường cho học sinh làm quen với các phương pháp nhận thức vật lí đặc biệt là phương pháp thực nghiệm
* Nội dung của phương pháp thực nghiệm trong dạy học vật lí
Là sự vận dụng phương pháp thực nghiệm trong nghiên cứu khoa học vật lí vào quá trình dạy học vật lí GV là người tổ chức, định hướng hoạt động học của HS theo các giai đoạn của phương pháp thực nghiệm để xây dựng, chiếm lĩnh kiến thức, kĩ năng vật lí
Đưa phương pháp thực nghiệm vào dạy học, thực chất là sự tổ chức hoạt động tích cực, tự lực, sáng tạo của học sinh theo hướng tương tự như các giai đoạn của phương pháp thực nghiệm trong nghiên cứu vật lí
* Các giai đoạn của PPTN trong dạy học vật lí:
Giai đoạn 1: Nhận biết các sự kiện khởi đầu, phát hiện (nêu câu hỏi) Giai đoạn 2: Xây dựng giả thuyết (câu trả lời dự đoán)
Giai đoạn 3: Từ giả thuyết suy ra hệ quả
Giai đoạn 4: Lập phương án và tiến hành thí nghiệm kiểm tra
Giai đoạn 5: Ứng dụng kiến thức
Trong cả năm giai đoạn của PPTN nêu trên vận dụng trong dạy học vật lí, hai giai đoạn đòi hỏi nhiều sáng tạo đó là: xây dựng giả thuyết và lập phương
Trang 28án thí nghiệm kiểm tra
* Rèn luyện cho học sinh sử dụng PPTN trong dạy học vật lí
Vận dụng phương pháp thực nghiệm vật lí vào dạy học vật lí được xem
là việc áp dụng một phương pháp dạy học mới, cần thiết và có ý nghĩa to lớn Thực chất của phương pháp dạy học mới (PPTN) là ở chỗ giáo viên tổ chức các tình huống học tập, nhằm phát huy tính tích cực, tự lực, sáng tạo nhờ đó
mà chiếm lĩnh được kiến thức, kĩ năng một cách sâu sắc, vững vàng
* Quá trình rèn luyện phương pháp thực nghiệm cho học sinh
Dựa vào khả năng nhận thức của học sinh để đưa ra phương pháp thực nghiệm phù hợp rồi phân chia các mức độ tối ưu trong quá trình vận dụng phương pháp thực nghiệm như sau:
+ Mức độ 1: Cho học sinh làm quen với nội dung của PPTN vật lí ở
+ Mức độ 2: Vận dụng và rèn luyện kĩ năng sử dụng một số giai đoạn
của phương pháp thực nghiệm vật lí
- Xây dựng dự đoán
- Lập phương án và tiến hành thí nghiệm kiểm tra
Các hoạt động của học sinh khi lập phương án và tiến hành thí nghiệm kiểm tra
Tìm cách để có đối tượng nghiên cứu
Lựa chọn những dụng cụ, thiết bị thí nghiệm vật lí có sẵn trong phòng thí nghiệm hoặc có thể tự thiết kế
Lập kế hoạch, trình tự các bước thí nghiệm kiểm tra
Trang 29 Tiến hành thí nghiệm theo các phương án thí nghiệm đề ra
Xử lí các tình huống xảy ra không đúng dự định
Xử lí kết quả, đối chiếu với hệ quả dự đoán để khẳng định hay bổ sung, bác bỏ giả thuyết
Các hoạt động này học sinh không thể thực hiện được một cách triệt để,
vì vậy người giáo viên phải tìm hiểu và sửa chữa đúng hướng để dẫn học sinh đưa ra phương án tối ưu
Công việc của giáo viên:
Lập phương án mẫu và hướng dẫn học sinh lập phương án tương tự
Cung cấp cho học sinh công cụ hoạt động, truyền đạt cho học sinh một
số ít kinh nghiệm gián tiếp trong khâu khó nhất mà học sinh không thể nêu được và yêu cầu học sinh phải vận dụng kinh nghiệm đó vào giải quyết khó khăn của mình
Ôn lại những kiến thức có liên quan (kể cả thực hành), cách sử dụng các dụng cụ thí nghiệm mà HS đã biết nhưng quên hay chưa nắm vững
+ Mức độ 3: Tổ chức cho học sinh nghiên cứu một vấn đề nhỏ bằng
phương pháp thực nghiệm
Trên đây là ba mức độ tăng dần tính phức tạp, khó khăn mà người GV cần phải tăng cường tổ chức cho HS vận dụng PPTN vào quá trình dạy và học môn vật lí Tùy vào trình độ nhận thức của HS và trang thiết bị nhà trường cung cấp mà GV cố gắng tổ chức cho học sinh hoạt động theo các giai đoạn của phương pháp thực ghiệm để chiếm lĩnh kiến thức, kĩ năng và hình thành nhân cách góp phần nâng cao chất lượng dạy học bộ môn vật lí
1.6 Thực trạng của việc tổ chức HĐNT trong dạy học vật lí hiện nay ở trường THPT Trần Hưng Đạo - Nam Định
1.6.1 Đặc điểm chung về điều kiện kinh tế - xã hội
Nam Định là một tỉnh có nền kinh tế phát triển tốt, có truyền thống hiếu
Trang 30học, sự nghiệp giáo dục luôn được các cấp lãnh đạo cũng như các bậc phụ huynh quan tâm chăm lo tới Tuy vậy, trình độ của học sinh trong tỉnh còn chưa được đồng đều, một bộ phận nhỏ các khu vực trong tỉnh chưa thực sự quan tâm tới nền giáo dục
1.6.2 Đặc điểm tư duy của học sinh
Qua quá trình học tập giảng dạy ở trường THPT Trần Hưng Đạo và qua việc điều tra, trao đổi, nghiên cứu với các giáo viên và học sinh ở trường THPT Trần Hưng Đạo chúng tôi nhận thấy khả năng tư duy của các em có những đặc điểm như sau:
+ Khả năng tư duy, sáng tạo của các em còn nhiều hạn chế, chưa được phát huy
+ Đối với tư duy về vật lí, khả năng tư duy khái niệm, tư duy lí luận trừu tượng có hình thành nhưng chưa được rèn luyện nhiều, suy nghĩ chưa sâu sắc, kém khái quát
+ Khả năng lập luận và suy luận của học sinh mới chỉ dừng lại ở mức độ đơn giản, chưa được rèn luyện nhiều đối với suy luận phức tạp, trừu tượng Nguyên nhân là do cách học thụ động, chưa phát huy được tính tự lực, tích cực của học sinh
+ Khả năng thực nghiệm chưa cao
+ Có nhiều em có thói quen chỉ biết hoạt động bằng trí óc, suy nghĩ tìm tòi Tuy nhiên đa phần học sinh rất thích hoạt động chân tay như việc lắp ráp thí nghiệm,…
1.6.3 Đặc điểm chung của chương trình vật lí THPT hiện hành
Hiện nay các trường THPT đều dùng SGK Vật Lí mới, ưu điểm của bộ SGK này là kiến thức trình bày khoa học, đòi hỏi tính tích cực sáng tạo, vận dụng kiến thức vào thực tiễn của học sinh, từ đó người giáo viên cần phải nỗ lực sáng tạo, biết tổ chức hoạt động cho trò, thầy một cách phù hợp để đạt
Trang 31chất lượng dạy học cao nhất
1.6.4 Kết quả điều tra của việc tổ chức HĐNT vật lí cho học sinh ở trường THPT Trần Hưng Đạo - Nam Định
1.6.4.1 Mục đích của việc điều tra
Nhằm nắm được thực tế của việc tổ chức hoạt động nhận thức vật lí cho học sinh ở trường phổ thông theo chương trình hiện hành, sơ bộ thực trạng của việc dạy và học làm cơ sở để tổ chức các hoạt động ở từng bài cụ thể
1.6.4.2 Phương pháp điều tra
Để đạt được mục đích trên, chúng tôi sử dụng một số phương pháp sau: + Tìm hiểu cơ sở vật chất của trường: trang thiết bị, đồ dùng, phòng thí nghiệm,…
+ Điều tra giáo viên: phương pháp dạy học thông qua các tiết dự giờ, sinh hoạt tổ chuyên môn,…
+ Điều tra học sinh: trao đổi trực tiếp với học sinh, phân tích kết quả học tập qua bảng điểm, các bài kiểm tra, đặc biệt theo dõi khả năng nhận thức của học sinh trong giờ học trên lớp,…
1.6.4.3 Kết quả điều tra
* Thực trạng về phương pháp dạy học của thầy
Phương pháp dạy học phần lớn còn nặng về lí thuyết giảng giải khi có một chiều “thầy giảng trò nghe”,… hầu hết giáo viên là người giữ vai trò trung tâm khi tổ chức hoạt động học tập
Một số ít giáo viên có trình độ kiến thức, có phương pháp chọn lọc và sáng tạo khoa học, khả năng tổ chức tốt hoạt động nhận thức cho học sinh trong các giờ học, phù hợp với đối tượng học sinh, nhưng chưa thường xuyên Tuy vậy, trong các tiết học giáo viên chưa khai thác được hết hiệu quả của việc dùng thí nghiệm nên hiệu quả giờ dạy chưa cao
* Thực trạng chung về phương pháp học tập của học sinh
Trang 32Hầu hết học sinh thiên về học lí thuyết, giải bài tập, khả năng thực nghiệm thấp, chưa biết vận dụng vào cuộc sống Tức là học sinh chỉ ghi nhớ kiến thức chứ không phải được tổ chức thực hiện các hoạt động học tập để tự chiếm lĩnh lấy kiến thức cho mình
* Ảnh hưởng của thực trạng trên đến chất lượng học tập vật lí của học sinh Qua việc trao đổi với giáo viên về mức độ nhận thức, khả năng nắm vững kiến thức của học sinh, tham gia dự giờ, nghiên cứu kết quả loại bài kiểm tra 15 phút, 1 tiết, kiểm tra học kì,… chúng tôi nhận thấy:
+ Một số học sinh rất giỏi và khá, nắm chắc kiến thức, khả năng tư duy tốt, biết vận dụng kiến thức để giải thích những hiện tượng vật lí quen thuộc trong tự nhiên và đời sống Tuy nhiên, học sinh chỉ dừng lại ở những kĩ năng đơn giản, chưa thực sự phát huy hết khả năng của mình
+ Còn lại phần lớn học sinh chưa thể xác định được phương hướng dự đoán, suy luận, nhận thức còn chậm không có kĩ năng, kĩ xảo tiếp thu kiến thức, đặc biệt là trong tiến hành thí nghiệm, thảo luận kết quả thực nghiệm chưa được rèn luyện thường xuyên,…
* Nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên của việc tổ chức các hoạt động học tập vật lí của học sinh
Thông qua quá trình tìm hiểu và phân tích kết quả chúng tôi nhận thấy một số nguyên nhân cơ bản dẫn đến thực trạng trên đó là:
Về cơ sở vật chất trang bị đồ dùng dạy học tuy được quan tâm trang bị nhưng chưa đầy đủ, nhiều trường ở những vùng nông thôn còn sơ sài Trình
độ năng lực, kinh nghiệm dạy và học của giáo viên và học sinh còn nhiều hạn chế Tất cả những điều đó đã khiến giáo viên chưa chú trọng đúng mức đến việc tổ chức cho học sinh tích cực, tự lực HĐNT
Những hạn chế đó đã buộc những người làm công tác giáo dục phải suy nghĩ và tìm ra những biện pháp để khắc phục tình trạng đó Từ đó đề ra
Trang 33các biện pháp hữu hiệu, tạo điều kiện tốt nhất để giáo viên có thể từng bước thực hiện đổi mới phương pháp dạy học nhằm tăng cường tổ chức HĐNT cho học sinh
Chương 2 TỔ CHỨC HĐNT CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC
CHƯƠNG “CÁC ĐỊNH LUẬT BẢO TOÀN”
2.1 Đặc điểm chung của nhóm kiến thức “Các định luật bảo toàn” SGK Vật lí 10
Trong chương trình SGK Vật lí 10 nâng cao (hiện hành) chia làm hai mảng: cơ học và nhiệt học, trong đó phần cơ học chia làm năm phần, “ các định luật bảo toàn” nằm ở phần thứ tư, trình bày những khái niệm những định luật phản ánh mối quan hệ qua lại giữa các nhóm sự vật hiện tượng khác nhau
và đều chịu sự chi phối của các định luật bảo toàn
Việc tìm ra các định luật bảo toàn là một bước tiến cách mạng trong sự phát triển của vật lí học và khoa học nói chung, có vai trò quan trọng trong vật
lí học và trong khoa học nói chung và trong cơ học nói riêng
2.1.1 Đối với vật lí học
- Ý nghĩa khoa học:
Các ĐLBT là “sợi chỉ đỏ” xuyên suốt toàn bộ giáo trình vật lí, là chân
lí “hòn đá thử vàng” dùng để kiểm tra tính đúng đắn của bất kì một thuyết nào Ngoài ra các ĐLBT là cơ sở tính toán trong vật lí thực nghiệm và trong kĩ thuật
- Ý nghĩa phát triển tư duy:
+ Phát triển tư duy quy nạp: Cho phép con người áp dụng các ĐLBT vào các lĩnh vực chưa được nghiên cứu tỉ mỉ để dự đoán, phát hiện ra vấn đề mới + Phát triển tư duy diễn dịch: Cho phép dùng các ĐLBT để giải thích các định luật riêng lẻ
- Ý nghĩa giáo dục thế giới quan của chủ nghĩa duy vật biện chứng: