1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

thực trạng thu hút fdi vào ngành du lịch thành phố hà nội

43 683 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 43
Dung lượng 274,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

I, Những vấn đề cơ bản về nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI1.1Khái niệm về đầu tư trực tiếp nước ngoài Theo quỹ tiền tệ quốc tế IMF, FDI được định nghĩa là “một khoản đầu tư vớin

Trang 1

MỤC LỤC

ngoài FDI 1

1.1 Khái niệm về đầu tư trực tiếp nước ngoài 1

1.2 Đặc điểm của đầu tư trực tiếp nước ngoài vào ngành du lịch 2

1.3 Các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài vào ngành du lịch 3

1.3.1 Hình thức hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hợp tác kinh doanh 3

1.3.2 Doanh nghiệp liên doanh 4

1.3.3 Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài 5

1.3.5 Đầu tư thông qua mô hình công ty mẹ và con (Holding company) 6

1.3.6 Hình thức công ty cổ phần 6

1.3.7 Hình thức chi nhánh công ty nước ngoài 7

1.3.8 Hình thức công ty hợp danh 7

1.4 Vai trò của đầu tư trực tiếp nước ngoài 8

1.4.1 Đối với nước chủ đầu tư 8

1.4.2 Đối với nước tiếp nhận đầu tư Vai trò của FDI đối với nền kinh tế 9

1.4.3 Vai trò của FDI đối với nền kinh tế 10

1.4.4 Vai trò của FDI đối với ngành du lịch 11

CHƯƠNG II THỰC TRẠNG THU HÚT FDI VÀO NGÀNH DU LỊCH THÀNH PHỐ HÀ NỘI 12

2.1 Sự cần thiết phải thu hút FDI vào ngành du lịch Hà Nội 12

2.1.1 Thực trạng của ngành du lịch thành phố Hà Nội 12

2.1.1.1 Về cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật 12

2.1.1.2 Về chất lượng nguồn nhân lực hoạt động trong lĩnh vực du lịch của thành phố Hà Nội 14

2.1.2 Tính tất yếu khách quan của việc thu hút FDI vào ngành du lịch thành phố Hà Nội 16

3.2.2 Những khó khăn trong việc thu hút FDI vào ngành du lịch thành phố Hà Nội 24

2.3.1 Khái quát chung về tình hình thu hút FDI vào ngành du lịch thành phố Hà Nội 29

2.3.2 Đánh giá về nguyên nhân của thực trạng trên 34

Trang 2

1, Nguyên nhân chủ quan 35

CHƯƠNG III MỘT SỐ GIẢI PHÁP CỤ THỂ NHẰM TĂNG CƯỜNG THU

HÚT FDI VÀO NGÀNH DU LỊCH THÀNH PHỐ HÀ NỘI 36

KẾT LUẬN 40

Trang 3

I, Những vấn đề cơ bản về nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI

1.1Khái niệm về đầu tư trực tiếp nước ngoài

Theo quỹ tiền tệ quốc tế IMF, FDI được định nghĩa là “một khoản đầu tư vớinhững quan hệ lâu dài, theo đó một tổ chức trong một nền kinh tế (nhà đầu tư trựctiếp) thu được lợi ích lâu dài từ một doanh nghiệp đặt tại một nền kinh tế khác”.Mục đích của nhà đầu tư trực tiếp là muốn có nhiều ảnh hưởng trong việc quản lýdoanh nghiệp đặt tại nền kinh tế khác đó

Tổ chức Thương mại Thế giới đưa ra định nghĩa như sau về FDI: Đầu tư trựctiếp nước ngoài (FDI) xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư) cóđược một tài sản ở một nước khác (nước thu hút đầu tư) cùng với quyền quản lý tàisản đó Phương diện quản lý là thứ để phân biệt FDI với các công cụ tài chính khác.Trong phần lớn trường hợp, cả nhà đầu tư lẫn tài sản mà người đó quản lý ở nướcngoài là các cơ sở kinh doanh Trong những trường hợp đó, nhà đầu tư thường hayđựoc gọi là "công ty mẹ" và các tài sản được gọi là "công ty con" hay "chi nhánhcông ty"

Hội nghị Liên hợp quốc về Thương mại và Phát triển UNCTAD cũng đưa ramột khái niệm về FDI Theo đó, luồng vốn FDI bao gồm vốn được cung cấp (trựctiếp hoặc thông qua các công ty liên quan khác) bởi nhà đầu tư trực tiếp nước ngoàicho các doanh nghiệp FDI, hoặc vốn mà nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài nhận được

từ doanh nghiệp FDI FDI gồm có ba bộ phận: vốn cổ phần, thu nhập tái đầu tư vàcác khoản vay trong nội bộ công ty

Trong khi đó thì các nhà kinh tế quốc tế định nghĩa : đầu tư trực tiếp nướcngoài là người sở hữu tại nước này mua hoặc kiểm soát một thực thể kinh tế củanước khác Đó là một khoản tiền mà nhà đầu tư trả cho một thực thể kinh tế củanước ngoài để có ảnh hưởng quyết định đổi với thực thể kinh tế ấy hoặc tăng thêmquyền kiểm soát trong thực thể kinh tế ấy

Còn ở Việt Nam, Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1987 đưa ra kháiniệm: “Đầu tư trực tiếp nước ngoài là việc tổ chức, cá nhân nước ngoài đưa vàoViệt Nam vốn bằng tiền nước ngoài hoặc bất kì tài sản nào được chính phủ Việt

Trang 4

Nam chấp thuận để hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hoặc thành lập xínghiệp liên doanh hoặc doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài theo quy định của luậtnày”

Từ tất cả những khái niệm trên, ta có thể hiểu một cách khái quát về đầu tưtrực tiếp nước ngoài FDI như sau: “đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI tại một quốc gia

là việc nhà đầu tư ở một nước khác đưa vốn bằng tiền hoặc bất kì tài sản nào vàoquốc gia đó để có được quyền sở hữu và quản lý hoặc quyền kiểm soát một thực thểkinh tế tại quốc gia đó, với mục tiên tối đa hoá lợi ích của mình”

1.2 Đặc điểm của đầu tư trực tiếp nước ngoài vào ngành du lịch.

FDI nói chung và FDI vào ngành du lịch nói riêng chủ yếu là đầu tư tư nhânvới mục đích hàng đầu là tìm kiếm lợi nhuận Các nước nhận đầu tư, nhất là cácnước đang phát triển cần lưu ý điều này khi tiến hành thu hút FDI Do đó, phải xâydựng cho mình một hành lang pháp lý đủ mạnh và các chính sách thu hút FDI hợp

lý, để hướng FDI vào phục vụ cho các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của nướcmình, tránh tình trạng FDI chỉ phục vụ cho mục đích tìm kiếm lợi nhuận của cácchủ đầu tư

Thứ hai, các chủ đầu tư nước ngoài phải đóng góp một tỷ lệ vốn tối thiểu trongvốn pháp định hoặc vốn điều lệ tùy theo quy định của luật pháp từng nước để giànhquyền kiểm soát hoặc tham gia kiểm soát doanh nghiệp nhận đầu tư

Thứ ba, tỷ lệ đóng góp của các bên trong vốn điều lệ hoặc vốn pháp định sẽquy định quyền và nghĩa vụ của mỗi bên, đồng thời lợi nhuận và rủi ro cũng đượcphân chia dựa vào tỷ lệ này

Thứ tư, thu nhập mà chủ đầu tư thu được phụ thuộc vào kết quả hoạt động sảnxuất kinh doanh của doanh nghiệp mà họ bỏ vốn đầu tư, tức là nó mang tính chấtthu nhập kinh doanh chứ không phải là lợi tức

Thứ năm, chủ đầu tư tự quyết định đầu tư, quyết định sản xuất kinh doanh và

tự chịu trách nhiệm về lỗ lãi Nhà đầu tư nước ngoài được quyền tự lựa chọn lĩnhvực đầu tư, hình thức đầu tư, thị trường đầu tư, quy mô vốn đầu tư cũng như côngnghệ cho mình, do đó sẽ tự đưa ra những quyết định có lợi nhất cho họ Lĩnh vựckinh doanh ở đây là du lịch

Trang 5

Thứ sáu, FDI thường kèm theo chuyển giao công nghệ cho các nước tiếp nhậnđầu tư Thông qua hoạt động FDI, nước chủ nhà có thể tiếp nhận được công nghệ,

kỹ thuật tiên tiến, học hỏi kinh nghiệm quản lý

1.3 Các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài vào ngành du lịch

1.3.1 Hình thức hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hợp tác kinh doanh

Hình thức này là hình thức đầu tư trong đó các bên quy trách nhiệm vàphân chia kết quả kinh doanh cho mỗi bên để tiến hành đầu tư kinh doanh mà khôngthành lập pháp nhân mới

Hợp đồng hợp tác kinh doanh là văn bản được kí kết giữa đại diện có thẩmquyền của các bên tham gia hợp đồng hợp tác kinh doanh, quy định rõ việc thựchiện phân chia kết quả kinh doanh cho mỗi bên Đặc điểm là các bên kí kết hợpđồng hợp tác kinh doanh, trong qúa trình kinh doanh các bên hợp doanh có thểthành lập ban điều phối để theo dõi, giám sát việc thực hiện hợp đồng hợp tác kinhdoanh Phân chia kết quả kinh doanh: hình thức hợp doanh không phân phối lợinhuận và chia sẻ rủi ro mà phân chia kết quả kinh doanh chung theo tỷ lệ góp vốnhoặc theo thoả thuận giữa các bên Các bên hợp doanh thực hiện nghĩa vụ tài chínhđối với nhà nước sở tại một cách riêng rẽ Pháp lý hợp doanh là một thực thể kinhdoanh hoạt động theo luật pháp nước sở tại chịu sự điều chỉnh của pháp luật nước

sở tại quyền lợi và nghĩa vụ của các bên hợp doanh được ghi trong hợp đồng hợptác kinh doanh

Đối với nước tiếp nhận:

-Ưu điểm: giúp giải quyết tình trạng thiếu vốn, thiếu công nghệ, tạo ra thịtrường mới nhưng vẫn đảm bảo được an ninh quốc gia và nắm được quyền điềuhành dự án

- Nhược điểm: khó thu hút đầu tư, chỉ thực hiện được đối với một số ít lĩnhvực dễ sinh lời

Đối với nước đầu tư:

- Ưu điểm: tận dụng được hệ thống phân phối có sẵn của đối tác nước sở tạivào được những lĩnh vực hạn chế đầu tư thâm nhập được những thị trường truyềnthống của nước chủ nhà; không mất thời gian và chi phí cho việc nghiên cứu thịtrường mới và xây dựng các mối quan hệ; không bị tác động lớn do khác biệt về văn

Trang 6

hoá; chia sẻ được chi phí và rủi ro đầu tư.

- Nhược điểm: không được trực tiếp quản lý điều hành dự án, quan hệ hợp tácvới đối tác nước sở tại thiếu tính chắc chắn làm các nhà đầu tư e ngại

1.3.2 Doanh nghiệp liên doanh

Doanh nghiệp liên doanh với nươc ngoài gọi tắt là liên doanh là hình thứcđược sử dụng rộng rãi nhất của đầu tư trực tiếp nước ngoài trên thế giới từ trước đếnnay Nó công cụ để thâm nhập vào thị trường nước ngoài một cách hợp pháp và cóhiệu quả thông qua hoạt động hợp tác

Khái niệm liên doanh là một hình thức tổ chức kinh doanh có tính chất quốc

tế, hình thành từ những sự khác biệt giữa các bên về quốc tịch, quản lý, hệ thống tàichính, luật pháp và bản sắc văn hoá; hoạt động trên cơ sở sự đóng góp của các bên

về vốn, quản lí lao động và cùng chịu trách nhiệm về lợi nhuận cũng như rủi ro cóthể xảy ra; hoạt động của liên doanh rất rộng, gồm cả hoạt động sản xuất kinhdoanh, cung ứng dịch vụ, hoạt động nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu triển khai

Đối với nước tiếp nhận đầu tư

-Ưu điểm: giúp giải quyết tình trạng thiếu vốn, giúp đa dạng hoá sản phẩm,đổi mới công nghệ, tạo ra thị trường mới và tạo cơ hội cho người lao động làm việc

và học tập kinh nghiệm quản lí của nước ngoài

-Nhược điểm: mất nhiều thời gian thương thảo các vấn đề liên quan đến dự ánđầu tư, thường xuất hiện mâu thuẫn trong quản lý điều hành doanh nghiệp; đối tácnước ngoài thường quan tâm đến lợi ích toàn cầu, vì vậy đôi lúc liên doanh phảichịu thua thiệt vì lợi ích ở nơi khác; thay đổi nhân sự ở công ty mẹ có ảnh hưởng tớitương lai phát triển của liên doanh

Đối với nhà đầu tư nước ngoài

-Ưu điểm: tận dụng được hệ thống phân phối có sẵn của đối tác nước sở tại;được đầu tư vào những lĩnh vực kinh doanh dễ thu lời, lình vực bị cấm hoặc hạn chếđối với hình thức doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài; thâm nhập được những thịtrường truyền thống của nước chủ nhà Không mất thời gian và chi phí cho việcnghiên cứu thị trường mới và xây dựng các mối quan hệ Chia sẻ được chi phí và rủi

ro đầu tư

Trang 7

-Nhược điểm: khác biệt về nhìn nhận chi phí đầu tư giữa hai bên đối tác; mấtnhiều thời gian thương thảo mọi vấn đề liên quan đến dự án đầu tư, định giá tài sảngóp vốn giải quyết việc làm cho người lao động của đối tác trong nước; không chủđộng trong quản lý điều hành doanh nghiệp, dễ bị mất cơ hội kinh doanh, khó giảiquyết khác biệt về tập quán, văn hoá.

1.3.3 Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài

Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài cũng là một hình thức doanh nghiệp cóvốn đầu tư nước ngoài nhưng ít phổ biến hơn hình thức liên doanh trong hoạt độngđầu tư quốc tế

Theo khái niệm doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài là một thực thể kinhdoanh có tư cách pháp nhân, được thành lập dựa trên các mục đích của chủ đầu tư

và nước sở tại Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài hoạt động theo sự điều hànhquản lý của chủ đầu tư nước ngoài nhưng vẫn phải tuỳ thuộc vào các điều kiện vềmôi trường kinh doanh của nước sở tại, đó là các điều kiện về chính trị, kinh tế, luậtpháp, văn hoá, mức độ cạnh tranh…

Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài có tư cách pháp nhân là một thực thểpháp lý độc lập hoạt động theo luật pháp nước sở tại Thành lập dưới dạng công tytrách nhiệm hữu hạn hoặc công ty cổ phần

Đối với nước tiếp nhận:

-Ưu điểm: nhà nước thu được ngay tiền thuê đất, tiền thuế mặc dù cả khidoanh nghiệp bị lỗ; giải quyết được công ăn việc làm mà không cần bỏ vốn đầu tư;tập trung thu hút vốn và công nghệ của nước ngoài vào những lĩnh vực khuyếnkhích xuất khẩu; tiếp cận được thị trường nước ngoài

- Nhược điểm: khó tiếp thu kinh nghiệm quản lý và công nghệ nước ngoài đểnâng cao trình độ cán bộ quản lý, cán bộ kĩ thuật ở các doanh nghiệp trong nước

Đối với nhà đầu tư nước ngoài

- Ưu điểm: chủ động trong quản lý điều hành doanh nghiệp, thực hiện đượcchiến lược toàn cầu của tập đoàn; triển khai nhanh dự án đầu tư; được quyền chủđộng tuyển chọn và đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển chung củatập đoàn

Trang 8

- Nhược điểm: chủ đầu tư phải chịu toàn bộ rủi ro trong đầu tư; phải chi phínhiều hơn cho nghiên cứu tiếp cận thị trường mới; không xâm nhập được vào nhữnglĩnh vực có nhiều lợi nhuận thị trường trong nước lớn, khó quan hệ với các cơ quanquản lý Nhà nước nước sở tại.

1.3.5 Đầu tư thông qua mô hình công ty mẹ và con (Holding company)

Holding company là một trong những mô hình tổ chức quản lí được thừa nhậnrộng rãi ở hầu hết các nước có nền kinh tế thị trường phát triển

Holding company là một công ty sở hữu vốn trong một công ty khác ở mức đủ

để kiểm soát hoạt động quản lí và điều hành công ty đó thông qua việc gây ảnhhưởng hoặc lựa chọn thành viên hợp đồng quản trị

Holding company được thành lập dưới dạng công ty cổ phần và chỉ giới hạnhoạt động của mình trong việc sở hữu vốn, quyết định chiến lược và giám sát hoạtđộng quản lí của các công ty con, các công ty con vẫn duy trì quyền kiểm soát hoạtđộng kinh doanh của mình một cách độc lập, tạo rất nhiều thuận lợi như:

- Cho phép các nhà đầu tư huy động vốn để triển khai nhiều dự án đầu tư khácnhau mà còn tạo điểu kiện thuận lợi cho họ điều phối hoạt động và hỗ trợ các công

ty trực thuộc trong việc tiếp thị, tiêu thụ hàng hoá, điều tiết chi phí thu nhập và cácnghiệp vụ tài chính

- Quản lí các khoản vốn góp của mình trong công ty khác như một thể thốngnhất và chịu trách nhiệm về việc ra quyết định và lập kế hoạch chiến lược điều phốicác hoạt động và tài chính của cả nhóm công ty

- Lập kế hoạch, chỉ đạo, kiểm soát các luồng lưu chuyển vốn trong danh mụcđầu tư Holding company có thể thực hiện cả hoạt động tài trợ đầu tư cho các công

ty con và cung cấp dịch vụ tài chính nội bộ cho các công ty này

- Cung cấp cho các công ty con các dịch vụ như kiểm toán nội bộ, quan hệ đốingoại, phát triển thị trường, lập kế hoạch, nghiên cứu và phát triển (R&D)…

1.3.6 Hình thức công ty cổ phần

Công ty cổ phần (công ty cổ phần trách nhiệm hữu hạn) là doanh nghiệp trong

đó vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần, các cổ đôngchỉ chịu trách nhiệm về nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong

Trang 9

phạm vi vốn đã góp vào doanh nghiệp Cổ đông có thể là tổ chức cá nhân với sốlượng tối đa không hạn chế, nhưng phải đáp ứng yêu cầu về số cổ đông tối thiểu.Đặc trưng của công ty cổ phần là nó có quyền phát hành chứng khoán ra côngchúng và các cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho ngườikhác.

Cơ cấu tổ chức, công ty cổ phần phải có Đại hội cổ đông, hội đồng quản trị vàgiám đốc Thông thường ở nhiều nước trên thế giới, cổ đông hoặc nhóm cổ đông sởhữu trên 10% số cổ phiếu thường có quyền tham gia giám sát quản lý hoạt động củacông ty cổ phần Đại hôi cổ đông gồm tất cả cổ đông có quyền biểu quyết là cơquan quyết định cao nhất của công ty cổ phần

Ở một số nước khác, công ty cổ phần hữu hạn có vốn đầu nước ngoài đượcthành lập theo cách: thành lập mới, cổ phần hoá doanh nghiệp FDI (doanh nghiệpliên doanh và doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài) đang hoạt động, mua lại cổ phần

1.3.7 Hình thức chi nhánh công ty nước ngoài

Hình thức này được phân biệt với hình thức công ty con 100% vốn nước ngoài

ở chỗ chi nhánh không được coi là một pháp nhân độc lập trong khi công ty conthường là một pháp nhân độc lập Trách nhiệm của công ty con thường giới hạntrong phạm vi tài sản ở nước sở tại, trong khi trách nhiẹm của chi nhánh theo quyđịnh của một số nước, không chỉ giới hạn trong phạm vi tài sản của chi nhánh, màcòn được mở rộng đến cả phần tài sản của công ty mẹ ở nước ngoài

Chi nhánh được phép khấu trừ các khoản lỗ ở nước sở tại và các khoản chi phíthành lập ban đầu vào các khoản thu nhập của công ty mẹ tại nước ngoài Ngoài rachi nhánh còn được khấu trừ một phần các chi phí quản lý của công ty mẹ ở nướcngoài vào phần thu nhập chịu thuế ở nước sở tại.Việc thành lập chi nhánh thườngđơn giản hơn so với việc thành lập công ty con Do không thành lập một pháp nhânđộc lập, việc thành lập chi nhánh không phải tuân thủ theo các quy định về thànhlập công ty, thường chỉ thông qua việc đăng kí tại các cơ quan có thẩm quyền của

1.3.8 Hình thức công ty hợp danh

Trang 10

Công ty hợp danh là doanh nghiệp phải có ít nhất hai thành viên hợp danh,ngoài các thành viên hợp danh có thể có thành viên góp vốn Thành viên hợp danhphải là cá nhân có trình độ chuyên môn, có uy tín nghề nghiệp và phải chịu tráchnhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về nghĩa vụ của công ty; thành viên góp vốnchỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi số vốn đã góp vàocông ty Công ty hợp danh không được phát hành bất kì loại chứng khoán nào Cácthành viên hợp danh có quyền ngang nhau khi quyết định các vấn đề quản lý công

ty, còn thành viên góp vốn có quyền được chia lợi nhuận theo tỷ lệ quy định tại điều

lệ công ty nhưng không được tham gia quản lý công ty và hoạt động kinh doanhnhân danh công ty

Khác với doanh nghiệp liên doanh và doanh nghiệp 100% vốn nước ngoàihình thức đầu tư này mang đặc trưng của công ty đối nhân tiền về thân nhân tráchnhiệm vô hạn, cơ cấu tổ chức gọn nhẹ Hình thức đầu tư này trước hết rất phù hợpvới các doanh nghiệp nhỏ, nhưng vì có những ưu điểm rõ rệt nên cũng được cácdoanh nghiệp lớn quan tâm

Việc cho ra đời hình thức công ty hợp danh ỏ các nước nhằm tao thêm cơ hộicho nhà đầu tư lựa chọn hình thức đầu tư cho phù hợp với yều cầu, lợi ích của họ.Thực tế cho thấy một số loại hình dịch vụ như tư vấn pháp luật, khám chữa bệnh,thiết kế kiến trúc đã và đang phát triển nhanh chóng Đó là những dịch vụ màngười tiêu dùng không thể kiểm tra được chất lượng cung ứng trước khi sử dụng,nhưng lại có ảnh hưởng đến sức khởe tính mạng và tài sản của người tiêu dùng khi

sử dụng Việc thành lập công ty hợp danh là hình thức thức đầu tư phù hợp trongviệc phát triển và cung cấp các dịch vụ nêu trên Trong đó những người có vốnđóng vai trò là thành viên góp vốn và chịu trách nhiệm hữu hạn còn các nhà chuyênmôn là thành viên hợp danh tổ chức điều hành, cung ứng dịch vụ và chịu tráchnhiệm vô hạn bằng toàn bộ tài sản của họ

1.4 Vai trò của đầu tư trực tiếp nước ngoài

1.4.1 Đối với nước chủ đầu tư

Thứ nhất, khi tiến hành đầu tư vào một nước, cụ thể là với FDI, chủ đầu tưnước ngoài có thể tận dụng được hệ thống phân phối có sẵn của đối tác nước sở tại

Trang 11

vào được những lĩnh vực hạn chế đầu tư, do đó có thể thâm nhập được những thịtrường truyền thống của nước chủ nhà.

Thứ hai, các nước chủ đầu tư sẽ không mất thời gian và chi phí cho việcnghiên cứu thị trường mới và xây dựng các mối quan hệ, cũng như không bị tácđộng lớn do khác biệt về văn hoá và còn chia sẻ được chi phí và rủi ro đầu tư vớinước tiếp nhận, nhờ đó tránh những rủi ro bất thường ngoài khả năng kiểm soát.Thứ ba, nước chủ đầu tư sẽ tận dụng được hệ thống phân phối có sẵn của đốitác nước sở tại, được đầu tư vào những lĩnh vực kinh doanh dễ thu lời, lĩnh vực bịcấm hoặc hạn chế đối với hình thức doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài

Thứ tư, trong một số trường hợp, chủ đầu tư nước ngoài có thể sẽ chủ độngtrong quản lý điều hành doanh nghiệp, qua đó thực hiện được chiến lược toàn cầucủa tập đoàn, triển khai nhanh dự án đầu tư Ngoài ra có thể được quyền chủ độngtrong việc tuyển chọn và đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển chungcủa tập đoàn

Do đó, có thể tổng kết về vai trò của FDI đối với nước chủ đầu tư đó là giúpcác doanh nghiệp khắc phục xu hướng tỷ suất lợi nhuận bình quân giảm dần, tănghiệu quả sản xuất kinh doanh Kéo dài chu kỳ sống của sản phẩm khi ở thị trườngtrong nước đã chuyển sang giai đoạn suy thoái, giúp nhà đầu tư tăng doanh số sảnxuất ở nước ngoài trên cơ sở khai thác lợi thế so sánh Ngoài ra FDI có thể giúp chocác nước chủ đầu tư phá vỡ hàng rào thuế quan ở các nước có xu hướng bảo hộ, vàbành trướng sức mạnh về kinh tế và chính trị của mình

1.4.2 Đối với nước tiếp nhận đầu tư Vai trò của FDI đối với nền kinh tế

Đối với nước tiếp nhận đầu tư, FDI là nguồn vốn bổ sung quan trọng phục vụcho chiến lược thúc đẩy tăng trưởng kinh tế cao, đặc biệt là với các nước đang pháttriển Các nước đang phát triển vốn là những nước còn nghèo, tích luỹ nội bộ thấp,nên để có tăng trưởng kinh tế cao thì các nước này không chỉ dựa vào tích luỹ trongnước mà phải dựa vào nguồn vốn tích luỹ từ bên ngoài, trong đó có FDI

FDI có ưu điểm hơn các hình thức huy động vốn nước ngoài khác, phù hợpvới các nước đang phát triển Các doanh nghiệp nước ngoài sẽ xây dựng các dâychuyền sản xuất tại nước sở tại dưới nhiều hình thức khác nhau Điều này sẽ cho

Trang 12

phép các nước đang phát triển tiếp cận công nghệ tiên tiến, kỹ năng quản lý hiệnđại Tuy nhiên, việc có tiếp cận được các công nghệ hiện đại hay chỉ là các côngnghệ thải loại của các nước phát triển lại tuỳ thuộc vào nước tiếp nhận đầu tư trongviệc chủ động hoàn thiện môi trường đầu tư hay không.

FDI giúp giải quyết tốt vấn đề việc làm và thu nhập của dân cư Vai trò nàycủa FDI không chỉ đối với các nước đang phát triển mà cả với các nước phát triển,đặc biệt là khi nền kinh tế bước vào giai đoạn khủng hoảng theo chu kỳ

1.4.3 Vai trò của FDI đối với nền kinh tế

FDI có tác động làm năng động hoá nền kinh tế, tạo sức sống mới cho cácdoanh nghiệp thông qua trao đổi công nghệ Với các nước đang phát triển thì FDIgiúp thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu sản xuất, phá vỡ cơ cấu sản xuất khép kín theokiểu tự cấp tự túc

FDI cho phép các nước đang phát triển học hỏi kinh nghiệm, kỹ năng quản lýdây chuyền sản xuất hiện đại, nâng cao trình độ chuyên môn cũng như ý thức laođộng công nghiệp của đội ngũ công nhân trong nước

FDI thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, bổ sung nguồn vốn cho phát triển kinh tế

-xã hội Đầu tư là yếu tố vô cùng quan trọng tác động đến tốc độ tăng trưởng kinh tế.Vốn đầu tư cho phát triển kinh tế được huy động từ hai nguồn chủ yếu là vốn trongnước và vốn ngoài nước Vốn trong nước được hình thành thông qua tiết kiệm vàđầu tư Vốn nước ngoài được hình thành thông qua vay thương mại, đầu tư gián tiếp

và hoạt động FDI Với các nước nghèo và đang phát triển, vốn là một yếu tố đặcbiệt quan trọng đối với phát triển kinh tế Những quốc gia này luôn lâm vào tìnhtrạng thiếu vốn đầu tư, hoạt động sản xuất và đầu tư ở những nước này như là một

“vòng đói nghèo luẩn quẩn” (theo Paul A Samuelson) Để phá vỡ vòng luẩn quẩn

ấy, các nước nghèo và đang phát triển phải tạo ra “một cú huých lớn”, mà biện pháphữu hiệu là tăng vốn cho đầu tư, huy động các nguồn lực để phát triển nền kinh tế

để tạo ra tăng trưởng kinh tế dẫn đến thu nhập tăng

FDI góp phần tăng cường chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệphóa hiện đại hóa Phần lớn vốn FDI đầu tư cho lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ,trong đó có những ngành chủ chốt như xây dựng cơ sở hạ tầng, khai thác chế biến

Trang 13

dầu khí, hóa chất và sản xuất thiết bị và hàng tiêu dùng FDI góp phần làm tăng tỉtrọng của những ngành này trong nền kinh tế đồng thời tạo điều kiện để hiện đạihóa nền sản xuất nông nghiệp và phát triển kinh tế nông thôn Khu vực có vốn FDIcòn giúp hình thành các ngành công nghiệp và dịch vụ hiện đại như điện tử, tin học,viễn thông, lắp ráp ô tô và xe máy, giúp chuyển giao công nghệ và kĩ năng quản lítiên tiến nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế Đầu tư trực tiếp nướcngoài có tác động mạnh đến quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của nước tiếpnhận theo nhiều phương diện: chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế, cơ cấu vùng lãnhthổ, cơ cấu theo nguồn vốn, cơ cấu vốn đầu tư…

1.4.4 Vai trò của FDI đối với ngành du lịch

Ngày nay du lịch đã trở thành ngành kinh tế hết sức quan trong của hầu hếtcác quốc gia trên thế giới, du lịch được xem như ngành công nghiệp không khói Đôthị du lịch là trung tâm của các hoạt động du lịch Để ngành du lịch phát triển tốt tạicác đô thị du lịch thì phải có một cơ sở hạ tầng đồng bộ và hiện đại Với một sốquốc gia, việc huy động đủ vốn trong nước để tạo nguồn vốn ban đầu này là rất khókhăn Để có đầy dủ điều kiện về cơ sở hạ tầng kỹ thuật phục vụ cho việc phát triểnngành du lịch thì vai trò của nguồn vốn FDI là vô cùng quan trọng

FDI không để lại gánh nợ cho chính phủ nước tiếp nhận đầu tư về chính trị,kinh tế như hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) hoặc các hình thức đầu tư nướcngoài khác như vay thương mại, phát hành trái phiếu ra nước ngoài… nên việc huyđộng được số vốn đầu tư lớn cho ngành du lịch là an toàn và không khó khăn

Các dịch vụ du lịch ngày càng đa dạng cả về hình thức lẫn bản chất nên yêucầu về nguồn vốn cũng như các kỹ năng, công nghệ trên toàn thế giới là rất cầnthiết, và khi mà nguồn vốn trong nước không đủ hoặc công nghệ còn lạc hậu, chưađổi mới thì những nguồn vốn từ bên ngoài như FDI sẽ mang đến cho ngành du lịchtrong nước cơ hội để có thể thực hiện được mục tiêu phát triển ngành

Ngoài ra, thông qua hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài, các quốc gia trênthế giới có sự xích lại gần nhau hơn, và đó cũng là tiền đề nhất định để cho ngành

du lịch mở rộng hoạt động và phát triển lên tầm cao hơn

Trang 14

CHƯƠNG II THỰC TRẠNG THU HÚT FDI VÀO NGÀNH

DU LỊCH THÀNH PHỐ HÀ NỘI 2.1 Sự cần thiết phải thu hút FDI vào ngành du lịch Hà Nội

2.1.1 Thực trạng của ngành du lịch thành phố Hà Nội

2.1.1.1 Về cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật

Mạng lưới và phương tiện giao thông vận tải là những nhân tố quan trọnghàng đầu Du lịch gắn với việc di chuyển con người trên phạm vi nhất định Điềunày phụ thuộc chặt chẽ vào giao thông vận tải Một đối tượng có thể có sức hấp dẫnđối với du lịch nhưng vẫn không thể khai thác được nếu thiếu yếu tố giao thông vậntải Thông qua mạng lưới giao thông thuận tiện, nhanh chóng du lịch mới trở thànhmột hiện tượng phổ biến trong xã hội

Thông tin liên lạc là một bộ phận quan trọng của cơ sở hạ tầng phục vụ dulịch Nó là điều kiện cần để đảm bảo giao lưu cho khách du lịch trong nước và quốc

tế Trong hoạt động du lịch, nếu mạng lưới giao thông và phương tiện giao thôngvận tải phục vụ cho việc đi lại của con người thì thông tin liên lạc đảm nhiện việcvận chuyển các tin tức một cách nhanh chóng và kịp thời, góp phần thực hiện mốigiao lưu giữa các vùng trong phạm vi cả nước và quốc tế Trong đời sống hiện đạinói chung, cũng như ngành du lịch không thể thiếu được các phương tiện thông tinliên lạc

Các công trình cung cấp điện, nước: Khách du lịch là những người rời khỏinơi cư trú thường xuyên… Khi rời khỏi nơi cư trú thường xuyên đến một địa điểmkhác, ngoài các nhu cầu về ăn, uống, ở, đi lại… du khách còn có nhu cầu đảm bảo

về điện, nước để cho quá trình sinh hoạt được diễn ra bình thường Cho nên yếu tốđiện, nước cũng là một trong những nhân tố quan trọng phục vụ trực tiếp việc nghỉngơi giải trí của khách

Như vậy, cơ sở hạ tầng là tiền đề, là đòn bẩy của mọi hoạt động kinh tế, trong

đó có du lịch Bên cạnh đó, cơ sở vật chất kỹ thuật đóng một vai trò hết sức quantrọng trong quá trình tạo ra và thực hiện sản phẩm du lịchcũng như quyết định mức

độ khai thác tiềm năng du lịch nhằm thoả mãn nhu cầu của khách du lịch Chính vì

Trang 15

vậy nên sự phát triển của ngành du lịch bao giờ cũng gắn liền với việc xây dựng vàhoàn thiện cơ sở vật chất kỹ thuật.

Trong những năm gần đây cùng với sự gia tăng của khách du lịch và nhu cầu

xã hội, hệ thống các nhà nghỉ, nhà hàng tư nhân phát triển nhanh, tổng số vốn đầu

tư đạt hơn 65 tỷ đồng phần nào đáp ứng nhu cầu ăn nghỉ của khách đến địa phương.Tuy nhiên các khách sạn, nhà nghỉ, nhà hàng tư nhân phát triển tự phát không cóqui hoạch dẫn đến tình trạng khó quản lýcó thể phá vỡ quy hoạch chung đây là vấn

đề tồn tại cần được khắc phục

Nhịp độ xây dựng nhanh chóng các cơ sở lưu trú đã làm công suất sử dụngbuồng giảm, tuy vậy cũng phải thấy rằng cơ sở vật chất đã được nâng cao rõ rệt donhu cầu khách ngày càng cao, một số khách sạn, nhà nghỉ có tiêu chuẩn khá caotheo qui định Nhìn chúng hệ thống cơ sở lưu trú nhiều nhưng qui mô còn nhỏ sốbuồng đáp ứng yêu cầu của khách quốc tế còn hạn chế, điều này đặt ra cho thànhphố Hà Nội khi phát triển loại hình lưu trú cần ưu tiên xây dựng các khách sạn đạttiêu chuẩn sao, có định hướng hạn chế xây dựng các khách sạn, nhà nghỉ có chấtlượng thấp Hà Nội hiện có 38 khách sạn hạng từ 3-5 sao với gần 5.700 phòng,trong đó có 10 khách sạn 5 sao, 6 khách sạn 4 sao và khoảng 20 khách sạn 3 sao.Bên cạnh đó, thành phố dự kiến có thêm 30 dự án khách sạn tương lai với hơn6.100 phòng; trong đó, 4 dự án là Oriental Pearl, Grand Plaza Ha Noi, Crown Plaza

và Hotel De L’ Opera với gần 1.200 phòng có thể sẽ đi vào hoạt động vào cuối năm

2010 Hệ thống cơ sở ăn uống đa dạng, hầu hết các nhà nghỉ đều có kinh doanh ănuống Các nhà hàng từ đặc sản đến bình dân luôn sẵn sàng đáp ứng nhu cầu dukhách Tuy nhiên công tác quản lý vệ sinh thực phẩm vẫn chưa được quản lý cókhoa học và hiệu quả

Cơ sở vui chơi, giải trí thể thao còn nghèo nàn Đó là nguyên nhân không lưugiữ được khách Ngoài dịch vụ của công ty TNHH Đại Hoàng Long phần nào đápứng nhu cầu của khách du lịch và nhân dân còn lại là những dịch vụ nhỏ như bể bơicông ty du lịch, bể bơi 30/4, bể bơi Thái Hà Tổng mức đầu tư khu vực này rất hạnchế Một số dự án đang được triển khai xây dựng như công viên nước Hồ Tây, Nhàthi đấu đa năng, sân vận động đang được nâng cấp góp phần làm đa dạng hơn về

Trang 16

loại hình, tuy nhiên về lâu dài các khu du lịch, các khu vui chơi giải trí sẽ được quantâm ưu tiên phát triển Đây là điều kiện để thành phố Hà Nội có thể lưu giữ khách

du lịch và tăng doanh thu du lịch Phương tiện vận chuyển khách du lịch có chiềuhướng ngày càng tăng Hiện tại trên địa bàn có tổng số 26 doanh nghiệp tham giakinh doanh vận chuyển khách ( 17 doanh nghiệp nhà nước) Tổng số vốn đầu tư cơ

sở vật chất còn hạn chế đạt 27 tỷ đồng chủ yếu đầu tư xây dựng trụ sở, mua xe, chiphí đầu tư chiều sâu như quảng bá, thị trường, đào tạo lao động còn ít chiểm khoảng13% tổng đầu tư Số lượng xe gồm 38 chiếc ( Không kể xe du lịch của các cá nhânkinh doanh đơn lẻ kết hợp vận chuyển khách thông thường) Hà Nội đã có hơn 800

cơ sở lưu trú các loại với hơn 20.000 phòng; trong đó 222 khách sạn được xếp hạngvới gần 14.000 phòng chất lượng cao, có khả năng phục vụ du khách, từ nguyên thủquốc gia đi công cán, đến khách nghỉ dưỡng dài hạn như Chùa Một Cột, Quốc TửGiám, Hoàng Thành chứa đựng một chiều sâu thẳm về tinh thần của văn hoá ThăngLong - Hà Nội, văn hoá Việt Nam

2.1.1.2 Về chất lượng nguồn nhân lực hoạt động trong lĩnh vực du lịch của thành phố Hà Nội

Một trong những điểm yếu của ngành du lịch Hà Nội là đội ngũ lao động cònthiếu cả số lượng lẫn trình độ nghiệp vụ Điều này đang ảnh hưởng trực tiếp đếntrách nhiệm và tính cạnh tranh, làm giảm mức độ hấp dẫn của du lịch thành phố.Khoảng 30% lao động của ngành du lịch chưa tốt nghiệp trung học phổ thông Laođộng được đào tạo đại học và sau đại học về du lịch chỉ chiếm hơn 3% tổng số laođộng toàn ngành, và 45% hướng dẫn viên chưa đạt chuẩn tiếng Anh Đây là thựctrạng vừa được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch công bố tại Hội thảo quốc gia lầnthứ hai về đào tạo nhân lực du lịch theo nhu cầu xã hội được tổ chức sáng ngày17/8/2010 tại Hà Nội “Cung và cầu nhân lực ngành du lịch vẫn còn khoảng cáchlớn và không dễ thu hẹp, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao,” ông Mai TiếnDũng,Phó Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hà Nội nói Đưa ra dẫnchứng cụ thể về sự yếu kém của đội ngũ nhân lực ngành du lịch hiện nay, ông Dũngcho biết, một khảo sát cho thấy có tới 45% hướng dẫn viên du lịch và điều hành tourkhông đạt chuẩn tiếng Anh cần thiết cho nghề nghiệp của mình Tỷ lệ này ở nhân

Trang 17

viên lễ tân là gần 70%, nhân viên nhà hàng là 85%.

Thành phố Hà Nội hiện có 7 trường đại học có khoa du lịch, ngành đào tạo dulịch hoặc có liên quan đến du lịch, 5 trường trung cấp du lịch và nhiều trung tâmđào tạo nghề du lịch Theo dự tính, đến năm 2015, tổng số lao động trực tiếp trongngành du lịch của thành phố là 103.202 người Hà Nội được xem là có một nguồnnhân lực du lịch khá dồi dào so với các tỉnh, thành phố khác, với hơn 9.000 doanhnghiệp và cơ sở hoạt động du lịch, sử dụng khoảng 63.000 lao động Tuy nhiên tạiHội nghị triển khai công tác tuyển sinh, đào tạo nghề Hà Nội mới đây cho thấy, HàNội luôn được coi là một trong những thành phố có lượng khách du lịch lớn nhấtnước, là trung tâm du lịch lớn của cả nước song nguồn nhân lực vẫn chưa đáp ứngđược nhu cầu phát triển của ngành du lịch

Do đặc thù của mỗi cơ sở kinh doanh và đặc điểm của nhóm lao động, nhữngyêu cầu kỹ năng, nghiệp vụ phải thường xuyên được thay đổi để phù hợp với nhucầu, thị hiếu của khách du lịch Vì vậy, nhu cầu đào tạo du lịch về kiến thức, kỹnăng thực tế phải phù hợp với yêu cầu của doanh nghiệp để thích ứng với các quytrình mới, ngành nghề mới và lĩnh vực hoạt động dịch vụ mới Đó là chưa kể nhiềunghề trong ngành du lịch tuy yêu cầu kỹ năng đơn giản nhưng lại đòi hỏi quy trìnhphục vụ khắt khe, chi tiết, có phong thái bản sắc, ấn tượng riêng của mỗi cơ sở cungcấp dịch vụ du lịch Vì vậy, cùng với những kiến thức được đào tạo tại các cơ sởdạy nghề, các cơ sở kinh doanh du lịch cũng cần có phương pháp đào tạo thêm, đàotạo lại Nhiều chuyên gia cho rằng, việc đào tạo sinh viên ngành du lịch không nhấtthiết phải cần đến tiến sĩ mà chỉ cần những giáo viên có kinh nghiệm chuyên môn,trong khi những người này lại chỉ tập trung làm ở nhà hàng khách sạn mà khôngtham gia giảng dạy Thậm chí, cả những đối tượng được đào tạo chính quy cũngkém về chất lượng Số lượng sinh viên ra trường được tuyển dụng vào làm trong cácdoanh nghiệp du lịch còn thấp Một trong những nguyên nhân là họ không đáp ứngđược yêu cầu về chuyên môn và ngoại ngữ

Một tình trạng nữa của nguồn nhân lực phục vụ trong ngành du lịch thành phố

Hà Nội là thiếu hướng dẫn viên trong mùa cao điểm du lịch nội địa Mùa hè luôn làmùa cao điểm của du lịch nội địa nhưng các công ty lữ hành năm nào cũng gặp phải

Trang 18

tình trạng thiếu hướng dẫn viên du lịch Khi khách đến đăng kí đi các tour du lịchtăng mạnh, các công ty lữ hành chưa kịp vui mừng thì nỗi lo về việc cung cấphướng dẫn viên đã hiện hữu Ngoài nguồn hướng dẫn viên sẵn có, trong mùa caođiểm du lịch nội địa, các hãng lữ hành thường xuyên phải sử dụng các cộng tác viên

là các hướng dẫn viên tự do Tuy nhiên, các hướng dẫn viên tự do lại không có ràngbuộc với công ty về kỷ luật và giấy tờ nên các công ty rất khó khăn trong việc lựachọn những người đáng tin cậy Nhiều công ty vì quá kẹt hướng dẫn viên đã tuyển

cả sinh viên thực tập ở các trường đào tạo Du lịch nhưng vì chưa có kỹ năng nênnhững sinh viên này cũng chỉ được đi phụ giúp, học nghề những hướng dẫn viên

“lão luyện” chứ không được trực tiếp tham gia Tính chất của người làm hướng dẫnviên tiếng Việt ngoài kiến thức rộng, phục vụ chuyên nghiệp còn phải là người hoạtnáo giỏi, biết cách tổ chức trò chơi và tạo không khí vui vẻ trong suốt chuyến đi nênkhông phải ai mới vào nghề cũng làm được mà đều phải trải qua thực tế và tích lũykinh nghiệm

2.1.2 Tính tất yếu khách quan của việc thu hút FDI vào ngành du lịch thành phố Hà Nội

Từ thực trạng trên về ngành du lịch của thành phố Hà Nội, việc thu hút FDIvào ngành du lịch thành phố là một tất yếu khách quan

Là thủ đô 1000 năm tuổi có lịch sử lâu đời, truyền thống văn hóa đa dạng vàgiàu bản sắc, Hà Nội thực sự là một trung tâm du lịch lớn của Việt Nam Hà Nộiluôn là một trong những địa điểm thu hút nhiều khách du lịch nội địa và quốc tế HàNội đứng đầu cả nước về số lượng di tích lịch sử, có thế mạnh và đủ điều kiện đểphát triển du lịch văn hóa, tâm linh và hội thảo Nằm ở phía Bắc Việt Nam trên châuthổ sông Hồng, Hà Nội tự hào là thủ đô của nước Việt Nam và là thành phố lớn thứhai trong cả nước Mặc dù không náo nhiệt và sôi động như thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội đã và đang là thành phố rất năng động, với những dòng xe cộ hối hảkhông dứt, những con phố bận rộn tối ngày và trên từng nẻo đường góc phố, Hà Nộiđang phát triển và thay đổi đáng kinh ngạc Tuy vậy, Hà nội vẫn gìn giữ và bảo tồnđược nét đẹp truyền thống với nhiều công trình kiến trúc cổ độc đáo Trong số đókhu Phố Cổ, đền và chùa là những điểm tham quan không thể bỏ lỡ đối với bất kì ai

Trang 19

đặt chân đến đất “ Hà Thành” này Đó là chưa kể đến những công viên, những con

hồ thơ mộng, yêu kiều nằm ngay trong lòng phố sôi động hối hả, những con đườngđại lộ rộng, đẹp và nhiều cây xanh đến bất ngờ Tất cả, đã khiến Hà Nội trở thànhmột điểm đến có sức quyến rũ khó tả

Từ thủ đô Hà Nội, có thể đi khắp mọi miền đất nước bằng các loại phương tiệngiao thông đều thuận tiện Đường không: sân bay quốc tế Nội Bài (nằm ở địa phậnhuyện Sóc Sơn, cách trung tâm Hà Nội chừng 35km) Sân bay Gia Lâm, vốn là sânbay chính của Hà Nội từ trước những năm 70 thế kỷ 20 Bây giờ là sân bay trực

thăng phục vụ bay dịch vụ, trong đó có dịch vụ du lịch Đường bộ: Xe ô tô khách

liên tỉnh xuất phát từ các bến xe Phía Nam, Gia Lâm, Lương Yên, Nước Ngầm, MỹĐình toả đi khắp mọi miền trên toàn quốc theo các quốc lộ 1A xuyên Bắc - Nam;quốc lộ 2 đi Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Tuyên Quang, Hà Giang; quốc lộ 3 đi TháiNguyên, Cao Bằng; quốc lộ 5 đi Hải Phòng, Quảng Ninh; quốc lộ 6 đi Hoà Bình,Sơn La, Lai Châu… Đường sắt: Hà Nội là đầu mối giao thông của 5 tuyến đườngsắt trong nước Có đường sắt liên vận sang Bắc Kinh (Trung Quốc), đi nhiều nước

châu Âu Đường thuỷ: Hà Nội là đầu mối giao thông quan trọng với bến Phà Đen đi

Hưng Yên, Nam Định, Thái Bình, Việt Trì; bến Hàm Tử Quan đi Phả Lại

Tuy nhiên thực tế khá nan giải khi quy hoạch đô thị của Thủ đô chưa dànhdiện tích đất thỏa đáng cho việc phát triển hạ tầng du lịch, nhất là trong nội đô Hạnchế này Hà Nội cũng đã thấy và đang tìm cách khắc phục Ngoài ra, có thể nói rằng

hạ tầng giao thông, đường sá, sân bay của Hà Nội đều có vấn đề.Do đó, nhu cầu vềnguồn vốn đầu tư lớn là rất cần thiết.Ngoài ra lúc này Hà Nội đang hút khách nhờcác sự kiện văn hoá, lễ hội Theo thống kê của Sở Văn hoá - Thể thao và Du lịch(VHTTDL) Hà Nội: Trong khoảng thời gian từ đầu năm đến nay, khách du lịchquốc tế đến Hà Nội có sự tăng trưởng trở lại sau một thời gian dài sụt giảm với551.600 lượt khách, tăng 12% so với cùng kỳ năm trước Các thị trường trọng điểm

có lượng khách đến Hà Nội cao là Đức 104.900 lượt khách, tăng gấp 4 lần so vớicùng kỳ năm trước; Trung Quốc gần 76.600 lượt khách, tăng 32%; Pháp 59.100lượt, tăng 32%; Nhật Bản 50.900 lượt khách, tăng 20%; Anh 31.900 lượt, tăng 20%;Australia 46.400 lượt, tăng 7%; Mỹ 35.400 lượt, tăng 1% Điều đáng nói là du

Trang 20

khách tới từ các thị trường này đều có mức chi trả cao, thời gian lưu trú tại Hà Nộitương đối dài Đây là cơ hội nhưng cũng là yêu cầu đòi hỏi ngành du lịch thủ đôphải đầu tư vào cơ sở vật chất, đào tạo nguồn nhân lực… và do đó nhu cầu về FDIcũng là tất yếu.

Là thành phố lớn thứ 17 trên thế giới, Hà Nội có kho tàng di vản văn hóa vậtthể và phi vật thể phong phú và vô giá, với khoảng 5.000 di tích, danh thắng lịch sử,trong đó có 2.104 di tích đã được xếp hạng (765 di tích quốc gia và quốc tế) như: Disản Văn hóa thế giới Khu Trung tâm Hoàng thành Thăng long, Di sản Ký ức vănhóa thế giới Văn Miếu - Quốc Tử Giám, làng Việt cổ Đường Lâm, chùa Hương,chùa Tây Phương

Việc đa dạng hóa các sản phẩm, từ tham quan, khám phá những di sản vănhóa, đến các tour du lịch sinh thái - làng nghề, du lịch sạch, đang và sẽ trở thànhchiến lược phát triển bền vững của Thủ đô trong việc đưa Hà Nội trở thành mộtđiểm đến an toàn trong khu vực và trên thế giới

Năm 2010, ngành Du lịch Thủ đô đón hàng triệu lượt khách du lịch (trong 6tháng đầu năm 2010 đã đạt hơn 5,5 triệu lượt khách, trong đó 10% là khách quốc tế)đến với Đại lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội như là sự kiện văn hóa,chính trị, xã hội lớn “ngàn năm có một” được mong đợi của tất cả những người conđất Việt luôn hướng đến trái tim của đất nước, là sự quan tâm của bạn bè năm châuyêu mến Hà Nội Hà Nội đã có hơn 800 cơ sở lưu trú các loại với hơn 20.000phòng; trong đó 222 khách sạn được xếp hạng với gần 14.000 phòng chất lượngcao, có khả năng phục vụ du khách, từ nguyên thủ quốc gia trong các chuyến côngtác, đến khách nghỉ dưỡng dài hạn Ngành Du lịch với tư cách đại diện cho Hà Nội

đã tham gia nhiều tổ chức quốc tế như: Liên minh các Thành phố lịch sử (LHC),Hiệp hội quốc tế thị trưởng các Thành phố có sử dụng tiếng Pháp (AIMF), mạnglưới chính quyền địa phương (City Net), Hiệp hội thế giới các đô thị lớn(METROPOLIS) và tham gia các hội chợ du lịch quốc tế

Hà Nội hiện có 152 dự án khu đô thị mới có quy mô trên 20 ha, trong đó có 10khu đã hình thành, 50 khu đang được triển khai, các dự án xây dựng nhà ở xã hội,cải tạo chung cư cũ, xuống cấp được chú trọng và đạt kết quả bước đầu trên 95%

Trang 21

công trình xây dựng có giấy phép Thành phố hỗ trợ 100% kinh phí xây dựng các

dự án cấp nước sạch hợp vệ sinh, công trình phúc lợi, hệ thống điện chiếu sáng; cảitạo đường giao thông nông thôn, kênh mương nội đồng phục vụ sản xuất nôngnghiệp, lâm nghiệp, thủy sản ; và hỗ trợ tới 80% tổng chi phí dự án đầu tư xâydựng hạ tầng kỹ thuật các làng nghề, cụm công nghiệp, chợ, trung tâm thương mại,đào tạo hỗ trợ giải quyết việc làm, khôi phục phát triển nghề truyền thống

Hà Nội hiện có trên 4.000 di tích và danh thắng, trong đó được xếp hạng quốcgia trên 900 di tích và danh thắng (hàng trăm di tích, danh thắng mới được sáp nhập

từ Hà Tây và Mê Linh) với hàng trăm đền, chùa, công trình kiến trúc, danh thắngnổi tiếng

Hà Nội là một trung tâm du lịch lớn ở Việt Nam Du khách có dịp khám phánhiều công trình kiến trúc văn hóa - nghệ thuật xây dựng qua nhiều thế hệ, trongsuốt quá trình dựng nước và giữ nước Những danh thắng tự nhiên đẹp và quyến rũ;những làng nghề thủ công tồn tại hàng trăm năm; những lễ hội truyền thống - sảnphẩm văn hóa kết tinh nhiều giá trị tinh thần sẽ là những sản phẩm du lịch hấpdẫn

Như vậy việc thu hút FDI vào ngành du lịch thành phố là một tất yếu kháchquan, để có thể phát triển du lịch hơn nữa trong tương lai

2.3 Thực trạng thu hút nguồn vốn FDI trong ngành du lịch của thành phố

Hà Nội

2.3.1 Những thuận lợi và khó khăn trong việc thu hút FDI vào ngành du lịch thành phố Hà Nội

2.2.1.1 Yếu tố khách quan và bối cảnh quốc tế trong giai đoạn hiện nay

2.2.1.1.1 Xu thế quốc tế hóa và toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc tế, hợp tác cùng phát triển trên phạm vi toàn thế giới

Xu thế toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng gia tăng Toàn cầuhoá được nói đến ở đây trước hết và chủ yếu là toàn cầu hoá kinh tế "Toàn cầu hoákinh tế là một xu thế khách quan, lôi cuốn ngày càng nhiều nước tham gia, xu thếnày đang bị một số nước phát triển và các tập đoàn kinh tế tư bản xuyên quốc giachi phối, chứa đựng nhiều mâu thuẫn, vừa có mặt tích cực vừa có mặt tiêu cực, vừa

Ngày đăng: 31/03/2015, 23:11

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w