1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

BÁO CÁO VỀ BẢO HIỂM Y TẾ TRUNG QUỐC

23 260 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 163 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhưng Trung Quốc đang đứng trước vấn đề lớn vềdân số đó là hiện tượng già hóa dân số trong tương lai, sau 10 năm nữa có thểxảy ra nguồn cung lao động giảm kéo theo thị trường về lao động

Trang 1

MỞ ĐẦU

Trong những năm vừa qua cùng với thay đổi nhanh chóng của TrungQuốc về tất cả các mặt kinh tế, chính trị, xã hội Đời sống của người dân khôngngừng được cải thiện, mức sống của đại bộ phận người dân Trung Quốc đangngày càng được nâng cao, điều đó có sự đóng góp không nhỏ của hệ thống y tếnói chung và bảo hiểm y tế (BHYT) nói riêng Bảo hiểm y tế là một chính sách

xã hội lớn, là một trong những loại hình bảo hiểm xã hội (BHXH) mang ýnghĩa nhân đạo, có tính chia sẻ cộng đồng sâu sắc, góp phần quan trọng thựchiện mục tiêu công bằng xã hội trong bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏenhân dân Hơn nữa, đối với người lao động, BHYT còn liên quan trực tiếp đếnquyền và lợi ích hợp pháp của họ khi không may phải điều trị tại bệnh viện

Trung Quốc đã ban hành và sửa đổi nhiều chính sách quan trọng về hệthống BHYT, từ đó đã tạo cơ sở pháp lí cần thiết cho sự phát triển của ngànhBHYT BHYT đã có sự phát triển và nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏecho người lao động tại tuyến y tế cơ sở Điều đó cũng tạo sự công bằng trongchăm sóc, bảo vệ sức khỏe nhân dân, hình thành và phát triển hệ thống an sinh

xã hội ở đất nước này Tuy nhiên, nhìn nhận lại, bên cạnh tính ưu việt của việcthực hiện chính sách BHYT, cũng đã bộc lộ một số hạn chế cần được giảiquyết

Từ thực tế trên cùng với những kiến thức đã được trang bị trong nhàtrường, nhóm em đã làm chuyên đề BHYT của Trung Quốc , tìm hiểu thựctrạng BHYT của đất nước này

Kết cấu của chuyên đề được chia thành 3 chương:

Chương 1: Khái quát chung về kinh tế xã hội Trung Quốc

Chương 2: Bảo hiểm y tế Trung Quốc

Chương 3: Những hạn chế và biện pháp khắc phục

Trang 2

Trong quá trình tìm hiểu, do nhận thức và thời gian có hạn nên bài tiểuluận không thể tránh khỏi những thiếu sót, chúng em rất mong nhận được sựchỉ bảo và góp ý của thầy cô để bài viết được hoàn thiện hơn./.

Trang 3

CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT VỀ KINH TẾ XÃ HỘI

TRUNG QUỐC

1.1.Tình hình dân số Trung quốc hiện nay.

Theo số liệu của Tổng cục thống kê Trung Quốc, tính đến cuối năm

2010, Trung Quốc có 1,341 tỉ dân, tăng so với 1,335 tỉ dân cuối năm 2009 và1,328 tỉ người năm 2008 Nhưng Trung Quốc đang đứng trước vấn đề lớn vềdân số đó là hiện tượng già hóa dân số trong tương lai, sau 10 năm nữa có thểxảy ra nguồn cung lao động giảm kéo theo thị trường về lao động sẽ giảm theo.Điều này ảnh hưởng vô cùng lớn đối với sự phát triển kinh tế của Trung Quốctrong tương lai Nguyên nhân chủ yếu của việc này là chính sách thặt chặt kếhoạch hóa gia đình ở Trung Quốc trong những năm qua Trung Quốc hiện đang

nỗ lực để trở thành nước giàu mạnh trước khi dân số già hóa

Số liệu thống kê cho thấy sự thiếu hụt lao động tại nước đông dân cưnhất thế giới có thể xảy ra sớm hơn dự kiến làm ảnh hưởng tới sự phát triểnnền kinh tế đất nước Theo Ủy ban dân số kế hoạch hóa Gia đình Trung Quốc,cao điểm tăng trưởng âm dân số trong độ tuổi lao động của nước này sẻ xảy ravào năm 2016, trong khi một số nhà phân tích cho rằng điều này sẻ xãy ra vàonăm 2013 Khả năng thiếu hụt lao động có thể sẽ khiến tăng trưởng kinh tếTrung Quốc chậm lại trong ngắn hạn Điều này được trung tâm Nghiên cứulao động và An sinh xã hội thuộc học viện khoa học xã hội Trung Quốc khẳngđịnh

Theo số liệu thống kê của Cục thống kê Trung Quốc, trong năm 2010 tỷ

lệ dân số nằm trong độ tuổi 0-14 giảm xuống còn 16.6% thay vì mức 22,9%của năm 2000 Trong khi đó dân số trên 60 tuổi tăng lên 13,3% so với mức cũ

là 10.3%, và điều này dự báo dân số tuổi 60 sẽ tăng lên 33% vào năm 2050

Trang 4

Thiếu hụt lao động sẽ là nguyên nhân trực tiếp cho việc tăng lương vànguồn chi phí xã hội tăng lên kìm hãm sự phát triển của nền kinh tế,tạo sức épcho các nhà sản xuất có giá trị thấp.

1.2 Tình kinh tế Trung Quốc và vấn đề y tế của Trung quốc

1.2.1 Tình hình kinh tế Trung Quốc

Trung Quốc ngày càng có vai trò quan trọng trong nền kinh tế thế giới.

Và là “người khổng lồ Đông Á” đang trỗi dậy này là sự thúc đẩy cho tăngtrưởng kinh tế toàn cầu Do vậy, khi kinh tế nước này bất ổn, cả thế giới cũng

lo ngại đặc biệt là nền kinh tế thế giới đang khủng hoảng và đang dần mất cânđối Trung quốc là nền kinh tế lớn thứ hai thế giới cũng đã bị kéo theo sựkhủng hoảng đó trong năm 2008 và đến nay đang dần thoát khỏi nguy cơkhủng hoảng chung của cả thế giới Năm 2010 lạm phát tại Trung Quốc đã ởmức 5% giá lương thực, thực phẩm, mặt hàng được coi là nhạy cảm đã trởthành động lực leo thang cho chỉ số tiêu dùng (CPI) Giá lương thực thực phẩm

đã tăng hơn 10% so với cùng ký năm trước điều này đã làm bất ổn xã hội cao.Bắc Kinh đã thực hiện các biện pháp như thắt chặt điều kiện tín dụng và tănglãi suất cơ bản 4 lần Điều này đã làm nền kinh tế Trung Quốc phát triển chậmlại Mặc dù kinh tế đang khủng hoảng và phát triển chậm lại nhưng theo thống

kê các ngân hàng lớn của Trung Quốc vẫn đạt đà tăng trưởng 9% năm 2010,thặng dư thương mại của Trung quốc vẩn ở mức cao Nhưng những dấu hiệu đixuống của nền kinh tế Trung Quốc kéo theo sự lo ngại về triển vọng của nềnkinh tế toàn cầu, và nó làm cho bên trong nội tại nền kinh tế xã hội đi xuốngkhi vật giá leo thang và nền kinh tế đang khủng hoảng chung, nó đã ảnh hưởngtới các vấn đề phát triển xã hội của Trung quốc

1.2.2 Vấn đề y tế của Trung Quốc

Trong những năm 1950 chính phủ Trung Quốc đã phát động chươngtrình bảo hiểm Chính phủ (GIS) cho những nhân viên trong các tổ chức chính

Trang 5

phủ và chương trình bảo hiểm lao động (LIS) cho công nhân làm việc trongcác doanh nghiệp nhà nước Kể từ những năm 1980 chính phủ Trung Quốc đãbắt đầu cải cách hệ hộ thông chăm sóc tại các khu vực đô thị nhằm giảm chiphí cho GIS và LIS cũ đồng thời tiến hành cải cách GIS và LIS Hệ thống đãsớm mở rộng ra nhiều thành phố khác, việc xây dựng y tế cơ bản của nhân viên

đô thị vào năm 1998 đã đánh dấu sự thực hiện sức khỏe cho xã hội mới, đồngthời cải cách về những dịch vụ y tế mới Tới năm 2002 chính phủ Trung Quốc

đã quyết định khởi động một loại mới của hệ thống y tế nông thôn Hợp tác xã

để giúp nông dân chống lại gánh nặng về kinh tế và các chi phí từ bệnh viện.Cho tới những năm sau chính phủ Trung Quốc cho phép phát triển y tế tư nhân

và chứng kiến sự phát triển vượt bậc của nó và thúc đẩy sự phát triển của y tếtrong nước, thúc đẩy cải cách bảo hiểm sức khỏe xã hội trong nước

Trong 10 năm qua phí bảo hiểm thu tăng hơn 27 lần cho thấy sự pháttriển ổn định của bảo hiểm y tế tư nhân Bảo hiểm y tế tư nhân đang chiếmgần 40% tổng phí nhưng nó vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu chăm sóc sứckhỏe của người dân Điều này đang được nhà nước và dịch vụ y tế TrungQuốc từng bước xây dựng, nhằm nâng cao hiệu quả chăm sóc từ các dịch vụbảo hiểm y tế Bảo hiểm y tế tư nhân ở Trung Quốc đã phát triển nhanh cho tớinay nhưng vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu thị trường Lý do nằm ở các yếu tố:

Sự yếu nhân thức về bảo hiểm y tế từ người dân bình thường, thiếu các chuyêngia cần thiết nhất trong dịch vụ và nó chưa sâu trong nghành để đáp ứng đượcyêu cầu của người dân Chính điều này làm cho bảo hiểm y tế ở Trung Quốccần có lộ trình phát triển thích hợp và có sự đầu tư đúng đắn từ phía nhà nước

và các dịch vụ y tế, đồng thời có sự hiểu biết của người dân trong việc chămsóc sức khỏe của chính bản thân mình

Trang 6

CHƯƠNG II: BẢO HIỂM Y TẾ TRUNG QUỐC

Theo Bộ y tế Trung Quốc, tính đến năm 2009, với mô hình tổ chức cùngquản lý Trung Quốc đã thành lập 2 loại hình BHYT, bao gồm:

- BHYT xã hội:

+ BHYT cho nhân viên đô thị

+ BHYT đô thị thường trú

+ BHYT nông thôn

- BHYT tư nhân

2.1 Khái niệm Bảo hiểm y tế xã hội ( SHI )

- Theo tổ chức Y tế thế giới ,Bảo hiểm y tế xã hội (SHI) là một hình thứcbảo vệ tài chính và quản lý chăm sóc sức khỏe dựa trên rủi ro tổng hợp Nó bảo

vệ mọi người chống lại gánh nặng tài chính của chăm sóc sức khỏe trong thờigian cần thiết trên cơ sở đóng góp quỹ của người lao động, người sử dụng laođộng, cá nhân, chính phủ và các tổ chức khác BHYT XH là một phương pháptương đối công bằng chăm sóc sức khỏe tài chính

- Một định nghĩa ngắn gọn hơn được cung cấp bởi OECD: bảo hiểm xãhội là một “chương trình là một trong những chủ sở hữu chính sách có nghĩa

vụ hoặc khuyến khích để đảm bảo bởi sự can thiệp của một bên thứ ba”

Từ năm 1980, xã hội và nền kinh tế của Trung Quốc đã trải qua một quátrình cải cách sâu sắc , chuyển đổi một nền kinh tế kế hoạch ngày càng dựa vàothị trường để điều chỉnh cung và cầu Tuy nhiên, do hệ thống bảo hiểm y tế đãkhông đáp ứng được sự phát triển của xã hội và kinh tế Trung Quốc đã thànhlập một hệ thống bảo hiểm y tế mới và hiệu quả hơn giữa những năm 1980( Hội đồng nhà nước Trung Quốc 1998)

Trang 7

Về nguyên tắc bảo hiểm y tế (BHYT) của Trung Quốc được quản lý tạiđịa phương, và kết hợp với xã hội và tài khoản cá nhân Cơ bản chương trìnhbảo hiểm y tế bao gồm tất cả những người sử dụng lao động và người lao độngkhu đô thị Kinh phí bảo hiểm y tế cơ bản đến từ hai đối tượng trên.

2.1.1 Tỉ lệ đóng góp của từng nhóm.

+ Bảo hiểm y tế cho nhân viên đô thị (UEMI):

Chương trình BHYT này được thực hiện theo tính chất bắt buộc, được

áp dụng cho các nhân viên chính thức làm việc ở đô thị, những người phụthuộc của người lao động không được tham gia loại hình BH này Đến năm

2009, có khoảng 200 triệu người tham gia

- Phí bảo hiểm do người sử dụng lao động chi trả khoảng 6% trong tổng

số hóa đơn tiền lương, trong khi đó thanh toán của người lao động là 2%

- Tùy thuộc vào điều kiện địa phương, chính quyền địa phương có thểthiết lập tỷ lệ đóng góp riêng, nhưng không dưới 8%

- Người về hưu được miễn nộp phí bảo hiểm

- Phí bảo hiểm, của cá nhân cùng với 30% đóng góp của người sử dụnglao động vào tài khoản cá nhân, và 70% còn lại của người sử dụng lao động đivào quỹ bảo hiểm y tế chung

+ BHYT đô thị thường trú (URMI):

Trong năm 2007, Chính phủ đã thực hiện thí điểm chương trình Bảohiểm đô thị thường trú tại 79 thành phố, việc tham gia là tự nguyện và đốitượng được bảo hiểm là những người không tham gia làm việc chính thức tại

đô thị như sinh viên, trẻ em, người thất nghiệp, cư dân đô thị chỉ có công việctạm thời cũng có thể tham gia trong chương trình

Đến năm 2009, loại hình BHYT này đã được mở rộng tới tất cả cácthành phố Theo số liệu năm 2009, đã có 118 triệu người được bảo hiểm, trong

Trang 8

đó có 100 triệu trên tổng số 240 triệu người thất nghiệp tham gia vào chươngtrình này.

- Phí bảo hiểm được chi trả của hộ gia đình, thay vì cá nhân

- Chính phủ cung cấp cho mỗi người tham gia trợ cấp ít nhất 40 nhândân tệ mỗi năm, và trợ cấp thêm cho các gia đình có thu nhập thấp và nhữngngười tàn tật

- Cư dân phải trả một phần phí bảo hiểm trong chương trình

+ Bảo hiểm y tế nông thôn (NRMS):

- Trong tháng hai năm 2003, Hội đồng Nhà nước ban hành Quyết địnhthành lập Hệ thống chăm sóc y tế hợp tác xã bảo hiểm y tế thiết lập lại cho dân

cư nông thôn Hệ thống này là sự cùng đóng góp của cư dân nông thôn vàChính phủ, được thực hiện trên tính tự nguyện của các hộ gia đình

- Mỗi người dân đóng 20 Yuan/ năm

- Chính phủ đóng góp 60 Yuan

- Chính quyền địa phương đóng góp 40 Yuan

- Tỷ lệ đóng góp tăng từ 30 Yuan đến 120 Yuan mỗi năm Tính đến năm

2009, mỗi năm chính quyền trung ương và địa phương đã trích hàng chục nhândân tệ của quỹ hỗ trợ cho mỗi người mỗi năm Trong năm 2010, chính phủcung cấp 120 Yuan cho mỗi thành viên

2.1.2 Quyền lợi của từng nhóm khi đi khám chữa bệnh

Nhà nước chi cho BHYT 17%, chính quyền trung ương chi bảo đảm10.5% ngân sách y tế công cộng, và 89.5% còn lại là do chính quyền địaphương tài trợ cho BHYT đã được phát triển thành hai cấu trúc, một cho ngườilao động đô thị và một cho người dân nông thôn với cơ cấu HRS là công cụhành chính Chính quyền địa phương chịu trách nhiệm quản lý của hai quỹđược sử dụng chủ yếu thanh toán tại các dịch vụ, bệnh viện và các tài khoản cánhân

Trang 9

Các quỹ này được sử dụng để chịu trách nhiệm chi trả cho những ngườiđược bảo hiểm, với một vài trường hợp ngoại lệ, những người phải dựa vàobảo hiểm y tế thương mại hoặc cá nhân phải trả tất cả chi phí y tế Khônggiống như các hệ thống cũ sẽ trợ cấp chi phí chăm sóc sức khỏe của người phụthuộc của người lao động được bao phủ bởi bảo hiểm y tế 50%, hệ thốngkhông bao gồm người phụ thuộc ở tất cả.

Chính phủ đã chi trả 9% chi phí y tế vào đầu những năm 1990 đến 17%giữa những năm 2000 Theo Ngân hàng thế giới, người dân Trung Quốc tiếpcận với các cơ sở y tế nhà nước bị thu hẹp từ 71% đến 21% giữa năm 1981 và

1993 và bỏ túi chi phí cho chăm sóc y tế, tăng 100 lần từ năm 1980 và 2005

Năm 2003, chính phủ Trung Quốc đã đưa ra nhiều hơn cho các hợp tác

xã nông thôn y tế và thành lập một hệ thống mà trong đó người nông dân đạt3$ một năm và chính phủ cung cấp trợ cấp 12$ cho bảo hiểm 25% đến 30% chiphí bệnh viện tuy nhiên chăm sóc ngoại trú còn ở mức thấp

Trong năm 2009, chính phủ cam kết chi tiêu 123 tỷ USD trong vòng banăm để cung cấp chăm sóc y tế cơ bản và bảo hiểm y tế đến 9 trong 10 ngườiTrung Quốc Đồng thời cải tạo nâng cấp các bệnh viện và cung cấp các dịch vụcho chi phí thấp hơn Một trong những hi vọng của chương trình cải cách là nó

sẽ giúp tạo ra tăng trưởng trong nền kinh tế và cơ chế y tế của nhà nước

Một trong những mục tiêu của chương trình chăm sóc sức khỏe đã đượcphê duyệt năm 2009 là cung cấp 1 số hình thức bảo hiểm y tế cho 90% dân sốvào năm 2011 Mỗi người được bảo vệ bởi hệ thống sẽ được nhận trợ cấp hàngnăm hơn 17$ bắt đầu vào năm 2010 Y học cũng được bảo hiểm, và chính phủ

sẽ bắt đầu thiết lập 1 hệ thống sản xuất và phân phối các loại thuốc cần thiếttrong năm nay

Từ năm 2009, Chính phủ Trung Quốc đã cung cấp cho tất cả cư dân đôthị và nông thôn 9 loại dịch vụ y tế miễn phí chính Hiện nay, 36% dân số đô

Trang 10

thị và dân cư nông thôn đã có sức khỏe tốt ,hơn 39 triệu người trên 65 tuổi đãđược hưởng miễn phí kiểm tra sức khỏe định kỳ, 460 ngàn bệnh nhân nghèođục thủy tinh thể đã được điều trị với chi phí thấp nhất, trên 13 triệu thai và bàmẹ phụ nữ ở nông thôn đã nhận được trợ cấp thai sản

Người về hưu được bao phủ bởi hệ thống miễn phí cho họ, nhưng phápluật không nói cho những người chịu phí y tế của họ cũng không phải ngườiđóng góp vào tài khoản cá nhân, chỉ nói rằng “tỷ lệ của số tiền bị tính phí vàotài khoản cá nhân của người về hưu và các chi phí y tế các cá nhân phải chịu sẽđược xem xét ưu đãi phù hợp.”

2.1.3 Mức hưởng

+ Bảo hiểm y tế cho nhân viên đô thị (UEMI):

- BHYT sẽ chi trả từ 50 – 60% tổng chi phí y tế (theo hệ thống cũ)

- Theo sự phân bố kế hoạch quốc gia thì phần lớn là xử lý của địaphương, nhưng một số trường hợp theo hướng dẫn của cơ quan nhà nước là tạo

ra biện pháp cắt giảm chi phí Theo các địa phương thì mức trần cho các khoảnchi từ quỹ chung bằng bốn lần lương trung bình hàng năm của địa phương; mộtyêu cầu cho địa phương để tạo ra sự đồng nhất trong hệ thống thanh toán bằngcách quy định mức tối thiểu của các khoản thanh toán và khuyến khích bốcthuốc theo toa cho phép (thường là người tham gia chi trả 5-10% của chi phí)

+ BHYT đô thị thường trú (URMI):

- Người tham gia sẽ được chi trả 1 phần khoảng 50 – 65% tổng chi phíchăm sóc y tế bao gồm chi phí cho các bệnh thông thường, các bệnh lớn và chiphí của người bệnh nhập viện

+ Bảo hiểm y tế nông thôn (NRMS):

- Nhận được bảo hiểm một phần cho bất kỳ chi phí y tế nào, dao độnglên tới 65% tổng chi phí y tế

Trang 11

- Mức hoàn lại là khác nhau phụ thuộc vào điều kiện kinh tế của từngtỉnh.

2.1.4 Phương thức thanh toán đối với cơ sở KCB

Tiêu chuẩn thanh toán: chi phí y tế được chia sẻ bởi các quỹ bảo hiểm y

tế và cá nhân Chi phí điều trị ngoại trú (với số lượng nhỏ hơn) chủ yếu làthanh toán từ tài khoản cá nhân, trong khi chi phí nhập viện( với số lượng lớnhơn) được thanh toán chủ yếu là từ các quỹ bảo hiểm xã hội Các khoản thanhtoán tối thiểu và tối đa từ quỹ bảo hiểm xã hội đặt ra là: việc thanh toán tốithiểu - khoảng 10% của mức lương trung bình hàng năm của người lao độngđịa phương, còn thanh toán tối đa - khoảng 4 lần so với mức lương trung bìnhhàng năm của người lao động địa phương Các chi phí y tế giữa các tiêu chuẩntối thiểu và tối đa là chủ yếu thanh toán từ các quỹ bảo hiểm xã hội và cá nhântrả tiền cho một tỷ lệ nhất định Chi phí do người về hưu để điều trị y tế là thấphơn so với những lao động chưa về hưu

+ Bảo hiểm y tế cho nhân viên đô thị (UEMI):

- Đối với trường hợp khám chữa bệnh nội trú thì thanh toán trực tiếp từquỹ BHYT chung

- Đối với các trường hợp khám chữa bệnh ngoại trú thì thanh toán giántiếp thông qua tài khoản y tế cá nhân

+ BHYT đô thị thường trú (URMI):

- Thanh toán trợ cấp y tế theo phương thức hoàn lại Tức đối tượngkhám chữa bệnh sẽ tự chi trả toàn bộ các chi phí y tế sau đó cơ quan địaphương có thẩm quyền sẽ hoàn lại số tiền theo mức được trợ cấp

+ Bảo hiểm y tế nông thôn (NRMS):

- Thanh toán trợ cấp y tế theo phương thức hoàn lại Tức đối tượngkhám chữa bệnh sẽ tự chi trả toàn bộ các chi phí y tế sau đó cơ quan địaphương có thẩm quyền sẽ hoàn lại số tiền theo mức được trợ cấp

Ngày đăng: 31/03/2015, 22:54

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w