Ngoài phần mở đầu, kết luận các phụ lục và tài liệu tham khảo, luận văn cókết cấu gồm 3 chương: Chương I: Những vấn để chủ yếu về lý luận và thực tiễn phát triển xuất khẩu theo hướng phá
Trang 1ĐỀ TÀI: PHÁT TRIỂN XUẤT KHẨU HÀNG DỆT MAY VIỆT NAM SANG THỊ TRƯỜNG HOA KỲ THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
Kết luận và kiến nghị.
Danh mục công trình của tác giả.
Danh mục tài liệu tham khảo.
Phụ lục.
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
2 Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài
3 Mục đích nghiên cứu:
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu:
6 Những đóng góp của luận văn
7 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận các phụ lục và tài liệu tham khảo, luận văn cókết cấu gồm 3 chương:
Chương I: Những vấn để chủ yếu về lý luận và thực tiễn phát triển xuất khẩu theo hướng phát triển bền vững:
Chương II: Hiện trạng phát triển dệt may Việt Nam sang thị trường Hoa Kỳ theo quan điểm phát triển bền vững.
Chương III: Định hướng và giải pháp chủ yếu để phát triên xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam sang thị trường Hoa Kỳ theo hướng phát triển bền vững.
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
1 Tính cấp thiết của đề tài:
2 Xác lập và tuyên bố vấn đề trong đề tài:
3 Các mục tiêu nghiên cứu:
4 Phạm vi nghiên cứu:
5 Kết cấu đề tài nghiên cứu:
Trang 2CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN XUẤT KHẨU HÀNG DỆT MAY THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG.
1 Khái niệm, vai trò và các hình thức xuất khẩu:
1.1 Khái niệm xuất khẩu:
Xuất khẩu được hiểu là việc bán hàng hoá hoặc cung cấp dịch vụ được sảnxuất trong nước cho khách hàng nước ngoài trên cơ sở dùng tiền tệ làmphương tiện thanh toán, tiền tệ ở đây phải là ngoại tệ đối với một bên hoặcđối với cả hai bên
Hoạt động xuất khẩu diễn ra trong một lĩnh vực, mọi điều kiện nền kinh tế xãhội từ hàng tiêu dùng cho đến hàng sản xuất công nghiệp, từ máy móc thiết bịcho tới các công nghệ kỹ thuật cao Tất cả các hoạt động trao đổi đó nhằmmục tiêu đem lại lợi ích cho các quốc gia vào trao đổi
Hoạt động xuất khẩu diễn ra trên phạm vi rất rộng cả về phạm vi không gianlẫn điều kiện thời gian Nó có thể diễn ra trong một ngày hay cũng có thể kéodài hàng năm, có thể tiến hành trên phạm vi lãnh thổ của một quốc gia haynhiều quốc gia khác nhau
1.2 Tính tất yếu, vai trò của xuất khẩu:
1.2.1 Tính tất yếu của việc mở rộng hoạt động xuất khẩu:
Hoạt động xuất khẩu là một yếu tố quan trọng để mỗi quốc gia phát triểntrình độ quản lý cũng như tiếp thu những khoa học cộng nghệ kỹ thuật mànhân loại phát minh ra chúng Do những điều kiện kinh tế khác nhau mỗiquốc gia có thế mạnh về một lĩnh vực này nhưng lại yếu về lĩnh vực khác Để
có thể dung hoà được nguy cơ và lợi thế sử dụng tối đa các cơ hội sẵn cónhằm tạo ra sự cân bằng trong qúa trình sản xuất và tiêu dùng giữa các quốcgia, điều này chỉ có thể giải quyết được nhờ các hoạt động trao đổi quốc tế.Nhận thức được điều đó đảng và nhà nước ta đã có những hướng đi mớitrong đường lối chính sách của mình Từ tư tưởng tự cung, tự cấp đến naychúng ta tạo mọi điều kiện để mở rộng giao lưu kinh tế với bên ngoài, mởcửa để thu hút mọi nguồn đầu tư
1.2.2 Vai trò của xuất khẩu:
Xuất khẩu là hoạt động kinh doanh buôn bán ở phạm vi quốc tế, nó khôngphải là những hành vi mua bán riêng lẻ mà là cả một hệ thống các quan hệmua bán trong một nền thương mại có tổ chức cả bên trong và bên ngoàinhằm mục đích đẩy mạnh sản xuất hàng hoá phát triển, chuyển đổi cơ cấukinh tế, ổn định và từng bước nâng cao mức sống của nhân dân Vì vậy, xuất
Trang 3khẩu đóng vai trò đặc biệt quan trọng đối với các doanh nghiệp cũng nhưphát triển kinh tế của mỗi quốc gia.
Đối với nền kinh tế mỗi quốc gia
Xuất khẩu là một tất yếu khách quan và có vai trò quan trọng đối với cácquốc gia, các lý thuyết về tăng trưởng và phát triển kinh tế chỉ ra rằng để tăngtrưởng và phát triển kinh tế của mỗi quốc gia cần có bốn điều kiện là : Nguồnnhân lực, tài nguyên, vốn và kỹ thuật công nghệ Hầu hết các quốc gia đangphát triên như Việt Nam đều thiếu vốn và kỹ thuật, để có vốn và kỹ thuật thìcon đường ngắn nhất là phải thông qua thương mại quốc tế
Xuất khẩu tạo nguồn vốn cho nhập khẩu, phục vụ công nghiệp hoá hiện đạihoá đất nước
Công nghiệp hoá với bước đi phù hợp là con đường tất yếu để khắc phục tìnhtrạng nghèo nàn lạc hậu nhưng công nghiệp hoá đòi hỏi phải có lượng vốnlớn để nhập khẩu máy móc thiết bị kỹ thuật công nghệ tiên tiến
Nguồn vốn nhập khẩu có thể được hình thành từ các nguồn sau : Đầu tư nướcngoài, vay nợ, các nguồn viện trợ, thu từ các hoạt động du lịch, dịch vụ thungoại tệ trong nước
Các nguồn như đầu tư nước ngoài, viện trợ hay vay nợ … có tầm quan trọngkhông thể phủ nhận được, song việc huy động chúng không phải dễ dàng,hơn nữa đi vay thường chịu thiệt thòi và phải trả về sau này
Do vậy, xuất khẩu là nguồn vốn quan trọng nhất, xuất khẩu tạo tiền đề chonhập khẩu, quyết định đến quy mô tăng trưởng của nền kinh tế
Xuất khẩu thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế và phát triển sảnxuất
Dưới tác động của xuất khẩu cơ cấu sản xuất và tiêu dùng của thế giới đã vàđang thay đổi mạnh mẽ xuất khẩu làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế của mỗiquốc gia từ nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ
Có hai cách nhìn nhận về tác dụng của xuất khẩu đối với sản xuất và chuyểndịch cơ cấu kinh tế
Một là : Xuất khẩu những sản phẩm thừa so với nhu cầu tiêu dùng nội địa.Trong trường hợp nền kinh tế còn lạc hậu và chậm phát triển, sản xuất về cơbản chưa đủ tiêu dùng, nếu chỉ thụ động chờ vào sự thừa ra của sản xuất thìxuất khẩu chỉ bó hẹp trong một phạm vi nhỏ và tăng trưởng chậm
Hai là : Có thị trường thế giới là mục tiêu để tổ chức sản xuất và xuất khẩu,quan điểm này tác động tích cực đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sảnxuất, thể hiện ở các điểm sau
Trang 4 Xuất khẩu tạo điều kiện cho các ngành có cùng cơ hội phát triển chẳnghạn như khi phát triển sản xuất ngành may mặc thì kèm theo phát triển ngànhdệt và ngành nhuộm và ngành công nghiệp phụ trợ cho may mặc…
Xuất khẩu tạo điều kiện mở rộng thị trường sản phẩm góp phần ổnđịnh sản xuất, tạo lợi thế kinh doanh nhờ quy mô
Xuất khẩu tạo điều kiện mở rộng khả năng cung cấp đầu vào mở rộngkhả năng tiêu dùng của mỗi quốc gia Vì ngoại thương cho phép một nước cóthể tiêu dùng tất cả các mặt hàng với số lượng lớn hơn nhiều giới hạn sảnxuất của quốc gia đó
Xuất khẩu còn có vai trò thúc đẩu chuyên môn hoá, tăng cường hiệuquả sản xuất của từng quốc gia, khoa học càng phát triển thì sự phân công laođộng càng sâu sắc
Với đặc điểm quan trọng là tiền tệ được sử dụng làm phương tiện thanh toán,xuất khẩu góp phần quan trọng làm tăng dự trữ ngoại tệ quốc gia Đặc biệtđối với những nước đang phát triển, đồng tiền không có khả năng chuyển đổithì ngoại tệ thu được nhờ xuất khẩu đóng vai trò quan trọng trong việc điềuhành về cung cầu ngoại tệ ổn định sản xuất, qua đó góp phần vào tăng trưởng
và phát triển kinh tế, thực tế đã chứng minh rằng những nước có tốc độ pháttriển kinh tế cao là những nước có nền ngoại thương phát triển mạnh và năngđộng
Xuất khẩu tác động tích cực tới giải quyết công ăn việc làm cải thiện đời sốngnhân dân
Xuất khẩu là công cụ giải quyết nạn thất nghiệp trong nước theoINTERNATIONAL TRADE 1986 – 1990 ở mỹ và các nước công nghiệpphát triển, xuất khẩu tăng lên được 1 tỷ USD thì sẽ tạo nên khoảng 35.000 –40.000 chỗ làm trong nước, còn ở các nước đang phát triển như Việt Nam cóthể tạo ra hơn 50.000 chỗ làm
Xuất khẩu là cơ sở để mở rộng và thúc đẩy sự phát triển các mối quan hệkinh tế đối ngoại
Hoạt động xuất khẩu là một hoạt động chủ yếu cơ bản và là hình thức banđầu của kinh tế đối ngoại, Từ đó nó thúc đẩy các mối quan hệ khác phát triểnnhư du lịch quốc tế, bảo hiểm quốc tế … ngược lại sự phát triển của cácngành này sẽ góp phần thúc đẩy hoạt động xuất khẩu phát triển
Đối với doanh nghiệp
Vươn ra thị trường nước ngoài là xu hướng chung của các quốc gia và cácdoanh nghiệp Đảng và Nhà nước ta đã có chủ trương phát triển kinh tế đối
Trang 5ngoại theo hướng “đa dạng hoá thị trường ngoài nước, khai thác có hiệu quảcác thị trường có hiệp định mậu dịch tự do, thị trường tiềm năng, tăng nhanhxuất khẩu, giảm nhập siêu, phấn đấu cân bằng xuất nhập khẩu Chủ độngtham gia vào mạng phân phối toàn cầu, phát triển hệ thống phân phối các sảnphẩm có lợi thế cạnh tranh ở cả trong và ngoài nước, xây dựng thương hiệu
cho hàng hoá Việt Nam” ( Dự thảo Văn kiện đại hội đảng XI) Hoạt động xuất
khẩu có vai trò to lớn trong hoạt động ở các doanh nghiệp, thể hiện trên cácđiều sau:
Hoạt động xuất khẩu giúp cho doanh nghiệp phát triển là vấn đề sốngcòn đối với doanh nghiệp ngoại thương Mở rộng thị trường, đẩy mạnh sốlượng hàng hoá tiêu thụ trên thị trường quốc tế làm tăng tốc độ quay vòngvốn, có cơ hội mở rộng quan hệ buôn bán kinh doanh với nhiều đối tác nướcngoài trên cơ sở hai bên cùng có lợi
Thông qua hoạt động xuất khẩu, các doanh nghiệp trong nước tham giavào cuộc cạnh tranh trên thị trường thế giới về giá cả và chất lượng, buộcdoanh nghiệp phải hình thành một cơ cấu sản xuất phù hợp với thị trường, từ
đó đề ra các giải pháp nhằm củng cố và nâng cao hiệu quả trong công tácquản trị kinh doanh, đồng thời có ngoại tệ để đầu tư cho quá trình sản xuất cả
về chiều rọng lẫn chiều sâu
Sản xuất hàng xuất khẩu giúp doanh nghiệp thu hút được nhiều laođộng, tạo ra thu nhập ổn định, tạo ngoại tệ nhập khẩu vật phẩm tiêu dùng, đápứng được nhu cầu của nhân dân đồng thời thu được ngoại tệ
Mặt khác thị trường quốc tế là một thị trường rộng lớn, nó chứa đựngnhiều cơ hội cũng như rủi ro, những doanh nghiệp kinh doanh trên thị trườngnếu thành công có thể tăng cao thế lực, uy tín của doanh nghiệp mình trong
cả nước và nước ngoài, thành công doanh nghiệp lại có nhiều cơ hội để táiđầu tư phát triển sản xuất Qua các hợp đồng làm ăn kinh tế, các mối quan hệcủa doanh nghiệp ngày càng được mở rộng, thế lực và uy tín của doanhnghiệp không ngừng được nâng cao
Việt nam là một nước đang phát triển, nền kinh tế còn nghèo nàn, lạchậu Nhưng nhân tố thuộc về tiềm năng như tài nguyên thiên nhiên, lao động
… dồi dào ngược lại những nhân tố như vốn, kỹ thuật, trình độ quản lý lạithiếu Vì vậy chiến lược “ Hướng vào xuất khẩu” về thực chất là giải pháp
“Mở cửa” nền kinh tế để tranh thủ vốn và kỹ thuật của nước ngoài kết hợpvới tiềm năng trong nước là lao động và tài nguyên thiên nhiên nhằm mụcđích đưa nền kinh tế Việt Nam tăng trưởng và phát triển tiến kịp các nước
Trang 6phát triển trong khu vực và thế giới Xuất khẩu hàng hoá để thu ngoại tệ, cònnhằm mục đích nhập khẩu những thiết bị hiện đại, chuyển giao công nghệtiên tiến để thực hiện ba chương trình kinh tế lớn và dần dần cải thiện đờisống vật chất nhân dân.
1.3 Các hình thức xuất khẩu chủ yếu
Hoạt động xuất khẩu là một hoạt động rất phức tạp và chịu nhiều rủi ro, đặcbiệt có rất nhiều hình thức xuất khẩu, mỗi công ty cần lựa chọn cho mìnhhình thức xuất khẩu phù hợp với hàng hoá, tiềm lực của doanh nghiệp mình
để đảm bảo điều kiện của hợp đồng, hai bên cùng có lợi
1.3.1 Xuất khẩu trực tiếp
Xuất khẩu trực tiếp là hình thức xuất khẩu hàng hoá dịch vụ do chính doanhnghiệp sản xuất ra hoặc thu mua từ các đơn vị sản xuất tới khách hàng nướcngoài thông qua các tổ chức của mình
Ưu điểm của xuất khẩu trực tiếp
Giảm bớt chi phí trung gian, làm tăng giá trị gia tăng trên một đơn vịsản phẩm xuất khẩu, góp phần tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp
Có thể liên hệ trực tiếp với thị trường và khách hàng nước ngoài biếtđược nhu cầu của khách hàng và tình hình bán hàng nếu có thể thay đổi sảnphẩm và những điều kiện bán hàng trong trường hợp cần thiết để đáp ứng tốtnhu cầu của thị trường
Nhược điểm của xuất khẩu trực tiếp
Rủi ro trong kinh doanh cao
Yêu cầu nghiệp vụ của cán bộ trong lĩnh vực kinh doanh xuất nhậpkhẩu cao
1.3.2 Xuất khẩu gia công uỷ thác
Xuất khẩu gia công uỷ thác là hình thức kinh doanh trong đó đơn vị ngoạithương đứng ra nhập nguyên vật liệu hoặc bán thành phẩm cho xí nghiệp giacông, sau đó thu hồi thành phẩm để bán cho bên nước ngoài, đơn vị đượchưởng phí uỷ thác theo thoả thuận với các xí nghiệp uỷ thác
Ưu điểm của xuất khẩu gia công uỷ thác
Doanh nghiệp không cần bỏ vốn lớn vào kinh doanh nhưng vẫn thuđược lợi nhuận
Rủi ro ít hơn và việc thanh toán chắc chắn hơn
Học tập được những kinh nghiệm quản lý của người nước ngoài
Nhập được những thiết bị công nghệ cao, tạo vốn để xây dựng cơ sởvật chất ban đầu
Trang 7Nhược điểm của xuất khẩu gia công uỷ thác
Giá gia công rẻ mạt và bị chi phối từ phía nước ngoài
Không được tiếp xúc trực tiếp với thị trường để điều chỉnh sản xuấtkinh doanh cho phù hợp
1.3.3 Phương thức mua bán đối lưu
Là phương thức trong đó người mua đồng thời là người bán và người bánđồng thời là người mua, hai bên trao đổi nhau với tổng tỷ giá hàng tươngđương nhau, việc giao hàng diễn ra đồng thời, mục đích của trao đổi buônbán là để sử dụng ( không phải để bán)
Phương thức mua bán đối lưu góp phần vào thúc đẩy mua bán cho các trườnghợp mà những phương thức mua bán khác không thể vượt qua được, ví dụkhi bị cấm vận, trong trường hợp nhà nước quản chế ngoại hối, khi thị trườngtiền tệ không ổn định, khi không có tiền
Nguyên tắc của buôn bán đối lưu: Cân bằng về tổng trị giá, cơ cấu của hàng
hoá, điều kiện cơ sở giao hàng
Ưu điểm của phương thức mua bán đối lưu :
Tránh được sự lừa đảo, rủi ro về mặt giá cả
Trong những trường hợp đặc biệt có thể có một bên giao trước, bên kiatrả lại sau
Nhược điểm của phương thức mua bán đối lưu:
Tính chất mềm dẻo, linh hoạt của thị trường không thực hiện được
1.3.4 Phương thức mua bán tại hội chợ, triển lãm
Hội chợ là thị trường hoạt động định kỳ, được tổ chức vào một thời gian và ởvào một địa điểm cố định trong một thời gian nhất định, tại đó người bán đemtrưng bày hàng hoá của mình và tiếp xúc với người mua để ký kết hợp đồngmua bán
Triển lãm là việc trưng bày giới thiệu những thành tựu của một nền kinh tếhoặc của một ngành kinh tế, văn hoá, khoa học, kỹ thuật Liên quan chặt chẽđến ngoại thương là cuộc triển lãm công thương nghiệp Tại đó người tatrưng bày các loại hàng hoá nhằm mục đích quảng cáo để mở rộng khả năngtiêu thụ
Ngày nay, triển lãm không chỉ là nơi trưng bày giới thiệu hàng hoá mà còn lànơi được ký kết các hợp đồng kinh tế, mở rộng thị trường, quảng cáo, xúctiến … tại hội chợ và triển lãm đặc biệt là mặt hàng thủ công mỹ nghệ
1.3.5 Giao dịch qua trung gian:
Trang 8Giao dịch qua trung gian là hình thức giao dịch trong đó bên mua hoặc bênbán thông qua người thứ ba đứng ra tiến hành công việc mua bán thay chomình Những công việc này có thể nghiên cứu thị trường, đàm phán ký kếthợp đồng, thực hiện hợp đồng Đây là phương thức giao dịch phổ biến, chiếmkhoảng 50% tổng kim ngạch xuất khẩu của thế giới Thông thường người thứ
ba ở đây là người môi giới hoặc đại lý
Ưu điểm của phương thức giao dịch qua trung gian
Giao dịch qua trung gian tạo điều kiện thuận lợi cho việc kinh doanh hơn như
mở rộng kênh phân phối, mạng lưới kinh doanh, am hiểu thị trường, đặc biệtngười uỷ thác có thể có lợi về cơ sở vật chất của người trung gian, tiết kiệmđược chi phí kinh doanh
Nhược điểm của phương thức giao dịch qua trung gian
Lợi nhuận bị chia sẻ do phải trả thù lao cho người trung gian thêm vào đó làdoanh nghiệp khó kiểm soát được hoạt động của người trung gian, do đó khókiểm soát được hoạt động của thị trường
1.3.6 Giao dịch tái xuất:
Giao dịch tái xuất là phương thức giao dịch trong đó hàng hoá mua về vớimục đích để tái xuất khẩu thu lợi nhuận chứ không phải với mục đích phục
vụ tiêu dùng trong nước Giao dịch này luôn luôn thu hút ba nước, nước xuấtkhẩu, nước tái xuất và nước nhập khẩu Vì vậy, người ta còn gọi là giao dịch
ba bên hay giao dịch tam giác
Ưu điểm giao dịch tái xuất :
Thúc đẩy buôn bán đặc biệt trong một số trường hợp phương thức giao dịchkhác không thể vượt qua được, đó là thúc đẩy buôn bán giữa hai nước không
có mặt hàng phù hợp với yêu cầu của mình, mua bán theo hình thức tái xuất
có thể thu được lãi bằng ngoại tệ mạnh, có thể giúp các nước bị cấm vận, vẫn
có thể tiến hành buôn bán được với nhau
Nhược điểm giao dịch tái xuất
Phương thức này đòi hỏi sự nhạy bén tình hình thị trường và giá cả, sự chínhxác và chặt chẽ trong các hợp đồng mua bán
2 Khái niệm và tính tất yếu của phát triển.
2.1 Khái niệm về phát triển:
Phát triển là sự tăng trưởng về chiều rộng, chiều sâu, hiệu suất và hiệu quảcủa hoạt động nào đó Phát triển là một quá trình diễn biến gồm nhiều thành
tố khác nhau: Kinh tế, kỹ thuật, xã hội, chính trị, văn hoá và không gian Mỗithành tố ấy lại là một quá trình tiến hoá, nhằm biến một xã hội nông nghiệp –
Trang 9“ phụ thuộc” vào thiên nhiên thành một xã hội công nghiệp hiện đại – “ít phụ
thuộc” vào thiên nhiên.(trích Giáo trình: Môi trường và phát triển bền vững – tác giả Nguyễn Đình Hòe).
2.2 Tính tất yếu của phát triển:
Ở phần lớn các khu vực trên thế giới, thực tế đã ngày càng chứng tỏ pháttriển là sự tiến hành đồng thời những cuộc tiến hoá trên 4 bình diện: kinh tế,không gian, xã hội chính trị và văn hoá có nghĩa là:
Phát
triển =
Côngnghiệphoá
+
Thànhthịhoá
tế hoá +
Phươngtây hoá
(Nguồn: Giáo trình Môi trường và phát triển bền vững của tác giả Nguyễn Đình Hòe).
Đây là xu thế phát triển của các nước phương Tây đã được nhiều nước lấylàm hình mẫu cho sự phát triển và có thể có mô hình hoá như sau:
CÁC NỘI DUNG PHÁT TRIỂN
Kinh tế Cơ cấu công nghiệp, kinh tế
chủ yếu dựa vào nôngnghiệp - người sản xuấtnhiều, người mua hạn chế,sản xuất nguyên liệu và traođổi tiền tệ hoá ít
Cơ cấu công nghiệp – 2/3 sốngười lao động làm việc trongkhu vực dịch vụ, người sản xuấthạn chế, nhiều người mua, traođổi hoàn toàn tiền tệ hoá
Không gian Trên 80% dân cư sống dàn
trải trên các vùng trồng trọt(mô hình nông thôn)
Đô thị hoá – trên 80% dân cư tậptrung trong những không gian địa
lý hạn chế (mô hình hệ thống đôthị)
Xã hội chính trị Tổ chức cộng đồng đơn
giản, quy mô nhỏ (làng)
Quốc tế hoá - tổ chức cộng đồngphức tạp, quy mô lớn, thể chếphong phú (dân tộc/thế giới).Văn hóa Gia đình, cộng đồng, dân
tộc có vai trò nổi bật trongcác mối quan hệ xã hội (vănhoá, truyền thống)
Phương tây hoá, chủ nghĩa cánhân, quan hệ xã hội được thựchiện chủ yếu thông qua môi giớicủa đồng tiền (mô hình văn hoáthành thị quốc tế)
Trang 10Có thể nói phát triển là quy luật chung của mọi thời đại, của mọi quốc gia.Phát triển là mục tiêu trung tâm của chính phủ, phát triển là trách nhiệmchính trị của các Quốc gia.
3 Phát triển bền vững: Lý luận và ứng dụng:
3.1 Quan điểm phát triển bền vững trên thế giới:
3.1.1. Quá trình nhận thức và phát triển:
Trong hơn ba thập kỷ qua, nhiều giáo trình, tài liệu và các thoả ước quốc tế
đã đề cập đến chủ đề phát triển bền vững [1], [89] Mặc dù đây là một thuậtngữ vẫn còn có nhiều ý kiến khác nhau nhưng ý nghĩa của nó về cơ bản đãđạt được sự đồng thuận cao và đã luôn được quan tâm, phát triển và hoànthiện
Với việc đưa ra quan điểm biện chứng về mối quan hệ giữa con người và giới
tự nhiên, học thuyết Mác đã là một trong những học thuyết đầu tiên đề cậpđến triết lý phát triển bền vững [1]
Trong những thập kỷ 1960 và 1970, các vấn đề môi trường đã được nhiềunước nhận thức Những người theo chủ nghĩa Malthus mới (neo-Malthusian)
đã tiên đoán về sự bùng nổ dân số ở các nước đang phát triển và sự mở rộngquy mô công nghiệp có thể làm cho Trái đất trở thành hành tinh không thểsinh sống được Các cuốn sách Mùa xuân im lặng (1962), Bùng nổ dân số(1970) và Giới hạn tăng trưởng (1972) đã đưa ra viễn cảnh ngày tận thế củaTrái đất do sự cạn kiệt các nguồn tài nguyên thiên nhiên, ô nhiễm môi trường
và sự bùng nổ dân số Đến Hội nghị của Liên hợp quốc về Môi trường conngười (năm 1972 tại Stockholm, Thuỵ Điển), tầm quan trọng của môi trườngđối với đời sống con người và quá trình phát triển mới chính thức được thừanhận [82], [89], [91], [92]
Sau đó, thuật ngữ phát triển bền vững lần đầu tiên được sử dụng trong cuốn
“Chiến lược bảo tồn thế giới” do Tổ chức Bảo tồn thiên nhiên thế giới(IUCN) xuất bản năm 1980 với mục tiêu tổng quát là đạt được sự phát triểnbền vững thông qua bảo tồn các nguồn tài nguyên sống [89]
Trong Báo cáo “Tương lai chung của chúng ta” (còn được gọi là Báo cáoBrundtland) của Uỷ ban Thế giới về Môi trường và phát triển (WCED) năm
1997 cũng đã đưa ra khái niệm về phát triển bền vững, theo đó, thừa nhận
mối liên kết chặt chẽ giữa môi trường và phát triển.[89] Theo WCED, "phát triển bền vững là sự phát triển vừa đáp ứng được nhu cầu của các thế hệ hiện tại mà không làm tổn hại đến các thế hệ tương lai trong việc đáp ứng các yêu cầu của họ"
Trang 11Chiến lược bảo tồn thế giới nhấn mạnh đến sự thống nhất các giá trị môitrường và bảo tồn trong quá trình phát triển, còn WCED lại tập trung vào sựbền vững về kinh tế và xã hội [89] Nhiều người cho rằng khái niệm về pháttriển bền vững của WCED khó lượng hoá và khó có những quy chế rõ ràng,
cụ thể cho chính ranh giới giữa phát triển bền vững và phát triển không bềnvững [83] Tuy vậy, khái niệm này đã góp phần làm giàu thêm tư liệu vềphát triển bền vững; đây là khái niệm về phát triển bền vững rõ ràng nhất vàđược sử dụng rộng rãi nhất Khái niệm này đã đưa ra khuôn khổ để lồng ghépgiữa các chính sách môi trường và các chiến lược phát triển với tầm nhìn dàihạn
Trong cuốn “Cứu lấy trái đất: Chiến lược vì sự sống bền vững”, khái niệmphát triển bền vững tiếp tục được hoàn thiện Theo đó, các khía cạnh kinh tế,
xã hội và môi trường được lồng ghép với nhau (Hình 1.1a) Đến Hội nghịLiên Hợp quốc về Môi trường và Phát triển (năm 1992 tại Rio De Janeiro,Braxin), khái niệm về phát triển bền vững đã được chấp thuận một cách rộngrãi [89] Tại Hội nghị Thượng đỉnh Trái đất lần này, các nước đã thông quaChương trình Nghị sự 21, một chương trình hành động toàn cầu nhằm giảiquyết các vấn đề môi trường và phát triển Đến đây, nhiều người lập luậnrằng cuộc tranh luận về môi trường và phát triển đã được hội tụ tại Nguyêntắc 4 của Tuyên bố Rio: “để đạt được sự phát triển bền vững, bảo vệ môitrường phải là một phần không thể tách rời của quá trình phát triển và khôngthể tách biệt khỏi quá trình đó” [82]
Uỷ ban Phát triển bền vững của Liên Hợp quốc (CDS) đã bổ sung một khíacạnh thứ tư của phát triển bền vững, đó là thể chế [89] Bốn khía cạnh nàyhiện nay là khuôn khổ báo cáo về thực hiện Chương trình nghị sự 21 Tác giả
đề xuất cách diễn đạt quan điểm này như Hình 1.1b Thể chế của phát triểnbền vững chính là yếu tố chủ quan của con người chi phối cả ba lĩnh vực kinh
tế, xã hội, môi trường Phát triển bền vững không thể thực hiện được nếukhông có thể chế ổn định, phù hợp để thúc đẩy sự phát triển hài hoà trên cả
ba mặt kinh tế, xã hội và môi trường
Trang 12Hình 1.1 Quan điểm về phát triển bền vững
a) Quan điểm gồm 3 cực
được sử dụng rộng rãi hơn1
b) Quan điểm gồm 4 cực được CDS sử dụng
Nguồn: Hình 1.1a được trích từ [89], Hình 1.1b là đề xuất của tác giả
Mười năm sau Hội nghị Thượng đỉnh Trái đất, năm 2002, Hội nghị Thượngđỉnh Thế giới về Phát triển bền vững đã được tổ chức tại Johannesburg, NamPhi Lần đầu tiên phát triển bền vững đã trở thành chủ đề của một diễn đànquan trọng nhất của thế giới Trong xu thế toàn cầu hoá, tại Hội nghị này,quan điểm về phát triển bền vững được chú trọng với nội dung cụ thể là thuhẹp khoảng cách giữa các nước giàu và các nước nghèo, xoá bỏ nghèo đói,nhưng không làm ảnh hưởng đến môi sinh Hội nghị đã thông qua hai vănkiện quan trọng: Tuyên bố chính trị Johannesburg và Kế hoạch thực hiện Haivăn kiện này khẳng định sự cấp thiết phải thực hiện phát triển kinh tế trongtương quan chặt chẽ với bảo vệ môi trường và bảo đảm công bằng xã hội ởtất cả các quốc gia, các khu vực và trên phạm vi toàn cầu [82]
Như vậy, các khái niệm về phát triển bền vững đã thay đổi từ nghĩa hẹp liênquan chủ yếu đến vấn đề môi trường sang nghĩa rộng liên quan đến sự pháttriển bền vững về kinh tế, xã hội, môi trường Các khái niệm đều có ba đặcđiểm chung: (i) điều kiện con người mong muốn: duy trì một xã hội đáp ứngcác nhu cầu chung của họ; (ii) điều kiện hệ sinh thái bền vững: hệ sinh tháiduy trì khả năng hỗ trợ sự sống của con người và bản thân hệ sinh thái; (iii)tính bình đẳng: sự chia sẻ công bằng các lợi ích và các gánh nặng - giữa cácthế hệ hiện tại và thế hệ tương lai và trong bản thân thế hệ hiện tại Một sốhọc giả Việt Nam, trong đó tiêu biểu là Ngô Doãn Vịnh đã đưa ra khái niệmphát triển tới ngưỡng cho phép Theo đó, sự phát triển phải bảo đảm khôngphá hoại môi trường sống, đồng thời phải đem lại sự thịnh vượng về kinh tế
Trang 13cho đại đa số nhân dân, giải quyết hài hoà các vấn đề xã hội Mặc dù, chưa cómột khái niệm "chuẩn xác", nhưng các học giả này đã cảnh báo về sự khônglường trước được những khiếm khuyết của sự phát triển bền vững và cầncảnh giác với thực tiễn Vì vậy, việc làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn
về phát triển bền vững vận dụng vào điều kiện cụ thể của Việt Nam để đưanền kinh tế nước ta tới giàu có, thịnh vượng có ý nghĩa cực kỳ quan trọng.[83]
Tóm lại "phát triển bền vững là sự phát triển vừa đáp ứng được nhu cầu của các thế hệ hiện tại mà không làm tổn hại đến các thế hệ tương lai trong việc đáp ứng các yêu cầu của họ"
Phát triển xuất khẩu theo hướng phát triển bền vững là sự gia tăng hoạt độngxuất khẩu về chiều rộng, hoặc chiều sâu, hoặc hiệu suất và hiệu quả của hoạtđộng xuất khẩu mà đáp ứng được nhu cầu của các thế hệ hiện tại mà khônglàm tổn hại đến các thế hệ tương lai trong việc đáp ứng nhu cầu của họ
Các chiến lược phát triển truyền thống chỉ nhấn mạnh phát triển kinh tếmột cách phiến diện, xem nhẹ phát triển hài hoà giữa kinh tế, xã hội và môitrường Đến nay, chúng ta có thể khẳng định rằng tư tưởng phát triển bềnvững phù hợp với quan hệ nội tại và yêu cầu của kinh tế, xã hội, môi trường
và hệ thống sinh thái, là bước tiến có tính cách mạng về quan niệm phát triển
và quan niệm văn minh của loài người [48, tr 475]
Phát triển bền vững bao hàm các quá trình thay đổi về kinh tế, xã hội,môi trường Đến nay, khái niệm này vẫn còn tiếp tục được bàn luận, sự diễngiải về nó vẫn còn có sự khác nhau Một số học giả vẫn chưa thống nhất vớikhái niệm của WCED Tuy nhiên, vấn đề quan trọng là phát triển bền vững
đã được hiểu, được thực hiện như thế nào trong quá trình lập chính sách vàlàm thế nào để biến phát triển bền vững trở thành hành động dưới ánh sángcủa kinh nghiệm thực tiễn [89] Bản chất của phát triển bền vững theo bakhía cạnh kinh tế, xã hội và môi trường có thể luận giải như sau [82]:
(i) Phát triển bền vững về kinh tế đòi hỏi phải theo đuổi con đường
phát triển tạo ra sự tăng thu nhập thực sự, gia tăng sản xuất xã hội, xoá bỏ
Trang 14nghèo đói, bảo đảm nhịp độ tăng trưởng nhanh, ổn định, hiệu quả Mức độbền vững về kinh tế bị chi phối bởi tính hữu ích, chi phí đầu vào, chi phí khaithác, chế biến và nhu cầu đối với sản phẩm Để bảo đảm sự tăng trưởng kinh
tế nhanh, khai thác tài nguyên thiên nhiên với cường độ lớn hơn vẫn làphương thức mà nhiều quốc gia lựa chọn Tuy nhiên, nếu quá phụ thuộc vàotài nguyên thiên nhiên thì dễ rơi vào khủng hoảng khi tài nguyên bị cạn kiệt
và có những tài nguyên thiên nhiên không thể tái tạo được Việc khai thác tàinguyên như vậy sẽ vượt quá sức chịu đựng của các hệ sinh thái, gây ô nhiễm,suy thoái môi trường và tạo ra những nguy cơ tiềm ẩn mà con người có thểcòn chưa biết đến, hoặc chưa lường hết được Vì vậy, đây không phải làphương thức phát triển bền vững Những vấn đề khác như vay nợ, đầu tư kémhiệu quả, thất thoát các nguồn vốn, cũng sẽ ảnh hưởng đến mức độ bềnvững về kinh tế
(ii) Phát triển bền vững về xã hội gắn chặt và có quan hệ biện chứng
với phát triển bền vững về kinh tế, là sự phát triển kết hợp giữa tăng trưởngkinh tế với ổn định xã hội, không có xung đột, xáo trộn, rối loạn; huy độngtối đa, hiệu quả các nguồn lực cho quá trình phát triển; bảo đảm giải quyết tốtcác vấn đề về việc làm, giáo dục, y tế, công bằng về thu nhập, phúc lợi xã hộigiữa các tầng lớp dân cư, giữa các vùng lãnh thổ; xây dựng, bảo vệ và pháthuy những chuẩn mực của xã hội hiện tại trên cơ sở tôn giáo, truyền thống,phong tục, tập quán, bản sắc dân tộc, đạo đức, luật pháp
(iii) Phát triển bền vững về môi trường có mối quan hệ chặt chẽ với
phát triển bền vững về kinh tế và về xã hội, phản ánh mối quan hệ giữa conngười và giới tự nhiên Mọi quá trình phát triển xét đến cùng là việc sử dụngnguồn lực con người để khai thác tài nguyên thiên nhiên nhằm thoả mãn nhucầu của con người Vì vậy, việc khai thác, sử dụng tài nguyên thiên nhiên vàmôi trường phải bảo đảm sự bền vững Bền vững về môi trường cũng cónghĩa là tận dụng, tái tạo các nguồn tài nguyên, năng lượng, phòng ngừa vàgiảm thiểu ô nhiễm môi trường, bảo vệ đa dạng sinh học, bảo đảm cân bằngsinh thái Nói cách khác, phát triển bền vững về môi trường là sự bảo đảmcho môi trường sống luôn duy trì được ba chức năng cơ bản của nó: là khônggian sống của con người; là nơi cung cấp nguồn lực cho sự tồn tại, phát triểncủa con người và xã hội; là nơi chứa đựng, tiêu huỷ các chất thải Chỉ mộttrong ba chức năng này bị tổn thương hoặc mất cân bằng là nguy cơ pháttriển bền vững về môi trường sẽ bị đe doạ
Trang 15Cuộc cách mạng tri thức cũng liên quan trực tiếp đến công cuộc pháttriển bền vững của các nước Vì vậy, các nước đang phát triển muốn cải thiệntriển vọng kinh tế hiện nay của mình cần nhắm đầu tư không chỉ cho vốn vậtchất mà còn phải nhắm vào nền tảng tri thức của mình, tức là đầu tư vào khảnăng sáng tạo, hấp thu, thích ứng, phổ biến và sử dụng những tri thức mớicho phát triển kinh tế - xã hội Gìn giữ nguồn vốn tự nhiên, xây dựng nguồnvốn con người sẽ thúc đẩy quá trình phát triển của mỗi vùng, mỗi quốc gia vàtoàn cầu trở nên bền vững hơn xét cả về các khía cạnh kinh tế, xã hội và môitrường [52].
Từ sau Hội nghị Thượng đỉnh Trái đất năm 1992 đến nay đã có 113nước trên thế giới xây dựng và thực hiện Chương trình Nghị sự 21 ở cấpquốc gia và 6.416 Chương trình Nghị sự 21 ở cấp địa phương, đồng thời tạicác nước này đều đã thành lập các cơ quan độc lập để triển khai thực hiện cácchương trình này Các nước trong khu vực như Trung Quốc, Thái Lan,Singapore, Malaysia đều đã xây dựng và thực hiện Chương trình Nghị sự
21 [66] Trong các chính sách phát triển bền vững, các nước phát triểnthường đặt trọng tâm vào vấn đề môi trường, còn các nước đang phát triểnthường nhấn mạnh đến vấn đề phát triển kinh tế Đến nay, kết quả thực hiệncác chính sách phát triển bền vững ở các nước, nhất là các nước đang pháttriển còn hết sức hạn chế; những thành công thường chỉ dừng lại ở việc nângcao nhận thức, tăng cường sự đối thoại giữa các nhóm đối tượng trong xã hội,lồng ghép vấn đề môi trường và phát triển bền vững trong quá trình xây dựngcác chính sách phát triển, triển khai các dự án thí điểm, nâng cao năng lực thểchế [92]
3.2.2 Quan điểm phát triển bền vững ở Việt Nam
3.2.2.1 Quá trình nhận thức và phát triển
Với việc thông qua Kế hoạch quốc gia về môi trường và phát triển bền vững
1991 - 2000, nước ta đã sớm hội nhập vào con đường phát triển bền vững củathế giới Ngay sau Tuyên bố Rio, Quốc hội đã ban hành Luật Bảo vệ môitrường năm 1993 Sau đó, hệ thống chính sách, pháp luật và hệ thống cơ quanquản lý nhà nước về bảo vệ môi trường đã được hình thành Tháng 6 năm
1998, Bộ Chính trị đã ban hành Chỉ thị số 36-CT/TW về tăng cường công tácbảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước;tháng 11 năm 2004 ban hành Nghị quyết số 41-NQ/TW về bảo vệ môi trườngtrong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Nghị quyếtĐại hội Đảng lần thứ IX, Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm (2001
Trang 16- 2010), Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm (2001 - 2005) đã khẳngđịnh “phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững, tăng trưởng kinh tế đi đôi vớithực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường" Đặc biệt, lần đầutiên vấn đề phát triển bền vững đã được đưa thành chủ đề của Đại hội đạibiểu toàn quốc lần thứ X của Đảng Nghị quyết Đại hội lần thứ X cũng đãnhấn mạnh "việc đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế" và "nâng cao hiệu quả
và tính bền vững của sự phát triển" [2], [28], [29]
Để cụ thể hoá đường lối và quan điểm của Đảng về bảo vệ môi trường vàphát triển bền vững, Quốc hội đã thông qua Luật Bảo vệ môi trường (sửađổi); Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Định hướng chiến lược phát triển bềnvững ở Việt Nam (Chương trình Nghị sự 21 của Việt Nam), Chiến lược Bảo
vệ môi trường quốc gia đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020, Chiếnlược toàn diện về tăng trưởng và xoá đói giảm nghèo Trong Kế hoạch pháttriển kinh tế - xã hội 5 năm (2006 - 2010) đã đưa ra ba nhóm chỉ tiêu về kinh
tế, về xã hội và về môi trường, phản ánh đầy đủ ba mặt của phát triển bềnvững Từ năm 2007, Chính phủ cũng đã quyết định dành tối thiểu 1% tổngchi ngân sách cho sự nghiệp môi trường Trong mục lục thống kê hàng năm,ngoài các lĩnh vực kinh tế, xã hội, hiện nay đã bổ sung thêm bộ các chỉ số vềmôi trường 19 nhóm lĩnh vực cần ưu tiên nhằm phát triển bền vững được đặt
ra trong Chương trình Nghị sự 21 của Việt Nam, có 5 nhóm lĩnh vực kinh tế,
5 nhóm lĩnh vực xã hội và có tới 9 nhóm lĩnh vực tài nguyên thiên nhiên vàmôi trường Những chính sách, pháp luật nêu trên là những tiền đề quantrọng, là kim chỉ nam để thực hiện phát triển bền vững nước ta trong nhữngthập kỷ đầu của thế kỷ 21 [20], [65], [66]
Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về phát triển bền vững đã được kết tinh
và phản ánh đầy đủ nhất trong Chương trình Nghị sự 21 của Việt Nam [66]:
“Mục tiêu tổng quát của phát triển bền vững là đạt được sự đầy đủ về vật chất, sự giàu có về tinh thần và văn hoá, sự bình đẳng của các công dân và
sự đồng thuận của xã hội, sự hài hoà giữa con người và tự nhiên; phát triển phải kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hoà được ba mặt là phát triển kinh tế, phát triển xã hội và bảo vệ môi trường”.
Khái niệm trên đây đã đưa ra khung chiến lược làm cơ sở pháp lý cho các tổchức, cá nhân có liên quan triển khai thực hiện và phối hợp hành động nhằmbảo đảm phát triển bền vững đất nước trong thế kỷ 21
3.2.2.2 Những thách thức đối với sự phát triển bền vững [10], [55]
(i) Về kinh tế
Trang 17Bản thân nền kinh tế còn kém phát triển nên những yêu cầu của phát triển bềnvững vẫn chưa có đủ điều kiện vật chất để thực hiện Đầu tư được tập trungchủ yếu cho những công trình mang lại lợi ích trực tiếp và còn lãng phí, hiệuquả thấp, chưa quan tâm cho tái tạo các nguồn tài nguyên và bảo vệ môitrường
Sự tăng trưởng kinh tế Việt Nam hiện nay phụ thuộc vào nguồn vốn vay bênngoài Số nợ của Việt Nam so với các nước khác chưa thuộc loại cao, chưatới giới hạn nguy hiểm, song nó đang tăng lên nhanh chóng và sẽ có nguy cơ
đe doạ sự bền vững của sự phát triển trong tương lai
Sự tăng trưởng kinh tế chủ yếu theo chiều rộng, tức là mở rộng thêm sảnlượng sản phẩm thô, dẫn đến việc tiêu tốn tài nguyên, ảnh hưởng tới môitrường Với cơ cấu sản xuất hiện nay, để đạt được một giá trị thu nhập như cũ
từ thị trường thế giới, Việt Nam đã phải bán đi một số lượng hàng hoá hiệnvật nhiều hơn trước
Các mục tiêu phát triển của các ngành còn mâu thuẫn nhau và chưa đượcphối hợp một cách thoả đáng Các cấp chính quyền trung ương và địa phươngchưa quản lý có hiệu lực, hiệu quả việc sử dụng tài nguyên, bảo vệ môitrường
(ii) Về xã hội
Tỷ lệ tăng dân số hiện nay vẫn ở mức cao; nạn di cư tự do đi kèm với việcchặt phá rừng làm nương rẫy còn khá phổ biến; nghèo đói ở vùng sâu, vùng
xa chưa được giải quyết triệt để; khoảng cách giàu nghèo, phân tầng xã hội
có xu hướng gia tăng nhanh chóng
Chất lượng nguồn nhân lực thấp Số lượng và chất lượng lao động kỹ thuật(về cơ cấu, kỹ năng, trình độ) chưa đáp ứng được yêu cầu của thị trường laođộng Tỷ lệ thất nghiệp ở đô thị, thiếu việc làm ở nông thôn còn cao
Mô hình tiêu dùng của dân cư tiêu tốn nhiều vật liệu, năng lượng và thải ranhiều rác, chất thải độc hại, ngày càng ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường tựnhiên
Một số giá trị văn hoá, đạo đức xã hội truyền thống tốt đẹp đang bị biến dạng;các tệ nạn xã hội như mại dâm, ma tuý, tham nhũng còn chưa được ngănchặn, gây lãng phí các nguồn lực, tạo ra nguy cơ mất ổn định xã hội và pháhoại sự cân bằng sinh thái
(iii) Về môi trường
Hiện tượng khai thác bừa bãi tài nguyên thiên nhiên gây nên suy thoái và làmmất cân bằng các hệ sinh thái đang diễn ra phổ biến; một số ngành và cơ sở
Trang 18công nghiệp gây ra ô nhiễm môi trường nghiêm trọng; quá trình đô thị hoátăng lên nhanh chóng kéo theo sự khai thác quá mức nguồn nước ngầm, ônhiễm nguồn nước mặt, không khí và ứ đọng chất thải rắn Các khu vực giàu
đa dạng sinh học, rừng, môi trường biển và ven biển chưa được bảo vệ mộtcách thoả đáng, đang bị khai thác cạn kiệt; chưa kể đến hậu quả chiến tranhảnh hưởng lên môi trường nước ta
Xu thế giảm chất lượng môi trường tiếp tục gia tăng, mặc dù nền công nghiệpcòn chưa phát triển cao; các hoạt động bảo vệ môi trường đã có những bướctiến bộ đáng kể nhưng chưa đáp ứng được yêu cầu của phát triển bền vững.Còn thiếu một phương thức quản lý tổng hợp môi trường ở cấp vùng và liênngành; vẫn còn sự chồng chéo chức năng, nhiệm vụ giữa các cấp, các ngành.Một số quy hoạch vùng đã được xây dựng, nhưng chưa có cơ chế bắt buộccác địa phương và các ngành tham khảo khi xây dựng quy hoạch của mình vàthực hiện
Nhận thức về môi trường, phát triển bền vững còn thấp cả ở các cơ quan raquyết định, các nhà quản lý, các doanh nghiệp và cộng đồng dân cư Cácnhóm cộng đồng chưa được cung cấp đầy đủ thông tin và chưa được huyđộng mạnh vào sự nghiệp bảo vệ môi trường
(iv) Về thể chế
Quan điểm về việc xây dựng và hoàn thiện thể chế thị trường định hướng xãhội chủ nghĩa, trong đó ở một chừng mực nào đó, bao gồm việc xây dựng vàhoàn thiện thể chế phát triển bền vững, đã được khẳng định kể từ khi côngcuộc đổi mới toàn diện và triệt để nền kinh tế với dấu mốc quyết định là Đạihội VI của Đảng (năm 1986) và được tái khẳng định, tiếp tục hoàn thiện quacác kỳ Đại hội VII, VIII, IX và X của Đảng Tuy nhiên, quá trình này khôngnhững bị chi phối do sự chuyển đổi nền kinh tế chưa có tiền lệ trong lịch sử,hay những yếu tố mang tính thời đại, mà còn do những đặc điểm đặc thùkhông thể lẫn giữa Việt Nam với các nước khác về phương diện lịch sử, vănhoá, chính trị và xã hội
Các chính sách phát triển kinh tế - xã hội còn thiên về tăng trưởng nhanh kinh
tế và ổn định xã hội, mà chưa quan tâm đầy đủ đến tính bền vững khi khaithác, sử dụng và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, môi trường
Các chính sách môi trường thiên về phục hồi những cái đã có và bảo tồnnhững gì đang có, mà chưa vạch ra những động thái phát triển đáp ứng nhữngnhu cầu tương lai của xã hội
Trang 19Quá trình lập quy hoạch, kế hoạch kinh tế - xã hội và quá trình xây dựngchính sách môi trường còn chưa được lồng ghép, kết hợp chặt chẽ; chưa có
cơ quan đủ thẩm quyền chịu trách nhiệm về lập quy hoạch, giám sát và giảiquyết các vấn đề về phát triển bền vững; cơ chế quản lý, giám sát sự pháttriển bền vững chưa được thiết lập rõ ràng
1.2.2.3 Các nguyên tắc của phát triển bền vững:
Chương trình môi trường của Liên hợp quốc (UNEP) trong tác phẩm “ Hãycứu lấy trái đất - chiến lược cho một cuộc số bền vững”, 1992 đã nêu 9nguyên tắc của một xã hội bền vững Tuy nhiên, các nguyên tắc này thực sựkhó áp dụng trong thực tế của một thế giới đầy các biến động về kinh tế,chính trị, văn hoá Thực tế đòi hỏi cần thiết lập một hệ thống nguyên tắc khác
có tính khả thi và sát thực hơn Luchens (1995) đã lựa chọn trong số cácnguyên tắc của Tuyên bố Rio về môi trường và phát triển để xây dựng một hệthống bảy nguyên tắc mới của phát triển bền vững Những nguyên tắc đó là:
Nguyên tắc về sự uỷ thác của nhân dân:
Nguyên tắc này yêu cầu chính quyền phải hành động để ngăn ngừa các thiệthại môi trường xảy ra bất cứ ở đâu, bất kể có hoặc chưa có các điều luật quyđịnh về cách ứng xử các thiệt hại đó
Nguyên tắc phòng ngừa:
Ở những nơi có thể xảy ra các sự cố môi trường nghiêm trọng và không đảongược được, thì không thể lấy lý do là chưa có những hiểu biết chắc chắn màtrì hoãn các biện pháp ngăn ngừa sự suy thoái môi trường
Nguyên tắc bình đẳng giữa các thế hệ:
Đây là nguyên tắc cốt lõi của phát triển bền vững, yêu cầu rõ ràng là việcthoả mãn nhu cầu của thế hệ hiện nay không được làm phương hại đến cácthế hệ tương lai thỏa mãn nhu cầu của họ Nguyên tắc này phụ thuộc vào việc
áp dụng tổng hợp và có hiệu quả của các nguyên tắc khác của phát triển bềnvững
Nguyên tắc bình đẳng trong nội bộ thế hệ:
Con người trong cùng thế hệ hiện nay có quyền được hưởng lợi một cáchbình đẳng trong khai thác các nguồn tài nguyên, bình đẳng chung hưởng mộtmôi trường trong lành và sạch sẽ Nguyên tắc này được áp dụng để xử lý mốiquan hệ giữa các nhóm người trong cùng một quốc gia và giữa các quốc gia.Nguyên tắc này ngày càng được sử dụng nhiều hơn trong đối thoại quốc tế
Nguyên tắc phân quyền và uỷ quyền:
Trang 20Các quyết định cần phải được soạn thảo bởi chính các cộng đồng bị tác động
hoặc bởi các tổ chức thay mặt họ và gần gũi nhất với họ Các quyết định cần
ở mức quốc gia hơn là mức quốc tế, mức địa phương hơn là mức quốc gia
Nguyên tắc gây ô nhiễm phải trả tiền:
Người gây ô nhiễm phải chịu mọi chi phí ngăn ngừa và kiểm soát ô nhiễm,
phải nội bộ hoá tất cả các chi phí môi trường này sinh từ các hoạt động của
họ, sao cho các chi phí này đựoc thể hiện đầy đủ trong giá cả của hàng hoá và
dịch vụ mà họ cung ứng
Nguyên tắc người sử dụng phải trả tiền:
Khi sử dụng hàng hoá hay dịch vụ, người sử dụng phải trang trải đủ giá tài
nguyên cũng như các chi phí môi trường liên quan tới việc chiết tách, chế
biến và sử dụng tài nguyên
1.2.2.4 Vai trò của khoa học công nghệ trong phát triển bền vững:
Thực tế cho thấy, khoa học công nghệ ngày càng có vai trò quan trọng và
không thể thiếu trong quá trình phát triển
Công nghệ có thể tạo ra các nguồn tài nguyên mới, năng lượng mới:
Con người ngày nay đang tiếp tục phát hiện ra những nguồn tài nguyên cần
thiết cho họ Và công nghệ vẫn có thể giúp họ tạo ra tài nguyên và năng
lượng mới Theo cách này, có lẽ chúng ta bỏ qua được khái niệm về một
hành tinh chỉ có hữu hạn các nguồn tài nguyên khai thác được
Công nghệ giúp con người khai thác được nguồn tài nguyên truyền thống rất
khó tiếp cận, góp phần làm tăng số lượng, nguồn nguyên liệu thô
Công nghệ làm giảm lượng nguyên liệu và năng lượng tiêu dùng trong sản
xuất:
Công nghệ đã giúp người sản xuất tiết kiệm được nguyên liệu đầu vào, năng
lượng tiêu dùng, nhân công Từ đó giảm giá thành sản phẩm, chất lượng sản
phẩm được đảm bảo theo đúng tiêu chuẩn chất lượng đã định
2 Phát triển xuất khẩu trên quan điểm phát triển bền vững:
Phát triển xuất khẩu theo hướng phát triển bền vững là sự gia tăng hoạt độngxuất khẩu về chiều rộng, hoặc chiều sâu, hoặc hiệu suất và hiệu quả của hoạt độngxuất khẩu mà đáp ứng được nhu cầu của các thế hệ hiện tại mà không làm tổn hạiđến các thế hệ tương lai trong việc đáp ứng nhu cầu của họ
Trong xu thế toàn cầu hóa kinh tế đang diễn ra mạnh mẽ hiện nay, phát triển xuấtkhẩu được coi là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế các nước Đối với Việt Nam,việc đẩy mạnh xuất khẩu xuất phát từ nhiều lý do, như: khuyến khích tăng đầu tư
và góp phần nâng cao hiệu quả đầu tư; tăng năng suất lao động quốc gia; thúc đẩy
Trang 21
cải cách thể chế, cải cách hành chính quốc gia; giảm nhập siêu, cải thiện cán cânthanh toán và ổn định vĩ mô nền kinh tế, nhất là trong giai đoạn hiện nay
Phát triển xuất khẩu sẽ tác động đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo ra nhiều việclàm mới và góp phần cải thiện thu nhập cho người lao động Mặt khác, phát triểnxuất khẩu sẽ tạo nguồn thu ngoại tệ lớn hơn để đáp ứng nhu cầu ngoại tệ cho muasắm máy móc thiết bị, nhập khẩu các sản phẩm trung gian phục vụ nhu cầu côngnghiệp hóa, hiện đại hóa, đồng thời là nguồn ngoại tệ để trả nợ nước ngoài, giúpcân bằng và lành mạnh cán cân thanh toán quốc tế, ổn định tình hình kinh tế, tạomôi trường thuận lợi cho phát triển
Như vậy, có thể nói phát triển xuất khẩu là phát triển kim ngạch xuất khẩu, phát triển thị trường, mặt hàng, tăng trưởng lợi nhuận, hay hiệu quả của hoạt động xuất khẩu theo hướng vừa thỏa mãn và đáp ứng lợi ích của các thế hệ hiện tại và tương lai đồng thời đáp ứng được các yêu cầu kinh tế, xã hội và môi trường.
Ngoài ra, xuất khẩu còn là thước đo về độ mở của nền kinh tế Việt Nam, là chỉ sốphản ánh khả năng cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam và mức độ hội nhập củaViệt Nam vào nền kinh tế thế giới và khu vực
Nói đến chất lượng và hiệu quả xuất khẩu thì không chỉ đơn thuần là vấn đề tăngtrưởng xuất khẩu mà điều cơ bản là sự tăng trưởng đó phải bảo đảm nhịp độ cao vàduy trì trong thời gian lâu dài Khi nói tăng trưởng xuất khẩu là chúng ta mới chỉ
đề cập tới mặt lượng của hoạt động xuất khẩu, còn khi dùng thuật ngữ "phát triểnxuất khẩu" là chúng ta đã quan tâm đầy đủ tới cả mặt lượng và mặt chất của vấn đềxuất khẩu Nói cách khác, chất lượng và hiệu quả hoạt động xuất khẩu chính là cốtlõi của phát triển xuất khẩu bền vững
Có rất nhiều tiêu chí phản ánh chất lượng và hiệu quả hoạt động xuất khẩu, có 10tiêu chí chủ yếu có thể sử dụng trong phân tích, nghiên cứu chất lượng và hiệu quảhoạt động xuất khẩu của Việt Nam: quy mô và tốc độ tăng trưởng xuất khẩu; kimngạch xuất khẩu theo đầu người; xuất khẩu trong tương quan với nhập khẩu; xuấtkhẩu trong tương quan với GDP; cơ cấu xuất khẩu và sự chuyển dịch cơ cấu xuấtkhẩu theo mặt hàng/thị trường/doanh nghiệp; mức độ hiện đại của phương thứcxuất khẩu; hàm lượng giá trị gia tăng của hoạt động xuất khẩu; vấn đề sử dụngnguồn lực trong xuất khẩu; xuất khẩu với các vấn đề xã hội như tạo việc làm, xóađói, giảm nghèo, duy trì bản sắc văn hóa dân tộc; xuất khẩu với vấn đề bảo vệ môitrường sinh thái
Trang 22CHƯƠNG II: HIỆN TRẠNG PHÁT TRIỂN HÀNG DỆT MAY VIỆT NAM SANG THỊ TRƯỜNG HOA KỲ THEO QUAN ĐIỂM PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG.
1 Khái quát ba lĩnh vực trong ngành dệt may:
Ngành công nghiệp dệt – may được phân chia thành 3 lĩnh vực: dệt, nhuộm
và may
1.1 Lĩnh vực dệt sợi (sợi tự nhiên, sợi hoá học):
Hoạt động cụ thể của lĩnh vực này là sản xuất sợi và chỉ Sợi có thể được chialàm sợi tự nhiên và sợi hoá học Sợi tự nhiên gồm: sợi thực vật, sợi động vật,sợi khoáng vật, sợi tổng hợp, sợi vô cơ Sản xuất sợi tự nhiên có liên quanmật thiết với lĩnh vực nông nghiệp, khoáng sản Sản xuất sợi hoá học liênquan nhiều tới lĩnh vực công nghiệp hoá học
Sợi tuỳ theo độ dài có thể chia thành sợi loại ngắn và sợi loại dài Sợi ngắn làsợi tự nhiên như bông, lông cừu, đay Nhưng lụa là một loại sợi tự nhiênđược xếp vào loại sợi dài (trừ tơ lụa đã dệt) Trái với sợi ngắn, loại sợi cónguyên liệu dài được gọi là sợi dài Đặc trưng của sợi dài là không gồm trongcông đoạn làm chỉ Rất nhiều sợi nhân tạo là sợi tổng hợp như là polyeste,nilon hay sợi tái sinh như là leon, axetat Nhưng cũng có khi người ta cắtngắn các sợi dài để làm sợi ngắn Trong gia công dệt có nhiều công đoạnquan trọng không chỉ ảnh hưởng đến chất lượng của chỉ mà còn quyết địnhđến khả năng cung cấp Trong ngành dệt may, đây là lĩnh vực cần được ưutiên tập trung vốn, đặc biệt lĩnh vực sản xuất sợi dài Lĩnh vực này có tínhquy mô nên đòi hỏi đầu tư cho thiết bị lớn hơn các lĩnh vực khác
1.2 Lĩnh vực nhuộm: Dệt vải, dệt kim gồm cả công đoạn nhuộm, hiệu chỉnh.
So với lĩnh vực dệt sợi thì lĩnh vực này tốn nhiều nhân công hơn và có đặctrưng về kỹ thuật và sản xuất đa dạng nhất Trong sản xuất sợi tổng hợp đểchế biến vải, lĩnh vực này cũng đòi hỏi đầu tư nhiều vốn để hoạt động mangtính quy mô về kinh tế Nhưng đối với sợi tự nhiên như bông thì không liênquan nhiều đến quy mô, nhất là sản xuất dệt kim thì với quy mô nhỏ cũng cóthể sản xuất được Lĩnh vực nhuộm ngoài đặc điểm tập trung nhiều nhân lực
so với lĩnh vực dệt còn có đặc trưng về tổ chức sản xuất mang tính chuyênmôn hoá Việc chuyên môn hoá được thực hiện qua các công đoạn nhuộm,hiệu chỉnh, gia công in, hoàn thiện sản phẩm
1.3 Lĩnh vực may:
Trang 23Lĩnh vực may yêu cầu nhân lực ít nhất và tính quy mô về kinh tế thấp nhấtnên thu hút nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ nhất Sản xuất trong lĩnh vực nàyđòi hỏi vốn ban đầu nhỏ, không bị ứ đọng nên được đầu tư nhiều ở các nướcđang phát triển Nội dung hoạt động chủ yếu của lĩnh vực này là sản xuấthàng dệt may với công đoạn: cắt vải, may, hoàn thiên sản phẩm Quá trìnhsản xuất và phân phối hàng dệt may có thể được khái quát hoá như sau:
Trang 242 Lịch sử phát triển của ngành dệt may Việt Nam.
Ngành dệt – may là một trong những ngành công nghiệp có lịch sử phát triểnlâu đời ở Việt Nam Đặc biệt, ngành dệt sợi có từ lâu và phát triển mạnhtrong thời kỳ thực dân Pháp đô hộ Trước khi thực dân Pháp xâm lược Đông
Thiết kế sản phẩm
Tơ sợi tự
nhiên
Người bán buôn, bán lẻ
May
Nhuộm màu,
in hoa văn
Tơ sợi tổng hợp.
Dệt
Phụ liệu
Ngành may Ngành dệt
Ngành nhuộm
Trang 25Dương đã tồn tại nhiều nhà sản xuất vải tại Việt Nam sử dụng sợi nhập khẩu.Thực dân Pháp đã tăng thuế nhập khẩu sợi làm cho sản xuất vải tại Việt Namgặp nhiều khó khăn Nhưng trong thời kỳ này nhiều nhà máy dệt hiện đại tạiViệt Nam do thực dân Pháp đầu tư đã được thành lập.Năm 1889, nhà máy dệtđầu tiên tại Việt Nam do thực dân Pháp xây dựng tại Nam Định, tiếp theo đó
là năm 1894 tại Hà Nội và sau đó tại Hải Phòng Năm 1912, 3 nhà máy đượchợp nhất thành “ công ty dệt vải Đông kinh” Chính phủ thực dân pháp thuđược nhiều lợi nhuận từ kinh doanh độc quyền ngành này
Sau đại chiến thế giới thứ 2, ngành dệt Việt Nam có những bước phát triểnđáng kể Vào thời gian đó, các doanh nghiệp dệt ở Miền Bắc nhập máy mócthiết bị dệt sợi từ Trung Quốc, Liên xô cũ và các nước Đông Âu, còn cácdoanh nghiệp ở Miền Nam nhập từ các nước Phương Tây để đẩy mạnh sảnxuất dệt may Năm 1975, sau khi Việt Nam thống nhất, các doanh nghiệp dệtmay có quy mô lớn của Miền Nam được quốc hữu hoá và được đưa lên hệthống kinh tế bao cấ Uỷ ban kế hoạch nhà nước giao chỉ tiêu sản xuất chocác doanh nghiệp dệt, nhuộm, may nên sản xuất, lưu thông hoàn toàn phụthuộc vào kế hoạch
Trong nền kinh tế kế hoạch, mối quan hệ giữa các doanh nghiệp dệt, nhuộm
và may rất mật thiết Các doanh nghiệp may tiến hành sản xuất theo thiết kế,
số lượng và giá đã được Uỷ ban kế hoạch nhà nước quy định Các doanhnghiệp này thường xuyên nắm bắt những thông tin như loại vải nào thì có thểsản xuất ở doanh nghiệp nào và giữ mối quan hệ mật thiết với các doanhnghiệp nhuộm Đồng thời các doanh nghiệp nhuộm cũng giữ mối quan hệmật thiết với các doanh nghiệp dệt Xét trên toàn ngành, mối quan hệ trựctiếp lâu dài giữa các doanh nghiệp và sự chia sẻ thông tin giữa các doanhnghiệp đã được duy trì khá tốt Tuy nhiên, mối quan hệ khăng khít cùng chia
sẻ thông tin giữa các doanh nghiệp khác ngành đã có sự thay đổi lớn từ saukhi Hiệp định thương mại gia công uỷ thác được ký kết giữa chính phủ Liên
xô và chính phủ Việt Nam vào năm 1986 Theo Hiệp định này, chính phủViệt Nam nhập nguyên liệu tơ sợi từ Liên Xô để tiến hành sản xuất hàng maymặc tại các doanh nghiệp nhà nước, sau đó xuất khẩu trở lại Liên Xô Hiệpđịnh này đã làm giảm hẳn nhu cầu đối với sản phẩm của các doanh nghiệpnhuộm và dệt trong nước và mối quan hệ mật thiết giữa các doanh nghiệpcũng bị rạn nứt Việc các doanh nghiệp dệt, nhuộm lớn đầu tư vào ngành may
đã đẩy nhanh hơn sự rạn nứt này Các nhà sản xuất dệt và nhuộm cũng hoạtđộng trên cả lĩnh vực may và để tồn tại họ cần nhận được những đơn đặt hàng
Trang 26gia công uỷ thác của Liên Xô Các doanh nghiệp trong lĩnh vực dệt, nhuộm,vải từ mối quan hệ hợp tác đã trở thành đối thủ cạnh tranh của nhau Người tacho rằng đó là nguyên nhân lịch sử chủ yếu khiến cho sự phân ngành trongngành dệt – may Việt Nam chưa phát triển.
Từ sau khi thực hiện chính sách đổi mới, đặc biệt bước vào thập kỷ 90 củathế kỷ 20, ngành dệt – may đã có những bước phát triển đáng kể Vào đầunhững năm 90, các nước Đông Á như Hàn Quốc, Đài Loan, Nhật Bản trởthành những nước nhập khẩu hàng dệt may chủ yếu của Việt Nam Từ năm
1993 Hiệp định thương mại giữa Việt Nam và EU được ký kết, quy định hạnngạch xuất khẩu hàng may mặc sang EU thì xuất khẩu hàng dệt – may tăngnhanh
So với các ngành khác, về lĩnh vực xuất khẩu, ngành dệt may cũng đã pháttriển rất nhanh và được coi là ngành xuất khẩu mũi nhọn trong thập niên 90.Cho đến trước năm 1994, kim ngạch xuất khẩu dầu thô, thuỷ sản vẫn cao hơnhàng dệt – may, nhưng sang năm 1995 hàng dệt may đã vượt lên hàng thuỷsản và tiếp đến vượt dầu thô vào năm 1997 và đang chiếm vị trí dẫn đầu tronglĩnh vực xuất khẩu Như vậy, so với các ngành khác thì ngành dệt may vẫn là
ngành xuất khẩu chủ yếu có tốc độ tăng trưởng cao.( Trích- Chính sách công nghiệp và thưong mại của Việt Nam trong bối cảnh hội nhập - Đại học Kinh
tế quốc dân).
3 Các hình thức xuất khẩu chủ yếu của hàng dệt may Việt Nam.
Hàng dệt may Việt Nam có 2 hình thức xuất khẩu chủ yếu là: Xuất khẩu giacông CMT và xuất khẩu trực tiếp FOB
Hiện nay, dệt – may là một trong những ngành xuất khẩu chủ yếu của ViệtNam Tuy nhiên, sức cạnh tranh quốc tế của ngành dệt may Việt Nam còn bịhạn chế cả về mặt hàng và quy trình sản xuất
3.1 Gia công uỷ thác theo hình thức CMT.
Phần lớn, hoạt động xuất khẩu hàng may mặc được thực hiện dưới dạng sảnxuất, lưu thông theo hợp đồng gia công uỷ thác ( dưới đây sẽ gọi là gia công)
Do các doanh nghiệp Việt Nam chỉ thực hiện ba công đoạn là cắt (cut), may(make), hoàn thiện (trim) nên hình thức sản xuất lưu thông này được gọi làgia công CMT Trong sản xuất lưu thông, hàng may mặc dựa trên hình thứcnày toàn bộ nguyên phụ liệu đều do khách hàng nước ngoài cung cấp cho cácdoanh nghiệp may Việt Nam Cụ thể, khách hàng nước ngoài sẽ cung cấpnguyên phụ liệu như vải và các phụ liệu như khoá kéo, vải độn, vải lót,khuy… còn các doanh nghiệp may mặc Việt Nam tiến hành may Khách
Trang 27hàng nước ngoài còn cung cấp cả các thiết bị loại tốt để đo đạc những kịchthước nhỏ nhất cần thiết khi làm mẫu cứng và cắt trên vải Sản phẩm mayhoàn thiện sẽ được khách hàng mua lại Khi đó, khách hàng nước ngoài sẽthanh toán phí gia công cho các doanh nghiệp may Việt Nam Điều đó cónghĩa là gia công CMT là hình thức sản xuất lưu thông mang tính chất “ chế
kế của mình thì về mặt lý thuyết họ có thể đạt giá trị gia tăng cao hơn
Tỷ lệ giá trị gia tăng phụ thuộc vào vị trí của doanh nghiệp trong sản xuất lưuthông Hiện nay, do vai trò của các doanh nghiệp Việt Nam trong quá trìnhsản xuất và lưu thông hàng may mặc còn hạn chế nên tỷ lệ giá trị gia tăngđược hưởng còn thấp Dưới đây sẽ khái quát quá trình sản xuất lưu thônghàng may mặc:
Nhìn chung, để tạo ra sản phẩm, ngành may phải bắt đầu từ việc xây dựng kếhoạch sản phẩm Ở giai đoạn này, các doanh nghiệp may quyết định quy cáchsản phẩm như màu sắc, loại vải sử dụng và chiến lược tiêu thụ bao gồm cơcấu sản phẩm, thiết kế thương hiệu… Trong giai đoạn lựa chọn nhà cungcấp, doanh nghiệp xây dựng hệ thống các nhà cung cấp đầu vào dựa trên kếhoạch về sản phẩm Việc bảo đảm chất lượng, đàm phán giá cũng được thựchiện ở giai đoạn này Trong giai đoạn mua nguyên phụ liệu, các doanh nghiệp
Thiết kế
sản phẩm
Lựa chọn nhà cung cấp
Mua nguyên phụ liệu
Cắt, may, hoàn thiện
Xuất khẩu
Trang 28sẽ mua vải, mua phụ liệu từ các nhà cung cấp đã được quyết định ở giai đoạntrước với những công việc chủ yếu là: quản lý thời hạn giao hàng và quản lývốn Tiếp theo là khâu cắt, may, hoàn thiện sản phẩm Giai đoạn cuối cùng làxuất khẩu hàng may mặc thành phẩm, đưa sản phẩm ra lưu thông trên thịtrường.
Trong quá trình sản xuất lưu thông, các doanh nghiệp Việt Nam xuất kkhẩuhàng may mặc theo hình thức CMT chỉ được khách hàng nước ngoài uỷ tháccông đoạn cắt, may, hoàn thiện tức là khâu thứ 4, còn các khâu khác dokhách hàng nước ngoài đảm nhiệm Điều này có nghĩa là những khó khăn,khúc mắc nếu đặt hàng các doanh nghiệp dệt nhuộm sản xuất gia côngnguyên phụ liệu sẽ không xảy ra đối với các doanh nghiệp may Việt Nam Vềsản xuất, các doanh nghiệp Việt Nam thực hiện gia công CMT cũng khôngphải chịu bất cứ trách nhiệm nào về những khiếu nại do chất lượng nguyênphụ liệu kém hay chậm xuất hàng thành phẩm do giao vải muộn Hàng maymặc được sản xuất theo bản thiết kế có sẵn cũng không phải chịu những rủi
ro do sự thay đổi chóng mặt của thời trang trên thị trường hàng may sẵn bởikhách hàng nước ngoài đã nhận tiêu thụ toàn bộ hàng sản xuất ra Ngay cảtrên lĩnh vực lưu thông, doanh nghiệp may Việt Nam hoàn toàn không cầnphát triển hay giữ vững các kênh tiêu thụ hàng may mặc, tức là, các doanhnghiệp Việt Nam thực hiện gia công CMT không phải hứng chịu bất kỳ rủi ronào kể trên
Trong gia công uỷ thác theo hình thức CMT, khách hàng nước ngoài khôngchỉ cung cấp cho các doanh nghiệp may những yếu tố cần thiết trực tiếp chosản xuất như nguyên vật liệu gồm nguyên liệu, phụ liệu, bản thiết kế, bảnthuyết minh, mẫu thiết kế… mà còn chuyển giao cả kỹ thuật sản xuất và quản
lý Khách hàng nước ngoài cử các chuyên gia kỹ thuật và nhà quản lý sảnxuất đến tận dây chuyền may dựa trên phân tích các công đoạn may ghi trongbản thuyết minh, hướng dẫn kỹ thuật trong công đoạn may, hướng dẫn hoànthiện, là ép và hướng dẫn kiểm tra sản phẩm
3.2. Xuất khẩu trực tiếp.
Trái với hình thức xuất khẩu theo phương thức CMT, trong hình thức xuấtkhẩu trực tiếp, các doanh nghiệp may Việt Nam tự mua nguyên phụ liệu rồibán sản phẩm cho các khách hàng nước ngoài Hiện tại, trong sản xuất lưuthông dệt may đang tồn tại 3 hình thức xuất khẩu FOB được gọi là FOB kiểu
I, FOB kiểu II và FOB kiểu III
Trang 29FOB kiểu I: Khách hàng nước ngoài chỉ định nhà sản xuất vải, quy cách, màuvải, từ đó nhà may mua vải và xuất khẩu hàng theo đơn hàng Điểm khác biệtcủa doanh nghiệp may thực hiện xuất khẩu FOB kiểu I là doanh nghiệp maythực hiện xuất khẩu theo hình thức gia công uỷ thác là phí Việt Nam phảichịu trách nhiệm trong việc thanh toán tiền mua vải, các doanh nghiệp ViệtNam có thể thu được lợi nhuận lưu thông Trên thực tế, chênh lệch về lợinhuận lưu thông giữa hình thức này và hình thức gia công xuất khẩu là khôngđáng kể.
FOB kiểu II: Khách hàng đưa ra mẫu hàng hoá cho doanh nghiệp may ViệtNam báo giá và nhận đơn hàng Trong phương thức này doanh nghiệp tựchuẩn bị vải bằng cách tìm mua trong nội bộ công ty hoặc tìm trên thị trường
Do tự chuẩn bị vải nên các doanh nghiệp này có thể chủ động đưa phần lợinhuận của khâu mua vải vào báo giá sản phẩm của công ty mình, do đó lợinhuận được nâng lên
FOB kiểu III: Trong hình thức này, doanh nghiệp may Việt Nam tự thiết kếmẫu mã hàng hoá, tìm mua nguyên vật liệu và xuất khẩu với nhãn hiệu riêngcủa mình Theo hình thức này, doanh nghiệp may Việt Nam phải đảm tráchtoàn bộ quá trình sản xuất từ khâu lập kế hoạch, thiết kế sản phẩm, tìm muanguyên vật liệu, cắt may hoàn thiện sản phẩm và phân phối Phạm vi hoạtđộng của họ lớn hơn nhiều, mức độ rủi ro của thị trường mà doanh nghiệpmay phải gánh chịu cũng lớn han và do đó lợi nhuận mà họ nhận được cũngcao hơn Có thể nói trong 3 hình thức xuất khẩu trực tiếp thì FOB kiểu III làloại có rủi ro cao nhất nhưng cũng có khả năng mang lại nhiều lợi nhuậnnhất
4 Khái quát vị trí, vai trò của hoạt động xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam trong kết cấu hoạt động xuất khẩu hàng hoá dịch vụ của Việt Nam:
Là mặt hàng xuất khẩu dẫn đầu, hàng dệt may của nước ta đang dầnchiếm lĩnh các thị trường quốc tế Sau mức suy giảm nhẹ (0,6% so với nămtrước) của năm 2009, xuất khẩu nhóm hàng dệt may đang bứt phá, hứa hẹnmột năm tăng trưởng tốt với trị giá đạt 3,86 tỷ USD trong 5 tháng đầu năm
2010, tăng 18,6% so với cùng kỳ năm 2009, chiếm gần 15% tổng kimngạch xuất khẩu của cả nước và cao hơn so với nhóm hàng xuất khẩu cókim ngạch lớn thứ 2 (là dầu thô) tới gần 1,7 tỷ USD
Trang 30Số liệu thống kê hải quan nhiều năm qua cho thấy, chu kỳ xuất khẩu củahàng dệt may thường bắt đầu tăng trưởng vào quý 2 và đạt mức cao nhấtvào quý 3 Trong 5 tháng đầu năm nay, xuất khẩu hàng dệt may đạt trungbình là 771 triệu USD/tháng Với mức tăng như hiện nay, cùng với tính chu
kỳ xuất khẩu, chúng ta có thể kỳ vọng hàng dệt may sẽ đạt kim ngạch trên 1
tỷ USD/tháng trong một vài tháng tới Tuy nhiên để đạt được kế hoạch xuấtkhẩu 10,5 tỷ USD trong năm 2010 thì trong 7 tháng còn lại của năm, trungbình mỗi tháng xuất khẩu dệt may phải đạt gần 950 triệu USD/tháng
Hiện sản phẩm dệt may của Việt Nam đang chiếm khoảng 2,69% thị phầnthế giới Tại thị trường Mỹ và Nhật Bản, Việt Nam chỉ đứng thứ hai sauTrung Quốc với thị phần tương ứng là 7,4% và 4%
Số liệu thống kê hải quan trong nhiều năm qua cho thấy, Hoa Kỳ luôn là thịtrường dẫn đầu về nhập khẩu hàng dệt may của Việt Nam Xuất khẩu nhómhàng này sang Hoa kỳ luôn chiếm trên 50% tổng kim ngạch xuất khẩu hàngdệt may của cả nước và khoảng 40% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nướcsang thị trường này
BẢNG TỔNG HỢP TÌNH HÌNH XUẤT KHẨU HÀNG DỆT MAY CỦAVIỆT NAM
Từ tháng 1/2010 đến tháng 10/2010