Để tồn tại trong một môi trường đầy biến động ,để các hoạt động sản xuất kinh doanh được phát triển thì mỗi doanh nghiệp nhất thiết phải có một số lượng vốn nhất định và quan trọng hơn l
Trang 1MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG BIỂU iii
Trang 2DANH MỤC BẢNG BIỂU
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
I Lí do chọn đề tài
Trong những năm gần đây,kinh tế Việt Nam có những bước phát triển với tốc
độ cao và đạt được nhiều thành tựu nhất định về kinh tế Tuy nhiên sự phát triển nhanh của nền kinh tế cũng kéo theo nhiều biến động,tại các thị trường tài chính,bất động sản,chứng khoán…sự biến động này chính là nguy cơ,và thách thức cho các doanh nghiệp trong nước,đặc biệt là đối với các công ty cổ phần hóa
Để tồn tại trong một môi trường đầy biến động ,để các hoạt động sản xuất kinh doanh được phát triển thì mỗi doanh nghiệp nhất thiết phải có một số lượng vốn nhất định và quan trọng hơn là phải quản lí và sử dụng nó như thế nào để mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất.Vốn là sự sống còn của doanh nghiệp,là cơ sở xác định chỗ đứng của doanh nghiệp trên thị trường ,vì vậy,các doanh nghiệp cần chú trọng nhiệm vụ huy động,tổ chức và sử dụng vốn phục vụ nhu cầu của quá trính sản xuất kinh doanh hiệu quả nhất
Mặt khác với tốc độ phát triển như vũ bão của Khoa học – Kĩ thuật, Công nghệ thông tin dẫn đến sự cần thiết năng cao tính tự động hóa trong các công trình
cơ sở hạ tầng, máy móc thiết bị tinh vi phục vụ các nhu cầu về sản xuất, lắp ráp, kĩ thuật quân sự,…từ đó nảy sinh vấn đề tất yếu khách quan là khi nhu cầu mở rộng quy mô sản xuất, sửa chữa, lắp đặt, đổi mới mới khoa học công nghệ càng lớn thì nhu cầu về vốn càng lớn để đáp ứng được các nhu cầu trên
Xuất phát từ nhận thức về vai trò vốn và tầm quan trọng của vốn trong việc
quản lí và sử dụng vốn.Em xin phép được đưa ra đề tài “Tăng cường quản lí và sử dụng vốn tại Công ty cổ phần kĩ thương Sao Đại Hùng.”
Ngoài phần mở đầu,và kết luận chuyên đề gồm có 3 phần:
Chương I: Cơ sở lí luận chung về vốn và quản lí vốn
Chương II: Tình hình quản lí và sử dụng vốn tại công ty cổ phần kỹ
thương Sao Đại Hùng
Chương III: Giải pháp và ý kiến đóng góp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại công ty cổ phần kỹ thương Sao Đại Hùng
Trang 4CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÍ LUẬN CHUNG VỀ VỐN VÀ QUẢN LÝ VỐN
1.1.Khái niệm và vai trò của vốn trong sản xuất kinh doanh:
1.1.1.Khái niệm.
Vốn là một khái niệm chung của nền kinh tế hàng hóa, vốn trong doanh nghiệp được hiểu là giá trị bằng tiền của toàn bộ tài sản của doanh nghiệp dùng trong hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm mục đích tạo ra lợi nhuận
•Vốn luôn được tồn tại ở hai dạng là giá trị và hiện vật:
- Về mặt giá trị: Vốn của doanh nghiệp là toàn bộ tài sản của Doanh nghiệp, vốn đuợc biểu hiện bằng một lượng tiền nhất định và nhất định lượng tiền đó phải được sử dụng với mục đích sinh lợi nhuận
- Về mặt hiện vật: Hình thức biểu hiện ra bên ngoài của vốn là máy móc, thiết
bị, nguyên vật liệu, hàng hóa, phương tiện vận tải,công trình kiến trúc nhà xưởng…
•Quá trình tuần hoàn của vốn:
Trong quá trình sản xuất kinh doanh, vốn thường xuyên vận động và thay đổi hình thái biểu hiện bên ngoài của chúng theo từng giai đoạn của quá trình sản xuất kinh doanh để hoàn thành vòng tuần hoàn Trong quá trình vận động vốn bằng hình thái tiền tệ, ra đi và trở về điểm xuất phát của nó và tăng về mặt giá trị sau mỗi vòng tuần hoàn của nó Trong các doanh nghiệp thương mại vốn thường được chu chuyển qua hai giai đoạn: Giai đoạn I là giai đoạn mua hàng hóa, tức là biến tiền thành hàng hóa.Giai đoạn II là giai đoạn bán hàng hóa, tức là biến hàng hóa thành tiền Theo phương thức vận động này, hàng hóa không phải để doanh nghiệp sử dụng mà là để doanh nghiệp bán kiếm lời
1.1.2.Vai trò của vốn trong hoạt động sản xuất kinh doanh.
Kinh doanh là hoạt động kiếm lời và lợi nhuận là mục tiêu hàng đầu của mọi doanh nghiệp Với bất kì một doanh nghiệp nào muốn tiến hành sản xuất kinh doanh thì vấn đề đặt ra với doanh nghiệp đó là phải có một số lượng vốn nhất định
và vốn kết hợp với các yếu tố đầu vào khác (nguyên vật liệu,lao động, cơ sở vật chất kĩ thuật…) để thực hiện quá trình sản xuất kinh doanh nhằm mục đích tạo ra lợi nhuận Vốn cũng chính là điều kiện tất yếu hàng đầu của quá trình tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh Vốn có vai trò quyết định về việc ra đời, tồn tại, phát triển hay đi xuống của doanh nghiệp Số lượng vốn quyết định quy mô sản xuất của doanh nghiệp, nếu lượng vốn lớn, thì quy mô sản xuất của doanh nghiệp sẽ lớn, nếu lượng vốn nhỏ thì quy mô sản xuất của doanh nghiệp sẽ nhỏ
Trang 5Với tầm quan trọng như vậy của vốn, vấn đề đặt ra với doanh nghiệp nếu muốn tồn tại và phát triển được trên thương trường thì vấn đề thiết yếu đặt ra với doanh nghiệp là phải huy động được vốn, tạo ra được vốn để đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh được thuận lợi, đạt được hiệu quả mong muốn Mặt khác, doanh nghiệp cũng cần phải có biện pháp để quản lý chặt chẽ nguồn vốn và các biện pháp cần thiết để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.
1.1.3.Phân loại các loại vốn.
1.1.3.1.Căn cứ vào hình thái.
Vốn được chia làm hai loại :vốn hữu hình và vốn vô hình
•Vốn hữu hình: Bao gồm giá trị của những tài sản cố định hữu hình: (nguyên vật
liệu, nhà xưởng, thiết bị máy móc, sản xuất,…) tiền và các giấy tờ có giá trị khác
•Vốn vô hình: Bao gồm giá trị của những tài sản vô hình như: quyền sử dụng
đất, các bằng phát minh, sáng chế…
1.1.3.2.Căn cứ vào nội dung vật chất.
Vốn được chia làm hai loại: Vốn thực và vốn tài chính
• Vốn thực: là toàn bộ giá trị của vật tư hàng hóa phục vụ cho quá trình sản
xuất hay cung ứng dịch vụ như máy móc, thiết bị, nhà xưởng, phương tiện vận tải… Phần vốn này phản ánh hình thái vật thể của vốn, nó tham gia trực tiếp vào quá trình sản xuất kinh doanh
• Vốn tài chính: biểu hiện dưới hình thức tiền tệ,chứng khoán và các giấy tờ
có giá trị khác, nó dùng để mua các thiết bị, máy móc, nguyên vật liệu…Phần vốn này phản ánh về phương diện tài chính của vốn, nó tham gia gián tiếp vào quá trình sản xuất kinh doanh thông qua các hoạt động đầu tư
1.1.3.3.Căn cứ vào quy định của pháp luật.
Vốn được chia làm hai loại : Vốn pháp định và vốn điều lệ
•Vốn pháp định: là số vốn tối thiểu phải có để thành lập doanh nghiệp do pháp
luật quy định đối với từng loại hình doanh nghiệp khác nhau ( nghành nghề, lĩnh vực kinh doanh…) nếu số vốn của doanh nghiệp ít hơn vốn pháp định thì không được thành lập doanh nghiệp
•Vốn điều lệ : là vốn do các thành viên đóng góp và ghi vào vốn điều lệ của
doanh nghiệp Vốn điều lệ của doanh nghiệp không được thấp hơn vốn pháp định
1.1.3.4.Căn cứ vào nguồn hình thành vốn.
Vốn được chia thành :
•Vốn đầu tư ban đầu: là vốn bắt buộc phải có khi doanh nghiệp đăng kí thành
Trang 6lập doanh nghiệp.
- Đối với doanh nghiệp trách nhiệm hữu hạn: phần này là vốn đóng góp của tất
cả các thành viên khi thành lập công ty
- Đối với công ty cô phần: Phần vốn này được biểu hiện dưới hình thức vốn cổ phần, vốn cổ phần này do những người sánhg lập công ty cổ phần phát hành cổ phiếu để huy động vốn thông qua việc bán cổ phiếu
- Đối với doanh nghiệp nhà nước : đây là số vốn ban đầu được nhà nước giao cho (ngân sách nhà nước )
- Đối với doanh nghiệp tư nhân : đây là số vốn ban đầu của chủ đầu tư để hình thành công ty (vốn tự có )
•Vốn bổ sung : là vốn do các doanh nghiệp trong quá trình sản xuất kinh
doanh tiếp tục bổ sung vào nguồn vốn đầu tư ban đầu Nguồn vốn này có thể được hình thành từ việc trích lợi nhuận năm trước, do nhà nước bổ sung, hay huy động từ việc phát hành thêm cổ phiếu…
•Vốn liên doanh : là do các bên tham gia liên doanh đóng góp để thực hiện
các hoạt động sản xuất kinh doanh sản phẩm nào đó,hay cung ứng các dịch vụ trên thị trường nhằm thu được lợi nhuận
•Vốn đi vay : trong quá trình sản xuất kinh doanh,ngoài các phần vốn nói trên,
doanh nghiệp còn có thể huy động vốn từ việc vay vốn ngân hàng, tổ chức tín dụng,vay từ các bạn hàng…
1.1.3.5.Căn cứ vào sự tuần hoàn và chu chuyển của vốn.
Trong quá trình sản xuất kinh doanh,vốn được vận động theo các mức độ khác nhau Xét trên giác độ tuần hoàn và chu chuyển vốn, vốn được chia thành hai loại: vốn lưu động và vốn cố định Việc phân loại vốn theo cách này có ý nghĩa quan trọng nhất trong việc phân tích và đánh giá hiêụ quả sử dụng vốn
a) Vốn lưu động :
Vốn lưu động của doanh nghiệp là số tiền doanh nghiệp ứng trước về tài sản lưu động ( bao gồm: tài sản lưu động trong sản xuất và tài sản lưu động trong lưu thông,bán hàng ) nhằm đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được tiến hành thường xuyên liên tục
Tài sản lưu động của doanh nghiệp là những tài sản thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp có thời hạn sử dụng, luân chuyển thu hồi vốn trong vong một chu kỳ kinh doanh Tài sản lưu động của doanh nghiệp có thể tồn tại dưới hình thái tiền tệ, hiện vật ( vật tư, hàng hoá) hoặc dưới dạng các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn ( cổ phiếu, trái phiếu) và các khoản nợ phải thu
b) Vốn cố định
Trang 7Vốn cố định của doanh nghiệp là bộ phận của vốn đầu tư ứng trước về tài sản cố định, mà đặc điểm của nó là luân chuyển dần dần từng phần trong nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh voàn thành một vòng luân chuyển khi tài sản cố định hết thời gian sử dụng.
Vì vốn cố định là khoản vốn đầu tư ứng trước về tài sản cố định vì vậy việc nghiên cứu vốn cố định trước hết phải nghiên cứu tính chất và đặc điểm của tài sản
cố định trong doanh nghiệp Tài sản cố định của doanh nghiệp là những tư liệu lao động chủ yếu có đặc điểm nổi bật là tham gia và nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh Trong quá trình đó, giá trị của tài sản cố định không bị tiêu hao hoàn toàn trong lần
sử dụng đầu tiên mà nó được chuyển dịch dần dần từng phần vào giá thành sản phẩm của các chu kỳ sản xuất tiếp theo
1.2.Nội dung quản lý sử dụng vốn.
1.2.1.Quản lí vốn cố định.
Vốn cố định có vai trò cực kỳ quan trọng trong doanh nghiệp, quy mô của vốn
cố định quyết định quy mô sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, quyết định đến trình độ trang thiết bị, công nghệ kỹ thuật của doanh nghiệp.Với những đặc điểm vận động theo quy luật riêng khác với vốn lưu động, vốn cố định giữ một vị trí then chốt trong quá trình sản xuất Vì vậy, việc quản lý sử dụng vốn cố định được coi là trọng điểm của công tác tài chính doanh nghiệp
1.2.1.1.Đặc điểm của vốn cố định trọng các doanh nghiệp.
Vì vốn cố định là khoản vốn ứng trước để mua sắm tài sản cố định cho nên đặc điểm vận động của tài sản định sẽ quyết định đặc điểm vận động của vốn cố định Dựa trên mối liên hệ đó ta có một số đặc điểm khái quát của vốn cố định như sau :
- Vốn cố định tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh, đặc điểm này
là do tài sản cố định có thể phát huy tác dụng trong nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh Vì vậy vốn cố định (Hình thái biểu hiện bằng tiền của tài sản cố định) cũng tham gia được vào nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh tương ứng với tài sản cố định
- Vốn cố định được luân chuyển từng phần : Khi tham gia vào quá trình sản xuất, giá trị sử dụng của tài sản cố định giảm dần, cũng trong quá trình đó vốn cố định cũng được tách làm hai phần: một phần sẽ gia nhập vào giá thành sản phẩm dưới hình thức khấu hao tài sản cố định Phần còn lại vốn cố định được “cố định” trong nó Trong các chu kỳ sản xuất tiếp theo phần vốn cố định tiếp tục được luân chuyển vào giá thành sản phẩm sản xuất trong kỳ và phần vốn “cố định” lại dần dần giảm đi tương ứng với quá trình giảm dần của tài sản cố định Khi kết thúc sự biến thiên ngược chiều dó cũng là lúc tài sản cố định hết thời gian sử dụng vốn cố định
Trang 8cũng hoàn thành một vòng luân chuyển Như vậy trong quá trình sản xuất, vốn cố định được luân chuyển dần từng phần vì vậy phải sau một thời gian dài vốn cố định mới hoàn thành được vong luân chuyển.
1.2.1.2.Phân loại và kết cấu vốn cố định
Để quản lý sử dụng vốn cố định một cách có hiệu quả cao thì việc cần thiết là phải nghiên cứu cách phân loại và kết cấu của vốn cố định Việc nghiên cứu cách phân loại và kết cấu của vốn cố định được tiến hành trên cơ sở được phân loại và kết cấu của tài sản cố định
Phân loại tài sản cố định theo hình thái biểu hiện: : theo phương pháp này
toàn bộ tài sản cố định của doanh nghiêp được chia thành 2 loại:
- Tài sản cố định hữu hình : là những tư liệu lao động chủ yếu của doanh
nghiệp có đặc điểm nổi bật là có giá trị lớn, tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh, giữ nguyên được hình thái bên ngoài cho đến khi huỷ bỏ không còn giá trị sử dụng Tài sản cố định hữu hình của doanh nghiệp bao gồm: đất, nhà cửa, vật kiến trúc; máy móc, thiết bị sản xuất, phương tiện vận tải, truyền dẫn…
- Tài sản cố định vô hình : là những tài sản cố định không có hình thái vật
chất cụ thể, nó thể hiện một lượng giá trị đã được đầu tư, đã chi phí nhằm có được các lợi ích hoặc các nguồn có tính chất kinh tế mà chúng xuất phát từ quyền lợi của doanh nghiệp.Tài sản cố định vô hình của doanh nghiệp bao gồm : quyền sử dụng đất,chi phí chuẩn bị thành lập doanh nghiệp,bằng phát minh sáng chế…
Phương pháp phân loại tài sản cố định trên đây giúp cho nhà quản lý có một cách nhìn tổng về cơ cấu đầu tư của doanh nghiệp Đây là một căn cứ quan trọng để các nhà quản trị đưa ra các quyết định, chiến lược đầu tư hoặc điều chỉnh đầu tư cho phù hợp với tình hình thực tế Mặt khác, cũng nhờ phương pháp phân loại này mà các nhà quản trị có thể đề ra các biện pháp quản lý tài sản cố định, tính khấu hao, sử dụng vốn cố định chính xác, hợp lý và có hiệu quả cao hơn
Phân loại tài sản cố định theo công dụng kinh tế : dựa theo cách phân loại
này tài sản cố định của doanh nghiệp được chia làm hai loại
- Tài sản cố định dùng trong hoạt động sản xuất kinh doanh: là những tài sản hữu hình và vô tình trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp gồm nhà cửa, vật kiến trúc, thiết bị động lực, máy móc thiết bị sản xuất, phương tiện vận tải và những tài sản cố định không có hình thái vật chất khác
- Tài sản cố định dùng ngoài sản xuất kinh doanh: doanh là những tài sản cố định dùng cho phúc lợi công cộng, không mang tính chất sản xuất kinh doanh như nhà cửa, phương tiện dùng cho sinh hoạt văn hoá, thể dục thể thao, các công trình phúc lợi tập thể.Phân loại tài sản cố định theo công dụng kinh tế giúp cho nhà quản lý thấy
Trang 9được kết cấu tài sản, nắm được trình độ thiết bị tạo điều kiện thuận lợi cho việc quản lý tài sản, tính khấu hao chính xác.
Phân loại tài sản cố định theo tình hình sử dụng:
Căn cứ vào tình hình sử dụng tài sản cố định của doanh nghiệp trong từng thời kì.Tài sản của doanh nghiệp được chia làm ba loại :
- Tài sản cố định đang dùng: là những tài sản cố định của doanh nghiệp đang được sử dụng cho các hoạt động kinh doanh hay các hoạt động khác của doanh nghiệp
- Tài sản cố định chưa cần dùng: là những tài sản cần thiết cho hoạt động sản xuất kinh doanh hay những hoạt động khác của doanh nghiệp, tuy nhiên vì những lý
do khác nhau, chúng chưa được dùng đến,dự trữ để sử dụng sau này
- Tài sản cố định không cần dùng,đang chờ thanh lý: là những tài sản không cần thiết hay không phù hợp với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, đang chờ để thanh lý nhằm thu hồi vốn ban đầu cho doanh nghiệp
Dựa theo cách phân loại này nhà quản lý có thể biết tình hình sử dụng của tài sản cố định về số lượng và giá trị, giúp cho nhà quản lý đề ra phương hướng phát huy năng lực sản xuất
Phân loại tài sản cố định theo mục đích sử dụng.
Toàn bộ tài sản cố định của doanh nghiệp được chia làm ba loại :
- Tài sản cố định của doanh nghiệp sử dụng cho mục đích kinh doanh bao gồm các tài sản cố định hữu hình hoặc vô hình
- Tài sản cố định dùng cho mục đích phúc lợi,sự nghiệp an ninh quốc phòng…
- Tài sản bảo quản,cất giữ hộ nhà nước
Phân loại tài sản theo quyền sở hữu.
- Tài sản cố định tự có của doanh nghiệp là tài sản cố định thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp
- Tài sản cố định đi thuê là những tài sản cố định thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp khác bao gồm hai loại: tài sản cố định thuê hoạt động, và tài sản cố định thuê tài chính
Phân loại tài sản theo nguồn hình thành.
Trang 101.2.2.1.Đặc điểm vốn lưu động
Đặc điểm của tài sản lưu động là bao gồm nhiều loại, tồn tại ở nhiều khâu và biến động rất nhanh nhằm đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh được tiến hành liên tục, thuận lợi Do vậy vốn lưu động luôn được chuyển hoáliên tục qua nhiều hình thái khác nhau, bắt đầu tư hình thái tiền tệ sang hình thái vật tư, hàng hoá và cuối cùng lại trở lại hình thái tiền tệ ban đầu của nó Quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp diễn ra liên tục cho nên vốn lưu động cũng động không ngừng và có tính chất chu kỳ
Vốn lưu động luôn luân chuyển toàn bộ giá trị ngay trong một lần vận động và hoàn thành một vòng tuần hoàn sau mỗi chu kỳ sản xuất và không giữ nguyên hình thái vật chất ban đầu Vốn lưu động vận động nhanh hay chậm phụ thuộc rất nhiều vào việc xác định nhu cầu thường xuyên, tối thiểu về vốn lưu độnh, thời gian nằm trong các khâu của quá trình sản xuất và lưu thônh có hợp lý hay không, số lượng vật tư hàng hoá được sử dụng tiết kiệm hay không
1.2.2.2.Thành phần của vốn lưu động :
Dựa theo vai trò của vốn lưu độngtrong quá trình sản xuât vốn lưu động được chia làm hai loại, trong mỗi loại dựa theo công dụng của chúng người ta chia chúng thành nhiều loại vốn nhỏ như sau:
Vốn lưu động trong quá trình dự trữ sản xuất: Loại này bao gồm các
khoản vốn như sau :
- Vốn nguyên vật liệu chính: là số tiền biểu hiện giá trị của các loại nguyên vật liệu chính dự trữ cho sản xuất Nguyên vật liệu chính là các loại nguyên vật liệu khi tham gia vào quá trình sản xuất nó cấu thành nên thực thể vật chất của sản phẩm
- Vốn vật liệu phụ : là giá trị những loại vật tư dự trữ dùng trong sản xuất, khi tham gia vào quá trình sản xuất tạo sản phẩm vật liệu phụ tác động đồng thời cùng với nguyên vật liệu chính nhưng không xuất hiện trên hình thái của sản phẩm
- Vốn nhiên liệu : là giá trị của những loại nhiên liệu mà doanh nghiệp dự trữ dùng trong sản xuất Nhiên liệu là những vật liệu có tác dụng cung cấp nhiệt lượng cho quá trình sản xuất
- Vốn phụ tùng thay thế : bao gồm giá trị những phụ tùng dự trữ để sửa chữa, thay thế cho tài sản cố định
- Vốn vật liệu xây dựng cơ bản: bao gồm giá trị của các loại thiết bị mà doanh nghiệp dự trữ dùng trong công việc xây dựng cơ bản
- Vốn vật liệu bao bì đóng gói: bao gồm giá trị những vật liệu bao bì dùng
để đóng gói trong quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm
- Vốn công cụ, dụng cụ (Vốn công cụ lao động nhỏ) bao gồm giá trị những
Trang 11tư liệu lao động có giá trị thấp và thời gian sử dụng ngắn hơn so với tài sản cố định.
Vốn lưu động nằm trong quá trình sản xuất trực tiếp: loại này bao gồm
các khoản vốn sau
- Vốn sản phẩm dở dang : là giá trị của những sản phẩm dở dang trong quá trình sản xuất Sản phẩm dở dang là những sản phẩm chưa kết thúc các giai đoạn của quá trình chế biến hiện đang còn tồn tại trên các công đoạn của quá trình chế biến để chờ đợi chế biến tiếp
- Vốn bán thành phẩm tự chế : loại này bao gồm giá trị những sản phẩm dở dang đã hoan thành những công đoạn gia công chế biến nhất định
- Vốn về chi phí chờ kết chuyển (chi phí đợi phân bố) là giá trị những khoản chi phí mà doanh nghiệp đã chi ra trong kỳ nhưng có liên quan, có tác dụng đến nhiều kỳ sản xuất sau vì vậy nó chưa được tính hết vào giá thành sản phẩm sản xuất
ra trong kỳ mà nó sẽ được tính dần tiếp vào sản phẩm của các kỳ tiếp theo
Vốn lưu động trong quá trình lưu thông : loại này bao gồm các khoản vốn
sau :
- Vốn thành phẩm : biểu hiện bằng giá trị của số sản phẩm đã kết thúc quá trình chế biến, đã được kiểm nghiệm phù hợp với tiêu chuẩn kỹ thuật và đã nhập kho để chuẩn bị cho quá trình tiêu thụ
- Vốn tiền tệ : bao gồm tiền mặt tồn quỹ, tiền gửi ngân hàng, tiền đang chuyển Trong quá trình luân chuyển, vốn lưu động thường xuyên có một bộ phận tồn tại dưới hình thái tiền tệ
- Vốn thanh toán : bao gồm những khoản phải thu, các khoản tạm ứng phát sinh trong quá trình mua bán vật tư, tiêu thụ sản phẩm
Việc xác định thành phần cơ cấu vốn lưu động theo vai trò của nó trong quá trình sản xuất là điều rất cần thiết đối với các nhà quản lý nó giúp cho các nhà quản
lý đề ra các biện pháp thích hợp trong việc quản lý vốn lưu động, nâng cao hiệu quả
sử dụng vốn lưu động thông qua việc quản lý tốt quá trình mua sắm, dự trữ vật tư, quá trình sản xuất và quá trình tiêu thụ sản phẩm
1.2.3.Một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn.
Hiệu quả là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn nhân tài, vật lực của doanh nghiệp để đạt được kết quả cao nhất với tổng mức chi phí ở mức thấp nhất Trong kinh doanh thì hiệu quả là một vấn đề có ý nghĩa then chốt , gắn liền với sự tồn tại, phát triển hay đi xuống của doanh nghiệp Vì vậy phân tích hiệu quả sử dụng vốn trong doanh nghiệp để có cơ sở đánh giá chất lượng về mặt quản lý và hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp đồng thời giúp cho nhà quản lý
đề ra các kế hoạch chiến lược nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn
1.2.3.1.Phân tích hiệu quả sử dụng vốn cố định.
Trang 12Để kiểm tra xem xét tính hiệu quả về mặt sử dụng cố định của các doanh nghiệp, người ta thưòng dùng một số hệ thống các chỉ tiêu, bao gồm các chỉ tiêu tổng hợp và các chỉ tiêu phân tích sau:
Số dư bình quân vốn cố định trong kỳ: là số bình quân giữa giá trị còn lại của tài sản cố định đầu kỳ và cuối kỳ
Chỉ tiêu này phản ánh cứ 1 đồng vốn cố định có thể tham gia tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu tiêu thụ sản phẩm
b) Hệ số hàm lượng vốn cố định.
Hàm lượng vốn cố định = Số vốn cố định trong kỳ
Doanh thu tiêu thụ sản phẩm trong kỳ
Hệ số hàm lượng vốn cố định (Hệ suất hao phí vốn cố định) cho biết số lượng vốn cố định cần thiết để tạo ra 1 đồng doanh thu tiêu thụ sản phẩm trong kỳ.Hệ số này càng thấp chứng tỏ doanh nghiệp sử dụng vốn cố định càng hiệu quả
c) Hệ số hiệu quả sử dụng vốn cố định.
Hiệu quả
sử dụng vốn cố định =
Lợi nhuận ròng trong kỳ
Số dư bình quân vốn cố định trong kỳ
Chỉ tiêu này cho biết cứ một đồng vốn cố định bình quân trong kì tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận bình quân ròng
1.2.3.2.Phân tích hiệu quả vốn lưu động
Trong nền kinh tế thị trường thì mục tiêu chủ yếu cuối cùng của doanh nghiệp
là đạt được lợi nhuận tối đa Để đạt được mục tiêu đó ngoài việc doanh nghiệp phải quản lý và sử dụng hiệu quả vốn cố định, doanh nghiệp phải hết sức quan tâm đến vấn đề quản lý và sử dụng hiệu quả của vốn lưu động, góp phần nâng cao hiệu quả
sử dụng vốn nói chung Việc sử dụng vốn lưu động có hiệu quả hay không được
Trang 13phản ánh khái quát qua một số chiêu như: tốc độ lưu chuyển vốn lưu động , sức sản suất của vốn lưu động , sức sinh lời của vốn lưu động.
a) Sức sản xuất của vốn lưu động
Chỉ tiêu này cho biết cứ một đồng vốn lưu động bình quân trong kì đem lại bao nhiêu đồng doanh thu thuần
b) Sức sinh lợi của vốn lưu động
Sức sinh lợicủa vốn lưu động =
Lợi nhuận thuầnVốn lưu động bình quân trong kỳChỉ tiêu này cho biết cứ một đồng vốn lưu động bình quân trong kì tạo ra bao nhiêu lợi nhuận thuần
c) Tốc độ luân chuyển của vốn
Trong quá trình sản xuất kinh doanh, vốn lưu động vận động không ngừng thường xuyên thay đổi hình thái qua các giai đoạn của quá trình tái sản xuất ( dự trữ
- sản xuất – tiêu thụ ) Tốc độ luân chuyển vốn lưu động nói lên hiệu suất sử dụng vốn lưu động cao hay thấp Trong quản lý vốn lưu động, vấn đề có ý nghĩa then chốt ở đây là phải đẩy nhanh tốc độ luân chuyển của vốn lưu động để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động
Thời gian của một vòng
luân chuyển =
Thời gian kỳ phân tích
Số vòng quay của vốn lưu động trong kỳ
Chi tiêu này cho thấy số ngày cần thiết để cho vốn lưu động quay được 1 vòng Thời gian của một vòng luân chuyển vốn lưu động càng thấp thì tốc độ luân
Sức sản xuất
của vốn lưu động =
Tổng doanh thu thuầnVốn lưu động bình quân trong kỳ
Trang 14Hệ số đảm nhiệm của vốn lưu động cho biết để đạt được một đồng doanh thu trong kì cần bao nhiêu đồng vốn lưu động Hệ số này càng nhỏ chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn càng cao,số vốn tiết kiệm được càng nhiều.
Trang 15CHƯƠNG II TÌNH HÌNH QUẢN LÝ SỬ DỤNG VỐN TẠI CÔNG TY
CỔ PHẦN KỸ THƯƠNG SAO ĐẠI HÙNG
2.1.Khái quát chung về Công ty cổ phần kỹ thương Sao Đại Hùng
Công ty cổ phần đầu tư và xây dựng bưu điện
Địa chỉ trụ sở chính: Số 1, ngách 43, ngõ 189, đường Nguyễn Ngọc Vũ, tổ
21, Phường Trung Hòa, Quận Cầu Giấy, Thành phố Hà Nội, Việt Nam
đo lường - điều khiển chuyên dụng dùng trong quân đội, ngành dầu khí, ngành khai thác thai và hàng hải… Trong số đó, nhiều hệ thống lần đầu tiên được chế tạo tại Việt Nam như hệ thống theo dõi khoan, các trạm đo địa vật lý (trạm đo Carota điện, trạm thửa vỉa, trạm đo kiểm tra khai thác…) hệ thống tự độ kiểm thử đài điều khiển tên lửa, radar, hệ thống đo kiểm động cơ, buồng thử điện áp cao, một số thiết bị trên hoạt động trong điều kiện nhiệt độ và áp suất rất cao (17.000 psi, 2000C)
2 1.2.Đặc điểm cơ bản của công ty.
Là một công ty mới thành lập từ 2006 nhưng GBS đã sở hữu một đội ngũ cán
bộ kỹ thuật chuyên nghiệp có nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực Tự động hóa - đo lường điều khiển Các cán bộ kỹ thuật của công đã được tiếp cận với các thiết bị và máy móc công nghệ cao để sử dụng trong việc nghiên cứu, phát triển và hoàn thiện các sản phẩm chuyên dùng cho lĩnh vực quân sự và công nghệ dầu khí trong thời gian khá dài
Phần lớn các công trình nhỏ đều do cán bộ, nhân viên công ty trực tiếp thực hiện, trong các công trình đòi hỏi số lượng lớn nguồn nhân lực, công ty đã huy động các nguồn nhân sự khác nhau
Đối với một số dự án tư vấn, nghiên cứu và thiết kế mới, chúng tôi đã mời các chuyên gia hàng đầu đến từ các trường đại học và Viện nghiên cứu mà công ty có quan hệ mật thiết cùng tham gia
Trang 16Đối với các dự án phầm mềm đòi hỏi nhiều lập trình viên, chúng tôi đã liên hệ
để thuê các lập trình viên từ các công ty phần mềm tên tuổi như Autosoft…
Với các dự án chế tạo và sản xuất các thiết bị điện tử với số lượng lớn, chúng tôi thuê các công ty Thành Long, Viettronics hoặc Hanel sản xuất và lắp ráp bảng mạch in (PCB), GBS sẽ chỉ làm các khâu quan trọng nhất là thiết kế, kiểm tra và hiệu chỉnh sản phẩm
Hiện nay GBS đang duy trì một số lượng nhân viên 37 người, số lượng hợp đồng có thời hạn là 34 người Với dự án "Xây dựng nhà máy bảo hiểm sửa chữa thiết bị cơ điện" trong khu công nghiệp Dung Quất, Quảng Ngãi, chúng tôi có kế hoạch tuyển dụng, đào tạo và tăng số nhân viên lên hơn 100 người trong vòng 3 năm tới
& Phát triển
Phó GĐ Nghiên cứu
Kế toán
Kế toán Văn phòng Quảng
Ngãi
Văn phòng Quảng Ngãi
Trang 17Công ty cổ phần Kỹ thương Sao Đại Hùng hoạt động trong cả hai lĩnh vực là công nghệ điện tử, tự động hóa và thương mại Vì vậy, khối lượng công tác quản trị
là rất lớn, cần sự quản lí điều hành chuyên sâu về cả hai lĩnh vực là kĩ thuật và tài chính thương mại Việc tổ chức bộ máy theo cơ cấu trực tuyến – chức năng như trên tương đối phù hợp và có thể thỏa mãn nhu cầu quản trị của công ty
Theo cơ cấu này, ban giám đốc và giám đốc công ty được sự giúp sức của phó giám đốc Kỹ thuật và phó giám đốc NC – TC để chuẩn bị các quyết định, hướng dẫn và kiểm tra việc thực hiện quyết định Giám đốc công ty vẫn chịu trách nhiệm
về mọi mặt công việc và toàn quyền quyết định trong phạm vi công ty Tuy nhiên, theo cách tổ chức này, ban giám đốc và giám đốc công ty phải thường xuyên giải quyết mối quan hệ giữa các bộ phận Ngoài ra, mỗi khi các lãnh đạo các bộ phận chức năng có nhiều ý kiến khác nhau, đến nỗi công ty phải tổ chức họp hành nhiều, tranh luận căng thẳng để tìm ra quyết định cuối cùng Để giải quyết vấn đề đó thì phòng Dự án và phòng Kế toán đóng vai trò rất quan trọng trong việc cố vấn cho ban giám đốc và giám đốc công ty để tìm ra quyết định đúng đắn nhất và kịp thời
2.1.3.Đặc điểm về ngành nghề hoạt động kinh doanh.
Các sản phẩm và dịch vụ
Nghiên cứu, thiết kế và chế tạo
Công ty GBS có thế mạnh trong việc nghiên cứu, thiết kế và chế tạo các thiết
bị và hệ thống đo lường đo lường và điều khiển
Các hẹ thống đo lường - điều khiển được chế tạo từ các thiết bị có khả năng lập trình được nguồn nuôi, máy phát, máy đo PLC hoặc từ các linh kiện rời
Tuỳ thuộc vào nhu cầu cụ thể của khách hàng và quy mô của dự án, các kỹ sư thiết kế có thể lựa chọn các IC rời hay các chịp có độ tích hợp cao CPLD, FPGA hay các loại Microcontroller, DSP, ASIC, SOC…
Công ty chúng tôi có đội ngũ kỹ sư và lập trình viên có thể đáp ứng hầu hết các nhu cầu của khách hàng trong lĩnh vực thiết kế, chế tạo, lập trình cho cac thiết
bị và hệ thống nhúng
Các sản phẩm điển hình mà chúng tôi đang, đã và sẽ cung cấp như:
•Hệ thống kiểm thử các thiết bị điện tử
•Hệ thống kiểm thử dùng cho động cơ và máy phát
•Hệ thống đo tham số cáp
•hệ thống điều khiển và giám sát dây chuyền tuyển than
•Buồng kiểm thử điện áp cao
Trang 18•Các hệ thống đo địa vật lý:
•Thiết bị đo tải và độ sâu dùng cho ngành xây dựng
•Thiết bị đo sức căng cáp
•Hệ thống theo dõi các tham số động cơ tàu thuỷ
•Hệ thống giám sát và cảnh báo dùng cho các trạm BTS…
Các sản phẩm trên được chúng tôi cung cấp dứói dạng chìa khoá trao tay (hợp đồng trọn gói) từ khâu thiết kế chế tạo, lắp đặt, đào tạo và bảo trì - bảo dưỡng dài hạn
Cung cấp, lắp đặt, chuyển giao các thiết bị công nghệ cao
Ngoài việc tự thiết kế chế tạo và cu ng cấp các thiết bị tự động hoá cho khách hàng, GBS còn cung cấp và chuyển giao nhiều thiết bị công nghệ cao cho các khách hàng của mình
Trong đó có thể kể đến
•Cung cấp và chuyển giao hệ thống C&I cho nhà máy Điện Nhơn Trạch
•Cung cấp và chuyển giao các thiết bị thử vỉa cho Tổ hợp thiết bị thử vỉa bề mặt cho Liên doanh Việt - Nga VietsovPetro
•Cung cấp lắp đặt hệ thống Radar và Camera giám sát cho nhà máy lọc dầu Dung Quất
•Cung cấp thiết bị và hiệu chỉnh dây chuyền in tiền Quốc gia
•Cung cấp thiết bị đong ứng suất biến dạng cho công tyv CP chế tạo Giản khoan dầu khí
•Cung cấp thiết bị hàng hải và phụ tùng máy thu phát cho tàu liên doanh Việt
- Nga
•Cung cấp, lắp đặt thiết bị giám sát, cảnh cáo thiết ị cho các phòng máy cho VMS
•Lắp đặt và hiệu chỉnh hệ thống thiết bị tự động hoá, thiết bị nghi khí hàng hải cho các tàu đóng mới, công ty TNHH MTV đóng tàu Hạ Long
•Bảo trì dài hạn cho các loại động cơ trung thế, các thiết bị bơm, hệ thống EMCS - nhà máy lọc dầu Dung Quất
Hiện nay, GBS là đại diện của một số nhà sản xuất các thiết bị đo lường kiểm thử, máy tính công nghiệp và các nhà sản xuất các thiết bị dùng trong lĩnh vực khoan thăm dầu khí