Để có thể nâng cao hiệu quả hoạt động, SeABank luôn đặt sự quan tâm hàng đầu đến các biện pháp nhằm giảm thiểu rủi ro tín dụng và luôncoi đây là vấn đề cấp thiết trong hoạt động sản xuất
Trang 1DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU, HÌNH VẼ
Trang 2Từ viết tắt Diễn giải
SeABank Ngân hàng Thương mại cổ phần Đông Nam Á
Southeast Asia Commercial Joint Stock BankDNNVV Doanh nghiệp nhỏ và vừa
NHTM Ngân hàng Thương mại
NHTMCP Ngân hàng Thương mại Cổ phần
SXKD Sản xuất kinh doanh
CIC Credit Information Center
Trung tâm thông tin tín dụngRRTD Rủi ro tín dụng
BTD Ban tín dụng
HĐTD Hội đồng tín dụng
Trang 3Reference source not foundBảng 3.3 Phân chia dư nợ cho vay tại SeABank qua các năm Error: Reference
source not foundBảng 3.4 Phân chia nhóm nợ tại SeABank qua các năm Error: Reference source
not foundBảng 3.5 Tỷ lệ nợ nhóm 2 đến nhóm 5 tại SeABank qua các năm Error: Reference
source not foundBảng 3.6 Phân chia nhóm nợ tại SeABank đối với DNNVV qua các năm.Error:
Reference source not foundBảng 3.7 Tình hình nợ xấu tại SeABank đối với DNNVV qua các năm Error:
Reference source not foundBảng 3.8 Tình hình nợ có khả năng mất vốn của các DNNVV tại SeABank 61Bảng 4.1 Một số chỉ tiêu kinh doanh năm 2011 Error: Reference source not
found
Trang 4Error: Reference source not foundBiểu 3.2 Một số chỉ tiêu hoạt động qua các năm Error: Reference source not
foundBiểu 3.3 Cơ cấu dư nợ cho vay DNNVV tại SeABank giai đoạn 2007 - 2010
Error: Reference source not foundBiểu 3.4 Diễn biến tỷ lệ nợ nhóm 2 đến nhóm 5 tại SeABank qua các năm Error:
Reference source not foundBiểu 3.5 Diễn biến tỷ lệ nợ xấu của tại SeABank đối với DNNVV Error:
Reference source not found
HÌNH VẼ
Hình 3.1 Quy trình cho vay tại SeABank đối với DNNVV Error: Reference
source not found
Trang 5LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Nền kinh tế Việt Nam đang trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế Doanhnghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) hiện đang chiếm phần lớn trong nền kinh tế ViệtNam, DNNVV đã đóng góp phần lớn vào GDP của nước ta Đẩy mạnh hoạt độngtín dụng cho các DNNVV đã và đang là hướng phát triển mang tính chiến lược lâudài của các NHTM Việt Nam
Theo thống kê năm 2010 có tới 95% DNNVV trong số các doanh nghiệp tạiViệt Nam Hiểu được tầm quan trọng của các DNNVV đối với nền kinh tế nên ngay
từ những ngày đầu bước vào thời kỳ đổi mới và đặc biệt là trong giai đoạn hội nhậpnền kinh tế quốc tế hiện nay, Đảng và Nhà nước ta đã đưa ra nhiều chủ trươngchính sách khuyến khích và hỗ trợ các DNNVV về mọi mặt như: hỗ trợ về vốntrong sản xuất kinh doanh, công nghệ, thông tin, về đào tạo, Song để các DNNVVphát triển và nâng cao vai trò của mình hơn nữa trong nền kinh tế thì ngoài sự trợgiúp của Đảng và Nhà nước, các DNNVV cũng phải quan tâm đến các mối quan hệvới khách hàng và quan hệ trên thị trường để các mối quan hệ này ngày càng pháttriển, trong đó mối quan hệ với các NHTM chiếm một vị trí rất quan trọng
Ngân hàng TMCP Đông Nam Á - SeABank là một trong những NHTM đượcđánh giá khá cao trong hệ thống các NHTMCP ngoài quốc doanh hiện nay Cũng nhưhầu hết các NHTMCP khác, tín dụng là hoạt động truyền thống và đang mang lại lợinhuận chủ yếu cho SeABank Ngay từ khi thành lập, định hướng chiến lược phát triểncốt lõi của SeABank là trở thành ngân hàng bán lẻ tiêu biểu tại Việt Nam Hội đồngquản trị SeABank đã định hướng là phát triển đối tượng DNNVV và chủ động tạo điềukiện cho các DNNVV tiếp cận được nguồn vốn tín dụng của SeABank
Thực tế hoạt động tín dụng của các Ngân hàng Việt Nam nói chung và củaSeABank nói riêng trong thời gian qua cho thấy chất lượng tín dụng chưa tốt, hiệuquả tín dụng chưa cao, tỷ lệ nợ quá hạn còn cao và chưa có xu hướng giảm vữngchắc, khả năng xảy ra rủi ro tín dụng luôn tiềm ẩn Nguyên nhân gây ra rủi ro tín
Trang 6dụng rất đa dạng Đặc biệt trong thời kỳ hậu suy thoái nền kinh tế như hiện nay rủi
ro tín dụng nói chung và rủi ro tín dụng đối với DNNVV luôn tiềm ẩn và khả năngxẩy ra rủi ro là rất cao Để có thể nâng cao hiệu quả hoạt động, SeABank luôn đặt
sự quan tâm hàng đầu đến các biện pháp nhằm giảm thiểu rủi ro tín dụng và luôncoi đây là vấn đề cấp thiết trong hoạt động sản xuất kinh doanh của SeABank.Với tính cấp thiết và xác định tầm quan trọng của vấn đề, tác giả lựa chọn đề tài
nghiên cứu luận văn cao học là: “Hạn chế rủi ro Tín dụng tại Ngân hàng Thương mại
cổ phần Đông Nam Á - SeABank đối với Doanh nghiệp nhỏ và vừa”
2 Mục tiêu nghiên cứu đề tài
Tác giả nghiên cứu những vấn đề lý thuyết về tín dụng và rủi ro tín dụng, một
số chỉ tiêu phân tích rủi ro tín dụng, DNNVV, … từ đó làm cơ sở để đánh giá hoạtđộng tín dụng tại SeABank đối với DNNVV Từ những vấn đề về lý thuyết và thựctrạng tín dụng DNNVV trên, tác giả đưa ra một số giải pháp nhằm hạn chế rủi ro tíndụng tại SeABank đối với các DNNVV
Hiện nay, cho vay các DNNVV đang là hoạt động kinh doanh chính và đem lại lợinhuận cao nhất (năm 2010: 62%) cho SeABank Xuất phát từ thực tiễn ngày một nâng caohiệu quả trong hoạt động sản xuất kinh doanh, chất lượng tín dụng tại SeABank, việcnghiên cứu về hạn chế rủi ro Tín dụng đối với các DNNVV nhằm một số mục tiêu sau:
− Thứ nhất: Phân tích cơ sở lý luận về rủi ro tín dụng DNNVV tại
NHTM
− Thứ hai: Phân tích thực trạng rủi ro tín dụng của SeABank đối với
DNNVV
− Thứ ba: Đề xuất một số giải pháp, kiến nghị mang tính khả thi trong
việc hạn chế rủi ro tín dụng tại SeABank đối với DNNVV, nhằm nâng cao hiệu quả
và chất lượng tín dụng tại SeABank
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu rủi ro tín dụng trong hoạt động
tín dụng cho vay tại SeABank đối với các DNNVV
* Phạm vi nghiên cứu:
Trang 7+ Trong khuôn khổ luận văn này do thời gian và trình độ có hạn, tác giả xinđược chỉ đi vào phân tích rủi ro tín dụng tại SeABank đối với DNNVV.
+ Hạn chế rủi ro tín dụng bằng cách phòng ngừa hoặc các biện pháp xử lý khi xẩy
ra rủi ro tín dụng Tuy nhiên, luận văn cũng đi sâu vào phân tích các biện pháp phòngngừa rủi ro tín dụng là chính
+ Rủi ro tín dụng tại SeABank đối với các DNNVV trong giai đoạn từ năm
2008 đến năm 2010
4 Những đóng góp khoa học của luận văn
Những lợi ích mà tác giả hướng tới là hệ thống hóa cơ sở lý luận về rủi ro tíndụng, nghiên cứu hoàn thiện, phát hiện những rủi ro tín dụng, từ đó đề xuất hệthống các giải pháp nhằm hạn chế rủi ro tín dụng tại SeABank
+ Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng tại SeABank đối vớiDNNVV nói riêng và đối với hoạt động tín dụng nói chung từ đó đưa ra nhữngđánh giá chung về hoạt động hạn chế rủi ro tín dụng tại SeABank
+ Trên cơ sở đó, đề tài đưa ra một số quan điểm và giải pháp có tính chất khảthi nhằm hạn chế rủi to tín dụng tại SeABank đối với DNNVV
- Kết quả đề tài mang lại là những giá trị mà các Ngân hàng thương mại có thểnghiên cứu, tham khảo xem xét để rút ra kinh nghiệm và áp dụng trong công tác hạnchế rủi ro tín dụng đối với DNNVV nói chung và hoạt động tín dụng nói riêng.Đồng thời, đề tài cũng giúp các Ngân hàng thương mại nhận thức rõ hơn về tácđộng của rủi ro tín dụng đến hiệu quả hoạt động của Ngân hàng và từ đó đưa ra cácgiải pháp và kiến nghị một cách nghiêm túc và khoa học
5 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, các bảng biểu, danh mục tài liệu thamkhảo, luận văn được trình bày gồm 4 chương:
Chương 1: Tổng quan các kết quả nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận văn Chương 2: Một số vấn đề cơ bản của NHTM về rủi ro tín dụng DNNVV Chương 3: Thực trạng rủi ro tín dụng tại SeABank đối với DNNVV.
Chương 4: Giải pháp hạn chế rủi ro tín dụng tại SeABank đối với DNNVV
Trang 9CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN VĂN
Rủi ro tín dụng luôn là mối quan tâm hàng đầu, yếu tố quyết định sống còncủa các NHTM từ trước đến nay Một thực tế cho thấy việc giảm thiểu rủ ro tíndụng luôn là vấn đề nóng bỏng được các NHTM quan tâm Lợi nhuận chính củaNHTM đạt được là từ hoạt động tín dụng Chính vì vậy, nên vấn đề hạn chế rủi rotín dụng tại các NHTM đã được rất nhiều tác giả lựa chọn nghiên cứu, từ các khíacạnh và các cách tiếp cận khác nhau, tại các NHTM khác nhau (NH TMCP NgoạiThương Việt Nam, NH TMCP Công thương Việt Nam, NH Nông nghiệp và Pháttriển Nông thôn Việt Nam, …) đến việc tiếp cận từng chi nhánh của các NHTMnhằm đưa ra các giải pháp, các mô hình quản lý, giám sát để hạn chế rủi ro tín dụngcho các NHTM Tuy nhiên, việc đưa ra các giải pháp để xác định rõ mô hình quản
lý, các quy trình nhằm hạn chế rủi ro tín dụng tại Ngân hang thương mại cổ phầnĐông Nam Á – SeAbank đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa vẫn còn nhiều điểm cầnphải bàn luận
1.1 Một số nghiên cứu về rủi ro tin dụng, doanh nghiệp vừa và nhỏ trên thế giới
1.1.1 Nghiên cứu về rủi ro tín dụng của nhà kinh tế học Peter S.Rose
Rủi ro tín dụng được hình thành và phát triển cùng với sự hình thành và pháttriển của Ngân hàng Nhưng rủi ro tín dụng chưa được quan tâm sớm như vậy màđến mãi những năm cuối của thế kỷ 20 khi các Ngân hàng phát triển mạnh mớiđược các nhà kinh tế học đặc biệt quan tâm Theo thời gian, rủi ro tín dụng đã ngàycàng được các nhà kinh tế học quan tâm nhiều hơn Đặc biệt là doanh nhân tronglĩnh vực Ngân hàng Một trong những nghiên cứu đó là lý thuyết về rủi ro tín dụngcủa nhà kinh tế học: Peter S.Rose Các nghiên cứu của ông đều liên quan đến việchình thành và nguyên nhân của rủi ro tín dụng nhằm mục tiêu thay đổi tư duy hoạt
Trang 10động vốn có từ trước của Ngân hàng Peter S.Rose đã chỉ ra rằng, hoạt động Ngânhàng là hoạt động luôn luôn tiền ẩn rủi ro: Rủi ro tín dụng, rủi ro lãi suất, rủi ro hốiđoái, rủi ro thanh khoản, rủi ro tồn đọng vốn và các rủi ro khác Rủi ro tín dụng làrủi ro mang tính sống còn của Ngân hàng, nó được phản ánh qua các chỉ tiêu như:
Nợ quá hạn và tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ; Nợ khó đòi và tỷ lệ nợ khó đòi trên tổng dư nợ; Nợ có vấn đề; Tính đa dạng hóa của tài sản; Tình hình tài chính và phương án của người vay (các yếu tố của người vay) hoặc xếp hạng tín dụng người vay; Đảm bảo tín dụng; Quan hệ tín dụng giữa Ngân hàng và khách hàng; Môi trường hoạt động của người vay.
Các chỉ tiêu trên cung cấp cho Ngân hàng các thông tin, chỉ số để phản ánhmức độ rủi ro tín dụng đối với từng khách hàng, từng ngành nghề, lĩnh vực kinhdoanh của khách hàng và trên toàn hệ thống Các chỉ tiêu trên cung cấp cái khung
để phân tích các vấn đề trong rủi ro tín dụng và đánh giá được mức độ rủi ro và cácnguyên nhân dẫn đến rủi ro Từ đó, nhà quản lý có thể đưa ra mô hình quản lý phùhợp với điều kiện cụ thể tại ngân hàng mình, để quản lý hoạt động tín dụng củangân hàng mình tốt hơn, hiệu quả hơn Mục tiêu cuối cùng cần đạt được của các nhàquản lý là giảm thiểu rủi ro trong hoạt động tín dụng của ngân hàng, nhằm tăng lợinhuận của ngân hàng
Có rất nhiều nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng, để hạn chế rủi ro tín dụng cầnxác định những nguyên nhân cụ thể, cách thức gây rủi ro tín dụng đối với từngnhóm sản phẩm, từng đối tượng khách hàng để có biện pháp hạn chế rủi ro tín dụng
cụ thể và thiết thực nhất Nhưng dù nhóm sảm phẩm hay đối lượng khách hàng nàocũng chịu ảnh hưởng của hai nhóm nguyên nhân cơ bản sau:
+ Nguyên nhân chủ quan: do trình độ, đạo đức của cán bộ ngân hàng, thiếu giámsát quản lý sau cho vay, không tuân thủ nghiêm ngặt các quy trình, quy chế của ngânhàng, lỏng lẻo trong khâu giám sát tài chính và kiểm tra, kiểm soát nội bộ,…
+ Nguyên nhân khách quan: Do khách hàng cố tình sử dụng vốn sai mục đích,không có thiện trí và ý trí trong việc trả nợ vay, tình hình tài chính không minh
Trang 11bạch, yếu kém, do tác động của nền kinh tế xã hội và môi trường hoạt động sản xuấtkinh doanh của khách hàng,…
Như vậy, Peter S.Rose đã đưa ra được các nội dung cơ bản của rủi ro tín dụng
và nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng phần nào thể hiện những nội dung chính củarủi ro tín dụng cũng như cách thức áp dụng và cách thức giải quyết các vấn đề.Nhưng đối với mỗi một Ngân hàng khác nhau thì đặc thù khác nhau và nó cũngchịu ảnh hưởng của các nguyên nhân này khác nhau
1.1.2 Nghiên cứu về doanh nghiệp vừa và nhỏ
Có rất nhiều quan niệm khác nhau về doanh nghiệp vừa và nhỏ, nhưng nhìn chunghầu hết các ý kiến đều cho rằng DNNVV là những cơ sở sản xuất kinh doanh tương đốinhỏ với quy mô không lớn lắm Tuy nhiên để có thể hiểu chính xác thế nào là quy môtương đối nhỏ, không lớn lắm thì lại có rất nhiều ý kiến khác nhau giữa các nhà kinh tếhọc Hơn nữa việc phân loại doanh nghiệp theo quy mô lớn, vừa và nhỏ chỉ mang tínhtương đối do quá trình phân loại còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: trình độ phát triểnkinh tế của một nước; tính chất ngành nghề sản xuất; tính chất lịch sử… Trên cơ sở đómỗi nước có một sự lựa chọn tiêu thức khác nhau để đưa ra khái niệm doanh nghiệp vừa
và nhỏ Song nhìn chung các nước thường sử dụng hai nhóm chỉ tiêu phổ biến dùng đểphân loại doanh nghiệp vừa và nhỏ, đó là:
−Nhóm chỉ tiêu về định tính
−Nhóm chỉ tiêu về định lượng
Trong đó, các chỉ tiêu định lượng đóng vai trò quyết định phân biệtnhóm doanh nghiệp này với các doanh nghiệp lớn
Nhóm chỉ tiêu về định lượng: gồm có ba chỉ tiêu thường được dùng độc
lập, hoặc kết hợp với nhau, để xác định tính chất nhỏ và vừa của doanh nghiệp:
−Số vốn điều lệ của doanh nghiệp
−Lực lượng lao động
−Quy mô sản xuất hoặc doanh thu từ hoạt động kinh doanh
Trang 12Nhóm chỉ tiêu về định tính: các chỉ tiêu về định tính thường được xem xét
là cơ cấu của công ty, số lượng người quản lý, người ra quyết định chính,ngành nghề kinh doanh và các rủi ro có thể xảy ra
Ở Nhật cũng có rất nhiều các DNNVV, chiếm tới hơn 75% Nhưng quy định
để trở thanh một doanh nghiệp của Nhật phải đáp ứng được các yêu cầu cụ thể:Người đứng đầu doanh nghiệp phải có chứng chỉ quản lý do Hội doanh nhân củaNhật cấp, người đứng đầu doanh nghiệp phải am hiểu về lĩnh vực hoạt động sảnxuất kinh doanh, doanh nghiệp phải có tối thiểu là 35 công nhân Ở Nhật, các doanhnghiệp lớn là những doanh nghiệp có quy mô hoạt động xuyên quốc gia, còn lại làDNNVV Ở Nhật không có các doanh nghiệp siêu nhỏ như ở Việt Nam
1.2 Một số nghiên cứu về hạn chế rủi ro tín dụng tại ngân hàng ở Việt Nam
Rủi ro tín dụng có thể xảy ra từ những nguyên nhân chủ quan của ngân hàng
và nguyên nhân khách quan do khách hàng và môi trường kinh tế, xã hội,… manglại Nhận biết được những nguyên nhân trên là điều kiện cơ bản để phòng ngừa vàhạn chế rủi ro tín dụng (đây cũng là yếu tố cơ bản quyết định tính sống còn của mộtngân hàng) Trong giai đoạn vừa qua, các tổ chức tín dụng nói chung và các Ngânhàng thương mại nói riêng đã thực hiện khá nhiều giải pháp hiệu quả để giảm thiểurủi ro tín dụng như: Áp dụng các quy trình, quy chế mang tính khoa học hơn, xử lý
nợ quá hạn, nợ có vấn đề hiệu quả hơn, nâng cao công tác thẩm định, quản lý hiệuquả các dòng tiền,…
Tuy nhiên, quản lý rủi ro là một quá trình liên tục trong một NHTM nên đểhiệu quả hoạt động bền vững thì nhất thiết không ngừng đề ra các giải pháp để nângcao hơn nữa hiệu quả quản lý rủi ro, đặc biệt trong hoạt động tín dụng NHTMmuốn giảm thiểu rủi ro cho mình nhất thiết phải có một hệ thống giải pháp chủđộng ngăn ngừa và hạn chế rủi ro từ những nguyên nhân chủ quan nội bộ cũng nhưhạn chế sự ảnh hưởng từ phía khách hàng Sự chủ động này được thể hiện ngay từkhi xây dựng chính sách cho vay, quy trình cho vay, thực hiện quy trình và kể cảcác biện pháp kỹ thuật để ngăn chặn gian lận từ phía khách hàng cũng như đảm bảo
Trang 13an toàn vốn cho ngân hàng khi khách hàng gặp rủi ro
Trên khía cạnh về vĩ mô của hạn chế rủi ro tín dụng PGS.TS Nguyền Hiền có
tác phẩm: Hạn chế rủi ro tín dụng, ngân hàng tìm “điểm tựa” năm 2009, Tác giả
đưa ra nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng: cơ bản là hai nhóm nguyên nhân chủquan và khách quan Hạn chế rủi ro tín dụng và cách xử lý rủi ro tín dụng như: Cácchính sách linh tế vĩ mô của Nhà nước, môi trường kinh tế - xã hội, nội bộ ngânhàng và trình độ quản lý cũng như trình độ của cán bộ,…Tuy nhiên, Tác giả mới chỉđưa ra vấn đề và cách thức giải quyết vấn đề mang tính chung cho toàn nền kinh tếtrong giai doạn khủng hoảng và suy thoái của nền kinh tế, nghiên cứu của tác giảcũng nghiên cứu và chủ yếu đi sâu về giải quyết nợ quá hạn, nợ sấu, nợ có vấn đềchưa đi sâu vào một lĩnh vực cụ thể của một tổ chức tín dụng nào
Tác giả Nguyễn Thị Thu Hằng (2008), Luận văn thạc sĩ kinh tế, “Hạn chế rủi
ro tín dụng tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Á Châu” Đề tài này đã đề cập đến
hạn chế rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Á Châu, đề tài đã đưa racác đánh giá, nhận xét về hoạt động này Tuy nhiên các giải pháp đề tài đưa ra mớichỉ nêu chung chung và một vài giải pháp chỉ phù hợp với hệ thống của Ngân hàngThương mại cổ phần Á Châu, chưa nêu được những hạn chế từ phía Ngân hàngmang lại như việc kiểm tra, kiểm soát nội bộ, kiểm tra dòng tiền của khách hàng, …Nhưng cũng có một số vấn đề tác giả đi quá sâu và chi tiết như: kiểm tra tài sản bảođảm của khoản vay thường xuyên sau cấp vốn và rà soát khách hàng thường xuyên(tần suất theo tháng) qua hệ thống chấm điểm tín dụng nội bộ điều này có lẽ là phùhợp với đặc điểm riêng có của tổ chức tín dụng nơi tác giả nghiên cứu Tác giả chưa
có kiến nghị với Ngân hàng Nhà nước và Trung tâm thông tin tín dụng CIC về cácthông tin do trung tâm này cung cấp
Tác giả Nguyễn Chí Cao năm 2010 có Luận án tiến sĩ kinh tế “Giải pháp đẩy mạnh
công tác quản lý rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Đông Nam Á (SeABank)”.
Tác giả đã nêu ra được các giải pháp để quản lý rủi ro tín dụng tại SeABank nhưnglại đi sâu về các quy trình, quy chế thực hiện tín dụng để tìm ra quy trình, quy chế
Trang 14quản lý rủi ro tín dụng hiệu quả nhất cho SeABank Tác giả đã đưa ra được rấtnhiều các mô hình quản lý cũng như các quy trình quản lý rủi ro tín dụng và cấp tínduungj của các nước phát triển và có thị trường tài chính phát triển như: Mỹ, Đức,các nước Bắc Âu,… tác giả ít đề cập đến vấn đề con người cả trong khâu thẩm định
và kiểm tra, kiểm soát nội bộ trong hệ thống ngân hàng Tác giả hầu như không đềcập đến chính sách kinh tế vĩ mô, môi trường kinh tế xã hội và đặc biệt tác giả chỉnêu các giả pháp này chung cho tất cả các đối tượng khách hàng chứ chưa đề cậpriêng đến đối tượng khách hàng doanh nghiệp nhỏ và vừa
Như vậy, qua đánh giá tổng quan các tài liệu nghiên cứu liên quan đến việcquản lý rủi ro tín dụng, cũng như các nghiên cứu về hạn chế rủi ro tín dụng có thểthấy hệ thống các nghiên cứu về lĩnh vực này đã góp phần hình thành một cơ sở lýthuyết khá dày dặn, nhất quán cho việc hạn chế rủi ro tín dụng tại các NHTM Cácnghiên cứu đã mang lại hệ thống lý luận cũng như những bài học kinh nghiệm tronghoạt động tín dụng của Ngân hàng Tuy vậy, những nghiên cứu trên mới chỉ nghiêncứu trên toàn hệ thống của một NHTM, hoặc chỉ nghiên cứu chung cho toàn bộ lĩnhvực tín dụng trên phương diện vĩ mô hoặc trên phương diện lý thuyết, việc hạn chếrủi ro tín dụng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa chưa được chú trọng
Trang 15CHƯƠNG 2 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ RỦI RO TÍN DỤNG
CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI ĐỐI VỚI
DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA
2.1 Đặc điểm tín dụng Ngân hàng đối với DNNVV
2.1.1 Khái niệm và đặc điểm của doanh nghiệp nhỏ và vừa
2.1.1.1 Khái niệm về doanh nghiệp nhỏ và vừa
Hiện nay, trên thế giới có rất nhiều khái niệm khác nhau về doanh nghiệp nhỏ
và vừa, nhưng nhìn chung hầu hết các khái niệm đều cho rằng DNNVV là những
cơ sở sản xuất kinh doanh tương đối nhỏ với quy mô không lớn lắm Tuy nhiên,
để có thể hiểu chính xác thế nào là quy mô tương đối nhỏ, không lớn lắm thì lại córất nhiều ý kiến khác nhau giữa các nhà kinh tế trong và ngoài nước Hơn nữa việcphân loại doanh nghiệp theo quy mô lớn, vừa hay nhỏ chỉ mang tính tương đối doquá trình phân loại còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: trình độ phát triển kinh tếcủa một nước; loại hình ngành nghề sản xuất kinh doanh; tính chất lịch sử để lại,…Theo các tiêu chí đó mỗi nước có một sự lựa chọn tiêu thức khác nhau để đưa
ra khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa Song nhìn chung, các nước thường sửdụng hai nhóm chỉ tiêu phổ biến dùng để phân loại doanh nghiệp nhỏ và vừa là:
Nhóm chỉ tiêu về định tính.
Nhóm chỉ tiêu về định lượng.
Các chỉ tiêu định lượng đóng vai trò quyết định phân biệt nhóm doanhnghiệp này với các doanh nghiệp lớn
Nhóm chỉ tiêu về định lượng là: gồm có ba chỉ tiêu thường được dùng độc lập,
hoặc kết hợp với nhau, để xác định tính chất nhỏ và vừa của doanh nghiệp:
Trang 16−Vốn điều lệ của doanh nghiệp
−Số lượng lao động
−Quy mô sản xuất hoặc doanh thu từ hoạt động kinh doanh
Nhóm chỉ tiêu về định tính là: các chỉ tiêu về định tính thường được xem
xét là cơ cấu của công ty, số lượng người quản lý, người ra quyết định chính,ngành nghề kinh doanh và các rủi ro có thể xảy ra
Ở Việt Nam, việc phân loại DNNVV chủ yếu theo hai tiêu chí cơ bản là số laođộng và tổng nguồn vốn theo ba khu vực: Nông, lâm nghiệp và thủy sản, Côngnghiệp và xây dựng, Thương mại và dịch vụ
Để cụ thể hóa các tiêu chí này và để thuận tiện cho việc phân loại DNNVV,ngày 30/06/2009, Thủ tướng Chính phủ đã có Nghị định số 56/NĐ-CP về trợ giúpphát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa đã định nghĩa: Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ
sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành bacấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đươngtổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc sốlao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên), cụ thể như sau:
Bảng 2.1 Phân loại doanh nghiệp nhỏ và vừa
I Nông, lâm
nghiệp và
thủy sản
10 người trởxuống
20 tỷ đồng trởxuống
Từ trên 10người đến
20 tỷ đồng trởxuống
Từ trên 10người đến
300 ngườiIII Thương
mại và dịch
vụ
10 người trởxuống
10 tỷ đồng trởxuống
Từ trên 10người đến
100 người
(Nguồn: Nghị định số 56/NĐ-CP ngày 30/06/2009)
Trang 17Với cách phân loại này thì năm 2010 ở Việt Nam số DNNVV chiếm tới 95%tổng số doanh nghiệp hiện đang hoạt động Tính riêng trên địa bàn Hà Nội thì cácDNNVV cũng chiếm tới 85%, trong đó chủ yếu là các doanh nghiệp được thành lập
và hoạt động theo Luật Doanh nghiệp
2.1.1.2 Đặc trưng của doanh nghiệp vừa và nhỏ
Tuy khái niệm DNNVV ở mỗi quốc gia khác nhau nhưng nhìn chung các kháiniệm đều khẳng định rằng DNNVV là hàm ý nói tới một tập hợp các thực thể kinh
tế có quy mô nhỏ và vừa xét trên phương diện vốn, lao động so với mặt bằng pháttriển chung của nền kinh tế ở một quốc gia nhất định và có những lợi thế và cũng cónhững hạn chế cơ bản sau:
* Lợi thế của DNVVN:
+ DNNVV dễ dàng và nhanh chóng đổi mới thiết bị công nghệ Khác với cácdoanh nghiệp lớn, DNNVV với yêu cầu vốn bổ sung không nhiều và giảm được sựthiệt hại trong việc thay đổi tư bản cố định khi có sự cạnh tranh phải chuyển sangkinh doanh ngành khác nên các DNNVV dễ dàng và nhanh chóng trong việc đổimới thiết bị công nghệ khi cần thiết
+ Các DNNVV được thành lập với lượng vốn đầu tư ban đầu ít, hoạt động cóhiệu quả với chi phí cố định thấp, thu hồi vốn nhanh Hầu hết các DNNVV đều cóthể dễ dàng bắt đầu hoạt động ngay sau khi có ý tưởng kinh doanh với một ít vốncũng như lao động
+ DNNVV có hệ thống tổ chức sản xuất và quản lý gọn nhẹ, linh hoạt Côngtác điều hành tại các DNNVV mang tính trực tiếp, quan hệ giữa những người laođộng và người quản lý khá chặt chẽ, gắn bó, tạo ra môi trường làm việc tốt
+ DNNVV năng động linh hoạt, tự do sáng tạo trong kinh doanh và dễ thíchnghi với những thay đổi của nền kinh tế DNNVV năng động hơn các doanhnghiệp lớn trước những thay đổi liên tục của thị trường Với ưu thế quy mô vốnnhỏ, cơ sở vật chất không lớn, cơ cấu bộ máy quản lý gọn nhẹ, DNNVV có khảnăng chuyển hướng kinh doanh và chuyển đổi mặt hàng nhanh hơn, tăng giảm laođộng dễ dàng, có thể chuyển đổi mở rộng hoặc thu hẹp quy mô sản xuất mà khônggây hậu quả gì lớn
Trang 18+ DNNVV là sự bổ sung thiết yếu cho chính sự sinh tồn và phát triển cácdoanh nghiệp lớn Về nghiên cứu triển khai, DNNVV là nơi thử nghiệm những đổimới phát minh sáng chế Về sản xuất, DNNVV là người đảm nhiệm có hiệu quảcao những công đoạn cả ở phần đầu, phần giữa và phần cuối của quá trình chế tác
mà doanh nghiệp lớn không cần làm Về dịch vụ, DNNVV có khả năng cung ứngtốt nhiều dịch vụ do có ưu thế trong việc tiếp xúc với khách hàng Về thương mại,DNNVV có tính cơ động nhanh nhạy thâm nhập vào những thị trường tốt và rútkhỏi những thị trường không có tiềm năng
+ DNNVV tạo điều kiện duy trì tự do cạnh tranh Các DNNVV có số lượngđông đảo hoạt động trong lĩnh vực cung cấp các mặt hàng thiết yếu nên thườngkhông có tình trạng độc quyền Các DNNVV dễ dàng và sẵn sàng chấp nhận tự docạnh tranh, không trông chờ vào sự giúp đỡ của Nhà nước DNNVV có lợi thếtrong việc theo sát nhu cầu và thị hiếu người tiêu dùng, từ đó sáng tạo ra nhiều hànghóa và dịch vụ mới đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu người tiêu dùng
+ DNNVV nếu có thua lỗ, phá sản thì có ảnh hưởng rất ít hoặc không gâynên khủng hoảng kinh tế – xã hội, đồng thời ít chịu ảnh hưởng bởi các cuộc khủnghoảng kinh tế dây chuyền
+ DNNVV có cơ sở vật chất kỹ thuật, trình độ thiết bị công nghệ thường yếukém, lạc hậu Do nguồn vốn nhỏ và sự hiểu biết còn hạn chế nên các DNNVV chỉ
Trang 19sử dụng các công nghệ trung bình, đơn giản, kết quả là năng suất lao động thấp, làmgiảm khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp Các DNNVV cũng rất khó tiếp cậnvới thị trường công nghệ, máy móc và thiết bị hiện đại Rất ít DNNVV được trang
bị công nghệ hiện đại, trừ khi liên doanh với nước ngoài
+ DNNVV có năng lực tài chính bị bó hẹp và được thể hiện ngay từ tên gọicủa loại hình doanh nghiệp này Các DNNVV luôn gặp khó khăn trong giai đoạnmới hình thành, phần lớn các DNNVV đều gặp phải khó khăn về vốn Các NHTMcũng như các tổ chức tài chính khác thường e ngại không muốn cho DNNVV vayvốn bởi vì họ chưa có quá trình kinh doanh uy tín và chưa tạo lập được khả năng trả
nợ với ngân hàng
+ DNNVV có trình độ đội ngũ cán bộ quản lý và người lao động chưa cao.Các DNNVV thường thiếu đội ngũ lao động có trình độ tay nghề, có khả năng đápứng yêu cầu phát triển trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực Hơnnữa, nhiều cán bộ quản lý, chủ doanh nghiệp thiếu kiến thức quản lý, trình độchuyên môn, thậm chí trình độ văn hoá thấp, thiếu kinh nghiệm nhiều mặt từ kỹnăng quản lý đến hiểu biết về công nghệ và thị trường
+ DNNVV có phương pháp hạch toán kế toán thường không đầy đủ, khôngchính xác và thiếu minh bạch Khả năng lập các phương án sản xuất kinh doanh cònyếu, tính thuyết phục chưa cao Doanh nghiệp chưa chỉ cho ngân hàng thấy được lợithế cạnh tranh của doanh nghiệp mình so với các doanh nghiệp khác, không dự trùđược đầy đủ các chi phí cũng như các khoản thu để từ đó ước tính lợi nhuận màphương án đem lại
+ DNNVV thiếu sức phòng, tránh và chống các rủi ro Càng có nhiềuDNNVV ra đời thì càng có nhiều DNVVN phá sản Trong những năm qua, nhànước luôn khuyến khích phát triển thành phần kinh tế ngoài quốc doanh vì thế cácthủ tục thành lập doanh nghiệp đơn giản hơn, chi phí thấp hơn Mặc dù có ưu thếlinh hoạt song do khả năng tài chính bị hạn chế, khi có biến động lớn trên thịtrường, các DNNVV dễ rơi vào tình trạng phá sản do không có đủ nguồn lực đểkhắc phục khó khăn
Trang 20Tóm lại, DNNVV có rất nhiều thuận lợi nhưng có không ít những hạn chế Đểtạo điều kiện và khuyến khích các DNNVV khai thác, phát huy hết lợi thế cũng nhưkhắc phục những bất lợi hạn chế sự phát triển của DNNVV, Nhà nước cần đưa ranhững chính sách, biện pháp hỗ trợ phù hợp đối với DNNVV Bởi các DNNVVngày càng giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế, có vị trí quan trọng trong quátrình phát triển kinh tế của đất nước
2.1.2 Khái niệm tín dụng ngân hàng đối với DNNVV
Tín dụng là loại sản phẩm chiếm tỷ trọng lớn nhất ở phần lớn các NHTM,phản ánh hoạt động đặc trưng của Ngân hàng Hoạt động chủ yếu của NHTM là tài
trợ cho khách hàng trên cơ sở tín nhiệm (Tín dụng) Hình thức tín dụng truyền
thống của NHTM là cho vay có đảm bảo bằng tài sản hoặc cho vay tín chấp Tuynhiên, các Ngân hàng lớn hiện nay thực hiện đa dạng các hình thức tín dụng từ chovay ngắn, trung và dài hạn, bảo lãnh cho khách hàng, chi thuê tài chính, chiết khấugiấy tờ có giá và một số hoạt động khác do NHNN qui định
Theo khoản 01 Điều 03 của Quy chế cho vay của Tổ chức Tín dụng đối với
khách hàng (ban hành kèm theo Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày
31/12/2001 của Thống đốc NHNN) thì “Cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo
đó TCTD giao cho khách hàng sử dụng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi.”
Theo điều 20 Luật các tổ chức tín dụng ban hành năm 1997 và Luật các tổ
chức tín dụng được bổ sung sửa đổi năm 2004 thì: “Hoạt động tín dụng là việc các
TCTD sử dụng nguồn vốn tự có, nguồn vốn huy động để cấp tín dụng” và “Cấp tín dụng là việc TCTD thoả thuận để khách hàng sử dụng một khoản tiền với nguyên tắc có hoàn trả bằng các nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ khác”.
Như vậy, tín dụng ngân hàng đối với DNNVV được hiểu là giao dịch tài sản giữa
Ngân hàng với DNNVV - bên đi vay, trong đó Ngân hàng chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời gian nhất định theo thoả thuận và bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện cả gốc và lãi cho Ngân hàng khi đến hạn thanh thanh toán
Trang 21Vậy với đặc trưng cơ bản trong hoạt động của ngân hàng là ngân hàng kinhdoanh trên lĩnh vực tiền tệ nên hoạt động tín dụng của ngân hàng rộng hơn rất nhiều
so với hoạt động tín dụng thương mại thông thường Tài sản giao dịch trong tíndụng ngân hàng chủ yếu dưới hình thức tiền tệ song trong một số hình thức tín dụngkhác như cho thuê tài chính thì tài sản trong giao dịch tín dụng có thể là tài sản cốđịnh, hay có khi là uy tín như trong các hình thức bảo lãnh
2.1.3 Bản chất tín dụng ngân hàng đối với DNNVV
Do quy mô hoạt động sản xuất kinh doanh của các DNNVV không lớn nên tíndụng ngân hàng dành cho các loại hình doanh nghiệp này cũng không lớn; DNNVVchủ yếu vay vốn để tài trợ cho sự thiếu hụt về vốn lưu động, nên các khoản vaymang tính nhỏ, lẻ; Do nguyên nhân khách quan cũng như chủ quan nên hầu hết cácDNNVV thường vay các khoản vốn ngắn hạn là chính Các khoản vốn này chủ yếu phục
vụ cho quá trình sản xuất chứ chưa có tác dụng nâng cao, mở rộng năng lực sản xuất.Nên cho vay trung dài hạn đối với các DNNVV chiếm một tỷ lệ nhỏ trongtổng nguồn vốn cho vay đối với loại hình doanh nghiệp này Và tỷ lệ nhỏ đó lạithuộc về đại đa số các DNNVV thuộc khối doanh nghiệp Nhà nước; Cho vayDNNVV chứa đựng nhiều yếu tố rủi ro, những rủi ro đó xuất phát chính từ nhữngđặc điểm của nó như vốn ít, trình độ công nghệ và quản lý hạn chế gây ra chodoanh nghiệp những khó khăn trong quá trình sản xuất kinh doanh
2.1.4 Các hình thức tín dụng của ngân hàng đối với DNNVV
Từ khi hình thành đến nay các ngân hàng đã không ngừng đổi mới hoạt độngcủa mình cho phù hợp với những điều kiện khác nhau của nền kinh tế Cùng với sựphát triển của các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường, các hình thức tín dụngcủa ngân hàng cũng ngày càng trở nên phong phú và đa dạng, đáp ứng các nhu cầukhác nhau về vốn Tín dụng ngân hàng đã trở thành người bạn đồng hành thân thiết,
là động lực thúc đẩy quan trọng của từng doanh nghiệp Đối với DNNVV, ngânhàng có các hình thức tín dụng cơ bản được chia theo các hình thức sau:
2.1.4.1 Phân loại theo hình thức tài trợ tín dụng
a Cho vay:
Trang 22Khi một tổ chức tín dụng cấp tín dụng (giao) cho doanh nghiệp sử dụng mộtkhoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định theo thoả thuận vớinguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi thì gọi là cho vay Cho vay là phương thứcmang lại nhiều lợi nhuận nhất so với các nghiệp vụ khác, đồng thời cũng là hìnhthức phổ biến và truyền thống trong nghiệp vụ tín dụng Hiện nay, ở Việt nam cácNHTM đang áp dụng các phương thức cho vay đối với DNNVV gồm có:
•Cho vay từng lần
•Cho vay theo hạn mức tín dụng
•Cho vay theo hạn mức tín dụng dự phòng
•Cho vay theo dự án đầu tư
•Cho vay hợp vốn
•Cho vay trả góp
b Chiết khấu thương phiếu:
Chiết khấu thương phiếu là hình thức tín dụng trong đó ngân hàng sẽ ứngtrước tiền cho doanh nghiệp tương ứng với giá trị thương phiếu trừ đi phần thu nhậpcủa ngân hàng để sở hữu một thương phiếu chưa đến hạn Đến hạn ngân hàng có
quyền đòi tiền từ người mua hàng của doanh nghiệp (người phải trả), nếu người
phải trả không trả, ngân hàng có quyền truy đòi đối với các bên có ký tên trênthương phiếu
c Bảo lãnh:
Bảo lãnh ngân hàng là việc ngân hàng sẽ cam kết bằng văn bản (dưới hình
thức thư bảo lãnh, hợp đồng bảo lãnh) với bên có quyền (bên nhận bảo lãnh) về
việc thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho doanh nghiệp (bên được bảo lãnh) Khi
doanh nghiệp không thực hiện hoặc thực hiện không đúng các nghĩa vụ đã cam kếtvới bên nhận bảo lãnh, doanh nghiệp phải nhận nợ và hoàn trả cho ngân hàng sốtiền đã được trả thay
Trang 23Bảo lãnh có các loại cơ bản sau:
•Bảo lãnh vay vốn
•Bảo lãnh thanh toán
•Bảo lãnh dự thầu.
•Bảo lãnh thực hiện hợp đồng.
•Bảo lãnh đảm bảo chất lượng sản phẩm (bảo lãnh bảo hành).
•Bảo lãnh hoàn trả tiền ứng trước
d Cho thuê tài chính:
Cho thuê tài chính là việc ngân hàng bỏ tiền mua các tài sản theo yêu cầu củadoanh nghiệp để cho doanh nghiệp thuê theo những thoả thuận nhất định, và saumột thời gian nhất định doanh nghiệp phải trả cả gốc và lãi cho ngân hàng Tài sảncho thuê thường là tài sản cố định và có giá trị lớn
2.1.4.2 Phân loại theo sự đảm bảo tín dụng
a Tín dụng không có TSĐB (hay còn gọi là tín chấp)
Về nguyên tắc mọi khoản tín dụng của ngân hàng đều có đảm bảo Tuy nhiêntrong một số trường hợp, ngân hàng vẫn có thể cấp tín dụng cho doanh nghiệpkhông cần có tài sản thế chấp, cầm cố, bảo lãnh mà chỉ dựa trên uy tín của doanhnghiệp với ngân hàng, khi đó được gọi là tín dụng không có đảm bảo Hình thức tíndụng này thường được cấp cho các doanh nghiệp có uy tín, làm ăn thường xuyên cólãi, tình hình tài chính lành mạnh, vững chắc
b Tín dụng có tài sản đảm bảo
Hình thức tín dụng này yêu cầu khi doanh nghiệp vay vốn phải có tài sản thếchấp, cầm cố hoặc có bảo lãnh của bên thứ ba Ngân hàng sẽ kiểm tra, đánh giá tàisản đảm bảo về các nội dung như quyền sở hữu, giá trị thị trường, khả năng bán tàisản, khả năng tài chính của bên bảo lãnh… để có thể giám sát, bảo quản tài sản đảmbảo và thanh lý tài sản khi doanh nghiệp không trả được nợ vay
Trang 242.1.4.3 Phân loại theo thời hạn tín dụng bao gồm các loại
a Tín dụng ngắn hạn
Tín dụng ngắn hạn là loại tín dụng có thời hạn dưới 12 tháng Hình thức tíndụng này thường được ngân hàng sử dụng để tài trợ cho các nhu cầu vốn ngắn ngàycủa doanh nghiệp như: bổ sung VLĐ, bổ sung VKD
b Tín dụng trung hạn
Tín dụng trung hạn là loại hình tín dụng có thời hạn từ 1 năm đến 5 năm Đốivới loại hình tín dụng này khách hàng là các doanh nghiệp có nhu cầu tín dụngtrung hạn để phục vụ việc mua sắm trtang thiết bị tài sản cố định, cải tiến và đổimới kỹ thuật, công nghiệp, mở rộng sản xuất kinh doanh, đầu tư cho các dự án,công trình có qui mô vừa và nhỏ
c Tín dụng dài hạn
Tín dụng dài hạn là loại hình tín dụng có thời hạn trên 5 năm Ngân hàng cungcấp tín dụng dài hạn nhằm hỗ trợ doanh nghiệp trong việc mua sắm các thiết bị máymóc có giá trị lớn, thời gian sử dụng lâu dài và thường là đầu tư cho các chươngtrình dự án mang tính chiến lược của doanh nghiệp
2.2 Rủi ro tín dụng đối với DNNVV
2.2.1 Quan niệm về rủi ro tín dụng
Để hiểu rủi ro tín dụng là gì thì chúng ta phải đi tìm hiểu rủi ro là gì? Rủi ro lànhững tổn thất xảy ra ngoài dự kiến Như vậy, rủi ro tín dụng là loại rủi ro phát sinhtrong quá trình cấp tín dụng của ngân hàng, biểu hiện trên thực tế qua việc kháchhàng không trả được nợ hoặc trả nợ không đúng hạn cho ngân hàng
Theo khoản 01 Điều 02 của Quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự
phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng (Ban
hành theo Quyết định số 493 /2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước) thì “Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết”.
Trang 25Tóm lại, có thể nói rủi ro tín dụng có thể xuất hiện trong các mối quan hệ mà
trong đó ngân hàng là chủ nợ, mà khách hàng nợ lại không thực hiện hoặc không đủkhả năng thực hiện nghĩa vụ trả nợ khi đến hạn Nó diễn ra trong quá trình cho vay,chiết khấu công cụ chuyển nhượng và giấy tờ có giá, cho thuê tài chính, bảo lãnh,bao thanh toán của ngân hàng Đây còn được gọi là rủi ro mất khả năng chi trả vàrủi ro sai hẹn, là loại rủi ro liên quan đến chất lượng hoạt động tín dụng của ngânhàng Rủi ro tín dụng là khả năng xảy ra những tổn thất ngoài dự kiến cho Ngânhàng do khách hàng vay không trả đúng hạn, không trả hoặc không trả đầy đủ vốn
và lãi theo như cam kết trong hợp đồng tín dụng Khi thực hiện cho vay một kháchhàng cụ thể Ngân hàng không dự kiến là khoản vay đó sẽ gặp tổn thất Tuy nhiên,những khoản nợ cho vay đó luôn hàm chứa rủi ro
2.2.2 Đặc điểm của rủi ro tín dụng
Hoạt động tín dụng là hoạt động mang lại nhiều lợi nhuận nhất cho ngân hàng,nên rủi ro tín dụng gắn liền với hoạt động quan trọng nhất, có quy mô lớn nhất củaNHTM – hoạt động tín dụng
Khi thực hiện một hoạt động tín dụng cụ thể, ngân hàng sẽ phân tích các yếu
tố của người vay sao cho độ an toàn là cao nhất Và nhìn chung ngân hàng chỉ quyếtđịnh cho vay khi thấy an toàn Tuy nhiên, không một nhà kinh doanh Ngân hàng tài
ba nào có thể dự đoán chính xác vấn đề sẽ xảy ra Khả năng hoàn trả tiền vay và trảlãi của khách hàng có thể bị thay đổi do nhiều nguyên nhân Hơn nữa, nhiều cán bộngân hàng không có khả năng thực hiện phân tích tín dụng thích đáng Do vậy trên
quan điểm quản lý toàn bộ ngân hàng, rủi ro tín dụng là không thể tránh khỏi và là
khách quan Nhiều quan điểm nhất trí rằng, rủi ro tín dụng là bạn đường trong kinh
doanh Ngân hàng, có thể đề phòng, hạn chế chứ không thể loại trừ Do vậy, rủi ro
dự kiến luôn được xác định trước trong chiến lược hoạt động chung của Ngân hàng
2.2.3 Một số chỉ tiêu chủ yếu phản ánh rủi ro tín dụng
Rủi ro tín dụng là yếu tố mang tính chất khách quan, song ngân hàng phảiquản lý rủi ro tín dụng nhằm hạn chế đến mức thấp nhất hạn mức có thể xảy ra Từ
Trang 26những nguyên nhân nảy sinh rủi ro tín dụng, Ngân hàng cụ thể hóa thành những chỉtiêu hoặc dấu hiệu phát sinh trong hoạt động tín dụng, ngân hàng phản ánh rủi ro tíndụng qua một số chỉ tiêu như sau:
Nợ quá hạn và tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ.
Nợ khó đòi và tỷ lệ nợ khó đòi trên tổng dư nợ.
Nợ có vấn đề.
Tính đa dạng hóa của tài sản.
Tình hình tài chính và phương án của người vay (các yếu tố của người
vay) hoặc xếp hạng tín dụng người vay.
Đảm bảo tín dụng.
Quan hệ tín dụng giữa Ngân hàng và khách hàng.
Môi trường hoạt động của người vay.
Căn cứ theo Quyết định 18/2007/QĐ-NHNN ngày 25/04/2007, dư nợ của các TCTD được chia làm năm nhóm nợ sau:
•Nợ nhóm 1 (Nợ đủ tiêu chuẩn) bao gồm:
+ Các khoản nợ trong hạn và tổ chức tín dụng đánh giá là có khả năng thu hồiđầy đủ cả gốc và lãi đúng hạn;
+ Các khoản nợ quá hạn dưới 10 ngày và tổ chức tín dụng đánh giá là có khảnăng thu hồi đầy đủ gốc và lãi bị quá hạn và thu hồi đầy đủ gốc và lãi đúngthời hạn còn lại;
+ Các khoản nợ được phân loại vào nhóm 1
•Nợ nhóm 2 (Nợ cần chú ý) bao gồm:
+ Các khoản nợ quá hạn từ 10 ngày đến 90 ngày;
+ Các khoản nợ điều chỉnh kỳ hạn trả nợ lần đầu (đối với khách hàng là doanhnghiệp, tổ chức thì tổ chức tín dụng phải có hồ sơ đánh giá khách hàng vềkhả năng trả nợ đầy đủ nợ gốc và lãi đúng kỳ hạn được điều chỉnh lần đầu); + Các khoản nợ được phân loại vào nhóm 2
•Nợ nhóm 3 - Nhóm nợ dưới tiêu chuẩn bao gồm:
+ Các khoản nợ quá hạn từ 91 ngày đến 180 ngày;
Trang 27+ Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu, trừ các khoản nợ điều chỉnh
kỳ hạn trả nợ lần đầu phân loại vào nhóm 2;
+ Các khoản nợ được miễn hoặc giảm lãi do khách hàng không đủ khả năng trảlãi đầy đủ theo hợp đồng tín dụng;
+ Các khoản nợ được phân loại vào nhóm 3
•Nợ nhóm 4 - Nợ nghi ngờ bao gồm:
+ Các khoản nợ quá hạn từ 181 ngày đến 360 ngày;
+ Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn dưới 90 ngày theothời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu;
+ Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai;
+ Các khoản nợ được phân loại vào nhóm 4
•Nợ nhóm 5 - Nợ có khả năng mất vốn bao gồm:
+ Các khoản nợ quá hạn trên 360 ngày;
+ Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn từ 180 ngày trở lêntheo thời hạn trả nợ đã được cơ cấu lại lần đầu;
+ Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai quá hạn theo thời hạn trả
nợ được cơ cấu lại lần thứ hai;
+ Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ ba trở lên, kể cả chưa bị quáhạn hoặc đã quá hạn;
Tổng dư nợ cho vay
Quy định hiện nay của Ngân hàng Nhà nước cho phép dư nợ quá hạn của các
Trang 28ngân hàng thương mại không được vượt quá 5%, nghĩa là trong 100 đồng vốn ngânhàng bỏ ra cho vay thì nợ quá hạn tối đa chỉ được phép là 5 đồng Nợ quá hạn làkhoản nợ mà một phần hoặc toàn bộ nợ gốc và / hoặc lãi đã quá hạn Một cách tiếp cậnkhác, nợ quá hạn là những khoản tín dụng không hoàn trả đúng hạn, không đượcphép và không đủ điều kiện để được gia hạn nợ Để đảm bảo quản lý chặt chẽ, cáckhoản nợ quá hạn trong hệ thống NHTM Việt Nam được phân loại theo thời gian vàđược phân chia theo thời hạn thành bốn nhóm sau:
+ Nợ quá hạn dưới 90 ngày – Nợ cần chú ý
+ Nợ quá hạn từ 90 đến 180 ngày – Nợ dưới tiêu chuẩn
+ Nợ quá hạn từ 181 đến 360 ngày – Nợ nghi ngờ
+ Nợ quá hạn trên 361 ngày – Nợ có khả năng mất vốn
2.2.3.2 Tỷ lệ nợ xấu
Nợ xấu là những khoản nợ quá hạn trên 90 ngày (Nợ quá hạn từ Nhóm 3 trở
lên) mà không đòi được và không được tái cơ cấu Nợ xấu còn bao gồm ca những
khoản nợ chưa đến hạn nhưng đã phát hiện khoản vay không có khả năng trả nợ Nợxấu được thể hiện qua tỷ lệ nợ xấu theo công thức sau:
Dư nợ xấu
Tổng dư nợ cho vay
Tỷ lệ nợ xấu là một chỉ tiêu quan trọng để đánh giá độ an toàn tín dụng cũngnhư đánh giá hiệu quả tín dụng của ngân hàng Một khi ngân hàng có quá nhiềukhoản nợ xấu, tỷ lệ nợ xấu ở mức cao, ngân hàng sẽ có nguy cơ không thu hồi được
nợ vay, dẫn đến khả năng mất vốn qua đó ảnh hưởng tới khả năng thanh toán vàhiệu quả kinh doanh của ngân hàng
Thực tế cho thấy, các doanh nghiệp trong quá trình hoạt động SXKD đôi lúckhông thể tránh khỏi những rủi ro trong kinh doanh, những rủi ro đó có thể mangtính chủ quan hay khách quan từ phía doanh nghiệp nhưng đều gây nên tình trạngkhông trả được nợ hoặc không trả được nợ đúng hạn cho ngân hàng Do đó, để đánhgiá chất lượng tín dụng đồng thời dự phòng xử lý các rủi ro tín dụng phát sinh, cácngân hàng thường chấp nhận một tỷ lệ nợ xấu nhất định được coi là giới hạn an
Trang 29toàn Mức giới hạn tỷ lệ nợ xấu ở mỗi nước là khác nhau, riêng ở Việt Nam hiệnnay chấp nhận tỷ lệ này là 3% Ở Việt Nam, nợ xấu bao gồm những khoản nợ quáhạn có hoặc không thể thu hồi, nợ liên quan đến các vụ án chờ xử lý và nhữngkhoản nợ quá hạn không được Chính Phủ xử lý rủi ro.
Nợ xấu (hay nợ có vấn đề, nợ không lành mạnh, nợ khó đòi, nợ không thể đòi,…) là những khoản nợ mang các đặc trưng cơ bản sau:
+ Khách hàng đã không thực hiện nghĩa vụ trả nợvới ngân hàng khi các cam kết này đã hết hạn
+ Tình hình tài chính của khách hàng đang và cóchiều hướng xấu dẫn đến có khả năng ngân hàng không thu hồi được cả vốn lẫn lãi
được đánh giá là giá trị phát mại không đủ trang trãi nợ gốc và lãi
+ Thông thường về thời gian là các khoản nợ quáhạn ít nhất là 90 ngày
2.2.3.3 Tỷ lệ nợ có khả năng mất vốn
Nợ có khả năng mất vốn là khoản nợ ngân hàng không có khả năng thu hồi,
Nợ có khả năng mất vốn được thể hiện qua tỷ lệ nợ có khả năng mất vốn (là tỷ lệphần trăm giữa dư nợ tín dụng có khả năng mất vốn trên tổng dư nợ tín dụng) Tỷ lệnày được xác định theo công thức:
Tỷ lệ có khả
năng mất vốn
Dư nợ có khả năng mất vốn
Tổng dư nợ cho vay
Theo đó, dư nợ tín dụng có khả năng mất vốn được xác định là toàn bộ cáckhoản nợ thuộc nhóm 5 theo cách phân loại nợ được quy định tại Điều 6 trongQuyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/04/2005 của Thống đốc Ngân hàng
Nhà Nước Việt Nam “V/v Ban hành quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng
dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của TCTD” Tỷ lệ nợ
có khả năng mất vốn cho biết khả năng không thu được nợ trong tổng dư nợ tíndụng là được bao nhiêu % Nó cho phép ngân hàng có thể đánh giá chi tiết hơn về
độ an toàn tín dụng Cũng giống như tỷ lệ nợ xấu, các ngân hàng luôn cố gắng giảm
Trang 30tỷ lệ này tới mức thấp nhất có thể.
2.2.3.4 Tỷ lệ nợ mất vốn
Nợ mất vốn là nợ hoàn toàn không thu hồi được Nợ mất vốn được thể hiệnqua tỷ lệ nợ mất vốn (là tỷ lệ phần trăm giữa dư nợ tín dụng mà TCTD đã sử dụngmọi biện pháp thu hồi nợ nhưng không thu hồi được (dư nợ được xóa nợ) trên tổng
dư nợ tín dụng) Tỷ lệ này được xác định theo công thức sau:
Tổng dư nợ cho vay
Tỷ lệ này phản ánh số vốn ngân hàng sẽ bị mất do TCTD đan đánh giá kháchhàng vay không thể trả được nợ băng mọi cách Và khoản tín dụng này sẽ được bùđắp bởi quỹ dự phòng đã được ngân hàng trích khi khoản vay của khách hàng ởtrọng thái nợ xấu đến thời điểm khoản nợ đó không có khả năng thu hồi Cũnggiống như tỷ lệ nợ xấu và tỷ lệ nợ có khả năng mất vốn, các ngân hàng luôn cố gắnggiảm tỷ lệ này tới mức thấp nhất có thể
2.2.4 Tác động của rủi ro tín dụng
2.2.4.1 Ảnh hưởng đến nền kinh tế xã hội
Vì Ngân hàng là một tổ chức trung gian tài chính chuyên huy động vốn nhànrỗi trong nền kinh tế để cho các tổ chức, các doanh nghiệp và cá nhân có nhu cầuvay lại Do đó, thực chất quyền sở hữu những khoản cho vay là quyền sở hữu củangười đã gửi tiền vào Ngân hàng Bởi vậy, khi rủi ro tín dụng xảy ra thì khôngnhững Ngân hàng chịu thiệt hại mà quyền lợi của người gửi tiền cũng bị ảnh hưởng.Nếu mà một Ngân hàng gặp phải rủi ro tín dụng hay bị phá sản thì người gửitiền ở các Ngân hàng khác hoang mang lo sợ và kéo nhau ồ ạt đến rút tiền ở cácNgân hàng khác, làm cho toàn bộ hệ thống Ngân hàng gặp phải khó khăn Ngânhàng phá sản sẽ ảnh hưởng đến tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp,không có tiền trả lương dẫn đến đời sống công nhân gặp khó khăn Hơn nữa, sựhoảng loạn của các Ngân hàng ảnh hưởng rất lớn đến toàn bộ nền kinh tế Nó làmcho nền kinh tế bị suy thoái, giá cả tăng, sức mua giảm, thất nghiệp tăng, xã hội mất
ổn định
Trang 31Mặt khác, rủi ro tín dụng cũng ảnh hưởng đến nền kinh tế thế giới vì ngày nay,nền kinh tế mỗi quốc gia đều phụ thuộc vào nền kinh tế khu vực và thế giới Kinhnghiệm cho chúng ta thấy cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á năm 1997, cuộckhủng hoảng tài chính Nam Mỹ năm 2001-2002 đã làm rung chuyển toàn cầu Gầnđây nhất là cuộc khủng hoảng và suy thoái kinh tế toàn cầu từ cuối năm 2007 đãlàm toàn bộ nền kinh tế toàn cầu bị suy giảm và khủng hoảng trầm trọng Mặt khác,mối liên hệ về tiền tệ, đầu tư giữa các nước phát triển rất nhanh nên rủi ro tín dụngtại một nước ảnh hưởng trực tiếp đến nền kinh tế các nước có liên quan.
2.2.4.2 Ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của Ngân hàng
Nếu rủi ro tín dụng mà xảy ra, thì ngân hàng không thu được vốn tín dụng đãcấp và lãi cho vay, nhưng Ngân hàng phải trả vốn và lãi cho khoản tiền huy độngkhi đến hạn, điều này sẽ làm cho Ngân hàng mất cân đối trong việc thu chi, vòngquay vốn tín dụng giảm làm cho Ngân hàng kinh doanh không hiệu quả, chi phí củaNgân hàng tăng lên so với dự kiến
Khi một khoản vay nào đó bị mất khả năng thu hồi thì Ngân hàng phải sử dụng các nguồn vốn của mình để trả cho người gửi tiền, đến một chừng mực nào đấy, Ngân hàng không có đủ nguồn vốn để trả cho người gửi tiền thì Ngân hàng sẽ rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán, có thể dẫn đến nguy cơ gặp rủi ro thanh khoản Và kết quả là làm thu hẹp quy mô kinh doanh, năng lực tài chính giảm sút,
uy tín, sức cạnh tranh giảm không những trong thị trường nội địa mà còn lan rộng racác nước, kết quả kinh doanh của Ngân hàng ngày càng xấu có thể dẫn ngân hàng đến thua lỗ hoặc đưa đến bờ vực phá sản nếu không có biện pháp xử lý, khắc phục kịp thời
Tóm lại, rủi ro tín dụng của một Ngân hàng xảy ra ở mức độ khác nhau: nhẹ
nhất là Ngân hàng bị giảm lợi nhuận khi không thu hồi được lãi cho vay, nặng nhấtkhi Ngân hàng không thu được vốn lãi, nợ thất thu với tỷ lệ cao dẫn đến Ngân hàng
bị lỗ và mất vốn Nếu tình trạng này kéo dài không khắc phục được, Ngân hàng sẽ
bị phá sản, gây hậu quả nghiêm trọng cho nến kinh tế nói chung và hệ thống Ngânhàng nói riêng Chính vì vậy đòi hỏi các nhà quản trị Ngân hàng phải hết sức thận
Trang 32trọng và có những biện pháp thích hợp nhằm giảm thiểu rủi ro trong cho vay.
2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng
2.3.1 Các nhân tố chủ quan
2.3.1.1 Kiểm soát tình hình tài chính và quản lý dòng tiền của khách hàng
Dây là nội dung quan trọng trong quá trình thẩm định một món vay là việcthẩm định nguồn trả nợ của khách hàng Một dự án kinh doanh đạt hiệu quả caonhưng nếu như nhân viên tín dung khi đầu tư dự án kinh doanh cho khách hàng mà
lơ là hoặc lỏng lẻo trong việc kiểm soát dòng tiền của khách hàng Điều này sẽ dẫnđến khả năng khách hàng thu hồi được nguồn vốn của phương án nhưng lại khôngđem trả Ngân hàng mà dung vào các mục đích khác và khi đến hạn trả nợ kháchhàng sẽ không trả được nợ Vì vậy, việc quản lý dòng tiền của khách hàng ảnhhưởng rất lớn đến rủi ro tín dụng ngân hàng
2.3.1.2 Lỏng lẻo trong công tác kiểm tra nội bộ các Ngân hàng
Bộ phận kiểm tra nội bộ của ngân hàng là bộ phận sát sao và nắm rõ nhất từngnghiệp vụ phát sinh của ngân hàng Kiểm tra nội bộ có điểm mạnh hơn thanh traNHNN ở tính thời gian ví nó nhanh chóng, kịp thời ngay khi vừa phát sinh vấn đề
và tính sâu sát của người kiểm tra viên, do việc kiểm tra được thực hiện thườngxuyên cùng với công việc kinh doanh Nhưng trong thời gian trước đây, công việckiểm tra nội bộ của các ngân hàng hầu như chỉ tồn tại trên hình thức Kiểm tra nội
bộ cần phải được xem như hệ thống “thắng - phanh” của cỗ xe tín dụng Cỗ xe cànglao đi với vận tốc lớn thì hệ thống này càng phải an toàn, hiệu quả thì mới tránh cho
cỗ xe khỏi đi vào những ngã rẽ rủi ro vốn luôn luôn tồn tại thường trực trên conđường đi tới
2.3.1.3 Sự tuân thủ các quy trình, quy chế của ngân hàng
Ngoài việc tuân thủ các quy định của Ngân hàng Nhà nước và Luật cácTCTD, thì hệ thống quy trình quy chế của NHTM được coi là xương sống và hànhlang pháp lý để hoạt động kinh doanh Kinh doanh Ngân hàng, được coi là ngành cólợi nhuận cao song cũng đi liền với rất nhiều rủi ro Một trong những nhân tố rấtnguy hiểm dẫn đến rủi ro tín dụng, đó là nhân viên ngân hàng thực hiện sai quy
Trang 33trình quy chế Điều này rất nguy hiểm trong quá trình xét duyệt cho vay, việc khôngtuân thủ đúng quy trình nghiệp vụ trong quá trình thẩm định và xét duyệt, có thể làmột chi tiết nhỏ nhưng đôi khi lại gây nên hậu qua nghiêm trọng.
2.3.1.4 Bố trí cán bộ thiếu đạo đức và trình độ chuyên môn nghiệp vụ
Rất nhiều vụ án kinh tế lớn trong thời gian vừa qua có liên quan đến cán bộNHTM đều có sự tiếp tay của một số cán bộ Ngân hàng cùng với khách hàng làmgiả hồ sơ vay, hay nâng giá tài sản thế chấp, cầm cố lên quá cao so với thực tế để rúttiền Ngân hàng Đạo đức nghề nghiệp của cán bộ là một trong các yếu tố quan trọng
để giải quyết vấn đề hạn chế rủi ro tín dụng Một cán bộ kém về năng lực có thể bồidưỡng thêm, nhưng một cán bộ tha hóa về đạo đức mà lại giỏi về mặt nghiệp vụ thìthật vô cùng nguy hiểm khi được bố trí trong công tác tín dụng
2.3.1.5 Thiếu giám sát và quản lý sau khi cho vay
Thường ngân hàng chỉ có thói quen tập trung nhiều công sức cho việc thẩmđịnh trước khi cho vay mà lơi lỏng quá trình kiểm tra, kiểm soát đồng vốn sau khicho vay Khi ngân hàng cho vay thì khoản cho vay cần phải được quản lý một cáchchủ động để đảm bảo sẽ được hoàn trả Theo dõi nợ là một trong những trách nhiệmquan trọng nhất của cán bộ tín dụng nói riêng và của Ngân hàng nói chung Việctheo dõi hoạt động của khách hàng vay nhằm tuân thủ các điều khoản đề ra tronghợp đồng tín dụng giữa khách hàng và ngân hàng nhằm tìm ra những cơ hội kinhdoanh mới và mở rộng cơ hội kinh doanh Tuy nhiên, trong thời gian qua cácNHTM chưa thực hiện tốt công tác này Điều này do một phần yếu tố tâm lý ngạigây phiền hà cho khách hàng của cán bộ Ngân hàng, một phần do hệ thống thôngtin quản lý phục vụ kinh doanh của các khách hàng quá lạc hậu, không cung cấpđược kịp thời, đầy đủ các thông tin mà NHTM yêu cầu
2.3.1.6 Dự báo kinh tế vĩ mô
Đối với hoạt động kinh doanh ngân hàng, dự báo kinh tế vĩ mô theo định kỳ làrất quan trọng Việc dự báo này giúp các NHTM định hình rõ mục tiêu nên đầu tư
Trang 34vào ngành nghề kinh doanh nào để đem lại hiệu quả lợi nhuận nhất trong từng thời
kỳ nhất định Kết quả dự báo kinh tế vĩ mô của ngân hàng đặc biệt quan trọng vàảnh hưởng trực tiếp đến chiến lược kinh doanh ngân hàng tại từng thời điểm Nếu
hệ thống dự báo, phân tích kinh tế vĩ mô càng sát thực tế thì rủi ro tín dụng về đầu
tư ngành, thị trường mục tiêu càng được giảm thiểu Như vậy, dự báo kinh tế vĩ môtại mỗi ngân hàng có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc định hướng phát triểncủa ngân hàng, đồng thời là nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến rủi ro tín dụng
2.3.1.7 Sự hợp tác giữa các NHTM hiện tại quá lỏng lẻo, vai trò của CIC chưa thật sự đem lại hiệu quả
Kinh doanh trong lĩnh vực ngân hàng là một nghề đặc biệt, huy động vốn đểcho vay hay nói cách khác đi vay để cho vay, do vậy vấn đề rủi ro trong hoạt độngtín dụng là không thể trách khỏi, các Ngân hàng cần phải hợp tác chặt chẽ với nhaunhằm hạn chế rủi ro Sự hợp tác nảy sinh do yêu cầu quản lý rủi ro đối với cùng mộtkhách hàng khi khách hàng này vay tiền tại nhiều Ngân hàng Trong quản trị tàichính, khả năng trả nợ của một khách hàng là một con số cụ thể, có giới hạn tối đacủa nó Nếu do sự thiếu trao đổi thông tin dẫn đến việc nhiều Ngân hàng cùng chovay một khách hàng đến mức vượt quá giới hạn tối đa này thì rủi ro chia đều cho tất
cả chứ không chừa một Ngân hàng nào
Trong bối cảnh nền kinh tế như hiện nay và tình hình cạnh tranh giữa cácNHTM ngày càng gay gắt như hiện nay, vai trò của CIC là rất quan trọng trong việccung cấp thông tin kịp thời, chính xác để các Ngân hàng có các quyết định cho vayhợp lý Đáng tiếc là hiện nay ngân hàng dữ liệu của CIC chưa đầy đủ và thông tincòn quá đơn điệu, chưa được cập nhật và xử lý kịp thời
Trang 352.3.2.2 Khả năng quản lý kinh doanh không hiệu quả
Khi khách hàng vay vốn ngân hàng để mở rộng quy mô kinh doanh, phần lớn
là tập trung vốn đầu tư vào tài sản vật chất chứ ít khách hàng nào dám mạnh dạn đổimới cung cách quản lý, đầu tư cho bộ máy giám sát kinh doanh, tài chính, kết toántheo đúng chuẩn mực Quy mô kinh doanh phình ra quá to so với tư duy quản lý lànguyên nhân dẫn đến sự phá sản của các phương án kinh doanh đầy khả thi mà lẽ ra
nó phải thành công trên thực tế
2.3.2.3 Tình tài chính doanh nghiệp yếu kém, thiếu minh bạch
Vốn ít và quy mô tài sản nhỏ bé là đặc điểm chung của hầu hết các kháchhàng vay vốn Việt Nam Ngoài ra, thói quen ghi chép đầy đủ, chính xác, rõ ràngcác sổ sách kế toán vẫn chưa được các khách hàng tuân thủ nghiêm chỉnh và trungthực Do vậy, sổ sách kế toán mà các khách hàng cung cấp cho Ngân hàng nhiềukhi chỉ mang tính chất hình thức hơn là thực chất Khi cán bộ Ngân hàng lập cácbảng phân tích tài chính của doanh nghiệp dựa trên số liệu do các khách hàngcung cấp thường thiếu tính thực tế và xác thực Đây cũng là nguyên nhân vì saoNgân hàng vẫn luôn xem nặng phần tài sản thế chấp như là chỗ dựa cuối cùng đểphòng chống rủi ro tín dụng
2.3.2.4 Sự biến động quá nhanh và không dự báo được thị trường thế giới
Việt Nam có nền kinh tế phụ thuộc quá nhiều vào sản xuất nông nghiệp và
công nghiệp phục vụ nông nghiệp (nuôi trồng, chế biến thực phẩm và nguyên liệu),
dầu thô, may gia công,…vốn rất nhạy cảm với rủi ro thời tiết và giá cả thế giới, nên
Trang 36dễ bị tổn thương khi thị trường thế giới biến động xấu Điển hình như ngành Dệtmay trong một số năm gần đây đã gặp không ít khó khăn vì bị khống chế hạn ngạchlàm ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động sản xuất kinh doanh của các khách hàng củaNgân hàng nói riêng và của các ngân hàng cho vay nói chung Ngành Thuỷ sảncũng gặp nhiều lao đao vì các vụ kiện bán phá giá vừa qua, Đặc biệt giữa năm
2008 và đầu năm 2009 chúng ta chứng kiến cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới, làmhầu hết các mặt hàng đều giảm giá kỷ lục trong nhiều năm trở lại đây Đối vớinhững ngân hàng lớn cấp tín dụng cho khách hàng đảm bảo bằng hàng hóa hoặc tínchấp đã gặp rủi ro giảm giá trị tài sản đảm bảo, doanh nghiệp kinh doanh thua lỗdẫn đến nợ quá hạn tại ngân hàng
2.3.2.5 Rủi ro của quá trình tự do hoá tài chính, hội nhập quốc tế
Quá trình tự do hoá tài chính và hội nhập quốc tế hoàn toàn có thể làm cho nợxấu gia tăng khi tạo ra một môi trường cạnh tranh gay gắt, khiến hầu hết các nhữngkhách hàng của Ngân hàng phải đối mặt với nguy cơ thua lỗ và quy luật chọn lọckhắc nghiệt của thị trường Bên cạnh đó, bản thân sự cạnh tranh của các NHTMtrong nước và quốc tế trong môi trường hội nhập kinh tế cũng khiến cho các Ngânhàng trong nước với hệ thống quản lý yếu kém gặp phải nguy cơ rủi ro nợ xấu tănglên bởi hầu hết các khách hàng có tiềm lực tài chính lớn sẽ bị các Ngân hàng nướcngoài thu hút
2.3.2.6 Thiếu sự quy hoạch, phân bổ đầu tư hợp lý dẫn đến khủng hoảng thừa về đầu tư trong rất nhiều ngành nghề
Khi tiến tới nền kinh tế thị trường thì tất yếu sẽ dẫn đến cạnh tranh, các nhàkinh doanh sẽ tìm kiếm ngành nào có lợi nhất để đầu tư và sẽ rời bỏ những ngànhkhông đem lại lợi nhuận cho họ và do đó có sự chuyển dịch vốn từ ngành này quangành khác và đây cũng là một hiện tượng khách quan Tuy nhiên ở nước ta thờigian qua, sự cạnh tranh đã phát triển một cách tự phát, hoàn toàn không đi kèm với
sự quy hoạch hợp lý, hợp tác, phân công lao động, chuyên môn hoá lao động, sự bấtlực trong vai trò của các Hiệp hội và sự điều tiết vĩ mô của Nhà nước Điều này dẫnđến sự gia tăng quá đáng vốn đầu tư vào một số ngành, dẫn đến khủng hoảng thừa,lãng phí tài nguyên quốc gia
Trang 372.3.2.7 Rủi ro do môi trường pháp lý chưa thuận lợi
Kém hiệu quả của các cơ quan pháp luật ở địa phương
Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, NHNN và các cơ quan liênquan đã ban hành nhiều Luật liên quan đến hoạt động tín dụng ngân hàng trongnhững năm gần đây Tuy nhiên, Luật và các Văn bản đã có song việc triển khai vàohoạt động ngân hàng thì lại hết sức chậm chạp và còn gặp phải nhiều vướng mắcbất cập như một số văn bản về cưỡng chế thu hồi nợ Những Văn bản này đều cóquy định: Trong trường hợp khách hàng không trả được nợ, NHTM có quyền xử lýTSĐB nợ vay để thu hồi nợ Trên thực tế, các NHTM không làm được điều này vìngân hàng là một tổ chức kinh tế, không phải là cơ quan quyền lực Nhà nước,không có chức năng cưỡng chế buộc khách hàng bàn giao TSĐB cho ngân hàng để
xử lý hoặc việc chuyển TSĐB nợ vay để Toà án xử lý qua con đường tố tụng…cùng nhiều các quy định khác dẫn đến tình trạng NHTM không giải quyết được nợtồn đọng, tài sản tồn đọng
Thanh tra, kiểm tra, giám sát của NHNN chưa hiệu quả
Ngoài những kết quả đạt được, hoạt động thanh tra ngân hàng và đảm bảo antoàn hệ thống chưa có sự cải thiện căn bản về chất lượng Năng lực cán bộ thanhtra, giám sát chưa đáp ứng được yêu cầu, thậm chí một số nghiệp vụ kinh doanh vàcông nghệ mới Thanh tra ngân hàng còn chưa theo kịp Nội dung và phương phápthanh tra, giám sát lạc hậu, chậm đổi mới Vai trò kiểm toán chưa được phát huy và
hệ thống thông tin chưa được tổ chức một cách hữu hiệu Thanh tra tại chỗ vẫn làphương pháp chủ yếu, khả năng kiểm soát toàn bộ hoạt động thị trường tiền tệ vàgiám sát rủi ro còn yếu Thanh tra ngân hàng còn hoạt động một cách thụ động theocách xử lý vụ việc đã phát sinh, ít có khả năng ngăn chặn và phòng ngừa rủi ro và viphạm Mô hình tổ chức của thanh tra Ngân hàng còn nhiều bất cập Do vậy mà cónhững sai phạm của các NHTM không được thanh tra NHNN cảnh báo, có biệnpháp ngăn chặn từ đầu, để đến khi hậu quả nặng nề đã xảy ra rồi mới can thiệp.Hàng loạt các sai phạm về cho vay, bảo lãnh tín dụng ở một số NHTM dẫn đếnnhững rủi ró rất lớn, có nguy cơ đe doạ sự an toàn của cả hệ thống lẽ ra có thể đãđược ngăn chặn ngay từ đầu nếu bộ máy thanh tra phát hiện và xử lý sớm hơn
Trang 38 Hệ thống thông tin quản lý bất cập:
Ở Việt Nam hiện nay chưa có một cơ chế công bố thông tin đầy đủ về doanhnghiệp và Ngân hàng Trung tâm thông tin tín dụng Ngân hàng (CIC) của NHNNhoạt động đã quá một thập niên và đã đạt được những kết quả bước đầu rất đángkhích lệ trong việc cung cấp thông tin kịp thời về tình hình hoạt động tín dụngnhưng chưa phải là cơ quan định mức tín nhiệm doanh nghiệp một cách độc lập vàhiệu quả, thông tin cung cấp còn đơn điệu, thiếu cập nhật chưa đáp ứng được đầy đủyêu cầu tra cứu thông tin của các Ngân hàng Đó cũng là thách thức cho hệ thốngNgân hàng trong việc mở rộng và kiểm soát tín dụng cho nền kinh tế trong điềukiện thiếu một hệ thống thông tin tương xứng Nếu các ngân hàng cố gắng chạytheo thành tích, mở rộng tín dụng trong điều kiện môi trường thông tin không cânxứng thì sẽ gia tăng nguy cơ nợ xấu cho hệ thống ngân hàng
Tóm lại: Rủi ro tín dụng có thể phát sinh do rất nhiều nguyên nhân: chủ quan
hoặc khách quan Ngân hàng có thể đưa ra các giải pháp hạn chế rủi ro dựa trên cácnguyên nhân trên, nhưng có giải pháp hạn chế rủi ro tín dụng có thể nằm trong tầmtay của các NHTM nhưng cũng có những giải pháp vượt ngoài khả năng của riêngtừng Ngân hàng, liên quan đến vấn đề nội tại của bản thân nền kinh tế đang chuyểnđổi, đang định hướng mô hình phát triển ở Việt Nam Trong tầm tay của các Ngânhàng, rủi ro tín dụng phụ thuộc vào năng lực của cán bộ tín dụng trong việc pháttriển và hạn chế rủi ro từ lúc xem xét quyết định cho vay cũng như trong suốt thờigian vay Năng lực cấp tín dụng phụ thuộc vào chuyên môn của CBTD và cácnguồn lực của Ngân hàng về nhân sự cũng như về cơ sở vật chất
Trang 39CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG RỦI RO TÍN DỤNG TẠI SEABANK
ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA
3.1 Khái quát về Ngân hàng Thương mại cổ phần Đông Nam Á
3.1.1 Cơ cấu tổ chức và bộ máy hoạt động của SeABank
Ngân hàng Thương mại cổ phần Đông Nam Á, tên giao dịch quốc tế là
Southeast Asia Commercial Joint Stock Bank (sau đây gọi là SeABank) được thành
lập theo Giấy phép hoạt động 25/3/1994 với thời gian hoạt động 99 năm, Hội sởchính đặt tại 25 Trần Hưng Đạo, Hoàn Kiếm, Hà Nội
Lĩnh vực hoạt động chính của SeABank gồm:
−Huy động vốn ngắn hạn, trung và dài hạn dưới các hình thức tiền gửi có kỳ hạn, tiếp nhận vốn ủy thác đầu tư và phát triển của các tổ chức trong nước, vay vốn của các tổ chức tín dụng khác.
−Vay vốn của Ngân hàng Nhà nước và các tổ chức tín dụng khác.
−Cho vay ngắn hạn, trung và dài hạn.
−Chiết khấu thương phiếu, trái phiếu và giấy tờ có giá.
−Thực hiện dịch vụ thanh toán giữa các khách hàng.
−Thanh toán quốc tế và thực hiện các dịch vụ khác liên quan đến thanh toán quốc tế.
−Cung cấp các dịch vụ về đầu tư, quản lý nợ và khai thác tài sản…
Từ một ngân hàng địa phương ở Hải Phòng, sau khi chuyển trụ sở về Hà Nội,Ngân hàng thương mại cổ phần Đông Nam Á ngày càng phát triển lớn mạnh với
105 điểm giao dịch trên toàn quốc SeABank có hệ thống tổ chức khá rộng lớn gồm
1 Sở giao dịch (Trung tâm kinh doanh); 5 chi nhánh cấp một; 20 chi nhánh cấp hai,cấp ba và các phòng giao dịch trực thuộc chi nhánh SeABank có đội ngũ cán bộcông nhân viên khoảng 2.394 người trong đó trình độ đại học và trên đại học là1.943 người chiếm trên 80 %
Trang 40Bộ máy tổ chức của SeABank được tổ chức theo mô hình quản lý tập trung vàthống nhất tại Hội sở theo sơ đồ 3.1.
Hội đồng quản trị là cơ quan quyền lực cao nhất của Ngân hàng Hội đồngquản trị SeABank chịu trách nhiệm quản trị Ngân hàng theo Luật các TCTD, nghịđịnh của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của ngân hàng, điều lệ về tổ chức vàhoạt động mà SeABank đã ban hành; các quy định khác có liên quan nhằm quản lý,
sử dụng có hiệu quả, bảo toàn và phát triển vốn Hội đồng quản trị cũng chịu tráchnhiệm hoạch định chính sách kinh doanh, chiến lược, kế hoạch phát triển chung vàkiểm tra giám sát các lĩnh vực quan trọng trong Ngân hàng Hội đồng quản trị gồm
10 thành viên, có một chủ tịch, 2 phó chủ tịch và 7 ủy viên thường trực
Ban tổng giám đốc chịu trách nhiệm trước Hội đồng quản trị, trước pháp luật
về việc điều hành trực tiếp hoạt động hàng ngày theo nhiệm vụ, quyền hạn đượcquy định trong điều lệ Ban tổng giám đốc SeABank gồm 1 tổng giám đốc và 7 phótổng phụ trách các mảng hoạt động khác nhau như tín dụng, kế toán, thanh toán,nhân sự, bán lẻ
Ban kiểm soát SeABank được thành lập nhằm trợ giúp hội đồng quản trị kiểmtra, giám sát tất cả các hoạt động của Ngân hàng theo quy định hiện hành thông quahoạt động của bộ phận KTNB
Các phòng ban tại hội sở được phân chia theo chức năng gồm khối kinhdoanh, khối tham mưu và khối hỗ trợ Mối quan hệ giữa các khối, các phòng ban làquan hệ phối hợp công tác theo chức năng, nhiệm vụ được giao với cùng mục đíchtriển khai thực hiện tốt nhất các nhiệm vụ chỉ đạo của ban lãnh đạo theo Sơ đồ 3.1