1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số quy định bảo vệ và bảo đảm quyền của phụ nữ và trẻ em. Thực tiễn thực hiện tại tỉnh Đak Lak

31 1,9K 4
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Một số quy định bảo vệ và bảo đảm quyền của phụ nữ và trẻ em. Thực tiễn thực hiện tại tỉnh Đak Lak
Người hướng dẫn Ths. Lê Thị Nga
Trường học Trường Đại Học Khoa Học Huế
Chuyên ngành Luật
Thể loại niên luận
Thành phố Đak Lak
Định dạng
Số trang 31
Dung lượng 398,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một số quy định bảo vệ và bảo đảm quyền của phụ nữ và trẻ em. Thực tiễn thực hiện tại tỉnh Đak Lak

Trang 1

Lời cảm ơn

Trong suốt thời gian nghiên cứu và thực hiện đề tài niên luận, ngoài sự nỗlực của bản thân, tôi còn nhận được sự ủng hộ của quý thầy cô và các bạn.Tôi xin bày tỏ lời cảm ơn đến:

BGH Trường Đại học Khoa Học Huế, khoa Luật Đại Học Huế cùng với tất

cả quý thầy cô đã tận tình dạy dỗ và truyền đạt những kiến thức bổ ích Đặcbiệt tôi xin bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc đến cô giáo – Ths Lê Thị Nga đã tậntình giúp đỡ và tạo mọi điều kiện cho tôi hoàn thành tốt bài niên luận này.Qua đây tôi xin được bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc tới các cán bộ và lãnh đạoToà án Nhân dân huyện Eakar, tỉnh Đak Lak Tôi cũng xin bày tỏ lời cảm ơnsâu sắc đến ông Nguyễn Văn Bằng là chánh án Toà án Nhân dân huyệnEakar đã giúp đỡ tận tình và tạo mọi điều kiện tốt nhất để tôi có thêm nhiềutài liệu hơn giúp tôi hoàn thành tốt bài niên luận này

Trong quá trình thực hiện đề tài, mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng do trìnhkhỏi những hạn chế, thiếu xót Vì vậy, tôi rất mong nhận được sự góp ý củaquý thầy cô cùng các bạn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Trang 2

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Người ta thường nói “Trẻ Em hôm nay thế giới ngày mai”, đây làcâu nói bao hàm đầy đủ ý nghĩa về Trẻ Em Đấy là tương lai của nhânloại, của thế giới, của mỗi dân tộc, mỗi cộng đồng, mỗi họ tộc và mỗi giađình

Cũng như vậy, trong lịch sử loài người từ trước đến nay, phụ nữ baogiờ cũng là một bộ phận quan trọng trong đội ngũ đông đảo những ngườilao động trong xã hội Bằng lao động sáng tạo của mình, phụ nữ đã gópphần làm giàu cho xã hội, làm phong phú cuộc sống con người Phụ nữluôn thể hiện vai trò không thể thiếu của mình trong các lĩnh vực đời sống

xã hội, cụ thể là:

- Trong lĩnh vực hoạt động vật chất, phụ nữ là một lực lượng trựctiếp sản xuất ra của cải để nuôi sống con người Không chỉ tái sản xuất racủa cải vật chất, phụ nữ còn tái sản xuất ra bản thân con người để duy trì

và phát triển xã hội

- Trong lĩnh vực hoạt động tinh thần, phụ nữ có vai trò sáng tạo nềnvăn hoá nhân loại Nền văn hóa dân gian của bất cứ nước nào, dân tộc nàocũng có sự tham gia bằng nhiều hình thức của đông đảo phụ nữ

- Song song với những hoạt động góp phần sáng tạo ra mọi của cảivật chất và tinh thần, phụ nữ còn tích cực tham gia đấu tranh giai cấp, đấutranh giải phóng dân tộc, vì sự tiến bộ của nhân loại

Đó là vai trò của người phụ nữ nói chung trên toàn thế giới và ngaytại Việt Nam vai trò của người phụ nữ cũng rất quan trọng Trong buổi

Trang 3

tiếp các trưởng đoàn dự cuộc họp Mạng lưới lãnh đạo nữ lần thứ 11(WLN) của diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (APEC)diễn ra vào tháng 9 – 2006 tại Hà Nội, Chủ tịch Nguyễn Minh Triết khẳngđịnh “Ðảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam nhận thức rõ về vai trò củaphụ nữ trong phát triển và hội nhập quốc tế” Chủ tịch nêu rõ: "Ở ViệtNam, vai trò của phụ nữ rất quan trọng Trong cuộc đấu tranh giải phóngdân tộc, phụ nữ tham gia rất tích cực trong nhiều hoạt động Trong thời kỳhòa bình và xây dựng đất nước, phụ nữ giữ cương vị lãnh đạo ở mọi lĩnhvực kinh tế, văn hóa, khoa học - kỹ thuật Vai trò của phụ nữ hoàn toànxứng đáng với tám chữ vàng mà Ðảng, Nhà nước và nhân dân dành tặng:

“Anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang”

Như vậy người phụ nữ có một vị trí rất quan trọng trong xã hội Tuy nhiênnăng lực của người phụ nữ vẫn không được đảm bảo và luôn bị xâm phạm

về các quyền lợi Nên việc nghiên cứu về đề tài: “Một số quy định bảo

vệ và bảo đảm quyền của phụ nữ và trẻ em Thực tiễn thực hiện tại tỉnh Đak Lak” là điều rất cần thiết với mục đích nâng cao sự hiểu biết

của người dân về vấn đề này nhằm nâng cao sự hiểu biết cho mọi ngườidân không phân biệt tuổi tác, địa vị xã hội, trình độ học vấn, dân tộc haytôn giáo để đi đến xây dựng một xã hội ngày càng dân chủ, công bằng,văn minh, có trình độ phát triển cao, xây dựng một cuộc sống ấm no hạnhphúc cho nhân dân Vì hai đối tượng phụ nữ và trẻ em là những ngườiphải chịu nhiều áp bức nhất, quyền lợi bị xâm phạm nhiều nhất trong cuộcsống thường ngày

2 Mục đích nghiên cứu

Việc nghiên cứu về đề tài: “Một số quy định bảo vệ và bảo đảm quyền của phụ nữ và trẻ em Thực tiễn thực hiện tại tỉnh Đak Lak”

Trang 4

là điều rất cần thiết nhằm mục đích nâng cao sự hiểu biết của người dân

về vấn đề này Vì hai đối tượng phụ nữ và trẻ em là những người phảichịu nhiều thiệt thòi nhất và bị xâm phạm quyền lợi nhiều nhất

Hơn nữa Đak Lak là một tỉnh miền núi nên việc thực hiện quyền vàcác cơ hội tiếp xúc của phụ nữ đối với các chính sách xã hội còn rất nhiềuhạn chế Đặc biệt là trẻ em gái nói riêng và phụ nữ nói chung Những hạnchế đó điển hình như việc tiếp xúc với nền giáo dục, các chính sách ưu đãidành cho các đối tượng là nữ Nguyên nhân của sự hạn chế này do sự hạnchế về nhận thức pháp luật và vì sự tiếp xúc với những điểm mới củapháp luật về bảo vệ và bảo đảm quyền trẻ em và phụ nữ Các quy định củapháp luật không thể được tuyên truyền và phổ biến một cách rộng rãitrong nhân dân vì điều kiện kinh tế và địa hình không có nhiều điểm thuậnlợi Hơn nữa đây còn là tỉnh có nhiều dân tộc thiểu số sinh sống với hơn

40 dân tộc nên việc bảo đảm quyền của phụ nữ và trẻ em là rất khó Bởivậy việc nghiên cứu về quyền và việc bảo vệ các quyền này cần được xemxét kỹ lưỡng

3 Phạm vi, đối tượng nghiên cứu đề tài

3.1 Phạm vi nghiên cứu

Nghiên cứu một số quy định về bảo vệ và bảo đảm quyền của phụ nữ vàtrẻ em trong pháp luật Việt Nam và thực tiễn thực hiện tại tỉnh Đak Lak

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là một số quy định của pháp luật ViệtNam về bảo vệ và bảo đảm quyền của phụ nữ và trẻ em, thực tiễn thựchiện tại tỉnh Đak Lak trong giai đoạn từ năm 2005 – 2010

4 Ý nghĩ lý luận và ý nghĩ thực tiễn của đề tài:

Trang 5

Cha ông ta từ đời xưa đến nay đều khẳng định một điều: “trẻ em như búptrên cành, biết ăn ngủ, biết học hành là ngoan” là để khẳng định tầm quantrọng của trẻ em, những thế hệ trẻ sẽ tiếp bước cha anh thực hiện nhữngước mơ hoài bão để xây dụng đất nước ngày một giàu đẹp, hùng mạnh đểsánh vai cùng các cường quốc năm châu Tuy là những mầm non của đấtnước cần được nuôi dưỡng và bảo vệ nhưng các em vẫn hằng ngày phảichịu những sự áp bức của người lớn Bên cạnh những em bé bất hạnh đócòn có những người phụ nữ, họ là những người mẹ, những người chị,người bà… thân thích của mỗi chúng ta cũng phải chịu đựng sự xâmphạm về những quyền cơ bản của con người.

Vì vậy trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật Viêt Nam về vấn

đề trên để nâng cao hơn nữa vai trò của phụ nữ và trẻ em, ngoài ra cònnâng cao nhận thức của người dân về vấn đề bảo vệ và bảo đảm các quyềncủa phụ nữ và trẻ em, giúp họ hòa nhập với cuộc sống cộng đồng nhiềuhơn, giúp các chị em phụ nữ mạnh dạn hơn trong việc tiếp thu khoa học,

kỹ thuật để tham gia xây dựng đất nước ngày một giàu đẹp Nghiên cứu

đề tài còn chỉ ra những vướng mắc, những thiếu sót trong hệ thống phápluật Việt Nam từ đó đưa ra những kiến nghị nhằm sửa đổi, bổ sung cácđiều luật sao cho phù hợp với thực tiễn hơn nhất là tại tỉnh Đak Lak, nơi

có dân số rất đông và có tỷ lệ người dân tộc thiểu số sinh sống nhiều nhất

cả nước

Đề tài: “Một số quy định bảo vệ và bảo đảm quyền của phụ nữ và trẻ

em Thực tiễn thực hiện tại tỉnh Đak Lak” trong một chừng mực nhất

định niên luận sẽ là tài liệu hữu ích phục vụ công tác học tập và nghiêncứu, cũng như là tài liệu tham khảo cho giảng viên, học viên, sinh viênkhi nghiên cứu vấn đề này

Trang 6

5 Phương pháp nghiên cứu:

Niên luận sử dụng các phương pháp nghiên cứu như: lịch sử, so sánh,phân tích, tổng hợp, thống kê Trong sự kết hợp liều lượng khác nhau giữacác phương pháp nghiên cứu, thì phương pháp phân tích, thống kê, tổnghợp là phương pháp có vai trò chủ đạo

6 Kết cấu của đề tài:

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và phụ lục nội dung đề tài có kết cấu gồmhai chương:

Chương 1: Những quy định của pháp luật hiện hành về bảo đảm quyền

phụ nữ và trẻ em trong pháp luật Việt Nam

Chương 2: Thực tiễn thực hiện pháp luật về bảo đảm quyền của phụ nữ

và trẻ em trên địa bàn tỉnh Đak Lak từ năm 2005 đến nay và những giảipháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật

Trang 7

Chương 1 NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ BẢO ĐẢM QUYỀN PHỤ NỮ VÀ TRẺ EM TRONG PHÁP LUẬT VIỆT NAM

1.1 Khái niệm trẻ em

Trước hết chúng ta cần hiểu như thế nào được gọi là trẻ em Trong hệthống pháp luật hiện hành có nhiều quy định về tuổi trẻ em Tuy nhiên, cómột số quy định không thống nhất, thậm chí cùng một tuổi nhưng ở văn bảnnày gọi là trẻ em, ở luật khác đã thành… người lớn, dẫn đến những khókhăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện

Theo điều 1, Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em thì trẻ em là công dân Việt Nam dưới 16 tuổi Các luật và văn bản hướng dẫn khác phải

quy định thống nhất với Luật này để thực thi thuận lợi Tuy nhiên, thực tếnhiều quy định về trẻ em vênh nhau, gây khó khăn trong việc vận dụng.Nghị định số 36/2005/NĐ-CP ngày 17.3.2005 của Chính phủ quy định chitiết thi hành một số điều của Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em;Thông tư số 15/2008/TTLT-BTC-BYT ngày 5.2.2008 Liên bộ Tài chính- Y

tế hướng dẫn thực hiện khám bệnh, chữa bệnh, quản lý, sử dụng và quyếttoán kinh phí khám bệnh, chữa bệnh cho trẻ em dưới sáu tuổi không phải trảtiền tại các cơ sở y tế công lập quy định: trẻ em dưới sáu tuổi khi khámbệnh, chữa bệnh tại các cơ sở y tế công lập phải xuất trình thẻ khám bệnh,chữa bệnh; trường hợp chưa được cấp thẻ thì phải xuất trình giấy khai sinhhoặc giấy chứng sinh hay giấy chứng nhận của UBND cấp xã nơi ngườigiám hộ trẻ em cư trú (sau đây gọi chung là thẻ khám bệnh, chữa bệnh)…Tại điều 39, Luật Phòng, chống nhiễm virút gây ra hội chứng suy giảm miễn

dịch mắc phải ở người (HIV/AIDS) quy định, trẻ em từ đủ 6 tuổi đến dưới

Trang 8

16 tuổi nhiễm HIV mới được tiếp cận thuốc kháng HIV Quy định này về

trẻ em phù hợp với Luật Bảo vệ và chăm sóc trẻ em, nhưng so với các quyđịnh khác thì chưa khớp Cụ thể, Bộ luật Dân sự năm 2005 không dùng thuật

ngữ trẻ em mà dùng thuật ngữ người chưa thành niên Theo đó, Điều 18,

Bộ luật Dân sự quy định, người từ đủ mười tám tuổi trở lên là người thành niên Người chưa đủ mười tám tuổi là người chưa thành niên Đồng thời, Bộ luật còn quy định năng lực, hành vi dân sự của người chưa thành niên từ đủ sáu tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi khi xác lập, thực hiện giao dịch dân sự

phải được người đại diện theo quy định của pháp luật đồng ý, trừ giao dịchnhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày phù hợp với lứa tuổi hoặc pháp

luật có quy định khác Trong trường hợp người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi có tài sản riêng bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thì có

thể tự mình xác lập, thực hiện giao dịch dân sự mà không cần phải có sựđồng ý của người đại diện theo pháp luật, trừ trường hợp pháp luật có quyđịnh khác Người chưa đủ sáu tuổi không có năng lực hành vi dân sự Giaodịch dân sự của người chưa đủ sáu tuổi phải do người đại diện theo pháp luật

xác lập, thực hiện Như vậy, thuật ngữ người chưa thành niên và thuật ngữ trẻ em có điều chỉnh những người chưa đầy đủ năng lực hành vi dân sự

không?

Điều 6, Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính quy định đối tượng bị xử lý

vi phạm hành chính gồm: Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi bị xử phạt hành chính về vi phạm hành chính do cố ý; người từ đủ 16 tuổi trở lên bị

xử phạt hành chính về mọi vi phạm hành chính do mình gây ra… Trong

khi đó, Điều 7 của Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính lại đề ra việc xử lý

người chưa thành niên vi phạm hành chính: “1 Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi vi phạm hành chính thì bị phạt cảnh cáo Người từ đủ 16

Trang 9

tuổi đến dưới 18 tuổi vi phạm hành chính thì có thể bị áp dụng hình thức

xử phạt vi phạm hành chính quy định tại Điều 12 của Pháp lệnh này 2 Người chưa thành niên có hành vi vi phạm pháp luật được quy định tại khoản 2 Điều 23, khoản 2 Điều 24, điểm b khoản 2 Điều 26 của Pháp lệnh này thì bị xử lý theo quy định tại các điều khoản đó 3 Người chưa thành niên vi phạm hành chính gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật”.

Ngay trong cùng một văn bản pháp luật cũng dùng tới 4 thuật ngữ: ngườichưa thành niên, người thành niên, người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16, vàngười đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi Theo những quy định trên thì trẻ em làngười dưới 14 tuổi, như vậy có mâu thuẫn với luật chuyên ngành là Luật bảo

vệ và chăm sóc trẻ em không?

Điều 12, Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định: “1 Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm 2 Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.” Bộ luật Hình sự cũng sử dụng thuật ngữ người thành niên, (được hiểu trên 18 tuổi), người chưa thành niên ( được hiểu dưới 18 tuổi), người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16;Người từ đủ 16 tuổi trở lên Vậy, dưới 14

tuổi gọi là trẻ em cũng không thống nhất với Luật Bảo vệ và chăm sóc trẻem

Điều 30 Luật Giao thông đường bộ quy định, người điều khiển, người ngồitrên xe mô tô, xe gắn máy chỉ được chở một người, trừ những trường hợp

sau thì được chở tối đa hai người: “… c) Trẻ em dưới 14 tuổi…” Quy định

như vậy có thể hiểu trẻ em là người dưới 14 tuổi Điều 32 Luật Giao thông

đường bộ cũng quy định, người đi bộ là trẻ em dưới 7 tuổi khi đi qua đường

Trang 10

đô thị, đường thường xuyên có xe cơ giới qua lại phải có người lớn dắt; mọingười có trách nhiệm giúp đỡ trẻ em dưới 7 tuổi khi đi qua đường Hoặc

điều Điều 60 quy định: a) Người đủ 16 tuổi trở lên được lái xe gắn máy có dung tích xi-lanh dưới 50 cm3… Như vậy, từ 16 tuổi trở lên được lái xe gắn

máy, còn dưới tuổi này không được lái xe máy Vậy, những người dưới 16tuổi này có được gọi là trẻ em không, hay dưới 14 tuổi mới gọi là trẻ em?Hiện nay, công ước quốc tế liên quan việc bảo vệ quyền con người, quyềncủa phụ nữ và trẻ em mà Việt Nam đã tham gia ký kết và là thành viên đều

quy định trẻ em là người dưới 18 tuổi Để thống nhất độ tuổi gọi là trẻ em

trong các văn bản pháp luật ở nước ta, các cơ quan chức năng cần rà soát, hệthống hóa các văn bản luật, đề xuất một độ tuổi thống nhất để sử dụng cácthuật ngữ pháp lý cho phù hợp Có thể theo phương án, một luật sửa nhiều

luật, cụ thể là Luật sửa đổi, bổ sung một số quy định của các luật liên quan đến độ tuổi của trẻ em.

1.2 Đặc điểm và ý nghĩa về việc bảo đảm quyền của phụ nữ và trẻ em

Phụ nữ và trẻ em là những đối tượng chịu nhiều thiệt thòi nhất trongcuộc sống Các quyền cơ bản nhất của phụ nữ và trẻ em không được đảmbảo, nạn bạo lực gia đình, sự phân biệt đối xử, sự kỳ thị đối với các đốitượng là nữ diễn ra hằng ngày nhưng họ không tự biết cách để bảo vệ mình

Vì vậy việc đấu tranh giải phóng họ là điều hết sức cần thiết Trong cuộc đấutranh để giải phóng thật sự phụ nữ cần chú ý đến một công cụ đặc biệt làgiáo dục Họ không chỉ cần được đến trường Họ cần thực hiện quyền tớitrường của mình và ở trường đủ thời gian cần thiết để phát triển tri thức, kỹnăng và thái độ cần thiết để sinh tồn; quyền được có những điều kiện học tậptối thiểu cần thiết để có thể tận dụng được nhà trường và các cơ hội giáo dụckhác, phát triển trọn vẹn khả năng…Đây là bước đầu để nâng cao sự hiểu

Trang 11

biết pháp luật của họ, giáo dục và tìm hiểu về pháp luật để phụ nữ có ý thức

về quyền thực sự của mình và những điều luật bảo vệ họ Phụ nữ cũngcần được tham gia trực tiếp vào mọi sự cải tổ của hệ thống giáo dục cũngnhư chương trình và nội dung giáo dục… Tuy nhiên việc làm như thế nào

để nâng cao trình độ giáo dục dành cho phụ nữ và trẻ em gái ở một tỉnh miềnnúi có nhiều bà con người dân tộc thiểu số, có địa hình khó khăn, có điềukiện kinh tế kém phát triển là một điều rất khó khăn Ngoài ra liên quangiữa giáo dục phụ nữ và trẻ em gái với chính sách chăm sóc sức khoẻ sinhsản; phòng, chống buôn bán phụ nữ; phòng, chống HIV/AIDS; phòng,chống bạo lực với phụ nữ và trẻ em; sự tham gia của phụ nữ trong lĩnh vựcchính trị

1.3 Pháp luật hiện hành về bảo đảm quyền phụ nữ và trẻ em

Hiến pháp nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam; Bộ luật Dân

Sự (BLDS) 2005; Bộ luật Tố tụng Dân sự (BLTTDS) năm 2004; Bộ luậtHình Sự (BLHS) năm 1999 (có sửa đổi bổ sung năm 2009); Bộ luật Tố tụngHình sự (BLTTHS) năm 2003; Luật Phòng, chống HIV/AIDS; Luật Bìnhđẳng giới; Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2007; Luật Hôn nhân vàGia đình năm 2000; Luật Lao động (có sửa đổi bổ sung các năm 2002, 2006,2007); Luật Bảo vệ, Chăm sóc và Giáo dục Trẻ em năm 2004… Những vănbản pháp luật trên có nhưng văn bản luật đã được đưa vào áp dụng nhưngvẫn còn những văn bản pháp luật đang là những dự thảo

Việc bảo vệ và bảo đảm quyền của phụ nữ và trẻ em luôn được pháp luậtViệt Nam quy định chặt chẽ và rõ ràng để bảo đảm các quyền đó không bịxâm phạm hay hạn chế

Ví dụ:

Trang 12

- Trong BLHS năm 1999 có sửa đổi bổ sung năm 2009, có rất nhiều điềuluật miễn hoặc giảm các mức án cho những người phạm tội là nữ, trong một

số tội đặc biệt nghiêm trọng người nữ lẽ ra phải chịu mức hình phạt cao nhất

là tử hình nhưng được giảm xuống cho hưởng án chung thân khi người nữ

đó đang trong thời gian mang thai hoặc trong một số vụ án đối tượng phạmtội là trẻ em thì vẫn có những mức xử lý thích hợp như:

Điều 34 (BLHS 1999 được sửa đổi bổ sung năm 2009): Không áp dụng tùchung thân đối với người chưa thành niên phạm tội;

Điều 35 (BLHS 1999 được sửa đổi bổ sung năm 2009): “… Không áp dụnghình phạt tử hình đối với người chưa thành niên phạm tội, đối với phụ nữ cóthai hoặc phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi khi phạm tội hoặc khi xét

xử

Không thi hành án tử hình đối với phụ nữ có thai, phụ nữ đang nuôi condưới 36 tháng tuổi Trong trường hợp này hình phạt tử hình chuyển thành tùchung thân…”;

Điều 46 (BLHS 1999 được sửa đổi bổ sung năm 2009): về các tình tiết giảmnhẹ trách nhiệm hình sự đối với phụ nữ đang mang thai tại điểm l khoản 1;Điều 61 (BLHS 1999 được sửa đổi bổ sung năm 2009): Tại điểm b khoản 1,hoãn chấp hành hình phạt tù đối với phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới

36 tháng tuổi, thì được hoãn cho đến khi con đủ 36 tháng tuổi;

Ngoài ra còn rất nhiều điều luật khác quy định về các hình phạt đối với cáchành vi xâm phạm tới quyền, lợi ích hợp pháp của trẻ em, phụ nữ như tộibuôn bán người; tội mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em tại điều 120BLHS; các tội xâm phạm tới thân thể, nhân phẩm của phụ nữ và trẻ em

Trang 13

trong đó đặc biệt là trẻ em gái như các tội được quy định tại các điều 112,

105 khoản 1 v.v

- Trong luật Lao động quyền, lợi ích của phụ nữ cũng luôn được dặtlên hàng đầu song song với những quyền lợi khác như các điều từ 109 đến

118 về bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp đối với lao động là phụ nữ; các điều

từ 119 đến 122 bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp đối với các lao độngchưa thành niên

- Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, điều 2: Trẻ em, khôngphân biệt gái, trai, con trong giá thú, con ngoài giá thú, con đẻ, con nuôi,con riêng, con chung; không phân biệt dân tộc, tôn giáo, thành phần, địa vị

xã hội, chính kiến của cha mẹ hoặc của người nuôi dưỡng, đều được bảo vệ,chăm sóc và giáo dục, được hưởng các quyền theo quy định của pháp luật Đây không chỉ thể hiện một điều rằng pháp luật Việt Nam bảo vệ và bảođảm quyền của phụ nữ và trẻ em mà còn thể hiện pháp luật Việt Nam cótính nhân đạo rất cao

1.4 Thực hiện pháp luật về bảo đảm quyền của phụ nữ và trẻ em 1.4.1 Bảo đảm quyền phụ nữ, xoá bỏ mọi hình thức phân biệt đối

xử với phụ nữ

Trang 14

Nhà nước Việt Nam thúc đẩy và bảo vệ quyền của phụ nữ thông qua cácquy định cụ thể trong Hiến pháp và pháp luật, đặc biệt là Luật Hôn nhân vàGia đình (sửa đổi) năm 2000 Ngày 21/1/2002, Thủ tướng Chính phủ banhành Quyết định số 19/2002/QĐ-TTg về việc phê duyệt Chiến lược quốc gia

vì sự tiến bộ của Phụ nữ Việt Nam đến 2010 Các văn bản pháp lý đã cụ thểhoá quyền bình đẳng của phụ nữ với nhiều cơ hội tham gia các hoạt độngchính trị, kinh tế, văn hoá và xã hội

Ở Việt Nam, phụ nữ chiếm 50,8% tổng dân số của cả nước với tuổi thọbình quân là 74 năm, cao hơn tuổi thọ 67,4 năm của nam Phụ nữ được bảođảm quyền làm việc và bình đẳng trong cơ hội việc làm với nam giới Chínhsách đổi mới của Việt Nam đã tạo cơ hội cho phụ nữ tham gia ngày càngnhiều vào các hoạt động kinh tế - xã hội của đất nước Nữ giới chiếm 50%tổng số lao động của cả nước, trong một số ngành còn chiếm tỷ lệ cao hơnnhư nông-lâm nghiệp-thuỷ sản chiếm 53%, công nghiệp nhẹ chiếm 65%,thương mại-dịch vụ chiếm 68,6%, công chức Nhà nước chiếm 65% Tronglĩnh vực tài chính, tín dụng nữ chiếm 30% và trong lĩnh vực ngoại giaochiếm 30%

Tỷ lệ thất nghiệp của lao động nữ thấp hơn so với nam giới, bình quân 6năm qua, tỷ lệ thất nghiệp của lao động nữ là 6,29% (tỷ lệ thất nghiệp chung

là 7,51%)

Lao động nữ được quan tâm nhiều hơn trong thời kỳ thai sản và tuổinghỉ hưu Việt Nam là một trong những nước dành nhiều ưu tiên cho phụ nữtrong lĩnh vực nghỉ thai sản với thời gian nghỉ sinh con tương đối cao, vượtmức thời gian qui định tối thiểu 12 tuần trong Công ước bảo vệ thai sản của

Tổ chức lao động quốc tế (ILO) và hơn hẳn 2 tháng so với thời kỳ bao cấp

Trang 15

trước đây, thể hiện sự quan tâm to lớn của Nhà nước Việt Nam đối với sứckhoẻ của phụ nữ và trẻ em

Tỷ lệ phụ nữ tham gia vào các cơ quan công quyền cũng ngày cangđông đảo thể hiện qua bảng dưới đây:

Bảng 1 - Tỷ lệ phụ nữ trong

các cơ quan công quyền 1

Biểu đồ 1 - Tỷ lệ phụ nữ qua hai khoá bầu

cử Hội đồng nhân dân các cấp

22.5 20.7

16.6

23.8 23.2 20.1

15 17 19 21 23 25

%

Tỉnh Huyện Xã

Bình đẳng về giáo dục giữa nam giới và nữ giới ngày càng được bảođảm và tỷ lệ nữ giới được giáo dục ở mọi cấp tăng cao Tỷ lệ nữ giới tại các

Cơ quan công

Ngày đăng: 03/04/2013, 09:29

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1 - Tỷ lệ phụ nữ trong - Một số quy định bảo vệ và bảo đảm quyền của phụ nữ và trẻ em. Thực tiễn thực hiện tại tỉnh Đak Lak
Bảng 1 Tỷ lệ phụ nữ trong (Trang 15)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w