1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thị trường quyền chọn mua và bán quyền được mua và bán ngoại tệ trong một khoảng thời gian với tỷ giá được thỏa thuận trước

21 374 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 279,23 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các giao dịch được thực hiện trên thị trường hối đoái còn gọi là thịtrường ngoại hối, thị trường ngoại tệ quyết định tỷ lệ mà tại đó các đồng tiền được trao đổivới nhau và đến lượt nó, t

Trang 1

A. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THỊ TRƯỜNG HỐI ĐOÁI

1. Khái niệm:

Hầu hết các nước trên thế giới có đồng tiền của mình: Mỹ có đồng USD, liên minh tiền tệChâu Âu có đồng Euro, Braxin có đồng Riên và Ấn Độ có đồng Rupi… Hoạt động thươngmại giữa các nước làm nảy sinh nhu cầu trao đổi các đồng tiền với nhau, hoặc dưới hình thứcphổ biến hơn là trao đổi tiền gởi ngân hàng được ghi bằng các đồng tiền khác nhau

Việc mua bán đồng tiền và tiền gửi ngân hàng được ghi bằng một đồng tiền nhất định diễn

ra trên thị trường hối đoái Các giao dịch được thực hiện trên thị trường hối đoái (còn gọi là thịtrường ngoại hối, thị trường ngoại tệ) quyết định tỷ lệ mà tại đó các đồng tiền được trao đổivới nhau và đến lượt nó, tỷ lệ này lại quyết định chi phí phải trả cho việc mua hàng hóa và tàisản tài chính của nước ngoài

Thị trường hối đoái có 3 dạng chính là:

− Thị trường giao ngay: là thị trường mà các đồng tiền được mua bán ngay tức thời

− Thị trường kỳ hạn: là thị trường mà các đồng tiền được mua bán ở vào một thời điểm trongtương lai với tỷ giá được thỏa thuận trước

− Thị trường quyền chọn: mua và bán quyền được mua và bán ngoại tệ trong một khoảng thờigian với tỷ giá được thỏa thuận trước

2. Đặc điểm của thị trường hối đoái:

Để hiểu biết được đặc điểm của thị trường ngoại hối, ta phải biết được ách thức giao dịchngoại tệ diễn ra:

Những trung tâm giao dịch ngoại tệ chính là các trung tâm tài chính lớn trên thế giới nhưLondon, Newyork, Tokyo, Frankfurt và Singapore Tuy nhiên các đồng tiền không được muabán ở sở giao dịch như thị trường chứng khoán Newyork Thay vào đó, thị trường hối đoáiđược tổ chức giống như thị trường phi tập trung (OTC), trong đó hàng trăm nhà buôn (hầu hết

là ngân hàng) sẵn sàng mua và bán tiền gửi được ghi bằng đồng tiền nước ngoài

Một điểm quan trọng là khi các ngân hàng, công ty và chính phủ nói về việc mua và bánđồng tiền trên thị trường hối đoái, họ không vận chuyển một khối lượng tiền thật như USD vàbán chúng để đồi lấy đồng Bảng Anh hay Euro Thay vào đó, hầu hết giao dịch đều gắn vớiviệc mua và bán tiền gởi ngân hàng được ghi bằng các đồng tiền khác nhau Cho nên, khi nóirằng một ngân hàng mua USD trên thị trường hối đoái, thì thực ra chúng ta muốn ám chỉ rằngngân hàng đang mua tiền gửi được ghi bằng đồng USD Dung lượng của thị trường là rất lớn,như ở thị trường Newyork vượt quá 1000 tỷ USD mỗi ngày Điển hình ở Newyork, hoạt độngmua bán trên thị trường hối đoái chỉ bao gồm các giao dịch vượt quá 1 triệu USD Thông

1

Trang 2

thường, khi có nhu cầu, người dân mua ngoại tệ từ các nhà bán buôn hoặc ngân hàng trên thịtrường bán lẻ.

Như vậy có thể thấy rằng thị trường ngoại hối có các đặc điểm sau:

− Hoạt động liên tục suốt ngày đêm

− Thị trường ngoại hối mang tính chất quốc tế

− Tỷ giá hối đoái được xác định trên cơ sở cung - cầu ngoại tệ

− Bên cạnh đó vì đồng USD Mỹ là đồng tiền mạnh nhất, do đó hầu như đồng USD được coi làđồng tiền phương tiện

3. Chức năng cơ bản của thị trường ngoại hối:

− Đáp ứng nhu cầu mua bán ,trao đổi ngoại tệ nhằm phục vụ cho quá trình chu chuyển, thanhtoán trong các lĩnh vực thương mại và phi thương mại

− Công cụ để ngân hàng trung ương có thể thực hiện chính sách tiền tệ nhằm điều khiển nềnkinh tế theo mục tiêu chính phủ

− Thị trường ngoại hối có chức năng tín dụng

− Cung cấp các công cụ cho các nhà kinh tế nghiên cứu để phòng ngừa rủi ro hối đoái trong traođổi ngoại tệ Đồng thời giúp các nhà đầu cơ nghiên cứu thu được lợi nhuận nếu họ dự đoánđược tỷ giá hối đoái

4. Tỷ giá hối đoái:

Định nghĩa:

Tỷ giá hối đoái (còn được gọi là tỷ giá trao đổi ngoại tệ, tỷ giá Forex, tỷ giá FX hoặcAgio) giữa hai tiền tệ là tỷ giá mà tại đó một đồng tiền này sẽ được trao đổi cho một đồng tiềnkhác Nó cũng được coi là giá trị đồng tiền của một quốc gia đối với một tiền tệ khác

Các giao dịch hối đoái liên quan đến hai loại tỷ giá hối đoái Loại phổ biến hơn gọi là giaodịch giao ngay, nó gắn với việc trao đổi tiền gửi ngân hàng ngay lập tức (thường trong phạm

vi hai ngày) Loại ít hơn là giao dịch giao chậm, nó gắn với sự trao đổi tiền gửi ngân hàng tạimột thời điểm xác định trong tương lai Tỷ giá hối hoái giao ngay là tỷ giá hối đoái áp dụngcho các giao dịch giao ngay (thị trường giao ngay) và tỷ giá hối đoái giao chậm là tỷ giá hốiđoái cho các giao dịch giao chậm (thị trường kỳ hạn)

Tầm quan trọng của tỷ giá hối đoái:

Tỷ giá hối đoái có ý nghĩa quan trọng, bởi vì chúng tác động tới giá tương đối giữa hàngnội và hàng ngoại Khi một đồng tiền của một nước lên giá (tăng giá so với các đồng tiềnkhác), thì hàng hóa của nước đó ở nước ngoài trở lên đắt hơn và hàng ngoại ở nước đó trở lên

Trang 3

rẻ hơn và hàng ngoại nước đó trở lên rẻ hơn (nếu giá trong nước ở hai nước không thay đổi)

và ngược lại Tương tự, sự lên giá của một đồng tiền có thể làm cho các nhà sản xuất trongnước khó bán hàng hóa của mình ở nước ngoài hơn và làm tăng khả năng cạnh tranh của hàngngoại ở thị trường trong nước, bởi vì hàng ngoại rẻ hơn Như vậy tỷ giá hối đoái có tác độngquan trọng đối với khả năng cạnh tranh và cán cân thanh toán của một quốc gia Vì vậy sựhiểu biết về tỷ giá hối đoái là điều cần thiết trong cả kinh tế vi mô và vĩ mô

Chế độ tỷ giá

Chế độ tỷ giá là cách thức một đất nước quản lý đồng tiền của mình liên quan đến cácđồng tiền nước ngoài và quản lý thị trường ngoại hối Chế độ tỷ giá có liên quan chặt chẽ đếnchính sách tiền tệ Do đó, lựa chọn một chế độ tỷ giá thích hợp là điều quan trọng đối với mộtquốc gia

- Chế độ tỷ giá thả nổi có quản lý (Managed float): Chính phủ can thiệp nhằm đạt được mụctiêu kinh tế vĩ mô mà không thông báo trước lộ trình điều chỉnh tỷ giá

- Chế độ tỷ giá thả nổi (Dirty float): NHTW có thể can thiếp nhằm làm ôn hòa sự dao động của

tỷ giá trên thị trường

Xác định tỷ giá hối đoái:

Tỷ giá hối đoái là mối quan hệ giữa giá trị đồng tiền nước này với giá trị đồng tiền nướckhác Trên thế giới có hai cách niêm yết tỷ giá hối đoái: trực tiếp (direct quotation) và giántiếp (indirect quotation) Theo phương pháp trực tiếp thì tỷ giá hối đoái tăng giảm ngược chiềuvới giá trị đồng tiền trong nước (nội tệ), còn theo phương pháp gián tiếp thì tỷ giá hối đoáităng giảm cùng chiều với giá trị đồng nội tệ Trong bài này ta dùng phương pháp gián tiếp đểchỉ tỷ giá hối đoái

Tỷ giá hối đoái được phân chia thành tỷ giá hối đoái danh nghĩa và tỷ giá hối đoái thực.Trong đó tỷ giá hối đoái danh nghĩa là giá tương đối của hai đồng tiền Còn tỷ giá hối đoáithực phản ánh giá (chi phí) tương đối của rổ hàng hóa giống nhau ở hai nước Mối quan hệgiữa chúng thể hiện ở công thức:

3

Trang 4

Với e là tỷ giá hối đoái danh nghĩa, P và P* lần lượt là chỉ số giá trong và ngoài nước.Giống như bất kỳ hàng há hay tài sản nào trên thị trường tự do, tỷ giá hối đoái danh nghĩađược quan tâm chủ yếu và nó được xác định bởi sự tương tác giữa cung và cầu Để đơn giảnhóa phân tích về tỷ giá hối đoái danh nghĩa – bắt đầu từ đây chỉ gọi là tỷ giá hối đoái – trên thịtrường tự do, chúng ta có thể chia nó vào hai phần là tỷ giá hối đoái trong dài hạn và ngắn hạn.

1/ Tỷ giá hối đoái trong dài hạn:

Để xác định tỷ gái hối đoái trong dài hạn, một cách điển hình là người ta dựa vào điều

kiện ngang bằng sức mua với hai lý thuyết cơ bản là quy luật một giá và lý thuyết ngang bằng

sức mua.

- Quy luật một giá: là một ý tưởng đơn giản để xác định tỷ giá hối đoái Với điều kiện hai nướcsản xuất ra hàng hóa giống hệt nhau, trong khi chi phí giao dịch và hàng rào thương mại rấtthấp, thì giá hàng hóa sẽ như nhau trên khắp thế giới, bất kể nước nào sản xuất ra nó Khi đó:

P = e.P*

- Lý thuyết ngang bằng sức mua (PPP): Lý thuyết này nói rằng tỷ giá hối đoái giữa hai đồngtiền bất kỳ sẽ điều chỉnh để phản ánh những thay đổi trong mức giá của hai nước Lý thuyếtnày là sự vận dụng quy luật một giá vào mức giá quốc gia, chứ không phải giá của từng hàng

hóa Khi đó: %e = %P - %P*

Tuy nhiên bằng chứng thực tế lại không ủng hộ cho quy luật một giá khiến cho lý thuyếtngang bằng sức mua không thể lý giải hoàn toàn tỷ giá hối đoái do rất nhiều hàng hóa dù cùngchủng loại với nhau nhưng lại không đồng nhất nhau (như ôtô của Mỹ sẽ có đặc tính khác vớiNhật nên giá sẽ khác nhau) hoặc các sản phẩm (như nhà ở, đất đai, dịch vụ nhà hàng) đượcđưa vào để tính mức giá của các nước nhưng không tham gia thương mại quốc tế Bên cạnh

đó, thương mại giữa các quốc gia luôn có một phần có thể không nhỏ của chi phí vận chuyển

và thuế ngoại thương

Vì vậy, trên thực tế nhiều nhà phân tích kinh tế chỉ ra rằng trong dài hạn tỷ giá hối đoái sẽ

bị ảnh hưởng chủ yếu bởi bốn yếu tố sau:

- Mức giá tương đối: Phù hợp với lý thuyết PPP, khi giá hàng hóa sản xuất trong nước tăng vàgiá hàng ngoại không thay đổi, cầu về hàng hóa sản xuất trong nước sẽ giảm và đồng tiềntrong nước sẽ có su hướng xuống giá để hàng trong nước vẫn được tiêu thụ tốt và ngược lại

Trang 5

- Hàng rào thương mại: Các hàng rào cản trở nền thương mại tự do như thuế nhập khẩu và hạnngạch cũng ảnh hưởng tới tỷ giá hối đoái Thông thường, sự gia tăng hàng rào thương mại sẽlàm cho đồng tiền của nước đó lên giá trong dài hạn.

- Sở thích về hàng nội và hàng ngoại: Mức cầu cao hơn về hàng xuất khẩu của một nước làmcho đồng tiền của nó lên giá trong dài hạn Và mức cầu cao hơn về hàng nhập khẩu từ nướcngoài sẽ khiến cho đồng tiền của nó xuống giá trong dài hạn

- Năng suất: Nếu một nước trở lên có năng suất cao hơn các nước khác, thì các doanh nghiệpcủa nước đó có thể giảm giá hàng nội so với hàng ngoại mà vẫn kiếm được lợi nhuận Kết quả

là cầu về hàng nội tăng và đồng nội tệ có xu hướng lên gia Như vậy, trong dài hạn, khi mộtnước trở lên có năng suất cao hơn một cách tương đối so với các nước khác thì đồng tiền của

nó lên giá

CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG TỚI TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI TRONG DÀI HẠN

Yếu tố Sự thay đổi của yếu tố Phản ứng của tỷ giá hối đoáitrong dài hạn (e)

Mức giá trong nước

Hàng rào thương mại

Nhu cầu nhập khẩu

Nhu cầu xuất khẩu

2/ Tỳ giá hối đoái trong ngắn hạn:

Chìa khóa để hiểu biểu hiện ngắn hạn của tỷ giá hối đoái là phải nhận thức rằng tỷ giá hốiđoái là giá của tiền gởi ngân hàng trong nước (được ghi bằng đồng nội tệ) tính bằng tiền gởingân hàng nước ngoài (được ghi bằng đồng ngoại tệ) Do tỷ giá hối đoái là giá của một tài sảntính bằng tài sản khác, nên cách tự nhiên để nghiên cứu quá trình xác định tỷ giá hối đoáitrong ngắn hạn là sử dụng phương pháp tiếp cận thị trường tài sản., cụ thể là dựa vào lý thuyết

về cung cầu tài sản Bên cạch đó, những yếu tố dài hạn quyết định đến tỷ giá hối đoái như trêntrình bày cũng đóng vai trò quan trọng trong phương pháp tiếp cận ngắn hạn đối với thị trườngtài sản

Sử dụng lý thuyết về cung cầu tài sản vào việc xác định tỷ giá hối đoái trong ngắn hạn, ta

có cách tiếp cận dựa vào điều kiện ngang bằng lãi suất với giả định rằng tài khoản vốn mở vàthị trường vốn là thị trường cạch tranh hoàn hảo, tức là các nguồn tiền có thể tự do di chuyểnxuyên quốc gia và tiền gửi nước ngoài hay tiền gởi trong nước thay thế hoàn hảo cho nhau khi

mà mức độ rủi ro và tính thanh khoản của tiền gửi tương tự nhau ở các quốc gia

Khi đó, so sánh lợi tức dự kiến của tiền gửi trong nước và ngoài nước ta có:

5

Trang 6

- Lợi tức dự kiến thu được từ việc gởi tiền ở nước ngoài với đồng tiền nước ngoài sau đóchuyển về đồng nội tệ là: r F = i F - (e t+1 - e t )/e t

(với i F là lãi suất nước ngoài, e t+1 và e t lần lượt là tỷ giá hối đoái hiện thời và ở thời điểm tiếp theo)

- Với i D là lãi suất trong nước của đồng nội tệ, ta có chênh lệch lợi tức của việc gởi tiền nướcngoài và gởi tiền trong nước là: r = i D – i F + (e t+1 - e t )/e t

Từ biểu thức trên ta có thể thấy, nếu lợi tức thu được từ tiền gởi nước ngoài cao hơn thì cảngười trong nước và người nước ngoài đều gởi tiền ở nước ngoài/nước họ Tức luồng vốn sẽchảy ra ngoài và ngược lại Vì vậy, với mức cung hiện có của tiền gửi trong và ngoài nước cầnnắm giữ, thì phải không có sự khác biệt về nào trong lợi tức dự kiến của chúng Nghĩa là:

i D = i F - (e t+1 - e t )/e t (1) (1) được gọi là điều kiện ngang bằng lãi suất và nó nói rằng lãi suất trong nước bằng lãi suất nướcngoài cộng với sự lên giá của đồng ngoại tệ Nếu lãi suất trong nước cao hơn lãi suất nướcngoài, thì có nghĩa là có mức lên giá dự kiến dương của đồng ngoại tệ để bù đắp lại mức lãisuất thấp hơn nước ngoài

Khi tiền gởi trong nước và tiền gởi nước ngoài

là hàng thay thế hoàn hào cho nhau thì điều kiện

ngang bằng lãi suất là điều kiện cân bằng cho thị

trường hối đoái Chỉ khi tỷ giá hối đoái thỏa mãn

điều kiện là lợi tức dự kiến của tiền gửi trong nước

và tiền gửi ngoài nước bằng nhau – tức lý thuyết

ngang bằng lãi suất đúng – thì khối lượng tiền gửi

trong nước và ở nước ngoài hiện có mới được sẵn

sàng nắm giữ Khi đó ta có trạng thái cân bằng của

thị trường hối đoái:

Giao điểm của đường lợi tức dự kiến thu được từ tiền gởi trong nước và đường lợi tức thuđược từ tiền gởi nước ngoài chính là trạng thái cân bằng xảy ra trên thị trường hối đoái Dướidạng công thức ta có thể viết: r D = r F

Những thay đổi trong tỷ giá hối đoái

Để lý giải cách thức thay đổi tỷ giá hối đoái theo thời gian, chúng ta xem xét các yếu tố làmdịch chuyển đường lợi tức dự kiến cho tiền gửi trong nước và tiền gửi nước ngoài Ở đây, tachỉ xem xét các yếu tố ảnh hướng từ thị trường mà không xem xét trường hợp có sự can thiệpcủa nhà nước vào tỷ giá hối đoái

Hình 1: Trạng thái cân bằng trên thị trường hối đoái

Trang 7

1/ Sự dịch chuyển của đường lợi tức dự kiến cho tiền gửi nước ngoài:

Như đã thấy, lợi tức dự kiến thu được từ tiền

gởi nước ngoài phụ thuộc vào lãi suất ở nước

ngoài i F cộng với sự lên giá của đồng ngoại tệ

(e t+1 - e t )/e t Bởi vì sự thay đổi trong tỷ giá hối

đoái hiện hành et gây ra sự di chuyển dọc theo

đường lợi tức dự kiến cho tiền gởi nước ngoài,

nên yếu tố làm dịch chuyển đường này phải gắn

với lãi suất nước ngoài i F và tỷ giá hối đoái dự

kiến trong tương lai e t+1 Ta xem xét ảnh hưởng

của thay đổi trong các yếu tố này với đường lợi

tức dự kiến cho tiền gởi nước ngoài khi các yếu

tố khác không đổi

- Những thay đổi của lãi suất ở nước ngoài: Nếu

lãi suất thu được từ tiền gởi nước ngoài i F tăng khi những yếu tố khác không thay đổi, lợi tức

dự kiến thu được từ tiền gửi này cũng phải tăng Bởi vậy, tại bất kì tỷ giá hối đoái cho trước

nào, sự gia tăng của i F cũng dẫn tới sự dịch chuyển sang phải của đường lợi tức dự kiến chotiền gởi nước ngoài Điều này sẽ làm cho đồng ngoại tệ lên giá, hay đồng nội tệ xuống giá(Hình 2) Và ngược lại, khi lãi suất nước ngoài giảm sẽ khiến cho đồng nội tệ lên giá

- Những thay đổi của tỷ giá hối đoái dự kiến trong tương lai: Sự gia của tỷ giá hối đoái dự kiến

trong tương lai e t+1 làm dịch chuyển đường r F sang trái và gây ra sự lên giá của đồng nội tệ Sự

sụt giảm của tỷ giá hối đoái dự kiến trong tương lai e t+1 làm dịch chuyển đường r F sang phải vàgây sự xuống giá của đồng nội tệ Sự thay đổi của tỷ giá hối đoái dự kiến trong tương lai nàylại tương ứng với các yếu tố quyết định đến tỷ giá hối đoái dài hạn như trên đã phân tích làmức giá tương đối, hàng rào thương mại, nhu cầu xuất nhập khẩu và năng suất của quốc gia

2/ Sự dịch chuyển của đường lợi tức dự kiến chi tiền gởi trong nước:

Vì lợi tức dự kiến thu được từ tiền gửi

trong nước chính là lãi suất thu được từ tiền

gởi i D, nên lợi tức này là yếu tố chủ yếu duy

nhất làm dịch chuyển đường lợi tức dự kiến

thu được từ tiền gởi trong nước Khi đó, sự

7

Hình 2: sự thay đổi của đường lợi tức dự kiến của tiền gởi

nước ngoài

Trang 8

gia tăng lãi suất trong nước i D làm dịch chuyển r F sang phải và gây ra sự lên giá của đồng nội

tệ (Hình 3) và ngược lại

Tuy nhiên, sự thay đổi của lãi suất trong nước i D lại bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân

Những nguyên nhân khác nhau làm thay đổi i D lại có tác động khác nhau đối với tỷ giá hối

đoái dự kiến Do đó, ta xem xét những yếu tố chủ yếu tác động làm thay đổi lãi suất i D từ đótác động đến tỷ giá hối đoái dự kiến sau:

- Thay đổi trong lãi suất thực và lạm phát dự kiến: Phương trình Fisher nói rằng lãi suất danh

nghĩa (i) bằng lãi suất thực tế (r) cộng với tỷ lệ lạm phát dự kiến (r e ): i = r + r e Tác động đốivới tỷ giá hối đoái có thể hoàn toàn khác nhau, tùy thuộc vào yếu tố nào là nguồn gốc gây ra

sự thay đổi trong lãi suất danh nghĩa

o Khi lãi suất danh nghĩa i tăng do lãi suất thực r trong nước tăng, trong khi lạm phát dự kiến r e

không thay đổi Trong tình huống này, điều hợp lý là giả định rằng sự lên giá dự kiến của đồngnội tệ không thay đổi bởi vì lạm phát dự kiến không thay đổi vì thế lợi tức dự kiến thu được từtiền gởi nước ngoài không thay đổi tại bất kỳ mức tỷ giá hối đoái cho trước nào Như vậy,

đường r F vẫn ở vị trí cũ, còn đường r D dịch chuyển sang phải (Hình 3) Vì vậy, khi lãi suấtthực tế trong nước tăng, đồng nội tệ lên giá

o Khi lãi suất danh nghĩa tăng do sự gia tăng trong lạm phát dự kiến Khi đó sẽ có sự giảm súttrong sự lên giá của đồng nội tệ (và sự lên giá nhiều hơn của đồng ngoại tệ) do lạm phát dự

kiến gia tăng Sự giảm sút này lại lớn hơn mức tăng lãi suất trong nước i D Kết quả là tại bất kỳmức tỷ giá hối đoái cho trước nào, lợi tức dự kiến thu được từ tiền gửi nước ngoài cũng tăngnhiều hơn lợi tức dự kiến thu được từ tiền gởi trong nước Do đó, đường rF dịch chuyển sangphải nhiều hơn so với đường rD và tỷ giá hối đoái giảm (Hình 4) Vì vậy, khi lãi suất trongnước tăng do sự lạm phát dự kiến trong nước tăng, đồng nội tệ xuống giá

Trang 9

- Thay đổi trong cung tiền: Khi ngân hàng nhà

nước quyết định tăng mức cung tiền nhằm thực

hiện mục tiêu kinh tế Mức cung tiền cao hơn dẫn

tới mức giá cao hơn ở trong nước trong dài hạn,

bởi vậy làm giảm tỷ giá hối đoán dự kiến trong

tương lai Sự suy giảm phát sinh từ đó trong sự

xuống giá của đồng nội tệ làm tăng lợi tức dự

kiến thu được từ tiền gởi nước ngoài tại bất kỳ

mức tỷ giá hối đoái hiện hành nào và vì thế làm

dịch chuyển đường r F sang phải từ r F1 tới r F2

(Hình 5) Ngoài ra, mức cung tiền danh nghĩa

(M) cao hơn cũng dẫn tới mức cung tiền thực tế

(M/P) cao hơn, bởi vì mức gia không tăng lập

tức trong ngắn hạn Sự gia tăng mức cung tiền

này sẽ làm giảm lãi suất trong nước, qua đó làm

giảm đường lợi tức dự kiến thu được từ tiền gởi

trong nước từ r D1 xuống r D2 Kết quả làm giảm tỷ

giá hối đoái từ e 1 xuống e 2 Như vậy, mức cung

tiền trong nước cao hơn làm cho đồng nội tệ xuống giá

Hiện tượng mà trong ngắn hạn tỷ giá hối đoái giảm nhiều khi cung tiền tăng như trên đượcgọi là hiện tượng tăng vọt của tỷ giá hối đoái Tuy nhiên, trong dài hạn tỷ giá hối đoái sẽ dầntăng lên lại Bởi vì theo lý thuyết tiền tệ cơ bản chỉ ra rằng tiền có tính trung lập, nghĩa là trongdài hạn sự gia tăng một phần trăm tốc độ tăng cung tiền sẽ dẫn đến sự gia tăng một phần trămcủa mức giá (tỷ lệ lạm phát), qua đó làm cho cung tiền thực tế và tất cả các biến số kinh tếkhác như lãi suất không thay đổi Do dó, lãi suất trong nước sẽ dần trở về lãi suất dài dạn trong

nước i D Điều này làm cho đường lợi tức dự kiến thu được từ tiền gởi trong nước trở lại mứcban đầu là rD1 (Hình 5) Từ đó, tỷ giá hối đoái sẽ tăng từ e 2 lên e 3 trong dài hạn

Kết luận: Bằng phương pháp tiếp cận thị trường tài sản để xác định tỷ giá hối đoái đã đem

lại một cách lý giải rõ ràng cho sự biến động mạnh của tỷ giá hối đoái hiện nay Do sự lên giá

dự kiến của đồng nội tệ tác động tới lợi tức dự kiến thu được từ tiền gởi nước ngoài, nên kỳvọng về mức giá, lạm phát, hàng rào thương mại, năng suất, nhu cầu xuất nhập khẩu và cungtiền đóng vai trò quan trọng trong quá trình xác định tỷ giá hối đoái Điều này cũng nhấn mạnhrằng, cũng như bất kỳ thị trường tài sản nào khác chẳng hạn như thị trường chứng khoán, thị

9

Trang 10

trường hối đoái chịu ảnh hưởng nặng nề của kỳ vọng về tương lai Vì vậy người ta rất khó dựbáo tỷ giá hối đoái một cách chính xác.

B. TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG CỦA THỊ TRƯỜNG HỐI ĐOÁI VIỆT NAM

Cũng như các thị trường ngoại hối khác trên thế giới, thị trường ngoại hối ở Việt Nam cũngchia thành hai loại thị trường mà bán buôn và bán lẻ Để tìm hiểu tình hình hoạt động của thịtrường ngoại hối Việt Nam, ta cần xem xét hoạt động ở cả hai thị trường này

1 Hoạt động của thị trường ngoại tệ liên ngân hàng:

a) Quá trình hình thành:

Thị trường tiền tệ liên ngân hàng ở Việt Nam được thành lập vào năm 1992 với các nghiệp

vụ về mua bán nguồn vốn ngắn hạn trên giữa các tổ chức tín dụng tại Việt Nam Đến20/09/1994, dựa trên cơ chế của thị trường liên ngân hàng đã có, nghiệp vụ mua bán ngoại tệđược thành lập theo quyệt định 203/QĐ-NH của Thống Đốc NHNN Việt Nam

Thành viên tham gia thị trường ngoại tệ liên ngân hàng bao gồm các ngân hàng thương mại

và ngân hàng đầu tư phát triển trong nước, ngân hàng liên doanh với nước ngoài và chi nhánhcủa ngân hàng nước ngoài hoạt động tại Việt Nam NHNN tham gia vào thị trường cũng nhưcác thành viên khác, đồng thời can thiệp nhằm mục tiêu quản lý khi cần thiết Trong đó, đạidiện mua bán ngoại tệ trên thị trường này của NHNN là Sở giao dịch NHNN

b) Cơ chế hoạt động:

Hiện nay, thị trường ngoại tệ liên ngân hàng hoạt động hoạt động tất cả các ngày làm việctrong tuần dưới hình thức phi tập trung Với các nghiệp vụ chủ yếu là: Mua bán ngoại tệ (giaongay, kì hạn), giao dịch cho vay hay gửi USD và Euro (qua đêm, kỳ hạn) và hợp đồng hoánđổi ngoại tệ (SWAP) Trong đó giá và lãi suất được thực hiện theo nguyên tắc thỏa thuận giữacác bên Tuy nhiên, tỷ giá ngoại tệ mà chủ yếu là USD dựa trên cơ sở tỷ giá chính thức dongân hàng nhà nước công bố đầu ngày Theo đó, ngân hàng thương mại được phép giao dịchvới nhau trong biên độ nhất định quanh tỷ giá chính thức Biên độ giao dịch tỷ giá được nhànước quyết định, có thể thay đổi tùy thuộc từng thời kỳ Cuối cùng, căn cứ vào tỷ giá và khốilượng giao dịch trên thị trường trong ngày, NHNN tính toán tỷ giá bình quân để công bố tỷ giágiao dịch chính thức cho ngày tiếp theo

Tuy nhiên, NHNN vừa là người điều hành thị trường vừa là người mua bán cuối cùng vớikhối lượng lớn để can thiệp vào thị trường khi cần thiết Thông qua hoạt động của thị trườngngoại tệ liên ngân hàng, ngân hàng nhà nước tiếp tục đổi mới và hoàn thiện cơ chế xác định tỷgiá theo hướng thị trường NHNN cũng sử dụng quỷ bình ổn hối đoái để can thiệp thị trường

Ngày đăng: 31/03/2015, 21:26

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1: Trạng thái cân bằng trên thị trường hối đoái - Thị trường quyền chọn mua và bán quyền được mua và bán ngoại tệ trong một khoảng thời gian với tỷ giá được thỏa thuận trước
Hình 1 Trạng thái cân bằng trên thị trường hối đoái (Trang 6)
Hình 2: sự thay đổi của đường lợi tức dự kiến của tiền gởi - Thị trường quyền chọn mua và bán quyền được mua và bán ngoại tệ trong một khoảng thời gian với tỷ giá được thỏa thuận trước
Hình 2 sự thay đổi của đường lợi tức dự kiến của tiền gởi (Trang 7)
Hình 6: BIỂU ĐỒ BIẾN ĐỘNG CỦA TỶ GIÁ VND/USD TỪ 2008 ĐẾN NAY - Thị trường quyền chọn mua và bán quyền được mua và bán ngoại tệ trong một khoảng thời gian với tỷ giá được thỏa thuận trước
Hình 6 BIỂU ĐỒ BIẾN ĐỘNG CỦA TỶ GIÁ VND/USD TỪ 2008 ĐẾN NAY (Trang 13)
HÌNH 7: BIÊN ĐỘ TỶ GIÁ XUNG QUANH TỶ GIÁ CHÍNH THỨC 1989 – 2009 - Thị trường quyền chọn mua và bán quyền được mua và bán ngoại tệ trong một khoảng thời gian với tỷ giá được thỏa thuận trước
HÌNH 7 BIÊN ĐỘ TỶ GIÁ XUNG QUANH TỶ GIÁ CHÍNH THỨC 1989 – 2009 (Trang 16)
HÌNH 8: DIỄN BIẾN TỶ GIÁ VND/USD TẠI THỊ TRƯỜNG TỰ DO 2008 – 2011 Kết luận: - Thị trường quyền chọn mua và bán quyền được mua và bán ngoại tệ trong một khoảng thời gian với tỷ giá được thỏa thuận trước
HÌNH 8 DIỄN BIẾN TỶ GIÁ VND/USD TẠI THỊ TRƯỜNG TỰ DO 2008 – 2011 Kết luận: (Trang 17)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w