1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Xác định các bãi đẻ của nhóm cá rạn san hô vùng biển Sơn Chà - Hải Vân, tỉnh Thừa Thiên Huế

81 611 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 81
Dung lượng 3,38 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các nghiên cứu về đa dạng sinh học, liên kết sinh thái trong hệ sinh thái rạn san hô, đặc biệt là các đặc điểm đặc trưng hình thành nên các bãi giống, bãi đẻ của cá và các loài th

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

-ĐẶNG ĐỖ HÙNG VIỆT

XÁC ĐỊNH CÁC BÃI ĐẺ CỦA NHÓM CÁ RẠN SAN HO VÙNG BIỂN

SƠN CHÀ – HẢI VÂN, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

Hà Nội - 2012

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

-ĐẶNG ĐỖ HÙNG VIỆT

XÁC ĐỊNH CÁC BÃI ĐẺ CỦA NHÓM CÁ RẠN SAN HO VÙNG BIỂN

SƠN CHÀ – HẢI VÂN, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

Chuyên ngành : Sinh thái học Mã số: 60 42 60

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS Nguyễn Văn Quân

Hà Nội - 2012

Trang 3

MỤC LỤC

1.1 Vai trò của nghiên cứu giai đoạn đầu trong vòng đời cá biển 3 1.2.Tình hình nghiên cứu bãi đẻ nhóm cá rạn san hô trên thế giới và 6

1.3 Tổng quan đặc điểm điều kiện tự nhiên, môi trường khu vực nghiên cứu 13

2.4 Phương pháp thiết lập mô hình thủy động lực lan truyền TCCB 27

3.1 Các yếu tố tự nhiên và môi trường liên quan đến việc hình thành nên các

3.2 Tập tính sinh học sinh sản của các nhóm cá RSH tại các bãi đẻ 35 3.3 Khoanh vùng các bãi đẻ của cá RSH tại khu vực nghiên cứu 40 3.4 Các tác động từ tự nhiên và con người đến sự tồn tại của các bãi đẻ nhóm

3.5 Đề xuất một số giải pháp quản lý các bãi đẻ của cá rạn san hô nhằm phát

Trang 4

- IUCN: Tổ chức Bảo tồn thiên nhiên Quốc tế

- KBTB: Khu bảo tồn biển

Trang 5

DANH MỤC HÌNH

Hình 1.1 Giai đoạn sớm trong vòng đời của Naucrates ductor (Pilotfish) 4

(Ảnh: Northeast Pacific Ichthyoplankton Information System) 4

Hình 1.2 Một số đặc điểm hình thái học của ấu trùng cá 5

Hình 1.3 Vòng đời của cá Hồng Lutjanus griseus 6

( Theo Ryan Kleiner) 6

Hình 1.4 Sơ đồ địa điểm nghiên cứu 14

Hình 1.5 Nhiệt độ trung bình tháng của MC khí tƣợng Phú Bài 15

Hình 1.6 Lƣợng mƣa trung bình tháng ở MC khí tƣợng Phú Bài 16

Hình 2.1 Sơ đồ khảo sát 23

Hình 2.2 Một số thiết bị khảo sát 23

Hình 2.3 Hoạt động khảo sát trên tàu 24

Hình 2.4 Phỏng vấn ngƣ dân và các cấp chính quyền 25

Hình 2.5 Một số thiết bị phân tích mẫu 25

Hình 3.1 Phân bố độ phủ san hô sống KBTB Hải Vân – Sơn Chà 29

Hình 3.2 Phân bố số loài ĐVPD trên mặt rộng theo mùa vùng biển 33

Hải Vân - Sơn Chà [18] 33

Hình 3.3 Phân bố số loài cá rạn san hô tại các địa điểm khảo sát 36

Hình 3.4.Giai đoạn chuẩn bị 39

Hình 3.5.Giai đoạn đẻ trứng 39

Hình 3.6 Hoạt động sinh sản ở cá chỉ vàng Selaroides leptolepis (Cuvier, 1833) 40

Hình 3.7 Hoạt động sinh sản ở cá ngát Plotosus lineatus (Thunberg, 1787) 40

Hình 3.8 Mật độ TCCB trung bình theo mùa vụ 44

Trang 6

Hình 3.9 Mật độ TCCB mùa mưa trên mặt rộng 45

Hình 3.10 Mật độ TCCB mùa chuyển tiếp trên mặt rộng 46

Hình 3.11 Mật độ TCCB mùa khô trên mặt rộng 46

Hình 3.12 So sánh mật độ TCCB trung bình trong và ngoài RSH 47

Hình 3.13 Trường dòng chảy vùng ven biển Hải Vân –Sơn Chà mùa mưa [25] 50 Hình 3.14 Trường dòng chảy vùng ven biển Hải Vân –Sơn Chà mùa khô [25] 50

Hình 3.15 Phân bố ấu trùng cá khu vực Hải Vân – Sơn Chà, mùa khô [25] 51

Hình 3.16 Phân bố ấu trùng cá khu vực Hải Vân – Sơn Chà, mùa mưa [24] 52

Hình 3.17 Phân bố bãi đẻ của nhóm cá rạn san hô khu bảo tồn biển 53

Hải Vân - Sơn Chà 53

Hình 3.18 Sơ đồ bãi đẻ số 1 và bãi đẻ số 2 (hòn Sơn Chà) 54

Hình 3.19 Sơ đồ Bãi đẻ số 3 (Sủng Rong Câu) 55

Hình 3.20 Sơ đồ Bãi đẻ số 4 (Bãi chuối) 55

Hình 3.21 Lặn với vòi dưỡng khí đánh bắt hải sản và khai thác cá bằng mìn 57

Hình 3.22 Hoạt động du lịch trên đảo Sơn Chà 57

Hình 3.23 Một số dự án du lịch khu vực Hải Vân – Sơn Chà 58

Trang 7

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1 Giá trị trung bình một số yếu tố thủy lý – thủy hóa khu vực 19

Sơn Chà –Hải Vân, năm 2009 – 2010 [19] 19

Bảng 2.1 Các dụng cụ cần thiết cho khảo sát trên biển 22

Bảng 3.1 Thành phần độ phủ san hô vùng biển Hải Vân - Sơn Chà [8] 28

Bảng 3.2 Biến động số lƣợng loài và cấu trúc của quần xã TVPD theo mùa tại vùng biển Hải Vân - Sơn Chà [16] 31

Bảng 3.3 Cấu trúc quần xã Động vật đáy trên các RSH 34

Hải Vân - Sơn Chà [26] 34

Bảng 3.4 Các họ cá tiêu biểu trong khu hệ cá RSH khu BTB 35

Hải Vân - Sơn Chà [7] 35

Bảng 3.5 Biến động về số lƣợng cá thể theo mùa ở những họ cá rạn san hô điển hình vùng biển Hải Vân - Sơn Chà (con/250m2) [11] 37

Bảng 3.6 Thành phần Cá bột vùng biển Hải Vân – Sơn Chà 42

Bảng 3.7 Tóm tắt các thông số đầu vào của mô hình phát tán TCCB [25] 48

Trang 8

MỞ ĐẦU

Việt Nam có khoảng 1.300 km2 rạn san hô được phân bố rộng rãi từ Bắc tới Nam, với diện tích lớn nhất và tính đa dạng sinh học cao ở miền Trung và miền Nam Các nghiên cứu của Việt Nam về san hô đã ghi nhận gần 400 loài san hô tạo rạn tại vùng Vịnh Nha Trang, Ninh Thuận và Côn Đảo, mỗi nơi có hơn 300 loài [22] Với đặc điểm địa lý nằm liền kề tam giác trung tâm đa dạng sinh học san hô của thế giới (Philippin, Inđônêxia, Đông Timo, Malaixia, Papua New Guinea, đảo Solomon) Việt Nam có tới 90% số loài san hô cứng thuộc vùng Ấn Độ-Thái Bình Dương và là khu vực có nhiều loài san hô mềm thuộc giống

Alcyonaria nhất trong vùng Tây Ấn Độ-Thái Bình Dương Theo các nhà khoa

học, với số loài san hô đã được phát hiện, có thể khẳng định nhóm các loài san hô của Việt Nam vào loại đa dạng nhất thế giới [22]

Sự đa dạng trong cấu trúc RSH và các tiểu sinh cảnh do san hô tạo ra chính là yếu tố chi phối tính đa dạng nhóm cá RSH sống trong vùng biển này Ở Việt Nam, cá khai thác được từ các RSH ven bờ và quanh các đảo có san hô phân bố không chỉ cung cấp nguồn thực phẩm tại chỗ cho địa phương mà còn phục vụ cho việc xuất khẩu cá rạn tươi sống (cá mú, cá hồng, cá kẽm) và nuôi làm cảnh (cá bướm, cá thia, cá thần tiên) Một số trung tâm khai thác cá RSH của nước ta tập trung ở các vùng rạn thuộc Cô Tô, Cát Bà, Bạch Long Vỹ, Sơn Chà (phía bắc) và Nha Trang, Cà Ná, Trường Sa, Phú Quốc ở phía Nam, góp phần đáng kể cho công tác xóa đói giảm nghèo của các địa phương có RSH phát triển [4] Hiện nay tình trạng khai thác quá mức, sự quản lý yếu kém đã dẫn đến nguồn lợi cá RSH bị cạn kiệt và suy giảm nhanh chóng ở hầu hết các rạn Nguyên nhân một phần là sự thiếu các thông tin cần thiết về hiện trạng và khả năng khai thác nguồn lợi cá rạn của người dân cũng như những nhà quản lý (luôn cho rằng nguồn lợi hải sản là vô tận) Trước tình hình trên, việc thiết lập hệ thống các khu BTB được xem như một công cụ đảm bảo cho phục hồi, tái tạo và sử dụng lâu bền nguồn lợi hải sản trong đó nhóm cá RSH được xem như là một đối tượng quan trọng cần được bảo vệ Để quản lý có hiệu quả các khu bảo tồn này thì công việc nghiên cứu các cơ sở khoa học phục vụ cho quản lý là hết sức quan

Trang 9

trọng Các nghiên cứu về đa dạng sinh học, liên kết sinh thái trong hệ sinh thái rạn san hô, đặc biệt là các đặc điểm đặc trưng hình thành nên các bãi giống, bãi

đẻ của cá và các loài thủy hải sản sẽ góp phần thiết thực cho các bước phân vùng khu bảo tồn và áp dụng các biện pháp quản lý phù hợp Những hiểu biết về các giai đoạn phát triển đầu tiên (ấu trùng) trong chu kỳ sống của các loài động vật sống kèm trên RSH và khu vực phân bố tập trung của chúng sẽ cung cấp tài liệu nền cho việc quy hoạch và bảo vệ nguồn lợi Trong khi cá được xem là nhóm động vật có xương sống đạt được đa dạng sinh học cao nhất trong HST RSH, nghiên cứu về trứng cá, cá bột còn có thể tìm ra qui luật về sinh trưởng, tỷ lệ chết và dự báo trữ lượng nguồn lợi cũng như sản lượng khai thác Rất tiếc là cho tới nay ở Việt Nam có rất ít các công trình nghiên cứu về vấn đề này đặc biệt là hầu như chưa có công trình nghiên cứu về bãi đẻ, bãi giống của nhóm cá sống trong HST RSH Do đó cần phải tổ chức nghiên cứu để xác định được các bãi đẻ của nhóm cá RSH, trước hết là trong phạm vi các KBTB để có thể tổ chức khoanh vùng quản lý nhằm bảo tồn hiệu quả hơn nguồn lợi tự nhiên trước các tác động tự nhiên và con người

Nội dung luận văn là một hợp phần quan trọng trong kết quả của đề tài cấp

Viện khoa học và Công nghệ Việt Nam “Khoanh vùng các bãi đẻ cá rạn san hô một số khu bảo tồn biển Việt Nam”thực hiện ở vùng biển HẢI VÂN - SƠN CHÀ

và vịnh Nha Trang trong 2 năm (2009, 2010) do TS Nguyễn Văn Quân làm chủ nhiệm Trên nguồn tư liệu thu thập được từ việc tham gia các hoạt động của đề

tài này, chúng tôi xác định tên cho Luận văn Thạc sĩ Sinh học có tiêu để “Xác định các bãi đẻ nhóm cá rạn san hô vùng biển Sơn Chà – Hải Vân”

Mục tiêu của nghiên cứu này là xác định các bãi đẻ của nhóm cá rạn san hô trong phạm vi khu bảo tồn biển Hải Vân – Sơn Chà tỉnh Thừa Thiên Huế và đề xuất một số giải pháp quản lý các bãi đẻ của nhóm cá RSH, nhằm duy trì và phát triển bền vững nguồn lợi tự nhiên tại khu bảo tồn biển Luận văn cung cấp những số liệu mới, đầu tiên về trứng cá - cá bột, về sự phát tán ấu trùng cá và khoanh vùng được các bãi đẻ của nhóm cá rạn san hô ở vùng biển Hải Vân – Sơn Chà nói riêng và Việt Nam nói chung

Trang 10

CHƯƠNG 1 - TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Vai trò của nghiên cứu giai đoạn đầu trong vòng đời cá biển

1.1.1 Khái niệm cơ bản về giai đoạn đầu

Giai đoạn đầu (early life history) trong vòng đời cá biển bao gồm giai đoạn trứng cá và ấu trùng cá (fish eggs and larvae), là giai đoạn sống trôi nổi trong tầng nước và là một bộ phận lớn trong sinh vật nổi (Plankton) [9] Từ trứng nở thành cá là cả quá trình biến thái liên tục, căn cứ vào những đặc điểm của từng giai đoạn biến thái khác có thể chia như sau (Hình 1.1):

- Giai đoạn trứng (egg): Từ lúc đẻ trứng cho đến khi trứng nở

- Giai đoạn ấu trùng (larvae hay cá bột): Từ lúc trứng nở cho tới khi hoàn thiện và bắt đầu sắp xếp vẩy Giai đoạn này chia làm 4 thời kì:

+ Thời kì noãn hoàng (Yolksac larvae): Giai đoạn phát triển bắt đầu từ lúc trứng

nở và kết thúc khi noãn hoàng tiêu biến Ấu trùng chưa có mắt, miệng và vây

+Thời kì Pre-flexion: Bắt đầu từ lúc noãn hoàng tiêu biến và kết thúc khi dây

sống bắt đầu cong

+ Thời kì Flexion: Bắt đầu từ khi dây sống cong và kết thúc ở vị trí 450 so với chiều thẳng đứng, đồng thời với sự phát triển của tia vây đuôi hỗ trợ các yếu tố xương

+Thời kì Post-flexion: Hoàn thiện chỗ cong dây sống để bắt đầu biến thái Màng

vây sau khi đã tiêu biến, tia vây đuôi xuất hiện đầu tiên, tiếp đến đến tia vây lưng, vây hậu môn, vây ngực, cuối cùng là vây bụng chưa có vẩy (trừ 1 số loài vây bụng xuất hiện trước vây ngực)

- Giai đoạn cá hương (juvenile): hình dạng Cá bột giống cá mẹ, thân phủ vẩy

Trang 11

Hình 1.1 Giai đoạn sớm trong vòng đời của Naucrates ductor (Pilotfish)

(Ảnh: Northeast Pacific Ichthyoplankton Information System)

1.1.2 Một số đặc điểm hình thái học của cá bột

Nhìn hình dạng bên ngoài của cá (Hình 1.2) có thể chia làm 3 phần: Đầu, thân và đuôi Ranh giới giữa đầu và thân là khe mang cuối cùng, ranh giới giữa thân và đuôi là lỗ hậu môn Thân cá có thể chia làm 3 trục cơ thể: Trục đầu đuôi,

Trang 12

trục lưng bụng, trục phải trái Tùy thuộc vào từng loài mà độ dài các trục này có

tỷ lệ khác nhau [42]

Hình 1.2 Một số đặc điểm hình thái học của ấu trùng cá

1.1.3 Ý nghĩa của việc nghiên cứu giai đoạn trứng cá, cá bột

Sự xuất hiện của TCCB có quan hệ khăng khít với đàn cá bố mẹ, vì vậy điều tra nghiên cứu TCCB chủ yếu ở giai đoạn biến thái đầu tiên của chúng nhằm:

- Xác định các bãi cá đẻ, vị trí các đàn cá đi đẻ, thời kỳ đẻ trứng của các loài cá

và các quá trình sinh trưởng của chúng Cung cấp các số liệu giúp cho việc xác định mùa vụ, khoanh vùng bãi đẻ từ đó lên phương án để bảo vệ chúng

- Đề xuất ý kiến giúp cho việc khai thác có kế hoạch tìm hiểu các loài có thể thuần dưỡng được, làm tăng nguồn lợi thủy sản

Trang 13

- Qua điều tra nghiên cứu (tích lũy tài liệu) có thể viết được những tài liệu khoa học về sinh thái, sinh lý phân loại học, đẩy mạnh hơn nữa việc nghiên cứu sau này [54]

Hình 1.3 Vòng đời của cá Hồng Lutjanus griseus

( Tranh vẽ: Ryan Kleiner)

Hình 1.3 cho thấy loài cá Hồng Lutjanus griseus sử dụng rất nhiều hệ sinh

thái trong suốt cuộc đời của nó: vùng nước biển khơi, rừng ngập mặn, cỏ biển và rạn san hô là những sinh cảnh mà loài này đã di cư tới trong suốt các giai đoạn phát triển khác nhau của vòng đời Cá đẻ trứng ở vùng nước nông, trứng nở thành ấu trùng sau đó là giai đoạn gần trưởng thành chúng di cư ra rạn san hô cho tới khi thành thục sinh dục thì lại quay về gần bờ đẻ trứng Vòng đời của mỗi cá thể kéo dài khoảng hơn 20 năm, chúng có thể đạt được chiều dài cơ thể tới 1.5m và nặng 55.5kg [54]

1.2.Tình hình nghiên cứu bãi đẻ nhóm cá rạn san hô trên thế giới và

ở Việt Nam

1.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới

Các bãi đẻ của cá được hình thành khi một loài hay một tập hợp các loài cá

Trang 14

rạn san hô tập trung sinh sản với số lượng lớn tại những thời điểm và địa điểm nhất định nhằm gia tăng hiệu quả sinh sản của chúng Những khu vực này, hay còn gọi là những bãi đẻ (Fish Spawning Aggregation Site, FSAS) có thể tồn tại trong nhiều năm [49] Rất nhiều bãi đẻ là điểm đến của các loài cá di cư từ các rạn san hô lân cận hoặc ở khoảng cách xa tới hàng km trong mùa sinh sản Trứng và ấu trùng từ các bãi đẻ theo dòng chảy của nước có thể được mang đi xa trước khi lắng xuống các rạn san hô, kết thúc giai đoạn sống trôi nổi để sinh trưởng và phát triển tới giai đoạn trưởng thành [41] Tập tính này đã khiến cho sự tồn tại của các quần thể cá rạn san hô có sự phụ thuộc rất lớn vào hiện trạng của các bãi

đẻ trong khi nguy cơ khai thác quá mức tại các bãi đẻ tập trung là rất cao Bãi đẻ của cá rạn có thể cấu thành bởi một hoặc cả hai nhóm cá [24]:

+ Nhóm cá định cư: là nhóm có khoảng cách di cư gần và thường kết đàn theo chu kỳ trăng hoặc thời điểm xác định trong ngày hoặc mùa để tham gia sinh sản, chúng có thể sinh sản gần như là quanh năm tại các bãi xác định

+ Nhóm cá di cư: đây là nhóm có khoảng cách di chuyển đến các bãi đẻ tương đối xa và chỉ kết đàn vào một thời điểm nhất định trong mùa sinh sản tại các bãi

đẻ thông thường cũng tuân theo chu kỳ của mặt trăng Phần lớn các nhóm cá san

hô có giá trị kinh tế cao đều có tập tính kết đàn tập trung ở các bãi đẻ (các họ cá

mú Serranidae, cá hồng Lutjanidae, cá hè Lethrinidae) và là đối tượng rất được quan tâm nghiên cứu phục vụ cho công tác quản lý nguồn lợi cá tại các khu bảo tồn biển [32]

Theo các tác giả Sadovy và nnk (2003), Jeff Leis (2000) thì khi các quần thể

cá trưởng thành đến giai đoạn phát dục sinh sản chúng thường có một số hình thức sinh sản như sau:

+ Đối với nhóm đẻ trứng bám đáy: bao gồm phần lớn các họ cá có kích thước cơ

thể nhỏ, thời gian phát dục sớm (có thể chỉ trong 3 tháng đối với loài cá bàng

chài Thalssoma bifaciatum) như họ cá thia Pomacentridae(cákhoang cổ Amphiprion spp, cá thia xanh Chromis spp, cá thia chấm đen Pomacentrus spp,

cá thia đồng tiền Dascyllus spp), họ cá bàng chàiLabridae (các giống Thalassoma, Halichoeres, Labroides),họcá bướm Chaetodontidae

Trang 15

(giống Chaetodon, Forcipiger) phần lớnchúng kết thành cặp hoặc các đàn nhỏ ở

ngay trên khu vực mặt bằng rạn và đẻ trứng vào các giá thể (thảm rong, cỏ, hải quỳ) Một số loài còn có tập tính “canh trứng” và bảo vệ con non hết sức tinh vi

như cá khoang cổ Amphiprion clarkii hay cá thia chấm đen Pomacentrus amboinensis Nhờ có sự chăm sóc của cá bố mẹ đã làm giảm tỷ lệ chết của con

non do cá địch hại Mặt khác ấu trùng cá phát tán ở đúng khu vực đàn cá bố mẹ cho nên khả năng thích nghi với môi trường sống được tốt hơn Tuy nhiên nhược điểm của hình thức sinh sản này là khả năng phát tán ra các rạn san hô ở khu vực ngoài nơi phân bố của cá bố mẹ bị hạn chế cho nên các quần thể con non dễ bị tổn thương hơn khi nơi sinh cư bị phá hủy (các quần xã san hô bị chết đột ngột

do các yếu tố tự nhiên và con người)

+ Đối với nhóm đẻ trứng trôi nổi: gặp ở phần lớn các họ cá rạn san hô có kích

thước cơ thể lớn như: cá mú Serranidae, cá hồng Lutjanidae, cá mó Scaridae, cá đuôi gai Acanthuridae, cá miền Caesionidae, cá ngát Plotosidae thời gian phát dục của các loài thuộc nhóm này kéo dài hơn so với nhóm đẻ trứng bám đáy (có thể là một năm hoặc lâu hơn) chúng thường kết đàn lớn hoặc đi theo cặp ở khu vực sườn dốc rạn (đôi khi cũng gặp ở mặt bằng rạn) Trứng sau khi được sinh ra

sẽ nở trong 17 – 18 giờ ở nhiệt độ 28 – 300C Thời gian cá phát triển đầy đủ các đặc điểm về vảy, cơ quan cảm giác và khứu giác, bơi tự do được trung bình sau 3 ngày từ khi nở và kích thước cơ thể có thể đạt được là 2 – 3mm và ăn thức ăn chủ động Ấu trùng cá sẽ sống trôi nổi trong cột nước và phát tán ra các RSH lân cận theo dòng triều là 12 ngày Tuy nhiên để định cư ổn định trên nền đáy RSH chúng có thể mất hàng tháng trời vì còn phụ thuộc vào sự lựa chọn nơi sinh cư, điều kiện sống phù hợp, nguồn thức ăn phù hợp và đặc biệt là cá địch hại Ưu điểm của hình thức đẻ trứng này là ấu trùng cá có khả năng phát tán đi xa hơn khỏi RSH của đàn cá bố mẹ do đó có khả năng phân bố rộng hơn và ít bị tác động nhiều khi nơi sinh cư tạm thời bị phá hủy Tuy vậy, nhược điểm dễ thấy nhất đó là tỷ lệ chết của ấu trùng cá cao hơn do quá trình trôi nổi trong cột nước diễn ra lâu hơn nên dễ bị cá dữ ăn thịt và chết do thiếu nguồn thức ăn Các thí nghiệm được tiến hành trong điều kiện phòng thí nghiệm cho thấy ấu trùng cá có

Trang 16

xu thế tìm các đối tượng động vật thân mềm như cầu gai, huệ biển hoặc các hang hốc san hô để định cư trong giai đoạn con non nhằm tránh vật dữ

Những nghiên cứu ban đầu về bãi đẻ của cá rạn san hô được thực hiện trong những năm 1970 tại vùng biển Bahamas, Cu Ba; khu vực trung tâm châu Mỹ La tinh Smith (1972) đã công bố báo cáo chi tiết ban đầu về việc hình thành các bãi

đẻ của nhóm cá mú tổ ong với sự tăng một cách đột biến về số lượng cá thể tại khu vực sườn dốc của rạn san hô trong thời điểm trước và sau thời điểm trăng tròn để tiến hành sinh sản [51] Tại mỗi bãi đẻ có thể bắt gặp hàng trăm cá thể bố

mẹ kết đàn và thực hiện các hoạt động sinh sản trước khi di cư về các nơi ở hay kiếm ăn truyền thống Thành phần loài cá tập trung tại các bãi đẻ có thể là đơn loài hoặc đa loài trong đó bao gồm cả những nhóm loài địch hại [40] Các yếu tố môi trường có liên quan mật thiết tới việc hình thành nên các bãi đẻ bao gồm việc thay đổi chù kỳ mặt trăng, thay đổi nhiệt độ nước biển, dòng chảy, thủy triều, các tập tính sinh thái đặc trưng khác của loài [30,29,55,32,49,43] Vị trí của các bãi đẻ thường nằm ở những vùng có sự thay đổi về mặt địa hình đáy hoặc bờ như các điểm cuối của đảo, các khe rãnh ngầm tạo bởi các tập đoàn san hô ở khu vực sườn dốc rạn hoặc các cồn rạn riêng biệt nằm ở đường biên ngoài phía biển nơi có các rạn san hô phân bố ở phía trong [30]

Các nghiên cứu của Sadovy và Eklund (1999) tiến hành ở quần đảo Cayman (biển Caribê) đã xác định được 60-80 bãi đẻ có tính chất lịch sử và thường xuyên của nhóm cá rạn san hô trong khu vực với nhóm cá chủ đạo thuộc loài cá mú

vạch Epinephelus striatus (họ cá mú Serranidae) [47] Ở khu vực đảo san hô

dạng Atol Enewetak thuộc quần đảo Marshall (Thái Bình dương) đã xác định có

sự phân bố của các bãi đẻ chủ đạo của loài cá miền lưng vàng Caesio teres (họ cá

Miền Caesionidae) với sự tập trung của hàng ngàn cá thể tại bãi đẻ trong chu kỳ trăng tròn và quá trình sinh sản diễn ra sau khi triều cường đạt tới đỉnh [28] Theo Mackie M.(2007) với nghiên cứu tiến hành ở vùng rạn san hô Ningaloo, Ôxtrâylia cho thấy sự tập trung của cá ở các bãi đẻ quanh vùng rạn này trong vòng 6 ngày trước và sau khi trăng tròn và hiện tượng này xảy ra theo chu kỳ hàng năm vào một số tháng nhất định [38] Nemeth và nnk (2007) đã tìm ra quy luật hình thành nên bãi đẻ tại vùng rạn san hô đảo Virgin, Mỹ cho thấy tính chất

Trang 17

phân biệt rõ 2 mùa sinh sản trong năm của cá rạn san hô, trong đó thời điểm cuối đông là mùa sinh sản chủ đạo [41] Hoạt động sinh sản ở các bãi đẻ diễn ra khi nhiệt độ nước biển giảm thấp trong khoảng 26-27,50C và dòng chảy đạt 2,5-3,5cm/giây Sadovy và Liu (2005) với các quan trắc các quần xã cá san hô ở đảo Ping Chau, phía Đông Bắc Hồng Kông đã phát hiện thấy sự hình thành các bãi đẻ

ngay trong rạn san hô của loài cá mú Cephalopholis boenack (họ cá mú

Serranidae) trong đó có sự liên quan giữa đặc tính bảo vệ ranh giới bãi đẻ của các

cá thể đực với sự tham gia của hàng chục cá cái trong mùa sinh sản [47] Ở khu vực Đông Nam Á, cho tới nay các nghiên cứu về bãi đẻ của cá rạn san hô còn chưa được quan tâm đúng mức, trong khi đây là khu vực được xem là nguồn cung cấp cá rạn tươi sống lớn của thế giới Các nghiên cứu điển hình được tiến hành Vườn Quốc gia Komodo (Inđônêxia) và vùng biển phía Bắc đảo Palawan (Philippine) cho các kết quả tương tự nhau về việc hình thành các bãi đẻ của nhóm cá rạn san hô (thường có sự tập hợp đa loài) có thể diễn ra quanh năm nhưng đạt đỉnh điểm vào các tháng 4-tháng 7 hàng năm tại sườn dốc rạn vào các tuần trước và sau thời điểm trăng tròn [44]

Các công trình nghiên cứu của các tác giả nước ngoài cũng đã chỉ ra được những đe dọa đối với sự tồn tại của các bãi đẻ của nhóm cá rạn san hô Do nhu cầu ngày càng tăng của thị trường tiêu thụ cá tươi sống trên toàn cầu đã dẫn tới hiện tượng khai thác hủy diệt ở hầu hết các vùng rạn san hô ven bờ, cũng chính là nơi phân bố của các bãi đẻ Tập tính sinh sản với sự tập trung cao của nhóm cá bố mẹ tại bãi đẻ chính là những vùng khai thác “nóng” của ngư dân bằng việc sử dụng các phương pháp đánh bắt hủy diệt như thuốc nổ, xyanua Một số vùng rạn

có tới 90% sản lượng cá khai thác là từ các bãi đẻ với hậu quả của nó là có thể làm mất đi các bãi đẻ của cá rạn san hô và làm suy giảm trầm trọng nguồn cung cấp ấu trùng cá cho các vùng rạn lân cận [55,39,48] Với mục đích bảo vệ các bãi

đẻ của cá rạn san hô, rất nhiều quốc gia trên thế giới đã xem các bãi đẻ là một trong những mục tiêu đặt ra khi lập kế hoạch phân vùng quản lý của các khu bảo tồn biển Có thể lấy ví dụ như thỏa thuận về việc quản lý và bảo vệ các bãi đẻ của

cá rạn san hô giữa các quốc gia vùng biển Caribê là một minh chứng cho những

nỗ lực đó hay ở tầm cỡ quốc gia như Ôxtrâylia thì Công viên Biển Great Barrier

Trang 18

Reef đã đưa các bãi đẻ của cá rạn san hô là mục tiêu ưu tiên bảo vệ trong hoạt động quản lý của mình với những kết quả ban đầu đáng khích lệ về việc phục hồi các bãi cá đẻ truyền thống [46] Nhằm thúc đẩy các nghiên cứu về bãi đẻ của cá rạn san hô, Hội nghiên cứu Quốc tế về bảo vệ các bãi đẻ của cá san hô đã được thành lập năm 2000 có trụ sở tại Hồng Kông với số hội viên tham gia lên tới 700 người là các nhà nghiên cứu ngư loại học, sinh học biển, các nhà giáo dục, bảo tồn,…trên toàn thế giới Hội đã có những đóng góp thiết thực bằng việc đưa ra được hướng dẫn ban đầu về phương pháp nghiên cứu bãi đẻ của cá rạn san hô [31] Ngoài ra thông qua những hoạt động liên kết chặt chẽ với tổ chức Bảo tồn thiên nhiên Quốc tế IUCN đã nâng cao được nhận thức của cộng đồng về tầm quan trọng của các bãi đẻ và có những chính sách quản lý phù hợp, giảm thiểu tác động có hại của con người, duy trì và phát triển bền vững nguồn lợi tự nhiên với ưu tiên kết hợp với mô hình quản lý ở các khu bảo tồn biển

1.2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước

Do ảnh hưởng của rất nhiều yếu tố chủ quan và khách quan như các yếu tố lịch

sử (chiến tranh) và yếu tố tự nhiên (bờ biển dài và cấu trúc địa hình phức tạp) cộng với những hạn chế về nguồn nhân lực nghiên cứu, dẫn đến các nghiên cứu

về cá rạn san hô biển Việt Nam mang tính chất dàn trải cả về không gian và thời gian Chưa có những nghiên cứu tập trung và trọng điểm về một vấn đề cụ thể của sinh học cá rạn; vấn đề nghiên cứu các bãi đẻ của cá rạn san hô chưa được đề cập tới trong các nghiên cứu về cá rạn san hô Những hạn chế về tài chính và con người là một trong những nguyên nhân mà phần lớn các kết quả nghiên cứu về cá rạn san hô chỉ nằm trong một phần nội dung nghiên cứu trong các đề tài nghiên cứu, điều tra tổng hợp về tài nguyên và môi trường biển

Phần lớn các nghiên cứu về cá rạn san hô ở biển Việt Nam mới chỉ bước đầu nghiên cứu thành phần loài và phân bố, một số ít công trình có nghiên cứu chuyên sâu về cấu trúc quần xã Có thể kể đến các nghiên cứu tiêu biểu của các tác giả:

Trần Nho Xy và Nguyễn Nhật Thi (1965); Nguyễn Hữu Phụng và Nguyễn Văn Long (1975,1994); Nguyễn Văn Quân và Winterbottom (1997), Nguyễn Nhật

Trang 19

Thi (1998), Nguyễn Văn Quân và Keiichi Matsuura (2000), Nguyễn Hữu Phụng và nnk (2001), Nguyễn Văn Quân (2003, 2005), Nguyễn Nhật Thi và Nguyễn Văn Quân (2004), Nguyễn Văn Quân, Đỗ Văn Khương và Lại Duy Phương (2005), Nguyễn Văn Quân và Nguyễn Nhật Thi (2006)

Các nghiên cứu về TCCB, các bãi đẻ và bãi giống của cá biển nói chung thường chỉ tập trung vào 4 hệ sinh thái ven bờ chủ yếu: hệ sinh thái cửa sông, hệ sinh thái rừng ngập mặn, hệ sinh thái đầm phá và hệ sinh thái thảm cỏ biển Trong các năm 1959 – 1965 Viện Nghiên cứu biển Hải Phòng (nay là Viện tài nguyên và Môi trường Biển) trên cơ sở hợp tác với Viện Hải dương học Thanh Đảo và Sở Thủy sản Quảng Châu (Trung Quốc) đã tiến hành khảo sát TC, CB trong vịnh Bắc Bộ Đã nghiên cứu thành phần nguồn giống của 73 họ cá, mùa vụ xuất hiện, mùa đẻ, bãi đẻ và phân bố của chúng trong vịnh Bắc Bộ [26] Năm 1984 trong Luận án Tiến sĩ, Nguyễn Hữu Phụng đã nghiên cứu sâu về hình thái phân loại, đặc điểm sinh học, thời kỳ đẻ trứng và phân bố của cá bột họ cá mối (Synodontidae) ở vịnh Bắc Bộ [3] Nghiên cứu về TCCB vùng cửa sông ven biển Quảng Ninh – Hải Phòng được thực hiện bởi Viện Nghiên cứu Biển trong các năm 1971-1973 cho thấy vùng biển này là bãi đẻ của khá nhiều loài cá và đã xác định được mùa vụ của các loài cá là nguồn giống của đối tượng khai thác ở vùng ven bờ và các đối tượng có thể trở thành giống nuôi trong các đầm nước lợ ven biển [2] Hơn nữa cũng bước đầu thấy được sự liên quan giữa số lượng cá bột với các điều kiện môi trường thủy hóa như nhiệt độ, độ muối và dòng hải lưu Hầu hết các nghiên cứu chỉ đề cập đến sự biến động của nguồn giống tôm cá xung quanh các hệ sinh thái như HST rừng ngập mặn và HST thảm cỏ biển và đánh giá được vai trò của các hệ sinh thái này như là một nơi ương nuôi nguồn giống cho các loài thủy, hải sản [14,18]

Nghiên cứu về nguồn giống cá và bãi đẻ cho một khu vực tiềm năng, làm cơ

sở cho việc thiết lập các khu bảo tồn biển còn ít được quan tâm Mặc dù đã được đặt ra như một tiêu chuẩn dùng để phân hạng các khu bảo tồn biển có tầm quan trọng quốc gia và quốc tế ở Việt Nam (Nghị định số 57/2008/NĐ-CP) [8] Trong phạm vi nghiên cứu của các đề tài riêng lẻ ví dụ như nghiên cứu về nguồn giống tôm, cua cá được Viện Tài nguyên và Môi trường Biển tiến hành năm 1993 ở

Trang 20

vùng biển Đông Nam Cát Bà cũng bước đầu được nghiên cứu làm cơ sở khoa học cho việc thiết lập khu bảo tồn biển Cát Bà [20] Những nỗ lực nghiên cứu về nguồn giống cá và bãi đẻ trong hệ sinh thái rạn san hô mới chỉ bước đầu được thực hiện bởi nhóm tác giả Nguyễn Văn Quân và nnk (2003) trong khuôn khổ đề tài hợp tác với tổ chức IFS Thụy Điển ở vùng Hải Vân – Sơn Chà (Thừa Thiên – Huế) [6] Trên cơ sở kết quả nghiên cứu này đã tìm thấy quy luật biến đổi theo mùa về mật độ ấu trùng cá rạn san hô tại một số rạn san hô xung quanh Hòn Sơn Chà; đặt ra những vấn đề cần nghiên cứu về bãi đẻ của cá rạn san hô ở phạm vi khu bảo tồn này

Như vậy có thể thấy rằng nhu cầu cần thiết đối với việc nghiên cứu cá rạn san

hô là cần ưu tiên những nghiên cứu về bãi đẻ của chúng, góp phần hoàn thiện cơ

sở khoa học cho bộ tiêu chí về việc lựa chọn vị trí các khu bảo tồn biển ở Việt Nam Mặt khác, các kết quả nghiên cứu về bãi đẻ của cá rạn san hô sẽ có đóng góp thiết thực đối với ban quản lý các khu bảo tồn trong việc đề ra các biện pháp quản lý các bãi đẻ hữu hiệu, với mục tiêu nâng cao khả năng tái tạo nguồn lợi tự nhiên trong và ngoài khu bảo tồn biển

1.3 Tổng quan đặc điểm điều kiện tự nhiên, môi trường khu vực nghiên cứu

Trang 21

Hình 1.4 Sơ đồ địa điểm nghiên cứu (Nguồn: Google 2012)

1.3.2 Đặc điểm địa hình, địa chất khu vực

- Đặc điểm địa hình: khu vực nghiên cứu thuộc vùng núi thấp, núi trung bình là

bộ phận đâm ngang ra biển của dãy Trường Sơn chạy theo hướng Đông Tây, phân chia ranh giới Nam Bắc của hai tỉnh Thừa Thiên Huế và thành phố Đà Nẵng Địa hình khu vực hiểm trở, dốc lớn Bờ biển phần lớn là bờ đá độ dốc lớn, nhiều nơi là vách dốc đứng cắm xuống biển (mặt bắc và đông đảo Sơn Chà) Vùng đáy biển ven bờ trong phạm vi độ sâu 10-15m chỉ cách bờ 60-120m, chất đáy đá gốc trên có san hô phát triển thành rạn san hô, đáy ngoài là cát và cát bùn [27] Theo quyết định của Thủ tướng chính phủ phê duyệt ngày 26/5/2010, tổng diện tích của KBTB dự kiến là 17,039 ha trong đó 7,626 ha là diện tích mặt biển [11]

- Đặc điểm địa chất: Khu vực nghiên cứu nằm trong phức hệ Hải Vân được

Huỳnh Trung xác lập (1981), đá lộ ra dưới dạng Batolit ở khu vực núi Bạch Mã,

Trang 22

Động Mang Chan, Đèo Hải Vân, Bình Điền Khối xâm nhập phức hệ Hải Vân có thành phần khá đồng nhất: thành phần thạch học chủ yếu gồm Granit, Granitbiotit, Granit 2 mica pocfia

- Đặc điểm thổ nhưỡng: trong phạm vi nghiên cứu, chủ yếu là loại đất đỏ vàng

trên đá Granit (Fa), đất có tầng dày khá Độ chua của đất khá cao (pH kcl = 5,0), hàm lượng mùn trong đất khá cao (2,5 – 3,0%) [27]

4,7-1.3.3 Khí hậu

1.3.3.1 Chế độ nắng và nhiệt độ không khí

Vùng Hải Vân – Sơn Chà có đến 1900 – 2000 giờ nắng trong năm (Hình 1.5) Trong đó vào mùa đông trung bình khoảng 100 – 110 giờ, mùa hè khoảng 170 –

240 giờ Cao nhất vào tháng 5 – 8 Nhiệt độ trung bình của không khí khoảng

25oC, cao vào mùa hè: 26 – 29oC, cao nhất có thể lên đến 40 oC trong những ngày gió Lào thổi về và thấp vào mùa đông: 18 – 21oC, thấp nhất có thể xuống tới 9 o

C

vào những đợt gió mùa đông bắc mạnh trong tháng 01[27]

Hình 1.5 Nhiệt độ trung bình tháng của MC khí tượng Phú Bài

1.3.2.2 Chế độ mưa và độ ẩm

Mùa mưa chính xảy ra vào tháng 9 – 12 hàng năm (Hình 1.6) Vùng Hải Vân – Sơn Chà nằm gần tâm mưa Bạch Mã là một trong những tâm mưa có lượng mưa lớn của Việt Nam, trung bình năm đạt tới 2744 mm, trong khi trung bình cả nước chỉ khoảng 1900 mm Biến trình mưa trong năm 2007 được thể hiện trên hình 1.6

Trang 23

Hình 1.6 Lượng mưa trung bình tháng ở MC khí tượng Phú Bài

Độ ẩm tương đối của khu vực khá cao, dao động trong khoảng 72 – 90%, trung bình khoảng 80%.Độ ẩm cao vào các tháng 9 đến tháng 4 năm sau, thường đạt trên 84%.Còn lại là những tháng có độ ẩm thấp.Điều này ngược với khí hậu miền Bắc [27]

1.3.2.3 Chế độ gió

Mùa hè, khu vực ven bờ xuất hiện gió đông yếu với tốc độ trung bình khoảng 1,0 – 1,5 m/s, trong khi đó vùng ngoài khơi gió hướng tây – nam chiếm ưu thế (56%), tốc độ gió cũng cao hơn, 1,0 – 1,7 m/s chiếm hơn 50% Trong bão tốc độ gió có thể lên tới 40 m/s

Mùa đông, gió bắc và tây - bắc có tần suất chiếm khoảng 30% với tốc độ trung bình khoảng 1,6 – 3,0 m/s, trong những đợt giá mạnh tốc độ có thể lên tới

bề mặt khá nghèo, lượng nước ngầm còn chưa được điều tra nhưng chủ yếu chỉ

đủ dùng cho sinh hoạt và duy trì hệ thực vật trên đất liền [22]

Trang 24

1.3.4.2 Hải văn

Vùng biển Thừa Thiên Huế là biển nông, hở nhìn ra biển Đông vì vậy chịu

sự chi phối của các yếu tố biển khơi và địa hình của vùng nước nông ven bờ, đặc biệt là sự đâm ngang của dãy núi Hải Vân đã tạo ra những đặc điểm đặc trưng trong khu vực nghiên cứu [27]

Chế độ thủy triều.Chế độ thủy triều vùng ven biển Thừa Thiên Huế khá phức

tạp Tại cửa Thuận An là dạng bán nhật triều đều với biên độ khoảng 35 – 50 cm, thấp nhất ở vùng ven bờ Việt Nam Xa dần về phía bắc và nam, biên độ triều tăng dần, đến vùng Lăng Cô chế độ triều là bán nhật triều không đều với biên độ dao động khoảng 80 cm trong những ngày triều cường

Chế độ sóng Do là vùng biển hở nên chế độ sóng của khu vực phụ thuộc vào

chế độ gió và thay đổi theo mùa, vùng gần bờ còn chịu sự tác động của địa hình – địa mạo đới bờ Mùa đông ở ngoài khơi sóng hướng đông – bắc chiếm ưu thế (35 – 65%) nhưng vào gần bờ sóng chuyển dần sang hướng đông với độ cao trung bình khoảng 1,0 – 1,5 m Vào mùa hè ở ngoài khơi sóng hướng tây – nam và đông nam là chủ yếu, khi vào gần bờ sóng hướng đông – nam với độ cao trung bình nhỏ, khoảng 0,50 – 0,75 m Độ cao cực đại trong bão hoặc những đợt gió mùa đông – bắc mạnh có thể lên tới 4 – 5 m Đặc biệt khu vực đảo Sơn Chà hướng sóng thay đổi theo mùa rất rõ ràng, độ cao sóng cũng cao hơn vùng bắc Hải Vân – Lăng Cô

Chế độ dòng chảy Dòng chảy của nước biển ở vùng nghiên cứu khá phức tạp

do bị ảnh hưởng của địa hình, thời gian (mùa) và vị trí đo Nhìn chung, hệ thống dòng chảy bao gồm dòng chảy ổn định, dòng triều và dòng sóng Trong đó dòng triều mang tính thuận – nghịch rõ rệt ở trong vụng An Cư và cửa vụng Tốc độ trung bình cho toàn vùng khoảng 20 – 30 cm/s, tối đa ở cửa vụng có thể đạt đến

100 cm/s Càng xuống sâu, tốc độ càng giảm, còn ở độ sâu đến 10 m, dòng triều chịu tác động của dòng tổng hợp từ dòng ổn định và dòng sóng [22]

1.3.4.3 Chế độ thủy hóa

Nhiệt độ nước biển Nhiệt độ nước biển biến đổi theo mùa Vào mùa khô (mùa

xuân – hè) nhiệt độ nước biển vùng nghiên cứu khá cao, giá trị trung bình dao

Trang 25

động trong khoảng 26,9 – 30,7 C, và tầng mặt cao hơn tầng đáy do chịu tác động của bức xạ mặt trời, có thể xảy ra hiện tượng phân tầng nhiệt độ yếu, chênh nhau giữa hai tầng khoảng 1, 0 – 2,5 oC Vào mùa mưa (mùa thu – đông), nhiệt độ của nước giảm xuống còn khoảng 24,0 – 25,0oC, chênh lệch nhiệt độ giữa hai tầng cao nhất đạt 1,7o

C

Độ muối Vùng biển Hải Vân – Sơn Chà và đầm An Cư tiếp giáp trực tiếp với

biển, không có các sông suối lớn đổ vào nên không bị ảnh hưởng lâu dài của khối nước ngọt lục địa nên độ muối luôn cao và ổn định, dao động trong khoảng 31,2 – 33,5%o Trong những ngày mưa lũ độ muối trong đầm An Cư có thể xuống thấp tới 25%o ở tầng mặt nhưng ở tầng đáy vẫn đạt khoảng 30%o

Độ đục của nước biển Độ đục của nước là một thông số quan trọng ảnh hưởng

đến sự quang hợp của thực vật biển như rong, tảo và cỏ biển Khu vực Hải Vân – Sơn Chà có độ đục thấp, dao động trong khoảng 4,0 – 11,0 mg/l vào mùa khô và 1,5 – 5,0 mg/l vào mùa mưa Độ đục trong đầm An Cư cao hơn các vùng khác phía ngoài biển Với độ đục như vậy rất thuận lợi cho các loài thực vật biển phát triển

pH của nước biển pH của nước biển vùng Hải Vân – Sơn Chà khá ổn định, dao

động trong khoảng 7,8 đến 8,5 Mùa khô giá trị pH dao động ít hơn, 7,96 – 8,04, mùa mưa dao động nhiều hơn, 7,8 – 8,5, đặc biệt là sự dao động giữa tầng mặt và tầng đáy trong mùa mưa, 0,7 Điều này có thể là sự ảnh hưởng của mưa lũ

Ô xy hòa tan (DO) Kết quả khảo sát và phân tích cho thấy, giá trị trung bình

của ô xy hòa tan trong tầng mặt là 6,21 mg/l, tầng đáy là 5,56 mg/l Trong toàn vùng giá trị DO không có sự khác biệt lớn, tuy nhiên, vào mùa mưa giá trị DO thường cao hơn so với mùa khô Nguyên nhân có thể là do sự giảm nhiệt độ nước biển

Nhu cầu ô xy sinh hóa (BOD5 ) Trong vùng nghiên cứu, giá trị BOD5 trong tầng mặt dao động trong khoảng 0,04 – 1,44 mg/l, trung bình là 0,75 mg/l; trong tầng đáy dao động trong khoảng 0,15 – 1,64 mg/l, trung bình là 0,76 mg/l Vào mùa mưa, giá trị BOD5 trong nước thường cao hơn mùa khô từ 0,26 đến 1,08 mg/l Nhìn chung, hàm lượng BOD5 trong tầng mặt nhỏ hơn tầng đáy trong cả hai mùa

Trang 26

nhưng không đáng kể Kết quả cho thấy thủy vực còn chưa bị ô nhiễm (Bảng 1.1) [20]

Bảng 1.1 Giá trị trung bình một số yếu tố thủy lý – thủy hóa khu vực

Sơn Chà –Hải Vân, năm 2009 – 2010 [20]

nước

Tháng 4 (chuyển tiếp)

Tháng 5 (mùa khô)

Tháng 10 (mùa mưa)

Trung bình năm

1 Nhiệt độ nước (0

Đ

24,3 23,9

32,4 32,0

25,0 24,7

27,23 26,87

Đ

8,18 8,1

8,0 8,0

8,1 8,0

8,09 8,03

Đ

32 32,18

29,94 33,14

27,94 29,61

29,96 31,64

Trang 27

CHƯƠNG 2 - ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng, thời gian và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu bao gồm:

- Các yếu tố tự nhiên và môi trường như : chỉ thị sinh học , địa hình đáy , hiện trạng rạn san hô , rong biển , đô ̣ng vâ ̣t đáy , dòng chảy, nhiệt độ nước biển, độ muối, độ trong suốt, mùa vụ,…có liên quan đến sự hình thành các bãi đẻ của cá rạn san hô, bao gồm 2 vấn đề chính:

+ Hình thành nên các bãi đẻ mang tính chất truyền thống cho các quần xã cá rạn san

hô đến sinh sản tập trung trong một thời điểm xác định trong năm (bao gồm cả nhóm cá di cư và định cư)

+ Hình thành nên các bãi đẻ mang tính chất cục bộ cho các quần thể cá rạn san hô (đơn loài) tập trung sinh sản trong ranh giới phân bố của loài trong một rạn san hô đã được xác định và diễn ra theo chu kỳ năm, mùa vụ hoặc quanh năm

- Tập tính sinh học sinh sản của các nhóm cá rạn san hô tại các bãi đẻ - nhân tố đóng vai trò quyết định đến sự duy trì các bãi đẻ và bổ sung nguồn ấu trùng cho các rạn san hô lân cận

- Các tác nhân con người và tự nhiên gây tác động tiêu cực đến sự tồn tại của các bãi đẻ thông qua việc phân tích các hoạt động khai thác và đánh bắt tại các bãi đẻ cũng như các yếu tố môi trường tự nhiên gây bất lợi đến sự hình thành các bãi đẻ

Phạm vi nghiên cứu: là các vùng rạn san hô được lựa chọn: 13 rạn san hô ở KBTB

Hải Vân - Sơn Chà Độ sâu khảo sát từ 0 – 25 m nước hoặc đến hết phần sườn dốc rạn (Hình 2.1)

Thời gian nghiên cứu:(2009-2012) Thực hiện 3 chuyến khảo sát vào tháng 5/2009

đại diện cho mùa khô,tháng 10/2009 đại diện cho mùa mưavà tháng 04/2010 đại diện cho mùa chuyển tiếp

Trang 28

Hình 2.1 Sơ đồ các mặt cắt khảo sát tại vùng biển Hải Vân – Sơn Chà

Trang 29

2.2 Phương pháp thu mẫu và phân tích mẫu

2.2.1 Điều tra khảo sát ngoài thực địa

2.2.1.1 Công tác chuẩn bị

Lựa chọn các địa điểm mang tính chất đại diện và thiết lập các mặt cắt cố định để quan trắc lặp lại trên cơ sở các số liệu lịch sử của các đề tài, dự án nghiên cứu trước đây nhằm đánh giá nhanh các địa điểm rạn san hô có tiềm năng là bãi

đẻ Tập trung quan trắc khi có dấu hiệu cho thấy một vùng rạn nào đó có khả năng trở thành bãi đẻ của nhóm cá rạn san hô Một số dụng cụ và trang thiết bị phục vụ cho khảo sát cần chuẩn bị được liệt kê ở bảng 2.1, hình 2.2 dưới đây:

Bảng 2.1 Các dụng cụ cần thiết cho khảo sát trên biển

+ Mẫu địa hình đáy: đất, trầm tích (gồm các thông số cơ học, khoáng vật) nhằm

có cơ sở đánh giá các yếu tố cấu thành nền đáy ở các bãi đẻ

+ Mẫu sinh vật: gồm các mẫu cơ sở nguồn thức ăn cho ấu trùng cá rạn san hô tại các bãi đẻ (thực vật phù du, động vật phù du) Các mẫu san hô nhằm đánh giá hiện trạng ổ sinh thái (habitat) của nhóm cá bố mẹ và con non tại bãi đẻ và các vùng rạn lân cận

+ Mẫu TC và CB: được thực hiện thu ở các điểm tiềm năng là các bãi đẻ và các vùng rạn san hô lân cận Đây là những chỉ thị mang tính chất định lượng rất quan trọng để xác định các bãi đẻ của cá rạn san hô Mẫu TC và CB được thu bằng phương pháp kéo lưới theo tàu và bẫy đèn trên rạn san hô vào buổi tối và được thợ lặn thu bằng lưới kéo trực tiếp trên rạn san hô Các phương pháp thu mẫu TC và CB phỏng theo sổ tay nghiên cứu TC, CB của Leis J.M, 2000 [36]

Trang 30

+ Mẫu cá trưởng thành: được thu có lựa chọn ở trên rạn san hô và các điểm tiềm năng là các bãi đẻ của cá để xác định sự chín muồi của tuyến sinh dục, nhờ đó xác định được thời điểm hoặc mùa vụ sinh sản của cá san hô

+ Mẫu nước: gồm các thông số đo nhanh như: nhiệt độ, độ muối, Ô xy hòa tan (DO), pH, độ trong được đo bằng máy đo nhanh TOA

+ Các yếu tố dòng chảy: được đo tại các địa điểm có tiềm năng là các bãi đẻ và ở khu vực rạn san hô lân cận Mục tiêu là nhằm xác định được những ảnh hưởng của dòng chảy đến sự tập trung của cá bố mẹ tại các bãi đẻ và vai trò trong việc vận chuyển TC và ấu trùng CB tới các vùng nước lân cận

Hình 2.2 Một số thiết bị khảo sát

2.2.1.2 Phương pháp thu mẫu trên biển

Một số kỹ thuật thu thập mẫu vật và tư liệu ngoài thực địa (Hình 2.3):

- Đo nhanh, thu mẫu, bảo quản, phân tích theo QA/QC và quy phạm liên ngành

trong nghiên cứu biển thuộc Sổ tay nghiên cứu biển, 1981

Trang 31

- Sử dụng thiết bị định vị vệ tinh GPS và công nghệ viễn thám để lập bản đồ, khoanh vùng các bãi đẻ của cá rạn: xác định diện tích phân bố, không gian của các bãi đẻ, xây dựng cơ sở dữ liệu tài nguyên trên GIS

- Lặn khảo sát với thiết bị SCUBA để đánh giá nhanh hiện trạng của rạn san hô theo phương pháp Reefcheck, hệ thống máy quay phim, chụp ảnh dưới nước được sử dụng để ghi nhận sự xuất hiện tập trung của các đàn cá bố mẹ

- Quy phạm nghiên cứu xác định các bãi đẻ của cá rạn san hô phỏng theo Sổ tay Nghiên cứu và Bảo vệ các bãi đẻ của cá rạn san hô của Hội Bảo vệ các Bãi đẻ

của cá rạn san hô xuất bản năm 2001 tại Hồng Kông, Trung Quốc [31,48]

Hình 2.3 Hoạt động khảo sát trên tàu

2.2.1.3 Phương pháp điều tra ngư dân

- Điều tra khảo sát hiện trạng khai thác nguồn lợi cá rạn san hô tại các khu bảo tồn biển (ưu tiên đánh giá việc khai thác đàn cá bố mẹ trưởng thành trong mùa sinh sản): dựa trên việc phân tích phiếu điều tra tình hình khai thác, sản xuất của ngư dân (Hình 2.4)

- Điều tra về hiện trạng các bãi đẻ của cá rạn san hô nhằm nghiên cứu các giải pháp quản lý, khai thác bền vững nguồn lợi tự nhiên cho cộng đồng dân cư bằng các phiếu điều tra các nhóm đối tượng có liên quan

Trang 32

Hình 2.4 Phỏng vấn ngư dân và các cấp chính quyền

2.2.2 Các phương pháp phân tích mẫu vật và tư liệu trong phòng thí nghiệm

- Phân tích thành phần loài, phân bố và độ phủ rạn san hô và cá rạn tại các rạn san hô tiêu biểu theo S English et al (1997), các phương pháp khảo sát và thu mẫu đã được UNESCO công nhận, xác định thành phần loài và sự phân bố trên các mặt cắt bằng phương pháp dừng hình trên video và dựa vào tài liệu phân loại san hô sống của Veron [34]

- Phân tích mẫu TC, CB bằng các tài liệu chuyên sâu đã được áp dụng phổ biến trên thế giới theo Leis J.M (2000), Okiyama (1988) [36,42], sử dụng kính hiển vi soi nổi (Hình 2.5)

Hình 2.5 Một số thiết bị phân tích mẫu

- Phân tích thành phần, mật độ của các nhóm đối tượng sinh vật sinh sống

Trang 33

trong rạn san hô (sinh vật phù du, cá, rong biển và động vâ ̣t đáy) theo quy phạm điều tra tổng hợp biển của Uỷ ban Khoa học và Kỹ thuật nhà nước (nay là Bộ Khoa học và Công nghệ) ban hành năm 1981 (vùng triều) và của English et al (1997) cho vùng dưới triều [34]

- Phân tích mẫu môi trường nước: đồng thời với quá trình thu các mẫu sinh vật, tiến hành đo đạc và thu các mẫu nước để phân tích các chỉ tiêu thuỷ lý và thuỷ hoá, trong đó: Nhiệt độ nước, độ muối, độ pH, độ trong, ôxy hoà tan (DO) được đo ngay tại hiện trường bằng các máy đo nhanh

- Phân tích số liệu dòng chảy bằng các phần mềm chuyên dụng

- Mẫu trầm tích được thợ lặn thu tại hiện trường sau đó được bảo quản và đưa

về phòng thí nghiệm được xử lý và phân tích trên máy phân tích cấp hạt tự động Analysette 2.0 của FRITSCH (Scanning photo sedimentograph) hoặc phân tích bằng phương pháp pipet

- Sử dụng phương pháp phân tích phương sai ANOVA (Analysis of Variance)

để xác định sự sai khác về biến động mật độ TC, CB giữa các mùa khảo sát, giữa các địa điểm rạn và vị trí rạn san hô trong cùng một địa điểm nghiên cứu

- Dùng các phần mềm để xử lý các số liệu thu thập từ phiếu điều tra nhân dân, đánh giá sản lượng khai thác cá san hô tại các khu bảo tồn biển

2.3 Phương pháp kế thừa tài liệu

- Phương pháp này được sử dụng nhằm xác định, phân tích, đánh giá điều kiện tự nhiên – kinh tế - xã hội – môi trường và tổng hợp các dữ liệu có liên quan đến khu vực Hải Vân – Sơn Chà thông qua các thông tin, số liệu đã thu thập được từ các nguồn khác nhau Từ đó, trên cơ sở kế thừa có chọn lọc các nghiên cứu đã thực hiện trước đây tại khu vực nghiên cứu và các thông tin cần thiết phục

vụ cho đề tài nghiên cứu, chúng tôi chọn:

+ Sơ đồ vị trí khu vực nghiên cứu

+ Báo cáo điều kiện tự nhiên – kinh tế, xã hội, môi trường

+ Báo cáo đa dạng sinh học (cá, san hô, ĐVPD, TVPD, động vật đáy, rong biển) khu vực nghiên cứu

Trang 34

2.4 Phương pháp thiết lập mô hình thủy động lực lan truyền TCCB

Để có bức tranh khái quát hơn về những tác động của điều kiện vật lý thủy văn tới việc hình thành các bãi đẻ cá rạn san hô, nhóm tác giả đã sử dụng mô hình toán học để mô phỏng đặc điểm thủy động lực và lan truyền ấu trùng ở khu vực trong mùa gió đông bắc và mùa gió tây nam

Mô hình lan truyền ấu trùng cá nằm trong module Delft3d-Part là một mô hình 3 chiều có thể tính toán, mô phỏng động lực phân bố hàm lượng vật chất nói chung theo không gian và thời gian từ các nguồn phát tán Phạm vi áp dụng của mô hình là các vùng cửa sông ven biển, vùng nước của các hồ chứa v.v

Các quá trình vật lý và hiện tượng cơ bản của mô hình này gồm :

- Động thái di chuyển và biến đổi của vật chất từ các nguồn

- Các quá trình tiêu tán (hao hụt) của vật chất

- Sự hòa trộn và khuếch tán trong môi trường nước

- Ảnh hưởng của ma sát đáy đến sự di chuyển của các phần tử

- Các quá trình lắng đọng và tái lơ lửng

Delft3D- Part là mô hình mô phỏng sự di chuyển ngẫu nhiên dạng vết dựa sự

di chuyển của các phần tử vật chất hòa tan (hoặc không tan) trong môi trường nước dưới những ảnh hưởng do các quá bình lưu (dòng chảy) Sự di chuyển của các phần tử đầu tiên do hai yếu tố: ứng suất trượt của dòng chảy (đáy) và gió (trên mặt) Sau đó, các phần tử này di chuyển bởi các quá trình ngẫu nhiên liên quan đến lan truyền- khuếch tán bình lưu và thẳng đứng

Trang 35

CHƯƠNG 3 - KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

3.1 Các yếu tố tự nhiên và môi trường liên quan đến việc hình thành nên các bãi đẻ của nhóm cá RSH

3.1.1 Các quần xã san hô

Các RSH đóng vai trò rất quan trọng đối với việc duy trì đa dạng sinh học trong các vùng nước ở KBTB do chúng vừa cung cấp nơi ẩn nấp, kiếm mồi, bãi đẻ và ương nuôi nguồn giống cho các nhóm cá RSH cùng các loài thủy hải sản khác Chính vì vậy sự tồn tại của các RSH trong khu vực nghiên cứu là một trong những

điều kiện cơ bản nhất để các loài cá RSH tới ẩn nấp, kiếm mồi và sinh sản

Đã phát hiện được 148 loài, 44 giống, 14 họ thuộc 2 bộ tại khu vực Hải Vân - Sơn Chà Về số loài ở cấp họ, phong phú nhất là Faviidae với 40 loài, chiếm đến 27% tổng số loài phát hiện được trong khu vực Tiếp đến là họ Acroporidae - 36 loài (24%); Poritidae - 17 (11,5%) Các họ còn lại đều có số loài dao động trong

khoảng 1 - 8 loài Nếu xét theo cấp Giống thì phong phú nhất là Acropora - 20loài, Montipora - 14 loài, Favia - 12 loài; Goniopora - 10 loài Về độ phủ của san hô,

trong nghiên cứu này được xác định theo phương pháp reef check, số liệu được xử

lý bằng chương trình chuyên dụng Kết quả thu được được trình bày trên bảng 3.1, hình 3.1:

Bảng 3.1 Thành phần độ phủ san hô vùng biển Hải Vân - Sơn Chà [8]

Kiểu loại Miếu Hòn rong câu Sủng

Đồn biên phòng

Bãi Chuối Bãi Cả Trung bình

Trang 36

Ghi chú: HC - San hô cứng; SC - San hô mềm; RKC - San hô mới chết; DC - San hô chết ;

FS - Rong lớn; SP - Hải miên; RC - Đá gốc; RB - Vụn san hô; SD - Cát; SI - Bùn; OT - Khác

Qua bảng 3.1 ta thấy, độ phủ trung bình của san hô trong khu vực tương đối cao, đạt đến 45,0% bề mặt đáy Cao nhất là tại Sủng rong câu, đến 65,0% Nếu đánh giá hiện trạng rạn san hô theo Gomez và Alcala (1984) gồm 4 cấp, ta có:

- Rạn xấu (độ phủ san hô sống từ 0% đến 24,9%): không có

- Rạn trung bình (độ phủ san hô sống từ 25% đến 49,9%): Hòn Miếu, đồn Biên Phòng Bãi Cả; Bãi Chuối

- Rạn tốt (độ phủ san hô sống từ 50% đến 74,9%): Rạn ở Sủng rong câu

- Rạn rất tốt (độ phủ san hô sống từ 75% đến 100%): không có

Như vậy có thể thấy rằng các rạn san hô ở vùng Hải Vân - Sơn Chà chủ yếu thuộc loại trung bình, riêng có rạn tại Sủng rong câu là loại tốt nhưng diện tích phân bố rất hạn chế

Hình 3.1 Phân bố độ phủ san hô sống KBTB Hải Vân – Sơn Chà

Trang 37

3.1.2 Quần xã rong biển

Các thảm rong biển phân bố xen kẽ trong các đới RSH không chỉ là nguồn cung cấp thức ăn quan trọng cho các họ cá san hô sử dụng rong làm thức ăn (cá dìa, cá thia, cá bàng chài ) mà còn là giá thể quan trọng cho trứng của các loài thủy hải

sản bám vào, đồng thời là nơi định cư của ấu trùng cá sau giai đoạn sống trôi nổi

Theo kết quả nghiên cứu của Đàm Đức Tiến (2004) Vùng biển Hải Vân - Sơn Chà có140 loài rong biển, thuộc 4 ngành là Rong lam, Rong đỏ, Rong nâu và Rong

lục [17] Trong số đó, Rong lam (Cyanophyta) có 8 loài, chiếm 5,5% tổng số loài; Rong đỏ (Rhodophyta): 72 loài, 72%; Rong nâu (Phaeophyta): 38 loài, 26,3% và Rong lục (Chlorophyta): 26 loài, 18,0% Số lượng loài bắt gặp cao hơn về mùa khô

(92) loài và thấp hơn về mùa mưa (15 loài) liên quan đến sự biến động về mùa Về phân bố rộng, phần lớn các loài rong biển đều phân bố ở phía bắc của Hải Vân (Sủng rong Câu, Bãi Chuối) và đảo Sơn Chà Phân bố theo các đới triều được thể hiện rõ với 107 loài phân bố ở vùng triều (chiếm 68,5 tổng số loài) và 49 loài phân bố ở vùng dưới triều (31,5%) Nhìn chung, các loài rong biển vùng nghiên cứu chủ yếu phần trên dải từ vùng triều giữa xuống đến độ sâu khoảng 5m so với 0m hải đồ Đây là một yếu tố rất thuận lợi cho việc khai thác nhưng sẽ không thuận lợi cho việc tồn tại và phát triển của rong biển khi có gió mùa đông – nam với sóng cùng hướng có cường độ mạnh Khi sóng lớn, các loài phân bố ở vùng triều và không sâu lắm vùng dưới triều dễ bị tàn phá bởi sóng lớn và nhiệt độ cao (mùa hè)

3.1.3 Quần xã thực vật phù du

Thực vật phù du được xác định là nguồn thức ăn quan trọng trong giai đoạn đầu của ấu trùng CB Theo kết quả nghiên cứu của Jeff Leis, 2000 thì tỷ lệ chết của ấu trùng cá trong 9 – 12 ngày đầu tiên sau khi nở có thể đạt tới mức 63% mà chủ yếu là

do thiếu thức ăn [36]

Kết quả phân tích mẫu TVPD tại vùng biển này thu được trên 6 mặt cắt trong 2 mùa khô và mưa đã xác định được tổng số 156 loài vi tảo thuộc quần xã TVPD trong vùng biển quanh đảo Sơn Chà Trong đó tảo Silíc (Bacillariophyceae) có số lượng loài phong phú nhất 78 loài thuộc về 37 chi, chiếm 50% Tiếp đến là lớp tảo

Trang 38

Giáp Dinophyceae có 72 loài thuộc về 20 chi và chiếm 46,15% tổng số loài Các nhóm tảo còn lại thuộc các lớp tảo Kim Dictyochophyceae có 2 loài thuộc về 1 chi chiếm 1,28%, lớp tảo Lục Chlorophyceae có 3 loài thuộc 3 chi chiếm 1,92% và lớp tảo Lam Cyanophyceae có 1 loài thuộc 1 chi chiếm tỷ lệ thấp nhất là 0,64% tổng số loài trong quần xã TVPD tại thời điểm nghiên cứu Kết quả nghiên cứu này cho thấy quần xã TVPD trong vùng biển nghiên cứu tại Sơn Chà có số lượng loài ở mức trung bình (Bảng 3.2)

Bảng 3.2 Biến động số lượng loài và cấu trúc của quần xã TVPD theo mùa tại vùng biển

Hải Vân - Sơn Chà [16]

Kết quả mẫu thu trên 10 MC trong các đợt khảo sát từ 2009-2010 tại vùng nước Sơn Chà cho thấy thành phần loài ĐVPD gồm 55 loài và 8 nhóm ấu trùng các loại khác thuộc 32 giống, 24 họ, 5 bộ và 5 ngành Số loài thu được thấp hơn số loài thu được trên toàn vùng biển Hải Vân – Sơn Chà trong các đợt khảo sát năm 2003 gồm

74 loài thuộc 39 giống, 34 họ, 10 bộ, 5 ngành và 10 nhóm thuộc ấu trùng tôm, cua, thân mềm, da gai, san hô và giáp xác đáy Có thể thấy quần xã ĐVPD vùng biển này còn thể hiện ở sự đa dạng của các nhóm sinh thái Đó là các nhóm sau:

Trang 39

- Nhóm loài ven bờ nhiệt đới: Đây là nhóm loài đóng vai trò chủ yếu trong khu hệ

động vật phù du ven bờ nhiệt đới Chúng thường có khả năng thích nghi rộng với nhiệt độ, độ muối ở vùng biển Sơn Chà - Hải Vân thành phần của nhóm này khá

phong phú và đôi khi chiểm số lượng ưu thế trong mẫu Đó là các loài Paracalanus aculeatus, P parvus, Acartia erythraea , Temora turbinata, Centropages furcatus

- Nhóm loài biển khơi thích nghi rộng: Đây là nhóm loài có nguồn gốc biển khơi, có

khả năng phân bố rộng nên đôi khi chiếm số lượng khá lớn ở vùng biển Hải Vân -

Sơn Chà Đó là các loài Canthocalanus pauper, Undinula vulgaris

- Nhóm loài biển khơi điển hình: Nhóm loài này có tần số xuất hiện không thường

xuyên và với số lượng rất ít chỉ ở mặt cắt số VII và III Đó là 2 loài chỉ thị cho khối

nước biển khơi như Undinula darwinivà Euchaeta marina

- Nhóm loài phân bố rộng: Đây là nhóm loài có khả năng phân bố rất rộng Chúng

có mặt từ các thuỷ vực nước lợ ven bờ đến các vùng nuớc mặn biển khơi Đó là các

loài Oithona flumifera, Oithona similis, Corycaeus erythraeus, Corycaeus andrewsi Trong đợt khảo sát này tần số xuất hiện của những loài này khá cao ở vùng biển Nam Hải Vân và Sơn Chà

Về biến động số lượng loài giữa các mặt cắt khảo sát: Có thể thấy số loài ĐVPD tại các MC khảo sát trung bình 15 -20 loài/MC và phân bố khá đồng đều ở các MC Sự phân bố số loài trên mặt rộng vào tháng 4 đồng đều hơn tháng 10 Trong cả hai mùa số loài tập trung cao hơn cả ở các khu vực các MC số II và XII với 20-25 loài Xu thế phân bố số loài theo mùa không rõ ràng Khu vực phía ngoài đảo Sơn Chà số loài trong mùa mưa cao hơn mùa khô và ngược lại tại các MC phía trong các đảo Sự phân bố này có phần khác biệt khi so sánh với kết quả của Nguyễn Thị Thu (2003) có được khi nghiên cứu phân bố và biến động số loài ĐVPD tại vùng nước quanh đảo Hải Vân Sơn Chà năm 2003 khi trong mùa khô, các MC phía đông ngoài Sơn Chà số loài thu được cao hơn với 36 loài và thấy số loài ĐVPD càng ra xa bờ càng tăng (Hình 3.2)

Trang 40

Hình 3.2 Phân bố số loài ĐVPD trên mặt rộng theo mùa vùng biển

Hải Vân - Sơn Chà [18]

Biến động mật độ cá thể giữa các mặt cắt khảo sát cho thấy có sự biến đổi lớn

về phân bố số lượng cá thể ĐVPD theo mùa cũng như trên mặt rộng Mùa khô số lượng cá thể ĐVPD cao gấp 2-3 lần mùa mưa Hơn nữa thấy xu thế phân bố các khu vực tập trung mật độ ĐVPD cao cũng khác nhau theo mùa Mùa khô mật độ ĐVPD tập trung cao hơn tại các khu vực MC số XI và XII Ngược lại trong mùa mưa mật

độ ĐVPD tập trung cao hơn tại khu vực MC VI và IX

Có thể thấy xu thế phân bố số lượng trên mặt rộng và theo mùa trong khảo sát này không hoàn toàn phù hợp với kết quả phân bố và biến đổi mật độ ĐVPD tại khu vực bắc Hải Vân Sơn Chà năm 2003 [18] Đó là sự tâp trung mật độ cao hơn tại khu vực các mặt cắt gần bờ so với các MC xa bờ trong cả hai mùa Tuy nhiên vẫn thấy mật độ cá thể ĐVPD trung bình mùa khô cao hơn mùa mưa

3.1.5 Quần xã động vật đáy

Động vật đáy là nguồn cung cấp thức ăn cho đàn cá bố mẹ và là vật ẩn nấp lý tưởng của ấu trùng CB Liên quan đến việc hình thành nên các khu vực cá tập trung sinh sản đó là các đàn cá bố mẹ có xu hướng tới các khu vực có các điều kiện môi trường an toàn để giảm thiểu tới mức tối đa tỷ lệ chết của ấu trùng do địch hại ở giai đoạn bắt đầu định cư ở nền đáy Theo tác giả Sale PF (2002) thì tỷ lệ chết của ấu trùng cá san hô trong thời điểm bắt đầu sống bám đáy có thể lên tới 70% do bị cá dữ

ăn thịt Để tránh được điều này thông thường ấu trùng cá có tập tính kết đàn và phân

Ngày đăng: 31/03/2015, 16:18

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lăng Văn Kẻn (2008), Hồ sơ kỳ quan sinh thái Lăng Cô – Hải Vân – Sơn Chà, Báo cáo dự án số 14 “ Điều tra cơ bản và đánh giá tài nguyên vị thế, kỳ quan sinh thái, địa chất vùng biển và các đảo Việt Nam”. Viện tài nguyên và môi trường biển Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ sơ kỳ quan sinh thái Lăng Cô – Hải Vân – Sơn Chà
Tác giả: Lăng Văn Kẻn
Nhà XB: Viện tài nguyên và môi trường biển
Năm: 2008
2. Nguyễn Mạnh Long, Nguyễn Hữu Phụng (1975), Sơ bộ điều tra nghiên cứu trứng cá – cá bột ở ven biển Quảng Ninh Hải Phòng, Viện nghiên cứu biển, Hải Phòng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sơ bộ điều tra nghiên cứu trứng cá – cá bột ở ven biển Quảng Ninh Hải Phòng
Tác giả: Nguyễn Mạnh Long, Nguyễn Hữu Phụng
Năm: 1975
3. Nguyễn Hữu Phụng (1984), Cá bột họ cá Mối, Luận án PGS sinh học biển, Viện nghiên cứu biển, Hải Phòng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cá bột họ cá Mối
Tác giả: Nguyễn Hữu Phụng
Năm: 1984
4. Nguyễn Hữu Phụng, Nguyễn Văn Long (1994), Thành phần loài, phân bố và nguồn lợi cá rạn san hô ở ven biển Việt Nam, Báo cáo đề tài “nghiên cứu đặc sản ven bờ”, Viện nghiên cứu biển, Hải Phòng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thành phần loài, phân bố và nguồn lợi cá rạn san hô ở ven biển Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Hữu Phụng, Nguyễn Văn Long
Nhà XB: Viện nghiên cứu biển
Năm: 1994
5. Nguyễn Văn Quân (2003), Đa dạng sinh học cá biển ven bờ phía bắc Việt Nam, Sách chuyên khảo “Bảo tồn đa dạng sinh học dải ven bờ Việt Nam”, NXB Đại học Quốc Gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đa dạng sinh học cá biển ven bờ phía bắc Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Văn Quân
Nhà XB: NXB Đại học Quốc Gia
Năm: 2003
6. Nguyễn Văn Quân, Nguyễn Thị Thu, Trần Mạnh Hà (2003), Nguồn giống cá rạn san hô vùng biển khu bảo tồn Hải Vân - Sơn Chà, Báo cáo đề tài “Nghiên cứu ảnh hưởng của cấu trúc nền đáy rạn san hô và các hình thức khai thác hủy diệt lên cấu trúc quần xã cá rạn san hô trong khu bảo tồn biển Hải Vân – Sơn Chà, Viện Tài nguyên và Môi trường Biển Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguồn giống cá rạn san hô vùng biển khu bảo tồn Hải Vân - Sơn Chà
Tác giả: Nguyễn Văn Quân, Nguyễn Thị Thu, Trần Mạnh Hà
Năm: 2003
7. Nguyễn Văn Quân (2004), Khu hệ cá rạn san hô vùng biển Hải Vân – Sơn Chà, Báo cáo đề tài “Điều tra bổ sung và lập luận cứ khoa học kỹ thuật thiết lập khu bảo tồn biển Hải Vân – Sơn Chà”, Viện tài nguyên và Môi trường Biển Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khu hệ cá rạn san hô vùng biển Hải Vân – Sơn Chà
Tác giả: Nguyễn Văn Quân
Nhà XB: Viện tài nguyên và Môi trường Biển
Năm: 2004
8. Nguyễn Văn Quân (2010), “Nguồn lợi cá rạn san hô vùng biển Hải Vân - Sơn Chà, Thừa Thiên Huế”, Tuyển tập Tài nguyên và Môi trường Biển, NXB KHTN& CN, tập XIV Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguồn lợi cá rạn san hô vùng biển Hải Vân - Sơn Chà, Thừa Thiên Huế”, "Tuyển tập Tài nguyên và Môi trường Biển
Tác giả: Nguyễn Văn Quân
Nhà XB: NXB KHTN & CN
Năm: 2010
9. Đặng Ngọc Thanh, Hồ Thanh Hải (2007), Cơ sở thủy sinh học, NXB KHTN & CN, Hà nội, tr. 614 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở thủy sinh học
Tác giả: Đặng Ngọc Thanh, Hồ Thanh Hải
Nhà XB: NXB KHTN & CN
Năm: 2007
10. Thủ tướng Chính Phủ (2008), Quy chế quản lý các khu bảo tồn biển Việt Nam có tầm quan trọng quốc gia và quốc tế, Ban hành kèm theo nghị định số 57/2008 NĐ-CP của chính phủ, Hả Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy chế quản lý các khu bảo tồn biển Việt Nam có tầm quan trọng quốc gia và quốc tế
Tác giả: Thủ tướng Chính Phủ
Nhà XB: Ban hành kèm theo nghị định số 57/2008 NĐ-CP của chính phủ
Năm: 2008
11. Thủ tướng Chính Phủ (2010), Quyết định về việc quy hoạch hệ thống khu bảo tồn biển Việt Nam đến năm 2020, Quyết định của chính phủ, Số 742/QĐ- TTg ngày 26/05/2010, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định của chính phủ, Số 742/QĐ- TTg ngày 26/05/2010
Tác giả: Thủ tướng Chính Phủ
Năm: 2010
12. Nguyễn Nhật Thi (1998), “Thành phần loài và phân bố cá rạn san hô ở ven bờ Hải Phòng-Quảng Ninh”, Tuyển tập Báo cáo khoa học Hội nghị Khoa học – Công nghệ biển toàn quốc lần thứ IV, NXB Thống kê, tr. 1086-1101 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thành phần loài và phân bố cá rạn san hô ở ven bờ Hải Phòng-Quảng Ninh”, "Tuyển tập Báo cáo khoa học Hội nghị Khoa học – Công nghệ biển toàn quốc lần thứ IV
Tác giả: Nguyễn Nhật Thi
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 1998
13. Nguyễn Nhật Thi, Nguyễn Văn Quân (2006), Đa dạng sinh học và giá trị nguồn lợi cá rạn san hô biển Việt Nam, Sách chuyên khảo, NXB KH & KT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đa dạng sinh học và giá trị nguồn lợi cá rạn san hô biển Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Nhật Thi, Nguyễn Văn Quân
Nhà XB: NXB KH & KT
Năm: 2006
14. Nguyễn Thị Thu (2008), “Nguồn giống cá trên thảm cỏ biển vùng biển Trung bộ”, Tuyển tập tài nguyên và môi trường biển, NXB KHTN & CN, tập XIII Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguồn giống cá trên thảm cỏ biển vùng biển Trung bộ”, "Tuyển tập tài nguyên và môi trường biển
Tác giả: Nguyễn Thị Thu
Nhà XB: NXB KHTN & CN
Năm: 2008
15. Nguyễn Thị Thu (2010), Động vật phù du vùng biển Sơn Chà – Hải Vân, Báo cáo đề tài “Khoanh vùng các bãi đẻ cá rạn san hô một số khu bảo tồn biển Việt Nam”, Viện tài nguyên và môi trường biển Sách, tạp chí
Tiêu đề: Động vật phù du vùng biển Sơn Chà – Hải Vân", Báo cáo đề tài “Khoanh vùng các bãi đẻ cá rạn san hô một số khu bảo tồn biển Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thị Thu
Năm: 2010
16. Chu Văn Thuộc (2010), Thực vật phù du vùng biển Sơn Chà – Hải Vân, Báo cáo đề tài “Khoanh vùng các bãi đẻ cá rạn san hô một số khu bảo tồn biển Việt Nam”, Viện tài nguyên và môi trường biển Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực vật phù du vùng biển Sơn Chà – Hải Vân
Tác giả: Chu Văn Thuộc
Nhà XB: Viện tài nguyên và môi trường biển
Năm: 2010
17. Đàm Đức Tiến (2004), Quần xã rong cỏ biển vùng biển Hải Vân – Sơn Chà, Báo cáo đề tài “Điều tra bổ sung và lập luận cứ khoa học kỹ thuật thiết lập khu bảo tồn biển Hải Vân – Sơn Chà”,Viện tài nguyên và Môi trường Biển Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quần xã rong cỏ biển vùng biển Hải Vân – Sơn Chà
Tác giả: Đàm Đức Tiến
Nhà XB: Viện tài nguyên và Môi trường Biển
Năm: 2004
18. Nguyễn Văn Tiến, Nguyễn Thị Thu (2000), Khảo sát điều tra bãi giống, bãi đẻ của các đối tượng cá kinh tế đầm phá Tam Giang – Cầu Hai và đề xuất các giải pháp bảo vệ, Báo cáo đề tài “ Điều tra khảo sát các bãi giống, bãi đẻ của các loài thủy sản kinh tế hệ đầm phá Thừa Thiên Huế và đề xuất các giải pháp bảo vệ”, Viện Tài nguyên và Môi trường Biển Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát điều tra bãi giống, bãi đẻ của các đối tượng cá kinh tế đầm phá Tam Giang – Cầu Hai và đề xuất các giải pháp bảo vệ
Tác giả: Nguyễn Văn Tiến, Nguyễn Thị Thu
Nhà XB: Viện Tài nguyên và Môi trường Biển
Năm: 2000
19. Cao Thị Thu Trang (2004), Đặc trưng thủy hóa, chất lượng nước vùng Sơn Chà – Hải Vân, Báo cáo đề tài “Khoanh vùng các bãi đẻ cá rạn san hô một số khu bảo tồn biển Việt Nam”, Viện tài nguyên và môi trường biển Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc trưng thủy hóa, chất lượng nước vùng Sơn Chà – Hải Vân
Tác giả: Cao Thị Thu Trang
Nhà XB: Viện tài nguyên và môi trường biển
Năm: 2004
20. Phạm Đình Trọng, Nguyễn Thị Thu, Lê Thị Thúy (1993), Nguồn giống tôm, cua, cá vùng biển Đông Nam Cát Bà, Báo cáo đề tài “Nghiên cứu cơ sở khoa học thiết lập khu bảo tồn biển Đông Nam Cát Bà”, Viện tài nguyên và Môi trường Biển Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguồn giống tôm, cua, cá vùng biển Đông Nam Cát Bà
Tác giả: Phạm Đình Trọng, Nguyễn Thị Thu, Lê Thị Thúy
Nhà XB: Viện tài nguyên và Môi trường Biển
Năm: 1993

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1 Giai đoạn sớm trong vòng đời của Naucrates ductor (Pilotfish)  (Ảnh: Northeast Pacific Ichthyoplankton Information System) - Xác định các bãi đẻ của nhóm cá rạn san hô vùng biển Sơn Chà - Hải Vân, tỉnh Thừa Thiên Huế
Hình 1.1 Giai đoạn sớm trong vòng đời của Naucrates ductor (Pilotfish) (Ảnh: Northeast Pacific Ichthyoplankton Information System) (Trang 11)
Hình 1.4. Sơ đồ địa điểm nghiên cứu (Nguồn: Google 2012) - Xác định các bãi đẻ của nhóm cá rạn san hô vùng biển Sơn Chà - Hải Vân, tỉnh Thừa Thiên Huế
Hình 1.4. Sơ đồ địa điểm nghiên cứu (Nguồn: Google 2012) (Trang 21)
Hình 2.1. Sơ đồ các mặt cắt khảo sát tại vùng biển Hải Vân – Sơn Chà. - Xác định các bãi đẻ của nhóm cá rạn san hô vùng biển Sơn Chà - Hải Vân, tỉnh Thừa Thiên Huế
Hình 2.1. Sơ đồ các mặt cắt khảo sát tại vùng biển Hải Vân – Sơn Chà (Trang 28)
Hình 2.3. Hoạt động khảo sát trên tàu - Xác định các bãi đẻ của nhóm cá rạn san hô vùng biển Sơn Chà - Hải Vân, tỉnh Thừa Thiên Huế
Hình 2.3. Hoạt động khảo sát trên tàu (Trang 31)
Hình 2.4. Phỏng vấn ngƣ dân và các cấp chính quyền - Xác định các bãi đẻ của nhóm cá rạn san hô vùng biển Sơn Chà - Hải Vân, tỉnh Thừa Thiên Huế
Hình 2.4. Phỏng vấn ngƣ dân và các cấp chính quyền (Trang 32)
Hình 3.6.  Hoạt động sinh sản ở cá chỉ vàng Selaroides leptolepis (Cuvier, 1833) - Xác định các bãi đẻ của nhóm cá rạn san hô vùng biển Sơn Chà - Hải Vân, tỉnh Thừa Thiên Huế
Hình 3.6. Hoạt động sinh sản ở cá chỉ vàng Selaroides leptolepis (Cuvier, 1833) (Trang 46)
Hình 3.4 Giai đoạn chuẩn bị  Hình 3.5 Giai đoạn đẻ trứng - Xác định các bãi đẻ của nhóm cá rạn san hô vùng biển Sơn Chà - Hải Vân, tỉnh Thừa Thiên Huế
Hình 3.4 Giai đoạn chuẩn bị Hình 3.5 Giai đoạn đẻ trứng (Trang 46)
Hình 3.9. Mật độ TCCB mùa mƣa trên mặt rộng - Xác định các bãi đẻ của nhóm cá rạn san hô vùng biển Sơn Chà - Hải Vân, tỉnh Thừa Thiên Huế
Hình 3.9. Mật độ TCCB mùa mƣa trên mặt rộng (Trang 52)
Hình 3.11. Mật độ TCCB mùa khô trên mặt rộng - Xác định các bãi đẻ của nhóm cá rạn san hô vùng biển Sơn Chà - Hải Vân, tỉnh Thừa Thiên Huế
Hình 3.11. Mật độ TCCB mùa khô trên mặt rộng (Trang 53)
Hình 3.13. Trường dòng chảy vùng ven biểnHải Vân –Sơn Chà mùa mưa [25] - Xác định các bãi đẻ của nhóm cá rạn san hô vùng biển Sơn Chà - Hải Vân, tỉnh Thừa Thiên Huế
Hình 3.13. Trường dòng chảy vùng ven biểnHải Vân –Sơn Chà mùa mưa [25] (Trang 57)
Hình 3.14. Trường dòng chảy vùng ven biểnHải Vân –Sơn Chà mùa khô [25] - Xác định các bãi đẻ của nhóm cá rạn san hô vùng biển Sơn Chà - Hải Vân, tỉnh Thừa Thiên Huế
Hình 3.14. Trường dòng chảy vùng ven biểnHải Vân –Sơn Chà mùa khô [25] (Trang 57)
Hình 3.15. Phân bố ấu trùng cá khu vực Hải Vân – Sơn Chà, mùa khô [25] - Xác định các bãi đẻ của nhóm cá rạn san hô vùng biển Sơn Chà - Hải Vân, tỉnh Thừa Thiên Huế
Hình 3.15. Phân bố ấu trùng cá khu vực Hải Vân – Sơn Chà, mùa khô [25] (Trang 58)
Hình 3.16. Phân bố ấu trùng cá khu vực Hải Vân – Sơn Chà, mùa mƣa [24] - Xác định các bãi đẻ của nhóm cá rạn san hô vùng biển Sơn Chà - Hải Vân, tỉnh Thừa Thiên Huế
Hình 3.16. Phân bố ấu trùng cá khu vực Hải Vân – Sơn Chà, mùa mƣa [24] (Trang 59)
Hình 3.19. Sơ đồ Bãi đẻ số 3 (Sủng Rong Câu) - Xác định các bãi đẻ của nhóm cá rạn san hô vùng biển Sơn Chà - Hải Vân, tỉnh Thừa Thiên Huế
Hình 3.19. Sơ đồ Bãi đẻ số 3 (Sủng Rong Câu) (Trang 62)
Hình 3.20. Sơ đồ bãi đẻ số 4 (Bãi Chuối) - Xác định các bãi đẻ của nhóm cá rạn san hô vùng biển Sơn Chà - Hải Vân, tỉnh Thừa Thiên Huế
Hình 3.20. Sơ đồ bãi đẻ số 4 (Bãi Chuối) (Trang 62)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w