1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiềm năng du lịch và đề xuất định hướng quy hoạch du lịch sinh thái ở vùng hồ Quan Sơn, huyện Mỹ Đức, Hà Nội1

135 636 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 135
Dung lượng 4,74 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những khu vực phát triển loại hình du lịch này thường là các Vườn quốc gia, Khu bảo tồn thiên nhiên hay Khu dự trữ sinh quyển - nơi mà có những hệ sinh thái còn khá nguyên vẹn, hầu như c

Trang 1

-

Ứng Thị Hồng Trang

TIỀM NĂNG DU LỊCH VÀ ĐỀ XUẤT ĐỊNH HƯỚNG QUY HOẠCH

DU LỊCH SINH THÁI Ở VÙNG HỒ QUAN SƠN,

HUYỆN MỸ ĐỨC, HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

Hà Nội – Năm 2011

Trang 2

-

Ứng Thị Hồng Trang

TIỀM NĂNG DU LỊCH VÀ ĐỀ XUẤT ĐỊNH HƯỚNG QUY HOẠCH

DU LỊCH SINH THÁI Ở VÙNG HỒ QUAN SƠN,

HUYỆN MỸ ĐỨC, HÀ NỘI

Chuyên ngành: Sinh thái học

Mã số: 60 42 60

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS TS NGUYỄN XUÂN HUẤN

Hà Nội – Năm 2011

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CÁC BẢNG, HÌNH VÀ BẢN ĐỒ

MỤC LỤC

Chương 1 - TỔNG QUAN TÀI LIỆU 9

1.1 KHÁI NIỆM VÀ NGUYÊN TẮC DU LỊCH SINH THÁI 9

1.1.1 Du lịch là gì? 9

1.1.2 Khái niệm Du lịch Sinh thái 11

1.1.3 Đặc điểm và nguyên tắc của DLST 14

1.1.3.1 Đặc điểm và nguyên tắc DLST trên thế giới 14

1.1.3.2 Đặc điểm và nguyên tắc DLST ở Việt Nam 18

1.2 NHỮNG VẤN ĐỀ VỀ QUY HOẠCH DU LỊCH SINH THÁI 23

1.2.1 Khái niệm quy hoạch và quy hoạch DLST 23

1.2.1.1 Quy hoạch là gì? 23

1.2.1.2 Khái niệm quy hoạch DLST 24

1.2.2 Đặc điểm và nguyên tắc quy hoạch DLST 25

1.2.2.1 Đặc điểm và nguyên tắc quy hoạch du lịch 25

1.2.2.2 Đặc điểm và nguyên tắc quy hoạch DLST 27

1.3 KHÁI QUÁT KHU VỰC NGHIÊN CỨU – VÙNG HỒ QUAN SƠN 31

Chương 2 - THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 35

2.1 THỜI GIAN NGHIÊN CỨU 35

2.2 ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU 35

2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 35

2.3.1 Phương pháp điều tra khảo sát thực địa và thu thập tài liệu 36

2.3.2 Phương pháp kế thừa, thống kê, phân tích và so sánh tổng hợp 36

2.3.3 Phương pháp xã hội học 36

Chương 3 - KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 38

3.1 ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN, XÃ HỘI – CÁC YẾU TỐ HÌNH THÀNH TIỀM NĂNG DU LỊCH 38 3.1.1 Đặc điểm tự nhiên 38

3.1.1.1 Địa hình 38

3.1.1.2 Khí hậu 39

Trang 4

3.1.1.3 Thủy văn 41

3.1.1.4 Thổ nhưỡng 42

3.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 43

3.1.2.1 Đặc điểm kinh tế 43

3.1.2.2 Đặc điểm xã hội 45

3.2 HIỆN TRẠNG CÁC HỆ SINH THÁI VÀ TÀI NGUYÊN SINH VẬT VÙNG HỒ QUAN SƠN - TÍNH HẤP DẪN TRONG DLST 46

3.2.1 Hiện trạng các hệ sinh thái 46

3.2.1.1 Hệ sinh thái hồ 46

3.2.1.2 Hệ sinh thái núi đá vôi 50

3.2.1.3 Hệ sinh thái nông nghiệp 51

3.2.1.4 Hệ sinh thái dân cư 53

3.2.2 Hiện trạng tài nguyên sinh vật 54

3.2.2.1 Thành phần và độ phong phú các loài thủy sản thuộc động vật không xương sống 54 3.2.2.2 Thành phần và độ phong phú các loài cá 56

3.2.2.3 Thành phần và độ phong phú các loài lưỡng cư, bò sát 62

3.2.2.4 Thành phần và độ phong phú các loài chim 67

3.2.2.5 Thành phần và độ phong phú các loài thú 73

3.2.3.6 Thành phần và độ phong phú các loài thực vật 77

3.2.2.7 Thành phần các loài sinh vật ở khu vực hồ Quan Sơn nằm trong Sách Đỏ Việt Nam (2007) 78

3.3 ĐỊNH HƯỚNG QUY HOẠCH DLST 79

3.3.1 Đánh giá các nhân tố sinh thái tự nhiên của vùng hồ Quan Sơn và tác động của nó tới DLST 79

3.3.1.1 Vị thế địa lý đối với du lịch 79

3.2.2.2 Tài nguyên du lịch tự nhiên 80

3.2.2.3 Đánh giá tổng hợp các loại tài nguyên tự nhiên 81

3.3.2 Đánh giá các nhân tố sinh thái nhân văn của vùng hồ Quan Sơn và tác động của nó tới DLST 82

3.3.3 Đánh giá các hoạt động xã hội của con người và tác động của nó tới DLST 84

3.3.4 Định hướng quy hoạch DLST vùng hồ Quan Sơn 85

3.3.4.1 Những yêu cầu về quy hoạch DLST ở vùng hồ Quan Sơn 86

3.3.4.2 Định hướng quy hoạch DLST 88

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 97

Trang 5

TÀI LIỆU THAM KHẢO 99 PHỤ LỤC 103

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.1 Độ phong phú các loài thủy sản thuộc động vật không xương

sống ở khu vực hồ Quan Sơn

48

Bảng 3.2 Thống kê số lượng họ, loài và tỷ lệ phần trăm theo số loài cá

xác định được tại khu vực hồ Quan Sơn

51

Bảng 3.7 Thống kê số lượng họ, loài trong các bộ thú và tỷ lệ phần trăm

Trang 7

Hình 3.11 Số loài trong Sách Đỏ và tổng số loài theo từng nhóm 72

Hình 3.13 Sơ đồ các điểm, tuyến du lịch khu vực hồ Quan Sơn, huyện Mỹ

Trang 8

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 9

MỞ ĐẦU

Du lịch là một hoạt động đã gắn bó với con người từ rất lâu Trải qua nhiều giai đoạn phát triển của xã hội loài người, hoạt động du lịch cũng có những chuyển biến đáng kể Trong xã hội nguyên thủy, du lịch chỉ đơn thuần là đến thăm giữa các

bộ lạc, các đại gia đình Ngày nay, du lịch không chỉ là thăm quan mà nó còn là nghỉ dưỡng, học hỏi, tìm tòi và khám phá Du lịch sinh thái là một loại hình du lịch mới chỉ được hình thành cách đây hơn 30 năm nhưng lại hấp dẫn một lượng lớn khách du lịch tham gia, đặc biệt là người dân các nước phát triển Lý do khiến du lịch sinh thái thu hút được sự quan tâm của đông đảo khách du lịch là do đây là loại hình du lịch gắn với thiên nhiên, cải tạo môi trường và nâng cao nhận thức của du khách cũng như người dân địa phương Những khu vực phát triển loại hình du lịch này thường là các Vườn quốc gia, Khu bảo tồn thiên nhiên hay Khu dự trữ sinh quyển - nơi mà có những hệ sinh thái còn khá nguyên vẹn, hầu như chưa bị tác động tiêu cực của con người làm ảnh hưởng Tuy nhiên, không phải du lịch sinh thái chỉ

có thể thực hiện được tại những nơi này mà du lịch sinh thái hoàn toàn có thể diễn

ra tại những vùng đất xa xôi, hẻo lánh, ít người qua lại Tại đây, cảnh quan thiên nhiên, các hệ sinh thái và các loài sinh vật mang tính tự nhiên cao, độ đa dạng lớn

và tính nguyên vẹn vẫn được giữ gìn

Việt Nam là một trong những quốc gia có sự đa dạng sinh học cao, với điều kiện thiên nhiên ưu đãi nên nhiều khu vực có thể phát triển được loại hình du lịch sinh thái Thực tế cũng chứng minh, hiện nay Việt Nam có rất nhiều những điểm đến du lịch sinh thái hấp dẫn du khách trong nước và quốc tế Những khu du lịch này, một phần giúp cho du khách được nghỉ ngơi, thư giãn, nâng cao nhận thức về môi trường tự nhiên và hệ sinh thái; mặt khác góp phần cải tạo các điều kiện phúc lợi cho cư dân địa phương, giúp họ cải thiện chất lượng cuộc sống, giảm bớt sự phụ thuộc vào tài nguyên thiên nhiên của khu vực Bên cạnh đó, việc phát triển loại hình

du lịch sinh thái giúp cho việc bảo tồn các loài động thực vật tốt hơn, giảm thiểu tác động tiêu cực của hoạt động du lịch đến cảnh quan môi trường

Trang 10

Chính vì lẽ đó, việc đề xuất thành lập các khu du lịch sinh thái tại những khu vực có tiềm năng là một việc làm rất cần thiết Xuất phát từ thực tế này, tôi đã tiến

hành nghiên cứu đề tài “Tiềm năng du lịch và đề xuất định hướng quy hoạch du

lịch sinh thái ở vùng hồ Quan Sơn, huyện Mỹ Đức, Hà Nội” với hy vọng có thể

góp phần hình thành thêm một khu du lịch sinh thái nữa tại Việt Nam

Mục tiêu của đề tài là tiến hành điều tra, khảo sát về tiềm năng du lịch cũng như là du lịch sinh thái của khu vực hồ Quan Sơn, huyện Mỹ Đức, Hà Nội Trên cơ

sở đó, đề xuất định hướng quy hoạch du lịch sinh thái cho vùng hồ với những nội dụng cụ thể, thực tế Nội dung luận văn chủ yếu tập trung vào các nội dung sau:

1 Tìm hiểu những đặc điểm tự nhiên và xã hội của các xã của khu vực hồ Quan Sơn, huyện Mỹ Đức, Hà Nội

2 Đánh giá hiện trạng các hệ sinh thái cơ bản và tài nguyên sinh vật vùng hồ Quan Sơn

3 Đánh giá các nhân tố sinh thái tự nhiên, các nhân tố sinh thái nhân văn, hoạt động của con người và tác động của chúng tới du lịch sinh thái

4 Định hướng quy hoạch phát triển du lịch sinh thái cho vùng hồ Quan Sơn Tôi hi vọng, những kết quả nghiên cứu của tôi trong đề tài sẽ đóng góp tích cực trong việc giúp xây dựng thêm cho Việt Nam nói chung và thủ đô Hà Nội nói riêng một khu du lịch sinh thái hấp dẫn khách du lịch

Trang 11

Chương 1 - TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 KHÁI NIỆM VÀ NGUYÊN TẮC DU LỊCH SINH THÁI

1.1.1 Du lịch là gì?

Hiện nay du lịch được coi là ngành công nghiệp không khói, ít gây ô nhiễm môi trường, giúp khách du lịch vừa được nghỉ ngơi, thư giãn vừa biết thêm nhiều điều mới lạ về các vùng đất trong và ngoài nước Du lịch còn góp phần phát triển kinh tế của đất nước, tạo việc làm và tăng thu nhập cho người dân Chính vì lẽ đó

mà hiện nay du lịch đang được phát triển một cách mạnh mẽ, trở thành một ngành kinh tế quan trọng ở nhiều nước trên thế giới Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có một định nghĩa hoàn chỉnh, thống nhất nào về du lịch được công nhận rộng rãi trên các lĩnh vực khoa học và đời sống Do hoàn cảnh (thời gian, khu vực) khác nhau, dưới góc độ nghiên cứu khác nhau, mỗi người có một cách hiểu và định nghĩa về du lịch khác nhau Đúng như một chuyên gia du lịch nhận định: “Đối với du lịch có bao nhiêu tác giả nghiên cứu thì có bấy nhiêu định nghĩa” [25]

Trong tiếng Anh, du lịch xuất phát từ tiếng “To Tour” có nghĩa là cuộc dạo chơi (Tour round the world - cuộc dạo chơi vòng quanh thế giới; tour round the town - cuộc dạo chơi quanh thành phố) Tiếng Pháp, từ du lịch bắt nguồn từ “Le Tour” có nghĩa là cuộc dạo chơi, dã ngoại [15,22] Theo nhà sử học Trần Quốc Vượng, du lịch được hiểu như sau: “Du” có nghĩa là đi chơi, “Lịch” là lịch lãm, từng trải, hiểu biết; như vậy “du lịch” được hiểu là việc đi chơi nhằm tăng thêm kiến thức [15]

Năm 1963, với mục đích quốc tế hoá, tại Hội nghị Liên Hợp Quốc về du lịch họp ở Roma, các chuyên gia đã đưa ra định nghĩa về du lịch như sau: Du lịch là tổng hợp các mối quan hệ, hiện tượng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú của cá nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi ở thường xuyên của họ hay ngoài lãnh thổ đất nước nơi họ sinh sống với mục đích hoà bình Nơi họ đến lưu trú không phải là nơi làm việc của họ [28]

Theo Tổ chức Du lịch Thế giới, du lịch bao gồm tất cả mọi hoạt động của những người du hành nhằm thỏa mãn nhiều mục đích khác nhau (loại trừ các du hành mà có mục đích chính là kiếm tiền) trong thời gian liên tục nhưng không quá

Trang 12

một năm, ở bên ngoài môi trường sống định cư của họ Các mục đích du lịch gồm mục đích thăm quan, khám phá, tìm hiểu, trải nghiệm, nghỉ ngơi, giải trí, thư giãn nói một cách khác, du lịch cũng là một dạng nghỉ ngơi năng động trong môi trường sống khác hẳn nơi định cư [36]

Như vậy, có khá nhiều khái niệm Du lịch nhưng tổng hợp lại ta thấy du lịch hàm chứa các yếu tố cơ bản sau:

 Du lịch là một hiện tượng kinh tế xã hội

 Du lịch là sự di chuyển và tạm thời lưu trú ngoài nơi ở thường xuyên của các cá nhân hoặc tập thể nhằm thoả mãn các nhu cầu đa dạng của họ

 Du lịch là tập hợp các hoạt động kinh doanh phong phú và đa dạng nhằm phục vụ cho các cuộc hành trình, lưu trú tạm thời và các nhu cầu khác của cá nhân hoặc tập thể khi họ ở ngoài nơi cư trú thường xuyên của họ

 Các cuộc hành trình, lưu trú tạm thời của cá nhân hoặc tập thể đó đều đồng thời có một số mục đích nhất định, trong đó có mục đích hoà bình [27]

Khác với quan điểm trên, các học giả biên soạn Từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam (1966) [15] đã tách hai nội dung cơ bản của du lịch thành hai phần riêng

biệt Nghĩa thứ nhất (đứng trên góc độ mục đích của chuyến đi): Du lịch là một

dạng nghỉ dưỡng, thăm quan tích cực của con người ngoài nơi cư trú với mục đích: nghỉ ngơi, giải trí, xem danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử, công trình văn hoá, nghệ thuật… Nghĩa thứ hai (đứng trên góc độ kinh tế): Du lịch là một ngành kinh doanh tổng hợp có hiệu quả cao về nhiều mặt: nâng cao hiểu biết về thiên nhiên, truyền thống lịch sử và văn hoá dân tộc, từ đó góp phần tăng thêm tình yêu đất nước; đối với người nước ngoài là tình hữu nghị với dân tộc mình; về mặt kinh tế,

du lịch là lĩnh vực kinh doanh mang lại hiệu quả rất lớn: có thể coi là hình thức xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ tại chỗ

Nhận thức rõ được vai trò quan trọng và to lớn của ngành du lịch, trong Pháp lệnh du lịch do Chủ tịch nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam công bố ngày 20/02/1999: Du lịch là hoạt động của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm thoả mãn nhu cầu thăm quan, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định [10] Pháp lệnh gồm 9 chương, 56 điều, có hiệu lực từ ngày 1

Trang 13

tháng 5 năm 1999 trong đó quy định rõ: tham gia phát triển du lịch không còn chỉ là trách nhiệm của riêng ngành du lịch mà là trách nhiệm của “Cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức chính trị-xã hội, tổ chức xã hội-nghề nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân và mọi cá nhân ” (Điều 9, chương I) Do đó, vấn đề nghiên cứu, phát triển du lịch cũng là trách nhiệm của cả những nhà khoa học, nhà quản lý

1.1.2 Khái niệm Du lịch Sinh thái

Du lịch Sinh thái (Eco-tour, Ecotourism) là một loại hình du lịch mới mẻ và

có nhiều tranh cãi hiện nay Mới được hình thành cách đây khoảng ba mươi năm nhưng du lịch sinh thái (DLST) lại nhận được rất nhiều sự quan tâm không chỉ của những nhà du lịch mà cả những nhà quản lý, nhà khoa học, những người nghiên cứu

xã hội và các tổ chức phi chính phủ Khi mà các hoạt động du lịch truyền thống đã không còn trở nên hấp dẫn với đại đa số người dân trên thế giới thì DLST lại nổi lên như một hiện tượng cuốn hút rất nhiều người cùng tham gia, cùng trải nghiệm [24,27,30] Vậy DLST là gì mà lại có sức hấp dẫn với du khách và tại sao rất nhiều người lại quan tâm tới vấn đề này như vậy?

Trong đầu những năm 1980, khái niệm DLST lần đầu tiên được sử dụng bởi những nhà bảo vệ môi trường Cụ thể là Hector Ceballos-Lascurain đã dùng thuật ngữ DLST khi vận động các nhà chức trách và các nhà đầu tư để bảo vệ vùng đất ngập nước Bắc Yucatan (Mexico) làm nơi sinh sản cho chim hồng lạc Để thuyết phục các nhà đầu tư không xây dựng bến thuyền, ông lập luận rằng các hoạt động

du lịch tại vùng đất này (như xem chim) sẽ thúc đẩy nền kinh tế của cộng đồng nông thôn và đồng thời cũng giúp bảo tồn hệ sinh thái của khu vực Từ đó, DLST trở thành một thuật ngữ có nghĩa là để giữ lại những giá trị tự nhiên, trong đó sự bảo tồn vẫn có thể đạt được mà không phải hy sinh sự tăng trưởng kinh tế [37]

DLST là du lịch dựa vào thiên nhiên và được kết nối bởi những vùng đất tự nhiên khác nhau Nó không phải là du lịch ma ̣o hiểm, du lịch khám phá hay du lịch văn hóa – nơi mà du khách tham gia các ho ạt động mạo hiểm, khám phá các vùng đất mới hay các nét văn hóa của khu vực [28,29,37] DLST cũng không phải đơn thuần là thăm quan, bởi vì thăm quan không yêu cầu du khách phải có trách nhiệm

Trang 14

cao với môi trường, học hỏi môi trường hoặc kết nối v ới các vùng đất thiên nhiên Những kinh nghi ệm thực tế như có thể ngửi thấy mùi hương của các loài hoa , mùi của thực vật bi ̣ mu ̣c nát , có thể nghe tiếng hót của nh ững loài chim, được tận mắt nhìn thấy những đàn cá bơi trong khe suối trong một khu rừng là những nét đ ặc trưng của DLST [37]

Một điều thú vị là DLST rất dễ bị nhầm với du lịch bền vững, du lịch dựa vào thiên nhiên, du lịch trách nhiệm và du lịch xanh Có thể tóm tắt để phân biệt các loại hình du lịch này như sau [35]:

- DLST là du lịch chịu trách nhiệm với các khu vực tự nhiên, bảo tồn môi trường và cải thiện phúc lợi của người dân địa phương Một chuyến đi bộ qua khu rừng nhiệt đới không phải là DLST trừ khi mỗi bước đi cụ thể của du khách bằng cách nào đó mang lại lợi ích cho môi trường và những người dân sống xung quanh khu vực đó Một chuyến du lịch bằng bè trên sông chỉ là DLST nếu nó làm tăng nhận thức của du khách và tạo ra kinh phí để giúp bảo vệ lưu vực sông hoặc rừng đầu nguồn

- Du lịch bền vững: Bất kỳ loại hình du lịch nào mà không làm giảm sự sẵn

có của những nguồn tài nguyên thiên nhiên và không hạn chế các du khách được hưởng những kinh nghiệm tương tự trong tương lai được gọi là du lịch bền vững Nếu sự hiện diện của một số lượng lớn khách du lịch làm ảnh hưởng đến sự sinh sản của động vật, thực vật tại khu vực thăm quan (ví dụ như làm rối loạn sự giao phối của động vật, làm giảm số lượng hoa của thực vật), do đó sẽ có ít hơn các loài trong tương lai thì chuyến thăm đó là không bền vững Những chuyến dạo chơi bằng Kayak trôi tự do trên sông trong các khu rừng Amazon là một ví dụ về du lịch bền vững Trò bắn súng và săn bắn tại các vùng sa mạc như vùng Alaska (Mỹ) thì không phải là du lịch bền vững [5]

- Du lịch trách nhiệm: là loạt hình du lịch giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường và hệ sinh thái Một chuyến đi cắm trại nơi hoang dã mà “không để lại dấu vết” sẽ được coi là du lịch trách nhiệm; trong khi đó, các tour du lịch dùng xe ngựa kéo trong rừng hay khám phá cồn cát sa mạc thường không phải là du lịch trách nhiệm [28]

Trang 15

- Du lịch dựa vào thiên nhiên: Một thuật ngữ chung cho bất kỳ hoạt động hay kinh nghiệm đi du lịch nào mà tập trung vào thiên nhiên Ví dụ như hoạt động đi bộ trong rừng hoặc sử dụng tàu du lịch để xem chim cánh cụt ở Nam Cực cũng được gọi

là du lịch dựa vào thiên nhiên Những chuyến đi du lịch dựa vào thiên nhiên như trên

có thể hoặc không thể là du lịch bền vững hoặc du lịch trách nhiệm [24]

- Du lịch xanh: thường được sử dụng thay thế hoặc hoán đổi với DLST và

du lịch bền vững nhưng chính xác hơn thì du lịch xanh được mô tả là “bất kỳ hoạt động hoặc cơ sở hoạt động theo cách thân thiện với môi trường” Một nhà nghỉ được gọi là “xanh” khi sản phẩm của nhà nghỉ như chất thải trong nhà vệ sinh được dùng làm phân bón, hệ thống nước được xử lý tốt và tận dụng tối đa, ánh sáng được

Cũng theo Tổ chức Bảo tồn thiên nhiên Quốc tế IUCN (International Union for Conservation of Nature), DLST là “du lịch có trách nhiệm với môi trường và tới những khu vực tự nhiên tương đối không bị xáo trộn, để thưởng thức và đánh giá về thiên nhiên (bao gồm cả những đặc điểm văn hóa đi kèm – trong quá khứ cũng như hiện tại)” [29,37]

Ủy ban Úc về Chiến lược Du lịch Sinh thái Quốc gia (Australian Commission on National Ecotourism Strategy) gọi DLST là: “du lịch dựa vào thiên nhiên bao gồm sự giáo dục diễn giải về môi trường tự nhiên và được quản lý để có được hệ sinh thái bền vững” [26]

Kể từ khi xuất bản cuốn sách “Du lịch sinh thái và phát triển bền vững” lần đầu tiên năm 1999, định nghĩa của Honey Martha nhanh chóng trở thành định nghĩa chuẩn về DLST và được sử dụng trong hầu hết các nghiên cứu quan trọng về DLST

Trang 16

ở nhiều nước phát triển cũng như một số chương trình đại học hiện nay Theo

Martha, “DLST là du li ̣ch có trách nhiê ̣m đối với những vùng đất h oang sơ, nguyên

thủy, dễ bi ̣ tác động và thường xuyên cần được bảo vê ̣ ; cố gắng để làm giảm tác động và thường là chiếm tỷ lệ nhỏ (như một sự lựa chọn giữa tác động đến môi trường và số lượng khách du lịch ) Để đạt được điều này thông qua hoạt động giáo dục khách du lịch ; cung cấp, chuẩn bi ̣ một cơ sở cho sự bảo tồn sinh thái ; đem lại quyền lợi trực tiếp phát triển kinh tế và quyền lợi chính tri ̣ cho người dân địa

phương cũng như tăng cường thêm lòng yêu mến , quý trọng các quyền lợi của con người và các phong tục khác nhau” [28]

Tại Việt Nam, do phần lớn các vùng đất ít bị xáo trộn, còn khá hoang sơ và nguyên vẹn nằm gần các vùng có đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống nên DLST và

du lịch văn hóa có thể hết hợp cùng với nhau trong một tour du lịch Điều này góp phần làm tăng số lượng khách du lịch cũng như làm tăng thêm tính đa dạng cho những trải nghiệm thực tế của du khách [11,18] Tuy nhiên, các nhà quản lý cũng như du khách nên phân biệt rõ hai hình thức du lịch này để tránh gây nhầm lẫn Từ

thực tế này, định nghĩa DLST ở Việt Nam như sau: “DLST là du lịch dựa vào thiên

nhiên, giúp tăng cường vốn hiểu biết về thiên nhiên cho khách du lịch thông qua sự giáo dục và các chương trình diễn giải; người dân địa phương trực tiếp hay gián tiếp góp phần vào những nỗ lực bảo tồn, phát triển bền vững cũng như những hoạt động liên quan tại địa phương đó ”[19]

1.1.3 Đặc điểm và nguyên tắc của DLST

1.1.3.1 Đặc điểm và nguyên tắc DLST trên thế giới

Tùy thuộc vào mục đích và đối tượng khi đưa ra định nghĩa mà những định nghĩa về DLST có những đặc điểm khác nhau Tuy nhiên, dù được định nghĩa trong những giai đoạn khác nhau và với mục đích khác nhau như thế nào đi nữa thì DLST vẫn có ba đặc điểm cơ bản là: các dịch vụ diễn giải tốt, đảm bảo tính nhạy cảm với môi trường và có sự liên kết với địa phương Đây cũng là những đặc điểm chính để phân biệt DLST với các hình thức du lịch tương tự là du lịch bền vững, du lịch trách nhiệm, du lịch xanh và du lịch dựa vào thiên nhiên [37]

Trang 17

Như đã đề cập ở trên, định nghĩa DLST của Honey Martha là định nghĩa được sử dụng phổ biến nhất hiện nay Trong khuôn khổ luận văn, tôi sẽ đi sâu phân tích và bàn luận về nguyên tắc cũng như đặc điểm của DLST theo quan điểm của Martha

Theo Martha, DLST là loại hình du lịch được xác định bằng 7 đặc điểm và nguyên tắc sau đây [28,29]

1) Du lịch liên quan đến các điểm đến thiên nhiên: Những điểm đến của

DLST thường là những nơi xa xôi , cho dù có người ở hoặc không có người ở , và thường chi ̣u sự bảo vệ môi t rường ở cấp quốc gia , quốc tế, cô ̣ng đồng hay tư nhân Những vùng đất này thường xa các khu đô thị, khu đông đúc dân cư Nếu có người sống ở các khu vực này thì thường là một nhóm nhỏ người, đã sinh sống tại khu vực trong một thời gian dài, lịch sử phát triển của nhóm người gắn liền với lịch sử của khu vực Tại những vùng đất không có dân cư sinh sống, ít chịu sự tác động của con người, cảnh vật còn giữ được nét hoang sơ, tự nhiên, có nhiều loài động vật, thực vật đặc hữu, có sự đa dạng lớn về sinh học Những điểm đến thiên nhiên này thường

là Vườn quốc gia, Khu bảo tồn thiên nhiên, Khu dự trữ sinh quyển…

2) Giảm thiểu tác động: Các hoạt động du lịch nói chung gây ra tác động

đến môi trường và dân cư DLST cố gắng giảm thiểu những ảnh hưởng bất lợi của khách sạn, đường giao thông và những cơ sở hạ tầng khác trong và xung quanh khu

du lịch bằng cách sử dụng vật liệu tái chế hoặc các vật liệu xây dựng sẵn có của địa phương; sử dụng năng lượng tái chế và xử lý an toàn chất thải , rác thải; thiết kế các công trình phù hợp với môi trường và văn hóa của khu vực du lịch Hạn chế tối đa tác động cũng đòi hỏi số lươ ̣ng, phương thức và hành vi của khách du lịch được quy định để đảm bảo hạn chế các nguy cơ cho hệ sinh thái

3) Xây dựng nhận thức về môi trường: DLST có nghĩa là giáo dục cho cả

du khách và cư dân của những cộng đồng gần đó Trước khi khởi hành mỗi chuyến DLST, công ty lữ hành cần cung cấp cho khách du lịch những tài liệu về đất nước (đối với khách du lịch quốc tế), môi trường và người dân địa phương, cũng như những quy đi ̣nh, quy tắc về cách cư xử cho khách du lịch Những thông tin này giúp cho viê ̣c chuẩn bị hành trang du lịch của du khách được tốt hơn

Trang 18

Như trong sách “Hướng dẫn du lịch sinh thái xã hội” đã viết “để tìm hiểu về cảnh vật và con người nơi đến” và “giảm thiểu tác động tiêu cực trong khi thăm quan các hệ sinh thái và những nền văn hóa nhạy cảm” đòi hỏi khách du lịch phải

có vốn kiến thức cơ bản về môi trường thăm quan, được tập huấn kỹ lưỡng về các vấn đề hệ sinh thái, bảo tồn và giảm thiểu tác động tối đa tới môi trường Yếu tố cần thiết để có được mô ̣t nền DLST tốt là : sự tâ ̣p huấn tốt ; hướng dẫn viên thiên nhiên nói được nhiều ngôn ngữ với các kỹ năng về lịch sử tự nhiên và lịch sử văn hóa ; diễn giải môi trường đầy đủ; có nguyên tắc đạo đức và sự truyền thông có hiệu quả

Những dự án xây dựng và phát triển các khu DLST cũng nên giúp giáo dục các thành viên của cộng đồng xung quanh khu du lịch , học sinh và cô ̣n g đồng dân

cư, đặc biệt là các nhóm dân cư sống gần vùng DLST

4) Cung cấp lợi ích tài chính trực tiếp cho vấn đề ba ̉ o tồn : DLST giúp tăng

cường viê ̣c bảo vệ , nghiên cứu và giáo dục môi trường thông qua nhiều cơ chế Nguồn tài chính trực tiếp phục vụ cho những hoạt động này đến từ các loại thuế: tiền vé vào cửa khu du lịch , các dịch vụ của công ty du lịch , khách sạn, hãng hàng không và sân bay cũng như các khoản đóng góp tự nguyện của du khách Nguồn thu này sẽ được trích lại một phần để phục vụ các vấn đề bảo tồn tại chỗ của khu vực du lịch cũng như các dự án nghiên cứu bảo tồn tại địa phương

5) Cung cấp các lợi ích tài chính và quyền lơ ̣i cho người dân địa phương :

Vườn quốc gia, Khu dự trữ sinh quyển và Khu bảo tồn thiên nhiên sẽ chỉ tồn tại nếu

có “những người hạnh phúc” sống xung quanh Cộng đồng địa phương phải được quan tâm, được tham gia vào các hoạt động của DLST cũng như nhận thu nhập , lơ ̣i tức và những lợi ích hữu hình khác (nước sạch, đường giao thông , trạm y tế… ) từ các khu vực bảo tồn và các cơ sở du lịch Những điểm cắm trại , nhà nghỉ, dịch vụ hướng dẫn, nhà hàng và các quyền lơ ̣i thích đáng khác là những điều mà không chỉ khách du lịch mà ngay cả những người dân bản địa cũng phải được hưởng Họ tham gia góp phần vào những dịch vụ của khu du lịch và của địa phương, nhận lợi ích kinh tế từ việc làm của họ và những chế độ đãi ngộ khác

Quan trọng hơn , DLST được xem như là một công cụ để phát triển nông thôn, nó giúp sự chuyển di ̣ch quản lý kinh tế và chính trị ta ̣i cô ̣ng đồng địa phương

Trang 19

Đây là nguyên tắc khó khăn nhất và tốn thời gian nhất trong sự cân bằng kinh tế quốc gia và phát triển DLST

6) Tôn trọng văn hóa địa phương: DLST không chỉ “xanh hơn” mà còn ít sự xâm nhập văn hóa và ít bóc lột hơn so với du lịch truyền thống Trong khi những vấn đề tệ nạn xã hội như cờ bạc, mại dâm, săn bắn động vật quý hiếm… thường là sản phẩm phát sinh từ nhu cầu của khách du lịch trong các loại hình du lịch thông thường thì DLST vẫn cố gắng để có được sự tôn trọng văn hóa và có tác động thấp nhất đến môi trường tự n hiên và cuô ̣c sống của cư dân sở ta ̣i Điều này không phải

là dễ dàng , đặc biệt từ khi DLST thường bao gồm việc đi du lịch đến các vùng xa xôi - nơi mà có rất ít dân cư sinh sống và cũng khá đô ̣c lâ ̣p nhau , những người dân ở đây có rất ít kinh nghiệm khi giao tiếp với những người ngoài

Cũng giống như du lịch truyền thống , DLST liên quan đến một mối quan hệ bất bình đẳng về quyền lợi giữa các khách du li ̣ch với cư dân bản địa và sự thương mại hóa của mối quan hệ thông qua hoạt động m ua bán và trao đổi tiền tệ Một phần của DLST có trách nhiệm là cần được tập huấn trước về phong tục địa phương , tôn trọng những quy tắc ăn mặc và các chuẩn mực xã hội khác và không xâm nhập vào cộng đồng sở tại trừ khi đươ ̣c mời hoặc như là một phần của tour du lịch

7) Hỗ trợ nhân quyền và sự tiến bô ̣ dân chủ : Mặc dù du lịch thường đươ ̣c

xem như là một công cụ để ta ̣o nên sự hiểu biết quốc tế và hòa bình thế giới , nhưng

nó không xảy ra một cách tự động Khách du lịch quan tâm rất ít đến hệ thố ng chính trị của nước sở tại hoặc những xung đô ̣t bên trong đất nước , khu vực du lịch Trừ khi tình trạng bất ổn trong dân sự tràn vào tấn công du khách, các đơn vị lữ hành cũng như chính phủ các nước sẽ có hành động cụ thể để bảo vệ quyền lợi của du khách hay cư dân đất nước họ

DLST đòi hỏi một phương pháp tiếp cận toàn diện hơn trong du lịch Trong

đó, những người tham gia cố gắng tôn trọng , tìm hiểu về môi trường địa phương và

có những kết nối với cộng đồng địa phương Ở nhiều nước phát triển , những người dân nông thôn sống xung quanh vườn quốc gia và những khu DLST hấp dẫn du khách thường tranh chấp với chính quyền quốc gia và các tập đoàn đa quốc gia về quyền kiểm soát tài sản và lơ ̣i ích tại khu vực này DLST do đó cần phải nhạy cảm

Trang 20

với môi trường chính trị của nước sở ta ̣i , hoàn cảnh xã hội và cần phải xem xét giá trị của những sự trừng pha ̣t quốc tế - được đưa ra bởi những người hỗ trợ cải cách dân chủ, theo nguyên tắc đa số và nhân quyền

Ví dụ như chiến dịch của Đại hội quốc gia châu Phi (ANC) để cô lập Nam Phi thông qua một cuộc tẩy chay về đầu tư , thương mại, thể thao và du lịch đã giúp giảm chủ nghĩa phân biệt chủng tộc tại quốc gia này Có điều, xác định trừng pha ̣t một quốc gia không phải lúc nào cũng dễ dàng, nó cần phải được xem xét cẩn thận

và dựa trên nhiều yếu tố Một số các câu hỏi được đưa ra theo quan điểm này là : du lịch thúc đẩy tăng trưởng kinh tế liệu có thực sự cải thiện các quan điểm về nhân quyền? Có phải sự trừng phạt một quốc gia sẽ làm tổn hại đến những người nhân nghèo khổ nhiều hơn đến các công ty lữ hành hoặc chính phủ ?

Rõ ràng đây là một yêu cầu khó khăn để hoàn thiê ̣n cho bất cứ tuyên bố , đòi hỏi, yêu sách nào về DLST và có một mối nghi ngờ rất lớn rằng : liệu có tồn tại một

dự án hoặc nhà điều hành du lịch bất kỳ nào có thể đáp ứng được tất cả các tiêu chí này? Tuy nhiên, từ khi nhìn vào việc có hay không mô ̣t nền “du lịch sinh thái” đúng đắn thỏa mãn cả 7 đặc điểm trên , người ta nhận thấy sẽ không mang la ̣i hiệu quả cao hơn cho hoạt động DLST , thậm chí còn có thể tạo ra một số khó khăn bất lợi hơn khi làm việc Hầu hết các hoạt động đó có thể được gọi là DLST , tuy không hoàn toàn là DLST nhưng vẫn đang tiếp tục phát triển để có thể đáp ứng đẩy đủ các tiêu chí trên

1.1.3.2 Đặc điểm và nguyên tắc DLST ở Việt Nam

Theo Dowling (1998) [35], DLST là loại hình du lịch phát triển nhanh nhất trong tất cả các loại hình du lịch Trung bình hàng năm, DLST thế giới phát triển từ 10-30% Theo Rakthammachat (1993) và Elliot (1997) [37], Việt Nam có tiềm năng rất lớn để trở thành một trong số những điểm đến lý tưởng nhất của DLST ở Đông Nam Á Điều quan trọng nhất của Việt Nam đó là có một nguồn tài nguyên thiên nhiên hầu như chưa bị xáo trộn, chưa chịu sự tác động của con người, còn khá hoang sơ và tự nhiên Việt Nam có sự đa dạng sinh học cao, với nhiều Khu bảo tồn thiên nhiên, Vườn quốc gia, Khu dự trữ sinh quyển… Tuy nhiên cho đến nay, Việt Nam vẫn là quốc gia phát triển loại hình DLST khá chậm so với các quốc gia khác trong khu vực Đông Nam Á Do đó, cần có sự cố gắng, nỗ lực không chỉ của chính

Trang 21

phủ, các cơ quan liên quan mà cần sự quan tâm, chung tay phát triển của cả xã hội, đặc biệt là những người dân sống gần các địa điểm du lịch [11]

DLST góp phần giúp chính phủ Việt Nam thực hiện được mục tiêu lớn của đất nước là xóa đói giảm nghèo, phát triển bền vững Phần lớn những vùng đất còn khá tự nhiên của Việt Nam, chưa bị con người tác động, có khả năng phát triển DLST nằm tại những khu vực dân cư rất nghèo Do vậy, việc phát triển DLST tại những khu vực này không chỉ mang lại việc làm cho người dân mà còn giúp cho việc di dân đến các vùng kinh tế mới, giảm bớt áp lực dân số tại khu vực thành thị [35] Theo nghiên cứu của Phan Nguyên Hồng [35], hiện nay Việt Nam có 11 loại hình DLST được trình bày trong Bảng 1.1

Bảng 1.1 Các loại hình DLST cở bản ở Việt Nam [35]

TT Loại hình DLST Khách du lịch

trong nước

Khách du lịch nước ngoài

Trang 22

Theo Nguyễn Văn Đệ (2002) [11], có sự gia tăng gấp 7,1 lần khách du lịch quốc tế (từ 300.000 trong năm 1991 lên 2,14 triệu vào năm 2000) và khách du lịch trong nước tăng 7,5 lần (từ 1,5 triệu đến 11,3 triệu lượt) Đây là một tỷ lệ tăng cao

so với các nước khác trong khu vực, đưa du lịch quốc tế tại Việt Nam lên một tầm cao gần bằng với Philippines và bằng khoảng 1/4 của Malaysia, Singapore, và Thái Lan Trong số những du khách, những người được gọi là khách du lịch sinh thái/du khách sinh thái (ecotourists) chiếm hơn 30% khách quốc tế và gần 50% khách du lịch trong nước Hầu hết các khách DLST là những người trẻ, thích du lịch mạo hiểm và các nhà nghiên cứu với điểm đến yêu thích của họ là Vườn quốc gia, Khu bảo tồn thiên nhiên và Khu dự trữ sinh quyển [11]

Vì DLST quan trọng đối với giáo dục môi trường, duy trì văn hóa bản địa, và phát triển kinh tế địa phương nên nó đòi hỏi sự khuyến khích và đầu tư phát triển của chính phủ Tuy nhiên, DLST cũng cần đầu tư nguồn nhân lực (đặc biệt là hướng dẫn viên du lịch), sự quản lý, những nghiên cứu cơ bản và lập kế hoạch tập trung vào môi trường tự nhiên của vị trí DLST được đề xuất Các nhà đầu tư trong và ngoài nước ưa thích tập trung vào cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch như khách sạn, nhà hàng và các dịch vụ giải trí Vốn đầu tư chủ yếu của những khu DLST như Vườn quốc gia, Khu bảo tồn thiên nhiên có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước thông qua

Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn và từ các tổ chức quốc tế như WWF, chính phủ các nước Hà Lan, Hồng Kông, Singapore [35]

Sự quản lý và tổ chức rời rạc, kém hiệu quả của Việt Nam ở các khu DLST

đã hạn chế sự phát triển của khu vực này Trong các Khu bảo tồn thiên nhiên, Vườn quốc gia, có sự phối hợp giữa Ban quản lý và Tổng công ty du lịch trong việc đầu tư

cơ sở hạ tầng và hưởng một phần lợi nhuận thu được từ lệ phí thăm quan và các dịch vụ đi kèm khác Nhưng thường có quá nhiều các bộ phận pháp lý chồng chéo cùng chịu trách nhiệm một khu vực Ví dụ, trong Vườn quốc gia Tam Đảo, các đơn

vị địa phương liên quan trong ngành du lịch là chính quyền huyện, Ban quản lý Vườn quốc gia Tam Đảo, các nhà quản lý du lịch, các đơn vị quân sự, các dịch vụ nhà hàng – khách sạn và người dân địa phương [18]

Trang 23

Tiềm năng DLST tự nhiên và văn hóa của Việt Nam đã được xác định Tuy nhiên, DLST của Việt Nam chỉ là một loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên, chưa thật sự chính xác và đầy đủ được như DLST trên thế giới [12] Theo Phạm Trung Lương (2000), DLST ở Việt Nam dựa trên các nguyên tắc sau [11]:

Nguyên tắc 1: “Giáo dục khách du lịch về môi trường tự nhiên để nâng cao

nhận thức của họ và để khách du lịch cùng tham gia vào công tác bảo tồn” Ai là người chịu trách nhiệm về giáo dục môi trường? Các hướng dẫn viên du lịch, các nhà quản lý, hay các nhân viên DLST? Trên thực tế ở Việt Nam, hầu hết những người này không có môi trường đào tạo bài bản hoặc kiến thức bản địa chưa đủ để tham gia vào công tác giáo dục Theo nghiên cứu của Phạm Trung Lương thực hiện năm 2000 [35] cho thấy rằng: 90% hướng dẫn viên DLST thiếu kiến thức môi trường (trong đó họ không có kiến thức về các loài động vật và thực vật cũng như

về tài nguyên thiên nhiên tiêu biểu trong khu vực của họ) Một minh họa của việc lãng phí gây ra bởi sự thiếu đào tạo là Vịnh Hạ Long, một di sản thế giới với giá trị môi trường to lớn - những rạn san hô ngầm, núi đá vôi, hàng ngàn loài thực vật và động vật tạo nên một sự đa dạng sinh học cao - và bản sắc văn hóa phong phú Nhưng khách du lịch ở Vịnh Hạ Long hiện nay chỉ đi thăm Vịnh và một số hang động, bãi biển chứ không quan tâm đến những thông tin môi trường hoặc các hoạt động văn hóa địa phương Nhìn chung, tiềm năng dồi dào của DLST ở đây chưa được khai thác [2,3]

Nguyên tắc 2: “Bảo vệ môi trường và duy trì các hệ sinh thái nhạy cảm”

DLST nên được kết hợp với phát triển bền vững, tình yêu của con người đối với thiên nhiên và bảo vệ môi trường Tuy nhiên, vẫn còn nhiều mô hình du lịch tự phát, thiếu sự quản lý và các quy định đối với du khách Một số khách du lịch không nhận thức đầy đủ về vấn đề bảo vệ môi trường và không muốn trả lệ phí bảo tồn Nếu họ ném rác hoặc bẻ cành cây, họ không bị phạt Kết quả là, một số khu du lịch đã bị suy thoái môi trường nghiêm trọng, chẳng hạn như Vịnh Hạ Long (Quảng Ninh) [2], chùa Hương (Hà Nội) [20]

Trang 24

Nguyên tắc 3: “Duy trì và phát huy bản sắc văn hóa liên quan đến cộng

đồng địa phương trong DLST” Du khách quốc tế đến Việt Nam thường thích ghé thăm làng bản của đồng bào dân tộc thiểu số để quan sát nền văn hóa, gặp

gỡ những người địa phương, và tham gia vào các hoạt động truyền thống Các dân tộc thiểu số sống trong hoặc gần khu bảo tồn thiên nhiên duy trì lối sống đặc trưng, bản sắc văn hóa và phong tục truyền thống Những nét tiêu biểu này

là một phần giá trị thực tế của DLST ở Việt Nam nói riêng và trên thế giới nói chung Tuy nhiên, người dân địa phương không có nhiều liên quan đến DLST

và hầu hết các hướng dẫn viên du lịch có ít vốn hiểu biết về văn hóa bản địa cũng như môi trường trong khu du lịch Vì vậy, du khách sinh thái không được tiếp xúc với bản sắc văn hóa đa dạng của Việt Nam Đây là một hạn chế lớn và

nó cần phải được khắc phục để DLST tại Việt Nam có thể phát triển và tiến gần hơn nữa tới giá trị đích thực của DLST

Nguyên tắc 4: “Chia sẻ lợi ích và sự tham gia của cộng đồng” Đây là một

nguyên tắc mà Việt Nam thực hiện rất kém hiệu quả Người dân địa phương tại các khu DLST vẫn sống trong nghèo khổ, cuộc sống của họ vẫn liên quan chặt chẽ với các nguồn tài nguyên thiên nhiên Những lợi ích kinh tế của DLST cần phải được chia sẻ với họ, nhưng điều này sẽ không xảy ra nếu không có sự tham gia của cộng đồng Trung Quốc là một ví dụ tiêu biểu Một cuộc khảo sát dựa trên phiếu điều tra của Tiến sĩ Li Wenjun (2002) [29] cho thấy rằng hầu hết các cư dân trong Khu dự trữ sinh quyển Jiuzhaigou - Trung Quốc, đã tham gia vào kinh doanh du lịch và các công việc có liên quan Sự tham gia bao gồm hoạt động khách sạn; nhà nghỉ tư nhân; nhà hàng; cửa hàng quà lưu niệm; cho thuê bò Tây Tạng, cừu, và trang phục dân tộc truyền thống để du khách có thể chụp ảnh; làm việc cho các khách sạn, nhà hàng, hoặc các công ty du lịch và thu gom rác trong khu du lịch Từ thực tế của Trung Quốc có thể thấy rằng, chính phủ đã thực hiện rất tốt việc “chia sẻ lợi ích và

sự tham gia của cộng đồng” Nhờ đó mà không chỉ khu DLST Jiuzhaigou phát triển tốt, mang lại thu nhập cho người dân mà nhiều hoạt động bảo tồn, thăm quan khác cũng được đánh giá cao

Trang 25

1.2 NHỮNG VẤN ĐỀ VỀ QUY HOẠCH DU LỊCH SINH THÁI

1.2.1 Khái niệm quy hoạch và quy hoạch DLST

1.2.1.1 Quy hoạch là gì?

Quy hoạch là một định nghĩa khá rộng, không dễ định nghĩa Khi nói đến quy hoạch, người ta thường chỉ quan tâm đến khía cạnh quy hoạch sử dụng đất, hoặc quan tâm đến nhiệm vụ tổ chức, không gian, đối tượng được quy hoạch Tuy nhiên, cụm từ “quy hoạch” cho đến nay được dùng trong nhiều lĩnh vực hoạt động khác nhau của con người như: quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch đô thị và vùng, quy hoạch môi trường, quy hoạch du lịch… Những người làm quy hoạch trong mọi lĩnh vực cho rằng, mình biết rõ điều mình muốn nói và điều mình phải làm Nhưng cách hiểu và cách thực thi công việc của họ không phải lúc nào cũng giống nhau, và hiệu quả cũng khác nhau, đôi khi gây ra nhiều tranh cãi [2]

Nói đến quy hoạch, người ta thường hiểu đó là sự lựa chọn, hoạch định, sắp xếp, bố trí theo không gian, theo cơ cấu của những đối tượng được quy hoạch để thực hiện những định hướng, những mục tiêu của chiến lược và kế hoạch Quy hoạch và kế hoạch là hai phạm trù độc lập với nhau nhưng thống nhất với nhau Kế hoạch mang tính thời gian cùng với các định hướng, mục tiêu cho quy hoạch Quy hoạch cụ thể không gian cho kế hoạch Do đó, quy hoạch có tính không gian gắn với mục tiêu và thời gian của kế hoạch, ngược lại, kế hoạch có tính thời gian gắn với quy hoạch Quy hoạch và kế hoạch cùng được thực hiện với nhau trong tổng thể thống nhất gọi là kế hoạch hóa [23]

Có một số quan điểm cơ bản về quy hoạch như sau:

- Quy hoạch là sự tích hợp giữa kiến thức khoa học và kỹ thuật, tạo nên sự lựa chọn để có thể thực hiện các quyết định về các phương án cho tương lai

- Quy hoạch là công cuộc chuẩn bị có tổ chức cho các hoạt động có ý nghĩa bao gồm: việc phân tích tình thế, đặt các yêu cầu, khai thác và đánh giá các lựa chọn và phân chia một quá trình hành động

- Quy hoạch là quá trình soạn thảo một tập hợp các chương trình liên quan, được thiết kế để đạt được mục tiêu nhất định Nó bao gồm việc định ra một hay nhiều vấn đề cần được giải quyết; thiết lập các mục tiêu quy hoạch; xác định các giả

Trang 26

thiết mà quy hoạch cần dựa vào; tìm kiếm và đánh giá các biện pháp hành động có thể thay thế và lựa chọn hành động cụ thể thực hiện (Compton 1993) [17]

- Theo Forster Ndubisi (1996), quy hoạch không hoàn toàn tập trung vào khoa học hay quyết định mà là sự tích hợp của cả hai [23]

Tùy theo mục đích mà có các loại quy hoạch khác nhau Khi cần thực thiện một chiến lược quy hoạch thì cần thiết phải xem xét kỹ lưỡng mục tiêu và các quy định đề ra để chọn lựa loại hình quy hoạch phù hợp Có các loại quy hoạch sau:

 Quy hoạch vùng kinh tế: Quy hoạch vùng kinh tế là sự phân bố hợp lý nhất trên lãnh thổ vùng những xí nghiệp công nghiệp, giao thông vận tải và các địa điểm dân cư có tính toán tổng hợp các nhân tố và những điều kiện địa lý kinh tế, kiến trúc xây dựng, kỹ thuật công trình Quy hoạch vùng kinh tế cụ thể hóa trên lãnh thổ những dự đoán, những chương trình và kế hoạch phát triển tổng thể vùng; đồng thời, quy hoạch bổ sung phát triển và làm phong phú thêm những điều kiện đó (E.N.Pertxik) [23]

 Quy hoạch chức năng: Quy hoạch chức năng là những dự án quy hoạch của các ngành kinh tế, quy hoạch về các vấn đề kinh tế - xã hội và môi trường [16]

Tuy nhiên, tùy vào từng mục đích và lĩnh vực cụ thể mà người ta chia ra làm nhiều loại quy hoạch khác nhau cho những đối tượng khác nhau Trong mỗi lĩnh vực đó, không phải quốc gia nào, khu vực nào cũng sử dụng thống nhất một định nghĩa, một quan điểm về quy hoạch mà có những biến thể khác nhau; nhưng chung quy lại là để thực hiện những định hướng, mục tiêu của chiến lược đã đề ra

1.2.1.2 Khái niệm quy hoạch DLST

DLST là hình thức du lịch dựa vào thiên nhiên, gắn với bản sắc văn hóa địa phương với sự tham gia của cộng đồng địa phương [23] DLST thông qua việc giảm

áp lực với môi trường, làm cân bằng lợi ích kinh tế, thông qua bảo vệ tính hoàn chỉnh về văn hóa và tài nguyên, phong cảnh du lịch, bảo vệ tính công bằng và lợi ích giữa các bên tham gia, thông qua việc lôi cuốn cộng đồng địa phương vào hoạt động bảo tồn và du lịch, chia sẻ lợi ích kinh tế với địa phương [22] Vì vậy DLST những năm gần đây là loại hình du lịch hấp dẫn du khách, được chính phủ và ngành

du lịch ở nhiều nước quan tâm đầu tư phát triển Do vậy DLST cũng là một loại

Trang 27

hình du lịch được chọn đầu tư phát triển trong các dự án quy hoạch phát triển ở nhiều cấp độ khác nhau

Quy hoạch DLST là quy hoạch dựa trên mục tiêu tạo ra các không gian phục

vụ cho phát triển DLST ở địa phương (I.Pirogionhich, 1995) [23] Quy hoạch DLST bao gồm tập hợp lý luận và thực tiễn nhằm phân bố hợp lý nhất trên lãnh thổ những khu vực phục vụ DLST dựa trên sự tính toán tổng hợp các nhân tố: điều kiện tự nhiên, môi trường, tài nguyên du lịch, cơ sở hạ tầng, điều kiện kinh tế xã hội, đường lối, chính sách Quy hoạch phục vụ mục tiêu DLST còn cụ thể hóa trên lãnh thổ những dự đoán, định hướng, chương trình và kế hoạch phát triển DLST Đồng thời nó cũng bao gồm cả quá trình ra quyết định, thực hiện quy hoạch và bổ sung các điều kiện phát triển nhằm đạt được các mục tiêu của phát triển du lịch bền vững [23]

1.2.2 Đặc điểm và nguyên tắc quy hoạch DLST

1.2.2.1 Đặc điểm và nguyên tắc quy hoạch du lịch

Về cơ bản, vấn đề quy hoạch du lịch phải tuân thủ một số nguyên tắc và đặc điểm sau [23]:

- Nội dung của quy hoạch du lịch bao giờ cũng bao quát rộng hơn, có nội dung đầy đủ hơn so với phân vùng du lịch, nhằm tổ chức và phân bố hợp lý nhất cơ

sở vật chất kỹ thuật, kết cấu hạ tầng, nguồn lao động phù hợp với nguồn tài nguyên môi trường và các điều kiện kinh tế - xã hội của vùng Đồng thời, quy hoạch du lịch còn cụ thể hóa trên lãnh thổ vùng những dự báo, chương trình, kế hoạch, chiến lược phát triển du lịch và bao gồm cả quá trình thực hiện quy hoạch

- Quy hoạch du lịch bao giờ cũng được tiến hành sau so với phân vùng du lịch Quy hoạch du lịch thường đạt hiệu quả cao hơn, xác thực hơn, thời gian thực hiện quy hoạch du lịch ngắn hơn so với phân vùng du lịch

- Quy hoạch du lịch ở các cấp phân vị nhỏ có khả năng thực thi và hiệu quả

rõ ràng hơn Thời gian quy hoạch gồm các cấp độ ngắn hạn (từ 1-3 năm), trung bình (từ 3-5 năm) và dài hạn (từ 10-25 năm)

Quy hoạch phát triển du lịch dù ở cấp độ và kiểu loại nào đều khó khăn, phức tạp, phải đối mặt với nhiều vấn đề nan giải bởi do có nhiều thành viên tham gia quy hoạch, ngoài ra còn do các nguồn lực, điều kiện quy hoạch lại đa dạng và

Trang 28

luôn biến đổi Vì vậy, nhiều công trình nghiên cứu về quy hoạch ở các dự án quy hoạch của mỗi quốc gia đã xây dựng một hệ thống các nguyên tắc quy hoạch với những đặc điểm riêng để làm kim chỉ nam, phương tiện tổ chức, quản lý và thực hiện các dự án quy hoạch [17]

Theo tác giả Minh Thu [23], một quy hoạch du lịch được coi là thành công

và sát hợp với thực tiễn, đem lại hiệu quả kinh tế - xã hội cao đòi hỏi phải tuân theo các nguyên tắc cơ bản khi xây dựng quy hoạch gồm có: nguyên tắc thị trường, nguyên tắc hiệu quả và lợi ích, nguyên tắc về độ độc đáo và hấp dẫn, nguyên tắc bảo vệ

Còn theo Luật Du lịch Việt Nam (2005), trong Điều 18, chương III có quy định về Nguyên tắc xây dựng quy hoạch phát triển du lịch gồm các nội dung cơ bản sau: Phù hợp với chiến lược và quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và chiến lược phát triển của ngành du lịch; Bảo đảm chủ quyền quốc gia, quốc phòng,

an ninh, trật tự an toàn xã hội; Bảo vệ, phát triển tài nguyên du lịch và môi trường, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc; Đảm bảo tính khả thi, cân đối giữa cung và cầu về du lịch; Phát huy thế mạnh để tạo ra sản phẩm du lịch đặc thù của từng vùng, từng địa phương nhằm sử dụng hợp lý, hiệu quả tài nguyên du lịch; Đảm bảo công khai trong quá trình lập và công bố quy hoạch [10]

Tuy nhiên, hệ thống nguyên tắc quy hoạch du lịch của Minh Thu chưa mang tính bao quát, thực ra mới chỉ đưa ra một số nguyên tắc mang tính chỉ đạo chiến lược Do vậy, khi vận dụng vào quy hoạch phát triển du lịch sẽ dẫn đến những hạn chế, không đảm bảo hiệu quả cao trong quy hoạch Hệ thống nguyên tắc quy hoạch

du lịch trong Luật Du lịch Việt Nam lại chỉ mang tính chỉ đạo, thiếu những nguyên tắc cụ thể khi vận dụng trong quy hoạch phát triển du lịch, do đó cũng sẽ không tránh khỏi những hạn chế như đã diễn ra trong thực tế xây dựng và thực hiện các dự

án quy hoạch phát triển du lịch ở Việt Nam

Từ việc nghiên cứu các công trình lý luận, các báo cáo của các dự án quy hoạch; nghiên cứu thực hiện quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch các ngành, quy hoạch phát triển du lịch ở Việt Nam có thể đề xuất hệ thống 15 nguyên tắc quy hoạch du lịch như sau:

Trang 29

- Nguyên tắc hiệu quả tổng hợp

- Nguyên tắc phù hợp với chiến lược và quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, của địa phương, chiến lược phát triển ngành

- Nguyên tắc bảo vệ, khai thác, phát triển tài nguyên môi trường du lịch, giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc

- Nguyên tắc tối ưu trong việc phát huy thế mạnh của các nguồn lực phát triển du lịch

- Nguyên tắc tổ chức cơ cấu quy hoạch theo khu vực

- Nguyên tắc nhiều phương án

- Nguyên tắc phản ứng dự trữ của hệ thống lãnh thổ du lịch đối với những biến cố không thấy trước được

- Nguyên tắc kế thừa

- Nguyên tắc tính toán những đặc điểm địa lý của hệ thống lãnh thổ du lịch

- Nguyên tắc công khai trong quá trình lập và công bố thực hiện quy hoạch

- Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi

1.2.2.2 Đặc điểm và nguyên tắc quy hoạch DLST

Trong quy hoạch phát triển DLST, ngoài việc thực hiện các nguyên tắc chung của quy hoạch du lịch còn cần phải thực hiện các nguyên tắc cụ thể của DLST như sau:

 Có hoạt động giáo dục và diễn giải nhằm nâng cao hiểu biết về môi trường, qua đó tạo ý thức tham gia vào công tác bảo tồn Thông qua việc giáo dục diễn giải nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm của du khách và cộng đồng về các giá trị của môi trường, tài nguyên tự nhiên, về những đặc điểm sinh thái khu vực và văn hóa bản địa Từ đó có thể có những thái độ ứng xử đúng đắn với môi trường và có đóng

Trang 30

góp tích cực cho việc bảo tồn và phát huy những giá trị sinh thái tự nhiên và văn hóa bản địa [6,7]

 Bảo vệ và duy trì hệ sinh thái Sự tồn tại của DLST gắn liền với môi trường

tự nhiên và những hệ sinh thái điển hỉnh Sự suy thoái môi trường và hệ sinh thái đồng nghĩa với sự suy giảm của hoạt động DLST Vì vậy mọi hoạt động DLST phải được quản lý đề giảm thiểu tác động tới môi trường, đồng thời một phần thu nhập từ hoạt động DLST sẽ được đầu tư để bảo vệ môi trường và duy trì hệ sinh thái

 Bảo vệ và phát huy bản sắc văn hóa cộng đồng; giá trị văn hóa bản địa vừa

là tài nguyên du lịch hấp dẫn du khách vừa là nguồn lực để phát triển DLST Các giá trị văn hóa bản địa là một bộ phận không thể tách rời các giá trị môi trường của

hệ sinh thái ở một khu vực cụ thể Sự suy giảm, mai một những giá trị văn hóa truyền thống của cộng đồng địa phương nào đó sẽ làm mất đi sự cân bằng sinh thái của khu vực và sẽ làm thay đổi hệ sinh thái đó Điều này sẽ gây ra tác động tiêu cực đến DLST

 Tạo cơ hội việc làm và mang lại lợi ích cho cộng đồng địa phương Đây vừa là nguyên tắc, vừa là mục tiêu cần hướng tới của DLST Từ việc mang lại lợi ích chia sẻ lợi nhuận với cộng đồng địa phương, huy động cộng đồng địa phương tham gia làm việc, cung ứng dịch vụ, hàng hóa cho du lịch, sẽ làm cho người dân giảm sự lệ thuộc vào việc khai thác tự nhiên, làm cho họ nhận thấy lợi ích của việc bảo vệ các nguồn tài nguyên tự nhiên và các giá trị văn hóa Do vậy sẽ làm giảm sức ép của cộng đồng địa phương lên tài nguyên môi trường tự nhiên và họ sẽ là chủ nhân của các nguồn tài nguyên du lịch, tích cực bảo vệ các giá trị tự nhiên và văn hóa bản địa, sẽ giúp cho hoạt động DLST thành công

Bên cạnh những nguyên tắc của việc thực hiện quy hoạch phát triển DLST thì những khu vực được lựa chọn quy hoạch, tổ chức phát triển DLST cần đáp ứng các yêu cầu sau [23]:

- Yêu cầu đầu tiên để có thể tổ chức được DLST là sự tồn tại các hệ sinh thái tự nhiên điển hình với tính đa dạng sinh học cao Sinh thái tự nhiên được hiểu

là sự tổng hợp của các yếu tố điều kiện địa hình, khí hậu, đất đai, nguồn nước, động

Trang 31

vật và thực vật bao gồm: các hệ sinh thái tự nhiên, hệ động - thực vật, hệ sinh thái nông nghiệp, sinh thái khí hậu và sinh thái nhân văn

- Để đảm bảo tính giáo dục, nâng cao nhận thức cho khách du lịch, cộng đồng địa phương về đặc điểm sinh thái tự nhiên và văn hóa bản địa, qua đó tạo ý thức mong muốn tham gia vào công tác bảo tồn thì các cán bộ quản lý và nhân viên phải là những người am hiểu về các đặc điểm sinh thái tự nhiên, văn hóa cộng đồng địa phương và những tri thức về DLST

- Hoạt động DLST đòi hỏi người điều hành có nguyên tắc Các nhà điều hành DLST phải tổ chức, quản lý, điều hành các hoạt động du lịch theo những nguyên tắc nghiêm ngặt Họ phải có sự cộng tác với các nhà quản lý, các Khu bảo tồn, các Vườn quốc gia, các khu vực có tiềm năng phát triển DLST và cộng đồng địa phương để thực hiện được các mục tiêu của DLST là phát triển bền vững

- Hoạt động DLST cần được tổ chức trên cơ sở tuân thủ theo quy định về sức chứa Khái niệm sức chứa ở đây được hiểu trên cả 4 mặt là: vật lý, sinh học, tâm lý

và xã hội học [6,7]

 Trên góc độ vật lý: sức chứa ở đây được hiểu là số du khách tối đa mà khu vực có thể tiếp nhận về quy mô, mật độ, độ cao, vật liệu xây dựng, kiểu dáng kiến trúc mà không cần phá vỡ cảnh quan và suy giảm sự đa dạng hệ sinh thái

 Về góc độ sinh học: sức chứa được hiểu là lượng khách tối đa mà nếu lớn hơn lượng khách này sẽ vượt quá khả năng tiếp nhận của môi trường

 Về góc độ tâm lý: sức chứa được hiểu là giới hạn lượng khách mà nếu vượt quá sẽ bắt đầu cảm thấy đông đúc, hoạt động của du khách này

sẽ bị ảnh hưởng bởi những du khách khác, làm giảm sự hấp dẫn của khu DLST đối với du khách

 Về góc độ xã hội: sức chứa là giới hạn về lượng du khách mà tại đó bắt đầu xuất hiện tiêu cực của du lịch đến đời sống kinh tế, xã hội, văn hóa của khu vực

Trang 32

Đứng ở góc độ các nhà cung ứng và quản lý du lịch, sức chứa được hiểu là lượng khách tối đa mà khu vực có thể phục vụ Nếu lượng khách vượt quá giới hạn này thì năng lực quản lý và cung ứng dịch vụ của khu vực không đáp ứng

- Hoạt động DLST đòi hỏi phải thỏa mãn hiểu biết của khách du lịch về môi trường sinh thái của khu du lịch

- DLST cần được sự quan tâm của chính phủ về việc xây dựng các quy định, chiến lược và được đầu tư nhiều Vì DLST chứa đựng ý nghĩa, mục tiêu của bảo vệ môi trường, tài nguyên du lịch và góp phần xóa đói giảm nghèo nên cần được Nhà nước quan tâm và đầu tư cao

- Việc xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch, kết cấu hạ tầng, lắp đặt các thiết bị cần phải tuân thủ các nguyên tắc, đặc điểm của phát triển DLST ở từng khu vực; phải có sự hạn chế phù hợp về quy mô, độ cao, khoảng cách, mật độ xây dựng, vật liệu, kiểu dáng với cảnh quan và văn hóa bản địa

- Việc quản lý và kiểm soát hoạt động phát triển DLST ở các vùng có hệ sinh thái tự nhiên chủ yếu phải do cộng đồng địa phương phụ trách

- Cần đảm bảo các quyền lợi truyền thống của dân cư và quyền lợi của địa phương ở những khu vực phát triển DLST

- Cần có những nghiên cứu, đánh giá, những dự báo và những biện pháp phòng ngừa, kiểm soát bổ sung khi tổ chức phát triển DLST ở những khu vực nhạy cảm đặc biệt về môi trường

- Cần có được nhận thức một cách đầy đủ và đúng đắn về sự cần thiết phải bảo vệ các hệ sinh thái tự nhiên, các hệ sinh thái đặc trưng và các giá trị văn hóa truyền thống nhằm bảo tồn đa dạng sinh học và đa dạng văn hóa

Vấn đề quy hoạch nói chung và quy hoạch DLST nói riêng hiện đang là một vấn đề rất được quan tâm tại nhiều nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam Nhờ thực hiện tốt chiến lược quy hoạch DLST mà Úc đã trở thành quốc gia DLST đầu tiên trên thế giới, một điểm đến hấp dẫn với nhiều loại hình du lịch, du lịch bền vững và DLST Bên cạnh Úc, hiện nay đã có nhiều mô hình quy hoạch tổng thể quốc gia theo mục tiêu phát triển DLST như Mỹ, Ecuado, Indonexia, Thái Lan [6,7] Việt Nam là một quốc gia có tiềm năng lớn về DLST nhưng hiện nay còn

Trang 33

chưa được quy hoạch phát triển một cách đồng bộ Những nơi được quan tâm phát triển chủ yếu như ở các Vườn quốc gia, Khu dự trữ sinh quyển, Khu bảo tồn thiên nhiên nhưng đơn thuần chỉ là các hoạt động nghiên cứu, bảo vệ và một phần hoạt động du lịch nhỏ lẻ, chưa được quan tâm quản lý và phát triển Để có thể khai thác được tương xứng với tiềm năng du lịch của những khu vực có khả năng phát triển DLST này, các cấp chính quyền quốc gia và địa phương, cũng như các cơ quan có liên quan cần đưa ra những chiến lược du lịch nói chung và chiến lược DLST nói riêng từ dài hạn cho tới ngắn hạn một cách toàn diện, chi tiết, gắn với tầm nhìn chiến lược phát triển tổng thể của quốc gia

1.3 KHÁI QUÁT KHU VỰC NGHIÊN CỨU – VÙNG HỒ QUAN SƠN

Từ Hà Nội theo quốc lộ 6, qua Hà Ðông, đi tiếp theo quốc lộ 21B đến thị trấn Đại Nghĩa, huyện Mỹ Ðức, rẽ theo đường 76 khoảng 5km, rẽ phải là tới vùng

hồ Quan Sơn Khu vực hồ Quan Sơn nằm trên địa phận 4 xã: Hợp Tiến, Hồng Sơn, Tuy Lai và Thượng Lâm thuộc huyện Mỹ Đức, nằm về phía Tây – Nam tỉnh Hà Tây cũ (nay thuộc Hà Nội) Hồ có tổng diện tích mặt nước 883 ha, gồm hệ thống các hồ: hồ Giang Nội (hồ Quan Sơn), hồ Sông, hồ Dưới Đăng (hồ Ngoài) thuộc địa phận xã Hợp Tiến; hồ Ngái thuộc xã Hồng Sơn; hồ Tuy Lai chia thành Tuy Lai 1, Tuy Lai 2 và Tuy Lai 3 thuộc hai xã Tuy Lai và Thượng Lâm Các hồ nhỏ này thông nhau bởi các cống [31,32]

Hồ Quan Sơn được hình thành từ năm 1959 khi nhân dân huyện Mỹ Đức đắp đê tại địa phận Cầu Dậm để chặn suối Cầu Đường, một con suối chảy từ huyện Lương Sơn, qua Kim Bôi đến chợ Bến và đổ về Cầu Dậm Từ đó, khu vực này trở thành vùng ngập nước Đến năm 1964, đập tràn Cầu Dậm được nhà nước đầu tư xây dựng và các công trình chính của hồ (đập tràn, cống, đập đất) tiếp tục được đầu

tư mở rộng và nâng cấp vào các năm 1978, 1985, 1999, 2010 Lúc đầu, việc đắp đê ngăn suối chỉ nhằm tạo thành hồ lưu trữ nước trong mùa mưa để có nguồn nước tưới vào mùa khô cho khoảng 1000ha đất canh tác nông nghiệp của các xã trong huyện nhưng đến năm 1999, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã ra quyết định số 1263 QĐ/UBND-QLN ký ngày 13/04/1999, phê duyệt dự án “Sửa chữa, nâng cấp hệ thống hồ Quan Sơn huyện Mỹ Đức nhằm đáp ứng chức năng rộng lớn

Trang 34

hơn: bảo đảm chống lũ an toàn, đảm bảo ổn định tưới trên 1000 ha đất canh tác của huyện Mỹ Đức, thực hiện thâm canh tăng năng suất cây trồng, tạo điều kiện phát triển du lịch vùng hồ và thả cá trong hồ [4,8,9]

Phần lớn vùng hồ Quan Sơn là do Công ty cổ phần Thủy sản và Du lịch Quan Sơn quản lý Tiền thân là Công ty Quốc doanh thủy sản Mỹ Đức - một doanh nghiệp nhà nước được thành lập từ năm 1971 với nhiệm vụ chính là sản xuất cá giống và nuôi cá thịt Cơ cấu bộ máy quản lý của công ty được tổ chức và điều hành gồm:

- 1 Giám đốc kiêm Chủ tịch hội đồng quản trị

- 2 Phó giám đốc kiêm phó Chủ tịch hội đồng quản trị

để phục vụ nông nghiệp cho cả huyện Mỹ Đức nên các hoạt động nuôi trồng thủy sản và du lịch bị hạn chế rất nhiều [4,9]

* Về nuôi trồng thủy sản

Tại hồ Quan Sơn, nuôi trồng thủ y sản là m ột ngành sản xuất mang tính đặc thù riêng, có chu kỳ sản xuất dài, quy mô sản xuất vừa, mang tính thủ công truyền thống Quy trình nuôi trồng thủy sản được áp dụng ở vùng hồ Quan Sơn gồm các bước: Cá bố mẹ → Đẻ và ấp cá bột → Ươm nuôi cá hương → Ươm nuôi cá cấp 3

→ Cá thương phẩm

Quá trình sản xuất được tính từ khi đưa cá bố mẹ vào nuôi vỗ từ tháng 9 âm lịch năm trước đến tháng 1, tháng 2 âm lịch năm sau Khi thời tiết nắng ấm, nhiệt độ

Trang 35

từ 18o đến 28oC thì bắt đầu cho cá đẻ Quá trình đẻ và ấp trứng trong một tuần cho cá bột, ươm nuôi 1 tháng lên cá hương, đem ươm nuôi khoảng 2 tháng lên cá cấp 3 sau

đó chuyển sang các hồ nuôi cá thương phẩm khoảng 7 – 8 tháng thì thu hoạch [4]

* Về sản xuất và cung ứng vật liệu xây dựng

Tận dụng nguồn tài nguyên sẵn có của vùng hồ Quan Sơn, Công ty cổ phần Thủy sản và Du lịch Quan Sơn đã khai thác lòng hồ và một số ruộng đất xấu ven hồ

để lấy đất làm nguyên liệu sản xuất gạch Tuy nhiên, việc sản xuất gạch chỉ tập trung trong phạm vi hẹp, chủ yếu thuộc địa phận xã Tuy Lai Đối với loại hình kinh doanh này, công ty đã tiến hành tổ chức theo hình thức giao thầu cho các tổ chức, cá nhân bên ngoài công ty nhận từng hợp đồng sản xuất gạch Theo định kỳ của hợp đồng, các tổ chức, cá nhân nộp sản phẩm về công ty [4]

* Về kinh doanh dịch vụ du lịch

Khu DLST Quan Sơn được xây dựng trong phạm vi vùng hồ Quan Sơn, nơi mang nhiều dấu ấn văn hóa dân tộc, đậm sắc lễ hội truyền thống và nếp sống thuần khiết của làng quê Việt Nam Thời Mạc, các quan triều đình thường lấy vị trí dãy núi này để quan sát cuộc chiến Lê - Mạc, nên có tên là Quan Sơn Khu DLST hồ Quan Sơn nằm trong cụm tam giác du lịch tâm linh - nghỉ ngơi, giải trí - dưỡng bệnh, được coi là một Hạ Long trên cạn

Ngay từ những năm 1960, hồ Quan Sơn đã được bao quanh bởi một bên là các dãy núi đồi kế tiếp nhau, một bên là đê bao dài 20 km chạy dọc từ xã Thượng Lâm đến xã Hợp Tiến Việc khai thác du lịch vùng Quan Sơn được quy hoạch với gần 3.000 ha thuộc địa phận bốn xã: Hợp Tiến, Tuy Lai, Hồng Sơn, Thượng Lâm, gồm diện tích mặt nước hồ rộng 883 ha (dài 16 km, rộng 2 km); gần 100 ngọn núi

đá vôi với độ che phủ rừng tái sinh hơn 80% Theo điều tra quy hoạch rừng năm

1992, vùng này có nhiều loài thực vật, thuộc nhiều họ cây quý hiếm, cây làm thuốc, cây đặc sản, cây phong cảnh Ở đây, người ta đã phát hiện được nhiều loại chim, thú, bò sát sống hoang dã trong rừng tuy số lượng cá thể từng loài ít

Sự hấp dẫn của khu du lịch Quan Sơn là cái đẹp tự nhiên, thuần phác đến mức hoang sơ Khi đến du lịch ở Quan Sơn, du khách sẽ được các thuyền nhỏ chở

đi leo núi thưởng ngoạn cảnh thiên nhiên với các địa danh: núi Trâu Trắng, đảo Sư

Trang 36

Tử, núi Quai Chèo, đồi Voi Phục… hoặc Cửa Thung Voi Nước, núi Bàn Cờ, Hoa Quả Sơn Bên cạnh đó du khách còn được thăm quan Chùa Linh Sơn nằm ở ngay chân núi Linh Sơn, soi bóng xuống hồ Giang Nội, chùa Cao, chùa Hàm Long nằm bên bờ hồ Tuy Lai Vượt qua núi đá Trượt, lên đập Tràn Ngái, du khách có thể thỏa sức hít thở bầu không khí trong lành và ngắm nhìn toàn cảnh khu du lịch Quan Sơn Núi non trùng điệp uốn lượn quanh hồ, điểm xuyến thêm là màu xanh của rừng, của các đầm sen, đồng lúa đã tạo nên một Quan Sơn đầy ấn tượng Khách có thể ghé thăm các làng mạc quanh hồ và đặc biệt vào tháng 10 dương lịch cho đến tháng 3,

du khách sẽ được ghé thăm thung Voi, sân chim của Quan Sơn với đủ các loài chim

về đây trú ngụ, xây tổ Hiện tại, huyện Mỹ Đức đã có dự án phục hồi các loài động vật vùng núi đá vôi như khỉ, sóc, sơn dương, trăn đất, tắc kè và lập trang trại, vườn sinh thái, khu chăn nuôi các loài động vật như hươu, nai, gấu, khỉ để phục vụ nhu cầu phát triển DLST và bảo tồn các hệ sinh thái tự nhiên

Trang 37

Chương 2 - THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM VÀ PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU

2.1 THỜI GIAN NGHIÊN CỨU

Để thực hiện luận văn này tôi đã tiến hành điều tra khảo sát thực địa, thu thập mẫu, phân tích và tổng hợp các số liệu có liên quan từ tháng 8/2010 đến tháng 12/2011 Các đợt điều tra khảo sát thực địa trên khu vực nghiên cứu chia thành 5 đợt:

 Đợt 1: từ ngày 19/8/2010 đến ngày 22/8/2010 (mùa nước đầy)

 Đợt 2: từ ngày 28/4/2011 đến ngày 02/5/2011 (mùa nước cạn)

 Đợt 3: từ ngày 21/10/2011 đến ngày 23/10/2011 (mùa nước đầy)

 Đợt 4: từ ngày 7/11/2011 đến ngày 9/11/2011 (mùa nước đầy)

 Đợt 5: từ ngày 15/12/2011 đến ngày 19/12/2011 (mùa nước đầy)

2.2 ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU

Khu vực nghiên cứu là vùng hồ Quan Sơn huyện Mỹ Đức, Hà Nội Khu vực này có điều kiện địa hình đa dạng, gồm hệ thống các hồ rộng lớn (với tổng diện tích

883 ha), có nhiều các thung, núi đồi bao quanh và nằm ngay sát khu vực dân cư sinh sống

Vùng hồ Quan Sơn là một hệ thống hồ gồm có hồ Giang Nội, hồ Sông Ngoài, hồ Dưới Đăng, hồ Ngái, hồ Tuy Lai 1, hồ Tuy Lai 2, hồ Tuy Lai 3; ven theo các hồ này là những thung diện tích không lớn lắm như thung Voi Nước, thung Cống, thung Mơ Dân cư sinh sống quanh vùng hồ Quan Sơn thuộc các xã Hợp Tiến, Hồng Sơn, Tuy Lai và một phần xã Thượng Lâm (Hình 1)

2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Trong nghiên cứu sinh thái nói chung và DLST nói riêng có rất nhiều các phương pháp tiếp cận và phân tích khác nhau tùy thuộc vào mục đích và trình độ của các nhà nghiên cứu Trên thế giới cũng như tại Việt Nam, có rất nhiều phương pháp tiên tiến như viễn thám, GIS giúp các nhà khoa học và và các nhà quản lý có cái nhìn tổng quan và toàn diện nhất về khu vực nghiên cứu thông qua một loạt các bản đồ với những lớp thông tin khác nhau Do hạn chế về kiến thức và điều kiện

Trang 38

nghiên cứu, luận văn của tôi chỉ tiến hành dựa trên các phương pháp nghiên cứu DLST cơ bản và truyền thống Đó là các phương pháp điều tra khảo sát thực địa và thu thập tài liệu; phương pháp kế thừa, thống kê, phân tích và so sánh tổng hợp; phương pháp xã hội học

2.3.1 Phương pháp điều tra khảo sát thực địa và thu thập tài liệu

Để thực hiện đề tài luận văn, trong mỗi đợt khảo sát tại khu vực Hồ Quan Sơn, tôi tiến hành các tuyến khảo sát với mục đích khác nhau Các tuyến khảo sát đều được tiến hành vào ban ngày, xuất phát từ hồ Giang Nội, đi dọc theo chiều dài của khu vực hồ Quan Sơn; hoặc rẽ theo các hướng khác nhau của các hồ nhỏ, lên các thung, đảo để khảo sát các hệ sinh thái và sự đa dạng của động thực vật trong khu vực Bên cạnh đó, tôi còn tiến hành khảo sát theo đường đê và đường liên xã dọc theo vùng hồ, lên các khu vực núi đá vôi để có thể bao quát được cảnh quan của toàn bộ khu vực này

2.3.2 Phương pháp kế thừa, thống kê, phân tích và so sánh tổng hợp

Phương pháp này nhằm tập hợp các nguồn tài liệu hiện có về khu vực nghiên cứu; tổng hợp, thống kê, phân tích và phát hiện ra các yếu tố cũng như ảnh hưởng của chúng đối với phát triển DLST cũng như những vấn đề quy hoạch tổng thể để phát triển DLST Việc phân tích, so sánh, tổng hợp các thông tin và số liệu cũng như các vấn đề thực tiễn phải được tiến hành hệ thống, kết hợp định lượng với định tính cũng như kết hợp với các phương pháp khác [16,23]

Khu vực hồ Quan Sơn đã có một số nghiên trước đây nhưng chủ yếu là về nguồn lợi thủy sản, chất lượng nước của vùng hồ mà chưa có một đề tài cụ thể nào

về tiềm năng du lịch cũng như thực trạng sử dụng và quản lý DLST tại đây Tuy nhiên, các số liệu đã có từ những nghiên cứu này cùng với các số liệu nhân sinh xã hội từ các cơ quan ban ngành liên quan của huyện Mỹ Đức và các số liệu thu thập trực tiếp qua các đợt khảo sát là cơ sở khoa học cho sự thống kê và phân tích nhằm đưa ra những kết quả và nhận định khách quan, chính xác nhất

2.3.3 Phương pháp xã hội học

Phương pháp xã hội học được áp dụng để điều tra các đặc điểm tự nhiên, xã hội của đối tượng được khảo sát Phương pháp thường dùng là lấy ý kiến của cộng

Trang 39

đồng địa phương, khách du lịch, các thành viên tham gia vào du lịch cũng như các thành viên tiến hành quy hoạch du lịch Thực hiện phương pháp điều tra xã hội học gồm các bước: xác định các vấn đề cần điều tra, thiết kế bảng hỏi, lựa chọn đối tượng

và khu vực để điều tra, thời gian tiến hành điều tra, xử lý các kết quả điều tra [12]

Khi tiến hành khảo sát tại khu vực hồ Quan Sơn, tôi đã tiến hành điều tra phỏng vấn người dân sống trong khu vực, những người tham gia hoạt động du lịch

và khách du lịch về cảnh quan, tính hấp dẫn, sự đa dạng của các loài động thực vật

và các hệ sinh thái của khu vực; đánh giá, nhận xét của mỗi người về khu DLST hồ Quan Sơn cũng như những kiến nghị, đề xuất để hoàn thiện và phát triển hơn nữa các hoạt động du lịch bền vững ở khu vực này

Trang 40

Chương 3 - KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

3.1 ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN, XÃ HỘI – CÁC YẾU TỐ HÌNH THÀNH TIỀM NĂNG DU LỊCH

3.1.1 Đặc điểm tự nhiên

3.1.1.1 Địa hình

Khu vực hồ Quan Sơn là vùng chuyển tiếp giữa núi đá vôi ở phía Tây và đồng bằng phía Đông Địa hình khu vực này không đồng nhất, nơi cao, nơi thấp chênh lệch nhau tương đối lớn Hướng nghiêng chính của địa hình từ Tây sang Đông và trải dài từ Bắc xuống Nam Nhìn chung địa hình khu vực này được chia thành 3 dạng chính:

 Địa hình núi đá vôi hang động Karst ở phía Tây (Hình 3.1): có độ cao trung bình so với mực nước biển là khoảng 100m – 200m Đây là phần cuối cùng trong hệ thống núi đá vôi khu vực Tây Bắc Bộ trước khi chuyển sang vùng Đồng bằng châu thổ sông Hồng rộng lớn Vùng hồ Quan Sơn có tới hơn 100 ngọn núi đá vôi nằm ven hoặc trong lòng hồ, chạy dọc suốt chiều dài từ Bắc xuống Nam, bị phân cắt bởi các thung lũng nhỏ Do là phần cuối cùng của địa hình núi đá vôi hang động Karst Tây Bắc Bộ nên kiểu địa hình Karst là không điển hình nhưng vẫn có địa hình karst dạng nón, karst bị chia cắt mạnh, hang động karst tạo nên cảnh quan thiên nhiên

kỳ vĩ cho khu vực

Hình 3.1 Núi đá vôi thuộc dạng địa hình Karst bị chia cắt mạnh

Ngày đăng: 31/03/2015, 16:16

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 3.4. Một góc của vùng hồ Quan Sơn - Tiềm năng du lịch và đề xuất định hướng quy hoạch du lịch sinh thái ở vùng hồ Quan Sơn, huyện Mỹ Đức, Hà Nội1
Hình 3.4. Một góc của vùng hồ Quan Sơn (Trang 49)
Hình 3.5. Hoa Trang trắng hồ Quan Sơn  Hình 3.6. Mùa sen nở trên hồ Quan Sơn - Tiềm năng du lịch và đề xuất định hướng quy hoạch du lịch sinh thái ở vùng hồ Quan Sơn, huyện Mỹ Đức, Hà Nội1
Hình 3.5. Hoa Trang trắng hồ Quan Sơn Hình 3.6. Mùa sen nở trên hồ Quan Sơn (Trang 50)
Hình 3.7. Vùng hồ Quan Sơn mùa cạn nước - Tiềm năng du lịch và đề xuất định hướng quy hoạch du lịch sinh thái ở vùng hồ Quan Sơn, huyện Mỹ Đức, Hà Nội1
Hình 3.7. Vùng hồ Quan Sơn mùa cạn nước (Trang 51)
Hình 3.9. Ruộng lúa vùng hồ Quan Sơn - Tiềm năng du lịch và đề xuất định hướng quy hoạch du lịch sinh thái ở vùng hồ Quan Sơn, huyện Mỹ Đức, Hà Nội1
Hình 3.9. Ruộng lúa vùng hồ Quan Sơn (Trang 54)
Hình 3.10. Số lƣợng các loài cây phân theo công dụng - Tiềm năng du lịch và đề xuất định hướng quy hoạch du lịch sinh thái ở vùng hồ Quan Sơn, huyện Mỹ Đức, Hà Nội1
Hình 3.10. Số lƣợng các loài cây phân theo công dụng (Trang 79)
Hình 3.12. Chùa Bồ Đề với tƣợng Phật trên đỉnh núi - Tiềm năng du lịch và đề xuất định hướng quy hoạch du lịch sinh thái ở vùng hồ Quan Sơn, huyện Mỹ Đức, Hà Nội1
Hình 3.12. Chùa Bồ Đề với tƣợng Phật trên đỉnh núi (Trang 86)
Hình 3.13. Sơ đồ các điểm, tuyến du lịch khu vực hồ Quan Sơn, - Tiềm năng du lịch và đề xuất định hướng quy hoạch du lịch sinh thái ở vùng hồ Quan Sơn, huyện Mỹ Đức, Hà Nội1
Hình 3.13. Sơ đồ các điểm, tuyến du lịch khu vực hồ Quan Sơn, (Trang 98)
Hình 1. Toàn cảnh nhà nghỉ và dịch vụ nhà hàng khu du lịch hồ Quan Sơn - Tiềm năng du lịch và đề xuất định hướng quy hoạch du lịch sinh thái ở vùng hồ Quan Sơn, huyện Mỹ Đức, Hà Nội1
Hình 1. Toàn cảnh nhà nghỉ và dịch vụ nhà hàng khu du lịch hồ Quan Sơn (Trang 106)
Hình 2. Sân chim mùa cạn nước - Tiềm năng du lịch và đề xuất định hướng quy hoạch du lịch sinh thái ở vùng hồ Quan Sơn, huyện Mỹ Đức, Hà Nội1
Hình 2. Sân chim mùa cạn nước (Trang 106)
Hình 4. Một góc hồ Quan Sơn mùa hoa nở - Tiềm năng du lịch và đề xuất định hướng quy hoạch du lịch sinh thái ở vùng hồ Quan Sơn, huyện Mỹ Đức, Hà Nội1
Hình 4. Một góc hồ Quan Sơn mùa hoa nở (Trang 107)
Hình 6. Một góc Thung Cống - Tiềm năng du lịch và đề xuất định hướng quy hoạch du lịch sinh thái ở vùng hồ Quan Sơn, huyện Mỹ Đức, Hà Nội1
Hình 6. Một góc Thung Cống (Trang 108)
Hình 8. Chùa Kim Cương nhìn từ trên núi - Tiềm năng du lịch và đề xuất định hướng quy hoạch du lịch sinh thái ở vùng hồ Quan Sơn, huyện Mỹ Đức, Hà Nội1
Hình 8. Chùa Kim Cương nhìn từ trên núi (Trang 109)
Hình 10. Nét cổ kính chùa Cao - Tiềm năng du lịch và đề xuất định hướng quy hoạch du lịch sinh thái ở vùng hồ Quan Sơn, huyện Mỹ Đức, Hà Nội1
Hình 10. Nét cổ kính chùa Cao (Trang 110)
Hình 12. Vùng đất ngập ngọt hồ Ngái - Tiềm năng du lịch và đề xuất định hướng quy hoạch du lịch sinh thái ở vùng hồ Quan Sơn, huyện Mỹ Đức, Hà Nội1
Hình 12. Vùng đất ngập ngọt hồ Ngái (Trang 111)
Hình 14. Dạng sống bì sinh trong vùng đất ngập ngọt hồ Ngái - Tiềm năng du lịch và đề xuất định hướng quy hoạch du lịch sinh thái ở vùng hồ Quan Sơn, huyện Mỹ Đức, Hà Nội1
Hình 14. Dạng sống bì sinh trong vùng đất ngập ngọt hồ Ngái (Trang 112)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w