Cùng với các dòng suối, hang động, nhũ đá, núi non, … tạo hóa không những đã ban tặng cho Hương Sơn một vẻ đẹp đến mê hoặc lòng người mà còn ưu ái cho vùng đất này với nguồn TNTN phong p
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
-
NGUYỄN THỊ THỦY
ĐÁNH GIÁ BIẾN ĐỘNG LỚP PHỦ THỰC VẬT
XÃ HƯƠNG SƠN – HUYỆN MỸ ĐỨC – HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Hà Nội - 2012
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
-
NGUYỄN THỊ THỦY
ĐÁNH GIÁ BIẾN ĐỘNG LỚP PHỦ THỰC VẬT
XÃ HƯƠNG SƠN – HUYỆN MỸ ĐỨC – HÀ NỘI
Chuyên ngành : Sinh thái học
Trang 3
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 4MỤC LỤC
Trang DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT DANH MỤC CÁC BẢNG DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ VÀ BẢN ĐỒ MỞ ĐẦU ……… ……… …… … 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU ……… 3
1.1 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC 3
1.1.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới ……….……… 3
1.1.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam ……… 4
1.1.3 Nghiên cứu về thảm thực vật Hương Sơn ……… 5
1.2 ỨNG DỤNG GIS VÀ VIỄN THÁM TRONG NGHIÊN CỨU SINH THÁI HỌC ……… ……… …… 7
1.2.1 Hệ thông tin địa lý – GIS ………… ………….……….…… … 7
1.2.2 Vai trò của GIS trong nghiên cứu sinh thái ……….… …….…… 9
1.2.3 Viễn thám (Remote sensing – RS) ……… … … 10
1.2.4 Tích hợp viễn thám và GIS ……….… … 10
1.2.5 Viễn thám và GIS trong thành lập bản đồ lớp phủ thực vật……… 11
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ……… 13
2.1 ĐỐI TƯỢNG, THỜI GIAN VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU…… 13
2.2 VẬT LIỆU NGHIÊN CỨU ……… 13
2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ……… 14
Trang 52.3.1 Phương pháp điều tra, khảo sát, nghiên cứu thực địa ………… … 14
2.3.2 Phương pháp phân tích không gian ……… ….… 15
2.4 QUY TRÌNH XỬ LÝ SỐ LIỆU ……….….… …… 16
2.4.1 Chọn đối tượng giải đoán ……… ….…… 16
2.4.2 Giải đoán ảnh và lập bản đồ ……… … …….…… … 17
2.4.3 Nhập dữ liệu ……… ……… ….….…… 17
2.4.4 Xử lí số liệu ……… 17
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ………… ……… 19
3.1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI XÃ HƯƠNG SƠN 19 3.1.1 Điều kiện tự nhiên ……… ……… 19
3.1.1.1 Vị trí địa lí ……… ……… 19
3.1.1.2 Đặc điểm cấu trúc và địa chất đá mẹ ……….… 19
3.1.1.3 Đặc điểm địa hình, địa mạo ……… 20
3.1.1.4 Khí hậu – Thủy văn ……….……… 25
3.1.1.5 Đặc điểm thổ nhưỡng ……… …….…… 25
3.1.1.6 Đặc điểm thực vật ……… ……….………… 26
3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội……… ………… ……… 27
3.1.3 Hoạt động du lịch và lễ hội ……… ……… 30
3.2 NGHIÊN CỨU, ĐÁNH GIÁ BIẾN ĐỘNG LỚP PHỦ THỰC VẬT XÃ HƯƠNG SƠN - HUYỆN MỸ ĐỨC - HÀ NỘI 31
3.2.1 Xây dựng bản đồ hiện trạng lớp phủ thực vật và ma trận biến động các loại lớp phủ qua các giai đoạn ……… 31
3.2.2 Hiện trạng lớp phủ thực vật xã Hương Sơn, Mỹ Đức, Hà Nội năm 2000 ……… ……… … 36
Trang 63.2.3 Hiện trạng lớp phủ thực vật xã Hương Sơn, Mỹ Đức, Hà Nội
năm 2006 ……….………… ……… 44
3.2.4 Hiện trạng lớp phủ thực vật xã Hương Sơn, Mỹ Đức, Hà Nội năm 2009 ……….……… 51
3.2.5 Biến động lớp phủ thực vật xã Hương Sơn qua các giai đoạn …… 63
3.2.6 Nguyên nhân gây ra biến động lớp phủ thực vật ……… 81
3.2.7 Đề xuất một số giải pháp làm tăng tỉ lệ che phủ rừng ……….… 83
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ……… …… 91
KẾT LUẬN ……… …… 91
KIẾN NGHỊ ……….…… 92
TÀI LIỆU THAM KHẢO ……… ………… 93 PHỤ LỤC
Trang 72000 – 2006 ……… 65 Bảng 3.6 Sự biến động diện tích lớp phủ thực vật xã Hương Sơn giai đoạn
Bảng 3.7 Biến đổi diện tích rừng nhiệt đới mưa mùa thường xanh cây
lá rộng phát triển trên sườn núi đá vôi giai đoạn 2000 – 2006… ………… 68 Bảng 3.8 Biến đổi diện tích rừng nhiệt đới mưa mùa thường xanh cây
lá rộng phát triển trên sườn núi đá vôi giai đoạn 2006 – 2009……… 69 Bảng 3.9 Biến đổi diện tích rừng thưa, trảng cây bụi và gỗ nhỏ giai đoạn
2000 – 2006 ……….……… 69 Bảng 3.10 Biến đổi diện tích rừng thưa, trảng cây bụi và gỗ nhỏ giai đoạn
2006 – 2009……… ……… 71 Bảng 3.11 Biến đổi diện tích trảng cỏ giai đoạn 2000 – 2006……… 72 Bảng 3.12 Biến đổi diện tích trảng cỏ giai đoạn 2006 – 2009…….……… 73 Bảng 3.13 Biến đổi diện tích rừng trồng giai đoạn 2000 – 2006………… 76 Bảng 3.14 Biến đổi diện tích thảm thực vật thủy sinh và ngập nước giai
đoạn 2006 – 2009……… ……….… 78
Trang 8DANH MỤC HÌNH VẼ VÀ BẢN ĐỒ
Trang
Hình 2.1 Phương pháp lập bản đồ trên cơ sở thông tin viễn thám………… 18 Hình 3.1 Vị trí xã Hương Sơn, huyện Mỹ Đức, Hà Nội 19 Hình 3.2 Rừng rậm nhiệt đới mưa mùa thường xanh cây lá rộng phát triển
ở thung lũng và chân núi đá vôi ……… 37
Hình 3.5 Trảng cỏ phát triển trên sườn núi đá vôi.……… 39 Hình 3.6 Bản đồ hiện trạng lớp phủ thực vật xã Hương Sơn năm 2000 … 40 Hình 3.7 Thảm thực vật thủy sinh và ngập nước ……… 41 Hình 3.8 HST rừng trên núi đất ……… 47 Hình 3.9 Cây trồng trên núi đất 47 Hình 3.10 Bản đồ hiện trạng lớp phủ thực vật xã Hương Sơn – Mỹ Đức –
Hà Nội năm 2006 49 Hình 3.11 Rừng rậm nhiệt đới mưa mùa thường xanh cây lá rộng phát triển
ở thung lũng và chân núi đá vôi 51 Hình 3.12 Rừng nhiệt đới mưa mùa thường xanh cây lá rộng phát triển
trên sườn núi đá vôi ……… ……… 53 Hình 3.13 Hiện trạng chung lớp phủ xã Hương Sơn năm 2009 ………… 53 Hình 3.14 Rừng thưa, trảng cây bụi và gỗ trên các đỉnh núi đá vôi, sườn
vách núi có độ dốc lớn ……… 54 Hình 3.15 Trảng cỏ trên sườn núi đá vôi……… 55 Hình 3.16 Rừng trồng Xoan ta và Tràm úc……… 57
Trang 9Hình 3.17 Tre nứa được trồng quanh khu vực đường lên Hinh Bồng …… 57 Hình 3.18 Hệ thực vật ven bờ suối Tuyết Sơn 59 Hình 3.19 Thảm thực vật thủy sinh và ngập nước ở suối Yến……… 59 Hình 3.20 Bản đồ hiện trạng lớp phủ thực vật xã Hương Sơn – Mỹ Đức
– Hà Nội năm 2009 ……….… 59 Hình 3.21 Khu vực canh tác 1 vụ lúa, 1 vụ nuôi thủy sản………… … 61 Hình 3,22 Khu vực canh tác lúa 2 vụ……… 61 Hình 3.23 Nhà nghỉ và hàng quán dịch vụ trong khu dân cư……… 62 Hình 3.24 Sơ đồ tóm tắt quá trình diễn thế của thảm thực vật Hương Sơn… 63 Hình 3.25 Bản đồ biến động diện tích lớp phủ thực vật xã Hương Sơn – Mỹ Đức – Hà Nội, giai đoạn 2000 – 2006 ……… 66 Hình 3.26 Sự biến động diện tích rừng rậm nhiệt đới mưa mùa thường
xanh cây lá rộng phát triển ở thung lũng và chân núi đá vôi……… 66 Hình 3.27 Sự biến động diện tích rừng nhiệt đới mưa mùa thường xanh
cây lá rộng phát triển trên sườn núi đá vôi ……… 67 Hình 3.28 Tỉ lệ biến động diện tích rừng nhiệt đới mưa mùa thường xanh
cây lá rộng phát triển trên sườn núi đá vôi giai đoạn 2000 – 2006……… 68 Hình 3.29 Sự biến động diện tích rừng thưa, trảng cây bụi và gỗ nhỏ phát
triển trên các đỉnh núi đá vôi hoặc ở sườn vách núi có độ dốc lớn …… 70 Hình 3.30 Tỉ lệ biến động diện tích rừng thưa, trảng cây bụi và gỗ nhỏ
phát triển trên sườn và vách núi đá vôi giai đoạn 2000 – 2006 ………… 70 Hình 3.31 Tỉ lệ biến động diện tích rừng thưa, trảng cây bụi và gỗ nhỏ
phát triển trên sườn và vách núi đá vôi giai đoạn 2006 – 2009 ……… 71 Hình 3.32 Sự biến động diện tích trảng cỏ ……….……… 72
Trang 10Hình 3.33 Tỉ lệ biến động diện tích trảng cỏ phát triển trên sườn và vách
núi đá vôi giai đoạn 2000 – 2006 ……… 73 Hình 3.34 Tỉ lệ biến động diện tích trảng cỏ phát triển trên sườn và vách
núi đá vôi giai đoạn 2006 – 2009……….….…… 74 Hình 3.35 Bản đồ biến động diện tích lớp phủ thực vật xã Hương Sơn
– Mỹ Đức – Hà Nội giai đoạn 2006 – 2009 ……….……… 74 Hình 3.36 Biến động diện tích rừng thưa, trảng cây bụi trên núi đất …… 75 Hình 3.37 Biến động diện tích rừng trồng ……… …… 76 Hình 3.38 Tỉ lệ biến động diện tích rừng trồng giai đoạn 2000 – 2006 … 77 Hình 3.39 Biến động diện tích thảm thực vật thủy sinh … ……… 77 Hình 3.40 Tỉ lệ biến động diện tích thảm thực vật thủy sinh và ngập nước
giai đoạn 2006 – 2009 ……… 79
Trang 11MỞ ĐẦU
Hương Sơn là tên gọi quen thuộc, lâu đời của nhân dân Việt Nam để chỉ một cụm di tích gồm nhiều chùa chiền, đền miếu khác nhau thuộc xã Hương Sơn, huyện
Mỹ Đức, Hà Nội (thuộc tỉnh Hà Tây cũ) Cùng với các dòng suối, hang động, nhũ
đá, núi non, … tạo hóa không những đã ban tặng cho Hương Sơn một vẻ đẹp đến
mê hoặc lòng người mà còn ưu ái cho vùng đất này với nguồn TNTN phong phú đa dạng với tài nguyên sinh học, tài nguyên động thực vật, tài nguyên rừng …
Trong những năm qua, ở nước ta đã có một số nghiên cứu về các chính sách phát triển rừng của Nhà nước, những tác động của các chính sách đến tài nguyên rừng, các phương thức quản lý nguồn tài nguyên rừng của các cộng đồng dân cư, dân tộc khác nhau Tuy nhiên mới chỉ là các con số thống kê, không chỉ ra được các thay đổi trên bản đồ Việc nghiên cứu toàn diện sự thay đổi thảm thực vật do các chính sách giao đất giao rừng của Nhà nước thực hiện ở các địa phương vẫn chưa
có một phương pháp và quy trình cụ thể, đồng bộ và có hiệu quả cao Sự thay đổi lớp phủ rừng do tác động của quá trình phát triển kinh tế - xã hội có ảnh hưởng rất lớn đến môi trường như thay đổi các chu trình sinh thái, tính đa dạng của tài nguyên sinh vật, tăng nguy cơ xói mòn, thoái hóa đất Trong số các tác động thì phá rừng là yếu tố gây ảnh hưởng nghiêm trọng, lâu dài và mạnh mẽ nhất
Đã có nhiều công trình nghiên cứu về khu hệ thực vật Hương Sơn Nơi đây không chỉ là vùng núi đá vôi mà còn có sông, suối, làng mạc, … Chính sự đa dạng
về sinh cảnh, hiểu rộng hơn là sự đa dạng về các HST đã tạo cho Hương Sơn một hệ thực vật vừa có số lượng loài lớn, vừa rất phong phú về dạng sống, đặc biệt còn là nơi lưu giữ nhiều nguồn gen quý hiếm có trong Sách Đỏ Việt Nam và Nghị định 32/CP của Chính phủ
Hương Sơn có trong danh lục các khu RĐD Việt Nam đến năm 2010 được xây dựng bởi Cục Kiểm lâm – Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, với diện tích 4.355 ha (Cục Kiểm lâm, 2003) RĐD Hương Sơn phải đối mặt với những thách thức như: biến đổi khí hậu, sử dụng tài nguyên chưa hợp lí, sức ép du lịch, …
Trang 12Với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học vũ trụ thì ảnh viễn thám cũng đã xuất hiện và ngày càng tỏ rõ tính ưu việt trong công tác điều tra quản lí tài nguyên, đặc biệt là sự xuất hiện của các tư liệu viễn thám mới như SPOT, IKONOS, LANDSAT, ASTER, … đây là những ảnh viễn thám có độ phân giải không gian và phân giải phổ cao Một số tư liệu viễn thám còn có khả năng chụp lập thể, đặc biệt
là có thể cập nhật thông tin nhanh chóng thông qua việc thu nhận và xử lí ảnh vệ tinh ở nhiều thời điểm khác nhau, tạo thành ảnh đa thời gian ở dạng số, là sản phẩm
dễ dàng sử dụng trong các phần mềm phân tích ảnh hiện đại và có khả năng tích hợp thuận tiện trong hệ thông tin địa lý GIS
Nhận thức được tầm quan trọng của sự thay đổi lớp phủ thực vật với sự thay đổi khí hậu và chất lượng cuộc sống, đồng thời với mong muốn áp dụng phương pháp mới, có hiệu quả trong đánh giá và quản lý tài nguyên rừng, tôi thực hiện đề
tài: “Đánh giá biến động lớp phủ thực vật xã Hương Sơn – huyện Mỹ Đức – Hà
3 Đề xuất một số giải pháp làm tăng tỉ lệ che phủ rừng
- Ý nghĩa của đề tài nghiên cứu:
+ Ý nghĩa khoa học:
Luận văn ứng dụng công nghệ viễn thám và hệ thông tin địa lý GIS để đánh giá biến động lớp phủ thực vật qua việc phân tích không gian và mối quan hệ của các nhân tố địa hình, thủy văn, thổ nhưỡng, thực vật và con người tại Hương Sơn
+ Ý nghĩa thực tiễn:
Đánh giá biến động lớp phủ thực vật và các tác động gây biến đổi lớp phủ rừng từ đó đề xuất một số giải pháp làm tăng tỉ lệ che phủ rừng
Trang 13CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC
1.1.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Thảm thực vật có vai trò to lớn trong đời sống của con người Một mặt, nó cung cấp cho ta các loại nguyên liệu và các sản phẩm khác nhau như: gỗ, thức ăn cho gia súc, nguyên liệu làm thuốc, cây công nghiệp, quả và hạt… Mặt khác, nó có vai trò to lớn trong chu trình vật chất tự nhiên, trong việc bảo vệ con người tránh được các thiên tai xảy ra như: lũ lụt, gió bão; bảo vệ đất khỏi bị rửa trôi, điều hòa khí hậu và chế độ nước trên mặt đất Sự thay đổi trạng thái lớp phủ thực vật ảnh hưởng mạnh mẽ đến ĐDSH trên Trái Đất Do vậy, biến đổi đất và lớp phủ rừng là một trong những vấn đề môi trường mang tính toàn cầu và được rất nhiều nhà khoa học trên thế giới quan tâm nghiên cứu
Từ sau năm 1972, ngay khi có được những bức ảnh của vệ tinh Landsat, nhiều quốc gia đã thử nghiệm và sử dụng chúng cho việc lập bản đồ rừng và các hoạt động quan trắc Trong Hội nghị về quan sát rừng thế giới (World Forest Watch) tại Brazil năm 1992, các nhà khoa học đã tập trung đánh giá về các tiếp cận trong quan trắc bằng vệ tinh và đưa ra kết luận rằng, viễn thám là sự tiến bộ về phương pháp và công nghệ có khả năng đáp ứng được hệ thống giám sát phù hợp cả
về mặt khoa học cũng như những yêu cầu về công tác quản lý lớp phủ rừng ở các quốc gia
Nhiều dự án đã được nghiên cứu về những phương thức khác nhau của biến đổi sử dụng đất và lớp phủ thực vật ở các quy mô không gian khác nhau, từ quy mô toàn cầu đến các quy mô vùng địa phương, như: dự án TREES (The Tropical Ecosystem Environment Observations by Satellites) tại châu Âu, do Viện ứng dụng không gian thuộc Trung tâm nghiên cứu hội nhập Ý thực hiện năm 1993; dự án về biến đổi sử dụng đất và lớp phủ LUCC (Land-use and Land-cover Change) được triển khai trong giai đoạn 1993 – 2005, lấy các khu vực nghiên cứu điểm ở Thái Lan, Maylaysia, Indonesia và Philippin
Trang 14Nhiều nghiên cứu khác cũng đã được thực hiện ở các vùng khác nhau trên thế giới như: vùng ôn đới, nhiệt đới và á nhiệt đới, song sự hiểu biết về vấn đề sử dụng đất, đặc biệt là với các nước đang phát triển ở vùng nhiệt đới
1.1.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
Trong các thập kỷ trước đây, Việt Nam là nước có tỉ lệ phá rừng cao (FAO, 1993) nhưng từ cuối những năm 90 trở lại đây, Việt Nam là nước có tỉ lệ trồng rừng cao Theo Gomiero và cộng sự (2000), McElwee (2004), tình trạng phá rừng trái phép vẫn diễn ra ở Việt Nam trong thập kỷ 90 và các chương trình trồng rừng của chính phủ kém hiệu quả Phá rừng được nhìn nhận là một trong những nhân tố chính ảnh hưởng đến quá trình phát triển tại các vùng miền núi của Việt Nam (Jamieson và cộng sự, 1998)
Độ che phủ rừng của Việt Nam thấp nhất trong khoảng thời gian cuối thập
kỷ 80 đến đầu thập kỷ 90, độ che phủ là 25% và chỉ đạt 17% ở vùng núi phía Bắc (Meyfroidt và Lambin 2007, 2008) Ngoài các nghiên cứu của các tác giả nước ngoài về tình trạng rừng của Việt Nam, các nghiên cứu trong nước tập trung vào công tác điều tra, thống kê
Việc điều tra, theo dõi, đánh giá và phân tích sự thay đổi lớp phủ thảm thực vật là một trong những nhiệm vụ đầu tiên của công tác bảo vệ và phát triển rừng Nhiều dự án và chương trình đã được thực hiện nhằm đánh giá và đưa ra một bức tranh tổng thể về sự biến đổi và suy giảm lớp phủ rừng ở Việt Nam, điển hình như:
Dự án “Ứng dụng công nghệ viễn thám và GIS xác định hiện trạng đất phục vụ kiểm kê đất đai” do Trung tâm Viễn thám của Bộ Tài nguyên và Môi trường chủ trì
và chương trình “Sử dụng hợp lý Tài nguyên và Bảo vệ môi trường” mã số KHCN
07
Đề tài “Nghiên cứu biến động lớp phủ thực vật tại xã Hương Sơn - huyện
Mỹ Đức - Hà Nội” nghiên cứu lớp phủ thực vật tại một khu vực có RĐD để kiểm
chứng xu hướng biến động tại một địa điểm nghiên cứu có phù hợp với xu hướng chung của toàn quốc, toàn vùng hay không Đồng thời đánh giá sự biến động, chỉ ra
Trang 15nguyên nhân gây biến động từ đó đưa ra những giải pháp nhằm bảo vệ và phát triển lớp phủ thực vật rừng nơi đây
1.1.3 Nghiên cứu về thảm thực vật Hương Sơn
Rừng Hương Sơn được phát triển trên nền núi đá vôi khô cằn và độ mùn rất thấp Sự tồn tại của thảm thực vật rừng tại đây thật mỏng manh và nếu bị khai thác kiệt thì rất khó phục hồi
Vì vậy, bảo vệ rừng nói chung, các loại thảm thực vật ở Hương Sơn nói riêng
là rất cần thiết và đã được các cấp chính quyền địa phương, cơ quan khoa học Trung ương quan tâm từ lâu
Năm 1991, theo Báo cáo về điều tra khảo sát, đánh giá tài nguyên sinh vật ở Hương Sơn của Viện Khoa học Việt Nam (nay là Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam) có 4 kiểu thảm thực vật trên cạn:
- Rừng rậm nhiệt đới mưa mùa thường xanh cây lá rộng phát triển ở thung lũng và chân núi đá vôi
- Rừng nhiệt đới mưa mùa thường xanh cây lá rộng phát triển trên sườn núi
đá vôi
- Rừng thưa, trảng cây bụi và gỗ nhỏ phát triển trên các đỉnh núi đá vôi hoặc ở sườn vách núi có độ dốc lớn
- Rừng trồng
Ngoài ra, Hương Sơn còn có kiểu thảm thực vật thủy sinh và ngập nước
Về hệ thực vật đã thống kê được 550 loài thuộc 190 họ của 6 ngành thực vật bậc cao có mạch
Năm 2005, Viện Quy hoạch Đô thị - Nông thôn (Bộ xây dựng) hoàn thành báo cáo “Báo cáo kết quả nghiên cứu chuyên đề rừng đặc dụng Hương Sơn – Mỹ Đức – Hà Tây” đã công bố 665 loài thuộc 149 họ thực vật bậc cao có mạch; và 3 kiểu thảm thực vật:
Trang 16- Kiểu phụ rừng nguyên sinh nghèo trên đất kiệt nước núi đá vôi xương xẩu bị tác động trung bình
- Kiểu phụ rừng thứ sinh nghèo kiệt trên đất kiệt nước núi đá vôi xương xẩu bị tác động mạnh đã thoái hóa
- Kiểu phụ rừng thứ sinh nhân tạo trồng trên đất núi đá vôi kiệt nước xương xẩu
Năm 2007, Trung tâm Địa môi trường và Tổ chức lãnh thổ đưa ra báo cáo:
“Điều tra, nghiên cứu đánh giá đa dạng thực vật khu vực Hương Sơn, trên cơ sở đề xuất các giải pháp bảo vệ, khai thác hợp lí tài nguyên thiên nhiên” đã thống kê được
823 loài, 540 chi thuộc 182 họ của 6 ngành thực vật bậc cao có mạch Và 6 kiểu trạng thái thảm thực vật trên cạn, 1 kiểu trạng thái thủy sinh – ngập nước:
- Rừng rậm nhiệt đới mưa mùa thường xanh cây lá rộng phát triển ở thung lũng và chân núi đá vôi
- Rừng nhiệt đới mưa mùa thường xanh cây lá rộng phát triển trên sườn núi
đá vôi
- Rừng thưa, trảng cây bụi và gỗ nhỏ phát triển trên các đỉnh núi đá vôi hoặc ở sườn vách núi có độ dốc lớn
- Trảng cỏ phát triển trên sườn, vách núi đá vôi
- Rừng thưa, trảng cây bụi trên núi đất
- Rừng trồng
- Thảm thực vật thủy sinh và ngập nước
Năm 2011, Công ty Tư vấn Đầu tư và Phát triển Lâm nghiệp - Trường Đại học Lâm Nghiệp hoàn thành báo cáo kết quả công trình: “Đánh giá tính đa dạng sinh học và đề xuất một số giải pháp quản lý, bảo tồn và phát triển bền vững rừng đặc dụng Hương Sơn – Hà Nội” (TS Nguyễn Minh Thanh chủ nhiệm công trình)
đã công bố rừng đặc dụng Hương Sơn là kiểu rừng nhiệt đới thường xanh mưa mùa đai thấp (ở miền Bắc Việt Nam) với kiểu phụ thổ nhưỡng chính là: Rừng nhiệt đới
Trang 17thường xanh trên đất kiệt nước núi đá vôi xương xẩu Kiểu rừng này trước kia bị ảnh hưởng và tác động mạnh mẽ của con người và nhiều nhân tố khác đã hình thành các kiểu phụ sau:
- Kiểu phụ rừng thứ sinh trên đất kiệt nước núi đá vôi bị tác động trung bình
- Kiểu phụ rừng thứ sinh nghèo kiệt trên đất kiệt nước núi đá vôi xương xẩu bị tác động mạnh
- Kiểu phụ rừng thứ sinh nhân tạo trồng trên đất núi đá vôi kiệt nước xương xẩu
- Kiểu thảm thực vật thủy sinh và ngập nước
Như vậy, việc nghiên cứu thảm thực vật và hệ thực vật Hương Sơn đã được quan tâm Tuy nhiên, do sự biến đổi và chịu nhiều tác động theo thời gian nên quá trình diễn thế của thảm thực vật Hương Sơn diễn ra liên tục và khá phức tạp, trong
đó diễn thế thứ sinh nhân tác chiếm vai trò chủ yếu và làm cho diện tích các loại thảm thực vật trong khu vực này có nhiều thay đổi; cũng như chưa có sự thống nhất trong việc phân chia thảm thực vật Vì vậy, việc nghiên cứu đặc điểm trạng thái rừng và sự biến động các kiểu thảm thực vật trong khu vực là cần thiết, nhằm đánh giá độ đa dạng thảm thực vật Hương Sơn, nguyên nhân và xu hướng biến động thảm thực vật góp phần làm cơ sở đề xuất những giải pháp bảo tồn và phát triển hệ
thực vật nơi đây
1.2 ỨNG DỤNG GIS VÀ VIỄN THÁM TRONG NGHIÊN CỨU SINH THÁI HỌC
1.2.1 Hệ thông tin địa lý – GIS
GIS (Geographic Information Systems) là công nghệ xử lý dữ liệu không gian Hệ thống thông tin địa lý – GIS là một tổ chức tổng thể của bốn hợp phần: phần cứng máy tính, phần mềm, tư liệu địa lý và người điều hành được thiết kế hoạt động một cách có hiệu quả nhằm tiếp cận, lưu trữ, điều khiển, phân tích và hiển thị toàn bộ các dữ liệu địa lý [3]
Trang 18Trong những năm gần đây, GIS đã phát triển và được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau từ quy mô địa phương đến quy mô toàn cầu Phạm vi nghiên cứu của GIS mang tính chất đa ngành và là chất xúc tác cho sự hình thành những khảo hướng liên ngành GIS đã tạo ra một hướng phát triển mới của tin học, tạo ra các bản đồ số hóa hấp dẫn và giúp tạo ra những những công cụ thiết yếu cho quản
lý tổng hợp tài nguyên và môi trường [3]
Từ khi hình thành, GIS đã trở nên quan trọng và rất cần thiết trong việc quản
lý, giám sát TNTN bao gồm điều tra, giám sát tài nguyên đất, tài nguyên nước, điều tra, giám sát môi trường, quy hoạch sử dụng đất, đánh giá biến động lớp phủ rừng, trong công tác thủy lợi GIS được sử dụng trong quan trắc vùng ven sông, dự báo xói
lở, biến động lòng hồ, lòng sông, cảnh báo lũ, đánh giá rủi ro thiên nhiên
Dữ liệu không gian của GIS có 2 loại chính là raster và vector Raster sử
dụng các ô để thể hiện sự vật có thực trên thế giới Các ô này được gắn với giá trị bằng số để thể hiện sự vật thực trên thế giới Ví dụ một ô có số 353 có thể đại diện cho đầm lầy, núi, sông hoặc bất kỳ hiện tượng vật lý nào trên trái đất mà GIS có thể
mô tả được Vector thể hiện thế giới bằng các điểm, đường, thẳng, vùng Loại vector cho cái nhìn trực quan, loại raster nhìn giống như các trang Excel, tuỳ thuộc vào từng nghiên cứu mà sử dụng loại nào hay kết hợp cả 2 loại, ví dụ để phân tích địa hình, địa thế cho một khu vực thì vector phù hợp hơn, nhưng raster lại phù hợp với việc chồng xếp các lớp bản đồ
Ở Hoa Kỳ, từ khi GIS được chấp nhận thì nó đã nhanh chóng được các nhà STH quan tâm và sử dụng trong các nghiên cứu của mình Tổ chức Khoa học Quốc gia Hoa Kỳ (NSF) đã thúc đẩy việc sử dụng GIS vào STH bằng việc tài trợ cho các lớp tập huấn và các thiết bị GIS thông qua Chương trình Nghiên cứu sinh thái và Trung tâm phương tiện Sinh học lâu dài [3]
Hàng loạt hội nghị quốc tế về hội nhập GIS và mô hình môi trường đã được diễn ra dưới sự bảo hộ của Trung tâm Quốc gia về Thông tin và Phân tích Địa lý Hoa Kỳ là mấu chốt trong sự thay đổi các kiến thức và ý tưởng của việc ứng dụng GIS trong STH [3]
Trang 19Trong suốt 20 năm qua, các nước công nghiệp phát triển và các tổ chức quốc
tế đã sử dụng kỹ thuật GIS chủ yếu trong lĩnh vực quản lý và bảo vệ môi trường Tại Hội nghị những người sử dụng ARC/INFO (một phần mềm chuyên dụng về GIS, hiện được tích hợp trong ArcGIS của hãng ESRI) năm 1992, các nhà khoa học
đã nhất trí rằng để bảo vệ môi trường một cách bền vững và hạn chế những suy thoái đang diễn ra, cần thiết phải ưu tiên đưa GIS vào ứng dụng trong lĩnh vực nghiên cứu và quy hoạch sản xuất nông lâm nghiệp, bằng cách này có thể tìm kiếm những mô hình sử dụng đất bền vững nhằm xoá đi hoặc giảm bớt những hiểm hoạ đối với môi trường tự nhiên và với loài người (như tình trạng phá rừng để canh tác, tình trạng xói mòn và suy thoái đất đai, tình trạng ô nhiễm môi trường…) Do vậy tiềm năng ứng dụng GIS trong định hướng sản xuất nông lâm nghiệp đã được mở rộng và ngày càng tỏ ra hiệu quả, trở thành một công cụ hỗ trợ ra quyết định đối với các nhà STH, các chuyên gia quy hoạch và nhà quản lý
1.2.2 Vai trò của GIS trong nghiên cứu sinh thái
Trong nghiên cứu STCQ, GIS có 6 chức năng quan trọng chính sau (Stow, 1993):
- Cấu trúc cơ sở dữ liệu để lưu giữ, trình bày, phân tích, mô hình hóa và hiển thị các dữ liệu HST trong một vùng rộng (Ricketts, 1992)
- Trình bày các dữ liệu HST từ các tỷ lệ khác nhau thành một cấu trúc có trật
tự (Raynal et al., 1996); (Hansen, 1996)
- Phân tích không gian và phân tích thống kê của những phân bố STH, ví dụ: biến động thảm thực vật và biến động sử dụng đất, ảnh hưởng của động vật hoang dã lên thảm thực vật, mô tả các nơi ở Những thông tin có được từ những phân tích này thường dùng để quan trắc và so sánh các chỉ thị môi trường (Goossens et al., 1993) hoặc để kiểm tra tính hiệu lực của mức độ bảo tồn hiện có (Bushing, 1997)
- Tích hợp viễn thám (Robin, 1995)
- Mô hình hóa (Steyaert & Goodchild, 1994)
Trang 20Ứng dụng GIS với nhiều loại ảnh vệ tinh khác nhau cùng với các công cụ phần mềm hỗ trợ đã tạo được một bước tiến mới về quy trình thành lập bản đồ Việc kết hợp ứng dụng các phần mềm xử lí ảnh và các phần mềm GIS sẽ là một công cụ hữu hiệu trong việc đoán đọc và điều vẽ ảnh vệ tinh đồng thời rút ngắn thời gian và nâng cao độ chính xác cho việc thành lập bản đồ và phân tích thông tin địa lý
1.2.3 Viễn thám (Remote sensing – RS)
Viễn thám là khoa học thu nhận thông tin phản ánh về vật thể mà không tiếp xúc trực tiếp với vật thể đó [13] Từ khi ra đời, viễn thám đã và đang trở nên một phương pháp nghiên cứu rất có hiệu quả bởi những ưu thế của nó Phương pháp viễn thám và GIS được kế thừa các phương pháp truyền thống trước đó như điều tra
đo đạc, mô tả mặt đất và từ đó hoàn thiện cao hơn bằng máy bay, tàu vũ trụ và vệ tinh Cùng với sự tiến bộ của khoa học máy tính và khoa học địa lý đã mở ra các ứng dụng mới của viễn thám như: quản lý, giám sát các loại tài nguyên, theo dõi biến động tài nguyên, biến động lớp phủ thực vật, thành lập bản đồ rừng ngập mặn đáp ứng ngày càng cao và đa dạng của các mục đích sử dụng
ưu việt của viễn thám đối với nhiều lĩnh vực ứng dụng khác nhau
Trang 211.2.5 Viễn thám và GIS trong thành lập bản đồ lớp phủ thực vật
Công nghệ viễn thám là một phần của công nghệ vũ trụ, tuy mới phát triển nhưng đã nhanh chóng được áp dụng trong nhiều lĩnh vực và được phổ biến rộng rãi
ở các nước phát triển Công nghệ viễn thám đã trở thành phương tiện chủ đạo cho công tác giám sát TNTN và môi trường ở cấp độ từng nước, từng khu vực và trong phạm vi toàn cầu Khả năng ứng dụng công nghệ viễn thám ngày càng được nâng cao, đây là lý do dẫn đến tính phổ cập của công nghệ này
Công nghệ viễn thám hiện nay đã được các nhà STH và các nhà quản lí tài nguyên sử dụng ngày càng rộng rãi và đã trở thành một công cụ có giá trị to lớn
Công cụ viễn thám và GIS với các phần mềm có chức năng phân tích, xử lý
dữ liệu nhanh ngày càng được ứng dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực khác nhau Trong những năm gần đây, GIS được sử dụng như một công cụ đắc lực trong công tác nghiên cứu, quản lý, khai thác cũng như bảo vệ môi trường Các bản đồ quy hoạch, bản đồ xói mòn đất tiềm năng, bản đồ hiện trạng rừng, hiện trạng giao thông.v.v… có thể được thành lập bằng công cụ GIS
Nhìn chung, dữ liệu ảnh viễn thám thuận tiện cho việc thành lập bản đồ lớp phủ mặt đất, tạo các bản đồ chỉ số như chỉ số thực vật Dựa vào độ phân giải thời gian của ảnh ta có thể nhận ra biến động lớp phủ mặt đất Sản phẩm của dữ liệu viễn thám, kết hợp với dữ liệu GIS nhằm tạo ra thông tin hữu ích cho việc đánh giá, trợ giúp quyết định liên quan đến tài nguyên thiên nhiên nói chung và lớp phủ thực vật nói riêng
Ở Việt Nam, nhiều công trình nghiên cứu đã ứng dụng viễn thám trong công tác quy hoạch, giám sát biến động TNTN và được đánh giá cao như: Chương trình quy hoạch tổng thể phát triển Tây Nguyên (1982-1993); Nghiên cứu biến động rừng ngập mặn Cà Mau (1985); Dự án thành lập bản đồ sử dụng đất đầu nguồn sông Mê Kông (1986-1987) – UB Mê Kông; Dự án áp dụng viễn thám theo dõi biến động các khu bảo tồn tự nhiên (1991-1995) – WWF…
Trang 22Không những được sử dụng để điều tra và thành lập bản đồ các HST, bản đồ
sử dụng đất, bản đồ lớp phủ thực vật, nghiên cứu và theo dõi các hiện tượng thiên tai như: ngập lụt, cháy rừng, tai biến địa chất mà ảnh vệ tinh đa thời gian đã được
sử dụng như một công cụ hữu hiệu nhất để khảo sát biến động của nhiều hợp phần môi trường thiên nhiên như: biến động rừng ngập mặn, diễn biến rừng, biến động lớp phủ thực vật, biến động bờ biển, lòng sông Từ đó đánh giá sự biến động, tìm hiểu nguyên nhân làm biến động, xu hướng biến động và đưa ra các hướng phục hồi HST rừng, bảo vệ TNTN và ĐDSH
Tuy nhiên, bên cạnh những ưu thế nổi bật, phương pháp viễn thám và GIS vẫn có những hạn chế nhất định như: đầu tư khá lớn, cần đầu tư cả trang thiết bị kỹ thuật cũng như đào tạo đội ngũ cán bộ, mức độ chi tiết của thông tin có giới hạn nhất định Vì vậy, việc áp dụng phương pháp này trong chừng mực nào đó còn phụ thuộc vào khả năng kinh tế, kỹ thuật cũng như yêu cầu mức độ chất lượng thông tin
để từ đó đưa ra các giải pháp về kinh tế, kỹ thuật cho phù hợp với các lĩnh vực chuyên môn khác nhau
Trang 23CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 ĐỐI TƯỢNG, THỜI GIAN VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
- Đối tượng nghiên cứu là lớp phủ thực vật xã Hương Sơn – huyện Mỹ Đức –
Hà Nội
- Thời gian nghiên cứu:
Đề tài được triển khai từ tháng 10 năm 2010 đến tháng 11 năm 2012 Các đợt điều tra, khảo sát thực địa được tiến hành trong 3 đợt:
Nguồn tài liệu gồm:
1, Ảnh Landsat xã Hương Sơn năm 2000, độ phân giải không gian 30m
Trang 242, Ảnh IKONOS xã Hương Sơn năm 2006, độ phân giải không gian 0,6m
3, Bản đồ hiện trạng rừng xã Hương Sơn năm 2009 tỷ lệ 1: 35 000, các nghiên cứu động, thực vật trước đây, bản đồ địa hình, bản đồ thủy văn,
2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.3.1 Phương pháp điều tra, khảo sát, nghiên cứu thực địa
* Điều tra thực địa
Phương pháp này được thực hiện trong quá trình triển khai nhiệm vụ, kết hợp các dữ liệu, thông tin để làm cơ sở giải đoán
Công việc thực địa bao gồm: Thu thập số liệu, sử dụng máy định vị GPS để kiểm chứng kết quả xử lí ảnh
- Lên kế hoạch đi thực địa Mục đích của các chuyến đi thực địa là đánh giá
và kiểm tra độ chính xác kết quả giải đoán, dùng GPS và chụp ảnh để lấy mẫu thảm thực vật đặc trưng và chưa chính xác để chỉnh sửa lại kết quả phân loại chưa chính xác trước đó Ngoài ra, các chuyến đi thực địa còn nhằm thu thập số liệu và các thông tin cần thiết về tình hình quản lí sử dụng tài nguyên thông qua gặp gỡ cán bộ cấp huyện, xã
- Các số liệu về tài nguyên động thực vật, tình hình khai thác, sử dụng và bảo
vệ rừng còn được tìm hiểu thông qua phỏng vấn người dân địa phương, cán bộ quản
lí RĐD Hương Sơn bằng những câu hỏi gợi mở, đơn giản
- Các yếu tố tự nhiên có ảnh hưởng đến sự hình thành và thay đổi lớp phủ thực vật khu vực nghiên cứu như: vị trí địa lí, địa hình, khí hậu, thủy văn, đất đai, các quần xã thực vật chủ yếu, tác động của động vật và con người lên các điều kiện
tự nhiên
* Điều tra kinh tế xã hội
Kế thừa các số liệu trong báo cáo về phát triển kinh tế - xã hội của UBND xã Hương Sơn Trong đó lưu ý đến những vấn đề có ảnh hưởng đến quá trình diễn thế của thảm thực vật và diện tích rừng như: chất lượng đời sống và thu nhập của nhân
Trang 25dân, các hoạt động sản xuất, hoạt động du lịch, tình hình khai thác và bảo vệ rừng, trình độ dân trí của người dân và nhận thức của du khách, công tác giáo dục, …
Tiến hành điều tra, đánh giá các điều kiện tự nhiên, KTXH, công tác quản lí, các hoạt động phát triển và khai thác môi trường và sự tiếp cận của người dân với rừng
2.3.2 Phương pháp phân tích không gian
* Phương pháp xử lí tài liệu viễn thám:
Sử dụng các tư liệu viễn thám để nghiên cứu, đánh giá tổng quát khu vực nghiên cứu, xác định ranh giới các HST và các thảm thực vật khu nghiên cứu
Các thông tin của ảnh vệ tinh thường được lưu giữ dưới dạng phim ảnh và băng từ Sau đó là việc xử lí ảnh, làm tăng độ nét của ảnh Dựa trên những quy luật chung về sự tương tác giữa thảm che phủ và năng lượng điện từ, sự hiểu biết những đặc điểm chung về thảm thực vật tại các vùng miền núi và việc thu thập các điểm thực địa cũng như lấy mẫu đối với từng loại thảm thực vật khác nhau, có thể phác họa được sự phân lớp chung nhất cho thảm thực vật Từ đó chia ra các lớp thảm che phủ từ ảnh vệ tinh: thảm thực vật dày, thảm thực vật kém dày hơn, thảm thực vật cỏ
và cây bụi, đất trống đồi trọc và nước
- Trong việc xử lí thông tin viễn thám thì giải đoán ảnh bằng mắt (visual interpretation) là công việc đầu tiên Giải đoán bằng mắt thường là phương pháp khoanh định các vật thể cũng như xác định trạng thái của chúng nhờ phân biệt các đặc tính thể hiện trên ảnh (màu sắc, kiến trúc, quan hệ với các đối tượng xung quanh…) Phương pháp này có thể áp dụng trong mọi điều kiện trang thiết bị từ đơn giản đến phức tạp Hình thức này cho phép xác định các phân bố không gian của thảm che phủ trong khu nghiên cứu nhờ kinh nghiệm giải đoán, hiểu biết về sự phân bố thảm thực vật tại các vùng núi và chìa khóa giải đoán Các đối tượng giải đoán trên ảnh vệ tinh là: các loại thảm thực vật rừng, rừng trồng, đất nông nghiệp, đất phi nông nghiệp, sông suối và mặt nước, đất trống và đất chưa sử dụng
Trang 26- Căn cứ vào kết quả giải đoán bằng mắt và các thông tin về các điểm GPS của các loại thảm thực vật đã có, tiến hành thu mẫu, dùng phương pháp phân loại ảnh để đưa ra kết quả giải đoán và làm chính xác lại nhờ kỹ thuật chồng ghép lớp trên mô hình số hóa độ cao DEM (Digital Elevation Model)
Ngoài ra, các tư liệu tham khảo như bản đồ địa hình, bản đồ sử dụng đất của các thời kì cũng đóng vai trò vô cùng quan trọng Bên cạnh đó, trong quá trình thực địa người giải đoán phải thực sự kiểm tra, chỉnh lí, bổ sung để kết quả giải đoán có độ tin cậy cao
* Phương pháp GIS
Trong đề tài này, sử dụng GIS để kết xuất dữ liệu đã được phân loại bằng công nghệ viễn thám, chồng xếp các lớp bản đồ nền kết hợp với dữ liệu đã được phân loại để biên tập thành bản đồ hiện trạng lớp phủ thực vật tại mỗi thời điểm và bản đồ biến động lớp phủ thực vật khu vực nghiên cứu ở mỗi giai đoạn Hai phần mềm GIS được sử dụng là ArcGis 9 và Mapinfo 9
2.4 QUY TRÌNH XỬ LÝ SỐ LIỆU
2.4.1 Chọn đối tƣợng giải đoán
Căn cứ vào mục đích và giới hạn đề tài, chúng tôi tiến hành giải đoán ảnh vệ tinh ở dạng thô và có tính khái quát các đối tượng sau:
Rừng rậm nhiệt đới mưa mùa thường xanh cây lá rộng phát triển ở thung lũng và chân núi đá vôi
Rừng nhiệt đới mưa mùa thường xanh cây lá rộng phát triển trên sườn núi đá vôi
Rừng thưa, trảng cây bụi và gỗ nhỏ phát triển trên các đỉnh núi đá vôi hoặc ở sườn vách núi có độ dốc lớn
Trảng cỏ phát triển trên sườn, vách núi đá vôi
Rừng thưa, trảng cây bụi trên núi đất
Trang 27 Rừng trồng
Đất nông nghiệp
Thảm thực vật thủy sinh và ngập nước
Nương rẫy
Đất trồng cây công nghiệp
Khu dân cư
Cát
Đó là những đối tượng không chỉ tạo nên lớp phủ và cấu trúc cảnh quan của vùng mà còn bị tác động mạnh mẽ bởi các hoạt động của con người do đó thường biến động theo thời gian
2.4.2 Giải đoán ảnh và lập bản đồ
Sau khi xác định các đối tượng cần giải đoán chúng tôi đã tiến hành khoanh
vẽ từng đối tượng, sau đó chuyển họa lên bản đồ địa hình tỉ lệ 1: 35 000 theo từng thời kỳ 2000, 2006 và 2009, cuối cùng kiểm tra ngoài thực địa để chỉnh lí bổ sung các sai sót trên bản đồ giải đoán
2.4.3 Nhập dữ liệu
Sử dụng phần mềm ENVI với các bước sau:
- Số hóa bản đồ các thời kì 2000, 2006, 2009 (khống chế không gian, tọa độ và tiến hành số hóa)
- Đăng kí thuộc tính cho từng đối tượng
2.4.4 Xử lí số liệu
Để thành lập bản đồ hiện trạng lớp phủ thực vật vào các năm và biến động diện tích lớp phủ qua từng thời kỳ, chúng tôi đã dùng các phần mềm của GIS là Mapinfo và ArcGis Đề tài này đã sử dụng phần mềm ENVI tính diện tích các đối tượng trên bản đồ hiện trạng qua các thời kỳ Tiến hành chồng xếp các thời kỳ và
Trang 28đưa ra bảng thống kê biến động diện tích của từng đối tượng theo từng thời kỳ Các
số liệu thì được chuyển sang phần mềm thống kê EXCEL để xử lí, tính toán, trình bày thành các biểu hiện trạng lớp phủ của các đối tượng và kết quả diễn biến diện tích lớp phủ qua các thời kỳ
Phương pháp lập bản đồ trên cơ sở thông tin viễn thám được mô tả ở hình dưới đây:
Tài liệu tham khảo
Hình 2.1 Phương pháp lập bản đồ trên cơ sở thông tin viễn thám
Bản đồ hiện trạng từng thời điểm
Chồng ghép bản đồ theo các giai đoạn và thống kê diện tích biến động
Trang 29CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 3.1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI XÃ HƯƠNG SƠN
3.1.1 Điều kiện tự nhiên
3.1.1.1 Vị trí địa lí
Xã Hương Sơn cách Hà Nội về phía Tây – Nam khoảng 60km, cách trung
đến 20o34’ vĩ Bắc, 105o41’ đến 105o49’ kinh Đông, phía Bắc giáp xã Hùng Tiến và
xã An Tiến (huyện Mỹ Đức), phía Đông giáp tỉnh Hà Nam, phía Tây và phía Nam giáp tỉnh Hòa Bình [9]; [11]
Xã gồm 6 thôn: Tiên Mai, Phú Yên, Hội Xá, Đục Khê, Yến Vĩ và Hạ Đoàn Ranh giới tự nhiên của xã (xem hình 3.1):
Hình 3.1 Vị trí xã Hương Sơn, huyện Mỹ Đức, Hà Nội
3.1.1.2 Đặc điểm cấu trúc và địa chất đá mẹ
Theo tài liệu địa chất miền Bắc Việt Nam của Dovjikov công bố năm 1965, vùng nghiên cứu có cấu trúc kiến tạo Ninh Bình và vùng sông Đà thuộc hệ uốn nếp
Trang 30Tây Bắc (Trần Văn Trị, 1977) Cũng theo Trần Văn Trị, võng chồng sông Đà nằm trực tiếp trên phức nếp lõm sông Đà có tuổi Paleozoi trung, kéo dài từ biên giới Việt Trung (bản Nậm Cúm) tới bờ biển Ninh Bình – Thanh Hóa Qua nhiều lần thăng trầm, lắng đọng trầm tích, karstơ khác nhau, đặc biệt là giai đoạn cách đây khoảng
220 đến 250 triệu năm đã lắng đọng trầm tích đá vôi còn tồn tại đến nay Khối núi
đá này là một cánh của một nếp lồi sườn dốc đổ về phía Đông Bắc và đường phương cấu trúc dài theo hướng Tây Bắc – Đông Nam
Khối núi được cấu tạo bởi đá vôi hệ tầng Đồng Giao, giòn dễ vỡ Tổng chiều dày của đá vôi tới 1800-2000m (Trần Văn Trị) Trong đá có chứa nhiều loại hóa thạch chất rìu (phần dưới), tay cuộn (phần dưới) và chân đầu (phần trên) Thành phần của đá có hàm lượng CaO rất cao, trung bình từ 53,97% - 55,26% Các thành phần khó hòa tan chiếm tỉ lệ nhỏ: SiO2 từ 0,1 đến 0,52%; Al2O3 từ 0,02 – 0,92%;
Do trải qua nhiều chu kì kiến tạo khác nhau, nhất là sau chu kì tân kiến tạo,
đã làm xuất hiện trong khối đá vôi Hương Sơn một hệ thống khe nứt với mật độ và phương khác nhau, tạo nên các hang động cũng như sự chia cắt mạch tạo nhiều đỉnh
và các thung lũng rải rác như ngày nay [15]
3.1.1.3 Đặc điểm địa hình, địa mạo
* Đặc điểm hình thái trắc lượng
Khu vực Hương Sơn là phần cuối của hệ thống núi và cao nguyên đá vôi Sơn
La – Mộc Châu (Tây Bắc), vùng núi đá vôi Hòa Bình – Ninh Bình đến tận bờ biển Nga Sơn – Thanh Hóa và tiếp giáp với châu thổ Sông Hồng Đây chính là ranh giới giữa rừng núi, đồng bằng về phía Tây Nam, đồng bằng Sông Hồng nên ở đây chỉ tồn tại kiểu núi thấp (đỉnh cao nhất là Bà Lồ - 381m) Tuy vậy, biên độ chia cắt sâu cũng khá lớn (từ 100 – 150m) Mật độ chia cắt ngang khá dày đặc Khác với các vùng khác, vùng núi đá vôi nói chung (trong đó có Hương Sơn) không chỉ được đặc trưng bởi hệ thống khe rãnh, dòng chảy mà còn bằng hệ thống hố sụt, phễu, máng
Trang 31trũng karstơ Các hang động nổi tiếng nhất với chiều dài 20 – 25m, chiều cao từ 10 – 15m đã được tìm ra là: Hương Tích, Hinh Bồng, Long Vân, Tuyết Sơn,…[15]
Dạng karstơ bề mặt mang đặc trưng rõ nét của karstơ nhiệt đới ẩm là các khối núi nhỏ với các bề mặt đỉnh và sườn thoải gần đỉnh, chủ yếu là địa hình carư
do quá trình sập lở tạo thành Bề mặt lởm chởm dạng đá tai mèo rất đa dạng về hình thái trong các thung lũng tạo thành những phong cảnh không chỉ đẹp mà còn rất hùng vĩ [15]
* Đặc điểm địa mạo
Địa mạo của khu vực gồm hai nhóm chính:
- Nhóm dạng và yếu tố địa hình nguồn gốc sông bao gồm các đồng bằng tích
tụ sông có tuổi Holoxen muộn đến hiện tại, tích tụ aluvi tướng bãi bồi bằng phẳng, thành phần trầm tích là sét, sét pha, chiếm phần lớn diện tích phần đông bắc khu vực Hương Sơn Trên bề mặt của đồng bằng này dễ dàng nhận thấy những ô trũng,
là các di tích của các lòng sông cổ, trong quá trình dịch chuyển theo chiều ngang đã
để lại dấu vết này Đó là những đồng bằng aluvi tướng lòng sông cổ với các thành tạo trầm tích là bùn, sét lẫn mùn bã thực vật Dọc theo sông Đáy và sông Thanh Hà
là các đồng bằng tích tụ với aluvi tướng gờ cát ven sông, chủ yếu là cát, cát pha Sát chân núi là các đồng bằng ven núi Tham gia vào quá trình tạo thành đầm lầy có hai tác nhân khác nhau:
+ Do sông bồi đắp ở các vùng trũng chân thềm
+ Do nước ngầm ở các khối núi đá vôi chảy ra nhiều bị ứ lại
Đầm lầy theo chế độ ngập nước có thể chia ra: ngập nước thường xuyên và ngập nước theo mùa Do tác động của con người nên diện tích đất ngập nước thường xuyên ngày càng bị thu hẹp Lạch sâu nhất của đầm lầy chính là lòng suối Yến, suối Tuyết Cấu tạo trầm tích tầng mặt: bùn, sét lẫn mùn bã trầm tích thực vật [15]
- Nhóm dạng và yếu tố địa hình nguồn gốc karstơ Theo hình thức biểu hiện của các quá trình có thể chia ra karstơ bề mặt và karstơ ngầm [15]
Trang 32Trong số các dạng karstơ ngầm đáng kể nhất là các hang động Hang động có thể coi là một hệ sinh thái đặc biệt Hang động ở Hương Sơn tập trung vào cụm lớn: Hương Tích (tây bắc khối) và Long Vân (tây nam khối) [15]
Ngoài ra còn có các hang ngắn, độ dài 5 – 20m, gồm 2 loại hang dạng “mái đá” phát triển theo các bề mặt lớp hoặc khe nứt vòm hang là bề mặt lớp của các cấu trúc địa chất [15]
Các dạng karstơ bề mặt mang đặc trưng rất rõ nét của karstơ nhiệt đới ẩm
Đó là các khối nhỏ dạng tháp và tháp cụt; các phễu và máng trũng Trong karstơ bề mặt có thể phân chia như sau: các bề mặt đỉnh và sườn thoải gần đỉnh Chủ yếu là dạng vi địa hình carư do quá trình rửa lũ tạo thành, có bề mặt lởm chởm dạng đá tai mèo rất đa dạng về hình thái: dạng thẳng thước và dạng kéo dài với chiều rộng không vượt quá 20 – 50m và phân bố rộng rãi nhất là các sườn xâm thực – rửa lũa Trên bề mặt sườn phát triển các carư dạng luống kéo dài, giữa các luống là các tích
tụ vụn bở, sản phẩm phá hủy đá gốc các luống này có kích thước từ một vài mét đến một vài mét làm phức tạp thêm vi địa của loại này Trong khối núi Hương Sơn còn gặp loại sườn rửa lũa – sập lở phân bố thành hai dải Tây Nam và Đông Bắc Loại này có bề mặt dốc và rất dốc, đôi khi tạo thành những bức tường thẳng đứng Xung quanh các hố sụt và phễu máng trũng đôi khi còn gặp các bề mặt sườn rửa lũa – tích tụ trọng lực có độ dốc thoải đều, trung bình Trên bề mặt này có tầng đất khá dày so với các bề mặt sườn ở vùng karstơ nói chung [8]; [15]
cen-ti-Một dạng nữa mặc dù hiếm nhưng cũng phát hiện thấy ở vùng này là các máng trũng rửa lũa – xâm thực có dạng kéo dài và hở, khác với các phễu có dạng khép kín Đó là dấu hiệu đầu tiên của sự phát hiện dòng chảy ở vùng núi đá vôi hoặc do liên kết các hố sụt, phễu karstơ lại với nhau [15]
Một đặc trưng điển hình cần được nhắc tới ở vùng này là các cánh đồng karstơ ven rìa mà có thể xem như là Sediment đá vôi (Lê Đức An, 1985) Trên cánh đồng karstơ còn phổ biến các khối núi đá vôi sót đang mất dần dấu tích của các bề mặt khối karstơ rộng lớn trong quá khứ
Trang 333.1.1.4 Khí hậu – Thủy văn
*Đặc điểm khí hậu
Khí hậu Hương Sơn chịu ảnh hưởng của nền khí hậu miền Bắc Việt Nam, đó
là kiểu khí hậu nhiệt đới gió mùa Một năm chia làm hai mùa rõ rệt, mùa hè nóng, mưa nhiều và mùa đông lạnh, ít mưa Hàng năm có hai lần mặt trời đi qua thiên đỉnh
Nhiệt độ
Do quanh năm có khả năng nhận được bức xạ khá lớn, vùng Hương Sơn có tổng nhiệt độ đạt từ 8000oC – 8500oC/năm, nhiệt độ trung bình năm là 23,3oC [8] Thời kì nóng nhất nhiệt độ trung bình là 27o
C Hàng năm có 3 tháng (từ tháng 12 – tháng 2 năm sau) nhiệt độ trung bình dưới 20oC Thời kì lạnh nhất có nhiệt độ trung bình là 18oC Thời kì tháng 3, 4, 9, 10, 11 có nhiệt độ trung bình tháng dao động
lợi cho tham quan, nghỉ dưỡng
Biên độ dao động ngày đêm của nhiệt độ không lớn do vùng Hương Sơn có
đông biên độ trung bình đạt 6 – 8oC
Mưa, độ ẩm, gió
Lượng mưa tương đối phong phú Lượng mưa hàng năm theo số liệu của trạm Mỹ Đức là 1914,8 mm (lượng mưa trung bình hàng năm của toàn thành phố
Hà Nội: 1600 – 1800 mm) với số ngày mưa 140 – 150 ngày/năm
- Mùa mưa thường bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 9 với lượng mưa chiếm tới 85% lượng mưa toàn năm Tháng có lượng mưa lớn nhất là tháng 7 Thời kì ít mưa nhất là vào đầu mùa đông Tháng có lượng mưa ít nhất thường vào tháng 1 Từ tháng 2 trở đi lượng mưa tăng ít nhưng số ngày mưa cũng nhiều hơn, chưa kể những ngày mưa phùn không đo được lượng mưa
Trang 34- Hương Sơn có ba tháng khô (từ tháng 12 đến cuối tháng 3 năm sau) Tuy nhiên mùa khô ở đây không khắc nghiệt Gió mùa Đông Bắc từ tháng 2 bị biến tính mang hơi ẩm của biển đã tạo nên mưa phùn với số ngày mưa phùn khoảng 20 ngày trong toàn mùa khô [8]
- Độ ẩm trung bình hàng năm là 84% Mùa đông là thời kì khô nhất trong năm, tiếp đó là những tháng ẩm nhất (cao nhất là tháng 3 khoảng trên dưới 90%)
- Gió thịnh hành trong mùa đông là gió Đông Bắc, mùa hạ gió thịnh hành hướng Đông Nam
Như vậy, khí hậu Hương Sơn thuộc loại nóng ẩm, mưa nhiều, là điều kiện rất thuận lợi cho kiểu thảm thực vật rừng kín thường xanh cây lá rộng mưa mùa nhiệt đới phát triển, khả năng phục hồi và tái tạo rừng nhanh Với số ngày nắng cao và điều kiện khí hậu như vậy nên cây cối có thể ra hoa kết quả quanh năm Tuy nhiên, lượng mưa cao cũng tạo nên những tác động xói mòn, rửa lũa, sập lở trên vùng núi
đá vôi của Hương Sơn, là một trong những nguyên nhân tạo nên các hang động và nhũ đá rất hấp dẫn của vùng [8] Vì vậy, khí hậu ở Hương Sơn có điều kiện rất thuận lợi không chỉ cho sự phát triển của các loại rừng và thảm thực vật mà còn có thể tổ chức thành nơi du lịch và an dưỡng tốt
*Đặc điểm thủy văn
Vùng nghiên cứu có sông Đáy, sông Thanh Hà chảy qua với chiều dài 3,5km
là điều kiện thuận lợi cho việc vận chuyển, giao lưu hàng hóa với các địa phương khác trong tỉnh và trong vùng Tuy nhiên, về mùa mưa có thể gây lụt, ảnh hưởng đến đời sống của người dân [15]
Trên địa bàn có ba suối bắt nguồn từ khối núi Hương Sơn là: suối Yến có chiều dài 4 km, rộng trung bình 20 – 25 m; suối Long Vân dài 3 km, rộng trung bình 10 – 15 m Ba con suối này không chỉ làm tăng thêm vẻ đẹp của khu di tích mà còn là con đường giao thông thủy rất nên thơ phục vụ du khách, đặc biệt trong mùa
lễ hội Hệ thống các suối như suối Yến, suối Long Vân, suối Tuyết Sơn đều có nguồn nước ngầm karstơ cung cấp tạo ra dòng chảy quanh năm Dòng suối Yến còn
Trang 35tạo ra sinh cảnh bán ngập ở khu du lịch thắng cảnh Hương Sơn, có mực nước cao hơn sông Đáy gần 2 m, hàng năm vẫn đổ nước ra sông Đáy Vào mùa mưa, nước sông Đáy dâng cao, nước suối Yến không tiêu được gây ra cảnh ngập lụt ở xung quanh khu vực chùa Hương [15]
Hiện tại suối Yến đã được nạo vét cải tạo Với mặt cắt ngang lòng sông suối
là 40 m, chiều sâu nạo vét suối h ≥ 1,0 m, cao độ trung bình nền suối tương ứng sau khi nạo vét lòng suối là ±0,0 m ÷ 0,2 m, đảm bảo cột nước về mùa cạn h ≥ 1,5 m [8]
Mực nước suối Yến về mùa lũ có độ cao từ ± 3,0 m ÷ 3,2 m, về mùa cạn có
độ cao từ ± 1,5 m ÷ 1,7 m, về mùa mưa nước mưa từ trên núi và các vùng trong lưu vực chảy về suối Long Vân, suối Tuyết Sơn sau đó thoát vào suối Yến Khi mực nước suối Yến cao hơn mức nước sông Đáy, nước suối Yến chảy về cống điều tiết (gần cầu Đục Khê) rồi thoát ra sông Đáy và một phần chảy về phía Đông Nam thoát
ra sông Đáy qua cống xả Giáp Bạt – Kim Sơn [8]
Khi mức nước trong khu vực suối Yến thấp hơn mức nước lũ sông Đáy, cống điều tiết đóng lại, nước mưa theo suối tự nhiên chảy về phía Đông Nam thoát ra sông Đáy qua cống xả Giáp Bạt – Kim Sơn và một phần thoát về trạm bơm tiêu phía Đông Bắc [8]
Mang đặc điểm chung của đất miền Bắc Việt Nam, các sản phẩm phong hóa của đá vôi thông qua quá trình feralit tạo nên đất feralit đỏ trên núi đá vôi mà có tác giả gọi là terarossa Cộng với quá trình ngoại sinh, đã tạo nên ở Hương Sơn một tập hợp các dạng thổ nhưỡng sau:
Trang 36- Đất đen mùn trên núi đá vôi bị xói mòn trơ đá gốc
- Đất feralit phát triển trên đá vôi
- Đất feralit đỏ phát triển trên đá vôi lẫn đá dăm tàn tích
- Đất phù sa không được bồi thường xuyên
- Đất phù sa được bồi hàng năm
- Đất phù sa bị glây hóa
Các loại đất trên phân bố ở hai dạng địa hình là núi và đồng bằng Sự canh tác đã góp phần tạo ra nhiều đặc tính riêng biệt của từng loại đất đồng nghĩa với tạo nên sự đa dạng của các cảnh quan địa lý ở khu vực Hương Sơn [8]; [15]
3.1.1.6 Đặc điểm thực vật
Thực vật trong khu vực nghiên cứu phân bố trong 8 hệ sinh thái:
- Hệ sinh thái rừng trên núi đá vôi
- Hệ sinh thái rừng trên núi đất
- Hệ sinh thái trảng cây bụi, tre nứa
- Hệ sinh thái trảng cỏ
- Hệ sinh thái nông nghiệp
- Hệ sinh thái khu dân cư
- Hệ sinh thái thủy sinh
- Hệ sinh thái rừng trồng
Mặc dù diện tích rừng ở Hương Sơn không lớn, nhưng ở đây vẫn còn tồn tại kiểu rừng rậm nhiệt đới mưa mùa thường xanh cây lá rộng, cấu trúc gồm 4 tầng, trong đó tầng cây gỗ lớn là những loài thường gặp trong các rừng nguyên sinh như
Sâng (Pometia pinnata), Lát xoan (Choerospondias axillaris), Sấu (Dracontomelum
duperreanum), Dâu gia xoan (Allospondias lakonensis), Bồ hòn (Sapindus mukorossi) [8]; [10]
Hệ thực vật khá đa dạng, gồm đại diện của 6 ngành thực vật bậc cao có mạch, trong đó có cả ngành thực vật cổ nhất trong số các ngành thực vật bậc cao là
Khuyết lá thông (Psilotophyta) [8]; [10]
Trang 37Trong số những loài thực vật đã biết ở Hương Sơn, nhiều loài có giá trị kinh
tế và giá trị khoa học được ghi vào Sách Đỏ Việt Nam và Nghị định 32 của Chính phủ [8]; [10]
3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
Hương Sơn tuy là vùng danh thắng nổi tiếng, song vẫn là vùng nông nghiệp, đồng chiêm lúa nước, hàng năm chịu lũ núi Vào mùa lũ, nước sông Đáy cao hơn mặt đồng tới 2 - 3 m Mùa hè chịu ảnh hưởng của gió Tây khô nóng Thời tiết khắc nghiệt ảnh hưởng không nhỏ đến sản xuất nông nghiệp và sức khỏe của người dân địa phương [8]
Mức chênh lệch về sản xuất và đời sống của người dân Hương Sơn tương đối lớn Bên cạnh những hộ có kinh tế tương đối phát triển thì còn nhiều hộ còn gặp không ít khó khăn [8]
Nét nổi bật về hiện trạng kinh tế - xã hội của Hương Sơn được thể hiện qua một số mặt sau đây:
- Cơ sở vật chất: Những năm gần đây, cùng với đi lên của nền kinh tế, đời sống của nhân dân vùng Hương Sơn nói chung đã có nhiều chuyển biến theo hướng tốt UBND xã đã có hướng đầu tư xây dựng công trình tuyến hạ thế để cấp điện cho các cơ sở trong xã như trường học, sân vận động, xây dựng các hạng mục phụ trợ tại đền Trình, nâng cấp các đường giao thông nội đồng… Các cấp lãnh đạo cùng với nhân dân địa phương đã tập trung xây dựng cơ sở hạ tầng mà trước hết các lĩnh vực được xem là quan trọng nhất
- Hệ thống giao thông vận tải: Giải quyết các vấn đề về giao thông vân tải là một yêu cầu quan trọng phải đặt ra trong mục tiêu khai thác các nguồn khách thu hút vào các điểm du lịch của các tổ chức kinh doanh du lịch [9]
Với hệ thống đường giao thông chất lượng cao, hầu hết đường đã được bê tông hóa, vận chuyển du khách an toàn, thuận tiện, mất ít thời gian là một trong những nhân tố nâng cao sức hấp dẫn của một vùng du lịch đối với du khách
Trang 38Đối với khu du lịch thắng cảnh Hương Sơn, vấn đề giao thông cho du khách tương đối thuận lợi Đường quốc lộ 22 từ trung tâm Hà Nội đến huyện Mỹ Đức, đường 21 nối liền Mỹ Đức với vùng núi Kim Bôi của tỉnh Hòa Bình Sông Đáy nối quốc lộ 1 từ phía nam và nhiều tỉnh với Mỹ Đức [8]
- Nhà ở: Hương Sơn là vùng có tỉ lệ nhà kiên cố khá cao, chiếm tới 32,9% (huyện Mỹ Đức là 17,6%) Tuy nhiên, tỉ lệ nhà tạm thời cũng còn cao (19,8%) trong khi tính chung cả huyện Mỹ Đức chỉ là 16% [8]
- Sản xuất nông nghiệp: Đa số cư dân Hương Sơn sống bằng sản xuất nông nghiệp (88,6%) Diện tích đất nông nghiệp không nhỏ, nhưng là vùng đồng chiêm trũng nên hơn 30% tổng diện tích chỉ trồng cấy được một vụ Không có diện tích ba
vụ, năng suất lúa cao Các nghề chính là trồng lúa, trồng dâu nuôi tằm và chăn nuôi [8]
Hương Sơn là vùng có số lượng đàn gia súc, gia cầm phát triển cả về số lượng và chủng loại Trâu bò vừa cầy kéo, vừa sinh sản, vừa là nguồn thực phẩm chủ yếu cung cấp cho dân địa phương và khách du lịch Trong mùa lễ hội, đàn gia súc, gia cầm là nguồn cung cấp thực phẩm quan trọng Pháp lệnh thú y được chú ý, thực hiện chủ động việc phòng dịch bệnh cho đàn vật nuôi, kiểm soát và ngăn chặn kịp thời khi xuất hiện dịch bệnh đồng thời duy trì tốt công tác kiểm dịch giết mổ gia súc, gia cầm, đặc biệt trong mùa lễ hội
- Ngành nghề tiểu thủ công nghiệp: tại Hương Sơn, các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp tuy có, nhưng phát triển không đều Tỉ lệ số hộ sản xuất tiểu thủ công
là 5% trong khi tỉ lệ này của huyện Mỹ Đức là 1% Các nghề như: Mộc, xây dựng,
gò hàn, may đo, vận chuyển nguyên vật liệu, chế biến nông sản… được khuyến khích phát triển nhưng chủ yếu vẫn là quy mô sản xuất vừa và nhỏ, chưa đáp ứng được nhu cầu của thị trường vào mùa lễ hội [8]
- Hương Sơn là xã có trình độ học vấn tương đối khá Toàn bộ cư dân trong
xã dân tộc Kinh đã sinh sống ở đây từ lâu đời [8]
Trang 39- Cư dân trong độ tuổi lao động (18 - 60 tuổi) chiếm 41,64% dân số, độ tuổi
từ 0 - 18 tuổi chiếm 45,65%, độ tuổi trên 60 tuổi chiếm 12,71% [9]
- Lao động nông nghiệp chiếm 70%, còn lại là cán bộ, lao động trong lĩnh vực dịch vụ, bán hàng, làm mộc, chạy xe công nông, xe ôm…v v…[8]
- Công tác giáo dục ngày càng được chú trọng cả về số lượng và chất lượng trường lớp Toàn xã có một trường mầm non, 3 trường tiểu học, 1 trường trung học
- Công tác Bưu chính: Đảm bảo thông tin liên lạc, phát hành báo chí, chuyển thư tín phục vụ kịp thời cho nhu cầu phát triển kinh tế xã hội và đời sống nhân dân Hàng năm xã đều trích ngân sách mua các loại báo để cấp cho các cán bộ thôn, xóm trở lên [17]
3.1.3 Hoạt động du lịch và lễ hội
Khu Du lịch chùa Hương thuộc vùng núi Hương Sơn - Mỹ Đức - Hà Nội nằm cách trung tâm thành phố Hà Nội không xa trên trục đường giao thông thuận tiện nên có vị trí địa lý thuận lợi cho phát triển Du lịch
Do đặc điểm cấu tạo địa chất nên địa hình ở khu vực khá đa dạng, phong phú, sinh động hấp dẫn du khách với những phong cảnh ngoạn mục, “sơn thủy hữu tình”
Trang 40Các điều kiện khí hậu, thời tiết tại khu vực tương đối thuận lợi cho sức khoẻ của con người và các hoạt động Du lịch
Môi trường sinh thái của khu vực khá đa dạng, phong phú phù hợp cho phát triển du lịch sinh thái
Tài nguyên đất của khu vực còn nhiều tiềm năng có thể mở rộng phát triển dịch vụ cho hoạt động Du lịch
Ngoài ra một yếu tố làm tăng sức hấp dẫn đối với khách du lịch tạo một lợi thế lớn cho du khách chính là mùa lễ hội diễn ra trong thời gian đầu năm khi công việc còn chưa nhiều Đặc biệt đây là thời điểm vẫn còn dư âm của đầu năm mới, con người Việt Nam thường có văn hóa du xuân đầu năm
Khu Du lịch chùa Hương là khu vực có tiềm năng tài nguyên du lịch tự nhiên dồi dào nếu được quan tâm thích đáng và việc quản lý khai thác hợp lý thì chắc chắn nơi đây sẽ là điểm Du lịch hấp dẫn của nước ta và nổi tiếng trên thế giới Các loại hình Du lịch có thể tổ chức và khai thác với các mục đích như: Du lịch lễ hội,
du lịch tham quan, du lịch thám hiểm, du lịch nghỉ dưỡng, du lịch thể thao, du lịch vui chơi giải trí
Lễ hội chùa Hương là tài nguyên nhân văn thu hút du khách không kém gì TNTN và đây cũng là một trong những điều hấp dẫn khách nước ngoài Hội chùa Hương hàng năm được tổ chức bắt đầu từ ngày mùng 6 tháng giêng và kéo dài đến hết tháng 3 âm lịch Đây là lễ hội kéo dài nhất và thu hút lượng khách đông nhất trên toàn quốc Ngoài ra, quanh năm khu Du lịch chùa Hương thường xuyên đón du khách trong và ngoài nước đến để chiêm ngưỡng và tìm hiểu văn hoá, tín ngưỡng của dân tộc ta
Khu Du lịch chùa Hương cùng với những di tích khảo cổ, di tích văn hóa và những truyền thuyết Phật giáo đã mang lại ý nghĩa tôn giáo to lớn và những nét văn hóa đặc sắc cho vùng đất này Không chỉ mỗi con người Việt Nam mà cả du khách quốc tế cũng đều mong mỏi ít nhất một lần được đặt chân đến mảnh đất giàu truyền thống văn hóa này