Đặc điểm phân bố về số lƣợng hồng cầu ở bệnh nhân hội chứng rối loạn sinh tủy thể có tế bào non ác tính trong nghiên cứu .... Tỷ lệ bệnh nhân hội chứng rối loạn sinh tủy thể có tế bào no
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
-*** -
TRẦN THỊ THƠ
CÁC ĐẶC ĐIỂM TỔN THƯƠNG CỦA TẾ BÀO Ở MÁU NGOẠI VI VÀ TRONG TỦY SINH MÁU Ở BỆNH NHÂN RỐI LOẠN SINH TỦY THỂ CÓ BLAST
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Hà Nội - 2013
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
-*** -
TRẦN THỊ THƠ
CÁC ĐẶC ĐIỂM TỔN THƯƠNG CỦA TẾ BÀO Ở MÁU NGOẠI VI VÀ TRONG TỦY SINH MÁU Ở BỆNH NHÂN RỐI LOẠN SINH TỦY THỂ CÓ BLAST
Chuyên ngành : Sinh học thực nghiệm
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1.MỘTSỐNÉTVỀSINHMÁU 4
1.1.1 Định nghĩa 4
1.1.2 Cơ quan tạo máu 4
1.1.3 Quá trình tạo máu 5
1.1.4 Hình thái và chức năng của các tế bào máu 8
1.2.KHÁINIỆMVỀ―RỐILOẠNSINHTỦY‖(MYELODYSPLASIA) 10
1.2.1 Lịch sử nghiên cứu và tên gọi 10
1.2.2 Nguyên nhân và cơ chế gây bệnh 11
1.3.TRIỆUCHỨNGLÂMSÀNGVÀXÉTNGHIỆMCỦAHỘICHỨNGRỐI LOẠNSINHTỦY 14
1.3.1 Triệu chứng lâm sàng 14
1.3.2 Triệu chứng cận lâm sàng: 15
1.4.CHẨNĐOÁN 18
1.5. XẾPLOẠIHỘICHỨNGRỐILOẠNSINHTỦYTHEOWHO2001 19
1.6.TIẾNTRIỂNVÀTIÊNLƯỢNGCỦAHỘICHỨNGRỐILOẠNSINHTỦY 20
1.6.1 Tiến triển của hội chứng rối loạn sinh tủy 20
1.6.2 Các yếu tố tiên lượng trong hội chứng rối loạn sinh tủy 21
1.7.ĐIỀUTRỊHỘICHỨNGRỐILOẠNSINHTỦY 21
1.8.NGHIÊNCỨUHỘICHỨNGRỐILOẠNSINHTỦYỞVIỆTNAM 21
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23
2.1.ĐỐITƯỢNGNGHIÊNCỨU 23
2.1.1 Chẩn đoán hội chứng rối loạn sinh tủy nguyên phát thể có blast 23
2.1.2 Tiêu chuẩn chẩn đoán hội chứng rối loạn sinh tủy chuyển thành ung thư máu cấp 23
2.2. PHƯƠNGPHÁPNGHIÊNCỨU 24
2.2.1 Phương pháp 24
Trang 42.2.2 Vật liệu nghiên cứu 25
2.2.3 Các chỉ số nghiên cứu 26
2.2.4 Các kỹ thuật sử dụng trong nghiên cứu 26
2.2.5 Một số tiêu chuẩn đánh giá được sử dụng trong nghiên cứu 27
2.2.6 Xử lý số liệu 28
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN 29
3.1MỘTSỐĐẶCĐIỂMCHUNGCỦANHÓMBỆNHNHÂNNGHIÊNCỨU 29
3.1.1 Tuổi và giới tính của bệnh nhân hội chứng rối loạn sinh tủy thể có tế bào non ác tính trong nghiên cứu 29
3.1.2 Tỷ lệ bệnh nhân hội chứng rối loạn sinh tủy thể có tế bào non ác tính theo phân loại của tổ chức Y tế thế giới WHO trong nghiên cứu của chúng tôi 31
3.1.3 Biểu hiện lâm sàng khi chẩn đoán 34
3.2ĐẶCĐIỂMCỦATẾBÀOMÁUNGOẠIVIVÀTỦYXƯƠNG 39
3.2.1 Đặc điểm của các dòng tế bào hồng cầu 39
3.2.2 Đặc điểm của các tế bào dòng bạch cầu 43
3.2.3 Đặc điểm các tế bào dòng tiểu cầu 46
3.2.4 Tỷ lệ tế bào non ác tínhra máu ngoại vi trong nghiên cứu 49
3.2.5 Tổng hợp các thay đổi về số lượng và hình thái dòng tế bào ngoại vi 50
3.2.6 Đặc điểm về số lượng tế bào trong tủy sinh máu 51
3.2.7 Đặc điểm rối loạn hình thái các dòng tế bào trong tủy sinh máu 52
KẾT LUẬN 55
KIẾN NGHỊ 56
TÀI LIỆU THAM KHẢO 57
Trang 5DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1 Tỷ lệ bệnh nhân hội chứng rối loạn sinh tủy thể có tế bào non ác tính
theo tuổi và giới tính trong nghiên cứu của chúng tôi 29 Bảng 3.2 So sánh với kết quả nghiên cứu về tuổi và giới của bệnh nhân hội
chứng rối loạn sinh tủy trong nghiên cứu của chúng tôi và một số tác giả khác 30 Bảng 3.3 Tỷ lệ bệnh nhân hội chứng rối loạn sinh tủy thể có tế bào non ác tính
theo WHO trong nghiên cứu của chúng tôi 32 Bảng 3.4 So sánh kết quả về tỷ lệ xếp loại hội chứng rối loạn sinh tủy thể có tế
bào non ác tính trong nghiên cứu của chúng tôi và một số tác giả khác 32 Bảng 3.5 Triệu chứng lâm sàng của bệnh nhân hội chứng rối loạn sinh tủy thể
có tế bào non ác tính khi chẩn đoán trong nghiên cứu của chúng tôi 34 Bảng 3.6 So sánh kết quả về triệu chứng thiếu máu ở bệnh nhân hội chứng rối
loạn sinh tủy với nghiên cứu của một số tác giả khác 35 Bảng 3.7 So sánh kết quả về triệu chứng sốt/nhiễm trùng ở bệnh nhân hội
chứng rối loạn sinh tủy theo nghiên cứu của một số tác giả khác 36 Bảng 3.8 So sánh kết quả về triệu chứng gan, lách, hạch to ở bệnh nhân hội
chứng rối loạn sinh tủy theo nghiên cứu của một số tác giả khác 37 Bảng 3.9 So sánh kết quả về triệu chứng xuất huyết ở bệnh nhân hội chứng rối
loạn sinh tủy theo nghiên cứu của một số tác giả khác 38 Bảng 3.10 Đặc điểm phân bố về số lƣợng hồng cầu ở bệnh nhân hội chứng rối
loạn sinh tủy thể có tế bào non ác tính trong nghiên cứu 39 Bảng 3.11 Nồng độ huyết sắc tố theo nhóm bệnh nhân hội chứng rối loạn sinh
tủy thể có tế bào non ác tính trong nghiên cứu của chúng tôi 40 Bảng 3.12 So sánh nồng độ HST trung bình ở các nhóm bệnh nhân hội chứng
rối loạn sinh tủy thể có tế bào non ác tính trong nghiên cứu với một
số tác giả khác 41 Bảng 3.13 Tỷ lệ bệnh nhân hội chứng rối loạn sinh tủy thể có tế bào non ác tính
theo các rối loạn hình thái hồng cầu trong nghiên cứu 42
Trang 6Bảng 3.14 Số lƣợng bạch cầu ngoại vi của các nhóm bệnh nhân hội chứng rối loạn
sinh tủy thể có tế baon non ác tính trong nghiên cứu của chúng tôi 43 Bảng 3.15 So sánh kết quả nghiên cứu về số lƣợng BCĐTT trong nghiên cứu
của chúng tôi với một số tác giả khác 44 Bảng 3.16 Tỷ lệ bệnh nhân hội chứng rối loạn sinh tủy thể có tế bào non ác tính
theo các rối loạn hình thái bạch cầu trong nghiên cứu 45 Bảng 3.17 Tỷ lệ các nhóm bệnh nhân hội chứng rối loạn sinh tủy thể có tế bào
non ác tính theo số lƣợng tiểu cầu trong nghiên cứu của chúng tôi 47 Bảng 3.18 Tỷ lệ bệnh nhân hội chứng rối loạn sinh tủy thể có tế bào non ác tính có
rối loạn hình thái tiểu cầu theo nhóm trong nghiên cứu của chúng tôi 48 Bảng 3.19 Tỷ lệ tế bào non ác tính ra máu ngoại vi ở các bệnh nhân hội chứng
rối loạn sinh tủy thể có tế bào non ác tính trong nghiên cứu 49 Bảng 3.20 Số lƣợng tế bào tủy theo nhóm bệnh nhân rối loạn sinh tủy thể có tế
bào non ác tính trong nghiên cứu của chúng tôi 51
Trang 7DANH MỤC HÌNH
Hình 3.1 Biểu đồ phân bố bệnh nhân hội chứng rối loạn sinh tủy thể có tế bào
non ác tính theo độ tuổi trong nghiên cứu của chúng tôi 29 Hình 3.2 Biều đồ phân bố bệnh nhân hội chứng rối loạn sinh tủy thể có tế bào
non ác tính theo giới trong nghiên cứu 31 Hình 3.3 Biểu đồ tỷ lệ các nhóm hội chứng rối loạn sinh tủy thể có tế bào non
ác tính theo WHO trong nghiên cứu của chúng tôi 33 Hình 3.4 Biểu đồ triệu chứng lâm sàng của bệnh nhân hội chứng rối loạn sinh
tủy thể có tế bào non ác tính khi chẩn đoán trong nghiên cứu của chúng tôi 34 Hình 3.5 Biểu đồ phân bố bệnh nhân HCRLST thể có blast theo nồng độ huyết
sắc tố 40 Hình 3.6 Các hình ảnh đa dạng thể hiện sự rối loạn hình thái dòng hồng cầu,
hồng cầu to nhỏ không đều, hồng cầu đa hình thái, hình giọt nước, hình bia bắn 42 Hình 3.7 Hình ảnh máu ngoại vi với các hồng cầu bình thường 43
Hình 3.8 Hình ảnh minh họa BCĐTT tăng đoạn nhân tại máu ngoại vi 46
Hình 3.9 Biểu đồ phân bố bệnh nhân hội chứng rối loạn sinh tủy thể có tế bào
non ác tính theo số lượng tiểu cầu trong nghiên cứu 46 Hình 3.10 Ảnh minh họa tiểu cầu khổng lồ, to gần bằng hồng cầu 48
Hình 3.11 Biểu đồ mức độ thay đổi số lượng tế bào máu ngoại vi theo nhóm
bệnh nhân hội chứng rối loạn sinh tủy thể có tế bào non ác tính trong nghiên cứu 50 Hình 3.12 Biểu đồ mức độ thay đổi về hình thái các dòng tế bào máu ngoại vi
theo nhóm bệnh nhân hội chứng rối loạn sinh tủy thể có blast trong nghiên cứu 50 Hình 3.13 Ảnh minh họa các hồng cầu non méo mó, nhân thắt eo, NSC không
đều ở bệnh nhân hội chứng rối loạn sinh tủy thể có blast 52 Hình 3.14 Các tế bào non ác tính với nhân thô, hạt nhân to, rõ, nguyên sinh chất
hẹp, ưa bazo Các bạch cầu đoạn trung tính tăng đoạn nhân 53 Hình 3.15 Các tế bào tuổi tủy bào và hậu tủy bào mất hạt đặc hiệu dòng bạch
cầu trung tính, xuất hiện nhiều tế bào thoái hóa 53 Hình 3.16 Mẫu tiểu cầu có kích thước nhỏ, ít múi nhân ở nhóm bệnh nhân hội
chứng rối loạn sinh tủy thể có blast 54
Trang 8BẢNG CHÚ GIẢI CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ALIP : Anormal localization of immature precursor
(Sự khu trú bất thường của đám tế bào non) AISA : acquired idiopathic sideroblastic anemia
(thiếu máu tăng nguyên hồng cầu sắt vòng mắc phải chưa rõ nguyên nhân)
CMML : Chronic Myelo – Monoleukemia
(Lơ xê mi kinh dòng tủy – mônô) BCĐTT : Bạch cầu đoạn trung tính
HCRLST : Hội chứng rối loạn sinh tủy
NST : Nhiễm sắc thể
RA : Refractory anemia (Thiếu máu dai dẳng)
RAEB : Refractory anemia with excess of blast
(Thiếu máu dai dẳng tăng quá mức tế bào blast) RAEB-t : Refractory anemia with excess of blast in transformation
(Thiếu máu dai dẳng tăng quá mức tế bào blast đang chuyển cấp) RARS : Refractory anemia with ringed sideroblast
(Thiếu máu dai dẳng tăng nguyên hồng cầu sắt vòng)
RLST : Rối loạn sinh tủy
STTX : Sinh thiết tủy xương
Trang 9MỞ ĐẦU
Hội chứng rối loạn sinh tủy (HCRLST) là một nhóm bệnh lý của tế bào gốc
sinh máu Đặc trưng của bệnh là tình trạng sinh máu không hiệu lực, biểu hiện bằng sự
giảm ít nhất một dòng tế bào ở máu ngoại vi Hậu quả của việc rối loạn quá trình biệt
hóa và trưởng thành của 1, 2 hoặc cả 3 dòng hồng cầu, bạch cầu hoặc tiểu cầu trong
tủy xương dẫn đến các biểu hiện như xuất huyết, nhiễm trùng và hầu hết các trường
hợp có thiếu máu [1], [5], [14]
HCRLST là nhóm bệnh lý số một trong tất cả các trạng thái tiền ung thư máu
Các nhà huyết học trên thế giới đã và đang hướng sự nghiên cứu vào HCRLST về tất
cả các khía cạnh như chẩn đoán, xếp loại, điều trị và tiên lượng, coi đó như một sự tấn
công có tính đột phá vào giai đoạn sớm của ung thư máu [5], [14]
Năm 1975 các nhà huyết học Anh, Pháp, Mỹ (nhóm FAB) đã đề xuất tên gọi
hội chứng rối loạn sinh tủy (myelodysplastic Syndromes-MDS), kể từ đó tên gọi này
được thống nhất sử dụng trong y văn Năm 1982 nhóm FAB đã xếp HCRLST thành
năm thể bệnh đó là: thiếu máu dai dẳng (RA), thiếu máu dai dẳng có tăng nguyên hồng
cầu sắt vòng (RARS), thiếu máu dai dẳng có tăng quá mức tế bào non ác tính (RAEB),
thiếu máu dai dẳng có tăng quá mức tế bào non đang chuyển cấp (RAEB-t) và lơ xê mi
kinh dòng tủy – mônô (CMML) [1], [5], [14], [27], [31], [32]
Sau đó có rất nhiều nghiên cứu về xếp loại HCRLST đã được thực hiện với
mục tiêu ứng dụng vào điều trị và xác định tiên lượng, đặc biệt là nguy cơ tiến triển
thành ung thư máu cấp Các xếp loại chủ yếu dựa vào hình thái học tế bào, tỷ lệ tế bào
non ác tính trong máu ngoại vi, trong tủy sinh máu và tế bào bị tổn thương Bảng xếp
loại HCRLST của WHO năm 2001 được coi là cập nhật và tiên tiến nhất hiện nay
Theo đó HCRLST được xếp thành 8 thể bệnh như sau [5], [14], [20]:
* Thiếu máu dai dẳng (Refractory Anemia = RA)
* Thiếu máu + tăng nguyên hồng cầu sắt vòng (Ringed Sideroblast) (RARS)
* Giảm tế bào dai dẳng có rối loạn đa dòng (RCMD)
Trang 10* Giảm tế bào dai dẳng có rối loạn đa dòng có tăng nguyên hồng cầu sắt vòng
(RCMD-RS)
* Thiếu máu dai dẳng tăng có quá mức tế bào blast 1 (RAEB-t1)
* Thiếu máu dai dẳng tăng có quá mức tế bào blast 2 (RAEB-t2)
* Hội chứng rối loạn sinh tủy không xếp loại (MDS-U)
* Hội chứng rối loạn sinh tủy có kết hợp mất nhánh dài nhiễm sắc thể số 5 (del 5q)
Tế bào non ra máu ngoại vi là dấu hiệu quyết định để nghĩ đến bệnh đã chuyển
sang ―giai đoạn có dấu hiệu chuyển thành ung thư máu‖ Hầu hết các bệnh nhân
trong các nhóm tiền ung thư máu đều có giai đoạn xuất hiện tế bào non ở máu ngoại
vi trước khi chuyển thành ung thư máu cấp Tỷ lệ tế bào non ác tính ra máu ngoại vi
càng cao thì khả năng chuyển thành ung thư máu càng lớn Khi tỷ lệ tế bào non ác
tính ra máu ngoại vi trên 10% thì ở hầu hết bệnh sẽ chuyển thành ung thư máu Tốc
độ tăng lên của tỷ lệ phần trăm tế bào non ác tính ở máu ngoại vi cũng là một dấu
hiệu cho phép tiên lượng sự chuyển thành một ung thư máu thực sự của các trạng
thái tiền ung thư máu Tốc độ tăng càng nhanh, sự chuyển thành ung thư máu càng
nhanh, tỷ lệ chuyển thành ung thư máu càng cao Chính vì vậy trong đề tài này chúng
tôi muốn tập trung vào nhóm bệnh nhân mắc hội chứng rối loạn sinh tủy thể có blast
(có tế bào non ác tính)
Hơn nữa, hiện nay ở nhiều quốc gia, đặc biệt là các nước Châu Âu, Bắc Mỹ và
Nhật Bản tỷ lệ mắc HCRLST ngày một tăng Ở Việt Nam, theo một nghiên cứu tại
Viện Huyết học – Truyền máu Trung ương, HCRLST chiếm 4,5%, đứng hàng thứ 6
trong tổng số các bệnh máu gặp tại Viện [2] Như vậy HCRLST không phải là hiếm
gặp và sẽ ngày một tăng lên ở nước ta do gia tăng tuổi thọ, gia tăng nạn ô nhiễm môi
trường trên toàn cầu
Thêm vào đó việc điều trị nhóm bệnh lý này còn hết sức nan giải Cho đến nay
chưa có một biện pháp nào đưa lại hiệu quả một cách chắc chắn [12], [13], [21], [38],
[39] Từ năm 1980 trở lại đây, những nghiên cứu về lâm sàng, cận lâm sàng, nguyên
Trang 11nhân, cơ chế và tiến triển của bệnh đã giúp các nhà nghiên cứu trên thế giới tìm ra
được những chiến lược mới trong điều trị, nhờ đó chất lượng cuộc sống và thời gian
sống thêm của các bệnh nhân HCRLST ngày càng được cải thiện Việc nghiên cứu đặc
điểm của HCRLST trên người Việt Nam là một đòi hỏi cấp thiết nhằm có được những
thông tin cho việc chẩn đoán, tiên lượng cũng như để có thể xây dựng được một chiến
lược điều trị thích hợp
Xuất phát từ những lý do trên chúng tôi tiến hành đề tài này nhằm hai mục tiêu:
- Nghiên cứu tỷ lệ nhóm bệnh nhân hội chứng rối loạn sinh tủy thể có blast (có
tế bào non ác tính) theo xếp loại Tổ chức Y tế thế giới - WHO 2001
- Nghiên cứu đặc điểm tế bào sinh máu (qua huyết đồ, tủy đồ, sinh thiết tủy
xương) của bệnh nhân HCRLST nguyên phát thể có blast
Trang 12Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 MỘT SỐ NÉT VỀ SINH MÁU
1.1.1 Định nghĩa
Sinh máu là sự sinh sản của các tế bào tiền thân (được duy trì nhờ tế bào gốc)
và sự biệt hoá các tế bào này thành mọi dòng tế bào máu, sau đó trưởng thành để tạo
nên các tế bào lưu hành trong máu
1.1.2 Cơ quan tạo máu
Cơ quan tạo máu bao gồm: tủy xương, tổ chức lymphô (lách, hạch, tuyến ức) và
tổ chức võng mô Vị trí tạo máu thay đổi theo tuổi:
1.1.2.1 Giai đoạn bào thai
- Tạo máu qua 3 giai đoạn:
a Giai đoạn bào thai (khoảng 2 tháng đầu): chủ yếu tạo máu từ nội mạc huyết
quản trong những đảo Pander
b Giai đoạn gan lách (từ tháng thứ 3): các hồng cầu non chủ yếu được tạo ra từ
gan, lách và đều thuộc dòng normoblaste (giống như hồng cầu non ở người trưởng thành)
c Giai đoạn tủy: từ tháng thứ 5 gan lách hết chức năng tạo hồng cầu, và từ đây
cho đến trưởng thành tủy xương là cơ quan duy nhất tạo hồng cầu (trừ trường hợp
bệnh lý tạo máu ngoại tủy)
1.1.2.2 Sau sinh
- Vị trí tạo máu nằm ở trong 3 tổ chức :
+ Tủy xương (tủy đỏ) tạo hồng cầu, bạch cầu hạt và tiểu cầu, nhưng cũng tham
gia tạo những tế bào lymphô gốc tủy
+ Tổ chức lymphô như: tuyến ức, hạch, lách, mảng Payer tham gia tạo và
trưởng thành các tế bào lymphô
Trang 13+ Tổ chức võng (ở lách, tủy xương là chính) tạo các tế bào mônô
Tuy nhiên, trong đời sống, tầm quan trọng của các tổ chức tạo máu đó cũng
thay đổi: ở trẻ em tủy xương và tổ chức lymphô rất phát triển và hoạt động mạnh, ở
tuổi trưởng thành tủy tạo máu (tủy đỏ) giảm thể tích, tuyến ức teo đi
1.1.3 Quá trình tạo máu
(NHC: nguyên hồng cầu; MTC: mẫu tiểu cầu; LT: lymphô-T; LB:lymphô-B)
- Quá trình sinh máu được chia thành 3 giai đoạn kế tiếp nhau:
+ Khu vực tế bào gốc
Trang 14+ Khu vực các tế bào tăng sinh và trưởng thành
+ Khu vực các tế bào thực hiện chức năng
1.1.3.1 Khu vực tế bào gốc
Tế bào gốc được sinh ra và tồn tại chủ yếu ở tuỷ xương, luôn duy trì ở mức độ
vừa phải và khi cần thiết sẽ tăng sinh biệt hoá để tạo nên một dòng tế bào nào đó
- Các tế bào gốc gồm 3 loại:
+ Tế bào gốc vạn năng có khả năng sinh ra tất cả các dòng tế bào máu
+ Tế bào gốc định hướng theo dòng: dưới những kích thích nhất định sẽ tăng
sinh và biệt hoá có tính định hướng theo dòng tuỷ hay lympho
+ Tế bào tiền thân đơn dòng: là những tế bào tiền thân của mỗi dòng riêng biệt
1.1.3.2 Khu vực các tế bào tăng sinh và trưởng thành
Các tế bào ở khu vực này có đặc điểm tăng sinh để "tăng lên về mặt số lượng và
biệt hoá để "trưởng thành về mặt chất lượng"
Tăng số lượng bằng cách phân chia nguyên nhiễm và tăng chất lượng bằng quá
trình biệt hoá, ví dụ ở hồng cầu: khi trưởng thành sẽ tăng tổng hợp huyết sắc tố và mất
dần nhân
a) Hồng cầu:
Quá trình trưởng thành của hồng cầu theo tuần tự: nguyên tiền hồng cầu →
nguyên hồng cầu ưa bazơ nguyên hồng cầu đa sắc nguyên hồng cầu ưa axit
Quá trình biệt hoá và trưởng thành đó như sau:
+ Từ một tế bào gốc dòng hồng cầu sẽ tạo nên nguyên tiền hồng cầu
+ Một nguyên tiền hồng cầu sinh ra hai nguyên hồng cầu ưa bazơ I và rồi tạo
nên 4 nguyên hồng cầu (NHC) ưa bazơ II
+ Một NHC ưa bazơ sinh ra 2 NHC đa sắc Đây là giai đoạn cuối cùng tế bào
còn khả năng nhân đôi trong quá trình biệt hoá dòng hồng cầu
Trang 15+ NHC ưa axit được tạo ra do một NHC đa sắc nhân đôi Quá trình này giai
đoạn tổng hợp huyết sắc tố gần xong, tế bào không còn phân bào nữa
+ Hồng cầu lưới là giai đoạn cuôí cùng của trưởng thành hồng cầu, nó còn chứa
vết tích nhân trong bào tương Hồng cầu lưới ở máu ngoại vi phản ánh khả năng sinh
sản của hồng cầu trong tủy xương
(Hồng cầu trưởng thành: nằm trong khu vực các tế bào thực hiện chức năng)
b) Bạch cầu
Gồm có bạch cầu dòng tuỷ ( ở đây chủ yếu nói về dòng bạch cầu trung tính) và
dòng lympho
* Bạch cầu hạt:
+ Bạch cầu trung tính sinh ra từ tế bào mẹ dòng bạch cầu hạt
+ Tế bào đầu dòng là nguyên tuỷ bào
+ Từ nguyên tuỷ bào sẽ sinh ra hai tiền tủy bào
+ Từ tiền tuỷ bào sẽ sinh ra tuỷ bào
+ Hậu tuỷ bào được tạo ra do tiền tủy bào phân chia, nó không còn khả năng
phân bào
Trong quá trình phân chia, các hạt trung tính sẽ tăng dần từ tế bào đầu dòng đến
bạch cầu đoạn
* Bạch cầu dòng lympho
Tế bào mẹ của dòng lympho được sinh ra từ tế bào nguồn tạo máu Sau đó
chúng phân chia thành hai nhóm chính: progenitor B và progenitor T (tế bào nguồn B
và T) Tế bào nguồn T và B tiếp tục biệt hoá thành lympho T (quá trình huấn luyện
trưởng thành tại tuyến ức) và lympho B ( quá trình huấn luyện trưởng thành tại lách và
tủy xương) Các lympho này sẽ tham gia vào quá trình bảo vệ cơ thể qua các đáp ứng
miễn dịch qua trung gian tế bào và miễn dịch dịch thể
Trang 16c) Mẫu tiểu cầu:
Từ tế bào gốc đa năng dòng tủy sinh ra tế bào mẹ dòng mẫu tiểu cầu Từ đó tạo
ra tế bào đầu dòng mẫu tiểu cầu là nguyên mẫu tiểu cầu
Tiếp theo là mẫu tiểu cầu ưa base rồi đến mẫu tiểu cầu có hạt chưa sinh tiểu cầu
và cuối cùng là mẫu tiểu cầu có hạt đang sinh tiểu cầu Trung bình một mẫu tiểu cầu sẽ
phóng thích khoảng 3000-4000 tiểu cầu
1.1.3.3 Khu vực các tế bào thực hiện chức năng
Các tế bào đã tăng sinh đủ về số lượng và đã biểu hiện đến mức hoàn chỉnh về
mặt chất lượng để thực hiện chức năng của mình
Khu vực này gồm các tế bào trưởng thành của tất cả các dòng hồng cầu, bạch
cầu, tiểu cầu
Các tế bào này có mặt ở máu ngoại vi, các khu vực dự trữ (xoang gan, lách) và
cả trong tủy xương và hạch bạch huyết
Các tế bào này không phân chia, trừ một số trường hợp non hoá trở lại sau đó
thực hiện phân chia như lympho, mono trong tình trạng nhiễm virut
1.1.4 Hình thái và chức năng của các tế bào máu
1.1.4.1 Hồng cầu
Hồng cầu được sinh ra ở tủy xương và phát triển qua nhiều giai đoạn: từ tiền
nguyên hồng cầu → nguyên hồng cầu ái kiềm → nguyên hồng cầu đa sắc → nguyên
hồng cầu ái toan → hồng cầu mạng lưới và cuối cùng là hồng cầu trưởng thành hoạt
động ở máu ngoại vi
Hồng cầu trưởng thành là tế bào không nhân, hình đĩa lõm hai mặt, đường kính
khoảng 7µm Nhuộm giemsa thấy hồng cầu màu hồng, ở giữa nhạt hơn Hồng cầu
chứa huyết sắc tố là thành phần chức năng chính trong hồng cầu
Chức năng chủ yếu của hồng cầu là vận chuyển oxy và khí cacbonic Đời sống
trung bình hồng cầu khoảng 120 ngày Hồng cầu già được tiêu hủy tại hệ thống liên
võng nội mạc của cơ thể mà chủ yếu tại lách và tủy xương
Trang 171.1.4.2 Bạch cầu
Dòng bạch cầu hạt được sinh ra từ tủy xương và phát triển qua nhiều giai đoạn:
từ nguyên tủy bào (myeloblaste) → tiền tủy bào (promyelocyte) → tủy bào
(myelocyte) → hậu tủy bào (metamyelocyte) → bạch cầu đũa (segment) và cuối cùng
là bạch cầu đa nhân (là loại tế bào trưởng thành đảm nhiệm chức năng bảo vệ cơ thể)
Bạch cầu hạt trưởng thành có đời sống khoảng 5-7 ngày Bạch cầu già được tiêu hủy
tại hệ liên võng của lách
Nhân của bạch cầu hạt trưởng thành có nhiều múi, tế bào chất có các hạt đặc
hiệu và được chia ra làm 3 loại:
a) Bạch cầu đa nhân trung tính (N)
- Nhân có thắt đoạn >2 đoạn, thường từ 3 – 5 đoạn hoặc có thể nhiều hơn Tế
bào chất: có các hạt nhỏ và dàn đều trên nền bào tương , khi nhuộm giemsa thấy hình
ảnh như các hạt bụi màu hồng
- Chức năng chủ yếu là thực bào vi khuẩn và các vật lạ, bảo vệ cơ thể (gọi là
tiểu thực bào)
b) Bạch cầu đa nhân ưa axit (E)
- Nhân cũng chia nhiều đoạn, nhưng thường ít hơn bạch cầu đa nhân trung tính
và thường không nhìn rõ đoạn (do bị các hạt chèn lên) Tế bào chất: có chứa các hạt to,
tròn đều, bắt màu vàng pha nâu, đôi khi là màu cam Hạt của loại bạch cầu này thường
hay chèn đè lên nhân làm nhìn nhân không rõ như bạch cầu đa nhân trung tính
- Chức năng của chúng hiện nay chưa đầy đủ, nhưng sự tăng bạch cầu đa nhân
ưa axit có liên quan mật thiết tới dị ứng và nhiễm ký sinh trùng
c) Bạch cầu đa nhân ưa bazơ (B)
- Nhân thường chia 2 đoạn Tế bào chất: có chứa các hạt bắt màu đen sẫm, thô,
to không đều nhau, chồng đè lên cả nhân
- Chức năng của chúng cũng chưa rõ ràng
Trang 181.1.4.3 Tiểu cầu
Từ tế bào gốc đa năng dòng tủy sinh ra tế bào mẹ dòng mẫu tiểu cầu Từ đó tạo
ra tế bào đầu dòng mẫu tiểu cầu là nguyên mẫu tiểu cầu
Tiếp theo là mẫu tiểu cầu ưa bazơ rồi đến mẫu tiểu cầu có hạt chưa sinh tiểu cầu
và cuối cùng là mẫu tiểu cầu có hạt đang sinh tiểu cầu Trung bình một mẫu tiểu cầu sẽ
phóng thích khoảng 3000-4000 tiểu cầu
1.2 KHÁI NIỆM VỀ “RỐI LOẠN SINH TỦY” (MYELODYSPLASIA)
Khái niệm rối loạn sinh tủy (myelodysplasia) để chỉ tình trạng tủy xương có thể
vẫn nhiều tế bào nhưng do các tế bào tạo máu đầu dòng bị rối loạn về hình thái và quá
trình trưởng thành nên không đủ khả năng thay thế các tế bào già bị chết đi trong tuần
hoàn Hậu quả của tình trạng này là gây nên giảm 1,2 hoặc cả 3 dòng máu ngoại vi dẫn
đến các triệu chứng xuất huyết (do giảm tiểu cầu), nhiễm trùng (do giảm bạch cầu
đoạn trung tính), và hầu hết các trường hợp có thiếu máu [1], [5], [6], [7], [16]
1.2.1 Lịch sử nghiên cứu và tên gọi
Vào những năm đầu của thế kỷ 20, đã bắt đầu xuất hiện trên các y văn những
báo cáo về các bệnh giảm tế bào mà điều trị rất khó và diễn biến rất dai dẳng
Chevalier (1942) đã gọi tình trạng bệnh lý đó là: ―Odo-leukemia‖ (―Odo‖ gốc Hy Lạp
nghĩa là ―mấp mé‖) với dụng ý để làm nổi bật tính kề cận với một ung thư máu [1],
[4], [5], [16], [7]
Về sau các tác giả khác như Helmilton Paterson (1949) và rồi Block M (1953)
đã có những báo cáo khá chi tiết về trạng thái bệnh lý này, và đồng thời đã gắn chúng
với tên gọi ―tiền ung thư máu‖
Thực ra nhóm bệnh lý này còn có rất nhiều tên gọi khác nhau, như:
+ Trạng thái báo trước của ung thư máu
+ Thiếu máu do không sử dụng được sắt
+ Thiếu máu không rõ nguyên nhân, dai dẳng có sideroblast
Trang 19+ Giảm 3 dòng tế bào máu có tủy tăng sinh
+ Loạn sản tủy sinh máu
+ Ung thư máu dòng tủy bán cấp
+ Loạn sản tủy
+ Thiếu máu dai dẳng có hồng cầu non
+ Ung thư máu ít tế bào non ác tính
+ Ung thư máu âm ỉ
+ Thiếu máu dai dẳng có tăng quá mức tế bào non ác tính
Tên gọi càng nhiều chứng tỏ sự thể hiện của bệnh càng đa dạng Mỗi tác giả đã
đặt tên cho nhóm bệnh lý này bằng một tên gọi khác nhau tùy theo việc họ chủ định
hướng vào một hoặc các triệu chứng nổi bật nào đó của bệnh Bởi vậy, mà hầu hết các
tên gọi chưa thật sự nói lên được bản chất của nhóm bệnh lý này [1], [4], [5], [7]
Kể từ khi có cách xếp loại của nhóm chuyên gia huyết học Pháp – Anh – Mỹ
(FAB – 1982) thì hầu hết các y văn đều sử dụng thuật ngữ HCRLST để chỉ tất cả các
trạng thái bệnh lý trong nhóm này [1], [4], [5], [7]
Ở Việt Nam, cũng đã có một số tài liệu viết về HCRLST, dưới nhiều tên gọi
khác nhau: [1], [4], [5], [7]
+ G.S Bạch Quốc Tuyên (1984) đã đề cập đến hội chứng này dưới tên gọi: ―
Rối loạn sinh tủy và sinh tủy không hiệu lực‖
+ B.s Bùi Trang Tước (1985) gọi là ―Các loại thiếu máu khó chữa và hội chứng
rối loạn tạo tủy‖
+ G.S Trần Văn Bé và G.S Đào Văn Chinh (1990) cũng đã mô tả HCRLST
trong cuốn ―Lâm sàng các chứng thiếu máu‖ dưới tên gọi ―Thiếu máu dai dẳng‖
1.2.2 Nguyên nhân và cơ chế gây bệnh
Nguyên nhân gây HCRLST vẫn còn chưa được biết rõ Tuy nhiên một số yếu tố
Trang 20như tia xạ, hóa chất nhóm benzen, hóa trị liệu nhóm alkylan, virus, một số bệnh di
truyền như bệnh Down, Fanconi, hay quá trình lão hóa của tuổi già với xu hướng dễ
biến dị một cách tự nhiên đã được coi là những yếu tố thuận lợi tham gia vào quá trình
phát sinh ra HCRLST [5], [4], [6], [7]
Các nghiên cứu đều cho thấy rằng cơ chế gây bệnh này vô cùng phức tạp và rất
khác nhau tùy theo từng trường hợp Có một số giả thuyết chính về cơ chế sinh bệnh
trong HCRLST như sau:
1.2.2.1 Tổn thương tế bào gốc tạo máu
a) Dưới tác động của các yếu tố môi trường, đột biến đầu tiên sẽ xảy ra tại một
tế bào gốc sinh máu [10], [11], [26], [42], [30]
- Do tế bào gốc sinh máu bị tổn thương nên tạo ra các dòng tế bào tổn thương
khác nhau:
+ Số lượng hồng cầu giảm dẫn đến thiếu máu (từ từ hoặc hoặc dai dẳng)
+ Xuất huyết do số lượng tiểu cầu giảm, hình thái tiểu cầu to nhỏ không đều
hoặc tiểu cầu có kích thước khổng lồ
+ Nhiễm trùng do bạch cầu giảm, BCĐTT nhân tăng đoạn hoặc tăng hạt đặc
hiệu hoặc mất hạt đặc hiệu…
b) Cơ chế tổn thương tế bào gốc ở mức độ phân tử:
- Trong cơ chế sinh bệnh của HCRLST người ta đã nói nhiều đến vai trò quan
trọng của 2 nhóm gen RAS và P53 [5], [10], [31], [35]
+ Sự xuất hiện của đột biến RAS được ghi nhận trong 3 - 50% các bệnh nhân
rối loạn sinh tuỷ Những trường hợp này thường có tiên lượng xấu với nhiều khả năng
chuyển dạng thành ung thư máu
+ Đột biến ở gen ức chế u P53 cũng được ghi nhận trong khoảng 10% các bệnh
nhân rối loạn sinh tuỷ, đa số bệnh nhân này có các bất thường nhiễm sắc thể khác kèm
theo, hay gặp nhất là ở các nhiễm sắc thể số 5 và 7
Trang 21+ Các phân tích bằng kỹ thuật nhuộm FISH ở những bệnh nhân rối loạn sinh
tuỷ có del(7q) cho thấy, các đoạn gen bị mất có thể nằm ở nhiều vị trí khác nhau, điều
này cho thấy, mất bất kỳ một gen nào trong một số gen nằm trên nhánh 7q cũng có thể
góp phần gây ra hội chứng rối loạn sinh tuỷ
1.2.2.2 Tổn thương hệ thống miễn dịch
a) Rối loạn miễn dịch tế bào:
- Giảm lymphoxit T4 (T helper), còn lymphoxit T8 (T suppressoor) có thể tăng
hoặc bình thường [10], [14], [24], [14] Tuy nhiên theo một số tác giả sự đảo ngược tỷ
lệ T4/T8 này thường chỉ gặp ở những bệnh nhân truyền máu nhiều lần [24]
- Lymphoxit T8 tăng gây tăng tiết chất làm ức chế sự trưởng thành bình thường
của tế bào dòng tủy [10], [14], [24]
- Tế bào diệt tự nhiên (Natural killer) có thể bị giảm [14]
- Giảm sản xuất γ Interferon của tế bào lympho T, nhất là ở bệnh nhân có hội
chứng 5q [44]
b) Rối loạn miễn dịch dịch thể:
Biến dị tại tế bào gốc nguyên thủy là nguồn gốc của những rối loạn về hệ miễn
dịch mà từ đó có thể gây nên những biểu hiện lâm sàng trong HCRLST như dễ mắc
các bệnh nhiễm trùng, các bệnh tự miễn Mặt khác một khi hệ thống miễn dịch bị suy
giảm lại tạo điều kiện cho sự phát triển và chuyển biến ác tính của dòng tế bào bệnh lý
[14], [24]
1.2.2.3 Chết theo chương trình (appotosis) trong hội chứng rối loạn sinh tủy
Những năm gần đây đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về hiện tượng chết
theo chương trình trong HCRLST [31], [35] Thông qua việc quan sát các tế bào tủy
xương trên kính hiển vi điện tử, nghiên cứu hóa tổ chức trên các phiến đồ sinh thiết
tủy, nghiên cứu tỷ lệ tế bào chết theo chương trình sau nuôi cấy ngắn ngày tế bào tủy
xương bệnh nhân HCRLST hay nghiên cứu sự giảm chết theo chương trình của các
Trang 22dòng tế bào tủy ở bệnh nhân đáp ứng tốt với điều trị các tác giả đã có nhận xét rằng ở
giai đoạn sớm của HCRLST-giai đoạn tiền ung thư máu, sở dĩ có tình trạng sinh máu
không hiệu lực là do có quá nhiều tế bào trong tủy xương chết theo chương trình Vấn
đề cho đến nay vẫn chưa được sáng tỏ là tổn thương sinh học phân tử nào đã dẫn đến
tăng hiện tượng chết theo chương trình [35] Trong tương lai hiện tượng chết theo
chương trình còn tiếp tục được nghiên cứu để có thể xác định được rõ hơn quá trình
sinh học phân tử của sự tiến triển HCRLST từ chỗ tăng chết theo chương trình ở giai
đoạn tiền ung thư máu đến giảm chết theo chương trình trong giai đoạn chuyển thành
ung thư máu cấp [35]
1.3 TRIỆU CHỨNG LÂM SÀNG VÀ XÉT NGHIỆM CỦA HỘI CHỨNG
RỐI LOẠN SINH TỦY 1.3.1 Triệu chứng lâm sàng
- Thường gặp ở người trên 50 tuổi, nam > nữ
- Thiếu máu là triệu chứng sớm nhất và thường gặp nhất (60%) Thiếu máu
thường từ từ, dai dẳng không rõ nguyên nhân, với các triệu chứng da xanh kéo dài,
điều trị thiếu máu bằng các yếu tố tạo máu như viên sắt, acid folic, vitamin B12 không
có kết quả
- Hội chứng xuất huyết: tính chất xuất huyết do giảm tiểu cầu, xuất huyết nhiều
nơi: xuất huyết dưới da, chảy máu chân răng, xuất huyết ở mắt, hệ tiêu hóa, kinh
nguyệt kéo dài ở phụ nữ… truyền tiểu cầu ở những bệnh nhân này kết quả không được
lâu dài
- Hội chứng nhiễm trùng: sốt, viêm đường hô hấp, đường tiết niệu, nhiễm trùng
ngoài da… có tính chất dai dẳng, hay tái phát, dùng kháng sinh không có hiệu quả
Nguyên nhân là do giảm bạch cầu hạt kéo dài
- Có thể gặp gan to và/ hoặc lách to
- Thâm nhiễm ngoài da thường gặp ở bệnh nhân có tăng bạch cầu monocyte
Các triệu chứng trên có thể xuất hiện đơn độc hoặc phối hợp nhau, các hội chứng
Trang 23nhiễm trùng, xuất huyết, gan lách to gặp với tỷ lệ thấp hơn hội chứng thiếu máu [14],
[20], [25], [27]
1.3.2 Triệu chứng cận lâm sàng
1.3.2.1 Bất thường về tế bào máu
a) Bất thường về số lượng:
- Ở máu ngoại vi: giảm 1, 2 hoặc 3 dòng tế bào hồng cầu, bạch cầu, tiểu cầu
máu ngoại vi Hay gặp nhất là giảm dòng hồng cầu hoặc chỉ có hồng cầu kích thước to
mà không có thiếu máu Có thể tăng monocyte ở máu ngoại vi
- Ở tủy xương: thường gặp tình trạng tăng sinh các dòng hoặc gặp trường hợp
giảm sinh hoặc tuyệt sản dòng hồng cầu hoặc mẫu tiểu cầu [18]
b) Bất thường về hình thái:
Các bất thường về hình thái có thể gặp ở các dòng là:
- Đối với hồng cầu:
+ Máu ngoại vi: có thể gặp các hình ảnh hồng cầu to nhỏ không đều, hồng cầu
có chấm ưa bazơ, hồng cầu có chứa thể Howell Jolly, hồng cầu đa sắc, có hồng cầu
non ra máu ngoại vi
+ Tủy xương: nguyên hồng cầu nhiều nhân nhỏ, nhân vệ tinh, nguyên hồng cầu
khổng lồ, bất thường về bào tương, có sự không tương xứng giữa nhân và nguyên sinh
chất, nguyên hồng cầu sắt vòng, tăng sinh dòng hồng cầu
- Đối với bạch cầu:
+ Máu ngoại vi: bạch cầu đoạn trung tính bị giảm hoặc mất hạt đặc hiệu, nhân
tăng đoạn hoặc giảm đoạn, có bạch cầu chưa trưởng thành ra máu, có thể có tế bào
non, bạch cầu dạng Pelger-Huet, nhân dạng vòng
+ Tủy xương: ngoài các đặc điểm như máu ngoại vi còn có tăng tế bào non,
bạch cầu kém biệt hóa (tỷ lệ tế bào non/ trưởng thành > 1/4), có hiện tượng nhân nứt,
vỡ, nhân có vệ tinh, có chồi
Trang 24- Đối với tiểu cầu:
+ Máu ngoại vi: tiểu cầu kích thước to nhỏ không đều, tiểu cầu kích thước to,
tiểu cầu khổng lồ
+ Tủy xương: mẫu tiểu cầu khổng lồ dạng một nhân, hai nhân, mẫu tiểu cầu
kích thước nhỏ, mẫu tiểu cầu có nhiều nhân nhỏ, tròn, giảm sinh dòng mẫu tiểu cầu
c) Tế bào blast (tế bào non ác tính)
- Ở các nhóm bệnh nhân khác nhau có sự khác biệt về tỉ lệ tế bào non ác tính
trong tủy xương:
+ Các thể bệnh: thiếu máu dai dẳng (RA), thiếu máu dai dẳng tăng nguyên hồng
cầu sắt vòng (RARS), giảm tế bào dai dẳng có rối loạn nhiều dòng tế bào (RCMD),
giảm tế bào dai dẳng có rối loạn nhiều dòng tế bào và tăng NHC sắt vòng (RCMD –
RS), hội chứng rối loạn sinh tủy không xếp loại (MDS – U), hội chứng rối loạn sinh
tủy có kết hợp mất nhánh dài nhiễm sắc thể số 5 (del 5q) có tỉ lệ tế bào non trong tủy
1.3.2.2 Bất thường về mô bệnh học tủy xương
- Mật độ tế bào tủy: thường tăng (hyperplasia), nhưng có thể bình thường
(normoplasia) hoặc giảm (hypoplasia) [5], [31]
- Có sự đảo lộn cấu trúc bình thường của tủy xương như: có sự chuyển vị trí của
các tế bào dòng hạt đáng lẽ chủ yếu ở cạnh khoang xương (para-trabecular) nay phần
lớn là ở tại các vùng trung tâm (intrabecular) Ngược lại các tế bào dòng hồng cầu và
mẫu tiểu cầu lại di chuyển từ vị trí bình thường ở trung tâm tủy xương ra bề mặt
khoang xương [20] Đặc biệt là có sự tập trung của các tế bào non ác tính dòng hạt
Trang 25biểu hiện bằng các đám, cụm có từ ≥3 tế bào đầu dòng được gọi là ALIP (anormal
localization of immature precursor), bất thường này đã được Tricot mô tả đầu tiên vào
năm 1984
- Rối loạn sinh dòng hồng cầu (dyserythropoiesis), bạch cầu hạt (dysgranulopoiesis),
và mẫu tiểu cầu (dysmegakaryocytopoisis) cũng có thể phát hiện được trên bệnh phẩm
sinh thiết (Delacretaz 1987, Tricot 1984) [15]
- Tăng bạch cầu acid, bạch cầu plasmo và các nang lympho cũng có thể gặp trên
tiêu bản sinh thiết của bệnh nhân HCRLST [20], [19]
- Tình trạng xơ hóa có thể phát hiện được ở trên 50% trường hợp HCRLST
Thường gặp xơ hóa dạng liên võng (reticulin) với mức độ vừa và nhẹ (xơ hóa mạnh
thường gặp trong HCRLST thứ phát [20]
1.3.2.3 Bất thường về di truyền tế bào
a) Tần xuất:
Với phương pháp nhuộm băng G thường qui, tỷ lệ rối loạn NST gặp khoảng
30-60%, nhưng với kỹ thuật nhuộm băng với độ phân giải cao (high-resolution
chromosome banding) Yunis và cs (1986) đã phát hiện bất thường NST ở 79% trường
hợp HCRLST nguyên phát Riêng ở HCRLST thứ phát, tổn thương NST có thể tới
80%-100% trường hợp [18] Tuy nhiên tần xuất thay đổi theo từng dưới nhóm:
30-50% ở nhóm RA, RARS và CMML, 60-90% ở các nhóm còn lại [25]
b) Các bất thường NST thường gặp:
- Bất thường nhiễm sắc thể thường thấy ở các tế bào bị loạn sản Nói chung, các
bất thường hay gặp là thêm nhiễm sắc thể số 8, mất nhánh dài của nhiễm sắc thể số 5,
7, 9, 20 hoặc 21, và 1 nhiễm sắc thể số 7 và số 9
- Bị mất một phần hoặc tất cả nhiễm sắc thể số 5 và số 7 là đặc biệt hay gặp
trong HCRLST [23]
Trang 261.3.2.4 Bất thường trong nuôi cấy tế bào tủy xương
- Nuôi cấy tế bào tủy xương (TBTX) cho thấy sự bất thường trong tăng trưởng
các tế bào đầu dòng bạch cầu hạt, hồng cầu và tiểu cầu Trong đa số các trường hợp có
sự giảm hoặc biến mất khả năng tạo cụm (colonie) của toàn bộ tế bào gốc sinh máu
(hematopoietic precursor) Những bất thường quan sát được là:
+ Tăng trưởng dạng ung thư máu: có đặc điểm là tăng sự tạo thành các đám lớn
và một số cụm nhỏ Những đám này bao gồm những tế bào non ác tính biệt hóa ở mức
độ khác nhau [18]
+ Tăng trưởng dạng không ung thư máu: có đặc điểm là giảm song song cả cụm
và đám, đôi khi biến mất các cụm [18]
1.3.2.5 Bất thường về chức năng các dòng tế bào máu
- Bạch cầu đoạn trung tính giảm khả năng di động, giảm dính, giảm khả năng
thực bào và diệt khuẩn do đó trên lâm sàng bệnh nhân dễ bị nhiễm khuẩn kể cả khi số
lượng bạch cầu đoạn trung tính bình thường hoặc giảm nhẹ [5], [31], [18]
- Tiểu cầu giảm khả năng kết dính với collagen, adrenalin do đó xét nghiệm
thời gian máu chảy kéo dài kể cả khi số lượng tiểu cầu bình thường [5], [31], [18]
- Hồng cầu rõ nhất là sự giảm hoạt động của men pyruvat kinase (50-70% so
với bình thường) ở gần nửa số bệnh nhân HCRLST Các men khác như hexokinase và
G6PD thường lại tăng hoạt động Ở một số bệnh nhân có tăng huyết sắc tố bào thai
(HbF), có biểu hiện của bệnh HbH mắc phải dẫn đến những thay đổi về hình thái hồng
cầu trưởng thành [5], [31], [18]
1.4 CHẨN ĐOÁN
- Dựa vào khám xét lâm sàng, nghiên cứu các tiêu bản máu ngoại vi, tủy xương và
STTX Tiêu chuẩn chẩn đoán như sau:
- Lâm sàng: bệnh nhân có các biểu hiện thiếu máu, nhiễm trùng, chảy máu Các
triệu chứng này có thể độc lập hoặc phối hợp với nhau và thường diễn biến dai dẳng
trong nhiều tháng, nhiều năm
Trang 27- Máu ngoại vi: giảm số lượng và có rối loạn hình thái ít nhất ở 1 dòng tế bào
hồng cầu, bạch cầu và tiểu cầu
- Tủy xương: giàu tế bào hoặc tế bào tủy bình thường kèm theo có rối loạn hình
thái ít nhất ở một dòng hồng cầu, bạch cầu và mẫu tiểu cầu (một dòng được gọi là có
rối loạn khi có ít nhất 10% tế bào thuộc dòng đó có rối loạn hình thái)
- Để chẩn đoán HCRLST nguyên phát cần loại trừ HCRLST thứ phát do: điều
trị bằng hóa chất, tia xạ, nhiễm độc kim loại nặng, thiếu vitamin B12 và acid folic,
nghiện rượu, bệnh ung thư, nhiễm HIV, lao, bệnh hệ thống, bệnh gan mạn tính và các
bệnh máu ác tính [20], [31], [34]
1.5 XẾP LOẠI HỘI CHỨNG RỐI LOẠN SINH TỦY THEO WHO 2001
Thiếu máu dai dẳng
(Refractory Anemia = RA)
Giảm tế bào dai dẳng có
rối loạn nhiều dòng tế bào
(Refractory cytopenia with
Giảm tế bào dai dẳng có
rối loạn nhiều dòng tế bào
và tăng nguyên hồng cầu
sắt vòng (Refractory
cytopenia with multilineage
dysplastic and ringed
Trang 28Thiếu máu dai dẳng tăng
quá mức tế bào blast
- Không thấy thể Auer
Thiếu máu dai dẳng tăng
quá mức tế bào blast
- Có khi thấy thể Auer
Hội chứng rối loạn sinh tủy
- Không thấy thể Auer
- Chỉ rối loạn dòng bạch cầu hạt hoặc mẫu tiểu cầu
- Tế bào blast < 5%
- Không thấy thể Auer
Hội chứng rối loạn sinh tủy
- Mẫu tiểu cầu bình thường hoặc tăng, giảm chia thùy
- Tế bào blast < 5%
- Không thấy thể Auer
Del(5q) đơn độc
- Những trường hợp có tế bào non ác tính tủy ≥20% sẽ không được xếp vào thể
RAEB-t mà xếp vào ung thư máu cấp
1.6 TIẾN TRIỂN VÀ TIÊN LƯỢNG CỦA HỘI CHỨNG RỐI LOẠN
SINH TỦY 1.6.1 Tiến triển của hội chứng rối loạn sinh tủy
Tiến triển là tất yếu dẫn đến tử vong do chuyển thành ung thư máu cấp hoặc do
nhiễm khuẩn, chảy máu, biến chứng của giảm tế bào máu hoặc ứ sắt là các biến chứng
do truyền máu nhiều lần
Theo phân loại WHO nhóm RA và RARS có đời sống trung bình là 3 năm với
tỷ lệ chuyển ung thư máu cấp <15%, nhóm RAEB-t là 6 tháng với tỉ lệ chuyển thành
ung thư máu cấp là rất cao
Trang 291.6.2 Các yếu tố tiên lượng trong hội chứng rối loạn sinh tủy
- Các thể theo phân loại WHO
- Mức độ giảm tế bào ở giai đoạn chẩn đoán
- Tăng monocyt trong CMML
- Tỷ lệ tế bào non ác tính ở máu và tủy
- Bất thường về NST
- Sự có mặt của ALIP
- Nuôi cấy tủy
1.7 ĐIỀU TRỊ HỘI CHỨNG RỐI LOẠN SINH TỦY
Cho đến nay vẫn chưa có một phương pháp điều trị đặc hiệu nào và cũng không
có một phương pháp điều trị chung nào cho tất cả bệnh nhân HCRLST [12], [13], [21],
[38], [39], [42], [43] Việc lựa chọn một phương án điều trị thích hợp cho từng bệnh
nhân đều phải dựa trên cơ sở đánh giá các yếu tố nguy cơ
Một số phương pháp điều trị bệnh đã dùng:
- Pyridoxin, hormon
- Hóa trị liệu tăng cường, ghép tủy đồng loài
- Tác nhân biệt hóa, các yếu tố tăng trưởng
1.8 NGHIÊN CỨU HỘI CHỨNG RỐI LOẠN SINH TỦY Ở VIỆT NAM
Trong vòng 25 năm trở lại đây đã có một số tác giả viết về hội chứng này dưới
các tên gọi khác nhau như: Bùi Trang Tước (1985) gọi là ―Các loại thiếu máu khó
chữa và hội chứng rối loạn tạo tủy‖ [9], Trần Văn Bé và Đào Văn Chinh (1990) mô tả
HCRLST trong quyển ― Lâm sàng các chứng thiếu máu‖ dưới tên gọi ― Thiếu máu dai
dẳng‖ [1], Bạch Quốc Tuyên (1991) đã đề cập đến hội chứng này dưới tên gọi ― Thiếu
máu dai dẳng và Sinh máu không hiệu lực‖ [8], và gần đây nhóm tác giả Nguyễn Anh
Trí và Nguyễn Hữu Toàn (2010) đã viết một chương lớn để viết về hội chứng này
Trang 30trong cuốn ―Từ tiền lơ xê mi đến lơ xơ mi cấp‖ [5]
Tuy nhiên những nghiên cứu về hội chứng này ở nước ta thực sự còn ít Mới chỉ
có một số nghiên cứu lâm sàng trên số lượng nhỏ bệnh nhân và chưa có tính hệ thống
[6], [7] Chưa có một con số thống kê nào về tỷ lệ mắc HCRLST ở Việt Nam được
công bố, ngoài con số thống kê tại viện Huyết học – Truyền máu Trung ương [2] Có
thể nói những nghiên cứu ở nước ta vừa qua chưa thật xứng với một nhóm bệnh lý
đang được các nhà huyết học trên thế giới để tâm nghiên cứu trong hàng thập kỷ qua,
do bệnh đang có chiều hướng ngày một gia tăng tại nhiều quốc gia trong khi cơ chế
sinh bệnh chưa hoàn toàn sáng tỏ và vì thế chưa có một phương thuốc nào điều trị hữu
hiệu Để bắt đầu một quá trình nghiên cứu một cách hệ thống chúng tôi thấy cần thiết
phải có các nghiên cứu về đặc điểm lâm sàng, và một số đặc điểm cận lâm sàng của
bệnh, trước mắt làm cơ sở cho việc chẩn đoán, tiên lượng và đề ra những chiến lược
điều trị sát hợp và sau đó tạo tiền đề cho các bước nghiên cứu sâu hơn về cơ chế sinh
của hội chứng này [1], [3], [4], [6], [7]
Trang 31Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
31 bệnh nhân được chẩn đoán HCRLST nguyên phát thể có blast (có tế bào non
ác tính) tại Khoa Huyết học – Truyền máu bệnh viện Bạch Mai HN từ 20/7/2010 đến
23/8/2011
2.1.1 Chẩn đoán hội chứng rối loạn sinh tủy nguyên phát thể có blast
- Lâm sàng: bệnh nhân có các biểu hiện thiếu máu, nhiễm trùng, chảy máu Các
triệu chứng này có thể độc lập hoặc phối hợp với nhau và thường diễn biến dai dẳng
- Máu ngoại vi: giảm số lượng, có rối loạn hình thái ít nhất ở một dòng tế bào
hồng cầu, bạch cầu hoặc tiểu cầu
- Tủy xương: giầu tế bào, hoặc tế bào tủy bình thường kèm theo có rối loạn
hình thái ít nhất ở một dòng hồng cầu, bạch cầu hạt hoặc mẫu tiểu cầu (một dòng được
gọi là có rối loạn khi có ít nhất 10% tế bào thuộc dòng đó có rối loạn hình thái), đối
với thể RAEB có tỷ lệ tế bào non ác tính từ 5 – 19% [20], [31], [34]
- Loại trừ HCRLST thứ phát sau điều trị bằng hóa chất, tia xạ, nhiễm độc kim
loại nặng, thiếu vitamin B12 và acid folic, nghiện rượu, bệnh ung thư, nhiễm HIV, lao,
bệnh hệ thống, bệnh gan mạn tính và các bệnh máu ác tính
2.1.2 Tiêu chuẩn chẩn đoán hội chứng rối loạn sinh tủy chuyển thành ung
thư máu cấp
Chẩn đoán HCRLST chuyển thành ung thư máu cấp khi chọc tủy có ≥ 20% tế
bào on ác tính trong tổng số tế bào có nhân trong tủy xương
Phân loại ung thư máu cấp sau HCRLST theo FAB – 1986: từ M0 – M7 đối với
ung thư máu cấp dòng tủy; từ L1 – L3 đối với ung thư máu cấp dòng lympho
Trang 322.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.2.1 Phương pháp: thực hiện nghiên cứu mô tả, tiến cứu theo một qui trình
thống nhất bao gồm:
- Chẩn đoán xác định và xếp loại bệnh nhân HCRLST theo bảng phân loại
WHO 2001
- Lập hồ sơ bệnh án theo mẫu riêng để thu thập chi tiết các triệu chứng lâm sàng
và xét nghiệm (mẫu bệnh án nghiên cứu được trình bày ở phần phụ lục)
- Phân tích các xét nghiệm huyết đồ, tủy đồ, sinh thiết tủy xương Những xét
nghiệm này được tiến hành tại thời điểm bệnh nhân vào viện lần đầu tiên
Mô hình các bước tiến hành nghiên cứu
Các bệnh nhân được chẩn đoán HCRLST nguyên phát
Xếp loại theo WHO 2001
Nghiên cứu đặc điểm tế bào sinh máu qua huyết đồ, tủy đồ, sinh thiết tủy
xương
Trang 332.2.2 Vật liệu nghiên cứu
- Máu ngoại vi của 31 bệnh nhân: lấy máu tĩnh mạch (0,5-1ml) chống đông
bằng EDTA K3 Làm tiêu bản máu dàn, đọc các chỉ số tế bào máu ngoại vi trên máy
đếm tế bào tự động XT 4000i của hãng Sysmex – Nhật Bản Nhuộm giêm sa bằng máy
Leica, quan sát hình thái tế bào máu, đánh giá rối loạn hình thái
- Dịch hút tủy xương: 1 ml dịch tủy lấy đầu tiên khi chọc hút tủy: 0,5ml dùng
kéo 8 tiêu bản (2 tiêu bản nhuộm giêm sa, tiêu bản còn lại hồng cầu sắt hoặc nhuộm
hóa học tế bào khi cần thiết); 0,5ml còn lại chống đông bằng EDTA K3 dùng làm tủy
đồ, để đếm tế bào tủy, làm hồng cầu lưới tủy
- Mô tủy xương (qua sinh thiết tủy xương) làm tiêu bản sinh thiết Tiêu chuẩn
mẫu sinh thiết: dài 1-1,5 cm
- Sau đó kết quả được ghi lại vào ―Phiếu xét nghiệm Huyết – Tủy đồ‖ theo mẫu
của phòng xét nghiệm khoa Huyết học – Truyền máu như sau:
Họ và tên người bệnh: ……… Tuổi: ……… Nam/Nữ
Làm xét nghiệm: … giờ… ngày… tháng… năm 20…
Test thuốc tê:……… Kết quả:…………
Ngày… tháng… năm 20…
BÁC SĨ ĐIỀU TRỊ
Họ tên:………
Trang 34Số lượng hồng cầu (T/l) Chỉ số trưởng thành dòng BC hạt
Số lượng bạch cầu (G/l) Esterase không ức chế
Số lượng tiểu cầu (G/l) Esterase ức chế bằng NaF
Số lượng tế bào tủy xương (G/l) PAS
- Đặc điểm tế bào học máu ngoại vi bao gồm: số lượng, thành phần, đặc điểm
rối loạn hình thái các loại tế bào máu (hồng cầu, bạch cầu, tiểu cầu), tỷ lệ % tế bào non
ác tính
- Đặc điểm tế bào học tủy xương: số lượng tế bào tủy ở mỗi thể bệnh, đặc điểm
rối loạn hình thái theo dòng
2.2.4 Các kỹ thuật sử dụng trong nghiên cứu: (Được thực hiện tại phòng xét
nghiệm huyết học Khoa Huyết học – Truyền máu Bệnh viện Bạch Mai Hà nội)
2.2.4.1 Kỹ thuật lấy mẫu bệnh phẩm
Kỹ thuật lấy máu ngoại vi, chọc hút tủy xương và sinh thiết tủy xương được
thực hiện theo một quy trình thống nhất của Viện HH-TM