Nghiên cứu một số đặc điểm của quần xã côn trùng nước tại khu vực nghiên cứu như: mật độ, phân bố, các chỉ số đa dạng... Ngoài các công trình nghiên cứu về đặc điểm phân loại của Phù d
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
-
Trần Tiến Thực
NGHIÊN CỨU ĐA DẠNG SINH HỌC CỦA CÔN TRÙNG NƯỚC
Ở VƯỜN QUỐC GIA HOÀNG LIÊN, TỈNH LÀO CAI
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Hà Nội - Năm 2012
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
-
Trần Tiến Thực
NGHIÊN CỨU ĐA DẠNG SINH HỌC CỦA CÔN TRÙNG NƯỚC
Ở VƯỜN QUỐC GIA HOÀNG LIÊN, TỈNH LÀO CAI
NGHIÊN CỨU ĐA DẠNG SINH HỌC CỦA CÔN TRÙNG NƯỚC
Ở VƯỜN QUỐC GIA HOÀNG LIÊN, TỈNH LÀO CAI
Chuyên ngành: Động vật học
Mã số: 60 42 10
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS NGUYỄN VĂN VỊNH
Hà Nội - Năm 2012
Trang 3Mục lục
MỞ ĐẦU 5
Chương 1 - TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Tình hình nghiên cứu côn trùng nước trên thế giới 3
1.2 Tình hình nghiên cứu côn trùng nước ở Việt Nam 12
1.3 Tình hình nghiên cứu côn trùng nước ở Vườn Quốc gia Hoàng Liên 16
1.4 Một số đặc điểm tự nhiên của Vườn Quốc gia Hoàng Liên, tỉnh Lào Cai 17
1.4.1 Vị trí địa lý 17
1.4.2 Địa hình 18
1.4.4 Khí hậu 18
1.4.5 Thủy văn 19
Chương 2 - THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20
2.1 Thời gian nghiên cứu 20
2.2 Địa điểm nghiên cứu 20
2.3 Vật liệu và phương pháp nghiên cứu 26
2.3.1 Vật liệu nghiên cứu 26
2.3.2 Phương pháp nghiên cứu 26
2.3.3 Một số chỉ số Đa dạng sinh học 27
2.3.4 Xử lý số liệu 29
Chương 3 - KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 30
3.1 Một số chỉ số thủy lý, hóa học tại các điểm nghiên cứu 30
3.2 Thành phần loài côn trùng nước tại khu vực nghiên cứu 31
3.2.1 Thành phần loài của bộ Phù du (Ephemeroptera) 33
Trang 43.2.2 Thành phần loài của bộ Chuồn chuồn (Odonata) 34
3.2.3 Thành phần loài của bộ Cánh úp (Plecoptera) 34
3.2.4 Thành phần loài của bộ Cánh nửa (Hemiptera) 35
3.2.5 Thành phần loài của bộ Cánh cứng (Coleoptera) 35
3.2.6 Thành phần loài của bộ Cánh rộng (Megaloptera) 36
3.2.7 Thành phần loài của bộ Hai cánh (Diptera) 36
3.2.8 Thành phần loài của bộ Cánh lông (Trichoptera) 36
3.2.9 Thành phần loài của bộ Cánh vẩy (Lepidoptera) 37
3.3 So sánh số lượng và thành phần loài giữa các điểm nghiên cứu 42
3.3.1 So sánh số lượng loài giữa các điểm nghiên cứu 42
3.3.2 Tính tương đồng về thành phần loài giữa các điểm nghiên cứu 45
3.4 Một số đặc điểm của quần xã côn trùng nước tại khu vực nghiên cứu 48
3.4.1 Mật độ côn trùng nước tại khu vực nghiên cứu 48
3.4.2 Loài ưu thế và một số chỉ số đa dạng 53
3.5 Phân bố côn trùng nước theo tính chất của thủy vực 54
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 57
TÀI LIỆU THAM KHẢO 59
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1 Một số chỉ số thủy lý, hóa học tại các điểm nghiên cứu 30
Bảng 2 Cấu trúc thành phần loài côn trùng nước tại khu vực nghiên cứu 32
Bảng 3 Thành phần loài côn trùng nước thu được ở khu vực nghiên cứu 37
Bảng 4 Số loài thu được của mỗi bộ côn trùng nước ở các điểm khảo sát 42
Bảng 5 Chỉ số Jacca - Sorensen giữa các điểm nghiên cứu 46
Bảng 6 Số lượng cá thể các bộ côn trùng nước tại khu vực nghiên cứu 49
Bảng 7 Mật độ cá thể côn trùng nước thu được tại các điểm nghiên cứu trên đơn vị diện tích 0.25m2 51
Bảng 8 Loài ưu thế, chỉ số loài ưu thế (DI), chỉ số Magalef (d) và chỉ số Đa dạng sinh học Shannon – Weiner (H’) 53
Bảng 9 Số lượng loài và số lượng cá thể côn trùng nước ở nơi nước chảy và nước đứng trên đơn vị diện tích 0,25 m2 55
Trang 6DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1 Sơ đồ các điểm thu mẫu trong khu vực nghiên cứu 21 Hình 2 Tỷ lệ % số loài theo bộ tại khu vực nghiên cứu 32 Hình 3 Số loài thu được của mỗi bộ côn trùng nước ở các điểm khảo sát 43 Hình 4 Sơ đồ Jacca - Sorensen thể hiện mối liên quan giữa các điểm nghiên cứu 47 Hình 5 Số cá thể thu được ở mỗi bộ côn trùng nước tại khu vực nghiên cứu 50 Hình 6 Mật độ cá thể côn trùng nước thu được tại các điểm nghiên cứu trên đơn
vị diện tích 0,25m2 52 Hình 7 So sánh số loài trung bình giữa nơi nước chảy và nơi nước đứng tại các điểm nghiên cứu (trên đơn vị diện tích 0,25m2
) 55 Hình 8 So sánh số cá thể trung bình giữa nơi nước chảy và nơi nước đứng tại các điểm nghiên cứu (trên đơn vị diện tích 0,25m2
) 56
Trang 71
MỞ ĐẦU
Côn trùng ở nước giữ vai trò quan trọng trong hệ sinh thái nước ngọt và có mặt hầu hết trong các thủy vực nội địa, đặc biệt rất phổ biến ở các hệ thống sông, suối thuộc vùng trung du, núi cao Mỗi một môi trường thủy vực, nhóm sinh vật này đều có những đặc tính thích nghi phù hợp So với nhiều nhóm sinh vật khác, côn trùng nước có nhiều đặc tính nổi trội như số lượng loài, số lượng cá thể lớn…đặc biệt chúng là những mắt xích không thể thiếu trong chuỗi và lưới thức ăn: vừa là những sinh vật tiêu thụ bậc 1, bậc 2 vừa là nguồn thức ăn của của cá và nhiều loài động vật có xương sống khác Vì vậy chúng tham gia tích cực trong vai trò cân bằng mối quan hệ dinh dưỡng ở hệ sinh thái thủy vực
Nhiều loài côn trùng nước có quan hệ mật thiết đối với con người Một số loài côn trùng nước gây hại là tác nhân truyền bệnh, tác nhân gây bệnh Đáng chú
ý là những nhóm giữ vai trò quan trọng trong dịch tễ học như các loài thuộc giống
Anopheles, Aedes thuộc bộ Hai cánh (Diptera)… Giai đoạn trưởng thành của các chúng là những vector truyền bệnh sốt rét, sốt vàng da cho người Khác với nhóm côn trùng trên cạn, phần lớn các loài thuộc côn trùng nước tồn tại cả trong môi trường nước và trong môi trường cạn Do vậy, chúng là đối tượng lý tưởng dùng trong các nghiên cứu về sinh thái học và sinh học tiến hóa Đa phần các loài Côn trùng nước đều nhạy cảm với các biến đổi của môi trường nước Vì vậy hiện nay, một trong những hướng nghiên cứu quan trọng về nhóm côn trùng nước là dùng đối tượng này làm chỉ thị chất lượng môi trường
Trên thế giới đã có rất nhiều thành tựu nghiên cứu trên đối tượng côn trùng nước, từ việc phân loại cho đến những nghiên cứu về tập tính, sinh thái, sinh sản, di truyền, tiến hóa … Ở Việt Nam, trong những năm gần đây côn trùng nước cũng đã được quan tâm nghiên cứu, đặc biệt là ở các Vườn Quốc gia và các Khu bảo tồn thiên nhiên, những nơi có hệ thống sông, suối phong phú, tiềm ẩn tính đa dạng côn trùng nước cao Để góp phần tìm hiểu nhóm sinh vật có ý nghĩa này, chúng tôi tiến
Trang 82
hành thực hiện đề tài “Nghiên cứu đa dạng sinh học của côn trùng nước ở Vườn
Quốc gia Hoàng Liên, tỉnh Lào Cai”, nhằm mục đích:
Xác định thành phần loài của côn trùng nước tại một số suối của Vườn Quốc gia Hoàng Liên, tỉnh Lào Cai
Nghiên cứu một số đặc điểm của quần xã côn trùng nước tại khu vực nghiên cứu như: mật độ, phân bố, các chỉ số đa dạng
Trang 93
Chương 1 - TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Tình hình nghiên cứu côn trùng nước trên thế giới
Côn trùng nước đã được quan tâm nghiên cứu từ rất lâu trên thế giới, đặc biệt
ở những nước phát triển Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến từng
bộ của nhóm côn trùng này, từ những nghiên cứu về phân loại học (Eaton, 1871,
1883 - 1888; Lepneva, 1970, 1971; McCafferty, 1973, 1975; Kawai, 1961, 1963), sinh thái học (Brittain, 1982), tiến hoá (Edmunds, 1972; McCafferty, 1991) đến những nghiên cứu về ứng dụng (Morse, 1984) [38] Đặc biệt đã có nhiều nghiên cứu
về các nhóm côn trùng nước gắn bó chặt chẽ với đời sống con người mà đa phần là tác nhân gây bệnh hoặc tác nhân truyền bệnh cho người và động vật như: ruồi, muỗi,… Điển hình là các nghiên cứu của Resh và Rosenberg, 1979; Merritt và Cummins, 1984; Merritt và Newson, 1978; Kim và Merritt, 1987 [38]
Việc nghiên cứu sử dụng côn trùng nước làm sinh vật chỉ thị chất lượng nước đã được bắt đầu từ những năm 60 của thế kỷ XX qua các công trình nghiên cứu của Kuehne (1962), Bartsch và Ingram (1966), Wilhm và Dorris (1968) Sang những năm 1970, 1980 côn trùng nước trở thành vấn đề trung tâm trong các nghiên cứu về sinh thái học ở các thủy vực nước ngọt (Barnes và Minshall, 1983) [38] Đã
từ lâu, các nhà khoa học sớm nhận ra vai trò quan trọng của côn trùng nước trong các hệ sinh thái, do đó phạm vi nghiên cứu côn trùng nước ngày càng được mở rộng, các hướng nghiên cứu không chỉ dừng lại ở việc mô tả, phân loại mà còn đi sâu vào các cơ chế bên trong như: biến động quần thể côn trùng, các mối quan hệ dinh dưỡng, đáp ứng yêu cầu của sinh thái học (Resh và Rosenberg, 1984; Cummins, 1994) [38]
Đến cuối thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI, nhiều nhà khoa học đã công bố hàng loạt các công trình nghiên cứu về côn trùng nước như: McCafferty W.P., 1983; Kawai T., 1985; John C.M., Yang Lianfang và Tian Lixin, 1994; Yoon, I.B., 1995; Merritt R W và Cummins K W., 1996; … Các nghiên cứu này đã bổ sung và cung cấp nhiều kiến thức về côn trùng nước bao gồm cả phân loại học, sinh thái học, tiến hóa, ứng dụng
Trang 104
Qua các công trình nghiên cứu, đến nay có thể xác định 9 bộ thuộc nhóm Côn trùng ở nước: Phù du (Ephemeroptera), Chuồn chuồn (Odonata), Cánh lông (Tricoptera), Cánh úp (Plecoptera), Cánh nửa (Hemiptera), Cánh cứng (Coleoptera), Hai cánh (Diptera), Cánh rộng (Megaloptera), Cánh vảy (Lepidoptera)
* Nghiên cứu về bộ Phù du (Ephemeroptera)
Bộ Phù du là côn trùng có cánh cổ sinh tương đối nguyên thủy, thậm chí còn được xem như một trong những tổ tiên của côn trùng Dựa vào những bằng chứng hóa thạch, chúng có thể đã phát sinh vào giai đoạn cuối của kỷ Cacbon và đầu kỷ Pecmơ trong đại Cổ sinh, cách đây khoảng 290 triệu năm [18] Các loài thuộc bộ Phù du được mô tả từ rất sớm Công trình nghiên cứu đầu tiên về phân loại học Phù
du là của nhà tự nhiên học nổi tiếng Lineaus (1758) Ông đã mô tả 6 loài Phù du tìm
thấy ở châu Âu và xếp chúng vào một nhóm là Ephemera [42]
A.E Eaton có thể được xem như cha đẻ của phân loại học về Phù du Tổng
hợp các bài báo đã viết, ông công bố công trình “A monograph on the
Ephemeridae” vào năm 1871 và vài năm sau đó là: “A revisional monograph of the Recent Ephemeridae or Mayflies” Ông đã phân loại Phù du đến các bậc phân loại
dưới giống (group, series, section), trở thành cơ sở cho phân loại học hiện đại [28] Công trình nghiên cứu này được xem như là chìa khóa cho việc thực hiện các nghiên cứu về phân loại Phù du tiếp sau này [44]
Nghiên cứu về Phù du thực sự phát triển mạnh mẽ vào thế kỷ XX, điển hình
là các công trình nghiên cứu của Ulmer (1920, 1924, 1925, 1932, 1933), Navás (1920, 1930), Lestage (1921, 1924, 1927, 1930), Needham và cộng sự (1935) [11]
Edmunds (1962) đã thực hiện nỗ lực đầu tiên để xây dựng cây phát sinh loài của Phù du và hệ thống phân loại đến họ Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của các nghiên cứu về Phù du, hệ thống phân loại của ông ngày càng tỏ ra hạn chế Một sự thay đổi đáng kể đã đến từ công trình của Mc Cafferty và Edmunds (1979), hai ông
đã bổ sung những dẫn liệu mới và chia Phù du thành hai phân bộ Panota và Schistonota Tiếp sau công trình nghiên cứu mang tính bước ngoặt này hệ thống phân loại Phù du ngày càng được hoàn chỉnh bởi các nghiên cứu của Kluge (1989,
Trang 115
1995, 1998, 2004), Mc Cafferty (1991, 1997) và nhiều nhà nghiên cứu về Phù du khác Gần đây nhất Odgen và Whiting (2005) đã tổng hợp lại thành một hệ thống tổng quát về nghiên cứu phân loại Phù du [19]
Cho đến nay trên toàn thế giới đã có hơn 3000 loài được mô tả thuộc 42 họ
và hơn 400 giống của bộ Phù du Các nghiên cứu về Phù du, đặc biệt là phân loại học vẫn đang phát triển, vẫn còn nhiều loài chưa được mô tả, nhất là ở các khu vực nhiệt đới [18]
Đối với khu vực châu Á, những nghiên cứu đầu tiên về Phù du được thực hiện bởi các nhà côn trùng học đến từ châu Âu như: Navás (1922, 1925), Lestage (1921, 1924) [44]
Hsu (1931, 1932, 1935, 1936, 1937) tiến hành nghiên cứu Phù du ở Trung Quốc và xây dựng khóa định loại tới loài Nhưng các kết quả nghiên cứu chỉ dừng lại trên đối tượng thu được ở giai đoạn trưởng thành Cùng thời gian này, Ulmer (1932, 1933) cũng tiến hành nghiên cứu khu hệ Phù du ở Trung Quốc Ông đã thực hiện những nghiên cứu của mình trên đối tượng Phù du ở giai đoạn ấu trùng Tiếp sau đó, hàng loạt các công trình nghiên cứu về Phù du ở Trung Quốc được thực hiện bởi Wu (1986, 1987), You (1982, 1987), Zhang (1995), Zhou (1995) Tiếp sau đó, Gose (1985) tiến hành xây dựng khóa định loại ấu trùng Phù du ở Nhật Bản Trong những thập niên 90 của thế kỷ XX, Bae và cộng sự (1994), Bae & Yoon (1997) đã hoàn thành danh lục Phù du ở Hàn Quốc [44]
Tại khu vực Đông Nam Á, các nghiên cứu về Phù du đã được khởi xướng bởi Ueno (1931, 1969) và Ulmer (1939) Các nhà nghiên cứu của Việt Nam và Thái Lan cũng đã công bố khá nhiều công trình nghiên cứu về Phù du trong thời gian gần đây (Boonsoong et al, 2004; Tungpairojwong và Bae, 2006; Tungpairojwong, 2007; Braasch Boonsoong, 2009) [31]
Các kết quả nghiên cứu cho thấy, ở châu Á có khoảng 128 giống thuộc 18 họ của bộ Phù du (Hubbard, 1990; McCaffrty, 1991; McCaffrty & Wang, 1997, 2000; Dudgeon, 1999) [44] Cho đến nay, những nghiên cứu liên quan đến phân loại và hệ thống học Phù du khá tỉ mỉ, các nhà khoa học đã xây dựng khoá phân loại chi tiết
Trang 126
tới loài kể cả giai đoạn ấu trùng và trưởng thành Hiện nay, hướng nghiên cứu tập trung vào các vấn đề sinh thái, phục hồi và bảo tồn các loài cũng như các nghiên cứu ứng dụng của Phù du vào thực tiễn
Ngoài các công trình nghiên cứu về đặc điểm phân loại của Phù du, nhiều nhà khoa học còn quan tâm nghiên cứu đến các khía cạnh khác nhau liên quan đến nhóm côn trùng nước này như: Sinh thái học, Địa động vật Điển hình là Neddham
và cộng sự (1935), đã công bố các số liệu về vòng đời, quá trình lột xác chuyển từ đời sống dưới nước lên cạn, tập tính dinh dưỡng, tập tính sinh sản, biến động số lượng theo mùa của nhiều loài Phù du Các kết quả nghiên cứu về Địa động vật cho thấy các loài thuộc bộ Phù du ưa sống ở những nơi nước chảy với hàm lượng oxy hòa tan trong nước cao, cấu trúc nền đáy của các thủy vực giữ vai trò quan trọng, quyết định đến thành phần loài Phù du Mặt khác, sự phân bố của Phù du còn phụ thuộc vào độ cao, độ che phủ của rừng
Gần đây, các công trình nghiên cứu đề cập đến khả năng sử dụng Phù du là sinh vật chỉ thị chất lượng môi trường nước vì nhiều loài thuộc bộ Phù du rất nhạy cảm với sự biến đổi của môi trường như một số công trình của Landa và Soldan (1991), Bufagni (1997) [44]
* Nghiên cứu về bộ Chuồn chuồn (Odonata)
Chuồn chuồn thuộc nhóm côn trùng ăn thịt ngay từ giai đoạn thiếu trùng sống trong nước cho đến giai đoạn trưởng thành Vòng đời của chúng trải qua 3 giai đoạn: trứng, thiếu trùng, con trưởng thành Thiếu trùng thường sống trong nước, chủ yếu ở vùng nhiệt đới hoặc vùng khí hậu ấm, con trưởng thành sống trên cạn Bộ Chuồn chuồn được chia thành 3 phân bộ là: phân bộ Anisozygoptera, phân bộ Zygoptera (Chuồn chuồn kim) và phân bộ Anisoptera (Chuồn chuồn ngô) Phân bộ
Anisozygoptera chỉ có 1 giống là Epiophlebia, giống này có một số loài chỉ phân bố
ở độ cao khoảng 2.000m ở những con suối thuộc Nhật Bản và vùng núi cao Himalaya (Tani & Miyatake, 1979; Kumar & Khanna, 1983) Hai phân bộ còn lại phân bố rộng cả ở nơi nước đứng cũng như nước chảy với số lượng loài vô cùng phong phú [39]
Trang 137
Các nghiên cứu về Chuồn chuồn được bắt đầu từ khoảng cuối thế kỉ 19, nhưng phải sang thế kỉ 20 Chuồn chuồn mới ngày càng nhận được chú ý nhiều hơn của các nhà nghiên cứu phân loại học và sinh thái học Ở giai đoạn đầu, các công trình nghiên cứu về Chuồn chuồn chủ yếu tập trung mô tả hình dạng và đặc điểm ngoài các loài Chuồn chuồn thu thập được ở châu Á và châu Âu nhằm xây dựng khóa định loại Điển hình cho các công trình nghiên cứu này là: Needham (1930), Fraser (1933, 1934, 1936), Askew (1988), Zhao (1990), Hisore & Itoh (1993), Wilson (1955) [1] Merritt và Cummins (1996), xây dựng khóa định loại tới giống ở
cả giai đoạn thiếu trùng và trưởng thành bộ Chuồn chuồn thuộc khu vực Bắc Mỹ
Ở khu vực châu Á, Chowdhury và Akhteruzzaman (1981) là những người đầu tiên công bố một công trình nghiên cứu về Chuồn chuồn ở Bangladesh Hai ông
đã mô tả chi tiết các thiếu trùng của 13 loài Chuồn chuồn thuộc bộ phụ Anisoptera Ngoài ra còn một số công trình điển hình khác như: Nasiruddin và Begum (1985), Asahina (1993), Subramanian (2005) Ở Việt Nam phải kể đến các công trình nghiên cứu về Chuồn chuồn của Asahina (1969, 1996), Karube (1999, 2002), Hoàng Đức Huy (2001), Đỗ Mạnh Cương (2003) [5]
Ngoài các công trình nghiên cứu về phân loại học còn có những công trình nghiên cứu về Sinh học, Sinh thái học và Tập tính sinh học của Corbet (1999), Silsby (2001) [5] Các công trình nghiên cứu này chủ yếu dựa vào giai đoạn trưởng thành Đối với giai đoạn thiếu trùng, Ishida & Ishida (1985) đã xây dựng khóa định loại có kèm theo hình vẽ rõ ràng tới giống ở vùng châu Á [1]
* Nghiên cứu về bộ Cánh úp (Plecoptera)
Hiện nay, trên thế giới bộ Cánh úp được biết khoảng 2.000 loài và là một trong những nhóm côn trùng có các đặc điểm nguyên thủy với nhóm có cánh hiện nay Hóa thạch của chúng được tìm thấy đầu tiên thuộc kỷ Pecmi, nó có những đặc điểm khác biệt với Cánh úp hiện đại về số đốt bàn và cánh ở phần ngực (Hynes, 1976) [24]
Để nhận dạng bộ Cánh úp, người ta dựa vào một số đặc điểm: chúng có 3 đốt bàn nhưng chân sau không biến đổi để thích hợp theo kiểu nhảy như một số loài
Trang 14tơ đuôi dài và không bao giờ có tơ đuôi ở giữa Mang nếu có, chỉ tìm thấy ở phần ngực và phần bụng được tạo thành giữa các tơ đuôi Thiếu trùng sống chủ yếu ở nước, có một vài loài sống trong đất ẩm (Harpers và Stewart, 1996) [24]
So với khu vực ôn đới thì các nghiên cứu về Plecoptera ở khu vực nhiệt đới vẫn còn ít (Sheldon và Theischinger, 2009) mặc dù các khu vực này có mức đa dạng của Plecoptera rất cao (Zwick, 2000) Mức đa dạng về Plecoptera ở châu Á là lớn hơn nhiều so với châu Âu hoặc Bắc Mỹ nhưng kiến thức thì còn khá nghèo nàn (Fochetti và Tierno de Figueroa, 2008) [56]
Khu hệ Cánh úp ở châu Á được nghiên cứu bởi những nhà khoa học châu Á
và châu Âu Trong suốt những thập niên 30 của thế kỷ XX, Wu và Claassen (1934,
1935, 1937, 1938) đã mô tả khóa định loại Cánh úp ở miền Nam Trung Quốc Kawai (1961 - 1975) nghiên cứu một vài loài ở Ấn Độ, Bangladesh đến phía Nam châu Á Zwick và Sivec (1980) mô tả một số loài Cánh úp ở Himalaya Vào thập niên 80 của thế kỷ XX, Zwick (1980, 1983, 1985, 1988) cũng đưa ra những nghiên cứu về khu hệ Cánh úp ở Đông Nam Á Uchida và cộng sự (1988, 1989) mô tả một vài loài thuộc Perlinae (Perlidae) ở Malaysia, Thái Lan và mô tả 2 giống thuộc
Peltoperlidae (Cryptoperla và Yoraperla) ở Nhật Bản và Đài Loan Stark (1979,
1987, 1983, 1991, 1999) đã ghi nhận nhiều loài mới trong họ Peltoperlidae và Perlidae ở châu Á Gần đây, Du (1998, 1999, 2000) đã công bố những tài liệu liên quan đến Perlidae ở miền Nam Trung Quốc [24]
Morse J C., Yang Lianfang & Tian Lixin (1994); Merritt & Cummins (1996) khi nghiên cứu khu hệ Cánh úp ở Trung Quốc và Bắc Mỹ, các tác giả đã xây dựng khóa định loại tới giống thiếu trùng của bộ này, đó là cơ sở cho việc định loại các loài thuộc bộ Cánh úp ở Trung Quốc và Bắc Mỹ sau này [39]
Trang 159
* Nghiên cứu về bộ Cánh lông (Trichoptera)
Cánh lông là một trong những bộ có số lượng loài phong phú Những nghiên cứu về hệ thống phân loại bậc cao của bộ Cánh lông được thực hiện bởi Ross (1956, 1967) và sau đó tiếp tục được bổ sung và hoàn thiện bởi Morse (1997) [29]
Bộ Cánh lông được nghiên cứu ở Đông Nam Á từ rất sớm bởi Ulmer (1911,
1915, 1925, 1927, 1930, 1932) và Navás (1913, 1917, 1922, 1930, 1932), đặc biệt
là Ulmer khi nghiên cứu khu hệ động vật ở Indonesia (1951, 1955, 1957) Ông đã cung cấp những thông tin cơ bản về Cánh lông ở khu vực nghiên cứu này Cánh lông ở Borneo đã được nghiên cứu khá tỷ mỉ lần đầu bởi Kimmins (1955) Ở Philippin, Banks (1937) là người đầu tiên nghiên cứu khu hệ Cánh lông ở khu vực này Tiếp đến là Ulmer (1955, 1957) nghiên cứu dựa vào giai đoạn ấu trùng Trong khi đó các hướng nghiên cứu khác lại dựa vào giai đoạn trưởng thành Đặc biệt trong giai đoạn gần đây việc nghiên cứu dựa vào giai đoạn trưởng thành lại càng được quan tâm như: Kimmis (1953), Banard (1980, 1984), Oláh (1987-1989), Chantaramongkol (1986, 1989, 1995), Malicky (1970, 1979, 1987, 1989, 1992 -
1998, 2002-2004), Malicky và Chantaramongkol (1989, 1991 - 1994, 1996 - 2000), Mey (1989, 1990, 1995 - 1999, 2001 - 2003), Weavers (1985, 1987, 1989, 1992, 1994), Ismail (1993, 1996), Scheffer (2001), Armitage và Arefina (2003), Klaithong (2003) [29] Ismail (1993, 1996, 1997) cũng tiến hành nghiên cứu trên ấu trùng Cánh lông tại một số nước ở khu vực Đông Nam Á [39]
Ngoài các công trình nghiên cứu ở các nước Đông Nam Á, khu hệ Cánh lông cũng được quan tâm nghiên cứu ở các quốc gia khác như: Ấn Độ, Srilanka được nghiên cứu bởi Martynov (1935, 1936), Trung Quốc (Martynov, 1931; Wang, 1963), Nhật Bản (Iwata, 1927; Tanida, 1987) Trong giai đoạn hiện nay, hướng nghiên cứu đánh giá chất lượng nước dựa trên đối tượng là các loài thuộc nhóm côn trùng này được nhiều nhà khoa học quan tâm tìm hiểu Do đó, các công trình liên quan đến giai đoạn ấu trùng xuất hiện ngày càng đồ sộ như nghiên cứu của Wiggins (1996) [29] Ở khu vực Bắc Mỹ, Merritt R W & Cummins K W (1996), đã xây
Trang 1610
dựng khóa định loại tới giống của bộ Cánh lông ở cả giai đoạn ấu trùng và trưởng thành [38]
* Nghiên cứu về bộ Cánh rộng (Megaloptera)
Bộ Cánh rộng được xem là nhóm côn trùng nguyên thủy trong nhóm côn trùng biến thái hoàn toàn Hiện nay, bộ Cánh rộng có khoảng 300 loài được biết trên thế giới và chia thành hai họ là: Corydalidae và Sialidae Giai đoạn trưởng thành ở cạn và ăn thịt, thường hoạt động vào ban đêm Tuy nhiên, giai đoạn ấu trùng lại sống dưới nước và ăn thịt các loài động vật [39]
Số lượng loài thuộc họ Sialidae rất phong phú ở các thủy vực nước ngọt như: sông, suối, hồ nơi có nhiều mùn, các mảnh vụn, cát hoặc sỏi nhỏ Chúng trải qua 5 lần lột xác và sống được khoảng 1 năm trong vòng đời của mình Ấu trùng rời khỏi các thủy vực nước ngọt và hóa nhộng Các loài thuộc họ này lại phân bố rất hẹp Ở châu Á, họ này mới chỉ phân bố ở vùng ôn đới thuộc Hàn Quốc, Nhật Bản và một
số nơi ở Trung Quốc (Bank, 1940) [39]
* Nghiên cứu về bộ Cánh cứng (Coleoptera)
Bộ Cánh cứng là bộ lớn nhất trong giới Động vật Hiện nay, số loài thuộc bộ côn trùng này vào khoảng 277.000 đến 350.000 loài và khoảng 10.000 thuộc nhóm côn trùng nước [39] Theo các kết quả nghiên cứu nhóm sống dưới nước được xem
là đa dạng nhất ở khu hệ suối vùng nhiệt đới Hiện nay, các công trình nghiên cứu
về bộ Cánh cứng tập trung vào phân loại học, sinh thái học, tiến hóa như: các nghiên cứu của Feng (1932, 1933), Gschwendtner (1932), Fernando (1962, 1969), Nertrand (1973), Jach (1984) Heinrich & Balke (1997), Gentuli (1995), Jach & Ji (1995, 1998, 2003) [40] đã cung cấp khá đầy đủ những dẫn liệu về phân loại học của bộ Cánh cứng ở châu Á
Wu và cộng sự đã xác định ở Trung Quốc có 601 loài, Sato (1988) đã định loại được 311 loài ở Nhật Bản, Britton (1970) xác định ở Úc có khoảng 510 loài và White (1984) đã phân loại được 1.143 loài ở khu vực Bắc Mỹ thuộc bộ Cánh cứng
[39]
Trang 1711
* Nghiên cứu về bộ Hai cánh (Diptera)
Các nghiên cứu về bộ Hai cánh đã được rất nhiều các nhà khoa học công bố, đặc biệt là các công trình nghiên cứu của Alexander (1931), Mayer (1934), Zwich
& Hortle (1989) [38] Đối với khu vực châu Á, Delfinado & Hardy (1973, 1975, 1977) đã tổng hợp một danh lục khá đầy đủ về thành phần loài của bộ Hai cánh ở miền Ấn Độ - Mã Lai Khóa định loại tới họ và giống hiện nay chủ yếu thực hiện
theo khóa định loại được xây dựng bởi Harris (1990) [39]
* Nghiên cứu về bộ Cánh nửa (Hemiptera)
Hiện nay, trên thế giới đã xác định được trên 4.000 loài thuộc bộ Cánh nửa sống ở nước (Dudgeon, 1999) Trong đó, khu vực châu Á có số lượng loài chiếm ưu thế, đặc biệt có rất nhiều giống đặc hữu, thậm chí có cả những phân họ đặc hữu ở khu vực này (Andersen, 1982; Spence & Andersen, 1994) [40]
Các công trình nghiên cứu về bộ Cánh nửa ở châu Á được bắt đầu khá sớm bằng các nghiên cứu của Lundblad (1933), La Rivers (1970), Lansbury (1972, 1973) [39] Các họ trong bộ này cũng được nghiên cứu khá tỷ mỷ như: Nepidae được nghiên cứu bởi Keffer (1990), Naucoridae là họ rất đa dạng ở vùng nhiệt đới châu Á đã được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu như Nieser & Chen (1991, 1992), Sites và cộng sự (1997) [40] Merritt & Cummins (1996), Morse & cộng sự (1994) đã xây dựng khóa định loại tới giống của các họ thuộc bộ Cánh nửa ở khu vực Bắc Mỹ và Trung Quốc [38] [39]
Bộ Cánh nửa bao gồm 3 phân bộ: Gerromorpha, Nepomorpha và Leptopodomorpha Phân bộ Gerromorpha gồm hầu hết những cơ thể côn trùng sống trên bề mặt của nước Trong phân bộ này, có hai họ lớn là Velliidae (trên thế giới có khoảng 850 loài) và họ Gerridae (khoảng 700 loài) (Chen và cộng sự, 2005) Theo Bendell (1988), Damgaard & Andersen (1996) các loài trong họ Gerridae được xem như những sinh vật chỉ thị cho chất lượng môi trường nước [59]
Ở Đông Nam Á, nghiên cứu khu hệ bộ Cánh nửa đã được tiến hành khoảng
50 năm trước Đặc biệt, trong giai đoạn gần đây các công trình của Zettel & Chen ở Việt Nam (1996) và Thái Lan (1998) Các nghiên cứu tập trung vào việc mô tả, xây
Trang 1812
dựng khóa định loại Năm 2001, Cheng và cộng sự nghiên cứu các loài thuộc họ Gerridae ở Singapore và bán đảo Malaysia Chen và cộng sự (2005) nghiên cứu ở Malesia [59] Vùng Malesia bao gồm: bán đảo Malaysia, Indonesia, Philippines
và New Guinea
* Nghiên cứu về bộ Cánh vảy (Lepidoptera)
Trong bộ Cánh vảy chỉ có một số loài thuộc họ Pyralidae, Pyraustidae và Crambidae sống ở nước Ở châu Á, các nghiên cứu về Lepidoptera chủ yếu là về phân loại học trong đó có các nghiên cứu của Rose & Pajni (1987), Habeck & Solis (1994) và Munroe (1995) [38] Trong các nghiên cứu này, các tác giả cũng đã thành lập khóa định loại cụ thể tới loài
1.2 Tình hình nghiên cứu côn trùng nước ở Việt Nam
* Nghiên cứu về bộ Phù du (Ephemeroptera)
Ở Việt Nam , trong những năm đầu của th ế kỷ 20, các mô tả về Ephemeroptera cũng được đề câ ̣p và quan tâm nghiên c ứu Mở đầu cho những nghiên cứu về Ephemeroptera ở Viê ̣t Nam , nhà côn trùng học Lestage (1921, 1924), đã mô tả một loài mới của bộ Phù du cho khoa học, dựa vào mẫu vật được lưu giữ ở bảo tàng Paris Ông đặt tên loài là Ephemera duporti, do các loài thuộc giống
Ephemera có kích thước lớn, phân bố khá rộng và dễ thu thập nên nó được tiếp tục nghiên cứu ở giai đoạn này Sau đó, Navas (1922, 1925) đã công bố hai loài
Ephemera longiventris và Ephemera innotata, cũng dựa trên các m ẫu vật thu được
ở miền Bắc Việt Nam Cho đến nay, hai loài này cũng chưa tìm thấy ở các khu v ực phân bố khác, nên có thể xem chúng như là loài đặc hữu cho khu hệ Ephemeroptera
ở Việt Nam
Đặng Ngọc Thanh (1967), cũng đã đề cập đến thành phần loài của Phù du (Ephemeroptera), tác giả đã mô tả một loài mới thuộc họ Heptageniidae Đặng Ngọc Thanh (1980), xác định khu hệ Phù du ở Bắc Việt Nam bao gồm 54 loài, 29 giống thuộc 13 họ khác nhau Tuy nhiên trong số này chỉ có 13 loài là được định tên đầy đủ, số còn lại chỉ ở mức độ giống Trong nghiên cứu này đã mô tả hai loài cho
Trang 19trong đó thành lập thêm 2 giống là Asionurus và Trichogeniella
Nguyễn Xuân Quýnh và cộng sự (2001), khi xây dựng khoá định loại các nhóm động vật không xương sống nước ngọt thường gặp ở Việt Nam đã đưa ra khoá định loại tới họ ấu trùng Phù du [7]
Nguyen Van Vinh and Yeon Jae Bae (2001, 2003, 2004, 2005, 2006, 2007, 2008) ở một số Vườn Quốc gia của Việt Nam Những nghiên cứu này, đã công bố hàng loạt các kết quả về các loài Ephemeroptera ở Việt Nam, và đã b ổ sung danh sách thành phần loài, mô tả các loài mới, cũng như xây dựng các khóa định loại tới loài [42] [43] [45] [46] [47] [48] [49]
Nguyễn Văn Vịnh (2003), đã xác định được 102 loài thuộc 50 giống và 14
họ Phù du ở Việt Nam Trong nghiên cứu này, tác giả đã xây dựng khóa định loại
và mô tả đặc điểm hình dạng ngoài của các loài thuộc bộ Phù du ở Việt Nam, nghiên cứu này là cơ sở để phục vụ cho các hướng nghiên cứu tiếp theo về bộ Phù
việc phân loại các loài thuộc bộ côn trùng này, tác giả còn nhận xét về sự phân bố của chúng theo độ cao của suối Thác Bạc
Trang 2014
Nguyễn Văn Vịnh (2005), khi nghiên cứu về Phù du ở Vườn Quốc gia Ba
Vì, Hà Tây đã thu được 27 loài thuộc 22 giống và 9 họ Trong đó có một loài ghi
nhận lần đầu tiên cho khu vực là Teloganodes tristis (Hagen, 1858) [14] Trong
khoảng thời gian này, tác giả cũng tiến hành điều tra thành phần loài Phù du ở một
số Vườn Quốc gia khác ở Việt Nam [16] [17]
* Nghiên cứu về bộ Chuồn chuồn (Odonata)
Nghiên cứu về khu hệ thiếu trùng Chuồn chuồn ở Việt Nam còn tản mạn và chưa thành hệ thống Chủ yếu các nghiên cứu tập trung vào giai đoạn trưởng thành
Bộ Chuồn chuồn ở Việt Nam được nghiên cứu lần đầu tiên vào những năm đầu thập niên 90 của thế kỷ XX dưới thời Pháp thuộc bởi một số nhà nghiên cứu người Pháp: Martin trong báo cáo được công bố năm 1902 khi điều tra khu hệ động vật Đông Dương Trong báo cáo này, ông công bố 139 loài thuộc 3 họ: Libellulidae, Aeshnidae và Agrionidae Trong 139 loài, Martin đã mô tả 9 loài mới và một giống
mới là Merogomphus [1]
Nguyễn Xuân Quýnh và cộng sự (2001), khi xây dựng khóa định loại các nhóm động vật không xương sống nước ngọt thường gặp ở Việt Nam đã xây dựng khóa định loại tới họ của bộ Chuồn chuồn [7]
Nguyễn Văn Vịnh và cộng sự (2001), trong nghiên cứu khu hệ côn trùng nước ở Vườn Quốc gia Tam Đảo đã xác định được 26 loài thuộc 12 họ của bộ Chuồn chuồn ở khu vực này Tuy nhiên, do những nghiên cứu về phân loại thiếu trùng chuồn chuồn ở Việt Nam còn ít Do đó, những mẫu vật thu được mới chỉ phân loại đến bậc giống [2]
* Nghiên cứu về bộ Cánh úp (Plecoptera)
Ở Việt Nam, những nghiên cứu về bộ Cánh úp đã được quan tâm nghiên cứu trong thơi gian gần đây Một vài loài đã được mô tả bởi Kawai (1968, 1969), Zwick (1988), Stark và cộng sự (1999) [24], nhưng tất cả các mẫu vật đều ở giai đoạn trưởng thành Mục đích của những nghiên cứu là nhằm xác định lại và mô tả một số loài mới thuộc bộ Cánh úp dựa trên những nghiên cứu trước đó và những điều tra về sau của cả giai đoạn trưởng thành và ấu trùng được thu thập ở Việt Nam Thêm vào
Trang 2115
đó là việc xác định khóa định loại tới loài của bộ Cánh úp ở cả giai đoạn trưởng thành và ấu trùng ở Việt Nam cũng như sinh thái, nơi ở của chúng Cao Thị Kim Thu (2002), đã xây dựng khóa định loại tới loài Cánh úp ở Việt Nam Công trình là
cơ sở khoa học cho các nghiên cứu về bộ Cánh úp ở nước ta [24]
Nguyễn Văn Vịnh và cộng sự (2001), khi nghiên cứu về nhóm côn trùng nước ở Vườn Quốc gia Tam Đảo đã tiến định loại các loài thuộc bộ Cánh úp Kết quả cho thấy số loài Cánh úp ở Vườn Quốc gia Tam Đảo là 12 loài thuộc 3 họ [12]
* Nghiên cứu về bộ Cánh lông (Trichoptera)
Ở Việt Nam, bộ Cánh lông được nghiên cứu từ rất sớm Những tài liệu về Cánh lông đã được xuất bản bởi các nhà phân loại học đến từ các nước châu Âu như: Đức (Ulmer, 1907), Tây Ban Nha (Navás, 1913) Sau những nghiên cứu đầu
tiên của Ulmer về 2 loài Hydromanicus buenningi và Paraphlegopteryx tonkinensis,
ông đã đặt nền móng cho việc nghiên cứu về Cánh lông ở Việt Nam Tiếp theo, Navás (1913, 1917, 1921, 1922, 1930, 1932, 1933) đã mô tả một số loài thuộc các tổng họ của Hydropsychoidae, Philopotamoidae (Stenopsychidae), Leptoceroidae, Limnephiloidae và Rhyacophiloidae Banks (1931) và Mosely (1934) [23] nghiên cứu về Hydropsychoidae, Limnephiloidae và Rhyacopphiloidae Oláh (1987 - 1989)
mô tả các loài thuộc Glossosomatoidae, Hydroptiloidae và Rhyacophiloidae [29]
May (1995-1998) và Malicky (1994, 1995, 1998), mô tả các loài thuộc các
họ Hydropsychoidae, Glossosomatoidae, Rhyacopphiloidae, Phiolopotamoidae,Limnephiloidae, Hydroptiloidae, Sericostomatoidae và Leptoceroidae từ các mẫu vật thu được ở một số vùng của Việt Nam Malicky và Mey (2001), mô tả 2 loài
mới thuộc giống Ceratopsyche ở miền Bắc Việt Nam Schefter và Johanson (2001),
mô tả 3 loài thuộc giống Helicopsyche Nguyễn Văn Vịnh và cộng sự (2001) định
loại được 23 loài thuộc 16 họ của bộ Cánh lông ở Vườn Quốc gia Tam Đảo khi nghiên cứu về nhóm côn trùng nước tại khu vực này [2]
Nguyễn Xuân Quýnh, Clive Pinder, Steve Tilling (2001), đã xây dựng khóa định loại tới họ của bộ Cánh lông thường gặp ở nước ta Hoàng Đức Huy (2005) mô
Trang 22Những nghiên cứu đầu tiên về khu hệ Cánh nửa ở Việt Nam được bắt đầu vào những năm đầu của thế kỷ XX Loài đầu tiên thuộc họ Gerridae (Hemiptera)
được mô tả ở Việt Nam là Ptilomera hylactor Breddin, 1903 thuộc Bắc Việt Nam
Tiếp theo, khu hệ Gerridae ở Việt Nam tiếp tục được mô tả bởi Andersen (1975,
1980, 1993); Andersen & Cheng (2004); Polhemus (2001); Chen & Zettel (1999), Polhemus & Andersen (1994); Polhemus & Karunaratne (1993) [59]
Trần Anh Đức (2008), mô tả khá đầy đủ và chi tiết hình dạng ngoài của các loài thuộc họ Gerridae ở Việt Nam Đây là cơ sở khoa học cho các nghiên cứu về bộ Cánh nửa ở nước ta [59]
1.3 Tình hình nghiên cứu côn trùng nước ở Vườn Quốc gia Hoàng Liên
Vườn Quốc gia Hoàng Liên nằm trong khu vực Tây Bắc Viê ̣t Nam , là một trong những nơi có đi ̣a hình đa da ̣ng và phức ta ̣p, với nhiều núi cao và hê ̣ thống suối tự nhiên dày đặc, do vâ ̣y rất phù hợp cho sự tồn ta ̣i và phát triển của côn trùng ở nước Các nhà khoa học trong và ngoài nước đã có nhiều nghiên cứu về khu hệ côn trùng nước ở đây với nhiều hướng khác nhau
Trang 2317
Nguyễn Văn Vịnh (2005), khi điều tra thành phần loài Phù du ở một số suối tại Sapa, tỉnh Lào Cai, đã xác định được 53 loài thuộc 31 giống và 11 họ Đồng thời, xác định được 10 loài ghi nhận mới cho khu hệ côn trùng của Việt Nam [13]
Nguyễn Văn Quân (2006), khi nghiên cứu về thành phần loài Phù du tại suối Mường Hoa, Sapa, tỉnh Lào Cai đã xác định được 57 loài thuộc 29 giống và 9 họ Kết quả này, đã bổ sung cho khu hệ Phù du ở Sapa, Lào một họ là Isonychiidae với
một loài Isonychia formosana Hầu hết loài này chỉ phân bố ở khu vực suối thấp [6]
Jung S.W et al (2006) khi nghiên cứu về côn trùng nước ở một số suối khu vực Sapa, tỉnh Lào Cai thu được tổng cộng 211 loài thuộc 138 giống, 61 họ của 9
bộ côn trùng nước Trong đó có 66 loài Cánh lông, 53 loài Phù du, 35 loài Cánh cứng, 24 loài Hai cánh, 15 loài Cánh ups 9 loài Chuồn chuồn, 7 loài Cánh nửa, 1 loài Cánh rộng và 1 loài Cánh vảy [32]
Nhâm Thị Phương Lan (2007), khi nghiên cứu về đa dạng thành phần loài của 3 bộ côn trùng nước, trong đó có bộ Phù du tại suối Mường Hoa, Sapa, tỉnh Lào Cai, đã xác định được 60 loài thuộc 28 giống và 9 họ Khu vực nghiên cứu này, có mức độ đa dạng loài Phù du cao, mặc dù trong đó nhiều họ như Baetidae, Caenidae, hầu hết các loài chưa xác định được tên cụ thể, điều này tiềm ẩn nhiều loài mới cho khoa học [4]
Phạm Thị Thúy Hồng (2010), khi nghiên cứu thành phần loài, phân bố cùa Phù du (Ephemeroptera, Insecta) tại một số suối thuộc Vườn Quốc gia Hoàng Liên, tỉnh Lào Cai đã xác định được 71 loài thuộc 35 giống, 12 họ [3]
1.4 Một số đặc điểm tự nhiên của Vườn Quốc gia Hoàng Liên, tỉnh Lào Cai 1.4.1 Vị trí địa lý
Vườn Quốc gia Hoàng Liên nằm trong khu vực Tây Bắc Viê ̣t Nam , có vị trí
đi ̣a lý từ 22°9’- 23°30’ đô ̣ vĩ Bắc và 103°00 - 103°59’ đô ̣ kinh Đông Về đi ̣a giới hành chính gồm 6 xã: San Sản Hồ, Lao Chải, Tả Van, Bản Hồ, Mường Khoa, Thân Thuô ̣c thuô ̣c huyê ̣n Sa Pa và huyê ̣n Than Uyên , tỉnh Lào Cai Diê ̣n tích Vườn Quốc gia là 51.803 ha Trong đó vùng lõi là 29.848 ha, là phần cuối cùng của dãy Himalaya cha ̣y do ̣c sông Hồng theo hướng Tây Bắc - Đông Nam [10]
Trang 2418
1.4.2 Đi ̣a hình
Hoàng Liên là một hệ thống các đỉnh núi cao trên 2000 m cha ̣y theo hướng Tây Bắc - Đông Nam Đặc biệt ở Vườn Quốc gia có đỉnh núi Phansipan cao 3143m
so với mă ̣t nước biển Các hệ chính của dãy núi thoải dần theo hướng Đông Bắc và Tây Nam ta ̣o thành hai sườn chính của dãy Hoàng Liên trong đó sườn Đông Bắc thuô ̣c huyê ̣n Than Uyên Các dạng địa hình chủ yếu của Vườn Quốc gia Hoàng Liên gồm núi cao, thung lũng, sườn núi đồi [10]
1.4.3 Đi ̣a chất và thổ nhưỡng
Hoàng Liên được cấu tạo từ các loại đá nguồn gốc mắc - ma như granit , amphibolit, filit, đá vôi, trong đó đá granit là phổ biến nhất (Vũ Tự Lập, 1999) Đi ̣a chất và đi ̣a hình, kết hợp với khí hâ ̣u làm nên thổ nhưỡng , quy luâ ̣t phân bố các loa ̣i đất đai ở Vư ờn Quốc gia Hoàng Liên theo đai đô ̣ cao được thể hiê ̣n khá rõ Nhìn chung, các loại đất ở đây có , hàm lượng mùn cao , phần lớ n là dạng viên nhỏ , quá trình xói mòn và rửa trôi yếu, đô ̣ tơi xốp cao, đô ̣ ẩm lớn, đô ̣ dầy tầng đất phổ biến là
ở mức trung bình (từ 50 - 120cm), phần cơ giới thi ̣t nhe ̣, thịt trung bình , thịt nặng[10]
1.4.4 Khí hậu
Do ở phí a Đông của dãy Hoàng Liên , có địa hình phức tạp nên khí hậu ở Vườn Quốc gia Hoàng Liên cũng bi ̣ phân hóa ma ̣nh mẽ theo đô ̣ cao và hướng đi ̣a hình Mô ̣t đă ̣c trưng của khí hâ ̣u Hoàng Liên là hầu như quanh năm duy trì tình trạng ẩm ướt Độ ẩm tương đối trung bình năm khoảng trên 85%, tháng mưa ít nhất trung bình cũng đa ̣t 20 - 30 mm Tổng bức xa ̣ mă ̣t trời có chỉ số phổ biến từ 100 -
135 Kcal/cm2/năm Nhiệt đô ̣ không khí trung bình năm từ 13 - 21°C, lớn ở sườn Tây, nhỏ ở sườn Đông Nhiệt đô ̣ cao đa ̣t đỉnh vào tháng 6 - 7 có chỉ số 16 - 25°C Nhiê ̣t đô ̣ thấp nhất vào các tháng 12 và tháng 1, nhiều năm xuống dưới 5°C Vào mùa đông thường có băng giá và tuyết rơi đôi khi có thể xuống dưới -3°C Lượng mưa phân bố không đều giữa các tháng trong năm , đă ̣c biê ̣t vào các tháng mùa hè , lươ ̣ng mưa tương đối cao Mùa mưa bắt đầu từ giữa tháng 3 đến giữa tháng 10, trong đó có hai tháng có lượng mưa lớn nhất l à tháng 7 (454,3mm) và tháng 8
Trang 2519
(453,8mm) Vào mùa đông , do nhiệt đô ̣ ha ̣ thấp , hạn chế lượng bay hơi nước , vì
vâ ̣y, đây là khoảng thời gian mưa ít nhất trong năm , lượng mưa trung bình trong tháng khoảng 50 - 100 mm, thấp nhất vào tháng 12 (63,6mm) nhưng do nhiê ̣t đô ̣ thấp nên thấy rằng khu vực Hoàng Liên không có tháng nào khô Lượng ẩm không khí ở khu vực Hoàng Liên tương đối cao , trung bình năm khoảng 86% Tháng có độ
ẩm lớn nhất là tháng 9 và tháng 11 với giá tri ̣ 90%, tháng có độ ẩm nhỏ nhất là tháng 4 có giá trị 82% (Nguyễn Nghĩa Thìn, 2008) [10]
1.4.5 Thủy văn
Do đă ̣c điểm đi ̣a hình của khu vực , Vườn Quốc gia Hoàng Liên được ta ̣o thành từ hai sườn chính : sườn Đông Bắc dốc thoải về phía sông Hồng và sườn Tây Nam dốc thoải về phía sông Đà , vì vậy trong khu vực cũng tạo nên hai hệ suối chính:
- Hệ thống suối thuô ̣c khu vực Đông Bắc gồm 3 suối chính: Mường Hoa bắt nguồn từ Phanxipan, Séo Trung Hồ bắt nguồn từ Tả Van , Tả Trung Hồ bắt nguồn từ Bản Hồ Ba suối này gă ̣p nhau ta ̣i khu vực Bản Dền ta ̣o thành ngòi Bo đổ ra sông Hồng Vì địa hình dốc , chia cắt ma ̣nh, nên về mùa đông chúng chỉ là suối ca ̣n song về mùa mưa, đă ̣c biê ̣t là vào các tháng có lượng mưa tâ ̣p trung (7,8,9) thường có lũ
và lũ quét
- Hệ thống suối thuô ̣c khu vực Tây Nam dãy Hoàng Liên gồm hai suối chính : Suối Nâ ̣m Bé bắt nguồn từ Phansipan và suối Nâ ̣m Pao , Nâ ̣m Chăng Cả hai suối này đều chảy ra con ngòi lớn Nậm Mu và đổ ra sông Đà Ngoài hai h ệ thống suối chính thuộc hai sườn của dãy Hoàng Liên , còn một con suối bắt nguồn từ lưu vực thuô ̣c xã Sa Pả và mô ̣t phần từ Sa Pa, chảy theo hướng Đông Bắc đổ vào sông Hồng tại thị xã Lào Cai [6]
Trang 26Toàn bộ mẫu vật thu ngoài tự nhiên được bảo quản và lưu trữ tại phòng thí nghiệm Đa dạng sinh học, Bộ môn Động vật Không xương sống thuộc Khoa Sinh học, trường Đại học Khoa học Tự nhiên - Đại học Quốc gia Hà Nội
2.2 Địa điểm nghiên cứu
Chúng tôi tiến hành thu mẫu tại 16 điểm nghiên cứu thuộc hệ thống suối chính của Vườn Quốc gia Hoàng Liên, tỉnh Lào Cai và các điểm thu mẫu được đánh
số thứ tự từ S1 đến S16 Sơ đồ thu mẫu được thể hiện ở Hình 1 Một số hình ảnh về các địa điểm thu mẫu tại khu vực nghiên cứu được thể hiện trong phụ lục 2
Dưới đây là một số đặc điểm chính của các điểm thu mẫu:
• Điểm 1 (S1): Đường lên Cổng trời – độ cao 1901m
Trang 2721
Hình 1 Sơ đồ các điểm thu mẫu trong khu vực nghiên cứu
Trang 28• Điểm 3 (S3): Suối Vàng (Thác Tình Yêu) – độ cao 1894m
đi, rộng khoảng 100 cm Lòng suối nông, nền đáy là đá tảng liền khối, rất ít đá nhỏ
• Điểm 4 (S4): Nhánh Suối Vàng – độ cao 1884m
Tọa độ: N: 22° 20’923’’; E: 103°46’227’’
Điểm thu mẫu là suối nhánh đổ vào suối Vàng Độ rộng suối là 5 - 6 m, độ rộng dòng chảy là 4 - 5 m, độ sâu tại điểm thu mẫu nước chảy là 17cm, độ sâu điểm thu nước đứng là 28cm pH = 7,44, nhiệt độ nước là 12,9°C
Nước chảy rất xiết và trong, có nhiều nhánh suối rất nhỏ (rộng 1 - 1,5 m) đổ vào Hai bên suối là rừng tre, nứa, gỗ nhỏ và trung bình Độ che phủ của suối đạt 90 – 95 %, tuy nhiên lại có ít mùn thực vật Nền đáy chủ yếu là đá nhỏ, cát và đá trung bình
• Điểm 5 (S5): Nhánh chảy vào suối Vàng – độ cao 1879m
Tọa độ: N: 22°20’896’’; E: 103° 46’185’’
Độ rộng suối là 6 - 7 m, độ rộng dòng chảy là 4 - 5 m, độ sâu tại điểm thu mẫu nước chảy là 10cm pH = 7,66, nhiệt độ nước là 12,1°C
Trang 2923
Điểm thu mẫu là suối chảy vào suối Vàng (nhánh chính của Suối Vàng) Nước suối trong, chảy nhanh, sâu khoảng 10 - 40 cm Hai bên suối là cây gỗ lớn, trùng bình, tre, nứa Độ che phủ của suối khoảng 90 - 95 % Nền đáy chủ yếu là đá nhỏ và trung bình, ít đá lớn Suối có cát nhưng ít rác và mùn thực vật
• Điểm 6 (S6): Suối Vàng – độ cao 1878m
• Điểm 7 (S7): Suối Ô Quý Hồ - độ cao 1689m
Trang 3024
Suối là một nhánh của suối Mường Hoa, nước suối trong và chảy khá mạnh Nền đáy chủ yếu là đá trung bình (60%) Suối ít mùn thực vật, độ che phủ gần như bằng 0%
• Điểm 9 (S9): Sín Chải – độ cao 1314m
Tọa độ: N: 22°20’295’’; E: 103°48’493’’
Độ rộng suối là 40 - 45 m, độ rộng dòng chảy là 12 - 13 m, độ sâu tại điểm thu mẫu nước chảy là 20cm, độ sâu điểm thu mẫu nước đứng là 30cm, pH = 8,22, nhiệt độ nước 20,5°C
Nền đáy chủ yếu là đá tảng trung bình (70 %) Hai bên suối là núi đá cao 70 – 80 m Bờ suối có cây bụi và cây gỗ nhỏ mọc thưa thớt Nền đáy ít mùn bã thực vật, độ che phủ 5 - 10 %,
• Điểm 12 (S12): Cát Cát – độ cao 1207m
Trang 31• Điểm 14 (S14): Tả Van – độ cao 991m
là ruộng bậc thang Ven bờ là cỏ, cây bụi, vài khóm tre
• Điểm 15(S15): Cầu Mây – độ cao 957m
Tọa độ: N: 22°17’664’’; E: 103°54’274’’
Độ rộng suối là 15 - 20 m, độ rộng dòng chảy là 3 - 3,5 m, độ sâu điểm thu mẫu nước chảy 20cm, độ sâu tại điểm thu mẫu nước đứng là 30cm pH = 9,1, nhiệt
độ nước là 16,7°C
Trang 3226
Suối khá lớn, nước chảy mạnh, lòng suối rộng, nước suối hơi đục Nền đáy
đá tảng chiếm ưu thế, ngoài ra còn có đá nhỏ, trung bình và cát Một bên suối là vách núi và cây nhỏ (tre, nứa), bên còn lại là ruộng bậc thang Độ che phủ thấp (0 - 5%)
2.3 Vật liệu và phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Vật liệu nghiên cứu
Trong nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng mẫu côn trùng nước thu được trong đợt thu mẫu vào tháng 4 - 2011 tại các điểm thu mẫu thuộc một số suối của Vườn Quốc gia Hoàng Liên, tỉnh Lào Cai
2.3.2 Phương pháp nghiên cứu
* Phương pháp nghiên cứu ngoài tự nhiên
Trước khi thu mẫu, chúng tôi tiến hành đo một số chỉ số thủy lý, hóa học của nước tại khu vực nghiên cứu bằng máy đo 6 chỉ tiêu WQC - 22A, TOA, Japan
Quá trình thu mẫu định tính bằng vợt ao (Pond net) và vợt cầm tay (Hand net) Thu mẫu định lượng bằng cách sử dụng lưới Surber (50cm x 50cm, kích thước mắt lưới 0,2mm) Chúng tôi tiến hành thu mẫu bằng cách: đặt miệng vợt ngược dòng nước, dùng chân đạp phía trước vợt trong vòng vài phút (thu mẫu đạp nước)
Ở nơi có nhiều bụi cây dùng vợt tay để thu mẫu Ở những nơi đáy có đá lớn không thu mẫu đạp nước được thì nhấc đá và thu mẫu bám ở dưới bằng panh mềm để tránh làm nát mẫu Thu mẫu định tính được thực hiện ở cả nơi nước chảy và nước đứng
Ở nhiều nơi có cây bụi thủy sinh dùng vợt sục vào các cây bụi đó và các rễ cây ven
Trang 33* Phương pháp phân tích mẫu trong phòng thí nghiệm:
Phương pháp nhặt mẫu: mẫu được rửa sạch cho ra khay Dùng panh nhặt các đại diện của ấu trùng và thiếu trùng côn trùng nước ở trong đó, mẫu sau khi nhặt cho vào lọ và bảo quản trong cồn 700
Phương pháp phân tích:
- Dụng cụ phân tích gồm: kính hiển vi, kính lúp, đĩa petri, lam kính, lamen, kim nhọn, panh
- Phân loại mẫu vật: mẫu vật được phân loại theo các khóa định loại được công bố trong và ngoài nước của Nguyễn Văn Vịnh (2003) [44], Cao Thị Kim Thu (2002) [24], Hoàng Đức Huy (2005) [29], Nguyễn Xuân Quýnh và cộng sự (2001) [7], Meritt R W và Cummins K W (1996) [38], Morse J C., Yang L & Tian L (1994) [39]
2.3.3 Một số chỉ số Đa dạng sinh học
Các chỉ số Đa dạng sinh học (ĐDSH) được sử dụng trong đề tài là: chỉ số
Shannon - Weiner (chỉ số H’) và chỉ số Margalef (chỉ số d)
Chỉ số Shannon - Weiner (chỉ số H’) nhằm xác định lượng thông tin hay
tổng lượng trật tự (hay bất trật tự) có trong một hệ thống Chỉ số Shannon - Weiner được tính bằng cách lấy số lượng cá thể của một đơn vị phân loại chia cho tổng số
cá thể trong mẫu, sau đó nhân với logarit của tỷ số đó Tổng các đơn vị phân loại cho chỉ số đa dạng Công thức để tính chỉ số này là:
Trang 34ni: số lƣợng cá thể của loài i Hai thành phần của sự đa dạng đƣợc kết hợp trong hàm Shannon - Weiner là
số lƣợng loài và tính bình quân của sự phân bố các cá thể giữa các loài Do vậy, số lƣợng loài càng cao thì chỉ số H’ càng lớn và sự phân bố các cá thể giữa các loài càng ngang bằng nhau thì cũng gia tăng chỉ số đa dạng loài đƣợc xác định thông qua hàm số Shannon - Weiner
Từ kết quả tính toán, có thể nhận xét về mức độ đa dạng theo các cấp sau đây:
- Nếu chỉ số đa dạng > 3: ĐDSH tốt và rất tốt
- Nếu chỉ số đa dạng từ 1 - 3: ĐDSH khá
- Nếu chỉ số đa dạng < 1: ĐDSH kém và rất kém
Chỉ số Margalef (chỉ số d) là chỉ số đƣợc sử dụng rộng rãi để xác định tính
đa dạng hay độ phong phú về loài, chỉ số Margalef đƣợc xác định khi biết số loài và
số lƣợng cá thể trong mẫu đại diện của quần xã Chỉ số Margalef đƣợc tính bằng cách lấy số loài của đợt thu mẫu trừ đi 1 rồi chia cho logarit cơ số 10 của tổng số cá thể thu đƣợc Công thức:
1 log
S d
N
Trong đó d: chỉ số đa dạng Margalef
S: số loài trong mẫu N: tổng số cá thể
Trang 3529
Ngoài ưu điểm là dễ sử dụng để xác định tính đa dạng cho các nhóm sinh vật khác nhau của quần xã, chỉ số Margalef (chỉ số số d) còn được áp dụng để phân loại mức độ ô nhiểm của các thủy vực
N: tổng số cá thể trong điểm thu mẫu
Chỉ số tương đồng (chỉ số Jacca - Sorensen) được chúng tôi sử dụng để
đánh giá mức độ giống nhau về thành phần loài của các điểm nghiên cứu Chỉ số này được tính theo công thức:
2c K
a b
Trong đó: a: số loài trong điểm thu mẫu thứ nhất
b: số loài trong điểm thu mẫu thứ hai c: số loài chung cho cả hai điểm thu mẫu
K nhận giá trị từ 0 đến 1 Giá trị K càng gần 1 thì mức độ giống nhau về thành phần loài của các điểm nghiên cứu càng lớn Các giá trị của K tương ứng với mức tương đồng như sau [4]:
0,00 - 0,20: gần nhau rất ít 0,21 - 0,40: gần nhau ít 0,41 - 0,60: gần nhau 0,61 - 0,80: gần nhau nhiều 0,81 - 1,00: rất gần nhau
2.3.4 Xử lý số liệu
Số liệu thu thập được xử lý qua bảng biểu, sơ đồ, đồ thị biểu diễn số lượng
và biến động số lượng Các số liệu được xử lý bằng phần mềm Microsoft office exel
2007 và phần mềm Primer 6
Trang 36Bảng 1 Một số chỉ số thủy lý, hóa học tại các điểm nghiên cứu
Điểm
thu mẫu
Độ cao (m)
Chiều rộng suối (m)
Chiều rộng mặt nước (m)
Nhiệt độ nước ( 0
Trang 3731
Kết quả ở Bảng 1 cho thấy: các điểm thu mẫu được ký hiệu từ S1 đến S16 với độ cao giảm dần Điểm S1 cao nhất (1901m) và điểm S16 thấp nhất (734m so với mặt nước biển) Độ rộng của mặt nước chỉ bằng khoảng 51 - 82% độ rộng của suối Nồng độ oxy hòa tan trong nước (DO) dao động từ 10, 34 – 15,76 mg/l Độ
pH có xu hướng giảm dần khi độ cao của suối tăng lên, dao động từ 7,16 – 9,66, pH thấp nhất ở S3 với giá trị là 7,16 và cao nhất ở S10 với giá trị là 9,66 Kết quả còn cho thấy, khi càng lên cao nhiệt độ nước càng giảm rõ rệt Ở độ cao 734 m so với mặt nước biển nhiệt độ nước chỉ là 18,2°C nhưng khi đến độ cao 1901 m nhiệt độ giảm xuống chỉ còn là 11,9°C Có thể thấy rằng, khoảng dao động của nhiệt độ nước của các điểm thu mẫu là khá lớn, lên tới gần 8°C Như vậy, nhiệt độ của nước tỷ lệ nghịch với độ cao của suối, bởi khi các suối có độ cao giảm dần thì nhiệt độ của nước lại tăng lên
3.2 Thành phần loài côn trùng nước tại khu vực nghiên cứu
Kết quả phân tích mẫu vật thu được tại khu vực nghiên cứu đã xác định được
186 loài của 145 giống thuộc 56 họ của 9 bộ côn trùng nước (Bảng 3)
Kết quả nghiên cứu cho thấy, số lượng loài thu được tại khu vực nghiên cứu giữa các bộ khác nhau rõ rệt Trong 9 bộ côn trùng nước thu được, bộ Phù du thu được số lượng loài nhiều nhất với 57 loài (30,6%), tiếp theo là bộ Cánh lông thu được 36 loài (19,4%), bộ Chuồn chuồn và bộ Cánh cứng cùng thu được 20 loài (10,8%), bộ Cánh nửa với 18 loài (9,7%), bộ Hai cánh có 17 loài (9,1%), bộ Cánh
úp với 16 loài (8,6%), cuối cùng là bộ Cánh rộng và bộ Cánh vẩy đều chỉ thu được duy nhất 1 loài (0,5%)
Chi tiết về cấu trúc thành phần loài côn trùng nước tại khu vực nghiên cứu thể hiện ở Bảng 2 và Hình 2
Trang 38Tỷ lệ
%
Số lượng
Tỷ lệ
%
Số lượng Tỷ lệ %
Hình 2 Tỷ lệ % số loài theo bộ tại khu vực nghiên cứu
Để làm rõ hơn tính đa dạng loài của côn trùng nước tại khu vực nghiên cứu, chúng tôi phân tích kết quả thành phần loài của từng bộ
Trang 3933
3.2.1 Thành phần loài của bộ Phù du (Ephemeroptera)
Bộ Phù du là một trong số các bộ có thành phần loài phong phú nhất tại khu vực nghiên cứu Kết quả nghiên cứu đã xác định được 57 loài thuộc 28 giống của 7
họ Xét về số lượng và thành phần loài có độ tương đồng với nghiên cứu của và Nhâm Thị Phương Lan (2007) [4], nhưng lại ít hơn so với số loài và giống được xác định trong nghiên cứu của Phạm Thị Thúy Hồng (2010) [3] Khi so sánh với nghiên cứu của Jung S.W (2006) [32], có hai họ không thu được mẫu là họ Potamanthidae
và họ Isonychiidae, nhưng lại bổ sung một số loài như Ephemera longiventris,
Baetiella trispinata, Baetiella bispinosa Những khác biết này có thể là do khu vực
nghiên cứu của Phạm Thị Thúy Hồng và Jung S.W bao gồm cả những điểm suối có
độ cao thấp hơn thuộc vùng cuối nguồn
Ở mức độ giống, nhận thấy ho ̣ Heptageniidae và h ọ Baetidae là hai họ chiếm
ưu thế nhất khi lần lượt có 9 giống và 8 giống Riêng hai họ này đã chiếm 60,7% trong tổng số giống thu được tại khu vực nghiên cứu Tiếp theo là h ọ Ephemerellidae có 5 giống chiếm 17,9%, họ Leptophlebiidae có 3 giống (10,7%) Các họ Ephemeridae, Austremerellidae và Caenidae đều có 1 giống duy nhất chiếm (3,2%)
Sự khác nhau giữa các họ cũng thể hiện rất rõ ở mức độ loài Họ Baetidae có
số lượng loài nhiều nhất với 20 loài chiếm (35,1%) trên tổng số loài thu được tại
khu vực nghiên cứu Tuy nhiên chỉ có ba loài Baetiella trispinata, Platybaetis
edmundsi và Baetiella bispinosa là được mô tả đầy đủ
Cũng có số lượng loài rất phong phú là họ Heptageniidae với 18 loài chiếm
31,6%, trong đó giống Epeorus là giống chiếm ưu thế nhất với 6 loài Một số loài có mặt ở hầu hết các điểm thu mẫu, ví dụ như loài Epeorus bifurcatus hay loài
Afronurus mnong Ngược lại, một số loài khác phân bố hẹp hơn: loài Thalerosphyrus vietnamensis chỉ gặp ở một điểm khảo sát duy nhất
Tại khu vực nghiên cứu, họ Ephemerellidae v ới 10 loài chiếm 17,5% và họ Leptophlebiidae với 5 loài chi ếm 8,7% Tiếp theo là , họ Ephemeridae v ới 2 loài
Trang 4034
chiếm (3,5%) Cuối cùng là 2 họ Caenidae và Austremerellidae có số lượng loài ít nhất chỉ với 1 loài cùng chiếm tỉ lệ 1,8%
3.2.2 Thành phần loài của bộ Chuồn chuồn (Odonata)
Kết quả phân tích mẫu thu được tại Vườn Quốc gia Hoàng Liên, Lào Cai đã xác định 20 loài thuộc 19 giống và 9 họ Giữa các họ khác nhau của bộ Chuồn chuồn có sự khác nhau rõ rệt về số lượng giống cũng như số lượng loài
Ở mức độ giống, nhận thấy ho ̣ Gomphidae chi ếm ưu thế với 5 giống Tiếp theo là các ho ̣ g ồm: Macromiidae, Calopterygidae, Chlorocyphidae, Euphaeidae, Platystictidae có 2 giống Các họ Aeshnidae, Cordulegastridae, Libellulidae đều có
1 giống duy nhất Số loài trong họ Gomphidae cũng chiếm nhiều nhất với 5 loài, tiếp theo là họ Macromiidae với 3 loài, các họ Cholorocyphidae, họ Euphaeidae, họ Platystictidae cùng có 2 loài, họ Aeshnidae, họ Liebellulidae, họ Cordulegastridae cùng có 1 loài Thành phần loài xác định được tại các điểm nghiên cứu tập chung chủ yếu ở 2 họ Gomphidae và Macromiidae chiếm gần một nửa tổng số loài
Về phân bố có sự khác nhau rõ rệt giữa các loài cũng như các họ với nhau
Họ Gomphidae không chỉ chiếm ưu thế về số lượng loài mà các loài trong họ này cũng có phân bố rộng nhất trong bộ Chuồn chuồn Các họ Chlorocyphidae, họ Aeshnidae, họ Macromiidae và họ Cordulegastridae hầu như chỉ có mặt tại một số
điểm ở những độ cao nhất định Những loài phân bố rộng nhất là: Anotogaster sp
và Melligomphus sp có mặt ở nhiều điểm thu mẫu Trong khi đó, các loài
Platycnemis sp., Epophthalmia sp., Brachythemis sp 1, Neurobasis sp., Libellago
sp và Rhinocypha sp là những loài phân bố khá hẹp, chỉ thu được ít mẫu
3.2.3 Thành phần loài của bộ Cánh úp (Plecoptera)
Từ kết quả phân tích cho thấy, tại khu vực nghiên cứu đã xác định được bộ
Cánh úp gồm 16 loài thuộc 14 giống của 4 họ
Trong đó, họ Perlidae là họ có số lượng loài và giống lớn nhất với 7 giống và
7 loài thu được Các loài của họ này phân bố khá rộng, trải đều theo các độ cao Tiếp theo đó, họ Nemouridae xếp thứ 2 với 4 giống và 6 loài Các loài của họ này hầu như chỉ tập trung tại các khu vực có độ cao trên 1300m Họ Leuctridae có 2