Các nghiên cứu bằng kỹ thuật điện di miễn dịch và kính hiển vi điện tử đã khẳng định: Capsit trong mang kháng nguyên đặc hiệu nhóm, capsit ngoài mang kháng nguyên đặc hiệu týp, nhân của
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
-
NGUYỄN PHƯƠNG THÖY
NGHIÊN CỨU ĐẶC TÍNH VIRUT ROTA LƯU HÀNH GÂY BỆNH TIÊU CHẢY TRẺ EM VÀO BỆNH VIỆN NHI
KHÁNH HÕA NĂM 2010
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Hà Nội – Năm 2013
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
-
NGUYỄN PHƯƠNG THÖY
NGHIÊN CỨU ĐẶC TÍNH VIRUT ROTA LƯU HÀNH GÂY BỆNH TIÊU CHẢY TRẺ EM VÀO BỆNH VIỆN
NHI KHÁNH HÕA NĂM 2010
Chuyên ngành : Vi sinh vật học
Mã số : 60 42 40
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS LÊ THỊ LUÂN
Hà Nội – Năm 2013
Trang 31 MỤC LỤC LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC HÌNH
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1 – TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 SƠ LƯỢC LỊCH SỬ PHÁT HIỆN VIRUT ROTA 3
1.2 HÌNH THÁI VÀ CẤU TRÖC 3
1.2.1 Hình thái 3
1.2.2 Cấu trúc 4
1.3 PHÂN NHÓM VÀ CÁC TÝP HUYẾT THANH 10
1.3.1 Phân nhóm 10
1.3.2 Týp huyết thanh 11
1.4 TÍNH CHẤT LÝ HÓA 11
1.4.1 Tính bền vững với PH 11
1.4.2 Tính chịu nhiệt 11
1.4.3 Tính nhạy cảm 12
1.4.4 Tính đề kháng 12
1.5 ĐẶC TÍNH VIRUT ROTA TRÊN TẾ BÀO NUÔI CẤY MÔ 12
1.6 QUÁ TRÌNH NHÂN LÊN CỦA VIRUT ROTA 13
1.7 KHẢ NĂNG GÂY BỆNH CỦA VIRUT ROTA 15
1.7.1 Khả năng gây bệnh cho trẻ em 15
1.7.2 Khả năng gây bệnh ở người lớn 15
1.7.3 Cơ chế gây bệnh 16
1.8 DỊCH TỄ HỌC BỆNH TIÊU CHẢY CẤP DO VIRUT ROTA 16
1.8.1 Nguồn bệnh 16
Trang 41.8.2 Đường lây truyền 16
1.8.3 Mùa bệnh 16
1.8.4 Lứa tuổi mắc bệnh 17
1.8.6 Miễn dịch 17
1.9 SỰ PHÂN BỐ CÁC KIỂU GEN CỦA VIRUT ROTA 18
1.9.1 Phân bố trên thế giới 18
1.9.2 Phân bố tại Việt Nam 19
1.10 TÌNH HÌNH MẮC BỆNH TIÊU CHẢY CẤP VÀ VẮC XIN PHÕNG NGỪA BỆNH TiÊU CHẢY CẤP DO VIRUT ROTA 20
1.10.1Tình hình mắc bệnh tiêu chảy cấp do virut Rota trên thế giới và Việt Nam 20
1.10.1.1 Tình hình mắc bệnh do virut Rota trên thế giới 20
1.10.1.2 Tình hình mắc bệnh do virut Rota tại Việt Nam 21
1.10.2 Tình hình sử dụng vắc xin phòng ngừa bệnh tiêu chảy cấp do virut Rota 22
1.10.2.1 Các chủng virut Rota được cân nhắc để phát triển vắc xin 22
1.10.2.2 Các loại văc xin được nghiên cứu và sử dụng 23
1.11 CÁC PHƯƠNG PHÁP CHẨN ĐOÁN VIRUT ROTA 25
1.11.1 Các kỹ thuật phát hiện virut Rota……… 25
1.11.2 Các kỹ thuật phát hiện kháng thể virut Rota 26
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27
2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 27
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu 27
2.2.2Phương pháp thực hiện 28
2.2.2.1 Lấy mẫu bệnh phẩm 28
2.2.2.2 Xác định virut Rota trong mẫu bệnh phẩm bằng phương pháp ELISA 29
2.2.2.3 Phương pháp tách chiết ARN từ mẫu phân 32
2.2.2.4 Phương pháp xác định týp virut Rota bằng RT – PCR 34
2.2.2.5 Chạy điện di và đọc kết quả 40
Trang 52.2.2.6 Phương pháp thống kê xử lý số liệu 42
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 43
3.1 XÁC ĐỊNH TỶ LỆ TCC DO VIRUT ROTA TẠI BỆNH VIỆN NHI KHÁNH HÕA NĂM 2010 43
3.2 TỶ LỆ BỆNH NHÂN TCC DO VIRUT ROTA THEO THÁNG 44
3.3 TỶ LỆ BỆNH NHÂN TCC DO VIRUT ROTA THEO NHÓM TUỔI 47
3.4 TỶ LỆ BỆNH NHÂN TCC DO VIRUT ROTA THEO GIỚI TÍNH 50
3.5 ĐẶC TÍNH CÁC CHỦNG VIRUT ROTA LƯU HÀNH TẠI BỆNH VIỆN NHI KHÁNH HÕA NĂM 2010 51
3.5.1 Đặc tính chủng P 51
3.5.2 Đặc tính chủng G 56
3.6 Sự lưu hành các chủng tổ hợp G – P của virut Rota 61
3.6.1 Sự phân bố các chủng tổ hợp G – P tại miền Trung 61
3.6.2 Sự lưu hành các chủng tổ hợp G – P theo thời gian 62
KẾT LUẬN 64
KIẾN NGHỊ 65
TÀI LIỆU THAM KHẢO 66
2
Trang 6DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ADN Deoxyribonucleic Acid Axit Deoxyribonucleic
CDC Centers for Disease Control
Kỹ thuật miễn dịch gắn enzyme
Gmix Mixed G-genotype Chủng virut Rota có kiểu gen G hỗn hợp
Gnt Untypable G- genotype Chủng virut Rota không thể xác định kiểu
gen G IgA Immuno globulin A Globulin miễn dịch A
IgG Immuno globulin G Globulin miễn dịch G
NSP Non-structure Protein Protein không cấu trúc
OD Optical density Mật độ quang học
Pmix Mix P-type Chủng virut Rota có kiểu gen P hỗn hợp
Pnt Untýpable P-genotype Chủng virut Rota không thể xác định kiểu
gen P ARN Ribonucleic Acid Axit Ribonucleic
RT-PCR
Reverse transcription
polymerase chain reaction
Phản ứng chuỗi Polymerase phiên mã ngƣợc
WHO World Health Organization Tổ chức Y tế Thế giới
Trang 73 DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1 Đặc điểm chuỗi nucleotit các đoạn gen của virut Rota [16,18] 5
Bảng 2 Các gen và protein của virut Rota [6,8] 7
Bảng 3 Týp huyết thanh của virut Rota [6,8] 11
Bảng 4 Sự phân bố các chủng lưu hành trên toàn cầu, năm 2001 – 2008 [66] 18
Bảng 5 Các chủng virut Rota được cân nhắc để phát triển vắc xin [6] 22
Bảng 6 Các primer được sử dụng để định týp G và týp P 35
Bảng 7 Bảng tra kích thước các kiểu gen G, P sau khi điện di 41
Bảng 8 Tỷ lệ TCC do virut Rota hàng năm tại Việt Nam [1,2,3] 44
Bảng 9 Phân bố theo tháng tỷ lệ trẻ mắc bệnh TCC do virut Rota 45
Bảng 10 Tỷ lệ mắc virut Rota theo nhóm tuổi tại bệnh viện Nhi Khánh Hòa năm 2010 47
Bảng 11 Tỷ lệ mắc bệnh do virut Rota theo giới tính 50
Bảng 12 Tỷ lệ lưu hành các kiểu gen P tại bệnh viện nhi Khánh Hòa năm 2010 52
Bảng 13 Sự phân bố các kiểu gen theo khu vực trong cả nước 53
Bảng 14 Tỷ lệ các kiểu gen P lưu hành theo thời gian 55
Bảng 15 Tỷ lệ lưu hành các kiểu gen G tại bệnh viện nhi Khánh Hòa năm 2010 57
Bảng 16 Sự phân bố các chủng G theo khu vực 58
Bảng 17 Tỷ lệ lưu hành các kiểu gen G theo thời gian 59
Bảng 18 Sự lưu hành các chủng G – P tại miền Trung năm 2010 61
Bảng 19 Sự lưu hành các chủng tổ hợp G – P theo thời gian 62
Trang 84 DANH MỤC HÌNH
Hình 1 Hình ảnh virut Rota chụp dưới kính hiển vi điện tử [58] 4
Hình 2 Hình minh họa cấu trúc của virut Rota 5
Hình 3: Tái dựng hình ảnh của virut Rota dựa trên hình ảnh chụp qua kính hiển vi điện tử 9
Hình 4: Chu trình nhân lên của virut Rota trong tế bào 14
Hình 5 Sự phân bố số bệnh nhân tử vong theo khu vực trên thế giới và số bệnh nhân tử vong tại các quốc gia Châu Á [33] 21
Hình 6 Sơ đồ tóm tắt quy trình thực hiện 28
Hình 7 Sơ đồ mô tả nguyên lý của phương pháp ELISA 29
Hình 8 Kết quả ELISA khi chưa cho chất dừng phản ứng 31
Hình 9 Kết quả ELISA sau khi cho chất dừng phản ứng 31
Hình 10 Đọc kết quả mẫu bệnh phẩm trên máy ELISA 32
Hình 11 Vị trí các Primer và bản sao ADN thu được để xác định kiểu gen G 36
Hình 12 Vị trí các Primer và bản sao ADN thu được để xác định kiểu gen P 36
Hình 13 Ảnh minh họa vị trí mẫu trên bản gel 41
Hình 14 Ảnh minh họa kiểu gen G phân tích trên gel agarose 2% 42
Hình 15 Ảnh minh họa kiểu gen P phân tích trên gel agarose 2% 42
Hình 16 Tỷ lệ bệnh nhi mắc bệnh TCC vào bệnh viện Nhi Khánh Hòa 43
năm 2010 43
Hình 17 Biểu đồ tỷ lệ trẻ em mắc bệnh TCC do virut Rota theo tháng tại các khu vực 46 Hình 18 Sự phân bố TCC do virut Rota theo nhóm tuổi 49
Hình 19 Tỷ lệ trẻ dương tính với virut Rota phân bố theo giới tính tại bệnh viện nhi Khánh Hòa năm 2010 50
Hình 20 Kết quả điện di trên gel agarose xác định kiểu gen P 51
Hình 21 Tỷ lệ các kiểu gen P tại bệnh viện nhi Khánh Hòa năm 2010 52
Hình 22: Sự phân bố các kiểu gen theo khu vực trong cả nước 53
Hình 23 Sự phân bố kiểu gen P theo thời gian 55
Trang 9Hình 24 Kết quả điện di trên gel agarose xác định kiểu gen G 56
Hình 25 Sự phân bố các kiểu gen G lưu hành tại miền Trung năm 2010 57
Hình 26 Sự lưu hành các kiểu gen G tại miền Trung năm 2009 và năm 2010 60
Hình 27 Sự phân bố các tổ hợp G – P của virut Rota 61
Hình 28 Sự lưu hành các chủng tổ hợp G – P theo thời gian 62
Trang 10ĐẶT VẤN ĐỀ
Virut Rota được phát hiện vào đầu những năm 70 của thế kỷ XX, là một
virut ARN sợi đôi, thuộc họ Reovitridae [37] Virut Rota là một trong những
nguyên nhân quan trọng nhất gây viêm dạ dày ruột mà không do vi khuẩn ở trẻ nhỏ
dưới 5 tuổi Tuy nhiên người ta cũng quan sát thấy ở trẻ lớn hơn và cả ở người lớn
Virus rota được đánh giá là đã gây ra 40% trong tổng số vụ nhập viện do tiêu
chảy của trẻ dưới 5 tuổi trên toàn cầu và gây ra mỗi năm 100 triệu ca tiêu chảy cấp
cùng 450 đến 800 nghìn ca tử vong [67] Ở các nước phát triển có 35% - 52% trẻ
em bị tiêu chảy cấp (TCC) do virut Rota Còn ở các nước đang phát triển, virut Rota
là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây tiêu chảy và tử vong ở trẻ dưới 2
tuổi Ước tính hàng năm ở những nước này có trên 12,5 triệu trẻ em dưới 5 tuổi bị
TCC do virut Rota và khoảng 873.000 trường hợp tử vong [50],[51]
Tại Việt Nam, hàng năm tỷ lệ mắc tiêu chảy do virut Rota chiếm trên 50%
trong số trẻ dưới 5 tuổi bị tiêu chảy vào điều trị tại 1 số bệnh viện Nhi lớn của Việt
Nam Số trẻ chết do virut Rota chiếm từ 4% - 8% trong tổng số trẻ dưới 5 tuổi bị
chết vì mọi nguyên nhân [6]
Bệnh lây lan theo đường phân – miệng, từ người sang người nên trong điều
kiện vệ sinh của nước ta còn kém thì bệnh rất dễ lây lan thành vụ dịch lớn Virut
Rota khi xâm nhập vào cơ thể nhân lên ở ruột non, phá hủy tế bào trụ niêm mạc ruột
gây ra các rối loạn dẫn đến tình trạng mất nước và điện giải, bệnh nhân suy sụp rất
nhanh nếu không được chuẩn đoán và điều trị kịp thời rất dễ dẫn đến tử vong
Hiện nay, trên thế giới đã cấp phép lưu hành hai loại vắc xin là: vắc xin
Rotarix của hãng Glaxo Smith Kline và Rotateq của Merck Các vắc xin này được
sử dụng ở nhiều quốc gia nhưng hiệu lực bảo vệ lại khác nhau theo khu vực, điều
này được giải thích là do tính đa dạng về di truyền của các chủng virut Rota và sự
lưu hành các chủng có sự biến đổi theo không gian và thời gian [6,8]
Tại Việt Nam đã sản xuất được vắc xin virut Rota uống, từ chủng phổ biến
G[1]P[8] đã được làm giảm độc lực Kết quả thử nghiệm lâm sàng được đánh giá là
đạt về mức độ an toàn trên cơ thể người lớn và trẻ em [5] Việc giám sát dịch tễ học
Trang 11và xác định đặc tính của các chủng virut Rota trong thời gian dài trên thế giới cũng
như tại Việt Nam, trước và sau khi sử dụng vắc xin là cơ sở đánh giá hiệu quả của
các vắc xin đang sử dụng, sự biến đổi bất thường của các chủng virut Rota để từ đó
có hướng phát triển vắc xin mới hiệu quả hơn
Xuất phát từ thực tiễn trên, để góp phần đánh giá tình hình tiêu chảy cấp do
virut Rota ở Việt Nam, chúng tôi tiến hành đề tài nghiên cứu:
“ Nghiên cứu đặc tính virut Rota gây bệnh tiêu chảy ở trẻ em vào bệnh
viện Nhi Khánh Hòa năm 2010” nhằm các mục tiêu sau:
1 Xác định tỷ lệ bệnh nhi bị tiêu chảy cấp do virut Rota tại bệnh viện Nhi
Khánh Hòa và mối liên quan của bệnh này với yếu tố mùa, tuổi, giới
2 Xác định đặc tính các týp virut Rota lưu hành tại bệnh viện Nhi Khánh Hòa
Trang 125 CHƯƠNG 1 – TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 SƠ LƯỢC LỊCH SỬ PHÁT HIỆN VIRUT ROTA
Năm 1943, Jacob Light và Horace Hodes đã chứng minh rằng các tác nhân đi
qua màng lọc vi khuẩn có khả năng gây ra tiêu chảy cho bò Năm 1972, Kapikian
lần đầu tiên phát hiện ra chủng virut có liên quan đến bệnh tiêu chảy và đặt tên là
Norwalk[14] Năm 1973 Bishop R.F và cộng sự quan sát bằng kính hiển vi điện tử
mảnh sinh thiết ruột non của trẻ em chết vì bệnh tiêu chảy cấp thấy có virut giống
như Reovirus (Reovirus – like), có đường kính 70nm và ông đặt tên cho virut này là
Rotavirus vì hình thể của nó rất giống cái bánh xe với các nan hoa Năm 1974,
Flewett Bryden, Midleton cũng đề cập tới vai trò của virut Rota trong bệnh viêm dạ
dày ruột Sau này những nghiên cứu về hình thái học bằng âm bản những lát cắt cực
mỏng của tổ chức nhiễm virut Rota, quan sát dưới kính hiển vi điện tử cho phép xác
định virut Rota thuộc họ Reoviridae [15,18]
Ở Việt Nam mãi đến năm 1980 mới nghiên cứu và xác định virut này là
nguyên nhân chính gây nên bệnh tiêu chảy ở trẻ em Từ năm 1998 đến nay, được sự
hợp tác và tài trợ của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), Trung tâm Kiểm soát và
Phòng ngừa bệnh tật CDC-Atlantta- Mỹ, Trung tâm nghiên cứu, sản xuất vắc xin và
Sinh phẩm y tế đã tiến hành giám sát bệnh tiêu chảy do virut Rota và xác định các
chủng lưu hành phổ biến tại Việt Nam [6,8]
1.2 HÌNH THÁI VÀ CẤU TRÖC
1.2.1 Hình thái
Hạt virut trưởng thành dạng khối cầu 20 mặt, đường kính khoảng 75nm Dưới
kính hiển vi điện tử virut Rota giống hệt như một cái bánh xe có các gai ngắn và một
cái vành rất nhẵn Tên “Rota” tiếng La tinh có nghĩa là “bánh xe” xuất phát từ hình
thái của nó.[58]
Trang 13Hình 1 Hình ảnh virut Rota chụp dưới kính hiển vi điện tử [58]
1.2.2 Cấu trúc
Virut Rota có dạng khối cầu 20 mặt, đường kính khoảng 75nm, chuỗi
nucleocapsit của virut được tạo thành bởi 3 vòng xoắn đồng tâm Vỏ Capsit của
virut Rota có dạng đối xứng 20 mặt, 132 capsomer sắp xếp đối xứng xoắn
[15,19,58]
Cấu trúc capsit của virut Rota gồm 3 lớp rõ rệt
Lớp ngoài chứa protein cấu trúc VP4 và VP7
Lớp trong chứa protein cấu trúc VP6 là loại kháng nguyên đặc hiệu nhóm,
chiếm 50% hạt virut và có thể được phát hiện trong kỹ thuật ELISA
Lớp lõi chứa protein cấu trúc VP1, VP2 và VP3
Các nghiên cứu bằng kỹ thuật điện di miễn dịch và kính hiển vi điện tử đã
khẳng định: Capsit trong mang kháng nguyên đặc hiệu nhóm, capsit ngoài mang
kháng nguyên đặc hiệu týp, nhân của virut không mang tính kháng nguyên
Trang 14
Hình 2 Hình minh họa cấu trúc của virut Rota
Subgroup antigen : Kháng nguyên phân nhóm
Hệ gen:
Bộ gen của virut rota gồm 11 đoạn ARN sợi kép, có độ lớn khoảng 18.555
cặp bazơ, trọng lƣợng phân tử của 11 đoạn ƣớc tính từ 10.106
- 14.106 Dalton Mỗi gen có khối lƣợng phân tử từ 2.105
- 2,2.106 Dalton và mã hoá cho một protein cấu trúc hoặc không cấu trúc, trừ gen 9 và gen 11 [8,13,28]
Bảng 1 Đặc điểm chuỗi nucleotit các đoạn gen của virut Rota [16,18]
Đoạn gen Số cặp Bazơ Tỷ lệ G + C ( %) Số axit amin
Trang 15Đoạn gen Số cặp Bazơ Tỷ lệ G + C ( %) Số axit amin
Khi điện di trên gel polyacrylamit 11 gen này chia làm 4 khu vực [30,44]
- Khu vực I gồm các đoạn gen 1, 2, 3 và 4 có khối lƣợng phân tử cao nhất (theo
bảng 1 và hình 2) khi chạy trên gel polyacrylamit sẽ chạy chậm nhất
- Khu vực II gồm các đoạn 5 và 6
- Khu vực III gồm các đoạn 7, 8, 9
- Khu vực IV gồm các đoạn 10 và 11 có khối lƣợng phân tử thấp nhất, khi chạy
điện di trên bản gel sẽ chạy nhanh nhất
Protein
Hạt virut chứa ít nhất 6 protein cấu trúc [6,21,37]:
- Các gen 1, 2, 3 và 6 mã hoá cho các protein VP1, VP2, VP3 và VP6
- Đoạn gen 4, 9 mã hoá cho các protein capsit lớp ngoài VP4 và VP7
- Các gen còn lại ( 5, 7, 8, 10 và 11) mã hoá cho các protein không cấu trúc
(NSP1, NSP2, NSP3, NSP4, NSP5) Đặc điểm protein của virut Rota đƣợc trình
bày ở bảng 2 nhƣ sau:
Trang 16Bảng 2 Các gen và protein của virut Rota [6,8]
Vị trí trong hạt virut
Chức năng
(125K)
Bao quanh sợi ARN
ARN polymerase phụ thuộc ARN, liên kết với ARN sợi đơn, tạo phức hợp với VP3
(94K)
Bao quanh sợi ARN Kích thích tái tạo ARN của virut
(88K)
Bao quanh sợi ARN
Enzyme Guanylyl transferase xúc tác cho quá trình gắn mũ 5‟của mARN trong quá trình cải biến trước dịch mã
(88K)
Capsít lớp ngoài
Ngưng kết hồng cầu, kháng nguyên trung hòa
(53K)
Không cấu trúc
Không có vai trò cho sinh trưởng của virut
(41K)
Capsít lớp trong Cấu trúc và kháng nguyên đặc hiệu loài
(34K)
Không cấu trúc
Làm tăng hoạt tính của mARN virut và ngừng tổng hợp protein trong tế bào vật chủ
(35K)
Không cấu trúc
NTPase tham gia đóng gói hạt virut và sao chép hệ gen
(38K)
Capsít lớp ngoài
Protein cấu trúc và kháng nguyên trung hòa
10 NSP4 20.290
(28K)
Không cấu trúc
Độc tố ruột, vai trò trong quá trình hình thành hạt virut
11 NSP5 21.725
( 26K)
Không cấu trúc Độc tố ruột
Trang 17+ Protein cấu trúc
Ba protein mang tính đặc hiệu kháng nguyên của virut là VP4, VP6 và VP7
[22,25,58]:
- VP4 là một protein nhạy cảm với proteasa (P serotype) là kháng nguyên có đặc
tính ngưng kết hồng cầu Nhờ enzym protease phân hủy, VP4 được phân cắt
một cách đặc hiệu thành VP5* và VP8* giúp cho sự xâm nhập của virut vào tế
bào VP4 định ra týp P của virut Rota
- VP6 là kháng nguyên chung cho các dưới nhóm của virut Rota Chúng được sử
dụng trong các thử nghiệm phát hiện nhiễm virut Rota nhóm A
- VP7 là một glycoprotein (G serotype) là kháng nguyên trung hoà đặc hiệu cho
týp huyết thanh, định ra týp G của virut Rota [16,20,22,25,35]
Ngoài ra các protein nằm trong lõi cũng có vai trò rất quan trọng trong quá
trình nhân lên của virut Rota:
- VP1 là enzym ARN polymerase nằm trong lõi hạt virut tham gia vào quá trình
phiên mã tạo ra các phân tử mARN và tạo ra các bản sao genom ARN cho các
hạt virion mới
- VP2 có hoạt tính liên kết ARN không đặc hiệu, nhận biết cả ARN sợi đơn và
sợi kép Việc lắp ráp VP2 vào trong lõi không phụ thuộc vào protein khác và
dsARN, do VP2 mang vùng chứa Ala – 387 và vùng kẹp hóa leucine có vai trò
quan trọng trong việc tự lắp ráp vào lõi
- VP3 là một phần của màng lõi trong của hạt virion và là enzym Guanylyl
transferase, có vai trò gắn mũ vào đầu 5‟ trong quá trình cải biến sau phiên mã
phân tử mARN, bảo vệ mARN khỏi sự phân hủy của các nuclease
Ban đầu người ta gọi hạt virut hoàn chỉnh là hạt virut có 2 vỏ, mặc dù số
liệu mới đây cho thấy rằng những hạt virut này có 3 lớp Sự thiếu vỏ ngoài của phân
tử lớp kép thường được miêu tả như hạt thô ráp bởi vì mặt ngoài của chúng nhô ra
cấu trúc siêu phân tử của capsit trong (VP4) [17] Những nghiên cứu đầu tiên về cấu
trúc virut Rota đã nhất trí cho rằng hạt virut có 20 mặt đối xứng [16,44]
Trang 18Theo Roseto và các cộng sự [44], bằng kỹ thuật đông khô đã có báo cáo về
sự hiện diện của 132 capsome được sắp xếp đối xứng lệch Họ cũng chỉ ra rằng lớp
ngoài có các lỗ nhỏ tương ứng với các lỗ của vỏ trong capsit Sau này Ludert và các
cộng sự cũng khẳng định cấu trúc capsit trong của virut Rota băng kỹ thuật phá vỡ
hạt virut và kỹ thuật tương tự [28] Cấu trúc lớp kép và lõi có thể là sản phẩm của
việc biến đổi liên tục của hạt 3 lớp.[16,17]
Nghiên cứu về virut Rota bằng kính hiển vi điện tử lạnh cho thấy VP4 hiện
diện trên vỏ ngoài capsit như một loạt 60 gai ngắn có kích thước 10-12nm Trọng
lượng phân tử 88.000D cấu tạo nên 1,5% protein của hạt virut VP4 đóng vai trò thứ
yếu trong việc cấu tạo nên vỏ capsit ngoài VP4 được mã hóa bởi gen 4 của các
chủng virut Rota được mô tả Phần VP4 hướng vào trong tương tác với cả VP7 và
protein capsit trong VP6 Sự tương tác VP4-VP7 và VP4-VP6 bao hàm rằng VP4
có thể tham gia duy trì chính xác hình học giữa lớp trong và ngoài vỏ capsit cũng
như phạm vi ảnh hưởng chức năng [49]
Hình 3: Tái dựng hình ảnh của virut Rota dựa trên hình ảnh chụp qua kính
hiển vi điện tử
VP7 là lớp vỏ ngoài bao gồm 780 phân tử, VP7 tương tác với phần chóp của
VP6 VP7 là một loại glycoprotein cũng là kháng ngyên trung hòa chủ yếu của virut
Rota, là kháng nguyên đặc hiệu cho tuýp huyết thanh VP7 có trọng lượng phân tử
Trang 1934.000D nhưng lại cấu tạo nên 30% protein của hạt virut VP7 nằm ở vỏ capsit
ngoài định hình nên bề mặt nhẵn của vỏ ngoài
+ Protein không cấu trúc [6 ]
- NSP1 được mã hóa bởi từ gen 5 ,có đặc tính liên kết ARN Người ta chứng
minh được rằng các chuỗi cystein của NSP1 có vai trò quan trọng cho hoạt tính
liên kết ARN NSP1 có đặc hiệu với tất cả 11 đoạn ARN của virut Rota Đích
liên kết là vị trí gần đầu 5‟ của mARN và có thể thuộc 34 nucleotit đầu tiên của
mARN
- NSP2 là một protein liên kết ARN tích lũy trong thể vùi của virut (viroplasms)
và cần thiết cho quá trình sao chép genom của virut NSP2 có đặc tính liên kết
ARN tuy nhiên không đặc hiệu virut, đầu cacboxyl của NSP2 chứa vùng bảo
thủ cao có 37 acid amin và được dự đoán là domain liên kết ARN
- NSP3 liên kết mARN của virut trong những tế bào nhiễm và ức chế tổng hợp
protein trong tế bào vật chủ
- NSP4 là một độc tố trong ruột của người bị bệnh tiêu chảy và là độc tố ruột do
virut đầu tiên được phát hiện
- NSP5 và NSP6 được mã hóa nhờ gen 11 bởi hai khung đọc mở (ORF) khác
nhau
1.3 PHÂN NHÓM VÀ CÁC TÝP HUYẾT THANH
1.3.1 Phân nhóm
Virut Rota được phân chia theo nhóm, phân nhóm dựa trên các protein vỏ
capsit của virut.Theo Lambert J.P (1992) virut rota được chia thành 5 nhóm A, B,
C, D và E Nhóm A có 2 phân nhóm là 1 và 2, phân nhóm 1 có týp huyết thanh 2,
phân nhóm 2 có týp huyết thanh 1, 3 và 4 [6,8]
Baoming (1995) chia thành 7 nhóm là A, B, C, D, E, F và G, trong đó chỉ có
nhóm A, B, C gây bệnh cho cả người và động vật Nhóm D, E, F, G chỉ thấy ở động
vật Nhóm A hay gặp nhất, gây ra hầu hết các vụ dịch tiêu chảy nặng ở trẻ em
Nhóm B, C thường gây những vụ dịch lẻ tẻ, hay gặp ở trẻ lớn và người trưởng
thành [6,8]
Trang 201.3.2 Týp huyết thanh
Trong mỗi phân nhóm virut Rota được phân loại theo các týp huyết thanh
dựa trên protein capsit là VP4 và VP7 VP4 là một loại protein chống phân tách
proteaza - protein P, định ra týp huyết thanh P và VP7 một loại glycoprotein -
protein G, định ra týp huyết thanh G Hai gen mã hoá cho những protein này theo lý
thuyết có thể phân chia độc lập với nhau Đặc điểm týp huyết thanh được trình bày
Kiểu gen phổ biến G1, G2, G3, G4, G9 P4, P8, P6
Các protein capsit VP4 và VP7 có liên quan tới tính sinh miễn dịch của cơ
thể khi virut Rota xâm nhiễm Trên thế giới có 4 chủng virut Rota phổ biến nhất là
G1P[8], G3P[8], G4P[8], G2P[4] Tuy nhiên, sự lưu hành của các chủng virut Rota
có khác nhau đáng kể ở các vùng khí hậu khác nhau, một số chủng không thông
thường lại phân bố ở một vài quốc gia đang phát triển, chẳng hạn P6 kết hợp với
týp huyết thanh G9 chiếm 9,50% tổng số các chủng virut Rota ở Ấn Độ Do vậy,
việc giám sát dịch tễ týp huyết thanh G và P nhằm xác định týp phổ biến đóng vai
trò rất quan trọng trong việc phát triển vắc xin Rota mới [6, 16]
1.4 TÍNH CHẤT LÝ HÓA
1.4.1 Tính bền vững với PH
Virut Rota bền vững với pH ở diện rộng (pH từ 3 đến 10) nhờ đó mà có
virut Rota thể tồn tại và phát triển tốt trong ruột người [8]
1.4.2 Tính chịu nhiệt
Virut Rota có thể sống nhiều giờ trên bàn tay và nhiều ngày trên bề mặt rắn,
virut vẫn ổn định và có khả năng gây bệnh khi sống trong phân một tuần Ở 40C
Trang 21thậm chí ở 200C với sự có mặt của 1,5 mM CaCl2 virut rota vẫn giữ được tính gây
nhiễm trùng trong nhiều tháng [10,20], ở - 200
C virut có thể tồn tại nhiều năm [6]
Virut dễ bị bất hoạt ở nhiệt độ cao trên 450C Nếu đông tan băng nhiều lần
thì virut mất khả năng gây nhiễm trùng Virut có khả năng tồn tại lâu trong buồng
bệnh nhân nên tỷ lệ nhiễm trùng bệnh viện khá cao [6]
1.4.3 Tính nhạy cảm
Khả năng gây nhiễm trùng của virut Rota tùy thuộc vào sự có mặt của lớp vỏ
capsít [6,8]
Virut Rota nhạy cảm với EDTA (Ethylen Diamin Tetra Acetic), do EDTA có
khả năng phá vỡ lớp vỏ capsit và làm mất khả năng nhiễm trùng của virut Sodium
thyocianate biến hạt virut có 2 lớp thành hạt virut chỉ có 1 lớp capsit Sodium
dodecyl sulfate 0,1%, phenol, formalin, betapropiolacton và đặc biệt là ethanol 95%
là chất khử trùng hiệu quả nhất làm mất lớp vỏ capsít của virut [16,17]
1.4.4 Tính đề kháng
Virut Rota nói chung đề kháng với fluorocacbon, ete, chloroform,
deoxycholate và dung dịch không ion Virut Rota cũng không chịu tác dụng của
kháng sinh, chỉ dùng kháng sinh trong trường hợp bội nhiễm hay nhiễm khuẩn phối
hợp [6]
Kháng thể IgA trong sữa mẹ có khả năng kháng lại virut rota, nhiều thử
nghiệm giám sát trên thế giới cũng như tại Việt Nam đã chứng minh được sữa mẹ
có mức hiệu giá cao và trung bình có khả năng trung hòa virut trong vắc xin thử
nghiệm [6]
1.5 ĐẶC TÍNH VIRUT ROTA TRÊN TẾ BÀO NUÔI CẤY MÔ:
Virut Rota có thể nuôi cấy trên tế bào ruột bào thai người hoặc nuôi cấy trên
tế bào thận bào thai người
Một vài dòng tế bào thường trực có nguồn gốc là tế bào biểu mô như tế bào
thận bò Madin-Darby, tế bào thận lợn PK15 và tế bào thận khỉ xanh Châu Phi CV1,
cũng thích hợp cho việc nuôi cấy virut Rota
Trang 22Tỷ lệ gây nhiễm virut Rota người trên tế bào nuôi thường bị giảm ở những
lần cấy truyền sau Sau 2 đến 5 lần cấy truyền thì chủng virut Rota sẽ bị mất đi
Theo một số tác giả, enzyme phân giải protein bình thường có mặt ở ruột có thể
giúp cho virut Rota xâm nhập vào tế bào Một số tác giả đã thành công trong việc
phân lập virut Rota người từ bệnh nhân bị viêm dạ dày ruột cấp trên tế bào thận khỉ
Cynomolgus tiên phát và kỹ thuật nuôi quay trong môi trường có trypsin Nhiều tác
giả cũng công nhận phương pháp có hiệu quả để nuôi cấy và phân lập virut Rota
người là việc sử dụng enzym phân giải protein như tripsin, elatin, pancreatin để làm
tăng tính gây nhiễm của virut Rota người đối với tế bào nuôi [16,17]
1.6 QUÁ TRÌNH NHÂN LÊN CỦA VIRUT ROTA
Các điểm đặc trưng nhất của quá trình virut Rota nhân lên trong tế bào như sau [6]:
Quá trình sao chép xảy ra hoàn toàn trong tế bào chất
Tế bào không chứa các enzym dùng cho sao chép sợi kép ARN, vì thế virut
phải tự cung cấp các enzym cần thiết
ARN sợi (-) được dùng làm khuôn để sao chép sợi (+) nhờ enzym ARN
polymeraza phụ thuộc ARN Sợi (+) này dùng để tổng hợp các protein, đồng
thời phiên mã tạo ARN sợi (-) Khi sợi (-) được tổng hợp hoàn toàn, nó thực
hiện việc liên kết với sợi (+)
Sự phân giải tế bào sẽ giải phóng các hạt virut khỏi các tế bào nhiễm
Các giai đoạn chính của quá trình sao chép virut Rota bao gồm: giai đoạn
hấp phụ, xâm nhập và cởi áo; quá trình tổng hợp và sao chép; giai đoạn lắp ráp và
giải phóng virut ra khỏi tế bào vật chủ
Trang 23Hình 4: Chu trình nhân lên của virut Rota trong tế bào
*Giai đoạn hấp phụ, xâm nhập và cởi vỏ [6]
Sự xâm nhập của virut Rota người phụ thuộc vào việc tách lớp vỏ ngoài của
virut bằng trypsin Virut đã được xử lý trước bằng trypsin sẽ trực tiếp xâm nhập qua
màng tế bào vào trong bào tương của tế bào
Một giả thuyết khác cho rằng, những hạt virut đã được hoạt hoá bằng trypsin
dính vào màng tế bào sẽ bơm trực tiếp axít nucleic qua khe hở hình thành giữa
capsomer và lỗ trên màng tế bào Cơ chế này tương tự như phóng axít nucleic vào tế
bào vi khuẩn của phage
Những hạt virut chưa được xử lý bằng trypsin sẽ vào tế bào bằng con đường
thực bào, những virion này sau khi gắn vào màng tế bào khoảng 20 phút sẽ vào
trong lysosome
*Giai đoạn tổng hợp và sao chép
Khi ARN của virut đã vào trong bào tương tế bào cảm thụ thì quá trình sao
chép sẽ được tiến hành Quá trình dịch mã không đồng đều, các bản sao là những
sợi ARN dương sao chép từ sợi ARN âm [11]
Nhân mARN phiên mã
Dịch mã
Virut có vỏ bao bọc tạm thời
Loại bỏ
vỏ ngoài
Trang 24Các protein của virut được tổng hợp đồng thời với sự sao chép ARN của
virut Các protein cấu trúc bao gồm VP1, VP2, VP3, VP4, VP6 và VP7 có tác dụng
tạo capsit của virut Các protein không cấu trúc bao gồm NSP1, NSP2, NSP3,
NSP4, NSP5 tham gia vào quá trình sinh tổng hợp ARN [11]
*Giai đoạn lắp ráp và giải phóng
ARN sợi kép tạo thành sẽ được lắp ráp với các protein cấu trúc tạo thành hạt
virut hoàn chỉnh trong bào tương tế bào và được giải phóng ra ngoài tế bào bằng
cách ly giải tế bào chủ hoặc nảy chồi [11]
1.7 KHẢ NĂNG GÂY BỆNH CỦA VIRUT ROTA
1.7.1 Khả năng gây bệnh cho trẻ em
Virut rota nhóm A là nguyên nhân hàng đầu gây viêm dạ dày ruột cấp dẫn
đến tiêu chảy ở trẻ em, đặc biệt là trẻ từ 6 đến 24 tháng tuổi Trẻ sơ sinh hiếm khi bị
bệnh, chủ yếu là nhiễm trùng không triệu chứng hoặc biểu hiện bệnh rất nhẹ [8, 11],
có khoảng 10% - 20% trẻ sơ sinh bị nhiễm virut rota có biểu hiện lâm sàng [6]
Nhiễm trùng không triệu chứng ở trẻ sơ sinh có thể liên quan tới kháng thể từ mẹ
truyền qua nhau thai cho con hoặc kháng thể và các yếu tố ức chế trypsin trong sữa
mẹ, enzym pancreatic chưa hoàn chỉnh Như vậy, mặc dù sữa mẹ không phải là
phòng được nhiễm virut rota nhưng có thể phòng được bệnh tiêu chảy nặng [6]
Ngoài gây viêm dạ dày ruột cấp, virut rota còn có thể gây viêm ruột hoại tử,
lồng ruột, tắc mật ngoài gan, xuất huyết đường niệu, nhiễm trùng huyết Tuy
nhiên, hiện nay chưa có bằng chứng điển hình có tính thuyết phục về vấn đề này
1.7.2 Khả năng gây bệnh ở người lớn
Nhiễm trùng do virut Rota cũng khá phổ biến ở người lớn, thường do virut
nhóm B gây ra, tuy nhiên người mắc có thể không có triệu chứng hoặc bị tiêu chảy
mãn tính Theo một nghiên cứu khoảng 55% người lớn khi tiếp xúc với trẻ em nằm
viện vì viêm dạ dày ruột do virut Rota có lượng kháng thể tăng trong thời gian con
cái họ nằm viện [6] Một nghiên cứu khác cho thấy 11% - 70% người lớn bị nhiễm
trùng đã biểu hiện thành bệnh tiêu chảy
Trang 251.7.3 Cơ chế gây bệnh
Virut Rota vào cơ thể người theo đường phân - miệng và virut nhân lên
chủ yếu ở niêm mạc tá tràng Ở đây, virut nhân lên trong bào tương và phá huỷ
tế bào, tế bào bị tổn thương có các vi nhung mao teo ngắn, các bể lưới nội sinh
căng phồng, ty lạp thể phồng, vi nhung mao thưa thớt, không đều Tổn thương tế
bào dẫn đến rối loạn hấp thu các chất dinh dưỡng, nước và điện giải Các chất
carbonhydrat ứ đọng bên trong ruột làm tăng áp suất thẩm thấu, kéo nước vào
lòng ruột, hậu quả dẫn đến rối loạn tiêu hoá, gây tiêu chảy làm mất nhiều nước
và mất nhiều chất điện giải [2, 6,8]
1.8 DỊCH TỄ HỌC BỆNH TIÊU CHẢY CẤP DO VIRUT ROTA
1.8.1 Nguồn bệnh
Người và một số loài động vật như bò, cừu, khỉ, chó là vật chủ của virut
Rota Virut có trong phân bệnh nhân và được thải ra ngoài với số lượng lớn trong
thời kỳ tiêu chảy cấp Số lượng virut trong ruột ở thời kỳ tiêu chảy cấp có thể đạt
cao điểm là 1011
/ml phân Sau khi thải ra ngoài, chúng còn tồn tại trong phân và môi trường khá lâu đủ để gây nhiễm cho người khác
1.8.2 Đường lây truyền
Virut Rota chủ yếu lây truyền theo đường phân - miệng, ngoài ra còn có thể
lây theo đường hô hấp Bệnh hiếm khi truyền từ động vật sang người Virut Rota có
thể tồn tại lâu trong môi trường và đề kháng với các chất tẩy rửa thông thường như
cồn, nước javen nên khả năng lây nhiễm cao, đặc biệt trẻ từ 6 – 24 tháng tuổi dễ
nhiễm bệnh nhất do các bé thường tiếp xúc với đồ vật bằng tay, miệng Đôi khi
virut Rota có thể gây bệnh cho những thành viên khác trong gia đình và những
người có tiếp xúc gần gũi với trẻ mắc bệnh [6]
1.8.3 Mùa bệnh
Ở các nước khí hậu ôn đới, tiêu chảy do virut rota thường xuất hiện vào mùa
đông [6,7] Theo thống kê có tới hơn 50% trẻ nhập viện mắc bệnh TCC là do virut
Rota gây nên.Ở các nước nhiệt đới và các nước đang phát triển, yếu tố mùa ít rõ rệt
hơn, bệnh có thể gặp quanh năm [6]
Trang 26Ở Việt Nam theo báo cáo của chương trình giám sát( 07/2000 đến 06/2001)
tại các bệnh viện miền Bắc [7] tỷ lệ trẻ mắc bệnh tiêu chảy cấp do virut Rota nhiều
nhất vào các tháng 1,2,3,4,5,6 với tỷ lệ từ 62,5% đến 80,55% Các tháng khác đều
có bệnh nhân bị nhiễm bệnh tuy nhiên với tỷ lệ thấp từ 15%-17%
Theo chương trình giám sát này tại các bệnh viện miền Nam thì tỷ lệ trẻ bị
tiêu chảy cấp do virut Rota không có sự thay đổi nhiều giữa các tháng kể cả đó là
mùa mưa hay mùa khô Hầu hết các tháng trong năm đều có bệnh nhân bị nhiễm với
tỷ lệ khá cao từ 55%-70% [5]
1.8.4 Lứa tuổi mắc bệnh
Theo chương trình giám sát đã công bố thì hầu hết trẻ em đều bị mắc tiêu
chảy cấp do virut Rota ít nhất 1 lần cho tới khi 3 – 5 tuổi Theo kết quả nghiên cứu
giám sát trên thế giới cũng như tại Việt Nam, bệnh xảy ra chủ yếu ở trẻ em độ tuổi
từ 6 – 24 tháng tuổi, các nhóm tuổi còn lại chiếm tỷ lệ thấp hơn
1.8.5 Sự liên quan giữa giới tính và tỉ lệ mắc bệnh
Ở miền Bắc Việt Nam trong số 702 bệnh nhân vào viện do virut Rota thì số
trẻ em nam có tới 459 trường hợp gần gấp 2 lần số trẻ em nữ vào viện cùng nguyên
nhân[7] Còn ở miền Nam thì tỷ lệ trẻ em nam nhiều hơn số trẻ em nữ mắc bệnh là
1,47 lần [5]
1.8.6 Miễn dịch
Trẻ dưới 3 tháng tuổi ít bị bệnh vì có sẵn kháng thể do mẹ truyền cho, kháng
thể trong huyết thanh cao ở thời kỳ sơ sinh, trẻ từ 3 đến 6 tháng kháng thể giảm rồi
tăng dần sau đó đạt cao điểm vào 2 tuổi và duy trì trong nhiều năm Điều này cũng
giải thích tại sao trẻ mắc bệnh chủ yếu ở độ tuổi từ 6 tới 24 tháng tuổi
Hiện nay đã xác định 2 loại kháng thể đóng vai trò trong quá trình bảo vệ là:
- Kháng thể tiết: IgA tiết trong sữa mẹ chiếm tỷ lệ khá cao và có thể tồn
tại đến 24 tháng, do đó trẻ bú sữa mẹ có thể được bảo vệ trước sự tấn công của
virut Rota IgA tiết ở niêm mạc ruột non có vai trò bảo vệ chính chống nhiễm
virut Rota týp 2, vì vậy văc xin sử dụng theo đường uống sẽ tạo được miễn dịch
cao hơn [6]
Trang 27 Kháng thể dịch thể: IgM xuất hiện sớm trong máu, cao nhất vào giai đoạn
cấp tính của bệnh và giảm sau 10 ngày IgG đạt mức thấp trong giai đoạn cấp tính
và tăng cao ở giai đoạn hồi phục
Vai trò của miễn dịch trung gian tế bào chưa được điều tra cụ thể [6]
1.9 SỰ PHÂN BỐ CÁC KIỂU GEN CỦA VIRUT ROTA
1.9.1 Phân bố trên thế giới
Theo thống kê dịch tễ trên toàn cầu từ năm 2001 đến 2008 kết quả thu được theo
Châu Âu Đông Địa
Từ bảng 4 cho thấy sự phân bố các chủng virut Rota trên thế giới có sự khác nhau
theo khu vực địa lý, cụ thể như sau:
Chủng G1P[8] chiếm chủ yếu trên thế giới như Châu Phi (36%), Châu Mỹ
(32%), Châu Âu (32%), chủng này chiếm tỷ lệ thứ hai tại Châu Á - Thái Bình
Dương (21%) và Đông Địa Trung Hải (17%) Tiếp theo là các chủng G2P[4] và
G9P[8] chiếm tỷ lệ tương đối cao tại các khu vực, trong đó chủng G2P[4] cao nhất
Trang 28tại Đông Địa Trung Hải (24%), chủng G9P[8] cao nhất tại Châu Á - Thái Bình
Dương chiếm 29%
Các chủng G3P[8] và G4P[8] chiếm tỷ lệ thấp tại các khu vực, tại Châu Phi
chủng này không xuất hiện trong 8 năm giám sát, tại các khu vực còn lại chủng
chiếm tỷ lệ nhỏ dao động từ 1% đến 18%
Các chủng chưa xác định týp huyết thanh còn chiếm tỷ lệ cao chiếm từ 8% -
50% Có nhiều nguyên nhân không thể định týp G và P: có thể do xuất hiện các
chủng mới ít gặp như G10, G12, G15… nhưng chưa có Primer đặc hiệu để nhận
biết chúng Hoặc do đột biến điểm tại những vị trí bắt cặp với Primer ở những
chủng quen thuộc, dẫn tới đoạn mồi không thể bắt cặp với gen bị đột biến đó Do
đặc điểm tính đa dạng về di truyền của virut Rota ở các khu vực địa lý, Tổ chức y tế
thế giới đã tổng hợp các phương pháp và cặp mồi phổ biến đặc trưng theo khu vực
để xác định týp hiệu quả nhất Tuy nhiên với bất kỳ một phương pháp, cặp mồi đặc
hiệu nào đều có một tỷ lệ chủng không thể định týp Khi phát hiện có sự bất thường
cần nghiên cứu thêm, có thể thay đổi mồi và điều kiện phản ứng nếu cần
1.9.2 Phân bố tại Việt Nam
Theo kết quả giám sát bệnh tiêu chảy do virut Rota năm 2009 tại 3 bệnh viện
đại diện cho 3 miền đó là Bệnh viện Nhi Trung ương, Bệnh viện đa khoa Khánh
Hòa và Bệnh viện Nhi đồng I Thành Phố Hồ Chí Minh kết quả thu được có sự khác
biệt về các chủng lưu hành theo khu vực như sau:
- Đánh giá G týp[3]:
Xu hướng biến đổi đặc tính lưu hành các chủng virut Rota cũng có sự khác
biệt theo thời gian Từ năm 1998 – 2009 Trung tâm nghiên cứu sản xuất vắc xin và
Sinh phẩm y tế đã xác định được gần 2000 chủng virut Rota lưu hành theo từng
năm Theo phân tích týp G, chủng G1, G2, G3 là chủng lưu hành chính và tỷ lệ tùy
thuộc các năm khác nhau Trong đó G1 là chủng lưu hành gây bệnh chính trong
suốt những năm qua với tỷ lệ trung bình 38,8%, tuy nhiên trong những năm gần đây
chủng G3 lại là nguyên nhân chính gây bệnh tiêu chảy cấp cho trẻ em dưới 5 tuổi
chiếm tỷ lệ cao (44,70%) năm 2008 - 2009
Trang 29- Đánh giá P týp:
Chủng lưu hành gây bệnh chủ yếu là P8 trên cả 3 miền.Theo phân tích týp P,
chủng P8 là chủng lưu hành gây bệnh với tỷ lệ cao mang tính ổn định trong 12 năm
qua với tỷ lệ trung bình 76,10% [3]
1.10 TÌNH HÌNH MẮC BỆNH TIÊU CHẢY CẤP VÀ VẮC XIN PHÕNG
NGỪA BỆNH TIÊU CHẢY CẤP DO VIRUT ROTA
1.10.1Tình hình mắc bệnh tiêu chảy cấp do virut Rota trên thế giới và Việt Nam
1.10.1.1 Tình hình mắc bệnh do virut Rota trên thế giới
Virut Rota là nguyên nhân hàng đầu gây bệnh tiêu chảy cấp ở trẻ sơ sinh và
trẻ nhỏ dưới 5 tuổi trên toàn thế giới Theo ước tính chiếm khoảng 40% tất cả các
trường hợp TCC ở trẻ em [68] Khoảng 527.000 bệnh nhân tử vong mỗi năm (từ
475.000 đến 580.000 trường hợp tử vong), hẩu hết ở trẻ em dưới 2 tuổi [69], chủ
yếu là miền nam và Đông nam Châu Á, Châu Phi cận Sahara, với gần 100.000 ca tử
vong mỗi năm ở Ấn Độ và hơn 200.000 bệnh nhân tử vong ở các nước Châu Phi
[70] Chương trình giám sát dịch tễ thực hiện tại Châu Á gổm 14 quốc gia hợp tác
với PATH, WHO, Trung tâm kiểm soát và phòng ngừa dịch bệnh (CDC) tại
Atlanta, GA (Mỹ) ước tính có khoảng 73,00% trẻ em nhập viện do TCC ở Hàn
Quốc dương tính với virut Rota, Nhật Bản (58,00%), Myanma (53,00%), Trung
Quốc (46,00%), Thái Lan (43,00%), Hong Kong (30,00%) [70]
Trước khi vắc xin ra đời, tiêu chảy do virut Rota ước tính tại Mỹ có
khoảng hơn 50.000 bệnh nhân phải nhập viện và có từ 20 đến 40 ca tử vong mỗi
năm Tại Châu Á sự ra đời của vắc xin đã ngăn chặn khoảng 110.000 người chết
mỗi năm, giảm 1.400.000 bệnh nhân phải nhập viện và 7.700.000 bệnh nhân
khám ngoại trú [27]
Trang 30Hình 5 Sự phân bố số bệnh nhân tử vong theo khu vực trên thế giới và số bệnh
nhân tử vong tại các quốc gia Châu Á [33]
1.10.1.2 Tình hình mắc bệnh do virut Rota tại Việt Nam
Theo kết quả giám sát tại Việt Nam của một nhóm tác giả khác từ năm 1981
đến 1985 tỷ lệ mẫu nghiên cứu dương tính với virut Rota chiếm 26,5% Theo kết
quả giám sát của Trung tâm nghiên cứn, sản xuất vắc xin và sinh phẩm y tế trong 11
năm từ 1998 đến 2009 tỷ lệ mẫu dương tính chiếm tới 57,96%, gấp 2 lần so với kết
Các nước Châu Á khác
Ấn Độ
SriLanka Hàn Quốc
Châu Á
Trang 31quả nghiên cứu trước đó Như vậy, trong những năm gần đây tỷ lệ trẻ nhiễm virut
Rota có xu hướng tăng mạnh và là nguyên nhân hàng đầu gây TCC tại Việt Nam
1.10.2 Tình hình sử dụng vắc xin phòng ngừa bệnh tiêu chảy cấp do virut Rota
1.10.2.1 Các chủng virut Rota được cân nhắc để phát triển vắc xin
Bệnh viêm dạ dày ruột do virut Rota là nguyên nhân hàng đầu dẫn đến căn
bệnh tiêu chảy ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ trên toàn thế giới Hiện nay chưa có biện
pháp hiệu quả nào để thanh toán hoàn toàn bệnh do nhiễm virut Rota hay sự lây
truyền của nó Điều đó cho thấy tầm quan trọng của việc phát triển các văcxin ngăn
chặn căn bệnh này Các chủng virut Rota của người và động vật được cân nhắc sử
dụng như các nhà tài trợ gen để phát triển văcxin được đề cập tới ở bảng sau:
Bảng 5 Các chủng virut Rota được cân nhắc để phát triển vắc xin [6]
Tạo các chủng mới từ việc sắp xếp lại gen của chủng WC3
(Các gen virut Rota người đã được thay thế):
Trang 32Những nghiên cứu nhằm phát triển một văcxin virut Rota an toàn và hiệu
quả đã bắt đầu từ giữa những năm 1970 Bệnh do virut Rota thường liên quan
đến nhiễm trùng biểu mô đường ruột, do vậy việc phát triển văcxin bảo vệ là quá
trình tìm ra kháng nguyên có khả năng tạo đáp ứng miễn dịch đặc hiệu với virut
Người ta đã hy vọng rằng một văcxin virut Rota sống, giảm độc lực sẽ là văcxin
hiệu quả nhất
1.10.2.2 Các loại văc xin được nghiên cứu và sử dụng
a Các loại vắc xin trên thế giới
Ứng cử viên văcxin virut Rota đầu tiên là các văcxin đơn giá "Monovalent
vaccines" sử dụng chủng virut Rota WC3 được phân lập từ vật chủ là bò hoặc từ khỉ
Rhesus Đây là loại văcxin sống giảm độc uống một liều duy nhất Văcxin này an
toàn và có thể ngăn chặn được bệnh tiêu chảy do virut Rota ở trẻ em [6]
Văcxin thứ hai là các văcxin đa giá "Multivalent vaccines" được sản xuất
năm 1985 bằng cách sử dụng sự thay thế gen [6] Một gen trong hệ gen của chủng
virut Rota động vật được thay thế bởi gen của virut Rota người, gen này mã hoá cho
protein VP7
Rota Shield là vacxin tứ liên "Tetravalent vaccines" được phát triển bởi
chủng virut rota MMU18006, là văcxin sống giảm độc lực uống được sản xuất từ
chủng virut Rota ở khỉ Rherus Vacxin này được cấp phép tháng 10 năm 1998 tại
Mỹ, 600.000 trẻ được sử dụng vắc xin tương đương với 1,2 triệu liều Văcxin này bị
đình chỉ sử dụng vì có liên quan đến tăng nguy cơ lồng ruột sau 3 tuần sử dụng liều
đầu tiên với tỷ lệ ước tính 1/10.000 liều
Vắc xin dòng sơ sinh, bác sĩ Ruth Bishop đã phát triển chủng này trong
phòng thí nghiệm của bà Chủng này là chủng virut Rota người (G3, P6) được phân
lập từ một trẻ sơ sinh và làm giảm độc lực qua nhiều lần cấy truyền Vắc xin này có
thể tạo ra khả năng phòng bệnh đồng týp chống lại dòng G1[6]
Vắc xin được tạo ra trong phòng thí nghiệm nghiên cứu của Merck Văcxin
phối hợp dựa trên chủng của người và bò (WC) tạo ra khả năng phòng chống bệnh
rất tốt (70%) và phòng bệnh tiêu chảy cấp nặng (95-100%) Văcxin này là văcxin 5
týp phối hợp chủng của người (G1, G2, G3, G4 và P1(8) và chủng của bò(WC3)
Trang 33Vắc xin của hãng Glaxo Smith Kline, bác sĩ Georges Thiry đưa ra những
kế hoạch về phát triển văcxin rota của hãng này, ứng cử viên của họ là chủng
G1P[8] Hiện nay văcxin này đã được cấp phép sử dụng tại Mexico Vắc xin này
đã được thử thực địa tại Singapore, sử dụng 2 liều vào tháng tuổi thứ 2 và 3 của
trẻ Với thời gian sử dụng văcxin này tránh tăng nguy cơ lồng ruột của trẻ và
những tác dụng phụ khác
b Vắc xin Rota đã được phê chuẩn sử dụng
Hội nghị về virut Rota quốc tế lần thứ 6 được tổ chức ngày 7, 8 tháng 1 năm
2005 tại Mexico đã thông qua và phê chuẩn 2 vắc xin Rota đó là vắc xin RotaTeq
của Meck và vắc xin Rotarix của Smith Line, cả hai vắc xin này đã được WHO phê
chuẩn cho sử dụng tháng 1/2006 [6]
Rota Teq là văcxin sống uống giảm độc lực sử dụng 3 liều được bắt đầu
nghiên cứu từ 1991 Nó là văcxin phối hợp giữa chủng rota của người và bò,
chứa 5 kháng nguyên G1, G2, G3, G4 và P1 Thực địa lâm sàng chỉ ra rằng
vacxin này rất an toàn và hiệu lực, nó phòng được >70% sự xâm nhập của bất kỳ
týp virut Rota nào
Rotarix là văcxin sống giảm độc lực được sử dụng 2 liều, có nguồn gốc từ 1
chủng virut Rota người G1P[8] Kết quả thử nghiệm cho thấy khoảng 73% phòng
được viêm dạ dày ruột do bất kỳ týp virut Rota nào và > 90% chống lại nhiễm cấp
tính do virut Rota và đặc biệt văcxin này có hiệu lực phòng bệnh >83% do virut
Rota không phải do týp G1, không có dấu hiệu chỉ ra rằng lồng ruột ở trẻ em liên
quan đến việc sử dụng văcxin này
c Vắc xin sản xuất tại Việt Nam
Vắc xin Rotavin-M1 sản xuất từ chủng G1P[8] – WS (KH0118) được phân
lập tại Việt Nam đã được sản xuất và thử nghiệm lâm sàng trên 30 người lớn khỏe
mạnh [1], thời gian từ 8/2009 đến 10/2009, và trên 799 trẻ khỏe mạnh từ 6-12 tuần
tuổi (thời gian từ 04/2010 đến 12/2011), kết quả thu được là đạt yêu cầu về mức độ
an toàn trên người lớn và trẻ từ 6 – 12 tuần tuổi
Trang 341.11 CÁC PHƯƠNG PHÁP CHUẨN ĐOÁN VIRUT ROTA
Có thể nuôi cấy trên tế bào thận của bào thai người, tế bào thận khỉ, tế bào
thận bò tuy nhiên việc nuôi cấy virut rota trên tế bào còn gặp nhiều khó khăn nên
chỉ sử dụng trong nghiên cứu vì vậy người ta phải dùng các phương pháp khác để
chẩn đoán
1.11.1 Các kỹ thuật phát hiện virut Rota
- Kỹ thuật miễn dịch gắn enzym (ELISA) xác định kháng nguyên virut rota
Phương pháp này dựa trên nguyên tắc sử dụng kháng thể đơn dòng để tìm ra
kháng nguyên virut Rota có trong mẫu phân người [28] Kỹ thuật miễn dịch enzym
là một phương pháp đơn giản, có độ nhạy cao dùng cho việc xác định kháng nguyên
virut rota, và rất phù hợp cho việc phân tích một lượng mẫu lớn [6]
- Kỹ thuật RT-PCR xác định týp virut rota
PCR được sử dụng để xác định kiểu gen của virut rota dựa trên các ARN
được tách chiết từ các mẫu phân có virut rota dương tính, nhằm xác định đặc điểm
của các protein capsit lớp ngoài G và P [6]
- Kỹ thuật miễn dịch huỳnh quang xác định kháng nguyên virut rota
Để xác định hiệu giá của virut nhóm A, có 2 phương pháp xác định đó là
phương pháp miễn dịch enzym (EIA) với kết quả là chỉ số OD, chỉ số này không có
ý nghĩa quyết định liều gây nhiễm của virut Phương pháp miễm dịch huỳnh quang
là phương pháp tối ưu xác định hiệu giá virut Rota nhóm A, đơn vị xác định hiệu
giá là đơn vị huỳnh quang phát sáng của tế bào gây nhiễm trên ml hỗn dịch virut
Đây là phương pháp đơn giản, dễ thực hiện, cho kết quả nhanh trong vòng 24 giờ và
chính xác [6]
- Kỹ thuật kính hiển vi điện tử
Đây là phương pháp phát hiện trực tiếp virut trong bệnh phẩm và là kỹ thuật
chẩn đoán nhanh, đặc hiệu, tuy nhiên độ nhạy không cao và khá đắt tiền, rất khó
thực hiện khi có nhiều bệnh phẩm [6]
Trang 35- Kỹ thuật ngưng kết hạt Latex
Hạt latex được gắn với kháng thể kháng virut Rota để chẩn đoán kháng nguyên của
virut Đây là kỹ thuật chẩn đoán nhanh, không cần nhiều trang thiết bị [27]
- Kỹ thuật điện di
Nguyên lý các mảnh kép phân tử ARN của virut rota có trọng lượng phân tử khác
nhau nên dễ dàng tách ra khi điện di trên gel polyacrylamid hoặc agarose Kỹ thuật
này có độ nhạy, đặc hiệu cao, dễ áp dụng trên nhiều bệnh phẩm
1.11.2 Các kỹ thuật phát hiện kháng thể virut Rota
- Phản ứng kết hợp bổ thể
Dùng kháng nguyên là virut Rota người tinh khiết, phân lập từ phân bệnh nhân để
phát hiện kháng thể virut Rota [6]
- Phản ứng ức chế ngưng kết hồng cầu thụ động
Có thể dùng phản ứng này để định lượng IgG, phân biệt được lần nhiễm thứ nhất
với lần nhiễm thứ hai Phản ứng này nhạy hơn phản ứng kết hợp bổ thể [6]
Trang 366 CHƯƠNG 2
2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu là những trẻ em thỏa mãn các tiêu chí sau:
- Độ tuổi từ 0 – 59 tháng tuổi (< 5 tuổi)
- Nhập viện với nguyên nhân TCC: đi ngoài ≥ 3 lần trong ngày (24h), phân
lỏng, không máu
- Khởi bệnh ≤ 7 ngày
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu
a Thời gian và địa điểm giám sát
Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 1/2010 đến tháng 12/2010 tại bệnh viện
Nhi Khánh Hòa
b Quy trình thực hiện
- Các mẫu phân của trẻ bị tiêu chảy cấp thỏa mãn đủ các tiêu chí được lấy mẫu
trong vòng 48 giờ sau khi nhập viện Mẫu sau khi lấy xong phải được bảo quản ở -200
C
- Tất cả các bệnh nhi đều có phiếu theo dõi ghi rõ các chỉ tiêu: tên, tuổi, giới tính,
địa chỉ, ngày vào viện, ngày lấy bệnh phẩm, số thứ tự bệnh phẩm, các triệu chứng
lâm sàng kèm theo
- Hàng tháng, các cán bộ tập hợp các mẫu và biên bản ghi chép đầy đủ thông tin
yêu cầu và gửi về phòng kiểm nghiệm thuộc Trung tâm nghiên cứu, sản xuất vắc
xin và sinh phẩm y tế Tất cả các mẫu này đều được chẩn đoán virut Rota bằng kit
ELISA Lựa chọn các mẫu dương tính có chỉ số OD cao tiến hành tách chiết ARN
và xác định kiểu gen G và P của virut Rota bằng phản ứng RT – PCR Tổng hợp,
phân tích số liệu dịch tễ học và đánh giá đặc tính các chủng virut Rota tại Việt Nam
Trang 37Hình 6 Sơ đồ tóm tắt quy trình thực hiện
2.2.2Phương pháp thực hiện
2.2.2.1 Lấy mẫu bệnh phẩm
* Nguyên vật liệu:
Tất cả các mẫu phân của trẻ từ 0 đến 5 tuổi nhập viện do TCC vào các bệnh
viện Nhi Khánh Hòa
Các ống nhựa vô trùng 15ml có nút đậy, nhãn, đá khô (ice – box)…
Phích đá
Thiết bị tủ lạnh âm sâu -200
C để bảo quản mẫu
Phiếu điều tra
* Các bước tiến hành:
Người nhà bệnh nhi được hướng dẫn lấy mẫu vào ống nhựa vô trùng, dung
tích 15ml có nút đậy, có nhãn ghi đầy đủ thông tin tên, tuổi, ngày lấy mẫu, số bệnh
phẩm.Mẫu được bảo quản ở -200C sau đó được vận chuyển tới phòng kiểm nghiệm
trong điều kiện được bảo quản lạnh
Đối tượng nghiên cứu Lấy mẫu nghiên cứu
Chẩn đoán bằng kỹ thuật ELISA Mẫu âm tính Mẫu dương tính
Chọn mẫu có chỉ số OD
cao
Tách ARN và chạy RT - PCR Kiểu gen P Kiểu gen G
Trang 38Mỗi bệnh nhi đều có phiểu theo dõi ghi đây đủ các thông tin: tên, tuổi, giới
tính, địa chỉ, ngày vào viện, ngày lấy bệnh phẩm, các triệu chứng lâm sàng, số lần
tiêu chảy trong ngày, kéo dài bao lâu, tính chất phân, độ mất nước, sốt, nôn…
2.2.2.2 Xác định virut Rota trong mẫu bệnh phẩm bằng phương pháp ELISA
a Nguyên lý của phương pháp
Hình 7 Sơ đồ mô tả nguyên lý của phương pháp ELISA
Kháng thể gắn trên các giếng sẽ kết hợp với kháng nguyên có trong mẫu
bệnh phẩm Kháng nguyên này sẽ kết hợp với cộng hợp kháng thể gắn enzym tạo
thành phức hợp Kháng thể – Kháng nguyên – Kháng thể gắn enzym Khi có cơ chất
của enzym thì cơ chất sẽ bị đổi màu Nếu trong mẫu bệnh phẩm không có kháng
nguyên thì phức hợp Kháng thể – Kháng nguyên – Kháng thể gắn enzym không
được tạo thành, cơ chất không bị đổi màu
b Các bước tiến hành
* Chuẩn bị hóa chất và thiết bị
Bộ kit chẩn đoán virut Rota ProSpecT (Anh) gồm các thành phần:
Phiến chuẩn độ 96 giếng Phủ kháng thể đa dòng thỏ đặc hiệu virut Rota
nhóm A Dung dịch pha loãng Đệm muối tris
Đối chứng dương virut Rota bò bất hoạt
Cộng hợp Kháng thể đa dòng thỏ đặc hiệu virut Rota gắn với
horseradish peroxidase
Trang 39Cơ chất TMB Cơ chất chứa chỉ thị màu: 3,3‟ – 5,5‟
-tetramethylbenzidine Dung dịch dừng phản ứng H2SO4 0,46 mol/lit
Dụng cụ và nguyên vật liệu khác: chai đựng nước, đệm, cồn, đồng hồ, giấy
thấm…
Thiết bị: máy đọc đĩa 96 giếng (Microwell plate reader), hãng themrmo
Labsystems (Nhật) có thể đọc được bước sóng 450nm
* Các bước tiến hành:
Pha loãng mẫu 10% (100l mẫu + 900l dung dịch pha loãng)
Nhỏ 2 giọt (100l) mẫu đối chứng dương vào giếng đã đánh dấu đối chứng
dương
Nhỏ 2 giọt (100l) mẫu đối chứng âm vào giếng đã đánh dấu đối chứng âm
Nhỏ 2 giọt (100l) các mẫu đã pha loãng vào các giếng đã đánh dấu
Nhỏ 2 giọt (100l) cộng hợp enzym vào tất cả các giếng, vỗ nhẹ trên thành
giếng để hỗn hợp trên được trộn lẫn, đậy nắp và phủ giấy bạc
Trang 40Dương tính: có màu xanh Âm tính: không màu
Hình 8 Kết quả ELISA khi chưa cho chất dừng phản ứng
Sau khi đã nhỏ dung dịch dừng phản ứng:
Dương tính: có màu vàng
Âm tính: không màu
Hình 9 Kết quả ELISA sau khi cho chất dừng phản ứng
Đọc kết quả trên máy ELISA: tại bước sóng 450nm, giá trị hấp phụ hiển thị
trên máy tính
Tính kết quả ngưỡng dương tính:
X = 0,1 + giá trị OD của chứng âm