PHÂN TÍCH NHỮNG TÁC ĐỘNG TIÊU CỰC CỦA CON NGƯỜI ĐẾN ĐA DẠNG KHU HỆ ĐỘNG VẬT CÓ XƯƠNG SỐNG TRÊN CẠN TẠI XÃ HƯƠNG SƠN VÀ ĐỀ XUẤT CÁC BIỆN PHÁP BẢO TỒN……….... Để đánh giá đúng giá trị của q
Trang 1Cán bô hướng dẫn khoa học: GS.TS Mai Đình Yên
Trang 2DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC CÁC HÌNH
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
MỞ ĐẦU……… 1
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU……… 3
1.1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM LIÊN QUAN……… 3
1.1.1 Khái niệm đa dạng sinh học……… 3
1.1.2 Khu hệ động vật……… 4
1.1.3 Động vật hoang dã quý hiếm……… 6
1.2 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU… 7
1.2.1 Điều kiện tự nhiên……… 7
1.2.1.1 Vị trí địa lý……… 7
1.2.1.2 Đặc điểm cấu trúc địa chất và đá mẹ……… 8
1.2.1.3 Đặc điểm địa hình, địa mạo……… 9
1.2.1.4 Đặc điểm khí hậu……… 11
1.2.1.5 Đặc điểm thủy văn……… 12
1.2.1.6 Đặc điểm thổ nhưỡng……… 13
1.2.1.7 Hệ thực vật……… 13
1.2.2 Điều kiện kinh tế - xã hội……… 14
1.3 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU KHU HỆ ĐỘNG VẬT CÓ XƯƠNG SỐNG TRÊN CẠN TẠI XÃ HƯƠNG SƠN, HUYỆN MỸ ĐỨC, HÀ NỘI………… 17
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, THỜI GIAN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU… 21
2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU……… 21
2.2 THỜI GIAN NGHIÊN CỨU……… 21
2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU……… 21
2.3.1 Phương pháp khảo sát thực địa……… 21
2.3.2 Phương pháp phòng thí nghiệm……… 24
Trang 3Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN……… 26
3.1 ĐA DẠNG SINH HỌC KHU HỆ ĐỘNG VẬT CÓ XƯƠNG SỐNG TRÊN CẠN TẠI XÃ HƯƠNG SƠN, HUYỆN MỸ ĐỨC, HÀ NỘI………… 26
3.1.1 Đa dạng sinh học lưỡng cư, bò sát……… 26
3.1.2 Đa dạng sinh học chim……… 37
3.1.3 Đa dạng sinh học thú……… 49
3.2 THỐNG KÊ CÁC LOÀI ĐỘNG VẬT CÓ XƯƠNG SỐNG TRÊN CẠN QUÝ HIẾM CÓ GIÁ TRỊ BẢO TỒN NGUỒN GEN……… 58
3.3 PHÂN TÍCH GIÁ TRỊ VÀ HIỆN TRẠNG KHU HỆ ĐỘNG VẬT CÓ XƯƠNG SỐNG TRÊN CẠN TẠI XÃ HƯƠNG SƠN……… 64
3.3.1 Giá trị khu hệ động vật có xương sống trên cạn tại xã Hương Sơn……… 64
3.3.2 Hiện trạng khu hệ động vật có xương sống trên cạn tại xã Hương Sơn……… 66
3.4 PHÂN TÍCH NHỮNG TÁC ĐỘNG TIÊU CỰC CỦA CON NGƯỜI ĐẾN ĐA DẠNG KHU HỆ ĐỘNG VẬT CÓ XƯƠNG SỐNG TRÊN CẠN TẠI XÃ HƯƠNG SƠN VÀ ĐỀ XUẤT CÁC BIỆN PHÁP BẢO TỒN……… 68
3.4.1 Những tác động tiêu cực của con người đến đa dạng khu hệ động vật có xương sống trên cạn tại xã Hương Sơn……… 68
3.4.2 Một số biện pháp bảo tồn đa dạng khu hệ động vật có xương sống trên cạn tại Hương Sơn……… 71
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ……… 78
Kết luận……… 78
Kiến nghị……… 79
TÀI LIỆU THAM KHẢO……… 80 PHỤ LỤC
Trang 4Bảng 1.1 Các mức độ của đa dạng sinh học……… 4
Bảng 3.1 Thành phần các loài lưỡng cư tại xã Hương Sơn, Mỹ Đức, Hà Nội……… 26
Bảng 3.2 So sánh đa dạng các loài lưỡng cư ở Hương Sơn với cả nước……… 29
Bảng 3.3 Thành phần các loài bò sát tại xã Hương Sơn, Mỹ Đức, Hà Nội……… 30
Bảng 3.4 Tổng hợp tài nguyên bò sát ở xã Hương Sơn……… 34
Bảng 3.5 So sánh đa dạng các loài bò sát ở Hương Sơn với cả nước………… 34
Bảng 3.6 Thành phần các loài chim tại xã Hương Sơn, Mỹ Đức, Hà Nội 37
Bảng 3.7 Tổng hợp tài nguyên chim ở xã Hương Sơn, huyện Mỹ Đức, Hà Nội 46
Bảng 3.8 So sánh đa dạng các loài chim ở Hương Sơn với cả nước……… 47
Bảng 3.9 Thành phần các loài thú tại xã Hương Sơn, Mỹ Đức, Hà Nội……… 49
Bảng 3.10 Tổng hợp tài nguyên thú ở xã Hương Sơn, huyện Mỹ Đức……… 53
Bảng 3.11 So sánh đa dạng các loài thú ở Hương Sơn với cả nước……… 54
Bảng 3.12 Quan hệ Địa động vật học khu hệ thú ở xã Hương Sơn với các yếu tố khác……… 55
Bảng 3.13 Các loài động vật có xương sống trên cạn quý hiếm ở Hương Sơn……… 58
Bảng 3.14 Tổng hợp tài nguyên động vật có xương sống trên cạn tại xã Hương Sơn, huyện Mỹ Đức, Hà Nội……… 67
Bảng 3.15 Chỉ số phong phú của các loài động vật ở Hương Sơn……… 67
Trang 5Hình 2.1 Lưới mờ để bắt dơi 23
Hình 3.1 Cóc nhà (Bufo melanostictus).……… 29
Hình 3.2 Ếch xanh (Rana livida) 29
Hình 3.3 Ếch đồng (Rana rugulosa)……… 29
Hình 3.4 Ngóe (Rana limnocharis)……… 29
Hình 3.5 Ếch trơn (Rana kuhlii)……… 29
Hình 3.6 Chẫu chuộc (Ranna guentheri)……… 29
Hình 3.7 Rắn nước (Xenochrophis piscator)……… 35
Hình 3.8 Rùa núi vàng (Indotestudo elongate) 35
Hình 3.9 Rắn hổ đất nâu (Psammodynastes pulverulentus) 36
Hình 3.10 Ba ba gai (Pelea steindachneri) 36
Hình 3.11 Rắn lá khổ thường (Calliophis macclellandi)……… 36
Hình 3.12 Liu điu chỉ (Takydromus sexlineatus)……… 36
Hình 3.13 Chim Phướn (Rhopodytes tristis) 48
Hình 3.14 Cò trắng bên Suối Yến (Egretta garzetta)……… 48
Hình 3.15 Rừng trên núi đá vôi (Sinh cảnh sống của nhiều loài chim)……… 48
Hình 3.16 Chim sâu vàng lục (Dicaeum concolor) 48
Hình 3.17 Vành khuyên (Zosterops palpebrosa) 48
Hình 3.18 Chào mào (Pycnonotus jocosus) 48
Hình 3.19 Hang đá sau đền Trình (sinh cảnh sống của nhiều loài Dơi)……… 56
Hình 3.20 Sóc bụng đỏ (Callosciurus erythraeus)……… 57
Hình 3.21 Chuột nhắt nhà (Mus musculus)……… 57
Hình 3.22 Dơi quả lưỡi dài (Eonyctaris spelaea)……… 57
Hình 3.23 Chuột chù (Suncus murinus)……… 57
Hình 3.24 Dơi nếp mũi xinh (Hipposideros pomona) 57
Trang 6Hình 3.27 Chích chòe lửa (Copsychus malabaricus)……… 63
Hình 3.28 Gà lôi trắng (Lophura nycthemera)……… 63
Hình 3.29 Rắn hổ mang (Naja naja)……… 63
Hình 3.30 Rắn sọc dưa (Elaphe radiata)……… 63
Hình 3.31 Tắc kè (Gekko gecko)……… 63
Hình 3.32 Rắn ráo (Ptyas korros)……… 64
Hình 3.33 Rắn sọc xanh (Elaphe prasina)……… 64
Hình 3.34 Rắn cạp nia (Bungarus Multicintus) 64
Hình 3.35 Rắn cạp nong (Bungarus fasciatus) 64
Hình 3.36 Dơi mũi ống cánh lông (Harpiocephalus harpia) 64
Hình 3.37 Thú nhồi và thịt động vật hoang dã bày bán ở chùa Hương……… 69
Hình 3.38 Rác thải của khách du lịch gây ô nhiễm suối Yến ……… 70
Trang 7IUCN : The International Union for Convervation
of nature and Natural resources
Trang 8MỞ ĐẦU
Sự sống trên trái đất phụ thuộc vào tính đa dạng sinh học để duy trì những chức năng sinh thái, điều hoà nguồn nước, chế độ khí hậu, sự màu mỡ của đất đai và những nguồn tài nguyên có thể phục vụ sản xuất, phục vụ đời sống của con người Chúng ta phụ thuộc vào các loài thực vật, động vật trong tự nhiên để tìm ra những hợp chất hoá học mới có thể dùng làm thuốc chữa bệnh, kiểm soát sâu bọ, cải thiện được mùa màng và chăm sóc vật nuôi, Ở nhiều khu vực trên trái đất, người dân hầu như hoàn toàn phụ thuộc vào đa dạng sinh học Vì vậy, đa dạng sinh học là tài sản cho hiện tại và tương lai của loài người cần phải được bảo vệ, quan tâm hơn bao giờ hết [10] Từ lâu, Chính phủ Việt Nam đã rất quan tâm đến vấn đề bảo tồn thiên nhiên
và đa dạng sinh học, do vậy Việt Nam đã ký nhiều công ước quốc tế về vấn đề này Đặc biệt, Bộ Chính trị đã ra chỉ thị 36-CT/TW ngày 25/8/1998 về tăng cường công tác bảo vệ tài nguyên môi trường trong thời kỳ công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước, Luật bảo vệ môi trường được Quốc hội thông qua ngày 25/11/2005, Luật đa dạng sinh học được Quốc hội khóa XII thông qua ngày 13/11/2008 và có hiệu lực chính thức từ ngày 01/07/2009,…
Hương Sơn là một xã nằm ở phía Nam huyện Mỹ Đức - Hà Nội Xã cách trung tâm thành phố Hà Nội khoảng 62 km về phía Tây Nam với tổng diện tích đất tự nhiên
là 4.282,73 ha, trong đó khoảng 40% là đất lâm nghiệp, 30% là sông suối, còn lại là đất nông nghiệp và dân cư Tại đây, có nhiều dãy núi đá vôi kề bên những dòng suối uốn lượn quanh co Trên núi và trong các hang động, người ta đã cho xây dựng nhiều đền chùa, trung tâm là chùa Hương trong động Hương Tích Hệ thống chùa, đền thờ
và hang động nằm trong khu vực này dựa theo những ngọn núi đá vôi và rừng nhiệt đới với tất cả diện tích khoảng 6 km² [20], [21]
Với diện tích rừng chiếm tỷ lệ lớn (40%) và tính đa dạng sinh học cao Năm
1993, ban quản lý rừng đặc dụng Hương Sơn được thành lập nhằm quản lý, bảo vệ, giữ gìn, phát triển bền vững hệ sinh thái rừng, danh lam thắng cảnh ở Hương Sơn
Trang 9Để đánh giá đúng giá trị của quần thể di tích Hương Sơn, ngoài giá trị về tôn giáo và danh lam thắng cảnh đã được nhiều người biết đến, việc nghiên cứu đánh giá khu hệ động vật ở khu vực này là rất cần thiết, từ đó đề xuất các giải pháp bảo tồn và phát triển bền vững đa dạng sinh học, du lịch sinh thái của hệ sinh thái vùng núi Hương Sơn Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi lựa chọn và triển khai đề tài
“Nghiên cứu đa dạng khu hệ động vật có xương sống trên cạn tại xã Hương Sơn, huyện Mỹ Đức, Hà Nội” với mục tiêu:
- Xây dựng danh lục thành phần các loài động vật có xương sống trên cạn tại xã Hương Sơn (Lưỡng cư, Bò sát, Chim, Thú)
- Thống kê các loài động vật có xương sống trên cạn quý hiếm có giá trị bảo tồn nguồn gen
- Phân tích giá trị và hiện trạng khu hệ động vật có xương sống trên cạn
- Phân tích những yếu tố tác động tiêu cực của con người đến đa dạng khu hệ động vật có xương sống trên cạn tại xã Hương Sơn và đề xuất các biện pháp bảo tồn
Trang 10Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM LIÊN QUAN
1.1.1 Khái niệm đa dạng sinh học
Theo định nghĩa của Quỹ Bảo tồn động vật hoang dã (WWF) thì “Đa dạng sinh học (ĐDSH) là sự phồn thịnh của cuộc sống trên trái đất, là hàng triệu loài động vật, thực vật và vi sinh vật, là những nguồn gen của chúng và là các hệ sinh thái phức tạp cùng tồn tại trong môi trường sống” [10]
Theo công ước Đa dạng sinh học năm 1992 thì “Đa dạng sinh học là sự phong phú của mọi cơ thể sống có từ tất cả các nguồn trong các hệ sinh thái trên cạn, dưới nước, ở biển và mọi tổ hợp sinh thái mà chúng tạo nên Đa dạng sinh học bao gồm sự
đa dạng trong loài (đa dạng di truyền hay còn gọi là đa dạng gen), giữa các loài (đa dạng loài) và các hệ sinh thái (đa dạng hệ sinh thái)” [17]
Như thế, ĐDSH cần phải được xem xét ở ba mức độ ĐDSH ở mức độ loài bao gồm tất cả sinh vật trên trái đất từ các vi sinh vật đến các loài động vật, thực vật
và nấm Ở mức nhỏ hơn, ĐDSH bao gồm sự khác biệt về gen giữa các loài, khác biệt
về gen giữa các quần thể cách ly nhau về địa lý cũng như khác biệt giữa các cá thể cùng chung sống trong một quần thể ĐDSH cũng bao gồm sự khác biệt trong các quần xã sinh học nơi các loài đang sinh sống, các hệ sinh thái trong đó các quần xã tồn tại và cả sự khác biệt của các mối tương tác giữa chúng với nhau [10], [17] Xét
cụ thể thì ĐDSH gồm:
- Đa dạng Di truyền: là sự phong phú những biến dị trong cấu trúc di truyền của các cá thể bên trong loài hoặc giữa các loài, những biến dị di truyền bên trong hoặc giữa các quần thể [10], [17]
- Đa dạng loài: là sự phong phú về các loài được tìm thấy trong các hệ sinh thái tại một vùng lãnh thổ xác định thông qua việc điều tra, kiểm kê [10], [17]
Trang 11- Đa dạng hệ sinh thái: là sự phong phú về các kiểu hệ sinh thái khác nhau ở cạn cũng như ở nước tại một vùng nào đó có [10], [17]
Bảng 1.1 Các mức độ của đa dạng sinh học [10], [17]
Đa dạng về loài Đa dạng về di truyền Đa dạng về hệ sinh thái
Giới (Kingdoms) Quần thể (Populations) Khu sinh học (Biomes)
Ngành (Phyla) Cá thể (Individuals) Vùng sinh học(Bioregions) Lớp (Class) Nhiễm sắc thể
(Chromosomes)
Cảnh quan (Landscapes)
Loài (Species)
1.1.2 Khu hệ động vật
Khu hệ động vật là tất cả các loài động vật sống trong một vùng, một khu vực
nào đó bao gồm loài bản địa và loài ngoại nhập Khu phân bố của loài là đối tượng cơ bản của việc nghiên cứu khu hệ động vật [9]
Khu phân bố là diện tích hay là vùng sống của loài [9]
Định nghĩa này mới chỉ đề cập tới khu phân bố của taxon bậc loài, chưa đề cập tới taxon bậc cao hơn hay thấp hơn loài Năm 1963, B.T Bogorat đã bổ sung và đưa
ra định nghĩa tương đối rõ nét hơn: Khu phân bố là vùng sống của loài, chi hay của các đơn vị phân loại khác của động vật và thực vật [9]
Mỗi một loài động vật hay thực vật thường có một số lượng cá thể nhiều hay ít
Trang 12tìm được điều kiện sống thuận lợi nhất cho chúng Khu phân bố của loài là lãnh thổ
có các cá thể của loài đó chiếm cứ Diện tích đó được gọi là khu phân bố của loài Khu phân bố của giống (chi) là lãnh thổ các cá thể của các giống (chi) đó chiếm cứ, sinh sống Cũng giải thích như thế đối với những thang bậc taxon cao hơn: họ, bộ, lớp… Như vậy, khi nâng thang bậc phân loại lên càng cao thì lãnh thổ khu phân bố của thang bậc phân loại đó càng được mở rộng ra so với khu phân bố của loài hay của thang bậc taxon thấp hơn [9]
Từ đó ta có thể định nghĩa khu phân bố như sau: Khu phân bố (area) là một vùng lãnh thổ, không gian hay vực nước của vỏ Quả đất trong đó loài hoặc nhóm loài nào đó sinh sống [9]
Tuy nhiên, có trường hợp nâng bậc phân loại lên nhưng vùng phân bố của taxon bậc cao không được mở rộng ra so với khu phân bố của taxon bậc thấp của loài [9]
Ví dụ : Trường hợp của loài thằn lằn đầu mỏ Bộ Rhynchocephalia có 3 họ trong đó chỉ còn 1 họ tồn tại đến ngày nay là họ Sphenodontidae Họ này có nhiều
giống nhưng chỉ còn 1 giống tồn tại đến nay là giống Sphenodon Trong giống này có
3 loài nhưng chỉ còn 2 loài còn tồn tại là Sphenodon guntheri Buller, 1877 và Sphenodon punctatus (Gray, 1842) có số lượng rất ít, phân bố ở New Zealand [9]
Vì vậy, khi nâng thang bậc phân loại của nhóm thằn lằn này từ loài lên giống, lên họ, lên bộ… thì khu phân bố của các taxon bậc cao hơn loài cũng không thay đổi, nghĩa là không được mở rộng ra Khu phân bố động vật không đổi khi nâng bậc phân loại được gọi là khu phân bố di lưu (relic area) Khu phân bố di lưu thường có diện tích nhỏ và là khu phân bố của những loài cổ xưa còn lưu lại đến ngày nay [9]
Khu phân bố của loài bao gồm các địa điểm cụ thể mà các cá thể của loài đó chiếm cứ sinh sống, là khái niệm cơ bản của khu hệ động vật Vì vậy, nghiên cứu khu
hệ động vật cần phải có những hiểu biết về khu phân bố của các loài động vật Có
Trang 13hiểu biết về khu phân bố thì mới có thể có những nhận xét, kết luận về phân bố địa lý của loài hoặc của đơn vị phân loại nào đó [9]
1.1.3 Động vật hoang dã quý hiếm
Là các loài động vật có giá trị kinh tế về nhiều mặt và giá trị về mặt khoa học cao, các loài đặc hữu, có vùng phân bố hẹp/hạn chế, các loài đang bị đe dọa tuyệt chủng ở mức độ quốc gia, khu vực và thế giới [40]
Mức độ đe dọa của các loài động vật được phân chia như sau:
Danh lục đỏ thế giới IUCN, 2009 [40]:
- Nguy cấp (Endangered - EN): Một loài hoặc nòi bị coi là nguy cấp khi nó phải đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng ngoài thiên nhiên rất cao trong một tương lai rất gần nhưng kém hơn mức rất nguy cấp
- Sẽ nguy cấp (Vulnerable - VU): Một loài hoặc nòi bị đánh giá là sắp nguy cấp khi
nó không nằm trong 2 bậc CR và nguy cấp (EN) nhưng phải đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng trong tự nhiên cao trong một tương lai không xa
- Bị đe dọa: Threatened, T
- Thiếu dữ liệu: Insufficiently known, K
Nghị định 32/2006/NĐ-CP của Chính phủ [2]:
- Nhóm IB: Gồm các loài động vật rừng bị nghiêm cấm khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại Đó là các loài động vật có giá trị đặc biệt về mặt khoa học, môi
Trang 14trường hoặc có giá trị cao về kinh tế, số lượng quần thể còn rất ít trong tự nhiên hoặc
có nguy cơ tuyệt chủng cao
- Nhóm IIB: Gồm các loài động vật rừng bị hạn chế khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại Đó là những loài động vật có giá trị về khoa học, môi trường hoặc có giá trị cao về kinh tế, số lượng quần thể còn ít trong tự nhiên hoặc có nguy cơ tuyệt chủng
1.2 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU 1.2.1 Điều kiện tự nhiên
1.2.1.1 Vị trí địa lý
Xã Hương Sơn nằm ở phía Nam huyện Mỹ Đức, cách Hà Nội khoảng 62km về
phía Tây Nam có ranh giới địa lý như sau (Hình 1.1):
Hà Nội
Hà Nội
Hà Nam Hòa Bình
Trang 15 Phía Bắc giáp xã Hùng Tiến, huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội
Phía Đông giáp xã Tân Sơn, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam
Phía Nam giáp xã Ba Sao, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam
Phía Tây Nam giáp xã Phú Lão, huyện Lạc Thủy, tỉnh Hòa Bình
Phía Tây giáp xã An Phú, huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội
Phía Tây Bắc giáp xã An Tiến, huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội [24]
Hương Sơn nằm trong khung tọa độ địa lý:
20o17’ - 20o
40’ vĩ độ Bắc
105o17’ - 105o75’ kinh độ Đông
1.2.1.2 Đặc điểm cấu trúc địa chất và đá mẹ
Địa chất của núi đá vôi Hương Sơn có cấu trúc kiến tạo Ninh Bình và vùng
Sông Đà thuộc hệ uốn nếp Tây Bắc Mặt khác, vũng Chồng Sông Đà nằm trực tiếp trên phức nếp lõm Sông Đà có tuổi Paleozoi trung bình kéo dài từ biên giới Việt Trung tới bờ biển Ninh Bình – Thanh Hóa Qua nhiều lần thăng trầm, lắng đọng trầm tích, karsto khác nhau, đặc biệt là giai đoạn cách đây khoảng 220 – 250 triệu năm đã lắng đọng trầm tích đá vôi còn tồn tại đến ngày nay Khối núi đá này là cánh của một nếp lồi sườn dốc đổ về phía Đông Bắc và đường phương cấu trúc kéo dài theo hướng Tây Bắc – Đông Nam [21]
Khối núi được cấu tạo bởi đá vôi hệ tầng Đồng Giao, giòn, dễ vỡ Tổng chiều dày của đá vôi tới 1.800 – 2.000m Trong đá có chứa nhiều loại hóa thạch chân rìu (phần dưới), tay cuộn (phần giữa) và chân đầu (phần trên) Thành phần của đá có hàm lượng CaO rất cao, trung bình từ 53,97% - 55,26% Các thành phần khó hòa tan trong nước chiếm tỷ lệ nhỏ: SiO2 từ 0,1 – 0,52%, Al2O3 từ 0,02 – 0,92%, Fe2O3 từ 0,04 – 0,83%, MgO từ 0,1 – 0,78%, [21]
Do trải qua nhiều chu kỳ kiến tạo khác nhau, nhất là sau thời kỳ tân kiến tạo đã làm xuất hiện trong khối đá vôi Hương Sơn một hệ thống khe nứt với mật độ và
Trang 16phương khác nhau, tạo nên các hang động cũng như sự chia cắt mạch tạo thành nhiều đỉnh và các thung lũng rải rác như ngày nay [21]
1.2.1.3 Đặc điểm địa hình, địa mạo
Khu vực núi đá vôi Hương Sơn là phần cuối của hệ thống núi và cao nguyên
đá vôi Sơn La – Mộc Châu (Tây Bắc), tiếp giáp với đồng bằng Bắc Bộ nên ở đây chỉ tồn tại kiểu núi thấp (đỉnh cao nhất là núi Bà Lồ, cao 381m) Tuy nhiên, biên độ chia cắt sâu cũng khá lớn (từ 100 – 150m), mật độ chia cắt ngang khá dày đặc Khác với các vùng núi khác, vùng núi đá vôi nói chung và núi đá vôi ở khu vực Hương Sơn nói riêng không chỉ được đặc trưng bởi hệ thống khe rãnh, dòng chảy mà còn bằng hệ thống các hố sụt, phễu, máng, trũng karsto Các hang động nổi tiếng nhất với chiều dài 20 – 25m, chiều cao 10 – 15m đã được tìm ra như: Hương Tích, Hinh Bồng, Long Vân, Tuyết Sơn [21].,…
Dạng karsto bề mặt mang đặc trưng rõ nét của karsto nhiệt đới ẩm, là các khối núi nhỏ với các bề mặt đỉnh và sườn thoải gần đỉnh, chủ yếu là địa hình carư do quá trình rửa trôi, sập lở tạo thành Bề mặt lởm chởm dạng đá tai mèo rất đa dạng về hình thái trong các thung lũng tạo thành những phong cảnh không chỉ đẹp mà còn rất hùng
vĩ [21]
Đặc điểm địa mạo ở khu vực Hương Sơn được chia ra thành 2 nhóm chính: Nhóm dạng yếu tố địa hình nguồn gốc sông và nhóm dạng yếu tố địa hình nguồn gốc karstơ [21]
- Nhóm dạng yếu tố địa hình nguồn gốc sông: Thuộc nhóm này gồm các đồng bằng tích tụ sông có tuổi Holoxen muộn đến hiện tại, tích tụ aluvi tướng bãi bồi bằng phẳng, thành phần trầm tích là sét, sét pha chiếm phần lớn diện tích phần Đông Bắc khu vực Hương Sơn Trên bề mặt của vùng đồng bằng này dễ dàng nhận thấy những
ô trũng là di tích của các dòng sông cổ trong quá trình dịch chuyển theo chiều ngang
đã để lại các dấu vết này Đó là những đồng bằng aluvi tướng lòng sông cổ với các thành tích là bùn, sét lẫn bùn bã thực vật Dọc theo sông Đáy và sông Thanh Hà là
Trang 17các đồng bằng tích tụ với aluvi tướng gờ cát ven sông, chủ yếu là cát, cát pha Sát chân núi là các đầm lầy ven núi [21] Tham gia vào quá trình tạo thành đầm lầy có 2 tác nhân khác nhau:
+ Do sông bồi đắp không đủ ở các vùng trũng chân thềm
+ Do nước ngầm ở các khối núi đá vôi chảy ra nhiều bị ứ lại
Đầm lầy theo chế độ ngập nước có thể chia ra: ngập nước thường xuyên và ngập nước theo mùa Do tác động của con người, diện tích ngập nước thường xuyên ngày càng bị thu hẹp Lạch sâu nhất của đầm lầy chính là lòng suối Yến, suối Tuyết,…Cấu tạo trầm tích tầng mặt là bùn, sét lẫn bùn bã trầm tích thực vật [21]
- Nhóm dạng yếu tố địa hình nguồn gốc karstơ: Theo hình thức biểu hiện của các quá trình có thể chia ra karstơ bề mặt và karstơ ngầm [21]
Trong số các dạng karstơ ngầm đáng kể nhất là các hang động Hang động có thể coi là một hệ sinh thái đặc biệt Hang động ở Hương Sơn tập trung vào 2 cụm lớn
là Hương Tích (Tây Bắc khối) và Long Vân (Tây Nam khối) [21]
Ở Hương Sơn còn có các hang động ngắn, độ dài 5 – 20m, gồm 2 loại hang dạng “mái đá” phát triển theo các bề mặt lớp hoặc khe nứt vòm hang là bề mặt lớp của các cấu trúc địa chất [21]
Các dạng karstơ bề mặt mang đặc trưng rõ nét của karstơ nhiệt đới ẩm Đó là các khối nhỏ dạng tháp và tháp cụt, các phễu và máng trũng Trong karstơ bề mặt có
sự phân chia sau: Các bề mặt đỉnh và sườn thoải gần đỉnh Chủ yếu là dạng vi địa hình carư do quá trình rửa trôi tạo thành, có bề mặt lởm chởm dạng đá tai mèo rất đa dạng về hình thái: dạng đẳng thước và dạng kéo dài với chiều rộng không vượt quá
20 – 50m và phân bố rộng rãi nhất là các sườn xâm thực – rửa trôi Trên bề mặt sườn phát triển các carư dạng luống kéo dài, giữa các luống là các tích tụ vụn bở, sản phẩm phá hủy đá gốc các luống này có kích thước từ một vài cm đến một vài m làm phức tạp thêm vi địa hình của loại này Trong khối núi Hương Sơn còn gặp loại sườn rửa trôi – sập lở phân bố thành hai dải Tây Nam và Đông Bắc Loại này có bề mặt dốc và
Trang 18rất dốc, đôi khi tạo thành những bức tường thẳng đứng Xung quanh các hố sụt và phễu máng trũng còn gặp các bề mặt sườn rửa trôi, tích tụ trọng lực có độ dốc thoải đều, trung bình Trên bề mặt này có tầng đất khá dày so với các bề mặt sườn ở vùng karstơ nói chung [21]
Phễu karstơ theo dấu hiệu hình thái có thể chia ra phễu karstơ có bề mặt đáy dạng lòng chảo trên đó có tích tụ các sản phẩm phong hóa tại chỗ và dốc tụ là nơi có thể canh tác tốt, diện tích lớn [21]
Một dạng nữa mặc dù hiếm, nhưng cũng phát hiện thấy ở vùng này là các máng trũng rửa trôi xâm thực có dạng kéo dài và hở, khác với các phễu có dạng khép kín Đó là dấu hiệu đầu tiên của sự phát triển dòng chảy ở vùng đá vôi hoặc do liên kết các hố sụt, phễu karstơ lại với nhau [21]
Một đặc trưng điển hình cần được nhắc đến ở vùng này là cánh đồng karstơ ven rìa, sự thành tạo của nó có thể xem như là các Pediment đá vôi Trên cánh đồng karstơ còn phổ biến các núi đá vôi đang mất dần dấu tích của bề mặt khối karstơ rộng lớn trong quá khứ [21]
1.2.1.4 Đặc điểm khí hậu
Khí hậu Hương Sơn chịu ảnh hưởng của nền khí hậu miền Bắc Việt Nam, đó
là kiểu khí hậu nhiệt đới gió mùa: mùa hè nóng ẩm, mưa nhiều; mùa đông lạnh, ít mưa Do quanh năm có khả năng nhận được bức xạ lớn, vùng Hương Sơn có nhiệt độ trung bình năm là 23oC Lượng mưa hàng năm theo số liệu của trạm Mỹ Đức là 1.530mm Hương Sơn có 3 tháng khô (từ tháng 12 năm trước đến tháng 3 năm sau) Tuy nhiên, mùa khô ở Hương Sơn cũng không khắc nghiệt Gió mùa Đông Bắc từ tháng 2 bị biến tính mang hơi ẩm của biển đã tạo nên mưa phùn với số ngày mưa phùn khoảng hơn 20 ngày trong toàn mùa khô Như vậy, khí hậu ở Hương Sơn thuộc loại nóng ẩm, là điều kiện thuận lợi cho kiểu thảm thực vật rừng kín thường xanh cây
lá rộng mưa mùa nhiệt đới phát triển Tuy nhiên, lượng mưa cao cũng tạo nên những
Trang 19tác động xói mòn, rửa trôi, sập lở trên vùng núi đá vôi của Hương Sơn, là một trong những nguyên nhân tạo nên các hang động và nhũ đá rất đẹp [11]
1.2.1.5 Đặc điểm thủy văn
Vùng nghiên cứu có sông Đáy, sông Thanh Hà chảy qua với chiều dài 3,5km
là điều kiện thuận lợi cho việc vận chuyển, giao lưu hàng hóa với các địa phương khác Tuy nhiên, về mùa mưa có thể gây lụt ảnh hưởng đến đời sống người dân [11]
Trên địa bàn có 3 suối bắt nguồn từ khối núi Hương Sơn là:
- Suối Yến có chiều dài 4km, rộng trung bình 20 – 30m;
- Suối Vân Long dài 3km, rộng trung bình 10 – 15m;
- Suối Tuyết Sơn dài 2km, rộng trung bình 10 – 15m
Ba con suối này không chỉ làm tăng vẻ đẹp của khu di tích Hương Sơn mà còn
là đường giao thông thủy rất nên thơ phục vụ du khách
Hệ thống các suối như suối Yến, suối Vân Long, suối Tuyết Sơn đều do nguồn nước ngầm karstơ cung cấp tạo nên dòng chảy quanh năm Dòng suối Yến còn tạo ra sinh cảnh bán ngập nước ở khu di tích thắng cảnh Hương Sơn Mực nước suối Yến cao hơn sông Đáy gần 2m, hàng năm vẫn đổ nước ra sông Đáy Vào mùa mưa, nước sông Đáy dâng cao, nước suối Yến tiêu không kịp gây nên cảnh ngập lụt xung quanh khu vực chùa Hương [11], [21]
Hiện tại, suối Yến đã được nạo vét, cải tạo với mặt cắt ngang lòng suối là 40m, chiều sâu nạo vét suối h ≥ 1,0m, nền suối Yến tương ứng sau khi nạo vét lòng suối là 0,2m đảm bảo cột nước về mùa cạn h ≥ 1,5m [21]
Mực nước suối Yến về mùa lũ có cao độ từ ± 3,0m + 3,2m; về mùa cạn có cao
độ từ ± 1,5m + 1,7m; về mùa mưa nước từ trên núi và các vùng trong lưu vực chảy về suối Long Vân, suối Tuyết Sơn, sau đó thoát vào suối Yến Khi mực nước suối Yến cao hơn mực nước sông Đáy, nước từ suối Yến chảy về cống điều tiết (gần cầu Đục Khê) rồi thoát ra sông Đáy và một phần chảy về phía Đông Nam thoát ra sông Đáy qua cống xả Giáp Bạt – Kim Sơn Khi mực nước trong khu vực suối Yến thấp hơn
Trang 20mực nước lũ sông Đáy, cống điều tiết đóng lại, nước mưa theo suối tự nhiên chảy về phía Đông Nam thoát ra sông Đáy qua cống xả Giáp Bạt – Kim Sơn và một phần thoát về trạm bơm tiêu phía Đông Bắc [21]
1.2.1.6 Đặc điểm thổ nhƣỡng
Do đặc điểm địa chất, địa hình, khí hậu và sự khai thác lâu đời của nhân dân địa phương, đất ở Hương Sơn có 2 nguồn gốc chính đó là: các đất phát triển từ đá mẹ
là đá vôi và đất phát triển từ phù sa sông Đáy Các quá trình ảnh hưởng trực tiếp lên
bề mặt thổ nhưỡng hiện tại là quá trình rửa trôi, xói mòn, sụt lở, tích tụ ở núi đá vôi
và quá trình bồi đắp của sông [21]
Mang đặc điểm chung của đất miền Bắc Việt Nam, các sản phẩm phong hóa của đá vôi thông qua quá trình feralit tạo nên đất feralit đỏ trên núi đá vôi mà có tác giả gọi là terarossa, cộng với quá trình ngoại sinh đã tạo nên ở Hương Sơn một tập hợp sác dạng thổ nhưỡng sau:
- Đất đen mùn trên núi đá vôi bị xói mòn trơ đá gốc;
- Đất feralit phát triển trên đá vôi;
- Đất feralit đỏ phát triển trên đá vôi lẫn đá dăm tàn tích;
- Đất phù sa không được bồi thường xuyên;
- Đất phù sa được bồi hàng năm;
- Đất phù sa bị glây hóa;
Các loại đất trên phân bố ở 2 dạng địa hình: núi và đồng bằng Sự canh tác đã góp phần tạo ra nhiều đặc tính riêng biệt của từng loại đất, đồng nghĩa với việc tạo nên sự đa dạng các cảnh quan địa lý ở khu vực Hương Sơn [21]
1.2.1.7 Hệ thực vật
Hệ thực vật ở khu vực Hương Sơn phân bố trong 8 kiểu hệ sinh thái:
- Hệ sinh thái rừng trên núi đá vôi;
- Hệ sinh thái rừng trên núi đất;
- Hệ sinh thái trảng cây bụi, tre nứa;
Trang 21- Hệ sinh thái trảng cỏ;
- Hệ sinh thái nông nghiệp;
- Hệ sinh thái khu dân cư;
- Hệ sinh thái thủy sinh;
- Hệ sinh thái rừng trồng;
Mặc dù diện tích rừng ở Hương Sơn không lớn nhưng ở đây vẫn tồn tại kiểu rừng rậm nhiệt đới mưa mùa thường xanh cây lá rộng, cấu trúc gồm 4 tầng, trong đó tầng cây gỗ lớn là những loài thường gặp trong các rừng nguyên sinh như: sâng
(Pometia pinnata), lát xoan (Choerospondias axillaries), sấu (Dracontomelum duperreanum), dâu gia xoan (Allospondias lakonensis), bồ hòn (Sapindus mukorossi)
1.2.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
Hương Sơn là vùng danh thắng nổi tiếng của cả nước, nguồn thu nhập chủ yếu của người dân địa phương là các ngành nghề kinh doanh dịch vụ phục vụ lễ hội và sản xuất nông nghiệp [24]
Theo số liệu thống kê về điều kiện kinh tế - xã hội của UBND xã Hương Sơn năm 2010 [24], được thể hiện qua một số mặt sau đây:
- Xã Hương Sơn có 6 thôn, gồm: thôn Hội Xá, Yến Vỹ, Đục Khê, Tiên Mai, Phú Yên
và Hà Đoạn
- Điều kiện dân sinh: Tính đến tháng 12/2010, toàn xã có 4.525 hộ gia đình và 21.000 nhân khẩu, tỷ lệ phát triển dân số tự nhiên là 0,81% Đa số là người Kinh sinh sống, chỉ có một tỷ lệ rất ít là người Mường và Thái Thu nhập bình quân đầu người khoảng
Trang 2214.500.000 đồng/năm, toàn xã có 1.076 hộ giàu, 2.993 hộ có mức kinh tế khá, trung bình và 456 hộ nghèo Số người trong độ tuổi lao động là 10.568 người, trong đó lao động nông nghiệp là 6.144 người, lao động công nghiệp là 1.200 người và lao động dịch vụ là 3224 người [24]
- Hệ thống giao thông vận tải: Hương Sơn có hệ thống giao thông với các vùng xung quanh tương đối thuận lợi như: Đường quốc lộ 22 từ nội thành Hà Nội vào Mỹ Đức với vùng núi Kim Bôi của tỉnh Hòa Bình và nhiều tỉnh thành khác Giải quyết các vấn
đề về giao thông vận tải là một yêu cầu quan trọng phải đặt ra trong mục tiêu thu hút khách du lịch vào các điểm du lịch của các tổ chức kinh doanh du lịch Toàn xã có 5,45km tỉnh lộ; 12,63km đường liên thôn; 24,32km đường ngõ xóm và 43,93km đường trục nội đồng [24]
- Về nhà ở: Theo số liệu thống kê về nhà ở của xã năm 2010, toàn xã có 1.823 nhà kiên cố chiếm 40,75% Trong đó: có 173 nhà từ 3 – 5 tầng, 1.650 nhà từ 1 – 2 tầng, còn lại là nhà cấp 4 [24]
- Sản xuất nông nghiệp: Người dân Hương Sơn chủ yếu sống bằng sản xuất nông nghiệp, có 3549 hộ gia đình làm nông nghiệp (chiếm 78,43%) Tổng diện tích đất tự nhiên của xã Hương Sơn là 4.289,73ha, trong đó đất sản xuất nông nghiệp là 704,87ha, đất trồng lúa nước là 569,88ha, năng xuất lúa đạt 5,476 tấn/ha, bình quân lương thực đạt 305kg/người/năm Hương Sơn là vùng có số lượng đàn gia súc, gia cầm phát triển cả về số lượng và chủng loại Xã có tổng đàn gia súc, gia cầm lớn với đàn gia cầm 51.000 con, đàn lợn 10.600 con, đàn trâu, bò, dê 1.500 con Xã thực hiện chuyển đổi 511,57ha ruộng trũng, cấy lúa kém hiệu quả sang mô hình nuôi trồng thủy sản - chăn nuôi kết hợp Ngay từ đầu năm, được sự quan tâm của thành phố, xã đã đầu tư 18,5 tỷ đồng cải tạo, nâng cấp đường giao thông nội đồng, đầu tư cho công tác bảo vệ thực vật, phòng trừ dịch hại Từ nhiều năm nay, bà con nông dân chăn nuôi chủ yếu trong khu dân cư Điều đó đã ảnh hưởng không nhỏ tới môi trường Trong việc chuyển chăn nuôi ra xa khu dân cư, tập trung cải tạo các xứ đồng sâu, đồng trũng
Trang 23cấy lúa kém hiệu quả sang mô hình sản xuất đa canh, xã đã đề nghị thành phố hỗ trợ kinh phí xây dựng khu lò giết mổ tập trung loại vừa và nhỏ; thực hiện đề án nuôi trồng thủy sản và chăn nuôi khoảng 400ha tại khu vực cấy lúa kém hiệu quả và lòng
hồ Hương Tích kết hợp với du lịch sinh thái; xử lý triệt để nước thải chăn nuôi, sinh hoạt trong khu dân cư [24]
Nông nghiệp ở Hương Sơn phát triển sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của du lịch Các chuyên gia ngành nông nghiệp khẳng định, phát triển cây trồng bản địa kết hợp với du lịch sinh thái là một hướng đi cần quan tâm Khi nông nghiệp kết hợp hài hòa với du lịch thì sản phẩm của ngành này sẽ "kích cầu" ngành kia cùng phát triển Nếu làm tốt dịch vụ du lịch, Hương Sơn sẽ thu hút khách đến đông hơn, các mặt hàng nông sản được tiêu thụ nhiều hơn, sẽ góp phần quảng bá nông sản xuất khẩu Tuy nhiên, việc bảo tồn và phát triển cây bản địa như mơ Hương Tích và rau sắng để khai thác thế mạnh du lịch ở Hương Sơn còn nhiều khó khăn bởi các lợi thế này vẫn chưa được quan tâm đầu tư đúng mức Hiện nay rau sắng và mơ Hương Tích tại chùa Hương còn rất ít, chỉ đáp ứng một lượng rất nhỏ, trong khi nhu cầu tiêu thụ đặc sản này của hàng triệu du khách trong mỗi mùa lễ hội là rất lớn Mơ Hương Tích
là sản phẩm nổi tiếng về hương vị thơm đặc trưng và còn là vị thuốc quý Nhưng nay toàn xã Hương Sơn cũng chỉ có vài héc-ta mơ của các hộ dân còn tồn tại theo thú vui, không vì lợi ích kinh tế Bên cạnh đó, đặc sản rượu mơ Hương Tích bao năm vẫn chỉ sản xuất theo phương pháp thủ công [24]
- Ngành nghề tiểu thủ công nghiệp: Các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp tại Hương Sơn chưa được đầu tư phát triển Nghề trồng dâu nuôi tằm phát triển nhỏ lẻ, chưa có quy hoạch Tỷ lệ số hộ sản xuất tiểu thủ công nghiệp rất thấp (khoảng 0,5%), chưa đáp ứng được nhu cầu thị trường vào mùa lễ hội [24]
- Các loai hình dịch vụ khác: Các loại hình dịch vụ phục vụ khách du lịch trong mùa
lề hội ở Hương Sơn rất phát triển Toàn xã có 1.191 hộ dân làm kinh doanh, dịch vụ
Trang 24như: mở nhà hàng, khách sạn, chở thuyền, mở các cửa hàng bán đồ lưu niệm, cho khách tham quan lễ hội chùa Hương [24]
- Về giáo dục: Xã Hương Sơn hiện có 6 nhà trẻ với 114 cháu, 17 lớp mẫu giáo với
752 cháu, 3 trường tiểu học với tổng số 30 lớp, 1.369 học sinh và 105 giáo viên, 1 trường trung học cơ sở với 32 lớp, 1.218 học sinh và 79 giáo viên [24]
- Y tế, bảo hiểm xã hội: Xã có 1 trạm Y tế với 6 giường bệnh và 9 Y, bác sĩ phục vụ
Tỷ lệ dân số đóng bảo hiểm y tế đạt 35% Y tế là vấn đề quan trọng, không chỉ đối với người dân địa phương mà cả đối với khách du lịch Việc trang bị cho các cơ sở y
tế có đủ khả năng chăm sóc sức khỏe cộng đồng là rất cần thiết [24]
1.3 TỔNG QUAN MỘT SỐ CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHU HỆ ĐỘNG VẬT CÓ XƯƠNG SỐNG TRÊN CẠN TẠI XÃ HƯƠNG SƠN, HUYỆN MỸ ĐỨC, HÀ NỘI
Điều tra, nghiên cứu về khu hệ động vật ở Hương Sơn từ lâu đã được nhiều nhà khoa học quan tâm với một số các công trình tiêu biểu như:
Năm 1991, trong báo cáo “Hương Sơn, cảnh quan thiên nhiên và tài nguyên sinh vật” do các nhà khoa học thuộc Viện Khoa học Việt Nam thực hiện đã ghi nhận
ở Hương Sơn có 88 loài chim thuộc 37 họ và 15 bộ, 35 loài bò sát và ếch nhái thuộc
16 họ và 3 bộ, 32 loài thú thuộc 17 họ và 7 bộ Đánh giá chung về khu hệ động vật Hương Sơn trong báo cáo này là nghèo nàn về số loài và số lượng cá thể của loài Lý
do là khu vực nghiên cứu có diện tích nhỏ hẹp, lại là sinh cảnh của một vùng núi đá
bị cách biệt, bị bao bọc bởi khu vực dân cư Trong báo cáo này đã ghi nhận được một
số loài quý hiếm thuộc các lớp bò sát, lớp chim và lớp thú [25]:
Lớp bò sát: Có 10 loài quý hiếm được đưa vào Sách Đỏ Việt Nam gồm: trăn
đất (Python molurus), tắc kè (Gecko gecko), ô rô vẩy (Xcanthsaura lepidogaster), kỳ đà nước (Varanus salvator), rắn ráo thường (Ptyas korros), rắn ráo trâu (Ptyas nucosus), rắn sọc (Elapha moellen), rắn cạp nong
Trang 25(Bungarus fasciatus), rắn hổ chúa (Ophiophagus hannah), rắn hổ mang (Naja atra) [25]
Lớp chim: Có một loài chim quý hiếm được đưa vào Sách Đỏ Việt Nam là gà
lôi trắng (Lophurx nycthemerx), số lượng cá thể của loài còn khá phổ biến, dễ
bắt gặp trong các thung lũng khi đi điều tra, khảo sát [25]
Lớp thú: Có 12 loài quý hiếm được ghi trong Sách Đỏ Việt Nam, gồm: báo
hoa mai (Panthera pardus), báo gấm (Neofelis nebulora), báo lửa (Felis temmincki), vọoc mông trắng (Trachypithecus delacouri), rái cá thường (Lutra lutra), rái cá vuốt bé (Aonyx cinerea), cu li lớn (Nycticebus bengalensis), khỉ mặt đỏ (Macaca arctoides), khỉ vàng (Macaca mulatta), sơn dương (Capricornis sumatrensis), mèo rừng (Felis silvestris), sóc bay trâu (Petaurista petaurista) Đặc biệt, vọoc mông trắng là một phân loài đặc hữu ở vùng núi đá
Thanh Hóa – Hương Sơn [25]
Năm 2003, trong Báo cáo kết quả nghiên cứu chuyên đề rừng đặc dụng Hương Sơn của Ban quản lý rừng đặc dụng Hương Sơn và trường Đại học Lâm nghiệp đã ghi nhận ở khu vực này có 197 loài động vật hoang dã thuộc các lớp ếch nhái, lớp bò sát, lớp chim và lớp thú [20], trong đó:
Lớp Ếch nhái: Có 20 loài thuộc 4 họ và 1 bộ
Lớp Bò sát: Có 34 loài thuộc 12 họ và 2 bộ
Lớp Chim: Có 107 loài thuộc 38 họ và 12 bộ
Lớp Thú: Có 36 loài thuộc 18 họ và 8 bộ
So với các đợt điều tra trước đây, trong báo cáo đã bổ sung cho danh sách
động vật ở núi đá vôi Hương Sơn 9 loài thú, gồm: vượn đen má trắng (Hylobates concolor), cầy vằn bắc (Chrotogale owstoni), cầy gấm (Prionodon pardicolor), chồn bạc má bắc (Melogale moschata), lỏn tranh, đồi (Tupaia glis), sóc bay lớn (Hylopetes spadiceus), sóc bụng xám (Callosciurus erythraeus), chuột cống, chuột núi (Leopoldamys sabanus) Tuy nhiên, trong Báo cáo cho thấy một số loài có giá trị cao
Trang 26trước đây không còn nữa: hổ (Panthera tigris), báo gấm (Pardofelis nebulosa), lửng chó (Nyctireutes procyonoides),…Trong số 197 loài động vật có xương sống ghi
nhận được tại khu vực Hương Sơn có 33 loài có giá trị khoa học, bảo tồn nguồn gen được ghi trong Sách Đỏ Việt Nam và trong Nghị định 32/NĐ - CP của Chính phủ Đây là những loài quý hiếm đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng cao, có 126 loài có giá trị kinh tế cao, đó là các loài có kích thước lớn, có giá trị về thực phẩm, dược liệu, làm đồ thủ công mỹ nghệ và làm cảnh Trong đó: có 81 loài cung cấp thực phẩm, 33 loài được dùng làm được liệu, 12 loài có giá trị về thủ công, mỹ nghệ (da và lông) và
22 loài được nuôi làm cảnh [20]
Năm 2005, trong Báo cáo “Đánh giá tác động môi trường cho đồ án quy hoạch tổng thể bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị khu thắng cảnh Hương Sơn đến năm 2020 huyện Mỹ Đức, tỉnh Hà Tây” của Viện Quy hoạch đô thị nông thôn và Báo cáo “Quy hoạch tổng thể bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị di tích thắng cảnh Hương Sơn” của Viện Nghiên cứu quy hoạch phát triển Du lịch đã công bố có 32 loài bò sát, 88 loài
chim và 35 loài thú Trong đó có những loài quý hiếm như: gà lôi trắng (Lophura nycthemera), trăn đất (Python molurus), ô rô vẩy (Acanthosaura lepidogaster), vượn đen má trắng (Hylobates concolor), rái cá vuốt bé (Aonyx cinerea),… [27], [28]
Năm 2007, dự án “Điều tra tài nguyên đa dạng sinh học khu vực chùa Hương, xây dựng cơ sở dữ liệu, đề xuất giải pháp quản lý phát triển du lịch sinh thái bền vững” của Trung tâm công nghệ sinh học Lâm nghiệp, Viện khoa học Lâm nghiệp đã ghi nhận tại rừng đặc dụng Hương Sơn:
Ếch nhái có 14 loài, thuộc 4 họ, 1 bộ
Trang 27Sơn, tỉnh Phú Thọ [4] nhưng cao hơn so với khu hệ động vật hoang dã ở vùng hồ Quan Sơn, huyện Mỹ Đức (có 16 loài ếch nhái, 26 loài bò sát, 64 loài chim và 27 loài thú) [6] Mặt khác, các loài ghi nhận chủ yếu là những loài có kích thước nhỏ và dễ thích nghi với sinh cảnh bị tác động mạnh [22]
Năm 2010, Trung tâm an toàn sinh học đã phối hợp với Chi cục Bảo vệ Môi trường Hà Nội điều tra đa dạng động vật rừng đặc dụng Hương Sơn, Hà Nội đã thống
kê được 44 loài thú, 98 loài chim, 29 loài bò sát và 17 loài lưỡng cư Mặc dù vậy, kết quả chủ yếu mang tính chất tổng hợp từ các công trình đã được công bố và việc sắp xếp danh mục loài chưa thực sự hợp lý [21]
Trang 28Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, THỜI GIAN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu của đề tài bao gồm:
- Các loài động vật có xương sống trên cạn tại xã Hương Sơn thông qua việc thu thập tài liệu, khảo sát thực địa và phỏng vấn người dân địa phương
- Những yếu tố tác động tiêu cực của con người đến khu hệ động vật có xương sống trên cạn tại xã Hương Sơn
2.2 THỜI GIAN NGHIÊN CỨU
Đề tài được triển khai từ tháng 8 năm 2010 đến tháng 12/2011
Các đợt điều tra, khảo sát thực địa được tiến hành trong 3 đợt:
- Đợt 1: Từ 10/12 đến 21/12/2010
- Đợt 2: Từ 15/03 đến 27/03/2011 (Thời gian trong mùa lễ hội chùa Hương)
- Đợt 3: Từ 12/6 đến 19/06/2011 (Thời gian sau mùa lễ hội chùa Hương)
2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.3.1 Phương pháp khảo sát thực địa
Chúng tôi đã tiến hành áp dụng các phương pháp thực địa truyền thống nhằm thu thập các thông tin, số liệu, mẫu vật nghiên cứu có liên quan đến khu hệ động vật
có xương sống trên cạn ở xã Hương Sơn, bao gồm các phương pháp chính sau:
2.3.1.1 Phương pháp khảo sát theo tuyến
Khảo sát theo tuyến được áp dụng cho tất cả các nhóm động vật có xương sống trên cạn nhằm quan sát trực tiếp các loài động vật và ghi nhận sự tồn tại của các loài qua dấu vết hoạt động: dấu chân, vết ăn, vết leo cây, tiếng kêu, phân, tổ, hang,…Tọa độ các tuyến khảo sát và các điểm ghi nhận thông tin chính được xác định bằng máy định vị GPS, các con vật hoặc vết quan sát được đều chụp ảnh nếu có thể Các tuyến khảo sát chính đã thực hiện như sau:
Trang 29- Tuyến 1: Từ bến Yến Vĩ đi thuyền dọc suối Yến đến Sềnh Con Gà, bến Thiên Trù Tại đây, đoàn khảo sát chia nhau đi các tuyến nhỏ:
+ Tuyến 1.1: Từ bến Thiên Trù đi thuyền dọc suối Yến đến bến Đồng Lỗ, đi
bộ đến Thung Khoai, thung Mỏ và đồng Vài Sinh cảnh: đất ngập nước dọc hai bên
bờ suối Yến, rừng cây gỗ thứ sinh xen lẫn cây bụi và nương rẫy
+ Tuyến 1.2: Từ bến Thiên Trù đi lên chùa Thiên Trù, đến động Đại Binh (20o37’17,2”N/105o44’43,5”E) xuống thung Mả Mê Sinh cảnh: rừng cây gỗ thứ sinh xen lẫn cây bụi
+ Tuyến 1.3: Từ bến đò Thiên Trù, đi bộ đến chùa Thiên Trù, từ chùa Thiên Trù đi đến thung Thói Láo, đến Thung Ao (20o36’29.7”N/105o44’54.4”E), thung Chảy (20o36’40.0”N/105o45’10.7”E) Sinh cảnh chính là trảng cây bụi cao, trảng cỏ, rừng thứ sinh nghèo kiệt và các nương rẫy dưới thung lũng
+ Tuyến 1.4: Từ bến Thiên Trù đi theo đường bậc thang lên chùa Giải Oan (20o36’53.8”N/105o44’28.5”E) lên động Hương Tích xuống thung Tràm (20o36’49.5”N/105o44’18.9”E), thung Cháu (20o36’47.0”N/105o43’44.7”E), thung Káng Kẻ (20o36’59.6”N/105o43’39.2”E) Sinh cảnh: nương rẫy (trồng dâu, sắn, ngô,…), trên sườn núi có rừng cây gỗ thứ sinh xen cây bụi
+ Tuyến 1.5: Từ bến Thiên Trù đi theo đường bậc thang lên đền Giải Oan, xuống thung Cây Hồng (20o36’51.9”N/105o44’30.1”E) Sinh cảnh: Nương rẫy, trảng cây bụi, trên núi có cây gỗ nhỏ xen cây bụi
- Tuyến 2: Từ bến Yến Vĩ đi thuyền dọc suối Yến đến đền Trình, đến đền Thanh Sơn (20o36’05.4”N/105o45’39.8”E) đi thung Luận (20o36’01.7N/105o45’33.5”E) Sinh cảnh: rừng cây gỗ thứ sinh xen lẫn cây bụi và nương rẫy
- Tuyến 3: Từ bến đò Phú Yên (20o36’23”N/105o46’22”E) đi thuyền dọc theo suối Tuyết Sơn đến chùa Bảo Đài (20o36’25”N/105o46’30”E), đi bộ lên núi đến động chùa Ngọc Long (20o36’31”N/105o46’56”E) Sinh cảnh: đất ngập nước hai bên suối Tuyết Sơn, rừng cây gỗ thứ sinh xen lẫn cây bụi và nương rẫy
Trang 302.3.1.2 Phương pháp bẫy bắt
- Phương pháp bẫy bắt thú:
Để bẫy bắt thú nhỏ (Gặm nhấm) chúng tôi sử dụng bẫy lồng bắt sống (kích thước 20x10x10cm) Một số bẫy được đặt lên cây để bẫy sóc, cách mặt đất 5 – 10m Bẫy được giữ trên mỗi tuyến 4 – 5 ngày và tiến hành kiểm tra bẫy vào các buổi sáng
để thu mẫu thú vào bẫy và các buổi chiều để thay mồi (sắn, khoai tươi) Các mẫu động vật thu được sau khi định loại, mô tả được thả lại tự nhiên
Dùng lưới mờ để bắt dơi với kích thước lưới khác nhau (3m x 3m, 6m x 3m, 9m x 3m, 12m x 3m) Lưới được căng ngang đường bay của dơi từ nơi chúng trú ngụ như phía trước các hang động có dơi, ngang đường mòn trong rừng, bên suối,… Tùy thuộc vào điều kiện địa hình, lưới có thể được đặt đơn lẻ hoặc kết nối với nhau để tăng hiệu quả bẫy bắt Lưới được mở từ 17h30 đến 23h hôm trước và từ 4h đến 5h sáng hôm sau là khoảng thời gian dơi bay ra khỏi nơi cư trú để đi kiếm ăn
Hình 2.1 Lưới mờ để bắt dơi
Tại một số động có nhiều dơi cư trú như: động Hương Tích, động chùa Tuyết Sơn, hang dơi sau đền Trình,…có thể dùng vợt tay để bắt dơi khi phát hiện Các mẫu dơi sau khi định loại được thả lại tự nhiên
Trang 31- Phương pháp bắt chim:
Dùng lưới mờ mistnet kích thước 3x12m, cỡ mắt lưới 1,5x1,5cm để bắt những loài chim nhỏ như: chim sâu, chim chích, vành khuyên,… Chim bắt được được thả lại tự nhiên ngay sau khi định loại xong loài Đối với các loài chim khó bẫy bắt, dùng ống nhòm để quan sát từ xa
- Phương pháp thu mẫu các loài bò sát và ếch nhái:
Các mẫu bò sát và ếch nhái được bắt trực tiếp bằng tay, vợt tay, gậy bắt rắn,…Mẫu vật ếch nhái thu được đựng trong túi nilon, mẫu rắn và thằn lằn đựng trong túi vải Mẫu vật sau khi được định loại sẽ thả trở lại tự nhiên
2.3.1.3 Phương pháp điều tra, phỏng vấn
Phương pháp điều tra phỏng vấn nhằm thu thập các thông tin khái quát về tình trạng của các khu hệ động vật hoang dã tại xã Hương Sơn Đối tượng được chọn để phỏng vấn là những người có nhiều hiểu biết về động vật của khu vực như thợ săn, người hay đi rừng làm nương rẫy, thu hái lâm sản, cán bộ Ban quản lý Di tích, cán bộ Ban quản lý Rừng đặc dụng, các nhà sư và hộ dân sống lâu năm trong rừng Trong quá trình phỏng vấn, các câu hỏi được đưa ra từ đơn giản đến phức tạp, từ thông tin tổng quát đến các loài cụ thể và yêu cầu người được phỏng vấn đưa ra những chứng
cứ minh họa (nếu có) Các câu hỏi mở được dẫn ở phần Phụ lục
Trang 32Việt Nam gọi theo tài liệu của Đặng Huy Huỳnh và cộng sự, 1994 [7], Lê Vũ Khôi,
2000 [8], Cao Văn Sung và cộng sự, 1980 [16]
- Định loại chim tại thực địa dựa vào tài liệu có hình vẽ màu của Craig Robson (2005) [34] và tài liệu “Chim Việt Nam” của Nguyễn Cử và cộng sự (2000) [3] Hệ thống phân loại chim được sắp xếp theo tài liệu [30], [38] Tên phổ thông, tên khoa học theo Võ Quý (1975, 1981) [12], [13], Võ Quý và Nguyễn Cử (1999) [14]
- Định loại Bò sát và Ếch nhái theo “Herpetology of China” của Er-Mizhao et al,
2003 [36]; “A photographie Guide to Snake and Other Reptilies of Peninsular Malaysia, Singapore and Thailand” của Cox et al., 2002 [33] và một số tài liệu khác [18], [19] Tên Việt Nam gọi theo “Danh lục Ếch nhái và Bò sát Việt Nam” (Nguyễn Văn Sáng và cs, 2005) [15]
2.3.3 Phương pháp kế thừa
- Kế thừa các công trình nghiên cứu trước đã được công bố có nội dung liên quan đến nội dung của đề tài
- Kế thừa các số liệu ở báo cáo về kinh tế - xã hội địa phương năm 2010
- Tham khảo thông tin từ các trang website
2.3.4 Phương pháp xử lý số liệu
Dựa trên các thông tin, số liệu thu được chúng tôi tiến hành:
- Tổng hợp để đưa ra danh lục thành phần các loài động vật ở Hương Sơn gồm 4 lớp: Lớp lưỡng cư, lớp bò sát, lớp chim và lớp thú
- Phân tích giá trị và hiện trạng khu hệ động vật có xương sống trên cạn tại xã Hương Sơn Trong đó đặc biệt chú ý đến các loài quý hiếm
- Phân tích những tác động tiêu cực của con người đến khu hệ động vật có xương sống trên cạn tại xã Hương Sơn và đề xuất các biện pháp bảo tồn
Trang 33Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 3.1 ĐA DẠNG SINH HỌC KHU HỆ ĐỘNG VẬT CÓ XƯƠNG SỐNG TRÊN CẠN TẠI XÃ HƯƠNG SƠN, HUYỆN MỸ ĐỨC, HÀ NỘI
3.1.1 Đa dạng sinh học lưỡng cư, bò sát
3.1.1.1 Đa dạng sinh học lưỡng cư (Amphibia)
Theo ghi nhận của chúng tôi, khu hệ lưỡng cư ở xã Hương Sơn, Mỹ Đức, Hà
Nội gồm 29 loài thuộc 6 họ của 1 bộ (Bảng 3.1)
Bảng 3.1 Thành phần các loài lưỡng cư tại xã Hương Sơn, Mỹ Đức, Hà Nội
Dạng thông tin
Phân
bố
Tình trạng
I BỘ KHÔNG ĐUÔI ANURA
1 Cóc nhà Bufo melanostictus Schneider, 1799 M 2, 3, 5
2 Cóc rừng Igerophrunus galeatus (Gunther, 1864) QS 2, 3
2 Họ Cóc bùn Pelobatidae
3 Cóc mày bùn Leptolalax pelodytoides (Boulenger, 1893) QS 2, 3, 4
4 Cóc mắt chân dài Megophrys longipes (Boulenger, 1885) TL 3, 4
3 Họ Ếch nhái Ranidae
7 Cóc nước nhẵn Phrynoglossus laevis (Gunther, 1858) M 2, 3, 4
8 Cóc nước sần Oceidozyga lima Kuhl et Van Hasselt,
Trang 34TT Tên Việt Nam Tên khoa học
Dạng thông tin
Phân
bố
Tình trạng
11 Ếch bám đá Amolops ricketii (Boulenger, 1899) TL 2, 3
12 Ếch trơn Limnonectes kuhlii (Tschudi, 1838) M 3, 4
13 Ngóe Rana limnocharis Boie, in Wiegmann,
1935
M 4, 5
14 Ếch núi Quasipaa verrucospinosa (Bourret, 1937) M 3, 4
15 Chàng hiu Rana macrodactyla (Gunther, 1859) QS 3, 4
16 Ếch suối Hylarana nigrovittata (Blyth, 1855) QS 3, 4
17 Chàng đài bắc Rana taipehensis Vandenburgh, 1909 TL 3, 4
4 Họ Nhái bầu Microhylidae
19 Nhái bầu hây môn Microhyla heymonsi Vogt, 1911 M 3, 5
20 Nhái bầu hoa Microhyla ornate Dumeril et Bibron, 1841 M 3, 5
21 Nhái bầu vân Microhyla pulchra (Hallowell, 1861) M 3, 5
22 Nhái bầu butlơ Microhyla butleri Boulenger,1900 M 3,5
23 Nhái bầu hoa cương M marmorata Bain & Nguyen, 2004 M 3, 5
5 Họ ếch cây Rhacophoridae
24 Nhái cây sọc Chiromantis vittatus Boulenger, 1887 M 3, 4
25 Ếch cây mép trắng Rhacophorus leucomystax (Kuhl, in
Gravenhorst, 1829)
M 3, 4
26 Ếch cây xanh đốm Polypedates dennysii (Blanford, 1881) QS 3, 4
27 Ếch cây mutus Polypedates mutus (Smith, 1940) M 3, 4
28 Ếch cây bay Polypedates reiwardtii (Schlegel, 1840) QS 3, 5
6 Họ Nhái bén Hylidae
Trang 35Ghi chú
Thông tin : PV (Phỏng vấn), QS (Quan sát), M (thu được mẫu), TL (Tài liệu [20], [21], [23], [26]) Phân bố: 2 Rừng tre nứa, trảng cỏ, trảng cây bụi, 3 Đất canh tác nông nghiệp, 4 Đất ngập nước, 5
Khu dân cư
Trong số 6 họ lưỡng cư ghi nhận được ở Hương Sơn:
- Họ ếch nhái có số lượng loài nhiều nhất (13 loài chiếm 44,83%)
- Tiếp đến là họ nhái bầu có 6 loài (20,69%) và họ ếch cây có 5 loài (17,24%)
- Ít loài nhất là họ cóc, họ cóc bùn có 2 loài (chiếm 6,9%) và họ nhái bén có 1 loài (chiếm 3,45%)
So với tài nguyên lưỡng cư cả nước có 172 loài, 10 họ, 3 bộ thì khu vực xã Hương Sơn có 29 loài chiếm 16,9%, có 6 họ chiếm 60%, có 1 bộ chiếm 33,3%
Bảng 3.2 So sánh đa dạng các loài Lưỡng cư ở Hương Sơn với cả nước Phạm vi Số loài Số họ Số bộ Nguồn tài liệu
Toàn quốc 172 10 3 Nguyễn Văn Sáng và cs, 2005 [15]
Xã Hương Sơn 29 6 1 Kết quả nghiên cứu của đề tài, 2011
- Đất ngập nước có 18 loài (chiếm 62,06%) Đại diện có ếch đồng, ếch suối, nghóe,
- Khu dân cư có 14 loài (44,8%) Đại diện có ếch đồng, cóc nhà, nhái bén,…
Trang 36Hình ảnh một số loài lưỡng cư ở xã Hương Sơn, huyện Mỹ Đức, Hà Nội
Hình 3.1 Cóc nhà (Bufo melanostictus)
Người chụp: Phạm Mạnh Thế
Hình 3.2 Ếch xanh (Rana andersoni)
Người chụp: Nguyễn Quảng Trường [41]
Trang 373.1.1.2 Đa dạng sinh học bò sát (Reptilia)
Khu hệ bò sát ở xã Hương Sơn theo ghi nhận của chúng tôi có 54 loài thuộc 14
họ của 2 bộ (Bảng 3.3)
Bảng 3.3 Thành phần các loài bò sát tại xã Hương Sơn, Mỹ Đức, Hà Nội
Dạng thông tin
Phân bố
Tình trạng
4 Thạch sùng đuôi sần Hemidactylus frenatus Schlegel, in Dumeril
Bibron, 1836
7 Nhông xám Calotes mystaceus Dumerll & Bibron, 1837 QS 1, 2
9 Ô rô vảy Acanthosaura lepidogaster (Cuvier, 1829) TL, PV 1, 2, 3
Trang 38TT Tên Việt Nam Tên khoa học
Dạng thông tin
Phân bố
Tình trạng
17 Rắn sọc khoanh Elaphe moelleldorffii Boettger, 1886 TL, PV 1, 2, 3 VU
20 Rắn hổ đất nâu Psammodynates pulverulentus (Boie, 1827) QS 1, 2, 3
22 Rắn bồng Trung Quốc Enhydris chinensis Gray, 1842 TL, PV 1, 2, 3
23 Rắn hoa cỏ nhỏ Rhabdophis subminiatus (Schlegel, 1837) QS 1, 2, 3
24 Rắn nước Xenochrophis flavipunctatus (Schneider,
1799)
QS, M 4, 5
25 Rắn nước vân đen Sinonatrix percarinata (Boulenger, 1899) QS 4, 5
27 Rắn roi mõm nhọn Ahaetulla nasuta (Bonnaterre, 1790) QS 1, 2, 3
29 Rắn hổ mây ngọc Pareas margaritophorus (Jan, 1866) TL, PV 1, 2
30 Rắn hổ mây hamton Pareas hamptoni (Boulenger, 1905) TL, PV 1, 2
Trang 39TT Tên Việt Nam Tên khoa học
Dạng thông tin
Phân bố
Tình trạng
37 Rắn lá khô thường Calliophis macclellandi (Reinhardt, 1844) QS 1, 2
38 Rắn lục xanh Viridovipera stejnegeri (Schmidt, 1925) PV 1, 2, 3
39 Rắn mục mép trắng Cryptelytrops albolabris (Gray, 1842) QS 1, 2, 3 IIB
CR, LR/nt, IIB
9 Họ Rắn mống Xenopeltidae
10 Họ Thằn lằn bóng Scincidae
42 Thằn lằn đuôi dài Mabuya longicaudata (Hallowell, 1857) QS 1, 2, 3, 5
43 Thằn lằn bóng sa pa Mabuya chapaensis Bourret, 1937 TL PV 1, 2, 3
44 Thằn lằn bóng hoa Mabuya multifasciata (Kuhl, 1820) TL, PV 1, 2, 3
11 Họ Thằn lằn thực Lacertidae
46 Liu điu chỉ Takydromus sexlineatus Daudin, 1802 TL, PV 1, 2, 3
12 Họ rùa núi Testudinidae
13 Họ rùa đầm Geoemydidae
Trang 40TT Tên Việt Nam Tên khoa học
Dạng thông tin
Phân bố
Tình trạng
Ghi chú
Dạng thông tin : PV (Phỏng vấn), QS (Quan sát), M (thu được mẫu), TL (Tài liệu [20], [21],
[23], [26])
Phân bố: 1 Rừng trên núi đá vôi, 2 Rừng tre nứa, trảng cỏ, trảng cây bụi, 3 Đất canh tác
nông nghiệp, 4 Đất ngập nước, 5 Khu dân cư
Trong số 14 họ bò sát ghi nhận được ở xã Hương Sơn
Họ rắn nước có số loài nhiều nhất (21 loài chiếm 38,89%),
Tiếp đến là họ tắc kè (5 loài chiếm 9,26%) và họ rắn hổ (5 loài chiếm 9,26%)
Họ có ít loài nhất là họ kỳ đà, họ rắn giun, họ trăn, họ rắn mống và họ