1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu bộ nhiễm sắc thể ở những cặp vợ chồng vô sinh nguyên phát

93 573 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 93
Dung lượng 1,14 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tần số rối loạn nhiễm sắc thể giữa người vợ và người chồng ở các cặp vợ chồng vô sinh nguyên phát .... Các biểu hiện rối loạn nhiễm sắc thể ở người vợ trong các cặp vợ chồng vô sinh nguy

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

-

TRẦN CÚC ÁNH

NGHIÊN CỨU BỘ NHIỄM SẮC THỂ Ở NHỮNG CẶP

VỢ CHỒNG VÔ SINH NGUYÊN PHÁT

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

HÀ NỘI - 2012

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

-

TRẦN CÚC ÁNH

NGHIÊN CỨU BỘ NHIỄM SẮC THỂ Ở NHỮNG CẶP

VỢ CHỒNG VÔ SINH NGUYÊN PHÁT

Chuyên ngành: Sinh học Thực nghiệm

Mã số: 60 42 30

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS NGUYỄN VĂN RỰC

HÀ NỘI - 2012

Trang 3

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

CS : Cộng sự

ISCN : An International System for Human Cytogenetic Nomenclature

ICSI : Intra-Cytoplasmic Sperm Injection

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1- TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

1.1 Lược sử nghiên cứu về nhiễm sắc thể người 3

1.2 Các cơ chế gây rối loạn nhiễm sắc thể người 4

1.2.1 Rối loạn số lượng 4

1.2.2 Rối loạn cấu trúc nhiễm sắc thể 8

1.3 Tình hình nghiên cứu vô sinh 10

1.3.1 Một số khái niệm về vô sinh 10

1.3.2 Nguyên nhân vô sinh do người vợ 10

1.3.2.1 Các nguyên nhân không do yếu tố di truyền 10

1.3.2.2 Nguyên nhân do yếu tố di truyền 13

1.3.3 Nguyên nhân vô sinh do người chồng 13

1.3.3.1 Các nguyên nhân không do yếu tố di truyền 13

1.3.3.2 Nguyên nhân do yếu tố di truyền 16

1.4 Tình hình nghiên cứu nhiễm sắc thể ở những cặp vợ chồng vô sinh nguyên

phát 17

1.4.1 Trên thế giới 17

1.4.1.1 Tần số rối loạn nhiễm sắc thể ở những cặp vợ chồng vô sinh nguyên

phát 17

1.4.1.2 Tần số rối loạn nhiễm sắc thể giữa người vợ và người chồng 19

1.4.1.3 Các kiểu rối loạn nhiễm sắc thể ở người vợ và người chồng 20

1.4.2 Ở Việt Nam 25

Chương 2- ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27

2.1 Đối tượng nghiên cứu 27

2.1.1 Tiêu chuẩn chọn đối tượng 27

2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ 27

2.2 Phương pháp nghiên cứu 28

2.2.1 Lập hồ sơ bệnh án 28

Trang 5

2.2.2 Phương pháp phân tích nhiễm sắc thể và lập karyotyp 28

2.2.2.1 Nuôi cấy tế bào bạch cầu lympho máu ngoại vi theo phương pháp của Hungerford D.A (1965) 28

2.2.2.2 Phương pháp làm tiêu bản nhiễm sắc thể 28

2.2.2.3 Phương pháp nhuộm tiêu bản bằng băng G theo phương pháp của Seabright M ( 1971) 29

2.2.2.4 Phương pháp phân tích nhiễm sắc thể và lập karyotyp: theo tiêu chuẩn ISCN (2009) 30

2.2.3 Xử lý số liệu 31

Chương 3- KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 32

3.1 Tuổi của các cặp vợ chồng vô sinh nguyên phát 32

3.2 Nghề nghiệp của các cặp vợ chồng vô sinh nguyên phát 36

3.3 Tần số rối loạn nhiễm sắc thể ở các cặp vợ chồng vô sinh nguyên phát 37

3.4 Tần số rối loạn nhiễm sắc thể giữa người vợ và người chồng ở các cặp vợ chồng vô sinh nguyên phát 40

3.5 Các biểu hiện rối loạn nhiễm sắc thể ở các cặp vợ chồng vô sinh nguyên phát 41 3.5.1 Các biểu hiện rối loạn nhiễm sắc thể ở người vợ trong các cặp vợ chồng vô sinh nguyên phát 42

3.5.1.1 Các biểu hiện rối loạn nhiễm sắc thể giới tính ở người vợ 42

3.5.1.2 Các biểu hiện rối loạn nhiễm sắc thể thường ở người vợ 45

3.5.2 Các biểu hiện rối loạn nhiễm sắc thể ở người chồng trong các cặp vợ chồng vô sinh nguyên phát 52

3.5.2.1 Các biểu hiện rối loạn nhiễm sắc thể giới tính ở người chồng 52

3.5.2.2 Các biểu hiện rối loạn nhiễm sắc thể thường ở người chồng 57

KẾT LUẬN 60

KIẾN NGHỊ 62

TÀI LIỆU THAM KHẢO……….63 PHỤ LỤC 1

PHỤ LỤC 2

Trang 6

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1 Sự phân bố theo tuổi của các cặp vợ chồng vô sinh nguyên phát 32

Bảng 2 Sự phân bố về nghề nghiệp của các cặp vợ chồng vô sinh nguyên phát 36

Bảng 3 Tỷ lệ rối loạn nhiễm sắc thể ở các cặp vợ chồng vô sinh nguyên phát của một số tác giả trên thế giới 39

Bảng 4 Sự phân bố các biểu hiện rối loạn nhiễm sắc thể ở các cặp vợ chồng vô sinh nguyên phát 42

Bảng 5 Sự phân bố các biểu hiện rối loạn nhiễm sắc thể giới tính ở người vợ 43

Bảng 6 Sự phân bố các biểu hiện rối loạn nhiễm sắc thể thường ở người vợ 45

Bảng 7 Sự phân bố các biểu hiện rối loạn nhiễm sắc thể giới tính ở người chồng 52

Bảng 8 Sự phân bố các biểu hiện rối loạn nhiễm sắc thể thường ở người chồng 55

Trang 7

DANH MỤC HÌNH

Hình 1 Tỷ lệ rối loạn NST ở những cặp vợ chồng vô sinh nguyên phát 38

Hình 2 Tỷ lệ rối loạn NST giữa người vợ và người chồng ở những cặp vợ chồng vô sinh nguyên phát 40

Hình 3 Karyotyp của bệnh nhân Nguyễn Thị Thúy Th 45, XX, t(13q; 15q) 47

Hình 4 Karyotyp của bệnh nhân Triệu Thị Như Q 46, XX, del(16)(q22) 49

Hình 5 Karyotyp của bệnh nhân Đào Thị Quế P 46, XX, inv(12)(p13q13) 51

Hình 6 Karyotyp của bệnh nhân Nguyễn Tư C 46, XY, del(Y)(q11.2) 56

Hình 7 Karyotyp của bệnh nhân Nguyễn Chí C 46, XY, t(1;2)(p22;q21) 59

Trang 8

MỞ ĐẦU

Trong cuộc sống của mỗi con người, gia đình và con cái là nguồn hạnh phúc chính đáng và là động lực của sự trường tồn nòi giống Khi một cặp vợ chồng không thể thực hiện được chức năng sinh sản thì họ phải đối mặt với nhiều áp lực của gia đình

và xã hội Chẩn đoán và điều trị ở những cặp vợ chồng hiếm muộn là vấn đề mang lại tính nhân văn rất lớn, mang lại hạnh phúc cho các cá nhân, gia đình và có ý nghĩa xã hội sâu sắc Theo định nghĩa của tổ chức Y tế thế giới (WHO), một cặp vợ chồng gọi là

vô sinh khi sống cùng nhau trong vòng một năm và không dùng biện pháp tránh thai nào mà vẫn không có con Theo thống kê của các tác giả trên thế giới, tỷ lệ vô sinh chiếm khoảng 15% các cặp vợ chồng [39] Ở Việt Nam theo thống kê từ những năm

80, có khoảng 7-10% các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ bị vô sinh Hiện nay, vô sinh chiếm tỷ lệ 12-13% tổng số các cặp vợ chồng, tương đương với gần 1 triệu cặp vợ chồng [10]

Vậy vô sinh ở các cặp vợ chồng này là do người vợ hay người chồng? Từ xưa

kể cả các nước phát triển, người ta cho rằng nguyên nhân vô sinh thường do người vợ

Đó chỉ là cảm tính, hoặc người vợ thấy chồng mình quan hệ tình dục với mình bình thường không có lí gì nguyên nhân vô sinh do chồng Thật ra khả năng hoạt động tình dục và khả năng sinh tinh trùng hoàn toàn khác nhau Có những người đàn ông liệt dương nhưng tinh trùng rất khoẻ, ngược lại có những đàn ông hoạt động tình dục rất khoẻ nhưng lại không có con tinh trùng nào Như vậy vô sinh có thể do người vợ, chồng hay do cả 2 vợ chồng Các nghiên cứu gần đây cho thấy tỷ lệ vô sinh do vợ chiếm khoảng 40%, chồng chiếm 40%, do cả vợ và chồng chiếm 10% và không rõ nguyên nhân chiếm 10% [79]

Vô sinh có thể do rất nhiều các nguyên nhân khác nhau Hiện nay, do ảnh hưởng của các nhân tố như môi trường sống, dịch bệnh… nên tỷ lệ các cặp vợ chồng vô sinh ngày càng tăng Trong các cặp vợ chồng thì ở người vợ có thể do tử cung bị dị dạng, u

xơ tử cung; tử cung nhi tính, viêm lộ tuyến cổ tử cung…; ống dẫn trứng bị chít hẹp hay

Trang 9

buồng trứng đa nang hoặc do các vấn đề nội tiết…; còn đối với người chồng có thể do tinh hoàn không xuống bìu hay viêm tinh hoàn, do bất thường hormon sinh dục… gây không có tinh trùng hoặc ít tinh trùng Tuy nhiên một nguyên nhân quan trọng gây vô sinh cả ở người vợ và chồng đó là do rối loạn vật chất di truyền

Hiện nay, di truyền học người là lĩnh vực đang phát triển nhanh, mạnh và có rất nhiều thành tựu Đặc biệt với sự tiến bộ vượt bậc của phương pháp nuôi cấy tế bào và

kỹ thuật nhuộm tiêu bản nhiễm sắc thể (NST), đặc biệt hơn là kỹ thuật nhuộm băng G ngày càng phát triển và cải tiến không ngừng đã giúp cho các nhà di truyền học phát hiện được các biểu hiện rối loạn số lượng và cấu trúc NST như mất đoạn, lặp đoạn, chuyển đoạn, đảo đoạn…

Ở Việt Nam trong những năm gần đây đã có nhiều phòng xét nghiệm di truyền

tế bào như Viện nhi Trung ương, Viện Sản Trung ương, phòng Di truyền tế bào bệnh viện Từ Dũ, phòng di truyền tế bào của bộ môn Y sinh học – Di truyền trường Đại học

Y Hà Nội làm xét nghiệm và phân tích NST nhằm mục đích góp phần chẩn đoán những bệnh nhân mắc các bệnh liên quan đến rối loạn vật chất di truyền và để có phương pháp điều trị thích hợp để đưa ra những lời khuyên di truyền cho các bệnh nhân này

Với mong muốn góp phần nhỏ vào công tác chăm sóc sức khỏe sinh sản và giữ

gìn hạnh phúc gia đình cho các cặp vợ chồng, chúng tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu

bộ nhiễm sắc thể ở những cặp vợ chồng vô sinh nguyên phát” nhằm mục tiêu:

Phát hiện các trường hợp rối loạn nhiễm sắc thể ở những cặp vợ chồng vô sinh nguyên phát

Trang 10

Chương 1- TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Lược sử nghiên cứu về nhiễm sắc thể người

Bộ NST người là đối tượng chính trong các nghiên cứu tế bào di truyền học loài người Các nhà khoa học đã bắt đầu nghiên cứu NST người từ cuối thế kỷ XIX Năm

1842, Nageli phát hiện ra NST và được đánh dấu bằng công trình mở đầu của Walther Flemming (1882) [24] Ông đã quan sát NST của người ở các kỳ phân bào trên tiêu bản tươi, cắt mảnh lấy từ tinh hoàn Trong thời gian đó, NST của người là vấn đề được các nhà di truyền học quan tâm, nghiên cứu và cũng là đề tài được đem ra tranh luận nhiều lần Tuy nhiên ở thời kỳ ấy do những hạn chế về kỹ thuật làm tiêu bản, mẫu vật không đáp ứng và không phù hợp cho việc nghiên cứu chi tiết NST Ở người, số lượng NST nhiều, kích thước nhỏ và thường tập trung thành từng đám, với những kỹ thuật cắt mảnh, cố định và nhuộm thông thường, các nhà di truyền tế bào chưa thể đếm chính xác nên đã cho rằng trong nhân của tế bào người có 48 NST, gồm 23 cặp NST thường

và 1 cặp NST giới tính [37] [58]

Những năm thuộc thập kỉ 50 của thế kỉ XX có những phát hiện quan trọng khai sinh ra chuyên ngành di truyền tế bào người, việc xử lý tế bào bằng sốc nhược trương của Hsu, T.C (1952), Ford, C.E và Hamerton, J.L (1956) tiền xử lý tế bào nuôi cấy bằng colchicine để tích lũy nhiều cụm kì giữa Công trình của Tjio, J.H và Levan (1956) kết hợp xử lý nhược trương và colchicine đã công bố nghiên cứu xác định lại bộ NST 2n của người là 46 NST chứ không phải là 48 NST và công trình này đã được Ford và Hamerton khẳng định [25]

Từ năm 1956 có nhiều phòng thí nghiệm tế bào di truyền được xây dựng để nghiên cứu NST Các công trình đầu tiên công bố các rối loạn NST liên quan với bệnh

là công trình của Lejeune (1958-1959) về hội chứng Down do thừa một NST 21 dạng trisomi 21, hội chứng Turner do tế bào cơ thể chỉ có 45 NST dạng 45,X thiếu một NST giới tính X (Ford, 1959), hội chứng Klinefelter ở nam với 47 NST trong đó có ba NST giới XXY (Jacobs và Strong, 1959) [35]

Trang 11

Từ năm 1956 đến năm 1960 là thời kỳ còn khó khăn của nghiên cứu tế bào di truyền học người các nghiên cứu đều mới chỉ phân biệt được các rối loạn số lượng và rối loạn cấu trúc lớn gây bất thường ở người do mới chỉ sử dụng phương pháp nhuộm bình thường bằng Giemsa, nhuộm đồng đều các NST

Năm 1960, Moorhead và cs công bố phương pháp làm tiêu bản NST từ lympho bào nuôi cấy ngắn hạn (48-72h) với việc dùng PHA (phytohemagglutinin) để kích thích phân bào Từ đó chẩn đoán bệnh trên NST ngày càng được ứng dụng rộng rãi [52]

Từ năm 1968 đến năm 1970, là sự ra đời của các kỹ thuật nhuộm băng cho phép các nhà di truyền học đánh giá chính xác tới từng chiếc NST trong bộ NST và phát hiện rối loạn cấu trúc NST Từ sau 1970 trở đi, lần lượt với các kỹ thuật nhuộm băng

Q, băng G, băng R, băng C, băng T, N và nhuộm băng có độ phân giải cao NST, dùng BrdU (Bromodeoxyuridin) gắn vào ADN trên NST và nhuộm phân biệt chromatit chị

em đã mở ra thời kỳ phát triển mạnh mẽ của tế bào di truyền học người ứng dụng các

kỹ thuật băng để phát hiện các bất thường tinh tế đặc trưng trên từng NST ứng với các bệnh, tật, các hội chứng trong lâm sàng

Từ năm 1980 đặc biệt là sau năm 1985 là thời kỳ phát triển mạnh mẽ, vượt bậc của di truyền tế bào lâm sàng và di truyền phân tử ứng dụng trong nghiên cứu bộ gen loài người Trong di truyền tế bào thì việc nghiên cứu NST chủ yếu vẫn áp dụng các phương pháp nhuộm băng NST để phát hiện các rối loạn cấu trúc: mất đoạn, lặp đoạn, đảo đoạn và chyển đoạn…

1.2 Các cơ chế gây rối loạn nhiễm sắc thể người

1.2.1 Rối loạn số lượng

Rối loạn số lượng NST gồm hai dạng: đa bội (polyploidy) và lệch bội (aneuploidy)

* Đa bội thể:

Là hiện tượng tăng chẵn hoặc tăng lẻ cả bộ NST Ví dụ: ở người 3n = 69 NST =

Trang 12

thể tam bội (3n) thuộc dạng thể đa bội lẻ, 4n = 96 NST = thể tứ bội (4n) thuộc dạng thể

đa bội chẵn

Cơ chế: có 3 cơ chế dẫn đến hiện tượng đa bội:

- Thụ tinh của các giao tử bất thường:

Bình thường, sau 2 lần phân chia của quá trình giảm phân, mỗi giao tử được tạo thành chứa bộ NST đơn bội (n) Đôi khi, vì một nguyên nhân nào đó, các NST không phân ly, cả hai bộ NST đi vào một giao tử, tạo nên giao tử bất thường chứa 2n NST

Thụ tinh của giao tử bình thường (n) với giao tử bất thường (2n) tạo hợp tử tam bội (3n)

Thụ tinh của 2 giao tử, cả 2 đều bất thường (2n) tạo ra hợp tử tứ bội (4n)

- Sự phân chia bất thường của hợp tử:

Đôi khi trong các lần phân chia sớm bộ NST 2n của hợp tử nhân đôi nhưng tế bào chất không phân chia theo nên hình thành các tế bào 4n, sau đó các tế bào này tiếp tục phân chia tạo nên các phôi bào 4n, phát triển thành cơ thể tứ bội (4n)

Trong các lần phân chia sớm của hợp tử 2n có sự phân chia không đồng đều NST tạo thành phôi bào có 1n NST và phôi bào có 3n NST Phôi bào có 1n NST bị tiêu vong còn phôi bào có 3n NST phát triển thành cơ thể tam bội (3n)

Hợp tử 3n phân chia theo ba cực cho 3 phôi bào khác nhau: 1n, 2n, 3n Phôi bào 1n tiêu vong còn 2 phôi bào sau phát triển thành thể khảm 2n/3n

Hợp tử 4n phân chia theo ba cực tạo thành cơ thể 2n/3n

- Sự thụ tinh kép hoặc sự xâm nhập của tế bào cực:

Sự thụ tinh kép: 1 trứng bình thường (n) thụ tinh với 2 tinh trùng bình thường (n) cho hợp tử 3n

Sự xâm nhập của tế bào cực vào một phôi bào ở giai đoạn hai phôi bào tạo thành cơ thể khảm 2n/3n

Hậu quả: Các trường hợp đa bội ở người rất hiếm gặp, phần lớn chết ở giai đoạn trước sinh, một vài trường hợp sống đến khi sinh hoặc sau sinh nhưng hầu hết là các trẻ

Trang 13

sơ sinh bị dị tật

* Lệch bội:

Là hiện tượng số lượng NST của tế bào tăng lên hoặc giảm đi một hoặc vài NST

so với bộ NST lưỡng bội

Cơ chế:

- Nhiễm sắc thể không phân ly trong giảm phân:

Trong quá trình giảm phân, nếu có một cặp NST nào không phân ly mà cùng nhau đi vào một giao tử sẽ tạo thành các giao tử lệch bội: có giao tử thừa một NST, có giao tử thiếu một NST Các giao tử lệch bội khi thụ tinh sẽ hình thành các hợp tử lệch bội

Hiện tượng không phân ly trong quá trình giảm phân có thể xảy ra trong quá trình tạo tinh hoặc tạo trứng, xảy ra ở lần phân bào thứ nhất hay thứ hai, có thể xảy ra với NST thường hay với NST giới tính

- Nhiễm sắc thể không phân ly trong quá trình phân cắt của hợp tử:

+ Nếu hiện tượng không phân ly xảy ra ở lần phân cắt thứ nhất của hợp tử, hai phôi bào khác nhau được hình thành: một có 47 NST, một có 45 NST Hai phôi bào này tiếp tục phân chia tạo nên cơ thể có hai dòng tế bào lệch bội 47/45 Nếu dòng tế bào có 45 NST không có khả năng sống, cơ thể chỉ có một dòng tế bào có 47 NST

+ Nếu hiện tượng không phân ly xảy ra ở lần phân cắt thứ hai của hợp tử sẽ tạo

ra ba dòng tế bào có số lượng NST là 47/46/45 Dòng tế bào 45 NST không có khả năng sống nên cơ thể ở dạng khảm với 2 dòng tế bào 47/46 NST Nếu hiện tượng không phân ly xảy ra nhiều lần trong quá trình phân cắt sẽ tạo cơ thể khảm phức tạp hơn

Trang 14

giảm phân hoặc xảy ra trong quá trình phân cắt của hợp tử, có thể xảy ra với NST thường hoặc NST giới tính

* Lệch bội nhiễm sắc thể thường

Ở người, hợp tử trisomy thuần NST thường có được tiếp tục phát triển hay không, số lượng các dị tật và khả năng sống sót của thai ở bên trong hay bên ngoài tử cung còn phụ thuộc vào trisomy về NST nào trong bộ NST Trong số 22 cặp NST thường, chỉ có trisomy nhóm D (13,14,15), trisomy 18 và trisomy 21 thai nhi có thể sống ở bên ngoài tử cung, đặc biệt trisomy 21 có khả năng sống lâu hơn, thậm chí có thể sống đến tuổi trưởng thành Nhìn chung trisomy của nhóm A (1-3), nhóm B (4-5) hoặc nhóm C (6-12), phôi thai thường chết ở giai đoạn sớm trong tử cung

Những dòng tế bào hoặc hợp tử monosomy NST thường, nhìn chung không có khả năng phát triển và thường chết ở giai đoạn sớm

* Lệch bội nhiễm sắc thể giới tính

Trường hợp trisomy thuần NST giới tính, thai nhi có thể phát triển được đến tuổi trưởng thành, nhưng thường có các bất thường, dị tật ở cơ quan sinh dục và một số tính trạng khác bất thường, dị tật

Chỉ có trường hợp monosomy NST giới X là có khả năng sống đến tuổi trưởng thành nhưng có những biểu hiện rối loạn phát triển hình thái của cơ thể, về cơ quan sinh dục và có thể chậm phát triển trí tuệ

Ở người thường gặp một số trường hợp: Hội chứng Turner (45, XO), hội chứng Klinefelter (47, XXY), hội chứng siêu nữ (XXX) ở thể khảm hoặc thể thuần

* Thể khảm lệch bội: NST thường và NST giới tính tức là cá thể có từ hai hoặc nhiều

dòng, hay gặp nhất là một dòng tế bào lưỡng bội và một dòng tế bào lệch bội hoặc là thừa một NST (trisomy) hoặc là thiếu một NST (monosomy)

* Lệch bội phức tạp – (lệch bội kép): trong tế bào của cơ thể có dư 2 NST ở hai cặp

tương đồng khác nhau (thông thường là một cặp NST thường và một cặp NST giới tính)

Trang 15

1.2.2 Rối loạn cấu trúc nhiễm sắc thể

* Mất đoạn (deletion):

Là hiện tượng NST bị đứt rời ra một hoặc nhiều đoạn, đoạn bị đứt rời ra không

có tâm sẽ tiêu biến đi hoặc gắn sang NST khác, phần còn lại mang tâm trở lên ngắn hơn bình thường Có 2 kiểu mất đoạn: mất đoạn cuối và mất đoạn giữa

- Mất đoạn cuối: sinh ra do mất một chỗ của các nhánh Đoạn không tâm sẽ bị tiêu biến Mất đoạn cuối có thể xảy ra ở 2 nhánh ở phần cuối Hai đoạn không tâm sẽ tiêu tan đi, còn phần mang tâm sẽ uốn cong lại tạo nên NST hình vòng có tâm

- Mất đoạn giữa: do hai chỗ đứt xảy ra cùng ở một nhánh Đoạn nằm giữa hai chỗ đứt bị tiêu tan, hoặc tạo thành vòng không tâm Hai phần còn lại của NST nối lại với nhau tại chỗ đứt hình thành một NST mới bị mất đoạn

Sự mất đoạn NST tức là sự mất đi vật liệu di truyền và tùy theo mức độ tổn thương nhiều hay ít mà ảnh hưởng xấu tới sự phát triển của phôi thai, hoặc thai nhi sinh

ra với nhiều dị tật Ở người tần số gặp mất đoạn rất hiếm

Một số trường hợp có biểu hiện chậm phát triển trí tuệ và rối loạn cơ quan sinh dục, hay gặp trong số đó là NST X hình vòng Ví dụ: Hội chứng Turner: 46,Xr(Xq)

* Chuyển đoạn (Translocation):

Chuyển đoạn NST được xác định là hay gặp nhất trong rối loạn cấu trúc của NST [22] Có hai kiểu chuyển đoạn là chuyển đoạn tương hỗ (reciprocal translocation)

và chuyển đoạn hòa hợp tâm (Robertsonian translocation)

- Chuyển đoạn tương hỗ (reciprocal translocation): là hiện tượng trao đổi đoạn

giữa hai NST Mỗi NST đứt một chỗ, trao đổi đoạn đứt cho nhau và hình thành hai NST mới Cả hai đều thay đổi hình thái nếu những đoạn trao đổi khác nhau về kích thước

- Chuyển đoạn hòa hợp tâm (Robertsonian translocation): Chỉ xảy ra đối với

các NST tâm đầu Chuyển đoạn hòa hợp tâm là do phần tâm của hai NST hợp nhất hình thành và hay gặp nhất là sự chuyển đoạn giữa các NST tâm đầu số 13,14,15

Trang 16

(nhóm D), số 21,22 (nhóm G) bao gồm là sự chuyển đoạn giữa các NST nhóm D với nhóm D (D/D) hoặc giữa nhóm D với nhóm G (D/G) hoặc giữa nhóm G với nhóm G (G/G)

Ở những người mang chuyển đoạn hòa hợp tâm trong bộ NST có 45 chiếc thiếu

2 NST tâm đầu và thay vào đó 1 NST tâm giữa có kích thước lớn nếu là sự chuyển đoạn giữa các NST nhóm D với nhóm D (D/D) hoặc 1 NST có kích thước trung bình tâm lệch nếu là sự chuyển đoạn giữa các NST nhóm D với các NST nhóm G (D/G) hoặc 1 NST kích thước nhỏ tâm giữa nếu là sự chuyển đoạn giữa các NST nhóm G với các NST nhóm G (G/G) [42]

* Lặp đoạn (duplication)

Là hiện tượng một đoạn nào đó của NST được nhân đôi lên Lặp đoạn xảy ra khi

2 NST tương đồng ghép đôi với nhau không tương xứng trong kỳ đầu của phân bào giảm phân, có sự đứt của 2 NST và trao đổi đoạn giữa 2 đoạn khác nhau của 2 NST trong cặp tương đồng Trong trường hợp này có 2 NST bị thay đổi cấu trúc, nhưng không mất đi hoặc tăng thêm vật liệu di truyền trong tế bào Khi các NST trong cặp tương đồng này phân ly nhau trong giảm phân sẽ tạo ra hợp tử mang NST lặp đoạn (trisomy từng phần) hoặc NST thiếu một đoạn có liên quan (monosomy từng phần)…

* Đảo đoạn (invertion)

Là sự bất thường cấu trúc do NST bị đứt ở hai điểm, đoạn giữa hai điểm đứt quay ngược 1800 rồi nối lại, do đó một số gen bị đảo ngược thứ tự so với đoạn ban đầu

Có ba kiểu đảo đoạn: đảo đoạn ngoài tâm, đảo đoạn quanh tâm đối xứng, đảo đoạn quanh tâm không đối xứng

- Đảo đoạn ngoài tâm: hai chỗ đứt ở cùng một nhánh của NST và đoạn đảo không chứa tâm, NST không thay đổi hình thái

- Đảo đoạn quanh tâm đối xứng: hai chỗ đứt ở hai nhánh và cách đều tâm, NST không thay đổi hình thái

- Đảo đoạn quanh tâm không đối xứng: hai chỗ đứt ở hai nhánh, khoảng cách

Trang 17

tâm không đều nhau, NST có cấu trúc lại và thay đổi hình thái

1.3 Tình hình nghiên cứu vô sinh

1.3.1 Một số khái niệm về vô sinh

Qua nhiều thời kỳ khác nhau thì khái niệm vô sinh có nhiều thay đổi Theo Tổ chức Y tế thế giới (WTO) thì: “vô sinh” là tình trạng một cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ có sức khỏe bình thường, mong muốn có con nhưng không thể có thai sau 12 tháng quan hệ tình dục mà không dùng biện pháp tránh thai nào

Vô sinh được chia làm 2 loại: vô sinh nguyên phát và vô sinh thứ phát Vô sinh nguyên phát (vô sinh I) là vô sinh mà người vợ chưa từng có thai lần nào Vô sinh thứ phát (vô sinh II) là vô sinh mà người vợ trước đây đã từng có thai, nhưng sau đó không thể có thai lại sau thời gian 1 năm

Vô sinh nam giới là vô sinh mà nguyên nhân hoàn toàn do người chồng, người

vợ hoàn toàn bình thường Vô sinh nữ giới là vô sinh mà nguyên nhân hoàn toàn do người vợ, người chồng hoàn toàn bình thường

Vô sinh không rõ nguyên nhân là các trường hợp vô sinh mà thăm khám lâm sàng và làm các xét nghiệm kinh điển ở cả vợ và chồng vẫn không phát hiện được nguyên nhân khả dĩ có thể quan sát được [23]

1.3.2 Nguyên nhân vô sinh do người vợ

1.3.2.1 Các nguyên nhân không do yếu tố di truyền

* Nguyên nhân do cổ tử cung

Nhờ chất nhầy ở cổ tử cung và cấu trúc bình thường của cổ tử cung giúp tinh trùng bơi qua dễ dàng Nếu vì một lý do nào đó gây ảnh hưởng tới chất nhầy hoặc cấu trúc cổ tử cung làm cho tinh trùng khó sống sót và không thể bơi qua được sẽ làm cho

tỷ lệ có thai giảm Tiền sử có đốt lạnh hay đốt điện cổ tử cung làm phá hủy các tế bào tiết chất nhầy, tiền sử nạo thai, sẩy thai, tổn thương cổ tử cung sau sinh gây chít hẹp hoặc hở cổ tử cung Viêm nhiễm cổ tử cung làm ảnh hưởng tới khả năng sống của tinh trùng

Trang 18

* Nguyên nhân do tử cung và ống dẫn trứng

Phụ nữ có tiền sử về nhiễm trùng sinh dục như viêm cổ tử cung, ống dẫn trứng làm chít hẹp hoặc tắc ống dẫn trứng do đó trứng không thể di chuyển vào buồng tử cung Phụ nữ trước đây có đặt vòng, nạo thai, sẩy thai hoặc thai ngoài tử cung cũng có thể làm thay đổi cấu trúc bình thường của tử cung và ống dẫn trứng như dính buồng tử cung hoặc tắc ống dẫn trứng Ngoài ra còn có một số nguyên nhân khác như dị dạng tử cung, u xơ tử cung, phẫu thuật vùng chậu, viêm vùng chậu, viêm ruột thừa…

* Hội chứng đa nang buồng trứng hay còn gọi là hội chứng Stein-Leventhal

Đây là bệnh gây ra do tình trạng rối loạn nội tiết và là một trong những nguyên nhân gây vô sinh do không rụng trứng hay rối loạn phóng noãn Bệnh thường xuất hiện vào tuổi dậy thì nhưng cũng có thể xuất hiện vào tuổi từ 20 đến 25 Những phụ nữ bị buồng trứng đa nang thường là những người có sự gia tăng bất thường về nồng độ Testosterone và LH, những chất này sẽ làm gián đoạn quá trình phát triển của nang noãn Buồng trứng xuất hiện nhiều nang nhỏ (từ 6 – 10 nang < 10mm) do nang noãn không phát triển được, trứng không thể trưởng thành và không có hiện tượng rụng trứng [38]

* Nguyên nhân do rối loạn rụng trứng

Rối loạn rụng trứng thường được biểu hiện qua tình trạng kinh nguyệt như kinh thưa (chu kỳ kinh nguyệt trên 35 ngày) hay vô kinh (không có kinh từ 3 đến 6 tháng trở lên) Nguyên nhân rối loạn rụng trứng có rất nhiều như rối loạn về yếu tố tâm lý, tăng cân hoặc giảm cân trên 20% trọng lượng cơ thể hoặc các bệnh lý như buồng trứng đa nang, suy buồng trứng sớm…

* Nguyên nhân do bệnh lạc nội mạc tử cung

Lạc nội mạc tử cung (LNMTC) là một bệnh lý đặc biệt, là sự di chuyển của nội mạc tử cung đến một nơi khác ngoài buồng tử cung Ở đó, nội mạc tử cung tiếp tục chịu ảnh hưởng của nội tiết tố sinh dục, phát triển và thoái triển theo chu kỳ kinh nguyệt Đây là một bệnh lý khá phổ biến, chiếm tỷ lệ khoảng 2% phụ nữ lứa tuổi sinh

Trang 19

đẻ Bệnh thường tiến triển âm thầm, có thể trong nhiều năm, gây hậu quả tai hại, nhất

là vô sinh

Cho đến nay, người ta vẫn chưa hiểu rõ ràng về cơ chế bệnh sinh của LNMTC Song, có 3 giả thuyết về nguyên nhân của LNMTC được đưa ra và chưa có giả thuyết nào thật sự thuyết phục Đó là hiện tượng hành kinh ngược chiều, máu trào ngược qua vòi trứng vào ổ bụng Các tổ chức nội mạc sẽ bám vào các cơ quan trong ổ bụng và tiếp tục phát triển, gây bệnh; Dị sản tế bào do các tế bào phôi còn tồn tại biệt hóa thành

tổ chức của ống Muller; Do tắc nghẽn bạch mạch hay nghẽn mạch khi di chuyển Có một số yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ mắc bệnh của LNMTC như đặt vòng, tắc nghẽn đường sinh dục bẩm sinh…

* Các vấn đề về nội tiết tố

Vấn đề rụng trứng: Buồng trứng hoạt động bất thường, không phóng noãn, thậm chí rụng trứng không đều cũng khiến cho nữ giới không thể có thai Ví dụ, bệnh nội tiết (u sinh prolactin của tuyến yên) gây vô kinh

Các vấn đề về nội tiết tố khác: Mặc dù có trứng để thụ tinh, nhưng do rối loạn nội tiết mà các nội tiết tố trong cơ thể nữ giới không thể cung cấp môi trường thích hợp cho trứng sống sót và trưởng thành

* Tuổi của người phụ nữ:

Tuổi tác là một trong những yếu tố ảnh hưởng đáng kể đến khả năng sinh sản của nữ giới Khả năng thụ thai ở phụ nữ đạt ngưỡng cao nhất ở tuổi từ 20-24, giảm dần khi ngoài 35 tuổi và càng giảm nhanh khi đạt tuổi 40 Sở dĩ có sự suy giảm này là do

sự giảm về số lượng cũng như chất lượng của trứng khi nữ giới ngoài tuổi 35

* Các yếu tố về lối sống, công việc

- Tình trạng quá béo phì (Chỉ số khối cơ thể - BMI ≥ 23) hoặc quá gầy (BMI ≤ 18) thường bị chứng không rụng trứng và nếu có rụng trứng sẽ ít có khả năng thụ thai

- Hút thuốc lá và uống rượu : tuy ít gặp ở nữ giới, đặc biệt là nữ giới Việt Nam, tuy nhiên, một số nghiên cứu chứng minh các chất này có liên quan đến tình trạng vô

Trang 20

sinh Hút thuốc lá hoặc uống cà phê làm giảm khả năng thụ thai và sớm mãn kinh

- Nghề nghiệp: một số nghề thường xuyên tiếp xúc với tia xạ, hóa chất độc hại, xăng – dầu, các loại thuốc nhuộm – in, nhiệt độ cao, thuốc trừ sâu … cũng là yếu tố ảnh hưởng đến khả năng thụ thai của nữ giới

- Thuốc và trị liệu: các loại thuốc chống trầm cảm, thuốc hóa trị liệu ung thư, và một số loại thuốc kháng sinh, … có khả năng tăng nguy cơ vô sinh – hiếm muộn nữ

- Căng thẳng tâm lý (stress) : áp lực trong công việc cũng như những căng thẳng xoay quanh vấn đề muộn con có thể làm ảnh hưởng đến quan hệ vợ chồng, nghiêm trọng hơn nữa có thể gây lãnh cảm, làm giảm tần suất giao hợp Những điều này không những không có lợi trong điều trị vô sinh – hiếm muộn mà còn góp phần ảnh hưởng đến tình trạng vô sinh – hiếm muộn

1.3.2.2 Nguyên nhân do yếu tố di truyền

Các nguyên nhân di truyền ở mức độ tế bào gây vô sinh ở nữ giới thường là do bất thường về số lượng và cấu trúc nhiễm sắc thể, hay gặp nhất là hội chứng Turner ở thể thuần hoặc thể khảm như 45,X; 45,X/46,XX; 45,X/46, XX/47,XXX hay 46,XX/47,XXX…

Ngoài ra các nguyên nhân di di truyền ở mức độ phân tử cũng gây vô sinh ở nữ như: hội chứng đứt gãy nhiểm sắc thể X (Hội chứng Fragile X - FRAX), hội chứng Kallmann do đột biến gen KAL1, hội chứng suy hạ đồi…

1.3.3 Nguyên nhân vô sinh do người chồng

1.3.3.1 Các nguyên nhân không do yếu tố di truyền

* Tinh hoàn không xuống bìu:

Không sờ thấy tinh hoàn ở 1 hoặc 2 bên bìu, bệnh chiếm 3% trẻ sơ sinh nam Khi trẻ 1 tuổi, tỷ lệ bệnh giảm xuống 1% vì trong năm đầu tinh hoàn vẫn còn khả năng tiếp tục đi xuống bìu Khi trẻ trên 2 tuối mà tinh hoàn chưa xuống bìu thì có dấu hiệu tổn thương biểu mô mầm Theo GS.BS Nguyễn Bửu Triều, những trường hợp bất thường như tinh hoàn không xuống bìu gây rối loạn trầm trọng trong quá trình sản xuất

Trang 21

tinh trùng ở tinh hoàn [13]

* Viêm tinh hoàn:

Theo Ivrine (2002), viêm tinh hoàn do quai bị là một biến chứng của khoảng 27% - 30% nam giới bị quai bị ở sau độ tuổi 10-11 tuổi Trong 17% các trường hợp viêm tinh hoàn 2 bên và dẫn đến di chứng teo ống sinh tinh [34] Ngoài ra, bệnh lậu, giang mai

và bệnh phong không được điều trị cũng gây vô sinh do viêm tinh hoàn và tắc ống dẫn tinh [13]

* Giãn tĩnh mạch tinh:

Giãn tĩnh mạch tinh là tình trạng bệnh lý biểu hiện giãn và xoắn thành từng búi tĩnh mạch tinh hoàn đoạn trong thừng tinh, là trạng thái thứ phát do tăng áp lực tĩnh mạch Theo Irvine (2002), giãn tĩnh mạch tinh chiếm 5%-25% ở nam giới khỏe mạnh, nhưng ảnh hưởng 11% ở nam giới có tinh dịch bình thường và 25% ở nam giới có tinh dịch bất thường [34]

Theo WHO, GTMT xảy ra ở 11,7% nam giới có tinh dịch đồ bình thường và ở 25,4% nam giới có tinh dịch đồ bất thường Hơn 80% trường hợp GTMT không bị hiếm muộn nhưng 35%-40% nam giới hiếm muộn nguyên phát bị GTMT, 69%-81% nam giới hiếm muộn thứ phát bị bệnh này

* Do bất thường hormon sinh dục:

Là tình trạng mất cân bằng giữa các hormon hướng sinh dục (gonadotropin) như

LH, FSH, hormon sinh dục (androgen) như testosteron, vv… hoặc thụ cảm của androgen tại tinh hoàn không bình thường gây ra hiện tượng rối loạn chu trình hoạt động tình dục và sinh tinh Thiểu năng nội tiết hướng sinh dục gây giảm nồng độ LH

và FSH trong máu, hậu quả làm giảm quá trình sinh tinh một phần hoặc hoàn toàn

* Tắc nghẽn đường sinh dục:

KCTT, tinh hoàn và FSH bình thường là dấu hiệu nghĩ tới tắc nghẽn đường sinh dục Tắc nghẽn ống sinh dục bẩm sinh và sau khi thắt ống dẫn tinh là phổ biến, nhưng sau những nguyên nhân nhiễm các bệnh như lao, lậu cầu là những nguyên nhân thường

Trang 22

gặp [34]

* Do nhiễm khuẩn:

Nhiễm khuẩn sinh dục có thể là nguyên nhân gấy vô sinh nam giới Mắc các bệnh truyền qua đường sinh dục, nhất là viêm mào tinh hoàn hay viêm tinh hoàn có thể dẫn đến vô sinh của nam giới

* Do chấn thương tinh hoàn:

Làm đứt các ống sinh tinh, có thể gây teo tinh hoàn về sau, các phẫu thuật vùng bẹn có thể làm tổn thương mạch máu nuôi tinh hoàn hoặc thừng tinh [13]

* Nguyên nhân miễn dịch:

Vô sinh do nguyên nhân miễn dịch được phát hiện tới 3% các trường hợp, phát hiện 10% tinh trùng di động được bao phủ bởi kháng thể Rất khó để xác định những ảnh hưởng của kháng thể này tới vô sinh Nhiều nghiên cứu cho thấy rằng “kháng thể - dương tính” làm cho việc thụ thai giảm hơn những trường hợp không có vấn đề miễn dịch [34]

* Các yếu tố nghề nghiệp và môi trường:

Cơ sở dữ liệu về các bệnh nghề nghiệp ành hưởng tới sinh sản nam giới vẫn còn đang được tranh luận Phơi nhiễm kim loại nặng như cadmium, chì, arsenic và kẽm đã được báo cáo là làm suy giảm sự sinh tinh Tuy nhiên, các số liệu này vẫn còn mâu thuẫn Mặt khác, thuốc bảo vệ thực vật và một số chất hóa học khác đã được chứng minh rõ ràng là chúng có ảnh hưởng tới số lượng và chất lượng tinh trùng [34] Thực tế cũng có nhiều nghiên cứu đã cho thấy nghề nghiệp hoặc môi trường có tiếp xúc với nhiệt độ cao ảnh hưởng tới sự sinh tinh [83]

Theo kết quả khảo sát tinh dịch đồ trên 400 cặp vợ chồng hiếm muộn, Duy và

cs cũng cho thấy nhóm nghề nghiệp có tiếp xúc với thuốc trừ sâu, các thông số về mật

độ, độ di động và hình dạng tinh trùng đều giảm so với nhóm không có tiếp xúc với thuốc trừ sâu [5]

* Bệnh lý toàn thân:

Trang 23

Suy thận mạn tính dẫn đến rối loạn điều hòa trực tiếp hạ đồi tuyến yên và gián tiếp ức chế chức năng tinh hoàn Suy gan mạn tính gây rối loạn nội tiết dẫn đến giảm sinh tinh, teo tinh hoàn, nữ hóa, giảm chức năng sinh hoạt tình dục Theo báo cáo của Handelsman, các bệnh lý về đường tiêu hóa, huyết học, nội tiết đều được báo cáo có tác dụng giảm quá trình sinh tinh [30]

Sinh tinh có thể bị tác động trực tiếp hoặc gián tiếp do bệnh toàn thân như bệnh tiểu đường, hoặc do dùng thuốc trong quá trình điều trị (suy gan, suy thận, bệnh tuyến giáp, hội chứng Cushing, bệnh máu,vv…) Một số thuốc có thể làm suy giảm sinh sản tinh trùng, thông thường nhất là sulfasalazin [34]

Những chất có tính chất kích thích mạnh như thuốc lá, rượu và ma túy cũng có liên quan tới chất lượng tinh trùng Nghiên cứu của Duy cs, (2001) tại bệnh viện Phụ sản Từ Dũ cũng cho thấy chất lượng tinh trùng giảm ở những người hút thuốc là và uống rượu [5]

* Tuổi của bệnh nhân:

Tuổi của bệnh nhân vô sinh nam liên quan đến độ tuổi xây dựng gia đình và rõ ràng tuổi tác có ảnh hưởng đến số lượng và chất lượng tinh trùng Tuổi càng cao thì số lượng tinh trùng càng giảm, nên những người lớn tuổi thường ITT hơn là KCTT

Như vậy, có rất nhiều nguyên nhân đã được xác định gây nên vô sinh nam giới Tuy nhiên, theo Krausz, khoảng 70% các trường hợp vô sinh nam giới là tìm thấy nguyên nhân, còn lại 30% các trường hợp chưa tìm thấy nguyên nhân và được xem là

tự phát Trong hầy hết các trường hợp chưa rõ nguyên nhân thường do bất thường di

truyền, đặc biệt bất thường ở mức độ phân tử [33]

1.3.3.2 Nguyên nhân do yếu tố di truyền

Bất thường di truyền nói chung và bất thường NST nói riêng được coi là một trong những nguyên nhân gây ITT hoặc KCTT, đôi khi do không được chẩn đoán xác định nên đôi khi được xếp váo nhóm KCTT không rõ nguyên nhân

Trong các nguyên nhân do bất thường NST, thường gặp nhất là hội chứng

Trang 24

Klinefelter và các biến thể của hội chứng này Hội chứng Klinefelter do nguyên nhân

có thêm một NST X trong bộ NST ở nam giới (47, XXY) Có thể gặp một số dạng khác như thể khảm 47, XXY/46, XY; hoặc 48, XXXY; 48,XXYY, vv…

Ngoài nguyên nhân do rối loạn NST thì rối loạn di truyền ở mức độ phân tử cũng gây vô sinh ở nam giới hay gặp nhất là mất đoạn nhỏ trên NST Y xảy ra ở ba vùng AZFa, AZFb, AZFc gây rối loạn trong quá trình sinh tinh ở các mức độ khác nhau từ không sản sinh trùng hay sản sinh được ít và rất ít tinh trùng [85] Ngoài ra còn

do các đột biến gen trên các NST khác như: đột biến gen CFRT trên nhánh dài NST số

7 gây u nang [34], đột biến trên đoạn gen KALIG-1 ở nhánh ngắn (Xp22.3) gây hội chứng di truyền liên kết NST X [16], mất đoạn gần nhánh dài của NST số 15 ở băng q11-q13 gây hội chứng Prader-Willi… Nam giới bị hội chứng này thường vô sinh do không có quá trình sinh tinh [3]

1.4 Tình hình nghiên cứu nhiễm sắc thể ở những cặp vợ chồng vô sinh nguyên phát

1.4.1 Trên thế giới

1.4.1.1 Tần số rối loạn nhiễm sắc thể ở những cặp vợ chồng vô sinh nguyên phát

Raczkiewicz B và cs 1983) tiến hành nghiên cứu 311 cặp vợ chồng vô sinh Các tác giả đã phát hiện ra có 26 trường hợp (ở người vợ hoặc người chồng) mang bất thường NST (chiếm tỷ lệ 4,18%) [64]

Tiến hành phân tích NST và lập karyotyp ở 500 cặp vợ chồng (1000 trường hợp) vô sinh, Hens và cs (1988), đã tìm thấy 13 trường hợp (vợ hoặc chồng) có rối loạn NST (chiếm tỷ lệ 1,3%) [32]

Theo nghiên cứu của Karzorek và cs (1991) khi nghiên cứu 255 cặp vợ chồng

vô sinh cho thấy: có 15 trường hợp (6,7%) mang bất thường NST ở một trong hai người vợ hoặc chồng

Năm 1996, Testart và cs nghiên cứu NST ở 261 cặp vợ chồng vô sinh (522 trường hợp), kết quả cho thấy có 14 trường hợp (ở người vợ hoặc chồng) mang rối loạn

Trang 25

NST (chiếm tỷ lệ 2,68%) [81]

Báo cáo của Peschka và cs (1999) khi phân tích và lập karyotyp của 781 cặp vợ chồng vô sinh (1562 trường hợp), các tác giả này đã tìm thấy có 204/1562 trường hợp (chiếm tỷ lệ 13,1%) (vợ hoặc chồng) có bất thường về NST [62]

Cũng trong năm 1999, Hocquet và cs đã phát hiện ra có 7 trường hợp (1,26%) các cặp vợ chồng có một trong hai người vợ hoặc chồng mang rối loạn NST khi tiến hành phân tích NST của 277 cặp vợ chồng vô sinh

Ở Italy, năm 2004, Clementini và cs đã phân tích NST của 1155 cặp vợ chồng

vô sinh nguyên phát (2310 trường hợp) vô sinh Kết quả cho thấy có 34 trường hợp (vợ hoặc chồng) có bất thường NST (chiếm tỷ lệ 1,47%) [20]

Khi tiến hành xét nghiệm NST của 2650 cặp vợ chồng (5300 trường hợp) vô sinh Kayed và cs (2006) đã phát hiện ra có: 162 cặp vợ chồng (chiếm tỷ lệ 3,06%) có một trong hai người bị rối loạn NST [36]

Marchina và cs (2007) nghiên cứu 470 cặp vợ chồng vô sinh (940 trường hợp) phát hiện có 2,55% quang sai NST gồm thay đổi số lượng và cấu trúc NST thường và NST giới tính ở một trong hai vợ hoặc chồng [46]

Nghiên cứu 290 cặp vợ chồng (580 trường hợp) Smogavec và cs (2009) phân tích NST và lập karyotyp ở các cặp vợ chồng này đã phát hiện được 87 trường hợp (chiếm tỷ lệ 15%) vợ hoặc chồng có bất thường NST [76]

Rosenbusch (2010) đã phân tích sự di truyền bất thường của 430 cặp vợ chồng (860 trường hợp) Kết quả tác giả đã phát hiện được 28 trường hợp bất thường về NST (chiếm tỷ lệ 3,26%) [70]

Theo một nghiên cứu khác trên 80 cặp vợ chồng (160 trường hợp) vô sinh nguyên phát của Butnariu và cs (2010), đã phát hiện có 20 trường hợp (vợ hoặc chồng) mang rối loạn NST (chiếm tỷ lệ 12,5%) [18]

Năm 2011, G.M Tiboni và cs, nghiên cứu 1146 cặp vợ chồng vô sinh (2292 trường hợp) Các tác giả đã phát hiện ra có 35 trường hợp (vợ hoặc chồng) mang bất

Trang 26

thường NST (chiếm tỷ lệ 1,53%) [84]

1.4.1.2 Tần số rối loạn nhiễm sắc thể giữa người vợ và người chồng

Chandley khi phân tích NST ở những cặp vợ chồng vô sinh nguyên phát đã có nhận xét rằng: Rối loạn NST gây vô sinh ở cả người vợ và người chồng, nhưng phổ biến hơn ở người chồng [31]

Testart và cs (1996) khi tiến hành nghiên cứu di truyền tế bào ở 261 cặp vợ chồng vô sinh đã phát hiện được 14 trường hợp (vợ hoặc chồng) có biểu hiện rối loạn NST, trong đó 11 trường hợp rối loạn NST ở người chồng (chiếm 2,11%) và ở người

vợ có 3 trường hợp (chiếm 0,57%) [81]

Năm 1998, Maschede và cs tiến hành phân tích NST của 434 cặp vợ chồng vô sinh Các tác giả đã cho rằng: mặc dù yếu tố vô sinh nam là phổ biến nhưng trong nhóm này vô sinh nữ nhiều gấp 2 lần Trong 33 trường hợp bất thường NST thì có 24 trường hợp bất thường được tìm thấy ở người vợ (chiếm tỷ lệ 2,76%) và 9 trường hợp

ở người chồng (chiếm tỷ lệ 1,04%) [50]

Khi tiến hành làm xét nghiệm NST cho 811 cặp vợ chồng (1622 trường hợp) vô sinh Soontag và cs (2001) đã phát hiện ra 26 trường hợp ở người vợ (chiếm tỷ lệ 1,6%) thể khảm NST giới tính ở mức độ thấp và 28 trường hợp ở người chồng (chiếm

tỷ lệ 1,73%) [78]

Wiland E và cs (2001) tiến hành nghiên cứu NST ở 47 cặp vợ chồng vô sinh Kết quả các tác giả đã phát hiện ra 19% ở người chồng và 6% ở người vợ có bất thường NST [89]

Năm 2006, Kayed và cs nghiên cứu NST của 2650 cặp vợ chồng (5300 trường

hợp) vô sinh, kết quả cho thấy: 138/5300 trường hợp người chồng có biểu hiện rối loạn NST (chiếm tỷ lệ 2,61%) và người vợ là 24 trường hợp (chiếm tỷ lệ 0,45%) Như vậy, bất thường NST ảnh hưởng đến vô sinh và xảy ra ở cả hai giới nhưng nam giới vẫn chiếm tỷ lệ cao hơn [36]

Nazmy (2008) nghiên cứu ở 21 cặp vợ chồng vô sinh nguyên phát ở Ai Cập,

Trang 27

phân tích NST và lập karyotyp, tác giả đã phát hiện được 6 trường hợp (14,28%) (vợ hoặc chồng) có biểu hiện rối loạn NST, bao gồm 4 trường hợp (9,52%) ở người chồng

G.M Tiboni và cs, năm 2011, nghiên cứu 1146 cặp vợ chồng vô sinh (2292 trường hợp) đã tìm ra bất thường NST gặp ở người chồng là 0,92% và ở người vợ là 0,61% [84]

1.4.1.3 Các kiểu rối loạn nhiễm sắc thể ở người vợ và người chồng

Hens và cs (1988) phân tích NST ở 500 cặp vợ chồng vô sinh đã phát hiện được:

- 5 trường hợp rối loạn NST thường (ở vợ hoặc chồng), bao gồm 3 trường hợp chuyển đoạn tương hỗ và 2 trường hợp đảo đoạn NST

- 8 trường hợp rối loạn NST giới tính bao gồm 2 trường hợp ởngười chồng có karyotyp 47,XXY và 47,XY, mar+; 6 trường hợp ở người vợ thì 4 trường hợp ở thể khảm số lượng NST giới tính và 2 trường hợp NST X đều nhánh dài i(Xq) [32]

U.A Mau và cs (1997) nghiên cứu NST ở 150 cặp vợ chồng vô sinh Kết quả cho thấy có 27 trường hợp mang rối loạn NST (chiếm tỷ lệ 8%), trong đó:

- 15 trường hợp mang rối loạn NST giới tính bao gồm:

+ 6 trường hợp ở người vợ: 2 trường hợp có có karyotyp 45,X/46,XX/47,XXX

Trang 28

46,inv(X)(p11.23q27.3)Y); 1 trường hợp mang chuyển đoạn giữa NST (Y;10))

- 12 trường hợp rối loạn NST thường thì ở người vợ có 3 trường hợp (2 trường hợp chuyển đoạn tương hỗ giữa NST (1;8); (1;21) và 1 trường hợp mang rối loạn đảo đoạn NST số 10); còn ở người chồng có 9 trường hợp (4 trường hợp mang chuyển đoạn hòa hợp tâm và cả 4 trường hợp này đều là chuyển đoạn giữa NST (13q;14q); 3 trường hợp chuyển đoạn tương hỗ giữa NST (5;14); (5;17); (12;14); 1 trường hợp đảo đoạn NST 16 và 1 trường hợp marker chromosome (47, XY,+mar) [47]

Năm 1998, Maschede và cs khi nghiên cứu rối loạn NST của 447 cặp vợ chồng Các tác giả đã tìm thấy có 33 trường hợp rối loạn NST, trong đó:

- 22 trường hợp rối loạn NST giới tính:

+ Người vợ có 19 trường hợp: 17 trường hợp là hội chứng Turner ở thể khảm có các karyotyp sau: 8 trường hợp 45,X/46,XX; 4 trường hợp 45,X/46,XX/47,XXX; 2 trường hợp 45,X/46,XX/48,XXXX, 1 trường hợp 45,X/47,XXX/49,XXXXX/46,XX, 1 trường hợp 45,X/49,XXXXX/46,XX; 1 trường hợp 45,X/46,XXq-/46,XX

2 trường hợp là hội chứng 3X: 1 trường hợp ở dạng thuần 47, XXX

và 1 trường hợp ở thể khảm 46,XX/47,XXX)

+ Người chồng có 3 trường hợp rối loạn NST giới tính, tất cả đều ở thể khảm bao gồm các karyotyp: 1 trường hợp 45,X/46,XY; 1 trường hợp 47, XXY/46,XY và 1 trường hợp 47,XY,+mar/48,XY,+mar,+mar/46,XY

- 11 trường hợp rối loạn NST thường bao gồm:

+ 5 trường hợp ở người vợ: 4 trường hợp chuyển đoạn giữa NST (2;12), (10;14), (3;15), (10;12) và 1 trường hợp 45, XX,der(13,14)(q10,q10)

+ 6 trường hợp ở người chồng: 2 trường hợp mang chuyển đoạn NST 46,XY,t(2;21)(q33;q22) và 46,XY,t(5;8)(q22;q24.1); 2 trường hợp đảo đoạn 46,XY,inv(12)(q15q24.1) và 46,XY,inv(11)(q22q24); 1 trường hợp 45,XY,der(13;15)(q10;q10) và 1 trường hợp 45,XY,der(13;14)(q10;q10)mat [50]

Haidl và cs (2000) phân tích NST của 305 cặp vợ chồng (610 trường hợp) đã

Trang 29

phát hiện ra 20 trường hợp mang rối loạn NST bao gồm:

- 17 trường hợp rối loạn NST thường:

+ Người vợ có 9 trường hợp trong đó 2 trường hợp mang chuyển đoạn giữa NST (5;19), (3;18); 2 trường hợp mang chuyển đoạn hòa hợp tâm giữa NST (13;14), (14;15); 2 trường hợp đảo đoạn ở NST số 5, số 18; 2 trường hợp 46,XX, der (9),add(9)(p12) và 1 trường hợp 46,XX, dic

+ Người chồng có 8 trường hợp, tất cả đều là rối loạn về cấu trúc NST, chủ yếu

là kiểu rối loạn chuyển đoạn (gồm có 5 trường hợp chuyển đoạn tương hỗ giữa các NST (1;2); (4;5); (1;21); (3;12); (1;5); 1 trường hợp mang chuyển đoạn hòa hợp tâm giữa NST (13;14)) Ngoài ra còn có 1 trường hợp mang đảo đoạn NST số 7 và 1 trường hợp 46,XY, der (9)

- 3 trường hợp rối loạn NST giới tính thì có 1 trường hợp ở người vợ (47, XXX)

và 2 trường hợp ở người chồng (47, XXY và 46,XY, der (Y)) [29]

Clementini và cs (2004) tiến hành nghiên cứu NST của 1155 cặp vợ chồng vô sinh nguyên phát Kết quả các tác giả đã phát hiện ra:

- 16 trường hợp mang rối loạn NST giới tính:

+ 4 trường hợp ở người vợ, tất cả đều là hội chứng Turner ở thể khảm 46, XX/45, X; 1 trường hợp maker chromosome 47,XX + mar; còn

+ 10 trường hợp ở người chồng, tất cả đều là hội chứng Klinefelter trong đó có 5 trường hợp ở thể thuần 47, XXY; 5 trường hợp ở thể khảm có các karyotyp: 2 trường hợp 46,XY/47,XXY ; 2 trường hợp 46,XY/47,XXY/46,XX và 1 trường hợp 46,X del(Y)(q11) /45,X, ngoài ra tác giả còn phát hiện thấy có 1 trường hợp mang đảo đoạn NST (Y) và 1 trường hợp 46,XY der21 t(21;Y)(p11;q11)

- 18 trường hợp mang rối loạn NST thường bao gồm:

+ 6 trường hợp ở người vợ: 3 trường hợp mang rối loạn chuyển đoạn giữa các NST (13;14), (2;5), (1;8); 1 trường hợp đảo đoạn NST số 2; 1 trường hợp lặp đoạn NST số 18 và 1 trường hợp 47,XX + mar

Trang 30

+ 12 trường hợp ở người chồng: 11 trường hợp mang chuyển đoạn NST, trong

đó chủ yếu là chuyển đoạn giữa NST (13;14) có 5 trường hợp, còn lại là chuyển đoạn giữa NST (14;21), (13;15), (1;12), (1;5), (2;10), (6;10) và 1 trường hợp mang đảo đoạn NST 12 [20]

Năm 2006, Keyed và cs, khi nghiên cứu NST ở 2650 cặp vợ chồng vô sinh đã phát hiện ra 162 trường hợp rối loạn NST (chiếm tỷ lệ 3,06%), trong đó có 117 trường hợp rối loạn NST giới tính (113 trường hợp ở người chồng và 4 trường hợp ở người vợ) và 45 trường hợp rối loạn NST thường (25 trường hợp ở người chồng và 20 trường hợp ở người vợ) [36]

Một nghiên cứu khác của Pasinska và cs (2006) khi phân tích NST ở 35 cặp vợ chồng (70 trường hợp) vô sinh nguyên phát Kết quả cho thấy có 6 trường hợp (vợ hoặc chồng) mang rối loạn NST (chiếm tỷ lệ 8,57%) gồm

- 3 trường hợp rối loạn NST giới tính:

+ Người chồng có 2 trường hợp, tất cả đều là hội chứng Klinefelter ở thể thuần

47, XXY

+ Người vợ có 1 trường hợp là Isochromosome i(Xq)

- 3 trường hợp rối loạn NST thường thì cả 3 trường hợp này đều xảy ra ở người chồng và đều là chuyển đoạn NST, trong đó có 2 trường hợp chuyển đoạn tương hỗ t(15;16)(q13;p13.3), t(1;19)(p35;q13.3) và 1 trường hợp mang chuyển đoạn hòa hợp tâm t(14;21)(q10;q10) [61]

Rajangam và cs (2007) khi nghiên cứu 1666 cặp vợ chồng (3332 trường hợp) vô sinh Các tác giả đã phát hiện ra: có 56 trường hợp (vợ hoặc chồng) bất thường NST (chiếm tỷ lệ 1,68%) Trong đó:

- Có 34 trường hợp rối loạn NST thường:

+ 15 trường hợp ở người chồng, thì tất cả đều mang rối loạn chuyển đoạn, trong

đó có 11 trường hợp mang chuyển đoạn tương hỗ, 4 trường hợp chuyển đoạn hòa hợp tâm và cả 4 trường hợp này đều là chuyển đoạn giữa NST (13;14)

Trang 31

+ 19 trường hợp ở người vợ, tất cả đều mang rối loạn chuyển đoạn NST, bao gồm 14 trường hợp mang chuyển đoạn tương hỗ, 5 trường hợp mang chuyển đoạn hòa hợp tâm chủ yếu giữa các NST (13;13), (13;14)

- 22 trường hợp rối loạn NST giới tính:

+ Ở người chồng có 5 trường hợp: 1 trường hợp ở thể thuần 47, XXY và 3 trường hợp ở thể khảm gồm: 1 trường hợp 46,XY/47,XXY; 1 trường hợp 46,XY/48,XXXY; 1 trường hợp 46,XY/47,XYY và 1 trường hợp mang rối loạn đảo đoạn NST (Y)

+ Ở người vợ có 17 trường hợp: có 13 trường hợp rối loạn số lượng NST giới tính: 7 trường hợp mang hội chứng Turner (45, X/46, XX), 6 trường hợp mang hội chứng 3X (46, XX/47, XXX); Và 4 trường hợp rối loạn cấu trúc NST giới tính, chúng đều ở dạng chuyển đoạn tương hỗ giữa các NST (X;14); (X;22) [65]

Cũng trong năm 2007, Marchina và cs đã phát hiện ra có 2,55% mang bất thường NST khi tiến hành nghiên cứu NST của 470 cặp vợ chồng (940 trường hợp) Trong đó:

- Bất thường NST giới tính có 17 trường hợp:

+ Người vợ có 6 trường hợp: Tất cả đều tồn tại ở thể khảm

+ Người chồng có 11 trường hợp bao gồm 1 trường hợp ở thể khảm thấp (0,21%), 2 trường hợp đảo ngược NST Y (0,42%) và 8 trường hợp (1,7%) Yq microdeletions

- Bất thường NST thường có 14 trường hợp

+ 7 trường hợp ở người vợ: chủ yếu là bất thường về cấu trúc (5 trường hợp) và

2 trường hợp 47, XX,+mar (0,42%) cũng được tìm thấy

Trang 32

+ Ở người chồng có 7 trường hợp bao gồm 5 trường hợp rối loạn số lượng NST giới tính (2 trường hợp 47, XXY ở thể thuần; 3 trường hợp ở thể khảm (2 trường hợp

45, X/46, XY và 1 trường hợp 47,XY,+18/46,XY)); Và 2 trường hợp rối loạn cấu trúc NST giới tính (1 chuyển đoạn tương hỗ (Y,18), 1 trường hợp mất đoạn NST Y)

+ Ở người vợ có 11 trường hợp, tất cả đều là hội chứng Turner ở thể khảm có các karyotyp là 5 trường hợp 45,X/47,XXX/46,XX; 2 trường hợp 45,X/46,XX; 1 trường hợp 45,X/48,XXXX/46,XX; 1 trường hợp 45,X/49,XXXXX/46,XX; 1 trường hợp 45,X/52,XXXXXXXX/46,XX và 1 trường hợp 45,X/47,XX,+del(X)(q21.2)/46,XX)

- 10 trường hợp rối loạn NST thường trong đó người chồng có 7 trường hợp (2 trường hợp chuyển đoạn tương hỗ (13;18), (2;6;12); 4 trường hợp chuyển đoạn hòa hợp tâm (13;14), (14;21) và 1 trường hợp mất đoạn NST (12); ở người vợ có 3 trường hợp (2 trường hợp chuyển đoạn tương hỗ (1;22), (1;13) và 1 trường hợp chuyển đoạn hòa hợp tâm (13;14)) [70]

Mitroi A (2012) phát hiện 3 trường hợp mang rối loạn NST khi nghiên cứu 26 cặp vợ chồng vô sinh, trong đó ở người vợ có 1 trường hợp mang rối loạn chuyển đoạn

ở NST thường 46,XX,t(3;18)(q24;q11); còn ở người chồng có 2 trường hợp: 1 trường hợp mất đoạn ở NST giới tính Y karyotyp là 46,XdelY(q11.23→qter) và 1 trường hợp chuyển đoạn ở NST thường 46,XY,t(11;22)(q23;q11.2) [51]

1.4.2 Ở Việt Nam

Ở Việt Nam, một số công trình nghiên cứu về vô sinh, cho thấy tỷ lệ vô sinh có

xu hướng tăng Điều tra dân số năm 1980, tỷ lệ này chỉ ở mức 7-10%, đến năm 1982,

tỷ lệ vô sinh chung ở Việt Nam lên đến 13%, trong đó vô sinh nữ chiếm 54%, vô sinh nam chiếm 36% và vô sinh không rõ nguyên nhân chiếm 10% [10]

Theo Phan Văn Quyền (2000) tỷ lệ vô sinh là 10-15% [12] Theo Trần Thị Trung Chiến và cs (2002) đã công bố tỷ lệ vô sinh chiếm 5% [4]

Ngô Gia Hy (2000), đã nhận định rằng trong số các cặp vợ chồng bị vô sinh thì

Trang 33

nguyên nhân do người vợ là 50%, do người chồng là 40% và do cả hai vợ chồng là 10% [7]

Nghiên cứu của Nguyễn Khắc Liêu và cs tại Viện Bảo vệ Bà mẹ và trẻ sơ sinh

từ năm 1993-1997 cho thấy vô sinh nữ giới chiếm 54,5%, vô sinh nam giới chiếm 35,6%, vô sinh không rõ nguyên nhân là 10% [8]

Theo nhận xét của Trần Quán Anh, hiện nay cứ 100 cặp vợ chồng thì có khoảng

15 cặp vợ chồng không thể có con, trong đó trên 50% nguyên nhân là do nam giới, tỷ

lệ này đang có chiều hướng gia tăng mạnh [13]

Theo báo cáo của Trần Thị Phương Mai (2001), vô sinh nguyên nhân do nữ giới thường chiếm khoảng 30% các trường hợp Khoảng 20% các trường hợp tìm thấy nguyên nhân vô sinh ở cả hai vợ chồng Bên cạnh đó, có khoảng 20% các cặp vợ chồng

sẽ không tìm thấy nguyên nhân gây vô sinh [9]

Theo Nguyễn Bửu Triều (2002) thì hội chứng Klinefelter chiếm 1% các cá thể

vô sinh, 13-20% các trường hợp KCTT [13]

Trung Thị Hằng (2007) khi nghiên cứu đặc điểm karyotyp của những người nam không có tinh trùng đã phát hiện 9/37 bệnh nhân có karyotyp bất thường, chiếm tỷ

lệ 24% [6]

Theo nghiên cứu của Nguyễn Đức Nhự (2009), trong 125 trường hợp nam giới

bị vô sinh đã phát hiện ra có 26 trường hợp bất thường NST, chiếm tỷ lệ 20,8% Trong các bất thường đó thì hội chứng Klinefelter thể thuần và thể khảm chiếm tỷ lệ cao (18/26 trường hợp) [11]

Nhìn chung, theo thống kê của các tác giả nghiên cứu ở Việt Nam đều cho rằng nguyên nhân vô sinh do nam giới chiếm tỷ lệ gần bằng với vô sinh do nữ giới Với các

số liệu nêu trên, rõ ràng vô sinh đang là một vấn đề lớn về y học và toàn xã hội ở Việt Nam

Trang 34

Chương 2- ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Từ tháng 6 năm 2010 đến tháng 6 năm 2012, tổng số 187 cặp vợ chồng (374 trường hợp) trong đó tuổi ở người vợ thấp nhất là 21 tuổi, cao nhất là 44 tuổi và tuổi của người chồng thấp nhất là 22 tuổi, cao nhất là 51 tuổi, được chẩn đoán lâm sàng là

vô sinh nguyên phát từ các bệnh viện Phụ sản Trung ương, bệnh viện Phụ sản Hà Nội, Khoa sản bệnh viện Bạch Mai… đã gửi đến bộ môn Y sinh học – Di truyền, trường đại học Y Hà Nội yêu cầu xét nghiệm NST

2.1.1 Tiêu chuẩn chọn đối tượng

- Các cặp vợ chồng kết hôn ít nhất trong vòng 1 năm (≥1 năm) mà chưa có con lần nào

- Có sức khỏe bình thường và rất mong muốn có con

- Quan hệ tình dục bình thường và không dùng biện pháp tránh thai nào

- Không tiếp xúc với các loại hóa chất (chất độc hóa học và các hóa chất bảo vệ thực vật…), các chất đồng vị phóng xạ…

- Không nghiện rượu, thuốc lá

2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ

- Các cặp vợ chồng mắc các bệnh mãn tính (viêm gan siêu vi trùng, bệnh đái tháo đường…) và các bệnh nhiễm trùng đường sinh dục: ở người vợ (viêm lộ tuyến cổ

tử cung, viêm tắc vòi trứng, tử cung dị dạng…); ở người chồng (viêm tinh hoàn, giãn tĩnh mạch tinh…)

- Dị dạng về cơ quan sinh dục và tuyến sinh dục: ở người chồng như tinh hoàn không xuống bìu, tắc nghẽn ống sinh tinh bẩm sinh…; ở người vợ như tắc vòi trứng bẩm sinh, tử cung hai sừng, buồng trứng đa nang…

- Các cặp vợ chồng thường xuyên tiếp xúc với các loại hóa chất độc hại, thuốc bảo vệ thực vật, các chất đồng vị phóng xạ…

- Các cặp vợ chồng có vợ hoặc chồng hoặc cả hai nghiện rượu, thuốc lá…

Trang 35

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Lập hồ sơ bệnh án

Các cặp vợ chồng được chẩn đoán là vô sinh nguyên phát được thăm khám lâm sàng, khai thác tiền sử gia đình (có người nào bị vô sinh không), tiền sử bản thân (có mắc các bệnh mãn tính như viêm gan siêu vi trùng, bệnh đái tháo đường… và có bị chấn thương bộ phận sinh dục hay không), khai thác về tuổi, nghề nghiệp, môi trường làm việc, tiền sử mắc bệnh, nhiễm độc, quai bị, nghiện rượu, thuốc lá

2.2.2 Phương pháp phân tích nhiễm sắc thể và lập karyotyp

2.2.2.1 Nuôi cấy tế bào bạch cầu lympho máu ngoại vi theo phương pháp của

- Đậy nắp rồi để tuýp nuôi cấy trong tủ ấm 37oC thời gian 72 giờ

2.2.2.2 Phương pháp làm tiêu bản nhiễm sắc thể

Trang 36

- Cho từ từ 30ml dung dịch nhược trương KCl 0,075 M vào tuýp nuôi cấy

- Lắc nhẹ và để trong tủ ấm 37oC thời gian khoảng 45 phút

- Li tâm, loại bỏ phần dịch phía trên, giữ lại phần cặn chứa nhân tế bào và các cụm NST ở kỳ giữa

* Cố định tế bào

- Nhỏ từ từ dung dịch cố định Carnoy (3 methanol : 1 acid acetic ) vào tuýp nuôi cấy

- Sau đó li tâm loại bỏ dịch nổi ở phía trên (3 lần)

- Lần cuối cùng sau khi nhỏ dung dịch carnoy đem li tâm và loại bỏ dịch ở phía trên giữ lại khoảng 0,5ml dung dịch để nhỏ tiêu bản

* Lên tiêu bản

- Dùng ống hút nhỏ giọt pipet Pasteur hút lấy phần cặn chứa nhân tế bào và các cụm kỳ giữa và dàn tế bào đều lên lam kính sạch đã được để lạnh

- Để tiêu bản khô tự nhiên rồi tiến hành nhuộm tiêu bản

2.2.2.3 Phương pháp nhuộm tiêu bản bằng băng G theo phương pháp của Seabright M ( 1971) [73]

Chuẩn bị dụng cụ và hóa chất:

Dụng cụ: 5 cốc thủy tinh loại 100ml để đựng hóa chất và thuốc nhuộm, 2 cốc

mỏ thủy tinh loại 500ml đựng nước rửa tiêu bản

Hóa chất: NaCl 0,15N, Trypsin 1: 250 (Difco) KH2PO4, Na2HPO42H2O, Giemsa

Cách pha hóa chất:

Dung dịch Trypsin mẹ 5%

Dung dịch Trypsin sử dụng: 1 ml dung dịch Trypsin mẹ

49 ml dung dịch NaCl 0,15N Dung dịch đệm photphat KH2PO4 : 3,56g/1 lít

Na2HPO42H2O: 7,22g/1 lít H2O

Trang 37

Dung dịch Giemsa 4%: 2 ml dung dịch Giemsa mẹ

48 ml dung dịch đệm photphat pH 6,8 Các bước tiến hành được thực hiện trong điều kiện ở nhiệt độ phòng thí nghiệm: Nhúng tiêu bản vào cốc đựng dung dịch NaCl 0,15N thời gian khoảng 25 – 30 giây

Sau đó tiêu bản được cho vào một cốc khác đựng dung dịch Trypsin 0,1% (Difco 1: 250)

Rửa tiêu bản lặp lại 2 lần trong một cốc đựng dung dịch NaCl 0,15N

Tiêu bản được nhuộm bằng thuốc nhuộm Giemsa 4% pH = 7, thời gian 10 phút Tất cả các tiêu bản sau khi nhuộm xong được rửa trong 2 cốc đựng nước máy hoặc dưới vời nước máy chảy nhẹ Kiểm tra độ phân vùng của NST dưới kính hiển vi quang học, rồi sau đó để tiêu bản khô tự nhiên ở nhiệt độ phòng thí nghiệm

2.2.2.4 Phương pháp phân tích nhiễm sắc thể và lập karyotyp: theo tiêu chuẩn ISCN (2009) [74]

Phân tích NST được thực hiện dưới kính hiển vi quang học với độ phóng đại

1000 lần Mỗi cặp vợ chồng được phân tích NST:

- Với tiêu bản nhuộm băng G, chúng tôi phân tích 20 cụm kỳ giữa bao gồm: đếm số lượng NST, phát hiện những bất thường cấu trúc và số lượng của NST Trường hợp thể khảm có thể phân tích 100 cụm kỳ giữa

- Tiêu chuẩn đánh giá: quan sát tiêu bản dưới kính hiển vi quang học với độ phóng đại x1000, tìm các cụm NST của tế bào đang phân chia ở kỳ giữa Sau đó chọn các cụm có các NST trải đều trên một diện tích và tạo thành một đám tròn tương đối đều đặn, các NST không chồng chất lên nhau có thể phân biệt được từng chiếc và đếm chính xác số lượng NST của từng cụm Quan sát kỹ và phát hiện những bất thường về cấu trúc và số lượng NST

Lập karyotyp: Mỗi bệnh nhân được chọn 3 cụm kỳ giữa và lập karyotyp trên phần mềm của vi tính theo tiêu chuẩn ISCN – 2009 (An International System for

Trang 38

Human Cytogenetic Nomenclature)

Tổng hợp các số liệu đã quan sát rồi kết luận về số lượng và cấu trúc của bộ NST

Trang 39

Chương 3- KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

Trong thời gian từ tháng 6/2010 đến tháng 6/2012, tổng số 187 cặp vợ chồng đã được khám lâm sàng tại bệnh viện Phụ sản Trung Ương, bệnh viện Phụ sản Hà Nội, Khoa sản bệnh viện Bạch Mai… đã gửi đến bộ môn Y sinh học – Di truyền, trường Đại học Y Hà Nội yêu cầu xét nghiệm NST, phân tích và lập karyotyp, chúng tôi thu được kết quả như sau:

3.1 Tuổi của các cặp vợ chồng vô sinh nguyên phát

Tổng số 187 cặp vợ chồng (374 trường hợp) bị vô sinh nguyên phát Trong đó:

- Tuổi của người vợ thấp nhất là 21 tuổi, cao nhất là 44 tuổi, trung bình 29,78±5

- Tuổi của người chồng thấp nhất là 22 tuổi, cao nhất là 51 tuổi, trung bình 32,65±5,34

Bảng 1 Sự phân bố theo tuổi của các cặp vợ chồng vô sinh nguyên phát Tuổi

Số lượng (n) Tỷ lệ (%) Số lượng (n) Tỷ lệ (%) 20-24 19 10,16 5 2,67

Trang 40

karyotyp ở những cặp vợ chồng vô sinh nguyên phát đã cho thấy tuổi của người vợ hoặc người chồng cũng có ảnh hưởng đến khả năng sinh sản:

Menken và cs (1986) cho rằng: Khả năng sinh sản của nữ giới giảm dần theo tuổi, đặc biệt sau tuổi 35 Tỷ lệ vô sinh ở các nhóm tuổi tăng dần như sau: Nhóm tuổi 20-24 là 7%; 25-29 là 9%; 30-34 là 15%; 35-39 là 22% và 40-44 là 29% [49]

Stovall và cs (1991), đã chứng minh khả năng sinh sản của vợ chồng phụ thuộc vào tuổi của nữ giới hơn nam giới, tỷ lệ nữ giới đã lập gia đình mà không có con tăng lên đều đặn: 6% ở nhóm tuổi 20-24; 9% ở nhóm tuổi 25-29; 15% ở nhóm tuổi 30-34; 30% ở nhóm tuổi 35-39 và 64% ở nhóm tuổi 40-44 [80]

Franco và cs (2002) cho biết, trong 251 cặp vợ chồng vô sinh thì vô sinh nam giới chiếm 45%, vô sinh nữ giới chiếm 48%, vô sinh do cả nam và nữ là 7% Trong đó,

vô sinh nguyên phát chiếm 74% và vô sinh thứ phát chiếm 26% Tuổi trung bình của

nữ giới là 34±4,2 và của nam giới là 36,8±6,5 [26]

Theo S.L Yu và C Yap (2003) thì ước tính tỷ lệ vô sinh ở độ tuổi từ 25-29 là 5,5%; độ tuổi từ 30-34 là 9,5% và từ 35-39 tăng cao chiếm 19,7% [91]

David và cs (2004) nghiên cứu 782 cặp vợ chồng ở 7 trung tâm Châu Âu Kết quả cho thấy có các cặp vợ chồng càng lớn tuổi thì tỷ lệ vô sinh càng cao, tỷ lệ vô sinh

ở nhóm tuổi từ 19-26 chiếm 8%, từ 27-34 chiếm 13-14% và nhóm tuổi 35-40 chiếm tỷ

lệ cao 18%

Maheshwari và cs (2007) nghiên cứu 7172 phụ nữ, 26,9% đã qua tuổi 35, tuổi trung bình là 31,2±5,2 cho thấy có 51,4% vô sinh nguyên phát và vô sinh không rõ nguyên nhân ở phụ nữ trên 35 tuổi cao hơn so với phụ nữ dưới 30 tuổi [45]

Roupa và cs (2009) đã nghiên cứu 110 phụ nữ vô sinh, về độ tuổi cho thấy: 71 trường hợp (64,5%) ở độ tuổi từ 20-29; 22 trường hợp (20%) ở độ tuổi từ 30-39; 13 trường hợp (11,8%) ở độ tuổi từ 40-49; 4 trường hợp (3,7%) có độ tuổi lớn hơn 50 tuổi [72]

Aflatoonian và cs (2009), đã nghiên cứu 5200 cặp vợ chồng và phát hiện có 277

Ngày đăng: 31/03/2015, 16:06

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2. Sự phân bố về nghề nghiệp của các cặp vợ chồng vô sinh nguyên phát - Nghiên cứu bộ nhiễm sắc thể ở những cặp vợ chồng vô sinh nguyên phát
Bảng 2. Sự phân bố về nghề nghiệp của các cặp vợ chồng vô sinh nguyên phát (Trang 43)
Hình 1. Tỷ lệ rối loạn NST ở những cặp vợ chồng vô sinh nguyên phát - Nghiên cứu bộ nhiễm sắc thể ở những cặp vợ chồng vô sinh nguyên phát
Hình 1. Tỷ lệ rối loạn NST ở những cặp vợ chồng vô sinh nguyên phát (Trang 45)
Bảng 3. Tỷ lệ rối loạn NST ở các cặp vợ chồng vô sinh nguyên phát của một - Nghiên cứu bộ nhiễm sắc thể ở những cặp vợ chồng vô sinh nguyên phát
Bảng 3. Tỷ lệ rối loạn NST ở các cặp vợ chồng vô sinh nguyên phát của một (Trang 46)
Hình 2. Tỷ lệ rối loạn NST giữa người vợ và người chồng ở những cặp vợ chồng - Nghiên cứu bộ nhiễm sắc thể ở những cặp vợ chồng vô sinh nguyên phát
Hình 2. Tỷ lệ rối loạn NST giữa người vợ và người chồng ở những cặp vợ chồng (Trang 47)
Bảng 4. Sự phân bố các biểu hiện rối loạn nhiễm sắc thể ở các cặp vợ chồng - Nghiên cứu bộ nhiễm sắc thể ở những cặp vợ chồng vô sinh nguyên phát
Bảng 4. Sự phân bố các biểu hiện rối loạn nhiễm sắc thể ở các cặp vợ chồng (Trang 49)
Bảng 5. Sự phân bố các biểu hiện rối loạn nhiễm sắc thể giới tính ở người vợ - Nghiên cứu bộ nhiễm sắc thể ở những cặp vợ chồng vô sinh nguyên phát
Bảng 5. Sự phân bố các biểu hiện rối loạn nhiễm sắc thể giới tính ở người vợ (Trang 50)
Bảng 6. Sự phân bố các biểu hiện rối loạn NST thường ở người vợ - Nghiên cứu bộ nhiễm sắc thể ở những cặp vợ chồng vô sinh nguyên phát
Bảng 6. Sự phân bố các biểu hiện rối loạn NST thường ở người vợ (Trang 52)
Hình 3. Karyotyp của bệnh nhân Nguyễn Thị Thúy Th. 45, XX, t(13q; 15q) - Nghiên cứu bộ nhiễm sắc thể ở những cặp vợ chồng vô sinh nguyên phát
Hình 3. Karyotyp của bệnh nhân Nguyễn Thị Thúy Th. 45, XX, t(13q; 15q) (Trang 54)
Hình 4. Karyotyp của bệnh nhân Triệu Thị Như Q. 46, XX, del(16)(q22) - Nghiên cứu bộ nhiễm sắc thể ở những cặp vợ chồng vô sinh nguyên phát
Hình 4. Karyotyp của bệnh nhân Triệu Thị Như Q. 46, XX, del(16)(q22) (Trang 56)
Hình 5. Karyotyp của bệnh nhân Đào Thị Quế P. 46, XX, inv(12)(p13q13) - Nghiên cứu bộ nhiễm sắc thể ở những cặp vợ chồng vô sinh nguyên phát
Hình 5. Karyotyp của bệnh nhân Đào Thị Quế P. 46, XX, inv(12)(p13q13) (Trang 58)
Bảng 8. Sự phân bố các biểu hiện rối loạn nhiễm sắc thể thường ở người chồng - Nghiên cứu bộ nhiễm sắc thể ở những cặp vợ chồng vô sinh nguyên phát
Bảng 8. Sự phân bố các biểu hiện rối loạn nhiễm sắc thể thường ở người chồng (Trang 64)
Hình 7. Karyotyp của bệnh nhân Nguyễn Chí C. 46, XY, t(1;2)(p22;q21) - Nghiên cứu bộ nhiễm sắc thể ở những cặp vợ chồng vô sinh nguyên phát
Hình 7. Karyotyp của bệnh nhân Nguyễn Chí C. 46, XY, t(1;2)(p22;q21) (Trang 66)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w