ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN --- Nguyễn Thúy Huệ NGHIÊN CỨU NGUỒN TÀI NGUYÊN PHI GỖ CỦA HỆ THỰC VẬT TẠI VƯỜN QUỐC GIA CÚC PHƯƠNG NHẰM BẢO TỒN NHỮNG TRI THỨ
Trang 1Nguyễn Thúy Huệ
NGHIÊN CỨU NGUỒN TÀI NGUYÊN PHI GỖ CỦA HỆ THỰC VẬT TẠI VƯỜN QUỐC GIA CÚC PHƯƠNG NHẰM BẢO TỒN NHỮNG TRI THỨC
BẢN ĐỊA VÀ NGUỒN GEN QUÝ
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC
Hà Nội - 2012
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
-
Nguyễn Thúy Huệ
NGHIÊN CỨU NGUỒN TÀI NGUYÊN PHI GỖ CỦA HỆ THỰC VẬT TẠI VƯỜN QUỐC GIA CÚC PHƯƠNG NHẰM BẢO TỒN NHỮNG TRI THỨC
BẢN ĐỊA VÀ NGUỒN GEN QUÝ
Chuyên ngành : Thực vật học
Mã số : 60 42 20
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC : GS.TSKH NGUYỄN NGHĨA THÌN
Hà Nội - 2012
Trang 3MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 5
MỞ ĐẦU 6
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 8
1.1 Tổng quan nghiên cứu về tài nguyên phi gỗ 8
1.1.1 Tổng quan nghiên cứu cây được sử dụng làm thuốc 8
1.1.2 Tổng quan nghiên cứu về cây được sử dụng làm thức ăn cho người 14
1.1.3 Tổng quan nghiên cứu thức ăn cho Vọoc mông trắng 15
1.2 Tổng quan về khu vực nghiên cứu 16
1.2.1 Điều kiện tự nhiên 16
1.2.1.1 Vị trí địa lý 16
1.2.1.2 Lịch sử địa chất và địa hình 17
1.2.1.3 Thổ nhưỡng 18
1.2.1.4 Khí hậu thủy văn 18
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG, PHƯƠNG PHÁP VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 21
2.1 Đối tượng – phạm vi nghiên cứu 21
2.2 Thời gian nghiên cứu: 21
2.3 Phương pháp nghiên cứu 21
2.3.1 Phương pháp kế thừa 21
2.3.2 Phương pháp điều tra, phân tích – phân loại và xây dựng danh lục 22
2.3.2.2 Xử lý và trình bày mẫu 23
2.3.2.3 Xác định và kiểm tra tên khoa học 23
2.3.2.4 Xây dựng bảng danh lục thực vật 24
2.3.3 Phương pháp đánh giá một số đặc điểm của hệ thực vật 25
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 27
3.1 Đa dạng nguồn tài nguyên phi gỗ tại VQG Cúc Phương 27
3.2.1 Các loài cần được bảo vệ trong sách đỏ Việt Nam năm 2007 43
3.2.2 Các loài cần được bảo vệ theo Nghị định 32/2006/NĐ-CP 44
3.2.3 Các loài cần được bảo vệ theo khuyến cáo của UNEP - WCMC 45
3.3 Một số giải pháp quản lý bảo tồn 46
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 49
KẾT LUẬN 49
Trang 4TÀI LIỆU THAM KHẢO 52
Trang 5
UNEP Chương trình môi trường Liên hợp quốc
WCMC Trung tâm Giám sát Bảo tồn Thế giới WHO Tổ chức y tế Thế giới
Trang 6MỞ ĐẦU
Việt Nam là đất nước nhiệt đới, là một trong những trung tâm đa dạng sinh học quan trọng của thế giới và cũng là nước có tài nguyên rừng nhiệt đới giàu có cả
về diện tích và cả về chất lượng, đặc biệt là nguồn tài nguyên phi gỗ
Nguồn tài nguyên phi gỗ đã và đang là một nguồn thu nhập của cộng đồng dân cư miền núi ở hầu hết các nước nhiệt đới Chính vậy, nguồn tài nguyên này hiện được coi là một phần thu nhập kết hợp không thể thiếu trong chiến lược phát triển bền vững quốc gia, trong các chương trình bảo tồn tài nguyên và môi trường, chiến lược bảo tồn đa dạng sinh học và các chiến lược phát triển kinh tế xã hội khác của các nước nhiệt đới Đối với con người, tài nguyên phi gỗ được sử dụng cho nhiều mục đích khác nhau như là nguồn lương thực bổ trợ (củ quả giàu tinh bột như
củ Mài, củ Nâu, ruột cây Búng bang,cây Đoác, ), các loại thực phẩm (thịt động vật hoang dã, rau rừng, các loài gia vị, ) và các loài cây con dược liệu, làm thuốc chữa bệnh
Ngoài các giá trị kinh tế trực tiếp kể trên, tài nguyên phi gỗ còn có tiềm năng lớn đối với việc bảo tồn các hệ sinh thái rừng nhiệt đới thông qua việc góp phần làm tăng tính đa dạng loài, giảm năng lượng hao phí do chuyển dời của các loài khi đi tìm kiếm thức ăn, đảm bảo cân bằng sinh thái Đặc biệt, tài nguyên phi gỗ là cơ sở
để tạo nên nhiều cơ hội cho các hoạt động quản lý tài nguyên rừng có sự tham gia của cộng đồng
Việc nghiên cứu để tập hợp những giá trị tài nguyên phi gỗ đó là việc làm cần thiết vì đó là yêu cầu cấp thiết hiện nay đồng thời nó là kinh nghiệm quí báu đã được tích lũy từ ngàn đời nay
Xuất phát từ những lý do trên tôi chọn đề tài: “ Nghiên cứu nguồn tài
nguyên phi gỗ của hệ thực vật tại Vườn Quốc Gia Cúc Phương nhằm bảo tồn những tri thức bản địa và nguồn gen qúy.”
Trang 8CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
1.1 Tổng quan nghiên cứu về tài nguyên phi gỗ
Từ bao đời nay rừng mang lại cho con người nhiều nguồn tài nguyên quý giá, trong đó có nguồn tài nguyên phi gỗ Nguồn tài nguyên này đã thể hiện vai trò quan trọng đối với đời sống, kinh tế, văn hóa và xã hội của người dân, trong đó thể hiện rõ nhất ở các vai trò làm thuốc, thức ăn cho người và thức ăn cho Vọoc mông trắng
1.1.1 Tổng quan nghiên cứu cây được sử dụng làm thuốc
Y học cổ đại đã hình thành ở Ấn Độ và Trung Quốc từ lâu đời Trong sự phát triển của loài người, mỗi dân tộc mỗi quốc gia đều có những nền Y học cổ truyền riêng Các kinh nghiệm dân gian được nghiên cứu ở các mức độ khác nhau tùy thuộc vào sự phát triển của quốc gia đó
Ở các nước Nga, Đức, Trung Quốc đã dùng cây Mã đề (Plantago major L.)
sắc nước hoặc giã lá tươi đắp chữa trị vết thương, viêm tiết niệu, sỏi thận
Ở Cuba, người ta đã dung bột papain lấy từ mủ cây Đu đủ ( Carca papaya
L.) để kích thích tổ chức hạt ở các vết thương phát triển
Y học dân tộc của Bungari “ Đất nước của hoa hồng” đã coi hoa hồng là một
vị thuốc chữa được nhiều bệnh, người ta dùng cả hoa, lá, rễ để làm thuốc tan huyết
ứ và bệnh phù thũng Ngày nay người ta đã chứng minh được trong cánh hoa hồng
có chứa một lượng tanin, glucosid
Nền y học Trung Quốc được xem là cái nôi của y học cổ truyền Các bài thuốc được xem như hình thành từ rất sớm nhất từ đây Từ năm 3216 hoặc 3080 tr.CN Thần nông – một nhà được học tài năng đã chú ý tìm hiểu tác động của cây cỏ đến sức khỏe của con người Ông thử nghiệm tác dụng các loài cây thuốc trên chính bản thân bằng uống, nếm rồi ghi chép lại tất cả những hiểu biết đó vào cuốn sách “
Thần nông bản thảo” gồm 365 vị thuốc rất có giá trị Vào thế kỷ thứ II nhân dân
Trung Quốc đã biết dùng các loài cây cỏ để chữa bệnh như: Nước chè đặc,rễ cây cốt
Trang 9khí củ(Polygonum cuspidatum); vỏ rễ cây Táo tầu ( Zizyphus vulgarris)… để chữa vết thương; dùng các loài nhân sâm ( Panax) để phục hồi ngữ quan …
Trương Trọng Cảnh là vị thánh trong đông y vào thời Đông hán cách đây
1700 năm, ông nghiên cứu và viết “ Thương hàn tập bệnh luận” chỉ các dịch bệnh
và bệnh về thời tiết nói chung và đề ra những cách chữa trị bằng thảo dược
Trong cuốn sách “Cây thuốc Trung Quốc” xuất bản năm 1985 đã liệt kê một
loạt các cây chữa bệnh như: Rễ gấc (Momordica cochinchinensis (Lour.) Spreng.)
chữa nhọt độc, viêm tuyến hạch, hạt gấc trị sưng tấy đau khớp, sốt rét, vết thư+ơng
tụ máu; Cải soong (Nasturtium officinale R.Br) giải nhiệt, chữa lở mồm, chảy máu
chân răng, bướu cổ
Ở đời Hán (năm 168 tr.CN) trong cuốn sách “Thủ hậu bị cấp phương” đã kê
52 đơn thuốc chữa bệnh từ cây cỏ Vào thế kỷ XVI Lý thời Trần đã thống kê được 12.000 vị thuốc trong tập “ Bản thảo cương mục” xuất bản năm 1595
Trong chương trình điều tra cơ bản nguồn tài nguyên thiên nhiên ở khu vực Đông nam Á, Perry đã nghiên cứu hơn 1000 tài liệu khoa học về thực vật và dược liệu đã được công bố và được các nhà khoa học kiểm chứng (trong đó có 146 loài
có tính kháng khuẩn) và tổng hợp thành cuốn sách về cây thuốc của vùng Đông và Đông nam Á “Medicinal Plants of East and Southeast Asia”
Nền Y học cổ truyền của Việt nam đã có từ lâu đời, nhiều bài thuốc, cây thuốc được áp dụng chữa bệnh trong dân gian có hiệu quả Qua quá trình phát triển của dân tộc, các kinh nghiệm dân gian quý báu đó đã dần đúc kết thành những cuốn sách có giá trị được gắn liền với tên tuổi và sự nghiệp của các danh y nổi tiếng và được lưu truyền rộng rãi trong nhân dân
Đời nhà Trần (1225-1399) có sự kiện, Phạm Ngũ Lão thừa lệnh Hưng Đạo Vương - Trần Quốc Tuấn, thu thập trồng một vườn thuốc lớn để chữa bệnh cho quân sỹ trên núi gọi là “ Sơn dược’ hiện vẫn còn di tích để lại tại một quả đồi thuộc
xã Hưng Đạo, huyện Chí Linh, Tỉnh Hải Dương
Vào thế kỷ XIII có hai danh y nổi tiếng đó là Phạm Công Bân và thầy thuốc
Trang 10dược thần hiệu” gồm 11 quyển với 496 vị thuốc nam, trong đó có 241 vị thuốc có nguồn gốc thực vật Ngoài ra ông còn viết “Hồng nghĩa giác tư y thư” gồm 2 bài hán nôm phú , tóm tắt công dụng của 130 loài cây thuốc cùng 13 đơn thuốc và cách chữa trị 37 chứng sốt khác nhau [41] Tuệ Tĩnh được coi là một bậc danh y kỳ tài trong lịch sử Y học của nước ta, là “Vị thánh thuốc nam”, ông chủ trương lấy “ Nam dược trị nam nhân” trong bộ sách quý của ông sau này bị quân minh thu gần hết chỉ còn lại những tác phẩm như “ Nam dược thần hiệu”; “Tuệ Tĩnh Y thư”;
“Thập tam phương gia giảm”; “ Thương hàn tam thập thất trùng pháp”[41]
Thời Lê Dụ Tông xuất hiện Hải Thượng Lãn Ông tên thực là Lê Hữu Trác (1721-1792) Ông là người am hiểu nhiều về y học, sinh lý học, đọc nhiều sách thuốc Trong 10 năm khổ công tìm tòi nghiên cứu Ông viết bộ “Lãn ông tâm lĩnh” hay “ Y tôn tâm lĩnh” gồm 66 quyển đề cập đến nhiều vấn đề về y dược như: “Y huấn cách ngôn”, “Y lý thân nhân”, “Lý ngôn phụ chính”, “Y nghiệp thần chương” xuất bản năm 1772 Trong bộ sách này ngoài kế thừa “Nam dược thần hiệu của Tuệ Tĩnh Ông còn bổ sung thêm 329 vị thuốc mới Mặt khác ông còn mở trường đào tạo
y sinh truyền bá tư tưởng, hiểu biết của mình về y học do vậy ông còn được mệnh danh là ông tổ sáng lập ra nghề thuốc Việt Nam [29]
Dưới thời Pháp thuộc, việc nghiên cứu cay thuốc gặp nhiều khó khăn Một số tác giả người pháp như: Charles Crévost, Alfred Petelot, Charles Lematie, Perrol Hurrer đã xuất bản bộ “ Catalogue des produits de l’Indochine” (1928-1935) trong
đó tập V (Produits medicanaux, 1928) đã mô tả 368 cây thuốc và vị thuốc các loài thực vật có hoa
Thời kỳ 1884-1945, thực dân Pháp thực hiện chính sách ngu dân, loại Y học dân tộc của nước ta ra khỏi chính sách bảo hộ, việc nghiên cứu cây thuốc gặp nhiều khó khăn Tuy nhiên có một số nhà thực vật học, dược học người pháp nghiên cứu với mục đích chính là khai thác tài nguyên tiêu biểu là: Crevot; Petelot đã thống
kê được 1482 vị thuôc sthảo mộc trên 3 nước Đông Dương [53]
Ngay sau khi đất nước được thống nhất, công tác điều tra nghiên cứu cây
Trang 11vị thuốc Việt Nam” của Đỗ Tất Lợi (đã tái bản nhiều lần) giới thiệu 792 loài thực vật làm thuốc Năm 2005 tái bản lần thứ 13 Trong đó ông đã mô tả tỉ mỉ tên khoa học, phân bố, công dụng, thành phần hoá học, chia tất cả các cây thuốc trong đó theo các nhóm bệnh khác nhau [27] Đây là một bộ sách có giá trị lớn về khoa học
và thực tiễn, kết hợp giữa khoa học dân gian với khoa học hiện đại Năm 1980 Đỗ Huy Bích, Bùi Xuân Chương đã giới thiệu 519 loài cây thuốc, trong đó có 150 loài mới phát hiện “Sổ tay cây thuốc Việt nam” [9]
Đề cập đến cây thuốc trong hệ thực vật Việt Nam Võ Văn Chi là người đầu tiên có tâm huyết, năm 1976 trong luận án PTS khoa học của mình, ông đã thống kê
có 1360 loài cây thuốc thuộc 192 họ trong ngành hạt kín ở miền Bắc đến 1991 trong một báo cáo tham gia hội thảo quốc gia về cây thuốc lần thứ II ở thành phố
Hồ Chí Minh tác giả đã giới thiệu một danh sách các loài cây thuốc ở Việt Nam có
2280 loài cây thuốc bậc cao có mạch, thuộc 254 họ trong 8 ngành Năm 1996 tác giả giới thiệu “ Từ điển cây thuốc Việt Nam” giới thiệu 3.200 loài cây thuốc [13] đây là một công trình khoa học có ý nghĩa khoa học và thực tiễn rất lớn phục vụ cho ngành dược và các nhà thực vật học
Các kết quả điều tra dược liệu của Viện Dược liệu từ năm 1961 đến 1985 đã phát hiện 1.863 loài cây thuốc, trong 1033 chi, 236 họ, 101 bộ, 17 lớp, 11 ngành được xếp loại theo hệ thống của nhà thực vật học Takhtajan Đến năm 2000, số loài cây thuốc đã tăng lên tới 3.849 loài thuộc 307 họ thực vật [43]
Theo Đỗ Huy Bích, Nguyễn Tập, Lê Tùng Châu hàng năm nước ta khai thác và sử dụng tới 300 loài cây thuốc ở các mức độ khác nhau [4] Khó mà thống
kê được một cách đầy đủ khối lượng dược liệu tự nhiên được khai thác bởi lễ hàng năm ngoài cơ sở sản xuất của nhà nước còn có những cơ sở của tư nhân, của những ông lang bà mế và người dân từng địa phương tự thu hái về chữa bệnhtheo kinh nghiệm dân gian
Theo Nguyễn Khang và Vũ Quang Chương thì trong vòng vài chục năm gần đây nước ta đã xuất khẩu một lượng dược liệu khá lớn khoảng 20 triệu US$ và
Trang 12qua biên giới [23] Song đối với các dân tộc Việt Nam thì ít có công trình nghiên cứu đến, công trình nghiên cứu đầu tiên của Võ Thị Thương (1986) đã nghiên cứu các loài cây ăn được của đồng bào Mường trong đó tác giả giới thiệu 89 loài thuộc
38 họ [39] tác giả cũng đưa ra một số nhận xét giữa việc sử dụng một số cây của đồng bào Mường với điều kiện sống và nơi sống của họ Đặc biệt năm 1994, trong công trình nghiên cứu cây thuốc Lâm Sơn - Lương Sơn Hà Sơn Bình, Nguyễn Nghĩa Thìn đã giới thiệu 112 loài thuộc 50 họ [36]
Năm 1990-1995 trong hội thảo quốc tế lần thứ 2 về Dân tộc sinh học tại Côn Minh - Trung Quốc Nguyễn Nghĩa Thìn đã giới thiệu lịch sử nghiên cứu về vấn đề dân tộc dược học, giới thiệu 2300 loài thuộc 1136 chi, 234 họ thuộc 6 ngành thực vật có mạch bậc cao Việt Nam được sử dụng làm thuốc và giới thiệu hơn 1000 bài thuốc được thu thập ở Việt Nam
Vương Thừa Ân cho ra đời cuốn “Thuốc quý quanh ta” vào năm 1995 Cho đên chương trình tạo nguồn được liệu của Viện dược liệu KV02 cho ra quyển “ Tài nguyên cây thuốc Việt Nam” Tác giả Trần Đình Lý và công sự cho xuất bản cuốn
“1900 loài cây có ích ở Việt Nam”
Trần Văn Ơn trong luận án tiến sĩ của mình đã xác định ở Vườn quốc gia Ba
Vì có 503 loài cây thuốc được người Dao sử dụng để chữa 131 loại bệnh [30]
Cao Thị Hải Xuân nghiên cứu về cây thuốc VQG Cát Bà thì có 443 loài thuộc thuộc 335 chi, 118 họ chữa 15 nhóm bệnh khác nhau [46]
Theo thống kê của tổ chức Y học thế giới (WHO) thì đến năm 1985 đã có gần 20.000 loài thực vật ( trong tổng số 250.000 loài đã biết) được sử dụng làm thuốc hoặc cung cấp các hoạt chất để chế biến thuốc [38] Trong đó Ấn Độ có khoảng 6.000 loài [38]Trung Quốc 5.000 loài [38]; Vùng Nhiệt đới Châu Mỹ hơn 1.900 loài thực vật có hoa [38]
Tuy nhiên nguồn tài nguyên cây thuốc đang bị đe dọa nghiêm trọng do thảm thực vật bị tàn phá, cây thuốc bị khai thác quá mức và bị sử dụng lãng phí; Tri thức
sử dụng cây thuốc bị mai một do không được tư liệu hóa, thế hệ trẻ ở nhiều cộng
Trang 13đồng ít quan tâm đến học tập kinh nghiệm của sử dụng cây cỏ làm thuốc của thế hệ trước ; do tính khó sử dụng của dược liệu Ngày nay trong xu thế phát triển toàn cầu, các ngành công nghiệp được phát triển mạnh mẽ dẫn tới môi trường bị ô nhiễm nghiêm trọng, đời sống kinh tế xã hội ngày càng cao do vậy việc sử dụng cây thuốc phục vụ cho việc chăm sóc sức khỏe ngày một lớn điều đó dẫn tới việc bảo tồn và phát triển nguồn tài nguyên cây thuốc không theo kịp so với nhu cầu phát triển của
xã hội đã đem lại lợi nhuận cho ngành công nghiệp dược vô cùng lớn
Trên thế giới có rất nhiều loài cây thuốc quý hiếm nhưng do chiến tranh, ô nhiễm môi trường và con người khai thác bừa bãi cho nên đã trở nên rất nguy cấp
và có nhiều loài đã bị tuyệt chủng (Theo công ước đa dạng sinh học 1992) Theo Raven (1987) và Ole Harmann (1988) trong vòng hơn trăm năm trở lại đây có khoảng 1000 loài thực vật có lẽ đã bị tuyệt chủng có tới 60.000 loài có thể bị gặp rủi
ro hoặc sự tồn tại của chúng là mong manh vào giữa thế kỷ nếu chiều hướng đe dọa này vẫn tiếp diễn Trong số những loài thực vật bị mất đi hoặc bị đe dọa đương nhiên có nhiều loài cây thuốc Do vậy song song với việc nghiên cứu và sử dụng cây thuốc, một vấn đề cấp bách khác đó là bảo tồn tri thức sử dụng và cây thuốc cũng cần phải quan tâm 1988, hội thảo (consultation) quốc tế về bảo tồn cây thuốc
đã được tổ chức tại Chiang Mai Thái Lan với sự tham gia của 24 chuyên gia y tế và bảo tồn cây cỏ, đến từ 16 quốc gia thuộc các khu vực khác nhau trên thế Kết quả là
“ Tuyên ngôn Chiang mai” đã ra đời Bản tuyên ngôn đánh giá cao tầm quan trọng của cây thuốc trong chăm sóc sức khỏe ban đầu, giá trị kinh tế và tiềm năng của cây
cỏ đối với việc tìm ra thuốc mới Đồng thời báo động về mất tính đa dạng sinh vật cây cỏ và các nền văn hóa trên thế giới có thể ảnh hưởng đến việc tìm kiếm thuốc mới mang lại lợi ích toàn cầu Tuyên bố Chiang Mai cũng chỉ ra sự cấp thiết cần hợp tác ở mức độ toàn cầu để thiết lập các chương trình bảo tồn cây thuốc
Thế kỷ XXI khoa học kỹ thuật ngày càng phát triển kéo theo nó là sự phát triển của nền kinh tế toàn cầu Nhu cầu chăm sóc sức khỏe con người và chữa trị các bệnh nan y ngày càng cấp thiết Cho nên việc khai thác kết hợp với bảo tồn phát triển các loài cây thuốc là rất quan trọng
Trang 141.1.2 Tổng quan nghiên cứu về cây được sử dụng làm thức ăn cho người
Trong số các loại lâm sản phi gỗ , những cây dùng làm lương thực thực phẩm gọi tắt là cây ăn được có một vai trò quan trọng đối với nhân dân ta , đặc biệt đối với đồng bào các dân tộc sống ở trung du và miền núi
Riêng nói về những cây ăn được thì 54 dân tộc nước ta có 54 nền văn hoá
về sử dụng khác nhau nguồn tài nguyên này Với một hệ thực vật phong phú và đa dạng, gần 12.000 loài thực vật bậc cao, loài nào cũng có ích nhưng chúng ta chưa biết được có bao nhiêu loài có thể làm thức ăn cho con ng ười Mã tiền là cây có hạt chứa nhiều độc tố ancaloid strychnin được chiết xuất để làm thuốc, như người đồng bào dân tộc Tây Nguyên vẫn ăn quả mã tiền chín Điều đó chứng tỏ là còn lâu chúng ta mới hiểu biết và khai thác hết được những “kiến thức bản địa” mà cộng đồng các dân tộc trên đất nước ta đã tích lũy từ hàng nghìn năm nay
Những năm dưới chế độ thực dân, chính các loài cây rừng ăn được như củ mài, rau rừng đã cứu sống bao nhiêu con người Trong những năm chiến tranh chống Pháp, chống Mĩ cứu nước, rau rừng vẫn là nguồn “rau xanh, hậu cần tại chỗ” Rau rừng không chỉ làm thay đổi khẩu vị với lương khô lâu ngày mà thực chất là cấp thiết cho nhu cầu dinh dưỡng của bộ đội tác chiến, cũng như thương bệnh binh ở các chiến trường Đó là nguồn vitamin tự nhiên, chất khoáng, chất chống oxy hóa chống lại các gốc tự do, chất xơ cần thiết chống lại bệnh tật, đảm bảo sức khỏe và quân số chiến đấu ở các mặt trận
Viện nghiên cứu ăn mặc quân đội đã phối hợp cùng với Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội tổ chức các đoàn nghiên cứu và điều tra về rau rừng Từ năm 1969- 1975 đã thành lập được 6 đoàn, tổ chức nghiên cứu ở các vùng: Trị - Thiên, Liên khu 5, Nam Bộ, bắc Trường Sơn giáp Lào, nam Trường Sơn giáp Cam-pu-chia, vùng giới tuyến và miền Bắc Những kết quả điều tra nghiên cứu bước đầu
đã được tổng hợp, biên soạn và được Nhà xuất bản Quân đội nhân dân in thành
sách “Sổ tay rau rừng” trong đó có 420 loại cây rau, nấm ăn được [2]
Năm 1968, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân đã cho ra mắt cuốn sách “ Một
số rau dại ăn được ở Việt Nam” đã thống kê miêu tả được 128 loài rau dại ăn được
Trang 15ở Việt Nam [28]
Từ năm 1968-1971, Phân viện nghiên cứu Khoa học Cúc Phương tiến hành điều tra nghiên cứu về các loài cây ăn được trong VQG Cúc Phương.Kết quả sau 3 năm nghiên cứu, nhóm tác giả đã thống kê được 229 loài thuộc 73 họ và 3 ngành thực vật [10]
Qua thời kì người dân "ngày tám tháng ba" vào rừng đào củ mài chống đói,
đã qua thời kì bộ đội ta phải ăn rau tàu bay, măng rừng mà vẫn lập nên những chiến công hiển hách Giờ đây nói đến những kiến thức này là nói đến một nguồn tài nguyên phong phú và đa dạng cần được khai thác để sử dụng hợp lí và bền vững Đó không chỉ là nguồn lương thực, thực phẩm bổ sung, mà trong nhiều trường hợp còn là những đặc sản quý , cho cả giới “thượng lưu” và du thực khách hải ngoại ! ( như món canh rau sắng hay món salat rau càng cua (Peperomia
pellucida) - món khai vị cho những bữa nhậu ở miền Trung) Vì vậy việc hiểu biết
để khai thác trên cơ sở bảo tồn, nhân giống, gây trồng để phát triển như một mặt hàng thương phẩm và hơn thế nữa như một mặt hàng xuất khẩu là mục tiêu trước mắt của những nghiên cứu sử dụng các cây mọc hoang dại có ích nói chung và làm
lương thực thực phẩm nói riêng
1.1.3 Tổng quan nghiên cứu thức ăn cho Vọoc mông trắng
Vọoc Mông Trắng (Trachypithecus delacouri ) là loài động vật đặc hữu quý
hiếm của Việt Nam, có tên trong "Sách Đỏ" của Việt Nam và thế giới cần được bảo
vệ Chính vì lý do đó chúng tôi đi tìm hiểu nguồn tài nguyên phi gỗ là thức ăn cho Vọoc mông trắng
Qua các đề tài nghiên cứu về sinh cảnh sống của Vọoc mông trắng một số khóa luận tốt nghiệp đại học, đề tài luận án tiến sĩ đã thống kê được số lượng loài thức ăn cho Vọoc mông trắng trong điều kiện nuôi nhốt, bán hoang dã và trong điều kiện tự nhiên như sau:
Trang 16Trần Thị Thảo (2001), thức ăn cho Vọoc mông trắng trong điều kiện nuôi
nhốt có 204 loài thuộc 92 chi thuộc 57 họ, Luận văn tốt nghiệp – trường Đại học Lâm Nghiệp [35]
Nguyễn Văn Thái (2005) thức ăn cho Vọoc mông trắng trong điều kiện nuôi
nhốt có 229 loài thuộc158 chi thuộc 59 họ Luận văn tốt nghiệp – trường Đại học Lâm nghiệp [33]
Nguyễn Vĩnh Thanh (2008), thức ăn cho Vọoc mông trắng trong điều kiện ở
Vân Long – Ninh Bình có 71 loài thuộc 52 chi, 34 họ là thức ăn cho Vọoc Luận án tiến sĩ ngành sinh học- trường Đại học Khoa học Tự Nhiên [34]
Nguyễn Thúy Huệ (2010), thức ăn cho Vọoc mông trắng trong điều kiện nuôi bán tự nhiên có 24 loài thuộc 24 chi và 16 họ Luận văn tốt nghiệp - trường Đại học Khoa học Tự Nhiên [22]
1.2 Tổng quan về khu vực nghiên cứu
1.2.1 Điều kiện tự nhiên
1.2.1.1 Vị trí địa lý
Vườn quốc gia Cúc Phương nằm trên tọa độ địa lý từ 200
14' đến 200
24' vĩ độ Bắc và từ 105029' đến 105044' kinh độ Đông Cách Hà Nội 120 km về phía Tây Nam theo đường ô tô và cách biển Đông 60 km theo đường chim bay về phía Đông Vườn có tổng diện tích 22.200ha, chiều dài khoảng 30km, rộng 8-10km, trong đó 11.350 ha (51,1%) thuộc tỉnh Ninh Bình, 5850ha (26,4%) thuộc tỉnh Hoà Bình, 5000ha (22,5%) thuộc tỉnh Thanh Hoá
Trang 17Hình 1 Bản đồ vị trí địa lý của VQG Cúc Phương (nguồn: Google Earth)
1.2.1.2 Lịch sử địa chất và địa hình
a Lịch sử địa chất
Cúc Phương nằm trong vùng đất được hình thành do vận động tạo sơn kỷ Kimeri (cuối kỷ Jura đầu kỷ Bạch phấn) Theo bản đồ địa chất Việt Nam tỷ lệ 1/500.000 thì Cúc Phương thuộc phức hệ đá vôi Triat trung, bậc Ladoni, tầng Đồng giao, có liên hệ với dạng đá vôi Tây bắc Việt Nam
Nhìn chung Cúc Phương có lịch sử địa chất rất lâu đời, là cơ sở cho việc hình thành lớp đất dầy và rất thuận lợi cho sự phát triển của hệ thực vật
b Địa hình
Vườn quốc gia Cúc Phương nằm ở phần cuối của hai dãy núi đá vôi từ Tây Bắc chạy về Xen kẽ giữa các núi đá vôi là núi đất và thung đất, 3/4 diện tích Cúc Phương là núi đá vôi, có độ cao tuyệt đối trung bình 300 -400m Núi cao nhất là đỉnh Mây bạc (656m) nằm ở phía Tây Bắc và thấp dần về hai phía Tây Nam và Đông Nam Cúc Phương nằm vào dạng địa hình Castơ nửa che phủ khác với địa hình Castơ che phủ Đồng Giao và Castơ trọc Gia Khánh, Cúc Phương nằm trọn vẹn
trong cảnh địa lý đối Castơ xâm thực
Trang 181.2.1.3 Thổ nhƣỡng
Đất Cúc Phương gồm hai nhóm chính:
*) Nhóm A: Đất phát triển trên đá vôi hoặc trên sản phẩm chịu ảnh hưởng nhiều của nước cacbonat Trong nhóm chính này có 4 loại chính như sau:
Loại 1: Đất renzin mầu đen trên đá vôi
Loại 2: Đất renzin mầu vàng trên đá vôi
Loại 3: Đất renzin mầu đỏ trên đá vôi
Loại 4: Đất Macgalit - Feralit vàng
*) Nhóm B: Đất phát triển trên đá không vôi hoặc trên sản phẩm ít chịu ảnh hưởng
nhiều của nước Cacbonat Trong nhóm này có 3 loại chính như sau :
Loại 1: Đất Feralit vàng phát triển trên sa thạch
Loại 2: Đất Feralit vàng, nâu, xám, tím phát triển trên Azgilit
Loại 3: Đất Feralit vàng đỏ phát triển trên diệp thạch sét
Như vậy, dựa vào kết quả phân tích có thể nhận xét về đất Cúc Phương như sau :
Đất tơi xốp, với độ xốp khá cao (60-65%)
Đất có hàm lượng mùn lớn và thấm sâu (4 -5%)
Đất có khả năng hấp thụ khá
Đất có thành phần cơ giới trung bình
Từ kết quả trên chúng ta rút ra "Đất Cúc Phương nói chung là tốt, có thể nói
là hiếm, có giá trị, rất xứng đáng với địa vị thảm thực vật rừng che phủ trên nó mà mọi người ca ngợi" Nguyễn Xuân Quát (1971)
1.2.1.4 Khí hậu thủy văn
Trang 19Tuy nhiên, do địa hình núi đá vôi nên nhiệt độ cực hạn ở đây có thể biến động rất lớn, có năm rất lạnh nhưng chỉ kéo dài 4-5 ngày hoặc rất nóng chỉ 1-2 ngày Trong 15 năm quan trắc nhiệt độ tối thấp tuyệt đối 0,70
Ở Trạm Bống, là trung tâm rừng nguyên sinh có độ cao so với mặt biển từ
300 - 400m, thảm thực vật rừng tươi tốt, nhiệt độ bình quân năm là 20,60C
Ở Trạm Đang, nằm ở vùng rừng thứ sinh, rừng có chất lượng xấu, một số
đã bị khai thác chọn hoặc làm nương rẫy Độ cao so với mặt biển 200-250m Nhiệt độ bình quân năm 21,80
C, cao hơn ở Bống 1,20
C
Ở Trạm Nho Quan, nằm ngoài ranh giới Vườn, cách trung tâm Vườn 20
km, ở đây không có rừng, độ cao so với mặt biển là 20m, nhiệt độ bình quân năm là 22,70
C, cao hơn nhiệt độ bình quân của Bống 2,10
C và cao hơn nhiệt
độ bình quân của Đang 0,90
C
b Chế độ mưa
Lượng mưa bình quân năm của Cúc Phương biến động từ 1800mm đến 2400mm, bình quân năm là 2138mm/năm Đó là lượng mưa tương đối lớn so với vùng xung quanh
Nếu tính tháng có lượng mưa từ 100mm là tháng mưa thì ở đây có tới 8 tháng và mùa mưa kéo dài từ tháng IV đến tháng XI Tháng có lượng mưa lớn nhất là tháng IX là 410,9mm, trong khi đó các tháng XII, I, II và III lượng mưa chưa được 50mm Mặc dù mùa khô có 4 tháng nhưng phân biệt rất rõ với mùa mưa Mưa ít cộng với nhiệt độ thấp làm cho khí hậu ở Cúc Phương tương đối khắc nghiệt về mùa đông
c Độ ẩm không khí
Qua bảng 1 chúng ta thấy độ ẩm tương đối trung bình hăng năm ở Cúc Phương là 90% và phân bố tương đối đều trong năm, tháng thấp nhất không dưới 88%
Trang 20Bảng 1 Các chỉ tiêu khí hậu cơ bản khu vực Vườn quốc gia Cúc Phương
Trang 21d Chế độ gió
Vườn quốc gia Cúc Phương nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới gió mùa, chịu ảnh hưởng bởi gió mùa Đông Bắc về mùa Đông và gió mùa Đông Nam về mùa hè Ngoài ra về mùa hè nhiều ngày có gió lào thổi mạnh Tuy vậy do điều kiện địa hình, gió sau khi vượt qua các yên ngựa và hẻm núi đi sâu vào rừng bị thay đổi hướng rất nhiều và tốc độ gió thường là 1-2m/s
e Thủy văn
Do ở Cúc Phương là địa hình Castơ nên ở đây có ít dòng chảy, ngoại trừ sông Bưởi và sông Ngang ở phía Bắc có nước quanh năm, còn lại là các khe suối cạn có nước theo mùa, sau cơn mưa, khe khô dẫn nước vào lỗ hút, chảy ngầm rồi phun ra ở một số vó nước Chỗ nào nước không hút kịp thì ứ đọng lại, gây nên ngập úng tạm thời
(*) Các số liệu về Điều kiện tự nhiên trình bày ở mục 1.2.1.3 tham khảo tài liệu của Đào Văn Khương và cộng sự xuất bản năm 2002 [24]
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG, PHƯƠNG PHÁP VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng – phạm vi nghiên cứu
Nguồn tài nguyên phi gỗ của hệ thực vật tại Vườn Quốc Gia Cúc Phương Nghiên cứu 3 nhóm công dụng chính: Cây làm thuốc, cây làm thức ăn cho người và cây làm thức ăn cho Vọoc mông trắng
2.2 Thời gian nghiên cứu:
Trang 22những tri thức bản địa và nguồn gen quí, chúng tôi tiến hành thống kê, kiểm tra và hiệu chỉnh lại các thông tin một cách chính xác trên cơ sở các tài liệu tham khảo chuyên ngành từ đó xác định giá trị thông tin kế thừa
2.3.2 Phương pháp điều tra, phân tích – phân loại và xây dựng danh lục
2.3.2.1 Phương pháp điều tra thực địa
Áp dụng phương pháp điều tra thực địa được Nguyễn Nghĩa Thìn giới thiệu
trong “Cẩm nang nghiên cứu Đa dạng sinh vật” (1997) “Các phương pháp nghiên
cứu thực vật” và “Hệ sinh thái rừng nhiệt đới” (2004):
- Ghi nhận kỹ lưỡng những đặc trưng của các sinh cảnh trên tất cả các tuyến khảo sát (thu mẫu các loài đặc trưng, loài phổ biến) Các đặc điểm của mẫu để phục
vụ công tác phân loại
- Tiêu chuẩn mẫu thu: Có đủ cả bộ phận dinh dưỡng (cành, lá non, lá trưởng thành, có thể có cả củ và rễ) và bộ phận sinh sản (hoa hoặc quả hoặc cả hai) Sử dụng kéo cắt cành để cắt mẫu
- Xử lý mẫu thực địa:
+ Mẫu đeo nhãn ghi bằng bút bi nước gồm đầy đủ các mục: số hiệu mẫu, địa điểm và nơi lấy mẫu, ngày lấy mẫu, đặc điểm quan trọng: cây gỗ hay dây leo, độ cao, đường kính, màu lá, hoa, quả…, người lấy mẫu
+ Xử lý ướt mẫu bằng cách ép mẫu tạm thời giữa hai tờ báo gập đôi, không chèn ngay mà bó chặt lại rồi cho mẫu đó vào túi polyetylen cỡ lớn Mỗi túi
có thể chứa nhiều bó mẫu Dùng cồn đổ cho thấm ướt các tờ báo và buộc chặt lại để chuyển về nơi có điều kiện sấy khô Việc đổ cồn vào là nhằm mục đích giết các enzym chống rụng lá
- Chụp ảnh: Trong với quá trình thu hái mẫu, sử dụng máy ảnh để ghi lại hình ảnh của các loài (ghi lại số hiệu mẫu cùng với số thứ tự ảnh trong sổ tay để tiện cho việc tra cứu sau này) và các sinh cảnh cùng với những hoạt động của tập thể trong quá trình nghiên cứu
Trang 232.3.2.2 Xử lý và trình bày mẫu
Các mẫu thu thập từ thực địa được làm tiêu bản theo phương pháp của trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội và Viện Điều tra Quy hoạch Rừng
Xử lý mẫu trong phòng thí nghiệm
- Khi mẫu được chuyển về phòng thí nghiệm, chúng tôi đã tiến hành xử lý mẫu ngay Trước hết dùng các tờ báo mới rồi lần lượt mang từng vật mẫu ra, giải đều trên tờ báo có kích thước 30 x 40cm, vuốt cho lá phẳng ra và đảm bảo lá luôn luôn có mặt lá sấp và mặt ngửa Dùng các tờ báo khác phủ lên Lớp phủ càng dày càng tốt để mẫu được phẳng Cứ sau 5 - 6 mẫu lại chèn thêm một tấm nhôm lượn sóng Được khoảng 15 - 20 mẫu thì dùng hai cặp mắt cáo buộc lại cho chặt Các mẫu sau khi bó chặt được cho vào tủ sấy Sấy liên tục trong một tuần thì các mẫu sẽ khô Cứ sau hai ngày sấy thì thay báo một lần
- Sau khi mẫu đã khô tiếp tục được ngâm tẩm bằng dung dịch cồn chứa 3-5% HgCl2 để diệt khuẩn và chống côn trùng phá hoại
- Các mẫu tiêu bản được sấy khô và ép phẳng, rồi trình bày và khâu đính trên bìa giấy cứng crôki kích thước 28 x 42cm, sau đó dùng băng dán mối chỉ phía sau
để tránh các mẫu khi xếp chồng lên nhau không bị vướng dẫn đến hỏng mẫu Góc phải của bìa mẫu có dán nhãn kích thước 7 x 10cm, trên đó ghi đầy đủ thông tin: tên phòng mẫu cây khô, tên La tinh đầy đủ của loài bao gồm cả tên tác giả, nơi thu mẫu, một số đặc điểm nổi bật của mẫu, số hiệu mẫu, ngày lấy mẫu, người lấy mẫu và người xác định tên khoa học
2.3.2.3 Xác định và kiểm tra tên khoa học
Đồng thời với việc xử lý mẫu thành các tiêu bản đạt yêu cầu, chúng tôi tiến hành tiến hành nghiên cứu tài liệu và kiểm tra, xác định tên khoa học của từng loài theo phương pháp phân loại truyền thống, gồm các bước:
Trang 24+ Phân loại sơ bộ: tiến hành phân loại sơ bộ mẫu vật theo các taxon từ ngành tới họ, rồi tới chi Để làm được việc này, chúng tôi có tham khảo ý kiến của các chuyên gia hoặc tham khảo các tài liệu hiện có tại Bảo tàng Thực vật
+ So mẫu và xác định tên loài: Sau khi phân loại sơ bộ, tiến hành phân tích
so sánh mẫu cần xác định tên với bộ mẫu chuẩn hiện có tại Bảo tàng Thực vật Những mẫu chưa có tên lại tiếp tục xác định bằng các khóa lưỡng phân Khi định tên khoa học các mẫu dựa vào đặc điểm của cành, lá, hoa, quả…Đặc biệt là các đặc điểm của cơ quan sinh sản vì nó có ý nghĩa đặc trưng cho loài Trong quá trình tiến hành xác định tên khoa học phải tuân theo các nguyên tắc: phân tích từ tổng thể bên ngoài đến chi tiết bên trong, phân tích đi đôi với ghi chép, vẽ hình và tra khóa định loại, làm việc nghiêm túc và khách quan với mẫu
+ Kiểm tra tên khoa học: Sau khi đã xác định tên loài, chúng tôi tiến hành chỉnh lý lại tên khoa học theo tên họ, tên chi theo Brummitt trong “Vascular Plant Families and Genera” (1992), điều chỉnh tên loài theo trọn bộ 3 tập “Danh lục các loài thực vật Việt Nam” (2001 - 2005)
+ Bổ sung thông tin: tiến hành tra cứu các tài liệu hiện có để bổ sung các thông tin về tính đa dạng sinh học của các loài thực vật tại đây về yếu tố địa lý, về phổ dạng sống, về công dụng và tình trạng đe dọa, bảo tồn Ngoài các tài liệu trên còn sử dụng các tài liệu khác như “Sách Đỏ Việt Nam” (2007), “Từ điển cây thuốc Việt Nam” (Võ Văn Chi, 1997), “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam” (Đỗ Tất Lợi, 2001), “Cây cỏ có ích ở Việt Nam” (Võ Văn Chi – Trần Hợp, tập I năm 1999, tập II năm 2002), “Từ điển thực vật thông dụng” (Võ Văn Chi, 2003), Nghị định 32/2006/NĐ-CP
2.3.2.4 Xây dựng bảng danh lục thực vật
Từ các kết quả đã thu thập được, chúng tôi xây dựng nên bảng danh lục thực vật nguồn tài nguyên phi gỗ thuộc VQG Cúc Phương (Phụ lục 1) Bảng danh lục thực vật được xây dựng theo hệ thống phân loại của Brummitt (1992), trong đó các
Trang 25ngành được xếp theo hướng tiến hóa tăng dần, các họ trong một ngành, các chi trong một họ, các loài trong một chi được xếp theo trật tự chữ cái đầu từ A đến Z
2.3.3 Phương pháp đánh giá một số đặc điểm của hệ thực vật
Chúng tôi tiến hành phân tích đánh giá tài nguyên phi gỗ của hệ thực thuộc VQG Cúc Phương theo các tiêu chí sau:
2.3.3.1 Thành phần loài
Căn cứ theo tiêu bản thu được, kế thừa các tài liệu nghiên cứu về các loài thực vật làm thuốc, làm thức ăn cho Vọoc mông trắng tại VQG Cúc Phương Kết hợp các tài liệu tham khảo chuyên ngành, tiến hành chỉnh lý chính xác tên khoa học
và xây dựng danh lục theo bảng 2, bảng 3
Bảng 2 Danh lục đa dạng nguồn tài nguyên phi gỗ tại VQG Cúc Phương
TT Tên khoa học Tên Việt Nam Công dụng Bộ phận sử dụng
Bảng 3 Danh lục đa dạng nguồn tài nguyên phi gỗ có công dụng làm thuốc tại
VQG Cúc Phương
TT Tên khoa học Tên Việt Nam Bộ phận sử dụng Giá trị sử dụng
Danh mục phải phản ánh đầy đủ các thông tin cần thiết cho mục đích nghiên cứu Do đó, danh sách các loài theo từng họ, các họ theo từng ngành Các ngành xếp theo thứ tự tiến hoá, từ thấp đến cao Ở mỗi ngành, các họ được xếp theo hệ thống alphabet tên khoa học, riêng thực vật Hạt kín thì các họ được xếp vào hai lớp, lớp Hai lá mầm trước, lớp Một lá mầm xếp sau cùng, các họ trong mỗi lớp cũng xếp theo alphabet tên khoa học
2.3.3.2 Cấu trúc hệ thống của hệ thực vật
Từ danh lục thành phần loài, tiến hành xắp xếp các loài theo hệ thống các
Trang 26Bảng 4 Đa dạng các bậc taxon của hệ thực vật
2.3.3.4 Giá trị tài nguyên thực vật
Theo các tài liệu tham khảo chuyên ngành như: Danh lục các loài thực vật Việt
Nam [5,6], Cây cỏ có ích ở Việt Nam [15], Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam
[27], Từ điển cây thuốc Việt Nam [13], Xây dựng các chỉ tiêu để đánh giá giá trị
sử dụng tài nguyên thực vật trình bày trong bảng 5
Bảng 5 Ký hiệu của các công dụng dùng trong danh lục
2 Thức ăn cho người Tng
3 Thức ăn cho Vọoc mông trắng
Tdv
2.3.3.5 Nghiên cứu về mức độ nguy cấp của các loài quý hiếm
Từ bản danh lục, kiểm tra tên từng loài dựa vào danh sách các loài đã được chỉ định trong các danh lục của các chỉ tiêu (danh lục đỏ): Sách đỏ Việt Nam – Phần Thực vật (2007), Nghị định 32 NĐ-CP và khuyến cáo của Chương trình môi trường
của Liên hợp quốc - Trung tâm theo dõi bảo tồn thế giới ( UNEP- WCMC)
Trang 27CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Đa dạng nguồn tài nguyên phi gỗ tại VQG Cúc Phương
Dựa trên các số liệu kế thừa, các số liệu thu thập mẫu, phân tích và xác định mẫu chúng tôi đã chỉnh lí và sắp xếp tên khoa học, tên Việt Nam được các loài thực vật gồm 842 loài thuộc 522 chi, 158 họ và 5 ngành tại VQG Cúc Phương ( Bảng 6) Kết quả cụ thể danh lục thành phần loài được trình bày trong phụ lục 1
3.1.1 Đa dạng về phân loại
Từ số lượng loài, tiến hành phân tích sắp xếp theo cấu trúc hệ thống cho nguồn tài nguyên phi gỗ tại VQG Cúc Phương được trình bày bảng 6
Bảng 6 Thống kê số lượng họ, chi, loài trong các ngành thực vật ở VQG
Trang 28(Pinophyta) chiếm số lượng taxon rất ít Tổng số loài 3 ngành này chỉ chiếm 1,2% tổng số loài của cả hệ
Để thấy rõ vai trò từng ngành ở các bậc taxon khác nhau chúng tôi đi lập bảng 7
Bảng 7 Đánh giá vị trí taxon của từng ngành so với toàn hệ
Họ Chi Loài
Trang 29Từ bảng 7 được mô hình hóa thể hiện qua hình 3 chúng ta thấy rõ hơn vị trí các taxon họ, chi, loài trong các ngành thực vật tại VQG Cúc Phương Ở đây vị trí thống soái thuộc về số lượng các họ, chi, loài của ngành Hạt kín (Magnoliophyta) chiếm 88,6 % số họ, 96,4% số chi và 97,4% số loài của cả hệ Trong ngành thực vật Hạt kín, chúng tập chung chủ yếu ở lớp 2 lá mần (701 loài chiếm đến 85,5% ), lớp 1
lá mần chỉ có 119 loài chiếm 14,5 %.Sự phân bố không đồng đều số họ, chi và loài thể hiện rõ trong các ngành thực vật và điều đó càng thể hiện tính đa dạng trong việc phân bố các taxon bậc thấp của hệ
Để thấy rõ mức độ đa dạng về loài chúng tôi đã phân tích thống kê sự phân
bố số lượng loài cây là tài nguyên phi gỗ trong các họ thực vật tại VQG Cúc Phương được thể hiện bảng 8
Bảng 8 Sự phân bố số lượng loài trong các họ thực vật bậc cao tại VQG Cúc
Phương
Số họ ngành/Lớp
Trên
15 loài
10-15 loài
5-9 loài
4 loài 3loài 2loài
1 loài
Trang 30Kết quả bảng 8 cho thấy ngành Thông đất, ngành Cỏ tháp bút, ngành Dương
xỉ và ngành Hạt trần không có họ nào có số lượng loài nhiều hơn 3 loài được sử dụng.Trong khi đó số họ có nhiều loài chỉ tập trung ở ngành Hạt kín, số họ có ít loài thì có số lượng họ lớn nhưng số loài trong các họ này lại chiếm tỷ lệ rất thấp, số họ
có từ 1 đến 4 loài là 105 họ, chiếm tỷ lệ 66,5 % tổng số họ, nhưng tổng số loài chỉ
có 185 loài chiếm 22 % tổng số loài Trái lại số họ có nhiều loài chiếm tỉ lệ ít (có 51
họ chiếm 32,3 %), nhưng số loài thì nhiều có tới 657 loài chiếm 78 % tổng số loài
Do vậy phân bố các họ của nguồn tài nguyên phi gỗ ở hệ thực vật Cúc Phương là không đồng đều trong các họ thực vật
3.1.2 Đa dạng về công dụng
Nguồn tài nguyên phi gỗ có công dụng làm thuốc, thức ăn cho người và thức
ăn cho Vọoc mông trắng là đơn vị cấu thành nên hệ thực vật VQG Cúc Phương Qua phụ lục 1 chúng tôi đã thống kê được số loài có công dụng làm thuốc,cây ăn được và thức ăn cho Vọoc mông trắng của VQG Cúc Phương theo bảng 9
Bảng 9 Số lượng và tỷ lệ cây được sử dụng làm thuốc, thức ăn cho người và
thức ăn cho Vọoc mông trắng
986
Trang 31Để hiểu rõ về cây được sử dụng làm thuốc, thức ăn cho người và thức ăn cho Vọoc mông trắng chúng tôi đi phân tích từng nhóm được sử dụng
A Nhóm cây đƣợc sử dụng làm thuốc
a Đa dạng về taxon đƣợc sử dụng
Chúng tôi đã nghiên cứu và thống kê được trong 842 loài tài nguyên phi gỗ gồm cây được sử dụng làm thuốc, thức ăn cho người và thức ăn cho Vọoc mông trắng được tại VQG Cúc Phương trong đó có 630 loài được sử dụng làm thuốc và được thể hiện ở phụ lục 2
Qua phụ lục 2 chúng tôi đã phân tích thống kê được 630 loài thuộc 439 chi,
164 họ và 5 ngành thông qua bảng số liệu sau:
Bảng 10 Đa dạng các bậc taxon của thực vật được sử dụng làm thuốc tại
VQG Cúc Phương
TT Tên khoa học Tên Việt Nam
Số lượng
TL (%)
Số lượng
TL (%)
Số lượng
TL (%)
Trang 320 10 20 30 40 50 60 70 80 90 100
Họ Chi Loài
Hình 4 Biểu đồ so sánh tỷ lệ % số taxon thuộc các ngành thực vật được sử
dụng làm thuốc
Nhìn số liệu thống kê bảng 10 và hình 4 ta thấy:
- Lớp hai lá mầm có 102 họ chiếm 79,1 % tổng số họ; 351 chi chiếm 83,4 % tổng số chi và 519 loài chiếm 85.1 % tổng số loài Lớp một lá mầm có 27 họ chiếm 20,9 % tổng số họ; 70 chi chiếm 16,6 % tổng số chi và 91 loài chiếm 14.9 % tổng
số loài Từ đó ta có thể khẳng định lớp 2 lá mầm có số loài chiếm ưu thế trong ngành Hạt kín
- Vị trí thống soái của các taxon thực vật thuộc về ngành Hạt kín (Magnoliophyta) chiếm 88.4 % số họ, 96 % tổng số chi và 97% tổng số loài Phân
bố cây thuốc ở Cúc Phương không đồng đều số họ, chi, loài thể hiện rõ trong các ngành và điều đó càng thể hiện tính đa dạng trong việc phân bố các taxon bậc thấp của hệ
b Sự đa dạng về các bộ phận của cây đƣợc sử dụng làm thuốc
Đa dạng về số lượng các bộ phận sử dụng
Sử dụng bộ phận của cây để làm thuốc cũng rất phong phú, có loài chỉ sử dụng 1 bộ phận, có loài sử dụng 2 bộ phận cũng có loài sử dụng tất cả các bộ phận của cây để làm thuốc Việc sử dụng bộ phận của cây được thống kê ở bảng 11
Trang 33TT Số lƣợng sử dụng Số loài tham gia Tỷ lệ (%) so với tổng số loài
Cả cây 30,2%
≥3 bộ phận 3,6%
2 bộ phận 17,2%
Hình 5 Biểu đồ so sánh tỉ lệ % số lượng các bộ phận sử dụng Như vậy, qua bảng 11 và hình 5 cho thấy khi sử dụng các bộ phận để làm thuốc thì thường thấy lấy 1 bộ phận là nhiều hơn cả ( có thể lá, rễ, hoa…) tiếp đến
là cả cây, 2 bộ phận ( Có thể lá và rễ, lá và hoa, thân và lá …) và cuối cùng là sự kết hợp toàn bộ giữa 3 bộ phận trở lên trong cây
Với kết quả trên có thể thấy rằng khi sử dụng các bộ phận của cây để làm thuốc thì sử dụng 1 bộ là nhiều nhất Sử dụng cả cây đứng thứ 2 Sử dụng 2 bộ phận đứng thứ ba và sử dụng 3 bộ phận trở lên là ít nhất
Trang 34Việc có tới 50% số loài sử dụng nhiều bộ phận cho thấy mức độ ảnh hưởng tới đời sống của cây là rất lớn, nên việc khai thác sử dụng phải lưu ý để không ảnh hưởng đến đời sống của cây
Đa dạng về sử dụng các bộ phận khác nhau
Trong việc sử dụng cây thuốc theo kinh nghiệm Y học cổ truyền cho thấy các bộ phận của cây được dùng vào các mục đích chữa bệnh khác nhau và các bộ phận khác nhau của cùng một cây cũng có những tác dụng khác nhau tùy theo cách vận dụng chữa bệnh của các thầy thuốc Mỗi một loài cây có thể chỉ sử dụng một bộ phận (Lá, thân, rễ, hoa, quả ) nhưng có loài lại sử dụng hai bộ phận (Có thể lá và
rễ, lá và hoa, thân và lá, ) có loài sử dụng 3 bộ phận (Có thể rễ lá hoa, rễ lá quả, vỏ quả thân ) và cũng có loài lại sử dụng cả cây (3 bộ phận thân rễ lá chúng tôi xếp vào cả cây) Hoặc có bệnh phải kết hợp nhiều bộ phận hay nhiều cây mới có tác dụng tốt Qua thống kê các bộ phận sử dụng trong quá trình điều tra chúng tôi xây dựng bảng 12 và hình 6
Bảng 12 Sự đa dạng trong các bộ phận được sử dụng làm thuốc
TT Bộ phận sử dụng Số loài Tỷ lệ % so với tổng số loài
Trang 35Hình 6 Biểu đồ các bộ phận được sử dụng làm thuốc Những dẫn liệu ở trên cho ta thấy sự phong phú và tính chất đa dạng trong việc dùng các bộ phận khác nhau của cây để làm thuốc chữa bệnh Sự kết hợp giữa các bộ phận trong cây để làm thuốc chữa trị là tốt nhất Lá là bộ phận được sử nhiều nhất với 440 loài chiếm 69,8 % so với tổng số loài, kế đến là rễ và thân có 284 và
255 loài chiếm 45,1 và 40,5 % so với tổng số loài cây thuốc … ít nhất là bộ phận nhựa và hoa có 9 loài chiếm 1,4 % so với tổng số loài cây được sử dụng làm thuốc ở VQG Cúc Phương Như vậy bộ phận rễ và thân chiếm tương đối lớn do đó khi khai thác cần chú ý trong công tác bảo tồn, dễ làm tiêu diệt cả cây Để đảm bảo tính bền vững cao cần tạo nguồn dược liệu lớn, nên trồng các loại cây sử dụng được nhiều
bộ phận là tốt nhất
Bên cạnh nghiên cứu sự đa dạng về bộ phận sử dụng chúng tôi còn tiếp tục thống kê tìm hiểu cách trị bệnh đã đánh giá được sự đa dạng các nhóm bệnh chữa trị
c Đa dạng các nhóm bệnh chữa trị
Kinh nghiệm Y học cổ truyền cho thấy từ một cây có tác dụng chữa được nhiều loại bệnh và ngược lại có những bệnh phải kết hợp dùng nhiều loại cây mới có hiệu quả tốt Theo tài liệu nghiên cứu về cây thuốc của Đỗ Tất Lợi, chúng tôi tạm chia việc
Trang 36Bảng 13 Các nhóm bệnh chữa trị bằng cây thuốc của VQG Cúc Phương
1 Bệnh về đường tiêu hóa: Lỏng, tả, lỵ, rối loạn, ngộ độc 168 25,9
2 Bệnh về thời tiết: Cảm cúm, đau đầu, sốt nóng, lạnh 85 13,1
3 Bệnh ngoài da: Vết thương, nhiễm trùng, ghẻ, lở, mụn nhọt 132 20,3
5 Bệnh về xương: Gãy xương, sai khớp, bong gân 64 9,9
6 Bệnh về thận: Viêm thận, tiết niệu, lợi tiểu 98 15,1
10 Động vật cắn: Rắn, rết, chó cắn, ong đốt 42 6,5
12 Bệnh của trẻ em: Còi xương, giun sán, lên sởi 29 4,5
đó số loài cây chữa các bệnh về đường tiêu hóa nhiều nhất 168 loài chiếm 25,9%
Kế tiếp là các bệnh ngoài da như vết thương nhiễm trùng, ghẻ lở, mụn nhọt 132
Trang 37mắt, ung thư , tim mạch được chữa trị bằng cây thuốc ít nhất chỉ chiếm từ 0,3 đến 1,4 % so tổng số loài cây được sử dụng làm thuốc ở VQG cúc Phương
Những kết quả trên tuy chỉ dừng ở mức điều tra tổng hợp nhưng cho ta thấy cây thuốc ở Cúc Phương đã sử dụng để chữa trị cho nhiều bệnh khác nhau Để thấy
rõ được hiệu quả sử dụng cây thuốc để chữa bệnh chúng ta cần có những nghiên cứu tiếp theo về thành phần hóa học của các loại cây và kiểm chứng mới xác định được chính xác tính hiệu quả của các bài thuốc trên
Bên cạnh nguồn tài nguyên dùng làm thuốc thì nguồn tài nguyên ăn được có vai trò quan trọng đối với đời sống người dân
B Nhóm cây được sử dụng làm thức ăn cho người
a Đa dạng các loài được sử dụng
Kết quả nghiên cứu đã thống kê ở bảng 14 cho thấy có tới 278 loài thuộc 192 chi, 80 họ thực vật làm cây ăn được cho người
Bảng 14: Đa dạng các bậc taxon thuộc các ngành thực vật có công dụng làm
thức ăn cho người tại VQG Cúc Phương
TT Tên khoa học Tên Việt Nam
Số lượng
TL (%)
Số lượng
TL (%)
Số lượng
TL (%)
Trang 380 20 40 60 80 100 120
Hình 7 Biểu đồ so sánh tỉ lệ % các taxon thuộc các ngành thực vật có công
dụng làm thức ăn cho người Qua bảng 14 và hình 7 cho ta thấy ngành Ngọc lan – Magnoliophyta chiếm
ưu thế gần như tuyệt đối với 276 loài chiếm 99,4 % tổng số loài, ngành Dương xỉ chiếm tỉ lệ rất thấp với 2 loài (0,7%) Có sự thiếu vắng của Ngành Thông đất,
Ngành Cỏ tháp bút và Ngành Thông Nó chứng tỏ rằng vai trò của thực vật hạt kín luôn giữ vị trí hàng đầu
Các số liệu trình bày trong bảng cho thấy nhóm cây được sử dụng làm thức
ăn cho người có 2 ngành thực vật bậc cao, hai ngành có mặt mang đầy đủ những đặc trưng của hệ thực vật Cúc Phương với ưu thế tuyệt đối của ngành Ngọc lan – Magnoliophyta, ngành Dương xỉ - Polypodiophyta có đại diện xác nhận sự có mặt nhưng có tỉ lệ thấp theo quy luật chung của hệ thực vật Cúc Phương
b Đa dạng về bộ phận sử dụng
Qua phụ lục 1 chúng tôi đã thống kê được như sau:
- Có 240 loài chiếm 86,3 % tổng số loài sử dụng 1 bộ phận
- Có 36 loài chiếm 12,9 % tổng số loài sử dụng 2 bộ phận
- Có 2 loài chiếm 0,8 % tổng số loài sử dụng 3 bộ phận
Trang 40Những dẫn liệu ở trên cho ta thấy sự phong phú và tính chất đa dạng trong việc dùng các bộ phận khác nhau của cây để ăn Thường dùng hơn cả là lá, có tới
131 loài chiếm 47,1 % so với tổng số Quả có tới 122 loài chiếm 43,9 % so với tổng
số loài, tiếp đến là hạt, củ và hoa chiếm 12,9 %; 5,4% và 0,7 % so với tổng số loài.Việc sử dụng các bộ phận này chủ yếu sử dụng các bộ phận với trữ lượng tươi (rau ăn hằng ngày), một số sử dụng với trữ lượng khô ( hạt)
Ngoài 2 nhóm tài nguyên phi gỗ nêu ở trên thì cần phải kể đến nhóm cung
cấp nguồn thức ăn Vọoc Mông Trắng (Trachypithecus delacouri ) Đây là loài Vọoc
mông trắng đặc hữu quý hiếm của Việt Nam, có tên trong "Sách Đỏ" của Việt Nam
và thế giới cần được bảo vệ Chính vì lý do đó em đi tìm hiểu nhóm công dụng làm thức ăn cho Vọoc mông trắng
C Nhóm cây đƣợc sử dụng làm thức ăn cho Vọoc mông trắng
a Đa dạng các loài được sử dụng
Kết quả nghiên cứu đã thống kê ở bảng 16 cho thấy có tới 78 loài thuộc 59
chi, 24 họ thực vật làm thức ăn cho Vọoc mông trắng
Bảng 16 : Đa dạng các bậc taxon của hệ được sử dụng làm thức ăn cho Vọoc
mông trắng tại VQG Cúc Phương
Số lượng TL(%) Số lượng
TL (%)
Số lượng
TL (%)