Các kết quả chỉ mới đưa ra ở mức độ lập danh lục, hoặc điều tra số lượng các loài có công dụng nào đó, cho nên để góp phần đánh giá tính đa dạng sinh học của VQG, chúng tôi đã thực hiện
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
- -
Hà Thị Thúy
GÓP PHẦN NGHIÊN CỨU VÀ ĐÁNH GIÁ TÍNH ĐA DẠNG SINH HỌC CỦA HỆ THỰC VẬT THUỘC VƯỜN QUỐC GIA BA VÌ ĐỂ ĐỊNH HƯỚNG CHO VIỆC BẢO TỒN VÀ SỬ DỤNG CÓ HIỆU QUẢ
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
- -
Hà Thị Thúy
GÓP PHẦN NGHIÊN CỨU VÀ ĐÁNH GIÁ TÍNH ĐA DẠNG SINH HỌC CỦA HỆ THỰC VẬT THUỘC VƯỜN QUỐC GIA BA VÌ ĐỂ ĐỊNH HƯỚNG CHO VIỆC BẢO TỒN VÀ SỬ DỤNG CÓ HIỆU QUẢ
Chuyên ngành: Thực vật học
Mã số: 60.42.20
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Người hướng dẫn: GS.TSKH.NGƯT Nguyễn Nghĩa Thìn
Trang 3MỤC LỤC
DANH LỤC BẢNG BIỂU 4
DANH LỤC HÌNH VẼ 5
BẢNG KÝ HIỆU CÁC CHỮ VIẾT TẮT 6
MỞ ĐẦU 7
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 10
1.1 Nghiên cứu về đa dạng sinh học trên thế giới 10
1.2 Nghiên cứu đa dạng thực vật trên thế giới 13
1.3 Nghiên cứu đa dạng thực vật ở Việt Nam 16
1.4 Những nghiên cứu đa dạng thực vật ở VQG Ba Vì 19
1.5 Nghiên cứu về các yếu tố địa lý 21
1.6 Nghiên cứu về phổ dạng sống của hệ thực vật 24
Chương 2 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ KINH TẾ – XÃ HỘI 26
2.1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN 26
2.1.1 Vị trí địa lý 26
2.1.2 Địa hình 27
2.1.3 Địa chất và thổ nhưỡng 28
2.1.4 Khí hậu 28
2.1.5 Thủy văn 30
2.1.6.1 Cơ cấu đất đai của VQG Ba Vì 30
2.1.6.2 Trữ lượng các loại rừng 31
2.2 ĐIỀU KIỆN KINH TẾ XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU 32
2.2.1 Dân số 32
2.2.2 Lao động và tập quán 32
2.2.3 Văn hóa xã hội 33
2.2.4 Tình hình giao thông và cơ sở hạ tầng 34
Chương 3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 35
3.1 Đối tượng 35
3.2 Mục tiêu nghiên cứu 35
3.3 Nội dung nghiên cứu 35
3.4 Địa điểm 36
Trang 43.5 Phương pháp nghiên cứu 36
3.5.1 Thu mẫu thập số liệu ở thực địa 36
3.5.2 Xử lý và trình bày mẫu 36
3.5.3 Xác định và kiểm tra tên khoa học 37
3.5.4 Xây dựng bảng danh lục thực vật 37
3.5.5 Đánh giá đa dạng sinh học 38
3.5.5.1 Đánh giá đa dạng của các taxon bậc ngành, họ, chi 38
3.5.5.2 Đánh giá tính đa dạng về các yếu tố địa lý thực vật 38
3.5.5.3 Đánh giá tính đa dạng về dạng sống 38
3.5.5.4 Đánh giá về giá trị tài nguyên và mức độ đe dọa 38
Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 39
4.1 Xác định và xây dựng danh lục loài 39
4.2 Đa dạng phân loại hệ thực vật VQG Ba Vì 39
4.2.1 Đa dạng ở mức độ ngành 39
4.2.2 Các chỉ số đa dạng 43
4.2.3 Tỷ lệ hai lớp trong ngành Mộc lan 44
4.2.4 Đánh giá đa dạng các taxon dưới ngành 46
4.2.4.1 Đa dạng ở mức độ họ 46
4.2.4.2 Đa dạng ở mức độ chi 49
4.3 Đa dạng các yếu tố địa lý 51
4.3.1.Yếu tố địa lý của các họ thực vật 51
4.3.2 Yếu tố địa lý của các chi trong hệ thực vật 52
4.3.3 Yếu tố địa lý của các loài trong hệ thực vật 56
4.4 Đa dạng về dạng sống 61
4.4.1 Đa dạng về dạng sống của hệ thực vât VQG Ba Vì khu vực nghiên cứu 61
4.4.2 So sánh dạng sống hệ thực vật Ba Vì với một số hệ thực vật khác 65
4.5 Tài nguyên thực vật 66
4.5.1 Đa dạng về giá trị sử dụng của hệ thực vật 66
4.5.2 Đa dạng các loài quý hiếm 74
4.5.2.Các loài nằm trong danh sách của CITES 77
4.5.3 Các loài nằm trong danh sách của Nghị định 32- 2006/CP 78
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 80
TÀI LIỆU THAM KHẢO 82
Trang 5DANH LỤC BẢNG BIỂU
Hình 1 Hệ thống khu bảo tồn thiên nhiên ở Việt Nam 8
Hình 2 Bản đồ địa lý VQG Ba Vì 27
Hình 3 Sơ đồ giao thông tại khu vực VQG Ba Vì 34
Hình 4 Biểu đồ tỷ lệ % số loài trong các ngành của VQG Ba Vì 40
Hình 5 Biểu đồ tỷ lệ % các ngành thực vật bậc cao có mạch của 41
Hình 6 Biểu đồ sánh tỷ lệ % số loài trong các ngành của hệ thực vật VQG Ba Vì với hệ thực vật Việt Nam 42
Hình 7 Biểu đồ tỷ lệ % hai lớp trong ngành Mộc lan của VQG Ba Vì 45
Hình 8 Biểu đồ tỷ lệ % của 21 họ đa dạng nhất của VQG Ba Vì khu vực nghiên cứu 48
Hình 9 Biểu đồ tỷ lệ % của 10 họ đa dạng nhất hệ thực vật VQG Ba Vì 49
Hình 10 Biểu đồ tỷ lệ % của 11 chi đa dạng nhất hệ thực vật VQG Ba Vì 50
Hình 11 Biểu đồ tỷ lệ phần trăm 3 nhóm yếu tố địa lý chính 53
Hình 12 Biểu đồ tỷ lệ phần trăm các nhóm yếu tố địa lý bậc chi của hệ thực vật VQG Ba Vì 54
Hình 13 Biểu đồ tỷ lệ phần trăm các yếu tố địa lý bậc chi 55
Hình 14 Biểu đồ tỷ lệ phần trăm 3 nhóm yếu tố địa lý chính 58
Hình 15 Biểu đồ tỷ lệ phần trăm các nhóm yếu tố địa lý bậc loài của hệ thực vật VQG Ba Vì 58
Hình 16 Biểu đồ tỷ lệ phần trăm các yếu tố địa lý thực vật bậc loài 59
Hình 17 Phổ dạng sống hệ thực vật Ba Vì 61
Hình 18 Biểu đồ tỷ lệ các dạng sống của nhóm cây chồi trên VQG Ba Vì khu vực nghiên cứu 65
Hình 19 Biểu đồ tỷ lệ % các loài có giá trị sử dụng của VQG Ba Vì 67
Hình 20 Biểu đồ tỷ lệ % số công dụng của các loài cây có giá trị ở Ba Vì 68
Hình 21 Biểu đồ tỷ lệ % các loài cây có giá trị 69
Trang 6DANH LỤC HÌNH VẼ
Hình 1 Hệ thống khu bảo tồn thiên nhiên ở Việt Nam 8
Hình 2 Bản đồ địa lý VQG Ba Vì 27
Hình 3 Sơ đồ giao thông tại khu vực VQG Ba Vì 34
Hình 4 Biểu đồ tỷ lệ % số loài trong các ngành của VQG Ba Vì 40
Hình 5 Biểu đồ tỷ lệ % các ngành thực vật bậc cao có mạch của 41
Hình 6 Biểu đồ sánh tỷ lệ % số loài trong các ngành của hệ thực vật VQG Ba Vì với hệ thực vật Việt Nam 42
Hình 7 Biểu đồ tỷ lệ % hai lớp trong ngành Mộc lan của VQG Ba Vì 45
Hình 8 Biểu đồ tỷ lệ % của 21 họ đa dạng nhất của VQG Ba Vì khu vực nghiên cứu 48
Hình 9 Biểu đồ tỷ lệ % của 10 họ đa dạng nhất hệ thực vật VQG Ba Vì 49
Hình 10 Biểu đồ tỷ lệ % của 11 chi đa dạng nhất hệ thực vật VQG Ba Vì 50
Hình 11 Biểu đồ tỷ lệ phần trăm 3 nhóm yếu tố địa lý chính 53
Hình 12 Biểu đồ tỷ lệ phần trăm các nhóm yếu tố địa lý bậc chi của hệ thực vật VQG Ba Vì 54
Hình 13 Biểu đồ tỷ lệ phần trăm các yếu tố địa lý bậc chi 55
Hình 14 Biểu đồ tỷ lệ phần trăm 3 nhóm yếu tố địa lý chính 58
Hình 15 Biểu đồ tỷ lệ phần trăm các nhóm yếu tố địa lý bậc loài của hệ thực vật VQG Ba Vì 58
Hình 16 Biểu đồ tỷ lệ phần trăm các yếu tố địa lý thực vật bậc loài 59
Hình 17 Phổ dạng sống hệ thực vật Ba Vì 61
Hình 18 Biểu đồ tỷ lệ các dạng sống của nhóm cây chồi trên VQG Ba Vì khu vực nghiên cứu 65
Hình 19 Biểu đồ tỷ lệ % các loài có giá trị sử dụng của VQG Ba Vì 67
Hình 20 Biểu đồ tỷ lệ % số công dụng của các loài cây có giá trị ở Ba Vì 68
Hình 21 Biểu đồ tỷ lệ % các loài cây có giá trị 69
Trang 7BẢNG KÝ HIỆU CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CBD : Công ước Đa dạng sinh học
CITES : Danh mục các loài hoang dã cấm buôn bán thương mại trên phạm vi
toàn cầu ĐDSH : Đa dạng sinh học
IPGRI : Viện Tài nguyên di truyền quốc tế
IUCN : Hiệp hội quốc tế Bảo vệ thiên nhiên
UNEP : Chương trình Môi trường Liên hợp quốc
VQG : Vườn Quốc gia
WWF : Quỹ quốc tế về Bảo vệ thiên nhiên
Trang 8MỞ ĐẦU
Việt Nam là một trong những quốc gia có tính đa dạng sinh học cao nhất trên thế giới Theo tài liệu thống kê, Việt Nam được xếp thứ 16 về mức độ đa dạng sinh học (chiếm 6,5% số loài có trên thế giới), dự tính có thể có tới 20.000 - 30.000 loài thực vật
Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khác nhau mà đa dạng sinh học của các hệ sinh thái nước ta bị suy thoái theo thời gian qua Ý thức được điều đó, ngay từ năm
1962 việc điều tra khảo sát lựa chọn địa điểm và xây dựng các khu rừng đặc dụng
đã được tiến hành Vườn quốc gia Cúc Phương là khu bảo tồn thiên nhiên đầu tiên được thành lập vào năm 1962 Đến năm 1998, đã có danh mục 105 khu bảo tồn thiên nhiên, chiếm diện tích 2.092.466 ha, trong đó có 10 vườn quốc gia, 61 khu dự trữ thiên nhiên, bảo vệ các hệ sinh thái và các loài và 34 khu di tích văn hoá và lịch
sử Đến năm 2008, hệ thống khu bảo tồn thiên nhiên của Việt Nam gồm 164 khu rừng đặc dụng (bao gồm 30 Vườn quốc gia, 69 khu dự trữ thiên nhiên, 45 khu bảo
vệ cảnh quan, 20 khu nghiên cứu thực nghiệm khoa học) và 03 khu bảo tồn biển Đây là những tài sản thiên nhiên quý báu không chỉ có giá trị trước mắt cho thế hệ hôm nay mà còn là di sản của nhân loại mãi mãi về sau
Trang 9Hình 1 Hệ thống khu bảo tồn thiên nhiên ở Việt Nam [39]
Từ đầu thế kỉ 20, Ba Vì đã là địa danh nổi tiếng nhờ sự đa dạng của các hệ sinh thái và có phong cảnh đẹp, khí hậu mát mẻ Vườn quốc gia này nằm trong dãy núi cao chạy dọc theo hướng đông bắc – tây nam với đỉnh Tản Viên cao 1.296m, đỉnh Ngọc Hoa cao 1.120m
Rừng cấm Quốc gia Ba Vì được thành lập ngày 16/01/1991, theo quyết định
số 17/CT của Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng (nay là Chính phủ) Đến ngày 18/12/1991 được đổi tên thành vườn Quốc gia Ba Vì (VQG Ba Vì) theo quyết định
số 407/CT Tháng 5 năm 2003 vườn được Chính phủ quyết định mở rộng sang tỉnh Hoà Bình Hiện nay, tổng diện tích của Vườn 10.782ha thuộc địa giới hành chính của hai tỉnh thành là Thủ đô Hà Nội và tỉnh Hòa Bình thuộc 16 xã của 5 huyện: huyện Ba Vì, Thạch Thất, Quốc Oai thuộc Thành phố Hà Nội; huyện Lương Sơn,
Kỳ Sơn thuộc tỉnh Hòa Bình, VQG Ba Vì cách Sơn Tây 15 km, cách thủ đô Hà Nội
Trang 1060 km về hướng tây, theo đường quốc lộ 21A và 87 Tọa độ địa lý: 20o
55' - 21o07'
vĩ độ Bắc, 105o
18' - 105o30' kinh độ Đông
VQG Ba Vì là một bộ phận quan trọng của môi trường sinh thái, là nhu cầu,
là đối tượng hoạt động trong các lĩnh vực kinh tế – xã hội… của nhân dân, các dân tộc sinh sống trong khu vực, đồng thời cũng là một trong những nguồn lực quan trọng cho quá trình tăng trưởng, phát triển kinh tế của tỉnh Hà Tây cũ, cũng như của thủ đô Hà Nội trước mắt và lâu dài VQG Ba Vì không chỉ được mệnh danh là lá phổi của thủ đô Hà Nội mà còn là nơi sinh sống của hàng trăm loài động, thực vật hoang dã, có rất nhiều loài quý, hiếm có tên trong sách đỏ của Việt Nam
Những nghiên cứu về khu hệ thực vật ở đây đã được tiến hành từ lâu Tuy nhiên, với vị thế và tầm quan trọng của VQG duy nhất thủ đô Hà Nội, việc nghiên cứu và đánh giá tính đa dạng sinh học về mặt thực vật ở VQG Ba Vì còn chưa đầy
đủ và có hệ thống Các kết quả chỉ mới đưa ra ở mức độ lập danh lục, hoặc điều tra
số lượng các loài có công dụng nào đó, cho nên để góp phần đánh giá tính đa dạng
sinh học của VQG, chúng tôi đã thực hiện đề tài “Góp phần nghiên cứu và đánh giá tính đa dạng sinh học của hệ thực vật thuộc Vườn Quốc gia Ba Vì để định hướng cho việc bảo tồn và sử dụng có hiệu quả” vừa giúp cho việc hoàn thành
nhiệm vụ học tập của bản thân vừa góp phần cung cấp những dữ liệu mới cho Vườn Quốc gia Ba Vì
Trang 11Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Nghiên cứu về đa dạng sinh học trên thế giới
Thế nào là đa dạng sinh học? Tùy theo các trường phái, quan điểm khác nhau
mà người ta có các khái niệm khác nhau
Thuật ngữ Đa dạng sinh học (ĐDSH) là một thuật ngữ khá mới mẻ được dùng để chỉ tính phong phú của sự sống trên Trái đất, là hàng triệu loài thực vật, động vật, vi sinh vật, là các gen trong các loài và những hệ sinh thái vô cùng phức tạp mà trong đó chúng sống
Có thể coi, thuật ngữ đa dạng sinh học lần đầu tiên được Norse và Mc Manus (1980) định nghĩa, bao hàm hai khái niệm có liên quan với nhau là: đa dạng di truyền (tính đa dạng về mặt di truyền trong một loài) và đa dạng sinh thái (số lượng các loài trong một quần xã sinh vật) Đến nay có trên 25 định nghĩa cho thuật ngữ
đa dạng sinh học
Theo Công ước Đa dạng sinh học, khái niệm đa dạng sinh học (biodiversity, biological diversity) có nghĩa là sự khác nhau giữa các sinh vật sống ở tất cả mọi nơi, bao gồm: các hệ sinh thái trên cạn, trong đại dương và các hệ sinh thái thuỷ vực khác, cũng như các phức hệ sinh thái mà các sinh vật là một thành phần , thuật ngữ này bao hàm sự khác nhau trong một loài, giữa các loài và giữa các hệ sinh thái
Tóm lại, đa dạng sinh học là khoa học nghiên cứu về tính đa dạng của vật sống trong thiên nhiên, từ các sinh vật phân cắt đến các động vật và thực vật (trên cạn cũng như dưới nước) và cả loài người chúng ta, từ mức độ phân tử đến các cơ thể, các loài và các quần xã mà chúng ta sống Đa đạng sinh học gồm đa dạng về di truyền, đa dạng về loài và đa dạng về hệ sinh thái [18]
Ở Việt Nam, thuật ngữ ĐDSH mới chỉ được đề cập đến trong những năm cuối của thập kỷ 80 của thế kỷ trước song các công trình nghiên cứu về ĐDSH đã
Trang 12được tiến hành từ lâu Đó là những công trình nghiên cứu về giới thực vật và động vật, cùng với các giá trị của chúng
Thực chất, những nghiên cứu của con người về ĐDSH đã được tiến hành từ nhiều thế kỷ trước Tuy nhiên, những nghiên cứu đó không phải dựa trên quan điểm
và học thuật ĐDSH như ngày nay
Ngày nay, đa dạng sinh học và bảo tồn đã trở thành vấn đề thu hút sự quan tâm của toàn nhân loại Nhiều tổ chức quốc tế đã ra đời để hướng dẫn, giúp đỡ và tổ chức việc đánh giá, bảo tồn và phát triển đa dạng sinh vật trên phạm vi toàn cầu Năm 1948, Hiệp hội quốc tế Bảo vệ thiên nhiên (IUCN) ra đời đưa ra Chiến lược bảo toàn thế giới, với mục tiêu “đạt được sự phát triển bền vững bằng cách bảo vệ tài nguyên sống” Quỹ quốc tế về Bảo vệ thiên nhiên (WWF) được thành lập ngày 11/09/1961 tại Thụy Sỹ với các mục tiêu mong muốn giảm bớt sự tàn phá thiên nhiên toàn cầu để xây dựng một tương lai mà con người sống hòa hợp cùng thiên nhiên, bảo tồn sự đa dạng sinh học của thế giới, đảm bảo duy trì sử dụng các tài nguyên thiên nhiên có thể tái sinh, xúc tiến việc giảm bớt ô nhiễm môi trường và tiêu thụ lãng phí Chương trình Môi trường Liên hợp quốc (UNEP) được thành lập ngày 15/12/1972 theo Nghị quyết 2997 (XXVII) của Đại hội đồng Liên hợp quốc, đây là tổ chức duy nhất của hệ thống Liên hợp quốc được thành lập nhằm mục đích đưa ra những đường lối có tính chỉ đạo và các chương trình hành động toàn cầu nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống mà không gây tổn hại cho thế hệ tương lai Ngoài ra, còn có Viện Tài nguyên di truyền quốc tế (IPGRI) gắn liền với chương trình bảo tồn tài nguyên di truyền thực vật…
Một điểm mốc quan trọng nữa đánh dấu sự chung tay của toàn thế giới trong việc bảo tồn đa dạng sinh học đó là Công ước Đa dạng sinh học (Convention on Biological Diversity viết tắt là CBD) được thông qua vào tháng 05/1992 tại Nairobi
và được đưa ra để các nước ký kết trong Hội nghị về Môi trường và Phát triển của Liên hợp quốc tại Rio de Janeiro vào ngày 05/06/1992 Công ước bắt đầu có hiệu lực từ ngày 29/12/1992 Mục tiêu chính của công ước là nhằm bảo tồn đa dạng sinh
Trang 13học, sử dụng bền vững các thành phần của đa dạng sinh học, chia sẻ công bằng và hợp lý những lợi ích thu được từ việc sử dụng tài nguyên sinh học Hiểu rõ được tầm quan trọng của Công ước đối với sự tồn tại và phát triển của từng quốc gia cũng như của Trái đất, ngày càng có nhiều quốc gia tham gia vào Công ước Đa dạng sinh học Tính đến ngày 20/08/2002 Công ước có 182 thành viên tham gia, đến tháng 05/2009 đã có 191 quốc gia là thành viên của công ước này và đến tháng 11/2010
đã có 193 nước tham gia Bên cạnh đó, ngày 25/05 hằng năm được Liên hiệp quốc chọn làm ngày Đa dạng sinh học Thế giới Và ngày 05/6 hàng năm là Ngày môi trường thế giới (ngày 05/6/1972 là ngày khai mạc Hội nghị Stockhom về môi trường)
Từ năm 1959, Liên hợp quốc đã bắt đầu công bố lấy năm quốc tế theo những chủ đề khác nhau nhằm kêu gọi sự chú ý của cộng đồng thế giới vào những vấn đề quan trọng, cấp bách Chủ đề của những năm gần đây đã và đang xoay quanh các vấn đề về đa dạng sinh học và tài nguyên di truyền sinh vật như: 2002 - năm di sản
về núi đồi đồng thời cũng là năm di sản văn hóa quốc tế, 2003 - năm quốc tế về nước sạch, 2004 - năm lúa gạo quốc tế, 2006 - năm sa mạc quốc tế , đặc biệt năm
2010 được chọn là năm Quốc tế về Đa dạng sinh học với chủ đề là “Đa dạng sinh học là sự sống của chúng ta” Điều này cho thấy cộng đồng thế giới đang ngày càng quan tâm, đầu tư nhiều hơn cho đa dạng sinh học
Hiện nay, có khoảng 300 công ước quốc tế về bảo vệ môi trường Nước ta đã tích cực tham gia và thực hiện nghiêm túc nhiều Công ước quốc tế về môi trường sau khi đã ký kết Đó là tham gia UNEP từ năm 1977, khi Việt Nam trở thành thành viên của Liên hợp quốc, Công ước của Liên Hợp Quốc về sự biến đổi môi trường (26/8/1980), Công ước về các vùng đất ngập nước có tầm quan trọng quốc tế (RAMSAR) (20/9/1988), trở thành quốc gia thành viên của IUCN vào năm 1993, Công ước về buôn bán quốc tế về các giống loài động thực vật có nguy cơ bị đe dọa (20/1/1994), Công ước Viên về bảo vệ tầng ô-zôn (26/4/1994), Công ước khung của Liên Hợp Quốc về biến đổi khí hậu (16/11/1994), ngày 16/11/1994 Việt Nam chính thức gia nhập Công ước Đa dạng sinh học
Trang 14Và để hoàn thiện hệ thống pháp luật về đa dạng sinh học, luật hóa có hệ thống và thống nhất các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, thực hiện các cam kết quốc tế về đa dạng sinh học phục vụ cho mục tiêu phát triển bền vững đất nước, luật Đa dạng sinh học đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kì họp thứ 4 thông qua ngày 13/11/2008 và chính thức có hiệu lực từ ngày 01/07/2009 Đây chính là cơ sở pháp lý quan trọng trong công tác bảo tồn đa dạng sinh học ở nước ta
1.2 Nghiên cứu đa dạng thực vật trên thế giới
Những nghiên cứu về đa dạng thực vật trên thế giới đã có từ rất lâu, bắt đầu bằng việc phân loại thực vật Theophraste (371 - 286, TCN), học trò của Aristotle được coi là người đầu tiên nghiên cứu phân loại thực vật Ông đã đề xướng phương pháp phân loại và phân biệt một số tính chất cơ bản trong cấu tạo cơ thể thực vật Trong tác phẩm “Lịch sử thực vật” (Historia plantarium) và “Bàn về cơ sở thực vật” (Causae plantarium) ông đã mô tả 445 loài cây thường thấy ở Hy Lạp dựa trên đặc điểm hình thái, dạng cây, nơi sống và có chú ý đến công dụng Ông đã phân được thành các dạng: cây to, cây nhỡ, cây nhỏ, cây thân gỗ, cây sống trên cạn, cây sống dưới nước…
Hơn hai trăm năm sau, Plinus (79 - 23, TCN), nhà bác học người La Mã viết
bộ “Lịch sử tự nhiên” đã mô tả gần 1000 loài cây, chủ yếu là cây ăn quả và cây làm thuốc Đến đầu thế kỷ thứ I sau công nguyên (20 - 60) Dioscoride đã mô tả 500 loài cây và nhóm thành các họ trong cuốn “Nguyên liệu làm thuốc” (Materia medica)
Trong suốt thời gian dài thời trung cổ, do sự thống trị của giáo hội và nhà thờ, khoa học bị kìm hãm, nghiên cứu đa dạng thực vật cũng không phát triển được Tới thời kì phục hưng, cùng với sự phát triển của chủ nghĩa tư bản, nghiên cứu về
đa dạng thực vật cũng được quan tâm hơn Số cây cối được biết đến tăng lên rất nhiều, đòi hỏi phải xây dựng những bảng phân loại để tiện sử dụng Việc xuất bản tập Bách thảo (thế kỉ XVI), xây dựng vườn bách thảo (thế kỉ XV - XVI) và biên soạn các cuốn “Bách khoa toàn thư” về thực vật đóng vai trò quan trọng đối với sự
Trang 15phát triển của việc nghiên cứu thực vật Đến gần cuối thế kỉ XVIII, việc xây dựng các bảng phân loại đã trở thành nhiệm vụ trọng tâm của nghiên cứu thực vật và thời
kì này xuất hiện nhiều bảng phân loại của các tác giả khác nhau, trong đó có bảng phân loại của Caesalpine [22]
Caesalpine (1519 - 1603) là một trong những nhà thực vật học của thời kì phục hưng được đánh giá cao bởi quan điểm cho rằng việc phân loại thực vật không phải dựa vào ý thích của con người mà phải dựa vào các đặc điểm quan trọng của thực vật Ông cho rằng cơ quan sinh sản (quả và hạt) là đặc điểm quan trọng
Tiếp theo, J Ray (1627 - 1705) là người đầu tiên đưa ra khái niệm “loài” và
đã mô tả 18000 loài thực vật trong “Lịch sử thực vật” Ông phân chia thực vật dựa vào lá mầm Theo ông, thực vật gồm hai nhóm lớn: nhóm “bất toàn” gồm Nấm, Rêu, Dương xỉ, các thực vật thủy sinh và nhóm “hiển hoa” gồm thực vật Một lá mầm và thực vật Hai lá mầm
Sau Ray là J.P.de Tournefort (1656 - 1705) lấy tràng hoa là cơ sở cho phân loại và chia thực vật có hoa thành nhóm không cánh và nhóm có cánh hoa sắp xếp trong 22 lớp, sau lớp chia ra họ, bộ, chi và loài
Mãi đến Linaeus (1707 - 1778) với bảng phân loại được coi là đỉnh cao của thời kì phân loại nhân tạo Ông đã dựa vào cơ quan sinh sản (hoa) mà cụ thể là số lượng nhị để phân loại và chia thực vật làm 24 lớp, trong đó thực vật có hoa 23 lớp (lớp 1 nhị, lớp 2 nhị…) và 1 lớp bao gồm Tảo, Nấm, Địa y, Rêu, Dương xỉ Dưới lớp có 116 bộ, 1000 chi và mô tả được 10000 loài Trong hệ thống này nhiều nhóm thực vật được phản ánh đúng bản chất và còn đúng đến ngày nay, tuy nhiên vì chỉ dựa trên một đặc điểm chính là số lượng nhị nên đã không phản ánh được đầy đủ bản chất tự nhiên của hệ thống Linaeus cũng có công rất lớn trong việc đề xuất danh pháp hai từ để gọi tên loài và được sử dụng cho tới ngày nay [22]
Sau Linaeus các nhà thực vật không chỉ quan tâm đến một số đặc điểm của thực vật dựa theo ý chủ quan của họ như các nhà thực vật trước đây, mà đã dựa vào toàn bộ các đặc điểm chính của thực vật để xây dựng nên các hệ thống tự nhiên Có
Trang 16thể kể đến một số hệ thống tự nhiên như: Hệ thống phân loại của Bernard Jussieu (1699 - 1777) và cháu ông là A.L.de Jussieu (1749 - 1836) đã sắp xếp thực vật theo trình tự từ thấp đến cao, xếp chúng vào các họ, giữa các họ đều có những dạng chuyển tiếp, phản ánh được mối quan hệ giữa các nhóm thực vật với nhau A.L de Jussieu đã chia thực vật thành thực vật không lá mầm (gồm Tảo, Nấm, Rêu, Dương xỉ) và thực vật có lá mầm (Tùng bách, thực vật Một lá mầm và thực vật Hai lá mầm)
Nhà thực vật học người Thụy Sỹ O.P De Candole (1778 - 1841) cũng có công rất lớn trong nghiên cứu thực vật, ông đã đưa số họ thực vật lên 161 họ Robert Brown (1773 - 1858) là người đầu tiên nghiên cứu tỉ mỉ về Tùng bách và Tuế, ông đã tách rời hạt Trần ra khỏi hạt Kín Từ năm 1825 - 1845 còn có tới 20 hệ thống phân loại của các nhà thực vật học khác nữa
Vào giữa thế kỉ XIX là một giai đoạn bắt đầu của ý tưởng tiến hóa Khi tác phẩm “Nguồn gốc các loài” của Darwin ra đời năm 1858 thì khoa học về sinh vật đã
có những thay đổi lớn Bằng những lí luận chặt chẽ và những bằng chứng cụ thể, học thuyết tiến hóa của Darwin đã phủ nhận tính chất bất biến của loài và xem loài
là kết quả của sự phát triển tiến hóa tự nhiên Học thuyết này đã khiến cho người ta nhận ra rằng trong khi phân loại thực vật, cần phải tập hợp những dạng thống nhất với nhau về nguồn gốc chứ không chỉ đơn thuần giống nhau đại bộ phận tính chất
Sự sắp xếp các nhóm thực vật không chỉ phản ánh mối tương quan và nối tiếp giữa chúng mà còn phải phản ánh con đường phát triển tiến hóa của giới thực vật
Từ cuối thế kỷ XIX đến nay, với thành tựu của các môn khoa học khác đã hỗ trợ rất nhiều cho việc nghiên cứu về đa dạng thực vật, tạo cơ sở về dẫn liệu và phương pháp để xây dựng các bảng hệ thống tiến hóa Tuy nhiên, với số lượng thực vật trên trái đất rất lớn, và còn nhiều loài vẫn chưa được phát hiện, thì việc nghiên cứu đầy đủ về thực vật vẫn còn là công việc nhiều khó khăn cho hiện tại và tương lai
Trang 171.3 Nghiên cứu đa dạng thực vật ở Việt Nam
Nghiên cứu đa dạng thực vật ở Việt Nam cũng được tiến hành từ rất sớm, bằng các công trình nghiên cứu về phân loại thực vật Có thể kể đến một số tác phẩm như cuốn “Nam dược thần hiệu” (1417) mô tả 579 loài cây thuốc của Tuệ Tĩnh Cuốn “Vân đài loại ngữ” (thế kỉ XVI) của Lê Quý Đôn đã phân chia thực vật thành nhiều loại: cây cho hoa, cho quả, cây ngũ cốc, cây rau, cây mộc, cây thảo, cây mọc theo các mùa khác nhau Vào thời Lê, Nguyễn Trữ đã viết tác phẩm “Việt Nam thực vật học” nghiên cứu sâu hơn và mô tả kĩ rất nhiều cây Năm 1595, Lí Thời Trân viết cuốn “Bản thảo cương mục”, trong đó đề cập đến trên 1000 vị thuốc thảo mộc
Sự phong phú và đa dạng về tài nguyên thực vật của nước ta đã hấp dẫn rất nhiều nhà nghiên cứu phương Tây, đặc biệt là các nhà khoa học người Pháp trong thời kỳ thực dân Pháp xâm lược Họ đã để lại một số công trình nghiên cứu lớn như:
“Thực vật Nam bộ” (1790) của Loureiro, mô tả gần 700 loài cây, “Thực vật rừng Nam bộ” (1879) của Pierre, mô tả gần 800 loài cây gỗ, hay bộ “Thực vật chí của Lào, Campuchia và Việt Nam” của các tác giả A.Aubreville, J.F.Leroy, P.Muarant (1860) Công trình lớn nhất là bộ “Thực vật chí Đông Dương” do H Lecomte và một số nhà thực vật học người Pháp biên soạn (từ 1907 đến 1943) gồm 7 tập chính
và sau đó lại bổ sung thêm bằng những tập phụ, trong đó đã phân loại, thống kê, mô
tả các loài cây từ Dương xỉ đến thực vật Hạt kín của toàn Đông Dương Ngoài ra còn phải kể đến một số công trình khác như: “Danh mục các sản phẩm của Đông Dương” của Crévost, Lemaríe và Pételot “Các cây thuốc của Campuchia, Lào và Việt Nam” của Pételot, “Các cây thuốc của miền Bắc Việt Nam” của Foucaud…Và trên cơ sở các công trình đã có, năm 1965 Pócs Tamás đã thống kê được miền Bắc
có 5.190 loài
Bên cạnh các công trình nghiên cứu của người Pháp thì cũng có nhiều công trình của các nhà nghiên cứu trong nước, nhất là từ năm 1954 tới nay thì việc nghiên cứu về thực vật được quan tâm phát triển mạnh mẽ Có thể kể đến các tác
Trang 18phẩm đã được xuất bản như “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam” của tác giả
Đỗ Tất Lợi (1969, 1977); bộ “Cây cỏ thường thấy ở Việt Nam” do Lê Khả Kế chủ biên (1969, 1975); bộ “Cây gỗ rừng Việt Nam” (1971 - 1988) gồm 7 tập và cuốn
“Những loài thực vật rừng quý hiếm cần bảo vệ ở Việt Nam” do Viện điều tra quy hoạch rừng biên soạn
Trên cơ sở bộ dữ liệu đã có và bộ Thực vật chí Đông Dương, Thái Văn Trừng (1978) đã thống kê thực vật Việt Nam có 7.004 loài, 1.850 chi và 289 họ, trong đó: ngành Hạt Kín có 3.366 loài (90,9%), 1.727 chi (93,4%) và 293 họ (82,7%); ngành Dương Xỉ và họ Dương Xỉ có 599 loài (8,6%), 205 chi (5,57%) và
42 họ (14,5%); ngành Hạt trần 39 loài (0,5%), 18 chi (0,9%) và 8 họ (2,8%)
Đáng chú ý nhất phải kể đến bộ “Cây cỏ Việt Nam” của Phạm Hoàng Hộ (1991-1993) xuất bản ở Canada, sau đó được nhà xuất bản Trẻ chỉnh lý, bổ sung và tái bản phát hành ở Việt Nam năm 2000, đây là bộ sách được đánh giá là đầy đủ nhất, dễ sử dụng nhất và góp phần quan trọng trong việc nghiên cứu thực vật ở Việt Nam Trong bộ sách này, tác giả đã thống kê mô tả và kèm theo hình vẽ của hơn 11.600 loài thực vật Việt Nam [12]
Năm 1993, Trần Đình Lý và tập thể cũng công bố cuốn “1900 loài cây có ích của Việt Nam” Năm 1996, tác phẩm “Cây gỗ rừng Việt Nam” gồm 7 tập, được nhiều tác giả chỉnh lý và dịch sang tiếng Anh Cùng năm này, Võ Văn Chi công bố cuốn “Từ điển cây thuốc Việt Nam” và gần đây là cuốn “Từ điển thực vật thông dụng” (2003) Nguyễn Tiến Bân công bố cuốn “Cẩm nang tra cứu và nhận biết các
họ thực vật ở Việt Nam” (1997) Võ Văn Chi và Trần Hợp (1999) công bố cuốn
“Cây cỏ có ích ở Việt Nam” Đỗ Tất Lợi giới thiệu “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam” và các tài liệu do Viện dược liệu biên soạn như “Cây thuốc Việt Nam” (1990); “Tài nguyên cây thuốc Việt Nam”(1993); “Cây thuốc và động vật làm thuốc
ở Việt Nam” (2004) Các công trình nghiên cứu này đều mô tả khá chi tiết các loài cùng với hình vẽ minh họa, trong đó nhiều công trình quan tâm đến giá trị kinh tế của chúng, đặc biệt là giá trị làm thuốc
Trang 19Năm 1996 tập thể các nhà khoa học đã cho xuất bản cuốn “Sách đỏ Việt Nam, phần Thực vật” trong đó mô tả 356 loài thực vật quí hiếm ở nước ta hiện đang
bị đe dọa ở các mức độ khác nhau, cần có biện pháp bảo vệ Đến năm 2007, cuốn sách được tái bản, chỉnh sửa và bổ sung, riêng phần thực vật, số loài bị đe dọa lên đến 462 loài
Gần đây, tập thể các nhà thực vật học có uy tín của Việt Nam đã tập trung biên soạn cuốn “Danh lục hệ thực vật Việt Nam” (2001 - 2005) gồm 3 tập, đây thực
sự là một công trình có giá trị khoa học cao phản ánh trình độ, kinh nghiệm của các nhà khoa học cũng như thể hiện tính đa dạng phong phú của hệ thực vật Việt Nam
Bên cạnh các công trình mang tính chất chung cho cả nước, cũng có rất nhiều công trình nghiên cứu khu hệ thực vật từng vùng được công bố chính thức:
+ Đối với miền Bắc Việt Nam các tài liệu nghiên cứu về đa dạng các đơn vị phân loại như: Pócs Tamás (1965) đã thống kê được ở miền Bắc có 5.196 loài Năm
1969, Phan Kế Lộc đã thống kê lại và bổ sung nâng số loài ở miền Bắc Việt Nam lên 5.609 loài, 1.660 chi và 140 họ
+ Trong phạm vi từng vùng: hệ thực vật Tây Nguyên được công bố có 3.754 loài thực vật có mạch do Nguyên Tiến Bân, Trần Đình Nại, Phan Kế Lộc chủ biên (1984); Danh lục thực vật Phú Quốc của Phạm Hoàng Hộ (1985) công bố 793 loài thực vật có mạch trong một diện tích 592km2; Lê Trần Chấn, Phan Kế Lộc, Nguyễn Nghĩa Thìn, Nông Văn Tiếp (1990) về hệ thực vật Lâm Sơn, Lương Sơn (Hòa Bình); Nguyễn Nghĩa Thìn và Nguyễn Thị Thời (1998) đã giới thiệu 2.024 loài thực vật bậc cao, 771 chi, 200 họ thuộc 6 ngành của vùng núi cao Sa Pa – Phan Si Pan Đặc biệt từ năm 1995 - 2007, Nguyễn Nghĩa Thìn cùng với một số tác giả khác đã công bố nhiều bài báo đa dạng sinh học cho Vườn Quốc gia Cúc Phương (Ninh Bình); vùng núi đá vôi Hòa Bình; núi đá vôi Sơn La; KBTTN Khau Ca (Hà Giang); KBTTN Na Hang và KBTTN Chạm Chu (Tuyên Quang); KBTTH Hữu Liên (Lạng Sơn); VQG Hoàng Liên (Lào Cai); VQG Ba Bể (Bắc Kạn); VQG Cát Bà (Hải Phòng); VQG Bến Én (Thanh Hóa); VQG Pù Mát và KBTTTN Pù Huống (Nghệ
Trang 20An); VQG Phong Nha – Kẻ Bàng (Quảng Bình); VQG Cát Tiên (Đồng Nai); VQG Yôk Đôk (Đăk Lăk); vùng ven biển Phong Điền (Thừa Thiên Huế) và Nam Trung
Bộ [20]
Ngoài ra, phải phải kể đến các nghiên cứu về các họ thực vật riêng biệt trong
cả nước như “Orchidaceae Đông Dương” của Seidenfaden (1992), “Orchidaceae Việt Nam” của Leionid Averyanov (1994), Nguyễn Nghĩa Thìn với “Euphorbiaceae Việt Nam” (1995, 1999, 2007), Nguyễn Tiến Bân với “Annonaceae Việt Nam” (2000), “Lamiaceae” của Vũ Xuân Phương (2000); “Myrsinaceae” của Trần Thị Kim Liên (2002), “Cyperaceae” của Nguyễn Khắc Khôi (2002) và Vũ Xuân Phương với “Verbenaceae” (2007)…Đây là những công trình nghiên cứu chuyên sâu, đầy đủ các thông tin cần thiết về các loài trong họ, là tài liệu quan trọng làm cho sở cho việc đánh giá về đa dạng phân loại của các họ thực vật Việt Nam [20]
1.4 Những nghiên cứu đa dạng thực vật ở VQG Ba Vì
Những nghiên cứu về khu hệ thực vật ở Ba Vì đã được tiến hành từ lâu Tuy nhiên việc nghiên cứu và đánh giá tính đa dạng sinh học về mặt thực vật ở VQG Ba
Vì hầu như chỉ mới đưa ra ở mức độ lập danh lục Theo tài liệu “Thực vật chí Đông dương” thời Pháp thuộc và các tài liệu điều tra năm 1999: Hệ thực vật bậc cao gồm
có 812 loài thuộc 427 chi và 99 họ, trong đó có nhiều loài cây quý hiếm như: Bách xanh, Thông tre, Sến mật, Giổi lá bạc, Quyết thân gỗ, Bát giác liên, Hoa tiên, Râu hùm, Phỉ ba mũi, Sam bông, Ba gạc, Sa nhân…Có những loài thực vật chỉ có ở núi
Ba Vì như Cà Lồ Ba Vì, Bời lời Ba Vì, Mỡ Ba Vì, Thu hải đường Ba Vì, Xương cá
Ba Vì [35]…Ngoài ra công trình nghiên cứu bước đầu về hệ thực vật Ba Vì của
Nguyễn Nghĩa Thìn (Nguyễn Nghĩa Thìn, 2000 Diversity of vegetation of Ba Vi
National Park Proceedings of IAVS-2000, Nagano, Japan) trong một bài báo đăng
trên tạp chí nước ngoài có đưa ra một số thống kê về hệ thực vật nơi đây
Ba Vì nổi tiếng là một trong những trung tâm bảo tồn các cây thuốc ở Việt Nam, vì vậy đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về cây thuốc ở đây, có thể kể đến các công trình:
Trang 21+ Công trình nghiên cứu thực địa của Vũ Văn Chuyên năm 1971 đã lập danh lục 150 loài cây thuốc ở VQG Ba Vì
+ Lê Trần Chấn và cộng sự năm 1993 đã công bố số lượng cây thuốc của hệ thực vật Ba Vì là 280 loài
+ Theo kết quả điều tra năm 1990 về tình hình cây thuốc từ độ cao 400m trở lên của Học viện Quân y đã phát hiện có 169 loài cây thuốc có khả năng chữa 28 nhóm bệnh khác nhau
+ Năm 1992, Trường đại học Dược Hà Nội phối hợp với hiệp hội AREA (Australia) và Trung tâm nghiên cứu tài nguyên môi trường Trường Đại học Tổng hợp (CRES) kết quả điều tra cho thấy VQG Ba Vì có 250 loài cây được dùng làm thuốc chữa 33 bệnh và chứng bệnh
+ Năm 1998 và 1999 Nguyễn Nghĩa Thìn và cộng sự thực hiện đề tài Nghiên
cứu cây thuốc truyền thống của đồng bào Dao ở huyện Ba Vì, tỉnh Hà Tây đã xác
định 274 loài, thuộc 214 chi của 83 họ được người Dao chữa 15 nhóm bệnh
+ Năm 2003, Trần Văn Ơn trong luận án tiến sĩ dược học Góp phần nghiên
cứu bảo tồn cây thuốc ở Vườn Quốc gia Ba Vì đã điều tra được 503 loài được người
Dao sử dụng, thuộc 321 chi của 118 họ, thuộc 5 ngành
+ Năm 2007, Nguyễn Nghĩa Thìn, Nguyễn Thị Kim Thanh, Vũ Văn Sơn
trong công trình Đa dạng nguồn tài nguyên thực vật làm thuốc tại vườn Quốc gia
Ba Vì đã thống kê 668 loài thuộc 441 chi của 158 họ, thuộc 5 ngành bậc cao của Ba
Vì được sử dụng làm thuốc
Trên trang web chính thức của VQG Ba Vì cho biết, theo danh mục thực vật
đã được thu thập mẫu và kết quả điều tra bổ sung năm 2008, cho tới nay Vườn Quốc gia Ba Vì có 1201 loài thực vật bậc cao có mạch thuộc 649 chi và 160 họ Như vậy, qua kết quả nghiên cứu mới nhất đã khẳng định sự phong phú đa dạng loài thực vật của vườn So với kết quả điều tra năm 1998, số họ thực vật phát hiện mới tăng 61 họ, số chi tăng 177 chi và số loài tăng 389 loài [35]
Trang 221.5 Nghiên cứu về các yếu tố địa lý
Mỗi hệ thực vật bao gồm nhiều yếu tố địa lý khác nhau, vì vậy phân tích các yếu tố địa lý thực vật là một nội dung quan trọng khi nghiên cứu một hệ thực vật để hiểu bản chất cấu thành của nó, làm cơ sở cho việc định hướng và bảo tồn giống vật nuôi, cây trồng…
Gagnepain là người đầu tiên phân tích các yếu tố địa lý của hệ thực vật Việt Nam với hai tác phẩm “Góp phần nghiên cứu hệ thực vật Đông Dương” (1926) và
“Giới thiệu về hệ thực vật Đông Dương” (1944) Theo tác giả, hệ thực vật Đông Dương thành 5 yếu tố [21]
Yếu tố Xích Kim – Himalaya 18,5%
Yếu tố Malaysia và nhiệt đới khác 15,0%
Yếu tố đặc hữu bán đảo Đông Dương 11,9%
Yếu tố nhập nội và phân bố rộng 20,8%
Sau đó vào năm 1965, khi nghiên cứu về hệ thực vật Bắc Việt Nam, Pócs Tamás đã phân chia thành các nhóm yếu tố như sau [21]:
- Nhân tố bản địa đặc hữu 39,9%
- Nhân tố di cư từ các vùng nhiệt đới: 55,27%
Từ Malaysia – Indonesia 25,69%
Trang 23Trong nhân tố khác thì nhân tố nhập nội, trồng trọt chiếm 3,08%
Năm 1978, Thái Văn Trừng căn cứ vào bản thống kê của các loài thực vật Bắc Việt Nam đã cho rằng ở Việt Nam có 3% số chi và 27,5% số loài đặc hữu Nhưng khi thảo luận tác giả đã gộp các nhân tố di cư từ nam Trung Hoa và nhân tố đặc hữu bản địa Việt Nam làm một và căn cứ vào khu phân bố hiện tại, nguồn gốc phát sinh của loài đó đã cho ra tỉ lệ như sau [24]:
- Nhân tố bản địa đặc hữu 50%
Trong nhân tố khác thì nhân tố nhập nội vẫn là 3,08%
Căn cứ các khung phân loại của Pócs Tamás (1965), Ngô Chinh Dật (1993),
Lê Trần Chấn (1994) và trên cơ sở các công trình nghiên cứu của mình, Nguyễn
Trang 24Nghĩa Thìn (1999) đã xây dựng thang phân loại các yếu tố địa lý thực vật cho hệ thực vật Việt Nam và áp dụng cho việc sắp xếp các chi thực vật Việt Nam vào các yếu tố địa lý Thang phân loại này đã được tác giả chỉnh sửa, bổ sung vào các năm
2004 trong “Hệ sinh thái rừng nhiệt đới” (NXB ĐHQGHN, 2004) và năm 2008 trong cuốn “Các phương pháp nghiên cứu thực vật” theo đó hệ thực vật Việt Nam bao gồm các yếu tố chính sau [18, 20]:
1 Yếu tố toàn thế giới
2 Liên nhiệt đới
2.1 Nhiệt đới châu Á, châu Úc và châu Mỹ 2.2 Nhiệt đới châu Á, châu Phi và châu Mỹ 2.3 Nhiệt đới châu Á và Mỹ
3 Cổ nhiệt đới
3.1 Nhiệt đới châu Á và châu Úc 3.2 Nhiệt đới châu Á và châu Phi
4 Nhiệt đới châu Á (Inđô – Malêzi)
4.1 Đông Dương – Malêzi 4.2 Đông Dương – Ấn Độ hay Lục địa châu Á nhiệt đới 4.3 Đông Dương – Himalaya hay lục địa Đông Nam Á (trừ Malêzi,
Ấn Độ) 4.4 Đông Dương – Nam Trung Hoa 4.5 Đông Dương
5 Ôn đới Bắc
5.1 Đông Á – Bắc Mỹ 5.2 Ôn đới cổ thế giới
Trang 255.3 Vùng ôn đới Địa Trung Hải – châu Âu – châu Á 5.4 Đông Á
6 Đặc hữu Việt Nam
6.1 Cận đặc hữu
7 Yếu tố cây trồng
8 Yếu tố không xác định: bao gồm các taxon không có đủ thông tin để xếp vào một trong các yếu tố ở trên
1.6 Nghiên cứu về phổ dạng sống của hệ thực vật
Dạng sống là một đặc tính biểu hiện sự thích nghi của thực vật với điều kiện môi trường Vì vậy, việc nghiên cứu dạng sống sẽ cho thấy mối quan hệ chặt chẽ của các dạng với điều kiện tự nhiên của từng vùng và biểu hiện sự tác động của điều kiện sinh thái đối với từng loài thực vật Nghiên cứu về phổ dạng sống chính là tìm hiểu bản chất sinh thái của hệ thực vật
Có nhiều kiểu phân loại dạng sống khác nhau Nhưng nhiều tác giả hiện nay vẫn thường dùng thang phân loại của Raunkiaer (1934) Mấu chốt để sắp xếp các nhóm dạng sống này chính là xem vị trí của chồi so với mặt đất trong thời gian bất lợi của năm Thang phân loại này gồm 5 nhóm dạng sống cơ bản [18, 23]
1 Cây chồi trên – Phanerophytes (Ph): gồm những cây có chồi trong mùa khó khăn nằm cách mặt đất từ 25cm trở lên
a) Cây chồi trên to (Megaphanerophytes) – Mg: cây gỗ cao từ 25m trở lên b) Cây chồi trên nhỡ (Mesophanerophytes) – Me: cây gỗ từ 8 - 25m
c) Cây chồi trên nhỏ (Microphanerophytes) – Mi: cây gỗ nhỏ, cây bụi, dây leo gỗ, có thân cây hóa gỗ, cao từ 2 - 8m
d) Cây chồi trên lùn (Nanophanerophytes) – Na: cây gỗ lùn, cây bụi hay cây nửa bụi, dây leo gỗ nhỏ, có thân cây hóa gỗ, cao từ 25 - 200cm
Trang 26e) Cây bì sinh (Epiphytes) – Ep: các loài cây bì sinh sống lâu năm trên thân, cành cây gỗ, trên vách đá
f) Cây ký sinh hay bán ký sinh (Parasit-hemiparasit phanerophytes) – Pp g) Cây mọng nước (Succulentes) – Suc
h) Dây leo (Lianophanerophytes) – Lp
i) Cây chồi trên thân thảo (Herbaces phanerophytes) –- Hp
2 Cây chồi sát đất (Chamaephytes) – Ch: gồm những cây có chồi trong mùa khó khăn cách mặt đất dưới 25cm, mùa đông được lớp tuyết hay lá khô bao phủ chống lạnh hay chống khô
3 Cây chồi nửa ẩn (Hemicryptophytes) – Hm: gồm những cây có chồi trong mùa khó khăn nằm sát mặt đất (ngang mặt) được lá khô che phủ bảo vệ, thường các loài này có thân nửa nằm dưới đất, nửa trên mặt đất
4 Cây chồi ẩn (Cryptophytes) – Cr: gồm những cây có chồi trong mùa khó khăn nằm dưới đất
5 Cây một năm (Therophytes) – T: gồm những cây vào thời kì khó khăn, toàn bộ cây chết đi, chỉ còn duy trì nòi giống dưới dạng hạt Đó là toàn bộ cây có đời sống ngắn hơn một năm, sống ở bất kể môi trường nào
Trang 27Chương 2 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ KINH TẾ – XÃ HỘI
2.1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN
2.1.1 Vị trí địa lý
Vườn quốc gia Ba Vì nằm trên địa bàn 5 huyện: Ba Vì, Thạch Thất, Quốc Oai thuộc Thành phố Hà Nội; huyện Lương Sơn, Kỳ Sơn thuộc tỉnh Hòa Bình VQG Ba Vì cách Sơn Tây 15 km, cách thủ đô Hà Nội 60 km về hướng tây, theo đường quốc lộ 21A và 87 Tọa độ địa lý: 20o
- Phía tây giáp các xã Khánh Thượng, Minh Quang huyện Ba Vì, Hà Nội, và
xã Phú Minh huyện Kỳ Sơn, tỉnh Hòa Bình
Vườn Quốc gia Ba Vì được chia làm 3 phân khu chức năng:
- Phân khu bảo tồn nghiêm ngặt
- Phân khu phục hồi sinh thái
- Phân khu dịch vụ hành chính
Trang 282.1.2 Địa hình
Ba Vì là vùng núi trung bình và núi thấp, đồi núi tiếp giáp với vùng bán sơn địa, vùng này trông như một dải núi nổi lên giữa đồng bằng chỉ cách hợp lưu sông
Đà và sông Hồng 20km về phía nam Sườn phía tây đổ xuống sông Đà, dốc hơn so
với sườn tây bắc và đông Nam, độ dốc trung bình khu vực là 25o, càng lên cao độ dốc càng tăng, từ độ cao 400m trở lên, độ dốc trung bình là 35o, và có vách đá lộ, nên việc đi lại trong vườn là không thuận lợi Trong Vườn quốc gia Ba Vì có một số đỉnh núi có độ cao trên 1000m như đỉnh Vua (1.296), đỉnh Tản Viên (1.227m), đỉnh Ngọc Hoa (1.131m), đỉnh Viên Nam (1.081m) và một số đỉnh thấp hơn như đỉnh Hang Hùm (776m), đỉnh Gia Dê (714m)
Dãy núi Ba Vì gồm hai dải dông chính Dải dông thứ nhất chạy theo hướng đông – tây từ suối Ổi đến cầu Lặt qua đỉnh Tản Viên và đỉnh Hang Hùm dài 9km Dải dông thứ 2 chạy theo hướng tây bắc – đông nam từ Yên Sơn qua đỉnh Tản Viên đến núi Quýt dài 11km, sau đó dảy này chạy tiếp sang Viên Nam tới dốc Kẽm (Hòa Bình)
Hình 2 Bản đồ địa lý VQG Ba Vì [35]
Trang 292.1.3 Địa chất và thổ nhƣỡng
Núi Ba Vì được hình thành do vận động tạo sơn indoxini của vỏ trái đất, được cấu tạo theo kiểu thềm hỗn hợp (phần dưới là đá gốc, phần trên là phù sa) gồm
2 nhóm đá chính:
- Đá magma như: spilit, pocfia, octofia
- Đá biến chất như: phiến thạch sét, sa thạch
Đất feralit phong hóa từ các loài đá mẹ khác nhau Ở những nơi xói mòn mạnh, mực nước ngầm thấp có kết von dạng hạt màu sẫm
Địa chất và địa hình, kết hợp với khí hậu làm nên thổ nhưỡng, các nhóm đất đai chính ở vườn:
- Đất feralit phát sinh trên đá cát kết, đá bột kết, đá phiến
- Đất bazan phát sinh trên đá phun trào
- Đất phù sa không được bồi, thành phần cơ giới từ đất thịt nhẹ đến trung bình
- Đất thung lũng do sản phẩm dốc tụ, có thành phần cơ giới từ đất thịt trung bình đến đất thịt nặng
- Đất lầy, thành phần cơ giới là đất thịt nặng trong các vùng trũng ngập nước
2.1.4 Khí hậu
VQG Ba Vì chịu ảnh hưởng của nền khí hậu nhiệt đới gió mùa của miền bắc Việt Nam, có mùa hè nóng ẩm mưa nhiều, mùa đông lạnh ít mưa Nhiệt độ trung bình năm biến thiên từ 20,5oC đến 23,5oC Ở vùng thấp, nhiệt độ thấp nhất xuống tới 2,7oC; nhiệt độ cao nhất lên tới 42oC Ở độ cao 400m nhiệt độ trung bình năm 20,6oC; Từ độ cao 1000m trở lên nhiệt độ chỉ còn 16o
C
Dao động nhiệt độ ngày đêm có biên độ khá lớn với giá trị trung bình năm là
8oC, có thể đạt 9oC trong nửa đầu mùa đông và đầu mùa hè Dao động theo chu kỳ
Trang 30Synốp hàng năm tạo nên 3 đến 4 đợt không khí lạnh, gây rét đậm, nhiệt độ không khí ban đêm ở vùng núi xuống gần 0oC
Lượng mưa trung bình năm 2.500mm, không đồng đều giữa các vùng, các tháng, tập trung nhiều vào tháng 7, tháng 8 Ở sườn đông mưa nhiều hơn sườn tây
và các vùng xung quanh Sườn và chân núi phía đông lượng mưa hàng năm đạt 2.000 - 2.400mm Mùa khô biểu hiện rõ, chỉ số ẩm mùa khô nhỏ hơn 0,5 Chỉ số ẩm
cả năm dao động từ 1,4 đến 2,0 Thời kỳ nóng, ẩm kéo dài gần 8 tháng, bắt đầu từ tháng 3 đến giữa tháng 11 Thời kỳ khô lạnh từ giữa tháng 11 đến tháng 3 năm sau
Tổng lượng bức xạ mặt trời hàng năm từ 120 - 130 kcalo/cm2
tương đối thấp
so với các vĩ độ nhiệt đới Thời kỳ hè thu tổng lượng bức xạ tương đối cao, lớn nhất trong các tháng 5, 6, 7 đạt 13 - 14kcalo/cm2 tháng, ngược lại thời kỳ đông – xuân giảm rõ rệt, đặc biệt trong các tháng giêng, 2, 3 chỉ có 6 – 8kcalo/cm2
Độ ẩm không khí tăng dần theo độ cao và đặc biệt trên độ cao 1.000m, độ ẩm không khí hầu như ẩm ướt quanh năm (92,0%) cao nhất vào đầu mùa hè (tháng 3, 4)
và cuối đông tháng (12, 1, 2) liên quan đến gió mùa đông bắc
Một số hiện tượng thời tiết đặc biệt của khu vực:
- Gió tây khô nóng vào các tháng 5, 6, 7 với nhiệt độ trên 35oC và độ ẩm dưới 50%
Trang 31- Sương muối thường gặp vào các đêm đông, hiện tượng này phát triển lên theo chiều cao Trên các đỉnh núi thường có hiện tượng mây mù, đặc biệt là vào thời gian chuyển mùa trong năm
- Giông bão mưa đá thường xuyên xảy ra Hoạt động giông và sét thường diễn ra trong tháng 5, 6, 7
2.1.5 Thủy văn
Hệ thống sông suối trong khu vực chủ yếu bắt nguồn từ thượng nguồn núi Ba
Vì và núi Viên Nam Các suối lớn và dòng nhánh chảy theo hướng bắc, đông bắc và đều là phụ lưu của sông Hồng Ở phía tây của khu vực, các suối ngắn và dốc hơn so với các suối ở phía bắc và phía đông, đều là phụ lưu của sông Đà Các suối này thường gây lũ vào mùa mưa Về mùa khô các suối nhỏ thường cạn kiệt Các suối chính trong khu vực gồm có: suối Cái, suối Mít, suối Ninh, suối Yên Cư, suối Bơn…
Sông Đà chảy ở phía tây núi Ba Vì, sông rộng cùng với hệ suối khá dày như suối Ổi, suối Ca, suối Mít, suối Xoan mực nước năm cao nhất khoảng 20m và năm thấp nhất là 7,7m (1971) so với mực nước biển, thường xuyên cung cấp nước cho sản xuất và sinh hoạt của người dân vùng đệm
Một số suối về mùa mưa có lượng nước lớn nước chảy mạnh từ trên cao đổ xuống tạo nên các thác nước rất ngoạn mục: thác Ao Vua, thác Hương, thác Ngà Voi, thác Khoang Xanh Trong vùng có hồ nhân tạo như: Đồng Mô – Ngải Sơn, hồ Hooc Cua (Tản Lĩnh), hồ Suối Hai, hồ Xuân Khanh, Đá Chông, Minh Quang, Chẹ
2.1.6 Tài nguyên rừng và đất rừng
2.1.6.1 Cơ cấu đất đai của VQG Ba Vì
Tổng diện tích tự nhiên của Vườn Quốc gia Ba Vì là 10.782,7 ha, trong đó diện tích đất có rừng của Vườn hiện nay là 8.192,5 ha, chiếm 75,98% tổng diện tích
tự nhiên toàn Vườn Trong đó:
- Rừng tự nhiên 4.200,5ha chiếm 51,27% diện tích đất có rừng
Trang 32- Rừng trồng 3.992ha chiếm 48,73 % diện tích đất có rừng
Diện tích đất có rừng phân bố nhiều nhất tại xã Ba Vì với 1.407,0ha Diện tích rừng trung bình và rừng nghèo tập trung khu vực núi Ba Vì với 883,9ha
Trên địa bàn tỉnh Hòa Bình chỉ còn rừng phục hồi với diện tích 1.071,5ha, phân bố chủ yếu ở xã Yên Quang với 514,6ha
2.1.6.2 Trữ lƣợng các loại rừng
Theo số liệu tham khảo kết phân chia 3 loại rừng năm 2005 của Viện Điều tra quy hoạch rừng và kết quả phúc tra tại thực địa năm 2008, trữ lượng các loại rừng VQG Ba Vì được tính toán và tổng hợp như sau:
Tổng trữ lượng gỗ của Vườn là 309,616 ngàn m3; trong đó trữ lượng rừng tự nhiên là 221,868 ngàn m3; rừng trồng là 87,748 ngàn m3
Rừng gỗ tự nhiên, tập trung chủ yếu ở các xã Ba Vì, Vân Hòa, Khánh Thượng Rừng tre nứa có 1.041,3 ngàn cây phân bố chủ yếu ở các xã Ba Vì, Vân Hòa và một ít ở xã Tản Lĩnh, Ba Trại
Trong tổng số 3.992,0ha rừng trồng thì có 1.694,0ha là rừng trồng ở cấp tuổi
1 chưa có trữ lượng Rừng Keo và Bạch đàn tuổi 2 có trữ lượng 87,748 ngàn m3
; tập trung ở các xã Ba Vì, Vân Hòa, Khánh Thượng, Tản Lĩnh, Phú Minh
Trang 332.2 ĐIỀU KIỆN KINH TẾ XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU
2.2.1 Dân số
Theo quy hoạch mở rộng vườn, hiện nay Vườn Quốc gia Ba Vì nằm trong phạm vi hành chính của 16 xã thuộc 5 huyện: huyện Ba Vì có 7 xã: Ba Vì, Ba Trại, Tản Lĩnh, Khánh Thượng, Minh Quang, Vân Hòa, Yên Bài; huyện Thạch Thất có 3
xã là Tiến Xuân, Yên Trung, Yên Bình; huyện Quốc Oai có 1 xã Đông Xuân; huyện Lương Sơn có 1 xã Lam Sơn; huyện Kỳ Sơn có 4 xã là Yên Quang, Phú Minh, Phúc Tiến và Dân Hòa
Vườn được chia làm hai vùng: vùng cấm và vùng đệm Vùng cấm hầu như không có dân cư sinh sống Trên địa bàn 16 xã có 5 dân tộc sinh sống: Mường, Kinh, Dao, Thái và Cao Lan Dân số khoảng 89.928 người theo điều tra năm 2008 Trong đó dân tộc Mường chiếm 65/%, Kinh chiếm 33%, Dao 1%, Thái, Cao Lan 1%
Mật độ dân số 567 người/km2 Tốc độ phát triển dân số quanh vùng đệm là 2,26%
Sự phân bố dân cư và dân tộc không đồng đều trong vùng, người Kinh, người Mường ở hầu hết 7 xã, trong lúc người Dao tập trung chủ yếu ở xã Ba Vì Dân tộc Dao ở vùng này có tác động rất lớn đến tài nguyên VQG Ba Vì do tập quán
du canh du cư của họ
2.2.2 Lao động và tập quán
Kinh tế trong vùng đệm chưa phát triển, đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn, nghề nông là chính, nhưng diện tích đất sản xuất nông nghiệp ít, bình quân chỉ có 500m2/người, năng xuất thấp, lương thực (gồm cả màu quy thóc) chỉ đạt 130
- 150kg/người/năm Theo báo cáo của các địa phương hiện còn 2.121 hộ nghèo, chiếm 10,3% số hộ trong vùng Xã Khánh Thượng là xã có tỷ lệ nghèo nhiều nhất
Tổng số lao động trong vùng chiếm 55% dân số chủ yếu là làm nông nghiệp với loại hình sản xuất lúa nước và trồng cây hoa màu Riêng đồng bào Dao có
Trang 34truyền thống du canh du cư nên gây sức ép dối với rừng tự nhiên Hiện nay một phần dân cư đã chuyển sang trồng rừng và cây ăn quả Một tiềm năng quan trọng của dân tộc Dao Ba Vì là nghề thuốc nam cổ truyền Người Dao đã không ngừng phát huy thế mạnh nghề thuốc cổ truyền, từ đứa bé lên 5 đến người già trong làng đều có thể sử dụng thuốc nam thành thạo Điều này khó tìm thấy ở người Kinh Nhờ
có nghề thuốc cổ truyền, một mặt người Dao đã tự chữa bệnh cho mình, mặt khác
đó cũng là nguồn thu nhập kinh tế
Hoạt động chăn nuôi cũng khá phát triển, đặc biệt là đồng bào Kinh Các loại gia súc được chăn nuôi nhiều như: bò sữa, dê và gia cầm Hiện có một vài cơ sở chăn nuôi đà điểu Một số hộ gia đình đi theo hướng nuôi ong và cá
Dich vụ du lịch cũng đang rất phát triển ở khu vực VQG Ba Vì và ngày càng
có vai trò trong hoạt động kinh tế
Một số hoạt động công nghiệp trong vùng: chế biến nông sản, khai thác khoáng sản, sản xuất vật liệu xây dựng quy mô nhỏ
2.2.3 Văn hóa xã hội
- Văn hóa: Dân cư sống trong VQG Ba Vì gồm nhiều dân tộc khác nhau vì vậy các hoạt động văn hóa cũng rất đa dạng và mang những đặc điểm riêng Ví dụ bản sắc văn hoá dân tộc Dao vẫn bảo tồn và giữ nguyên được như: Tết nhảy, múa rùa, múa chuông, cấp sắc lễ hội của làng, cầu mưa, cầu nắng, cầu sức khoẻ cho mọi người Tuy nhiên do điều kiện giao thông còn nhiều khó khăn, kinh tế còn nghèo, phương tiện thông tin đại chúng còn thiếu thốn nên việc tuyên truyền giáo dục, bài trừ hủ tục, phát huy thuần phong mỹ tục còn nhiều hạn chế
- Hệ thống giáo dục của dân cư vùng đệm trước đây nhìn chung không phát triển do đời sống kinh tế thấp, phong tục lạc hậu, hoạt động kinh tế là nông nghiệp Tuy nhiên, hiện tại có nhiều cơ sở giáo dục và đào tạo, các cơ sở huấn luyện và đào tạo quân sự, cơ sở du lịch đang góp phần nâng cao nhận thức văn hóa và giáo dục cho người dân địa phương
Trang 35- Hệ thống y tế và chăm sóc y tế chủ yếu tập trung ở thị xã Sơn Tây
- Khu vực VQG Ba Vì là một vùng có tiềm năng phát triển văn hóa đa dạng
và phong phú Là vùng có thể kết hợp được văn hóa cổ truyền và hiện đại Từ đó phát triển sức mạnh của tổng hợp văn hóa, phục vụ phát triển xã hội Núi Ba Vì với các đền chùa gắn liền với các truyền thống văn hóa đẹp của người Việt, với những ngôi làng cổ kính, và đặc biệt là đền thờ Bác Hồ trên đỉnh Vua được hoàn thành vào năm 1999 là các di tích lịch sử văn hóa quan trọng Nhờ vậy mà hàng năm Ba Vì thu hút rất nhiều lượt khách tới thăm quan Hoạt động du lịch phát triển mạnh với nhiều loại hình du lich khác nhau: du lịch sinh thái, du lịch văn hóa, du lịch nghỉ ngơi
2.2.4 Tình hình giao thông và cơ sở hạ tầng
Cơ sở hạ tầng ở vùng đệm khá thuận lợi, các xã đều có đường liên xã đã được trải nhựa, xe ô tô về đến trung tâm xã, đường từ trung tâm xã đến các thôn còn
là đường cấp phối và đường đất Đặc biệt ở khu vực VQG Ba Vì và thị xã Sơn Tây
có hệ thống giao thông rất thuận lợi về cả đường bộ, đường thủy và đường không
Hình 3 Sơ đồ giao thông tại khu vực VQG Ba Vì [35]
Trang 36Chương 3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng
Toàn bộ các loài thực vật bậc cao có mạch ở sườn đông và sườn tây núi Ba
Vì, thuộc VQG Ba Vì, Tp Hà Nội
3.2 Mục tiêu nghiên cứu
- Kiểm kê và hệ thống lại các loài thực vật có mạch thuộc sườn đông và sườn tây núi Ba Vì, thuộc VQG Ba Vì, Tp Hà Nội
- Đánh giá tính đa dạng hệ thực vật thuộc sườn đông và sườn tây núi Ba Vì, thuộc VQG Ba Vì, Tp Hà Nội
3.3 Nội dung nghiên cứu
Để thực hiện mục tiêu đã đề ra như trên chúng tôi thực hiện các nội dung như sau :
1 Xác định phạm vi nghiên cứu: vì thời gian học tập và làm luận văn không nhiều cho nên chúng tôi đã chọn nghiên cứu thực vật ở 2 sườn: sườn đông và sườn tây của núi Ba Vì thuộc VQG Ba Vì, Tp Hà Nội
2 Thu mẫu từ đỉnh núi xuống chân núi, xử lí mẫu vật và xác định tên khoa học theo Nguyễn Nghĩa Thìn năm 1997
3 Xây dựng danh lục các loài thu được theo Brummitt (1992)
4 Đánh giá tính đa dạng với các phương diện sau :
- Đa dạng về thành phần: ngành, họ, chi, loài
- Đa dạng về dạng sống
- Đa dạng về yếu tố địa lý thực vật
- Đa dạng về giá trị tài nguyên: Tài nguyên về giá trị sử dụng và tài nguyên về nguồn gen quí hiếm
Trang 373.4 Địa điểm
- Địa điểm thu mẫu tại sườn đông và sườn tây núi Ba Vì
- Xử lý mẫu vật, phân tích, định tên khoa học… tại Bảo tàng Sinh vật, Khoa Sinh học, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, ĐHQGHN
3.5 Phương pháp nghiên cứu
Trong luận văn này chúng tôi sử du ̣ng chủ yếu hai phương pháp để phục vụ nghiên cứu đa dạng thực vật là phương pháp kế thừa và phương pháp chuyên gia
3.5.1 Thu mẫu thập số liệu ở thực địa
Áp dụng phương pháp điều tra theo hệ thống tuyến
Xác định địa điểm và tuyến thu mẫu, để thu mẫu một cách đầy đủ và đại diện cho một khu nghiên cứu Dựa vào đặc điểm địa hình và kế thừa những thông tin của
cá cuộc điều tra nghiên cứu trước đây của các chuyên gia thực vật, chúng tôi đã xác định các tuyến chính và từ các tuyến chính này thì các tuyến phụ theo kiểu xương cá được mở về 2 phía Trung bình 1,5km chiều dài tuyến chính có thêm 2 tuyến phụ Trên mỗi tuyến tiến hành điều tra tất cả các loài thực vật nằm ở phạm vi 10m mỗi bên Mỗi loài lấy 3 - 5 tiêu bản Điều tra tất cả các loài thực vật bậc cao có mạch
- Xử lý ướt mẫu bằng cách ép mẫu tạm thời giữa hai tờ báo gập đôi, sau đó
bó chặt lại rồi cho mẫu đó vào túi polyetylen cỡ lớn Đổ cồn đổ cho thấm ướt các tờ báo và buộc chặt lại để chuyển về nơi có điều kiện sấy khô
+ Xử lý mẫu trong phòng thí nghiệm
Trang 38- Trước hết dùng các tờ báo mới rồi lần lượt mang từng vật mẫu ra, giải đều trên tờ báo có kích thước 30 x 40cm Các mẫu sau khi bó chặt được cho vào tủ sấy Sấy liên tục trong một tuần và cứ sau hai ngày sấy thì thay báo một lần
- Sau khi mẫu đã khô tiếp tục được ngâm tẩm bằng dung dịch cồn chứa 3-5% HgCl2 để diệt khuẩn và chống côn trùng phá hoại
- Các mẫu tiêu bản được sấy khô và ép phẳng, rồi trình bày và khâu đính trên bìa giấy cứng crôki kích thước 28 x 42cm theo các tiêu chuẩn quy định
3.5.3 Xác định và kiểm tra tên khoa học
Chúng tôi tiến hành tiến hành nghiên cứu tài liệu và kiểm tra, xác định tên khoa học của từng loài theo phương pháp phân loại truyền thống, gồm các bước:
+ Phân loại sơ bộ: chúng tôi có tham khảo ý kiến của các chuyên gia hoặc tham khảo các tài liệu hiện có tại Bảo tàng Thực vật để tiến hành phân loại sơ bộ mẫu vật theo các taxon từ ngành tới họ, rồi tới chi
+ So mẫu và xác định tên loài: Các tài liệu chính dùng trong quá trình xác định tên khoa học [1, 3, 4, 6, 7, 11, 12, 14, 15]
+ Kiểm tra tên khoa học: Sau khi đã xác định tên loài, chúng tôi tiến hành chỉnh lý lại tên khoa học theo tên họ, tên chi theo Brummitt trong “Vascular Plant Families and Genera” (1992), điều chỉnh tên loài theo trọn bộ 3 tập “Danh lục các loài thực vật Việt Nam” (2001 - 2005)
+ Bổ sung thông tin: về yếu tố địa lý, về phổ dạng sống, về công dụng và tình trạng đe dọa, bảo tồn
3.5.4 Xây dựng bảng danh lục thực vật
Từ các kết quả đã thu thập được, chúng tôi xây dựng nên bảng danh lục thực vật của sườn đông và sườn tây núi Ba Vì, thuộc VQG Ba Vì (Phụ lục 1) Bảng danh lục thực vật được xây dựng theo hệ thống phân loại của Brummitt (1992), trong đó các họ trong một ngành, các chi trong một họ, các loài trong một chi được xếp theo
Trang 39trật tự chữ cái đầu từ A đến Z Bảng danh lục ngoài tên khoa học và tên Việt Nam của các loài còn ghi tình trạng bảo tồn trong Sách Đỏ và các thông tin khác như dạng sống, yếu tố địa lý, công dụng
3.5.5 Đánh giá đa dạng sinh học
3.5.5.1 Đánh giá đa dạng của các taxon bậc ngành, họ, chi
Khi đã có danh lục hoàn chỉnh, chúng tôi tiến hành thống kê số loài trong các chi, số chi trong các họ, số họ trong các ngành thực vật khác nhau rồi tính tỉ lệ phần trăm của các bậc taxon, từ đó ta có thể đánh giá tính đa dạng của các bậc taxon
Thống kê các họ và các chi nhiều loài, tính tỉ lệ phần trăm số loài của các chi
và các họ nhiều loài so với toàn bộ số loài trong khu hệ thực vật Từ đó, đánh giá các chi và các họ đa dạng nhất tại VQG Ba Vì
3.5.5.2 Đánh giá tính đa dạng về các yếu tố địa lý thực vật
Việc thiết lập phổ các yếu tố địa lý, chúng tôi áp dụng sự phân chia của Nguyễn Nghĩa Thìn (2004)
Sau đó, chúng tôi tiến hành lập phổ các yếu tố địa lý để dễ dàng so sánh và xem xét cấu trúc các yếu tố địa lý thực vật giữa các vùng với nhau
3.5.5.4 Đánh giá về giá trị tài nguyên và mức độ đe dọa
Dựa vào các tài liệu : Sách đỏ Việt Nam, Cây gỗ rừng Việt Nam, Từ điển cây thuốc Việt Nam, Nghị định 32/2006/NĐ-CP để phân tích thông tin làm cơ sở đánh giá
Trang 40Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
4.1 Xác định và xây dựng danh lục loài
Trên cơ sở những mẫu thu được trong khu vực nghiên cứu chúng tôi tiến hành xử lý, phân tích Sau khi xác định được tên khoa học, chúng tôi tiến hành chỉnh lý các thông tin, bao gồm cả việc xác định tên khoa học mới nhất, tên đồng nghĩa, tên tác giả các thông tin về yếu tố địa lý, dạng sống, công dụng, mức độ bảo tồn theo các tài liệu chuyên ngành có độ tin cậy cao như Danh lục các loài thực vật Việt Nam (2003 - 2005), Thực vật chí Việt Nam (các họ Na, Đơn nem ), Cây
cỏ Việt Nam Kết quả thu được danh lục thực vật tương đối đầy đủ [Phụ lục 1]
Theo bảng danh lục này, đã thống kê được trong hệ thực vật VQG Ba Vì khu vực chúng tôi nghiên cứu – sườn đông và sườn tây núi Ba Vì thuộc VQG Ba Vì, địa phận thuộc thủ đô Hà Nội (gọi tắt là VQG Ba Vì khu vực nghiên cứu) có tổng số
715 loài thuộc 417 chi và 142 họ của 5 ngành thực vật bậc cao có mạch là: ngành Thông đất (Lycopodiophyta): 4 loài, 3 chi, 2 họ; ngành Cỏ tháp bút (Equisetophyta): 1 loài, 1 chi, 1 họ; ngành Dương xỉ (Polypodiophyta): 45 loài, 27 chi, 15 họ; ngành Thông (Pinophyta): 6 loài, 5 chi, 5 họ; ngành Mộc lan (Magnoliophyta): 659 loài, 381 chi, 119 họ
4.2 Đa dạng phân loại hệ thực vật VQG Ba Vì
4.2.1 Đa dạng ở mức độ ngành
Hệ thực vật của VQG Ba Vì khu vực nghiên cứu có 5 ngành thực vật bậc cao
có mạch của hệ thực vật Việt Nam, trong đó ngành Thông đất – Lycopodiophyta, ngành Cỏ tháp bút – Equisetophyta là những ngành kém đa dạng nhất Ngành Thông – Pinophyta có số loài, số chi và số họ chiếm tỷ trọng tương đối nhỏ dưới 4% của toàn hệ Tiếp theo là ngành Dương xỉ – Polypodiophyta và ngành Mộc lan – Magnoliophyta, đây là ngành đa dạng nhất với tổng số 659 loài, 381 chi của 119 họ