Chính sách thu hồi, bồi thường đất nông nghiệp và hỗ trợ chuyển đổi nghề, tạo việc làm ở Việt Nam qua các thời kỳ Qua nghiên cứu cách chính sách thu hồi đất nông nghiệp ở nước ta cho th
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
- -
DOÃN THỊ BÌNH
ĐÁNH GIÁ VIỆC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ CHUYỂN ĐỔI NGHỀ VÀ TẠO VIỆC LÀM KHI THU HỒI ĐẤT NÔNG NGHIỆP Ở HUYỆN TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Hà Nội - 2011
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
- -
DOÃN THỊ BÌNH
ĐÁNH GIÁ VIỆC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ CHUYỂN ĐỔI NGHỀ VÀ TẠO VIỆC LÀM KHI THU HỒI ĐẤT NÔNG NGHIỆP Ở HUYỆN TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Trang 3MỤC LỤC
Trang
NGHIỆP VÀ CÁC CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ CHUYỂN ĐỔI NGHỀ VÀ
TẠO VIỆC LÀM CHO NGƯỜI CÓ ĐẤT NÔNG NGHIỆP BỊ THU HỒI
13
1.1 Vấn đề thu hồi đất nông nghiệp trong quá trình công nghiệp hoá, đô
thị hoá ở Việt Nam
13
1.2 Các chính sách thu hồi, bồi thường đấ nông nghiệp và hỗ trợ chuyển
đổi nghề, tạo việc làm cho người có đất nông nghiệp bị thu hồi
19
1.3 Sự cần thiết tạo việc làm cho lao động thuộc diện bị thu hồi đất nông
nghiệp do quá trình đô thị hoá
31
1.4 Kinh nghiệm của một số nước trong vấn đề thu hồi đất và giải quyết
việc làm cho người dân
33
NGHỀ VÀ TẠO VIỆC LÀM CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG THUỘC DIỆN
THU HỒI ĐẤT NÔNG NGHIỆP Ở HUYỆN TỪ LIÊM
38
2.1.2 Tình hình quản lý, sử dụng đất của huyện Từ Liêm 41
2.2 Tình hình thu hồi đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Từ Liêm 46
2.2.1 Khái quát về công tác thu hồi đất nông nghiệp 46
2.2.2.Mục đích sử dụng đất nông nghiệp thu hồi trên địa bàn huyện Từ Liêm 50
2.2.3 Đặc điểm của người nông dân bị thu hồi đất nông nghiệp trên địa
bàn huyện Từ Liêm
52
2.3 Thực trạng về công tác hỗ trợ chuyển đổi nghề và tạo việc làm khi
thu hồi đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Từ Liêm
Trang 4Chương 3: ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NHẰM HỖ TRỢ CHUYỂN ĐỔI
NGHỀ VÀ TẠO VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG THUỘC DIỆN THU HỒI
ĐẤT NÔNG NGHIỆP TẠI HUYỆN TỪ LIÊM
84
3.1 Phương hướng phát triển kinh tế trên địa bàn huyện Từ Liêm giai
đoạn 2011 – 2015
84
3.2 Quan điểm về hỗ trợ chuyển đổi nghề, tạo việc làm cho người lao
động bị thu hồi đất nông nghiệp do quá trình đô thị hoá ở huyện Từ Liêm
85
3.3 Giải pháp về hỗ trợ chuyển đổi nghề và tạo việc làm 88
3.3.3 Giải pháp về công tác tổ chức, quản lý và thực hiện 103
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 5DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Trang 6DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1: Tình hình thu hồi đất ở một số địa phương trên cả nước………18 Bảng 2.1: Giá trị sản xuất các ngành kinh tế của huyện Từ Liêm năm 2011…… 39 Bảng 2.2: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế của huyện Từ Liêm qua các năm……… 40 Bảng 2.3: Diện tích và cơ cấu các loại đất của huyện Từ Liêm năm 2011……….42 Bảng 2.4: Diện tích và cơ cấu đất nông nghiệp huyện Từ Liêm năm 2011………43 Bảng 2.5: Biến động các loại đất của huyện Từ Liêm giai đoạn 2006-2011…… 44 Bảng 2.6: Tổng hợp kết quả giao, thu hồi đất nông nghiệp từ năm 2000-2010… 47 Bảng 2.7: Kết quả điều tra các chỉ tiêu về thu hồi đất nông nghiệp………49 Bảng 2.8: Mục đích sử dụng đất nông nghiệp bị thu hồi của huyện……… 51 Bảng 2.9: Kết quả điều tra về bình quân thu nhập của các hộ bị thu hồi đất trên địa bàn 05 xã huyện Từ Liêm………54 Bảng 2.10: Kết quả điều tra về thay đổi thu nhập của các hộ dân sau khi bị thu hồi đất nông nghiệp……… 56 Bảng 2.11: Lao động bị thu hồi đất trên địa bàn huyện Từ Liêm……… 57 Bảng 2.12: Cơ cấu tuổi của lao động thuộc diện bị thu hồi đất nông nghiệp được điều tra tại 05 xã: Xuân Phương, Đông Ngạc, Mễ Trì, Mỹ Đình, Phú Diễn…… 57 Bảng 2.13: Kết quả điều tra về trình độ học vấn của một số người trong độ tuổi lao động trước và sau khi bị thu hồi đất tại 05 xã: Xuân Phương, Đông Ngạc, Mễ Trì,
Mỹ Đình, Phú Diễn ……….…………59 Bảng 2.14: Trình độ chuyên môn kỹ thuật của người lao động nông nghiệp bị mất đất………60 Bảng 2.15: Tình hình việc làm của lao động trong diện bị thu hồi đất nông nghiệp tại 05 xã: Xuân Phương, Đông Ngạc, Mễ Trì, Mỹ Đình, Phú Diễn………62 Bảng 2.16: Việc làm trước và sau khi diễn ra thu hồi đất của lao động trong các hộ gia đình………65 Bảng 2.17: Tổng hợp các hộ mất đất từ ngày 1/1/2008 đến 30/9/2009 trên địa bàn huyện Từ Liêm………69 Bảng 2.18: Hỗ trợ chuyển đổi nghề, tạo việc làm cho các hộ mất đất trên 30% từ ngày 1/1/2008 đến 30/9/2009 tại huyện Từ Liêm……… 71 Bảng 2.19: Tình hình hỗ trợ đền bù và thực trạng đời sống của các hộ dân…… 72
Trang 7Bảng 2.20: Tỷ lệ người lao động được trợ giúp sau khi thu hồi đất………73 Bảng 2.21: Kết quả đăng ký dạy nghề, học nghề năm 2011 tại huyện Từ Liêm…75 Bảng 2.22: Khu vực làm việc trước và sau khi diễn ra việc thu hồi đất………… 78 Bảng 2.23: Tình hình tuyển dụng lao động NN trên đại bàn huyện Từ Liêm…….78 Bảng 2.24: Mục đích sử dụng tiền đền bù khi thu hồi đất của các hộ gia đình… 80
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biều đồ 2.1: Biến động các loại đất giai đoạn 2006-2011……… 45
PHIẾU ĐIỀU TRA Phiếu số 01: Nguyễn Thị Mận - xã Xuân Phương
Phiếu số 38: Hoàng Thị Lương - xã Đông Ngạc
Phiếu số 60: Ngô Văn Lịch - xã Mễ Trì
Phiếu số 120: Nguyễn Thị Gấm - xã Mỹ Đình
Phiếu số 135: Nguyễn Ngọc Vàng - xã Phú Diễn
Trang 8ĐẶT VẤN ĐỀ
1 Tính cấp thiết của đề tài
Quá trình đô thị hoá đã và đang diễn ra mạnh mẽ trên phạm vi cả nước nói chung và Hà Nội nói riêng Ở tầm vĩ mô, một mặt đô thị hoá là một trong những giải pháp quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội theo hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế đáp ứng mục tiêu công nghiệp hoá, hiện đại hoá: phát triển mạnh các ngành công nghiệp và thương mại - dịch vụ mà Đảng và Nhà nước đã đề
ra trong giai đoạn từ nay đến năm 2020 Mặt khác đô thị hoá cũng là một trong những chỉ tiêu quan trọng phản ánh sự phát triển của một đất nước Tuy nhiên bên cạnh những tác động tích cực, vẫn còn có không ít những bất cập, tồn tại đặt ra cần phải giải quyết, đặc biệt là vấn đề lao động - việc làm đối với một bộ phận lớn dân
cư nông thôn bị rơi vào tình trạng thất nghiệp và thiếu việc làm khi bị thu hồi đất
Hà Nội là một trong những thành phố có tốc độ đô thị hoá thuộc loại nhanh nhất so với các địa phương khác trong cả nước Điều này được thể hiện qua sự mở rộng phạm vi địa giới và sự tăng trưởng về số lượng các khu công nghiệp tập trung, cụm công nghiệp vừa và nhỏ, các khu đô thị mới
Từ Liêm là một huyện ngoại thành Hà Nội, có tốc độ đô thị hoá nhanh với khoảng 300 dự án đầu tư, trong đó phần lớn là phát triển các khu đô thị với tổng diện tích đất thu hồi hàng nghìn ha Đi cùng những dự án, hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội ở các khu vực dân cư xung quanh vùng quy hoạch cũng được cải tạo và nâng cấp đồng bộ Đời sống của người dân có nhiều thay đổi theo chiều hướng tích cực, hạ tầng cơ sở và hệ thống ( y tế, giáo dục, giao thông ) ngày càng được cải thiện hơn Tuy nhiên, bên cạnh những tác động của đô thị hoá đối với đời sống kinh tế - xã hội nói chung, không thể không đề cập tới những tác động của nó đối với vấn đề lao động - việc làm
Cùng với quá trình đô thị hoá là xu hướng diện tích đất nông nghiệp của huyện này càng bị thu hẹp lại và cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng giảm tỷ trọng nông nghiệp đã tất yếu dẫn đến việc chuyển đổi cơ cấu lao động và việc làm của người dân, ảnh hưởng đến thu nhập và đời sống của họ Vấn đề đặt ra ở đây là cơ cấu lao động và việc làm của người nông dân có đất nông nghiệp bị
Trang 9thu hồi đã chuyển đổi như thế nào? Người dân đã thực hiện những chiến lược sinh kế như thế nào để có thể thích nghi với hoàn cảnh và điều kiện sống mới?
Và Nhà nước ta đã có những giải pháp, chính sách như thế nào để hỗ trợ, giúp
đỡ người dân ổn định đời sống và sản xuất?
Từ tính cấp thiết trên tôi đã chọn nghiên cứu đề tài: “Đánh giá việc thực
hiện chính sách hỗ trợ chuyển đổi nghề và tạo việc làm khi thu hồi đất nông nghiệp ở huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội”
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Đánh giá tình hình thực hiện chính sách hỗ trợ chuyển đổi nghề, tạo việc làmcho lao động bị thu hồi đất nông nghiệp trên địa bàn huyê ̣n Từ Liêm giai đoạn 2000-2011
- Đề xuất các giải pháp hỗ trợ chuyển đổi nghề và tạo việc làm cho người lao động nông nghiệp bị thu hồi đất trên địa bàn huyê ̣n Từ Liêm
3 Giới hạn phạm vi, nội dung nghiên cứu
- Phạm vi nghiên cứu: huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội
- Nội dung nghiên cứu: Tập trung nghiên cứu đánh giá tình hình thực hiện chính sách hỗ trợ chuyển đổi nghề và tạo việc làm cho người lao động bị thu hồi đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tổng quan một số vấn đề về thu hồi đất nông nghiệp và các chính sách hỗ trợ giải quyết việc làm cho người có đất nông nghiệp bị thu hồi
- Điều tra , khảo sát làm rõ thực trạng việc làm của người lao động có đất nông nghiệp bị thu hồi và tình hình thực hiện chính sách hỗ trợ chuyển đổi nghề, tạo việc làm trên địa bàn huyện Từ Liêm
- Nghiên cứu, đề xuất một số giải pháp góp phần hoàn thiện chính sách hỗ trợ chuyển đổi nghề và tạo việc làm cho người có đất nông nghiệp bị thu hồi
5 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp tiếp cận hệ thống: Vấn đề nghiên cứu được đặt trong mối
quan hệ tổng quan, được tiếp cận từ nhiều phía; cụ thể là tiếp cận từ tổng thể tới chi tiết; từ lý luận, phương pháp luận tới thực tiễn; từ chính sách, pháp luật tới thực tế
Trang 10triển khai thực hiện chính sách và thi hành pháp luật
- Phương pháp điều tra, khảo sát thực tế: Thực hiện điều tra thực tế bằng
phương pháp sử dụng phiếu điều tra và phỏng vấn trực tiếp các đối tượng liên quan tới vấn đề nghiên cứu; thu thập và nghiên cứu các hồ sơ, tài liệu, số liệu, văn bản liên quan tới đối tượng nghiên cứu nhằm rà soát, phát hiện và hệ thống hoá các vấn đề
- Phương pháp so sánh: Tiến hành phân lập các nhóm đối tượng và nhóm chỉ
tiêu, đối chiếu các chỉ số định lượng hoặc cấp độ định tính tương ứng để xác định
mức độ giống nhau, khác nhau, từ đó xác định hoặc dự đoán, dự báo các quy luật, diễn biến của các hiện tượng hoặc mối quan hệ hay tính chất của các đối tượng nghiên cứu;
- Phương pháp phân tích: Thông qua các số liệu thống kê từ nguồn thông tin
thu thập được tiến hành phân tích, so sánh từ đó đưa ra những nhận định chủ quan, những nhận định của những nhà quản lý về vấn đề nghiên cứu
- Phương pháp kế thừa: Khảo cứu tài liệu và kế thừa có chọn lọc các kết quả
nghiên cứu của các chương trình, công trình, đề tài khoa học có liên quan tới vấn đề nghiên cứu;
- Phương pháp chuyên gia: Tham vấn, trưng cầu ý kiến các nhà khoa học,
các chuyên gia có kiến thức và kinh nghiệm trong lĩnh vực nghiên cứu thông qua đối thoại trực tiếp, góp ý hoặc phản biện kết quả nghiên cứu
Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, luận văn gồm 3 phần chính sau:
Chương 1: Tổng quan các vấn đề về thu hồi đất nông nghiệp và các chính sách
hỗ trợ chuyển đổi nghề và tạo việc làm cho người có đất nông nghiệp bị thu hồi
Chương 2: Phân tích thực tra ̣ng hỗ trợ chuyển đổi nghề và ta ̣o viê ̣c làm cho
ngườ i lao đô ̣ng thuô ̣c diê ̣n thu hồi đất nông nghiê ̣p ở huyê ̣n Từ Liêm
Chương 3: Đề xuất giải pháp nhằm hỗ trợ chuyển đổi nghề và tạo việc làm
cho lao đô ̣ng thuô ̣c diê ̣n thu hồi đất nông nghiê ̣p tại huyê ̣n Từ Liêm
Trang 11CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ VỀ THU HỒI ĐẤT NÔNG NGHIỆP VÀ CÁC CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ CHUYỂN ĐỔI NGHỀ VÀ TẠO VIỆC LÀM CHO
NGƯỜI CÓ ĐẤT NÔNG NGHIỆP BỊ THU HỒI
1.1 Vấn đề thu hồi đất nông nghiệp trong quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa ở Viêt Nam
1.1.1 Công nghiệp hoá, đô thị hoá và sự cần thiết phải thu hồi đất
1.1.1.1 Một số khái niệm có liên quan đến thu hồi đất, bồi thường khi thu hồi đất
Theo Luật đất đai năm 2003 và đại từ điển Tiếng Việt, các khái niệm có liên quan đến thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ khi thu hồi đất được định nghĩa như sau:
Thu hồi đất là việc Nhà nước ra quyết định hành chính để thu lại quyền sử dụng
đất hoặc thu lại đất đã giao cho tổ chức, UBND xã, phường, thị trấn quản lý [17]
Bồi thường là đền bù những tổn hại đã gây ra, trả lại tương xứng với giá trị
hoặc công lao [23] Như vậy, bồi thường là trả lại tương xứng với giá trị hoặc công lao cho một chủ thể nào đó bị thiệt hại vì hành vi của chủ thể khác
Bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước trả lại giá trị quyền sử
dụng đất đối với diện tích đất bị thu hồi cho người bị thu hồi đất [17]
Hỗ trợ khi nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước giúp đỡ người bị thu hồi đất
thông qua đào tạo nghề mới, bố trí việc làm mới, cấp kinh phí để di dời đến địa điểm mới [17]
Giá trị quyền sử dụng đất là giá trị bằng tiền của quyền sử dụng đất đối với
một diện tích đất xác định trong thời hạn sử dụng đất xác định [17]
Trong bồi thường, hỗ trợ đất nông nghiệp, khi Nhà nước thu hồi đất của
nông hộ thì Nhà nước phải tính toán “bồi thường” tiền cho người dân một khoản tương ứng và phù hợp với giá trị hiện tại của mảnh đất đó Ngoài ra khi thu hồi đất thì người nông dân không có việc làm do mất tư liệu sản xuất, Nhà nước tiếp tục tính toán “bù” thêm một khoản cho người nông dân chuyển đổi nghề mới, tạo việc làm và ổn định cuộc sống
Nội dung của các khoản tiền bồi thường, hỗ trợ khi thu hồi đất nông nghiệp gồm:
Trang 12- Tiền bồi thường đất: Là khoản tiền bồi thường cho hộ do bị mất tư liệu sản
xuất, cụ thể ở đây là đất nông nghiệp
- Tiền bồi thường hoa mầu: Là khoản tiền bồi thường do việc thu hồi đất
làm thiệt hại đến hoa mầu chưa được thu hoạch trên diện tích thu hồi Mức bồi thường đối với cây hàng năm tính bằng giá trị sản lượng thu hoạch một vụ tính theo mức thu hoạch bình quân của ba vụ trước đó theo giá nông sản thực tế ở thị trường địa phương tại thời điểm bồi thường
- Tiền hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp
- Tiền hỗ trợ ổn định đời sống và ổn định sản xuất
Các khoản hỗ trợ này nhằm mục đích giúp đỡ phần nào cho người dân sau khi mất đất chuyển đổi nghề nghiệp, ổn định cuộc sống và ổn định sản xuất, giảm bớt những gắng nặng kinh tế Không nhằm mục đích giải quyết toàn bộ kinh phí chuyển đổi nghề nghiệp và ổn định sản xuất cho nông hộ, vì các khoản hỗ trợ này không nhiều và chỉ mang tính chất hỗ trợ
1.1.1.2 Quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá và đô thị hoá ở Việt Nam
CNH - HĐH và đô thị hoá là con đường phát triển của mọi quốc gia trên thế giới Trong thời đại khoa học - công nghệ phát triển nhanh, thì CNH - HĐH và đô thị hoá là con đường giúp cho các nước chậm phát triển rút ngắn thời gian so với các nước đi trước
Thực tiễn phát triển của nhiều quốc gia trong những năm gần đây cho thấy, CNH - HĐH và đô thị hoá là nhân tố quyết định làm thay đổi căn bản phương thức sản xuất, chuyển nền kinh tế từ sản xuất nông nghiệp truyền thống, tiểu nông sang phương thức sản xuất mới, hiện đại, do đó cũng làm thay đổi nội dung kinh tế - xã hội nông thôn Trong nền kinh tế hiện đại, CNH - HĐH và đô thị hoá có sự gắn bó chặt chẽ với nhau, tạo thành một tiến trình thống nhất thúc đẩy sự phát triển kinh
tế, xã hội
Trong quá trình CNH - HĐH, tiến trình phát triển xã hội đã có sự thay đổi
cơ bản đó là: Phát triển đô thị kèm theo sự thu hẹp xã hội nông thôn, làm thay đổi căn bản xã hội nông thôn theo hướng công nghiệp Hiện tượng đô thị hoá được xem như là một trong những nét đặc trưng nhất của sự biến đổi xã hội trong thời
Trang 13đại ngày nay Cùng với quá trình đô thị hoá, công nghiệp hoá được xem như một khía cạnh quan trọng của sự vận động đi lên của xã hội Đô thị hoá là một quá trình lịch sử trong đó nổi lên một vấn đề kinh tế - xã hội là nâng cao vai trò của đô thị trong sự phát triển mọi mặt của xã hội Quá trình này bao gồm sự thay đổi trong phân bố lực lượng sản xuất, trước hết là trong sự phân bố dân cư, trong kết cấu nghề nghiệp - xã hội, kết cấu dân số, trong lối sống, văn hoá
Tuy nhiên, bên cạnh những mặt thuận lợi đối với sản xuất và đời sống con người, sự phát triển nhanh chóng của các đô thị cũng là nguyên nhân chính gây ảnh hưởng đến cân bằng sinh thái do tài nguyên đất bị khai thác để xây dựng đô thị, giảm diện tích cây xanh và mặt nước, bùng nổ giao thông cơ giới Cùng với đó là
sự gia tăng khối lượng khai thác và sử dụng nguồn nước sạch, mức độ ô nhiễm các chất thải công nghiệp và sinh hoạt ngày càng một lớn Ngoài ra, sự gia tăng dòng người di dân từ nông thôn ra đô thị cũng gây nên những áp lực đáng kể về nhà ở và
vệ sinh môi trường,…
Đối với nước ta, từ một nền kinh tế nông nghiệp truyền thống muốn trở thành nước có nền công nghiệp hiện đại, cần phải đẩy mạnh quá trình CNH - HĐH đất nước, đó là con đường để sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân Cũng như ở các quốc gia khác, CNH - HĐH ở nước ta tất yếu kéo theo quá trình đô thị hoá Tốc độ công nghiệp hoá càng nhanh sẽ dẫn đến trình độ đô thị hoá càng cao Đô thị hoá và sự hình thành các đô thị hiện đại là một trong những chỉ tiêu cơ bản phản ánh trình độ hiện đại hoá Về thực chất, CNH - HĐH và đô thị hoá là quá trình cơ cấu lại nền kinh tế theo hướng phát triển mạnh khu vực công nghiệp, dịch vụ, giảm mạnh lao động nông nghiệp Như vậy, phần lớn lao động nông thôn làm nông nghiệp sẽ phải chuyển sang làm phi nông nghiệp, dân sống ở nông thôn trở thành dân thành thị
Đến nay, tốc độ CNH - HĐH và đô thị hoá ở Việt Nam đã và đang được đẩy mạnh, nhưng so với thế giới Việt Nam vẫn ở mức thấp Theo báo cáo thống kê của Liên Hợp Quốc, các nước công nghiệp phát triển cho thấy trình độ, đô thị hoá của nước ta thấp hơn nhiều và năm 2009 mức thu nhập bình quân tính theo đầu người xếp 138/193 nước Mức thu nhập bình quân đầu người năm 2010 của Việt Nam
Trang 14cũng mới chỉ đạt khoảng 1.160 USD/người/năm Trong khi đó ở các nước có nền kinh tế công nghiệp mới đã có mức thu nhập quốc dân bình quân đầu người cao hơn gấp 5 đến 24 lần, các nước tư bản cao hơn gấp 60 đến 80 lần
Trước tình hình trên, Việt Nam cần phải đẩy mạnh hơn nữa quá trình CNH - HĐH và đô thị hóa, đó là một yêu cầu khách quan và cấp bách của sự phát triển Trên thực tế, đối với nước ta quá trình CNH - HĐH và đô thị hoá đang diễn ra với quy mô lớn và tốc độ nhanh, góp phần quan trọng phát triển các cơ sở sản xuất, kinh doanh và dịch vụ nhất là doanh nghiệp ngoài quốc doanh, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các trung tâm thương mại và dịch vụ là yếu tố quan trọng duy trì tăng trưởng kinh tế ở mức cao, tạo việc làm ở các khu vực chính với chất lượng công việc và giá trị lao động ngày càng cao
1.1.1.3 Sự cần thiết phải chuyển đổi mục đích sử dụng đất để thực hiện công nghiệp hoá và đô thị ở nước ta
Việc thu hồi đất để xây dựng các KCN, khu đô thị, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội ở nước ta được tiến hành mạnh mẽ từ khi thực hiện đường lối đổi mới, chuyển nền kinh tế từ nền kinh tế thành phần tập trung sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Quá trình này được thúc đẩy nhanh hơn từ trước năm 1990, khi nền kinh tế nước ta bước vào giai đoạn đẩy mạnh CNH - HĐH Đại hội Đảng
toàn quốc lần thứ IX đã xác định rõ: Đẩy mạnh CNH - HĐH, xây dựng nền kinh tế
độc lập, tự chủ,…tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước
công nghiệp theo hướng hiện đại [24]
Cùng với CNH - HĐH nền kinh tế, nhiệm vụ xây dựng đồng bộ và từng bước hiện đại hoá hệ thống kết cấu hạ tầng được đặt ra một cách cấp thiết Tiến trình CNH - HĐH ở nước ta từ những năm 1990 được gắn liền với đô thị hoá cả về chiều rộng và chiều sâu Chiến lược phát triển đô thị Việt Nam thời kỳ 1996 - 2020 xác định mục tiêu phát triển đô thị cả nước đến năm 2020 là: Xây dựng tương đối hoàn chỉnh đô thị cả nước, có kết cấu hạ tầng kinh tế kỹ thuật hiện đại, có môi trường đô thị trong sạch, được phân bổ phát triển hợp lý trên địa bàn cả nước,… phấn đấu đến năm 2020, dân số đô thị chiếm khoảng 45% dân số cả nước
Việc thu hồi đất nông nghiệp ở nước ta trong những năm gần đây gắn với sự
Trang 15chuyển đổi mục đích sử dụng sang các loại đất phi nông nghiệp Nhờ đó đã xây dựng được nhiều KCN, các cụm công nghiệp, mở rộng và xây dựng mới các khu
đô thị, hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội giao thông, cấp điện, cấp thoát nước, thông tin liên lạc, trường học, bệnh viện,… hoàn thiện và phát triển các cơ
sở dịch vụ như khách sạn, nhà hàng, siêu thị, trung tâm thương mại, trung tâm dịch
vụ, du lịch; mở rộng và xây dựng mới các khu vui chơi giải trí, công viên, cây xanh,… chính điều đó làm cho quá trình CNH - HĐH có bước tiến đáng kể, quá trình đô thị hoá diễn ra mạnh mẽ hơn
Tóm lại, nếu CNH - HĐH và đô thị hoá là tất yếu khách quan đối với nước
ta thì việc thu hồi đất để phục vụ cho quá trình này là vấn đề có ý nghĩa quan trọng
Vì vậy, trong quá trình CNH - HĐH, bất cứ nước nào cũng phải chuyển đổi một số lượng đất đai từ mục đích nông nghiệp sang mục đích phi nông nghiệp để phục vụ cho việc phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật
1.1.2 Khái quát chung về thực trạng thu hồi đất nông nghiệp phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá và đô thị hoá ở Việt Nam
Thực tiễn ở nước ta trong những năm qua cho thấy, CNH - HĐH và đô thị hoá tất yếu sẽ dẫn đến một bộ phận đất đai được chuyển đổi mục đích sử dụng Trong quá trình đó, Nhà nước sẽ thực hiện thu hồi đất để xây dựng các KCN, khu
đô thị, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, các công trình công cộng phục vụ lợi ích quốc gia
Thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước cùng nhiệm vụ đặt ra trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam 10 năm, quá trình thu hồi đất để phát triển và xây dựng mới các đô thị, KCN và kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội ở nước ta diễn ra mạnh mẽ, đặc biệt đối với đất nông nghiệp
Theo số liệu của Viện Nghiên cứu định cư (Bộ Nông nghiệp và Phát triển
nông thôn), hàng năm, diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi cho phát triển công
nghiệp là khoảng trên 70.000 ha, chưa kể cho phát triển đô thị là khoảng 10.000
ha Chỉ tính riêng một số tỉnh thuộc vùng Đồng bằng Sông hồng như: Bắc Ninh, Vĩnh Phúc, Hải Phòng và Ninh Bình, số diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi cho phát triển công nghiệp trong những năm vừa qua đã lên hàng chục nghìn hecta
Trang 16(Bắc Ninh: gần 2.000 ha, Hải Phòng: gần 4.000 ha, Bình Dương, trong số 24 KCN
đã đưa vào sử dụng với tổng diện tích trên 8.100 ha thì cũng chủ yếu là đất nông nghiệp Ninh Bình là một tỉnh nhỏ, nhưng cũng có tới 735 ha đất cho công nghiệp được lấy từ nông nghiệp), ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống của hàng chục nghìn
hộ gia đình Trong quy hoạch từ nay đến năm 2020, một số tỉnh, diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi có thể tăng lên gấp đôi [27]
Thực tế cho thấy những diện tích đất bị thu hồi chủ yếu nằm ở những khu vực đông dân, có tốc độ phát triển nhanh, một số địa phương có điều kiện thuận lợi, nhất
là gần các sân bay, bến cảng, các đầu mối giao thông đường sắt, đường bộ, gần các trung tâm kinh tế lớn của đất nước Hơn nữa, mức độ thu hồi đất còn phụ thuộc lớn vào những tỉnh, thành phố có đội ngũ cán bộ có năng lực, năng động, sáng tạo và có chính sách cởi mở, phù hợp với xu thế phát triển của địa phương
Diện tích đất nông nghiệp của các tỉnh, thành phố bị thu hồi nhiều được trình bày ở bảng sau:
Bảng 1.1 Tình hình thu hồi đất ở một số địa phương trên cả nước
(Tính đến tháng 3/2011)
TT Tỉnh, thành phố
Tổng diện tích đất nông nghiệp
Diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi
Tỷ lệ đất nông nghiệp bị thu hồi
Nguồn: Tổng cục Quản lý đất đai
Trong những năm gần đây diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi ở nước ta rất lớn và tập trung ở một số huyện, xã có mật độ dân số cao, diện tích đất nông nghiệp bình quân đầu người thấp, có nhiều xã có diện tích đất nông nghiệp bị thu
Trang 17hồi chiếm 70 - 80% diện tích đất canh tác, có nhiều xã chiếm tới 100%, điển hình ở các huyện nằm trong khu vực Hà Nội mở rộng và các xã, huyện được quy hoạch xây dựng các khu công nghiệp, khu đô thị
1.2 Các chính sách thu hồi, bồi thường đất nông nghiệp và hỗ trợ chuyển đổi nghề, tạo việc làm cho người có đất nông nghiệp bị thu hồi
1.2.1 Chính sách thu hồi, bồi thường đất nông nghiệp và hỗ trợ chuyển đổi nghề, tạo việc làm ở Việt Nam qua các thời kỳ
Qua nghiên cứu cách chính sách thu hồi đất nông nghiệp ở nước ta cho thấy các quy định của pháp luật về thu hồi đất nông nghiệp ngày càng phù hợp hơn với yêu cầu thực tế cũng như yêu cầu của các quy luật kinh tế Các chính sách được thể hiện qua các giai đoạn của quá trình áp dụng Luật đất đai, cụ thể như sau:
1.2.1.1 Trước khi có Luật đất đai 1993
Ngày 14 tháng 4 năm 1959, Thủ tướng chính phủ đã ban hành Nghị định 151/TTg quy định thể lệ tạm thời về trưng dụng ruộng đất có nội dung: “Những người có ruộng đất bị trưng dụng được bồi thường và trong trường hợp cần thiết được giúp giải quyết công việc làm ăn”
Ngày 11 tháng 01 năm 1970 Thủ tướng chính phủ đã ban hành Thông tư 1792/TTg quy định một số điểm tạm thời về bồi thường thiệt hại nhà cửa, đất đai, cây cối hoa màu cho nhân dân ở những vùng xây dựng kinh tế, mở rộng thành phố trên nguyên tắc “Phải đảm bảo thoả đáng quyền lợi kinh tế của hợp tác xã và của nhân dân”
Thi hành Hiến pháp năm 1980, Luật Đất đai được Quốc hội thông qua ngày
29 tháng 2 năm 1987 quy định đất đai thuộc sở hữu toàn dân, Nhà nước giao đất cho các đối tượng có nhu cầu để sử dụng ổn định lâu dài, có thời hạn hoặc tạm thời theo quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất được duyệt Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền giao đất nào thì có quyền thu hồi đất đó
Ngày 31 tháng 5 năm 1990 Hội đồng Bộ trưởng ban hành quyết định số 186/HĐBT về việc đền bù thiệt hại đất nông nghiệp, đất có rừng khi bị chuyển mục đích sử dụng vào mục đích khác thì phải bồi thường UBND các tỉnh, thành phố quy định cụ thể mức bồi thường thiệt hại của địa phương mình sát với giá đất
Trang 18thực tế ở địa phương nhưng không thấp hơn hoặc cao hơn khung giá định mức Tổ chức, cá nhân được Nhà nước giao đất nông nghiệp, đất có rừng để sử dụng vào mục đích khác thì phải bồi thường về đất nông nghiệp, đất có rừng cho Nhà nước
Trong giai đoạn từ năm 1980 đến năm 1993 nhà nước chỉ mới có một số quy định riêng lẻ về đền bù thiệt hại, chưa hình thành chính sách thu hồi đất Nguyên nhân là khi đó đất đai chỉ được xem là tài nguyên có giá trị sử dụng, mặt khác do nền kinh tế có nhiều khó khăn nên nhu cầu thu hồi đất cũng không lớn
1.2.1.2 Sau khi có Luật đất đai 1993 đến nay
Hiến pháp năm 1992 vẫn quy định đất đai thuộc sở hữu toàn dân và Nhà nước giao đất, cho thuê đất cho các tổ chức và cá nhân sử dụng ổn định, nhưng tiếp theo đó tuyên bố trong trường hợp thật cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh và vì lợi ích quốc gia, Nhà nước trưng mua hoặc trưng dụng có bồi thường tài sản của cá nhân hoặc tổ chức theo thời giá thị trường (Điều 23)
Giai đoạn này việc thu hồi và bồi thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất
đã có điều chỉnh so với giai đoạn trước trên cơ sở thực hiện Luật đất đai năm 1993 xác lập quyền sử dụng đất của hộ dân Chính phủ ban hành Nghị định 90/CP ngày
17 tháng 8 năm 1994 của Chính phủ quy định về việc bồi thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất sử dụng vào mục đích an ninh, quốc phòng, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng thay thế tất cả các văn bản, chính sách trước đây của Nhà nước về bồi thường giải phóng mặt bằng
Nhìn chung việc bồi thường đất nông nghiệp trong giai đoạn này có sự thay đổi cơ bản về chủ thể đối với quyền sử dụng đất, nhưng vì giá bồi thường thiệt hại
đất nông nghiệp còn thấp (mới đảm bảo đủ chi phí cho việc khai hoang xây dựng
đồng ruộng) chưa phù hợp với giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất Việc thu hồi
đất để thực thi các dự án đầu tư còn gặp nhiều khó khăn Có thể thấy nội dung của Nghị định 90/CP còn rất sơ sài, chưa gắn với cơ chế thị trường
Ngày 24 tháng 4 năm 1998 Chính phủ ban hành Nghị định số
22/1998/NĐ-CP để thay thế cho Nghị định số 90/22/1998/NĐ-CP Nghị định gồm 6 chương 40 điều quy định rõ phạm vi, đối tượng được bồi thường thiệt hại; Nguyên tắc, giá đất đền bù, chính sách hỗ trợ, Đây là các văn bản quy định việc thu hồi và đền bù thiệt hại khi nhà
Trang 19nước thu hồi đất rất rõ ràng, đầy đủ nhất từ trước đến năm 1998 ở nước ta [2]
Tuy vậy, việc quy định giá đất để đền bù còn hạn chế ở cách tính hệ số K cho từng dự án để nhân với giá đất chung Chính phủ quy định Việc tính hệ số K ở mỗi dự
án, mỗi địa phương rất phức tạp về cách tính toán và thủ tục hành chính, việc thực thi đền bù đất bị kéo dài, trong khi giá cả thị trường về quyền sử dụng đất luôn biến động nên nảy sinh nhiều mâu thuẫn trong nhân dân Tại Điều 25 quy định về Hỗ trợ để ổn định sản xuất và đời sống nêu: “1 Hỗ trợ để ổn định sản xuất và đời sống cho những người phải di chuyển chỗ ở được tính trong thời hạn là 6 tháng, với mức trợ cấp tính bằng tiền cho 1 nhân khẩu/1 tháng tương đương 30 kg gạo theo thời giá trung bình ở thị trường địa phương tại thời điểm đền bù 4 Người được Nhà nước giao đất, cho thuê đất còn có trách nhiệm: Hỗ trợ chi phí đào tạo cho những lao động nông nghiệp phải chuyển làm nghề khác do bị thu hồi đất và nếu có nhu cầu tuyển dụng lao động mới thì phải ưu tiên tuyển dụng lao động thuộc các đối tượng có đất bị thu hồi.”
Trên cơ sở Luật đất đai ngày 26 tháng 11 năm 2003, Chính phủ ban hành Nghị định 197/2004/NĐ-CP ngày 03 tháng 12 năm 2004 về bồi thường, hỗ trợ tái định cư khi nhà nước thu hồi đất gồm 7 chương, 51 điều
Nghị định 197/2004 và Nghị định 22/1998 có bố cục về cơ bản thống nhất với nhau, nhưng Nghị định 197 đã khắc phục được những tồn tại trong Nghị định
22, trong đó quy định “giá đất để tính bồi thường là giá đất theo mục đích đang sử dụng” do UBND tỉnh quy định Tại điều 29 quy định: “ 1- Hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp khi bị thu hồi trên 30% diện tích đất sản xuất nông nghiệp thì được hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp cho người trong độ tuổi lao động, mức hỗ trợ và số lượng lao động cụ thể được hỗ trợ do UBND cấp tỉnh quyết định phù hợp với thực tế địa phương 2 - Việc hỗ trợ đào tạo chuyển đổi nghề nghiệp được thực hiện chủ yếu bằng hình thức cho đi học nghề tại các cơ sở dạy nghề”
Nghị định số 17/2006/NĐ-CP ngày 27 tháng 01 năm 2006 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định hướng dẫn thi hành Luật Đất đai Điểm mới là quy định trường hợp tại thời điểm có quyết định thu hồi đất mà giá đất chưa sát với giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất thực tế trên thị trường trong điều kiện bình thường thì UBND cấp tỉnh quyết định giá đất cụ thể cho phù hợp
Trang 20Sau một thời gian thực hiện Chính Phủ ban hành Nghị Định số
84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 đã thể hiện được tính khả thi và vai trò tích cực của các văn bản pháp luật Tại Điều 48 quy định: “Hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp bị thu hồi trên 30% diện tích đất nông nghiệp trong trường hợp không được Nhà nước bồi thường bằng đất nông nghiệp tương ứng mà không có nguyện vọng nhận bồi thường bằng đất làm mặt bằng sản xuất hoặc kinh doanh dịch vụ phi nông nghiệp thì được bồi thường bằng giao đất ở có thu tiền sử dụng đất tại khu tái định
cư hoặc tại các vị trí trong khu dân cư phù hợp với quy hoạch” [4]
Ngày 13/8/2009 Chính Phủ ban hành Nghị định số 69/2009/NĐ-CP quy định về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định
cư, bãi bỏ Điều 48 Nghị định 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 và một số Nghị định khác của Chính Phủ
Tại Điều 22 Nghị định số 69/2009/NĐ-CP quy định:
1 Hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp được hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp và tạo việc làm theo một trong các hình thức bằng tiền hoặc bằng đất ở hoặc nhà ở hoặc đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp như sau:
a) Hỗ trợ bằng tiền từ 1,5 đến 5 lần giá đất nông nghiệp đối với toàn bộ diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi; diện tích được hỗ trợ không vượt quá hạn mức giao đất nông nghiệp tại địa phương
b) Hỗ trợ một lần bằng một suất đất ở hoặc một căn hộ chung cư hoặc một suất đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp Việc áp dụng theo hình thức này được thực hiện đối với các địa phương có điều kiện về quỹ đất ở, quỹ nhà ở và người được hỗ trợ có nhu cầu về đất ở hoặc căn hộ chung cư hoặc đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp mà giá trị được hỗ trợ theo quy định tại điểm a khoản này lớn hơn hoặc bằng giá trị đất ở hoặc căn hộ chung cư hoặc đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp; phần giá trị chênh lệch được hỗ trợ bằng tiền
3 Trường hợp người được hỗ trợ theo quy định tại khoản 1 Điều này có nhu cầu được đào tạo, học nghề thì được nhận vào các cơ sở đào tạo nghề và được miễn học phí đào tạo cho một khóa học đối với các đối tượng trong độ tuổi lao động
Trang 21Tại Khoản 1 điều 23 Nghị định số 69/2009/NĐ-CP quy định:
1 Ngoài việc hỗ trợ theo quy định, căn cứ vào tình hình thực tế tại địa phương, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định biện pháp hỗ trợ khác để bảo đảm có chỗ ở, ổn định đời sống và sản xuất cho người bị thu hồi đất; trường hợp đặc biệt trình Thủ tướng Chính phủ quyết định [5]
Như vậy, khi thu hồi đất Nhà nước có những phương thức xử lý khác nhau
về việc bồi thường, hỗ trợ cho người dân mất đất, có thể bồi thường hỗ trợ bằng tiền, và cũng có thể bồi thường bằng đất Tuy nhiên trên thực tế, bồi thường hỗ trợ bằng tiền được áp dụng rộng rãi hơn cả
Trên cơ sở các quy định của Nhà nước, để thực hiện và áp dụng cho phù hợp với tình hình phát triển kinh tế, xã hội của địa phương, trong những năm qua UBND thành phố Hà Nội cũng như huyện Từ Liêm đã ban hành các cơ chế chính sách về công tác bồi thường, hỗ trợ chuyển đổi nghề, tạo việc làm khi thu hồi đất nông nghiệp cho khu vực nông thôn nói chung, lao động trong khu vực thu hồi đất nông nghiệp nói riêng như sau:
- Chính sách hiện hành được áp dụng theo Quyết định số UBND ngày 29/9/2009 của UBND thành phố Hà Nội quy định:
Tại Điều 40: Hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp và tạo việc làm đối với hộ
gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp bị thu hồi đất
“ 1 Hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp thì được hỗ trợ bằng tiền để chuyển đổi nghề nghiệp và tạo việc làm bằng 05 lần giá đất nông nghiệp quy định đối với diện tích đất nông nghiệp thực tế bị thu hồi nhưng tối đa không vượt quá hạn mức giao đất nông nghiệp tại địa phương (diện tích tính hạn mức bao gồm cả diện tích đất đã thu hồi trước đây)
Hộ gia đình, cá nhân đã được hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp và tạo việc làm bằng một trong các hình thức: bằng tiền một lần, đăng ký mua căn hộ chung cư, đăng ký được giao đất và đã được UBND cấp huyện xét duyệt theo quy định tại Quyết định số 33/2008/QĐ-UBND ngày 09/6/2008 và Quyết định số 18/2008/QĐ-UBND ngày 29/9/2008 của UBND thành phố Hà Nội; hộ gia đình, cá nhân đã
Trang 22được xét giao đất đủ định mức diện tích tối đa theo quy định tại Quyết định số 1098/QĐ-UB ngày 28/6/2007 của UBND tỉnh Hà Tây; hộ gia đình, cá nhân đã được xét giao đất hoặc hỗ trợ bằng tiền đủ định mức diện tích tối đa theo quy định tại Quyết định số 11/2008/QĐ-UBND ngày 04/02/2008 của UBND tỉnh Vĩnh Phúc thì không được hỗ trợ bằng tiền để chuyển đổi nghề nghiệp và tạo việc làm nêu trên
2 Trường hợp hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn tỉnh Hà Tây (trước đây) và huyện Mê Linh đã được giao đất (đất dịch vụ, đất ở) nhưng chưa đủ hạn mức quy định thì được hỗ trợ bằng tiền để chuyển đổi nghề nghiệp và tạo việc làm bằng 3,5 lần giá đất nông nghiệp quy định đối với diện tích đất nông nghiệp thực tế bị thu hồi nhưng tối đa không vượt quá hạn mức giao đất nông nghiệp tại địa phương
3 Người trong độ tuổi lao động có nhu cầu được học nghề thì được hỗ trợ
01 lần kinh phí để học một nghề bằng hình thức cấp thẻ học nghề (không chi trả trực tiếp bằng tiền cho người lao động); mức hỗ trợ tối đa không quá 6.000.000
đồng/thẻ (sáu triệu đồng).”
Tại Điều 39 Hỗ trợ ổn định đời sống và ổn định sản xuất
“1 Hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp khi Nhà nước thu
hồi đất nông nghiệp (kể cả đất vườn, ao và đất nông nghiệp) thì được hỗ trợ ổn định đời sống theo quy định sau đây:
a) Thu hồi từ 30% đến 70% diện tích đất nông nghiệp đang sử dụng thì được hỗ trợ
ổn định đời sống trong thời gian 6 tháng nếu không phải di chuyển chỗ ở và trong thời gian 12 tháng nếu phải di chuyển chỗ ở;
b) Thu hồi trên 70% diện tích đất nông nghiệp đang sử dụng thì được hỗ trợ ổn định đời sống trong thời gian 12 tháng nếu không phải di chuyển chỗ ở và trong thời gian 24 tháng nếu phải di chuyển chỗ ở;
c) Mức hỗ trợ cho một nhân khẩu quy định tại các điểm a và b khoản này được tính bằng tiền tương đương 30 kg gạo trong 01 tháng theo thời giá trung bình ở Hà Nội tại thời điểm hỗ trợ do Sở Tài chính công bố
Hộ gia đình, cá nhân chỉ được hỗ trợ theo quy định này một lần, sau này khi Nhà nước tiếp tục thu hồi đất không được hưởng khoản hỗ trợ này nữa” [13]
Trang 231.2.2 Chính sách dạy nghề, học nghề, giải quyết việc làm khi thu hồi đất nông nghiệp
1.2.2.1 Nhu cầu đào tạo nghề và việc làm cho nông dân khi bị thu hồi đất nông nghiệp
Trong những năm gần đây, vấn đề việc làm, đào tạo và chuyển đổi nghề nghiệp cho nông dân bị thu hồi đất nông nghiệp trên cả nước đang ngày càng nóng bỏng Đô thị hoá kéo theo sự mở rộng nhanh chóng nhu cầu sử dụng đất phát triển cho các KCN tập trung, xây dựng cơ sở hạ tầng và đất ở đô thị đã làm cho diện tích đất nông nghiệp ngày càng một thu hẹp Theo Cục Hợp tác xã và Phát triển nông thôn, ở những nơi bị thu hồi đất, có đến 67% số hộ vẫn phải quay lại nghề nông, chỉ có 13% có nghề mới ổn định Có nhiều hộ dân muốn quay lại nghề cũ nhưng không có đất để sản xuất, cuối cùng họ rơi vào cảnh thất nghiệp
Tốc độ đô thị hoá và luồng lao động dịch chuyển từ nông thôn ra thành thị lớn làm gia tăng lao động thành thị lên 4,7% so với 2,0% giai đoạn 1996 - 2008 Lao động nông thôn chiếm khoảng 80% tổng lực lượng lao động, mức tăng trưởng GDP nông nghiệp đóng góp 20% tổng GDP quốc gia thì tỷ lệ lao động nông thôn như vậy là cao, tốc độ thu hút lao động khỏi nông nghiệp vẫn chậm Ở nước ta lao động nông thôn chiếm 3/4 lao động cả nước và tập trung chủ yếu ở ngành nông nghiệp, nơi tạo ra năng xuất lao động thấp và cũng là nơi quỹ đất canh tác đang ngày càng bị thu hẹp và giảm dần Kết quả là nhiều lao động mất đất sản xuất hoặc thiếu đất sản xuất dẫn đến dư thừa lao động và thiếu việc làm Thu nhập của lao động nông nghiệp vì thế mà thấp và thất thường, đây cũng chính là lí do khiến tỷ lệ người nghèo tập trung nhiều ở các vùng nông thôn
Có một thực tế trong vài năm trở lại đây, khi các khu công nghiệp (KCN) mọc lên ngày càng nhiều thì cùng với sự phát triển đã có hàng trăm ngàn hecta đất nông nghiệp bị chuyển đổi mục đích sử dụng Hệ lụy kéo theo chính là hàng nghìn người dân lâm vào tình cảnh mất đất, mất nghề, phải xa xứ kiếm sống…
Theo khảo sát mới đây cho thấy cứ mỗi hecta đất bị lấy đi sẽ có 10 lao động
bị ảnh hưởng Chỉ tính trong 3 năm 2009 đến 2011, tổng diện tích đất chuyên dùng
đã tăng lên 104.422 ha dẫn đến một lượng lớn diện tích đất nông nghiệp được
Trang 24chuyển đổi mục đích theo hai hướng chính là phục vụ xây dựng các KCN, khu chế xuất, cụm công nghiệp vừa và nhỏ hoặc phát triển các khu đô thị tập trung theo các
dự án xây dựng cơ sở hạ tầng Các khu vực kinh tế trọng điểm là khu vực có diện tích đất nông nghiệp chuyển đổi lớn nhất, chiếm trên 50% tổng diện tích thu hồi Mặc dù, số diện tích đất nông nghiệp được thu hồi chỉ chiếm tỉ lệ nhỏ trong tổng diện tích đất nông nghiệp, nhưng do thu hồi mang tính tập trung nên một số xã bị
"mất" từ 70 - 80% diện tích, kéo theo nhiều hộ bị thu hồi 100% diện tích, không còn đất sản xuất Còn lại, đa phần các hộ ở các địa phương có diện tích đất thu hồi lớn như Hà Nội, Hưng, Hải Phòng, Bắc Ninh, Kiên Giang…thường bị thu hồi từ
50 - 70% diện tích Dự kiến, việc thu hồi đất nông nghiệp trong năm năm tới sẽ ảnh hưởng tới 2,5 triệu người
Khi CNH - HĐH diễn ra nhanh thì quỹ đất canh tác bị thu hẹp lại, có thể là
do phục vụ cho việc xây dựng các đô thị, KCN hay các công trình cũng có thể là
do việc tích tụ ruộng đất của người nông thôn Trước thực tế đó nhiều lao động bị mất đất hoặc thiếu đất sẽ phải chuyển hướng tìm việc làm mới hoặc chuyển đổi nghề nghiệp Cũng từ lý do đó lao động nông thôn rất cần được đào tạo, dạy nghề,
họ cần có trình độ chuyên môn và cập nhật kiến thức đào tạo dạy nghề để đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế của đất nước Những năm gần đây, công tác dạy nghề đã
có nhiều tiến triển Nhiều lao động đã ý thức được việc học nghề và số người tham gia các khoá đào tạo tăng lên rõ rệt Mới đây, nước ta cũng đã ban hành các chính sách và nghề cho nông dân vùng mất đất và dân tộc thiểu số và đã thu được nhiều kết quả đáng khích lệ
1.2.2.2 Chính sách dạy nghề, học nghề, giải quyết việc làm cho người dân
có đất nông nghiệp bị thu hồi
Giải quyết việc làm là một trong những chính sách quan trọng đối với mỗi quốc gia, đặc biệt là đối với các nước đang phát triển có lực lượng lao động lớn như Việt Nam Vấn đề chuyển dịch mục đích sử dụng đất dẫn đến chuyển dịch lao động cũng đang diễn ra mạnh mẽ cả tự phát và trong quy hoạch, làm đã ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống và việc làm của người dân bị thu hồi đất Hiện tượng lao động nông nghiệp có đất nông nghiệp thu hồi bị mất việc làm do quá trình đô thị
Trang 25hóa và hình thành các khu vực công nghiệp tập trung diễn ra mạnh mẽ
Những năm qua, bên cạnh các chính sách bồi thường hỗ trợ bằng tiền cho người dân mất đất, Nhà nước còn ban hành những chính sách nhằm hỗ trợ dạy nghề, học nghề và tạo việc làm cho lao động nông thôn Có thể kể đến ở đây như là:
- Nghị quyết số 13/NQ/TW về tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể và Nghị quyết số 15-NQ/TW về đẩy mạnh CNH - HĐH nông nghiệp, nông thôn thời kỳ 2001 - 2010
- Chính phủ ra Quyết định số 126/QĐ-Tg ngày 11 tháng 7 năm 1998 phê duyệt chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm đến năm 2000
- Tiếp đó là Quyết định số 143/2001/QĐ-TTg ngày 27 tháng 9 năm 2001 phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia xoá đói, giảm nghèo và việc làm giai đoạn 2001 - 2005
- Quyết định số 032/2000/QĐ-TTg ngày 24/11/2000 của Thủ tướng Chính phủ về một số chính sách khuyến khích phát triển ngành nghề nông thôn
- Quyết định số 81/2005/QĐ-TTg ngày 18/4/2005 của Thủ tướng Chính phủ
về chính sách hỗ trợ dạy nghề ngắn hạn cho lao động nông thôn Theo đó, đối tượng ưu tiên là đối tượng lao động bị thu hồi đất nông nghiệp Bộ tài chính cùng với Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội đã ban hành thông tư liên tịch số 06/2006/TTLT-BTC-BLĐTBXH ngày 19/01/2006 hướng dẫn thực hiện quyết định
số 81/2005/ QĐ-TTg, trong đó có nêu: mỗi lao động bị thu hồi đất nếu có nhu cầu học nghề sẽ được hỗ trợ tối đa không quá 300.000 đồng/người/tháng và không quá 1.500.000 đồng/người/khóa học nghề [26]
- Quyết định số 1956/QĐ-TTg ngày 27/11/2009 phê duyệt đề án “đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020” Quyết định ưu tiên đối tượng là người bị thu hồi đất nông nghiệp khi có nhu cầu học nghề thì được hỗ trợ chi phí học nghề ngắn hạn (trình độ sơ cấp nghề và dạy nghề dưới 3 tháng) với mức tối đa
03 triệu đồng/người/khóa học (mức hỗ trợ cụ thể theo từng nghề và thời gian học nghề thực tế); hỗ trợ tiền ăn với mức 15.000 đồng/ngày thực học/người; hỗ trợ tiền
đi lại theo giá vé giao thông công cộng với mức tối đa không quá 200.000 đồng/người/khóa học đối với người học nghề xa nơi cư trú từ 15 km trở lên [25]
Trang 26- Quyết định số 2383/QĐ-UBND ngày 23/6/2008 của UBND thành phố Hà Nội về việc phê duyệt đề án: “Hỗ trợ dạy nghề ngắn hạn cho lao động nông thôn Thành phố Hà Nội giai đoạn 2008 - 2010”
Các chính sách này đã góp phần quan trọng, tạo thế chủ động, tích cực để giải quyết vấn đề thu nhập, đời sống và việc làm cho lao động nông thôn nói chung, lao động nông nghiệp bị thu hồi đất nói riêng
Ngoài ra, Nhà nước đã ban hành những quy định cụ thể về việc hỗ trợ cho những người dân có đất bị thu hồi trong việc đào tạo nghề mới và chuyển đổi nghề nghiệp thông qua Luật đất đai năm 2003, Nghị định số 22/1998/NĐ-CP ngày 2 tháng 4 năm 1998, sau đó là Nghị định 197/2004/NĐ-CP về bồi dưỡng, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất; Nghị quyết số 01/2004/NQ-CP của Chính phủ về một số giải pháp chủ yếu tập trung chỉ đạo, điều hành thực hiện ngân sách nhà nước năm 2004, Chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm cũng đã dành 22
tỷ đồng bổ sung vốn vay giải quyết việc làm cho gần 10 nghìn lao động bị thu hồi đất
Tại Nghị định 69/2009/NĐ-CP ngày 13 tháng 8 năm 2009 của Chính phủ, quy định bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ tái định cư cũng đưa ra chính sách cụ thể về hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp và tạo việc làm trong Điều 22, cụ thể như sau: Trường hợp người được hỗ trợ có nhu cầu được đào tạo, học nghề thì được nhận vào các cơ sở đào tạo nghề và được miễn học phí đào tạo cho một khóa học đối với các đối tượng trong độ tuổi lao động Kinh phí hỗ trợ chuyển đổi nghề cho các đối tượng chuyển đổi nghề nằm trong phương án đào tạo, chuyển đổi nghề và được tính trong tổng kinh phí của dự án đầu tư hoặc phương án bồi thường, hỗ trợ tái định cư được duyệt
Các địa phương đã ban hành và thực hiện chính sách hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp, tạo việc làm cho người dân có đất bị thu hồi dưới nhiều hình thức nhằm tạo thêm nhiều điều kiện cho người lao động đi học nghề và chuyển đổi nghề nghiệp như:
- Thành phố Hà Nội: Ban hành Quyết định số 2526/QĐ-UBND ngày 1/7/2008 của UBND thành phố Hà Nội về việc phê duyệt đề án “Một số giải pháp
hỗ trợ ổn định đời sống, học tập, đào tạo nghề và việc làm cho các hộ dân vùng
Trang 27chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp” trên địa bàn thành phố Hà Nội Hỗ trợ kinh phí học nghề cho những người trong độ tuổi lao động có nhu cầu học nghề bằng hình thức cấp thẻ học nghề, mức hỗ trợ tối đa không quá 6.000.000 đồng/thẻ
(sáu triệu đồng) (không chi trả trực tiếp bằng tiền cho người lao động) và hỗ trợ 01
lần duy nhất
- Xã Khánh Phú, huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình: ngoài biện pháp hỗ trợ tạo việc làm xã đã liên kết với các doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh tổ chức dạy nghề cho người lao động gồm các nghề thêu ren, đan móc sợi, mây tre đan, may công nghiệp và phát triển mạnh các dịch vụ sẵn có ở địa phương như vận tải, sửa chữa cơ khí, mộc, nề, thu hút nhiều lao động vào làm việc, ổn định về tư tưởng của người dân, bảo đảm an ninh trật tự trong thôn xóm
- Hải Dương thực hiện chính sách dạy nghề miễn phí 100% cho những người thuộc hộ đã bàn giao từ 50% diện tích đất canh tác trở lên
- Vĩnh Phúc là tỉnh đầu tiên tại khu vực phía bắc thực hiện cấp đất làm dịch
vụ cho các hộ nông dân bị thu hồi đất nông nghiệp Mỗi sào (360 m2) đất bị thu hồi
sẽ được cấp lại 10 m2
đất làm dịch vụ và mỗi lao động được thêm 2m2 (nhưng tổng cộng không quá 100 m2/hộ) Ngoài ra, để giải quyết lao động độ tuổi từ 35 trở lên, Vĩnh Phúc quy hoạch các KCN để dành một phần diện tích cho các cơ sở tiểu, thủ công nghiệp, các ngành nghề có thể sử dụng rộng rãi các đối tượng lao động
- Bắc Ninh hỗ trợ để chuyển đổi nghề nghiệp là 14.700 đồng/m2, hỗ trợ ổn định đời sống và sản xuất là 5.300 đồng/m2
hộ gia đình bị thu hồi đất từ 30% diện tích trở lên Ngoài ra, để hỗ trợ nông dân, mỗi địa phương cần xây dựng kế hoạch cụ thể về đào tạo nghề cho trúng và đúng với ngành nghề mà huyện thu hút đầu tư, hỗ trợ chi phí học văn hóa, chi phí học nghề và cho vay vốn kinh doanh…
Trang 28Nhiều địa phương đã lựa chọn xuất khẩu lao động như một hướng đi tích cực như Hưng Yên, Đà Nẵng Hà Nội cũng có quy định mỗi ha đất thu hồi phục vụ cho dự án, chủ dự án phải đào tạo tại chỗ và tuyển dụng ít nhất 10 lao động địa phương Hưng Yên quy định doanh nghiệp thuê 100m2
đất sẽ phải nhận 1 lao động địa phương
Tuy nhiên, hiệu quả thực tế của những biện pháp nêu trên vẫn còn cách xa nhu cầu Một trong những nguyên nhân chủ yếu của hạn chế đó là khu quy hoạch đất nông nghiệp thu hồi ở nhiều địa phương chưa gắn với quy hoạch tái định cư, thiếu kế hoạch cụ thể về hỗ trợ dạy nghề và việc làm cho người lao động Hầu hết nông dân trong hoàn cảnh này đều bị động khi phải chuyển đổi mục đích đất sản xuất Trong khi đó khả năng thu hút lao động vào các KCN còn thấp, chưa đến 35% tổng số lao động đang làm việc Đó là chưa kể một lượng lớn lao động không đáp ứng yêu cầu về tay nghề Nhiều địa phương có tới hàng nghìn lao động bị mất việc làm nhưng chỉ có 12 đến 20 người đã qua đào tạo
Trước khi bị thu hồi đất nông nghiệp, phần lớn người dân đều có cuộc sống
ổn định vì họ có đất sản xuất, có tư liệu sản xuất mà đất sản xuất đó được kế thừa
từ thế hệ này qua thế hệ khác Sau khi bị thu hồi đất nông nghiệp các hộ nông dân không có đất để sản xuất, điều kiện sống và sản xuất của họ bị thay đổi hoàn toàn Mặc dù nông dân được giải quyết bồi thường hỗ trợ bằng tiền nhưng họ vẫn chưa định hướng ngay được những ngành nghề hợp lý để có thể ổn định được cuộc sống Đây cũng là nguyên nhân sinh ra các tệ nạn xã hội ở các vùng nông thôn đang đô thị hóa hoặc các vùng có nhiều nhà máy mới mọc lên
* Đánh giá chung
Trong quá trình thực hiện các quy định của Nhà nước công tác thu hồi đất nông nghiệp và công tác hỗ trợ chuyển đổi nghề, tạo việc làm đã đạt được các kết
quả khá khả quan, thể hiện trên một số khía cạnh chủ yếu sau:
Thứ nhất, đối tượng được bồi thường, hỗ trợ ngày càng được xác định đầy
đủ chính xác, phù hợp với tình hình thực tế của đất nước, giúp cho công tác quản
lý đất đai của Nhà nước được nâng cao, người dân bị mất trên 30% diện tích đất nông nghiệp được hỗ trợ cũng thấy thỏa đáng
Trang 29Thứ hai, phương thức hỗ trợ tạo điều kiện cho người dân bị thu hồi đất có
thể khôi phục lại tài sản bị mất Một số biện pháp hỗ trợ đã được bổ sung và quy định rất rõ ràng, thể hiện được tinh thần đổi mới của Đảng và Nhà nước nhằm giúp cho người dân ổn định về đời sống và sản xuất
Thứ ba, giải quyết được nhiều khúc mắc, giúp cho các cơ quan nhà nước có
thẩm quyền thực hiện công tác bồi thường, tái định cư đạt hiệu quả
Thứ tƣ, các địa phương bên cạnh việc thực hiện các quy định Luật đất đai
năm 2003, các Nghị định hướng dẫn thi hành, đã dựa trên sự định hướng chính sách của Đảng và Nhà nước, tình hình thực tế tại địa phương để ban hành các văn bản pháp luật áp dụng cho địa phương mình, làm cho công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư được thực hiện hợp lý và đạt hiệu quả cao hơn Chính sách hỗ trợ thỏa đáng nên việc thu hồi đất tiến hành bình thường, mặc dù vẫn còn những khiếu nại nhưng con số này ít và không gây trở ngại đáng kể trong quá trình thực hiện
Nhờ những cải thiện về quy định pháp luật, về phương pháp tổ chức, về năng lực cán bộ thực thi giải phóng mặt bằng, tiến độ giải phóng mặt bằng trong các dự án đầu tư gần đây đã được rút ngắn hơn so với các dự án cũ, góp phần giảm bớt tác động tiêu cực đối với người dân cũng như đối với dự án Việc thực hiện chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đã giúp cho đất nước ta xây dựng cơ sở vật chất, phát triển kết cấu hạ tầng, xây dựng khu chế xuất, khu công nghiệp, khu công nghệ cao, các dự án trọng điểm của Nhà nước, cũng như góp phần chuyển đổi
cơ cấu nền kinh tế, ổn định đời sống sản xuất cho người có đất bị thu hồi
1.3 Sƣ ̣ cần thiết ta ̣o viê ̣c làm cho lao đô ̣ng thuô ̣c diê ̣n bi ̣ th u hồi đất nông nghiê ̣p do quá trình đô thi ̣ hóa
Tạo việc làm cho người lao động là vô cùng cần thiết, trước hết là nhằm giảm lao động thất nghiệp cho nền kinh tế Công nghiệp hóa là xu hướng tất yếu đối với các quốc gia chậm phát triển muốn nhanh chóng thoát ra khỏi nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, chuyển sang nền kinh tế công nghiệp hiện đại, năng suất cao Trong quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa, việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ kéo theo chuyển dịch cơ cấu lao động Hơn nữa, cùng với quá trình phát triển kinh tế, nhiều ngành nghề mới, hoạt động
Trang 30sản xuất mới ra đời thay thế cho một số hoạt động sản xuất cũ dẫn đến thất nghiệp phát sinh Như vậy, tạo việc làm cho người lao động trước hết nhằm giảm lượng lao động thất nghiệp, đồng thời góp phần làm tăng sản lượng quốc dân, tăng tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế, tạo điều kiện cho nền kinh tế phát triển bền vững
Vấn đề việc làm và giải quyết việc làm là một trong những vấn đề có tính chất toàn cầu, là mối quan tâm rất lớn không những của nước ta mà là tất cả các nước trên thế giới Việc làm có ý nghĩa to lớn trong việc làm ra của cải vật chất để nuôi sống con người Tạo việc làm cho người lao động giúp họ có thu nhập, góp phần xóa đói giảm nghèo, tạo điều kiện thỏa mãn các nhu cầu chính đáng về vật chất và tinh thần của người lao động, ngày một nâng cao chất lượng cuộc sống, nâng cao vị thế của người lao động trong gia đình và ngoài xã hội
Tạo việc làm cho lao động không chỉ có ý nghĩa về mặt kinh tế mà còn có ý nghĩa về mặt xã hội Nếu không có việc làm, thất nghiệp sẽ tăng, đó là nguồn gốc của các tệ nạn xã hội như: trộm cắp, cờ bạc, ma túy…Như vậy, tạo việc làm không những góp phần đẩy lùi được các tệ nạn xã hội mà còn có thể kích thích người lao động sáng tạo, thúc đẩy sản xuất, thúc đẩy xã hội phát triển, đảm bảo công bằng xã hội
Vấn đề tạo việc làm cho lao động là vấn đề cần thiết trong mọi thời kỳ, đặc biệt đối với đối tượng lao động trong diện giải tỏa đất nông nghiệp do quá trình đô thị hóa thì vấn đề này càng trở nên bức thiết vì họ là những người có trình độ chuyên môn thấp, khả năng tìm việc làm và chuyển đổi nghề nghiệp thường thấp hơn so với các đối tượng khác
Trong quá trình đô thị hóa, nhà nước thu hồi đất nông nghiệp để xây dựng các công trình đô thị phục vụ cho sự nghiệp CNH – HĐH Do đó, hàng nghìn hộ nông dân kéo theo hàng vạn nhân khẩu nông nghiệp mất tư liệu sản xuất dẫn tới mất việc làm, cuộc sống và thu nhập của họ gặp không ít khó khăn Một bộ phận nông dân có kiến thức, có trình độ đã chủ động mở mang các ngành nghề, dịch vụ, phát triển tiểu thủ công nghiệp… tạo việc làm và có cuộc sống ổn định Song bên cạnh đó còn rất nhiều hộ còn lúng túng trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế do họ không bắt kịp với cơ chế thị trường, trình độ thấp, không có nghề, hay tuổi đời cao…họ gặp phải nhiều khó khăn trong việc tìm và tạo việc làm mới Do hạn chế
Trang 31về văn hóa và nhận thức, nếu như lực lượng này không được tạo việc làm, không
có thu nhập để trang trải cuộc sống, cộng với việc có nhiều thời gian rảnh rỗi thì họ
dễ bị lôi kéo, dụ dỗ vào các hoạt động phi pháp như trộm cắp, cướp giật, ma túy,
cờ bạc…Vì vậy, tạo việc làm cho những lao động này cũng chính là biện pháp làm giảm tệ nạn xã hội, góp phần đảm bảo trật tự an ninh xã hội, môi trường sống xã hội sẽ trở nên tốt hơn
Như vậy, vấn đề tạo việc làm cho người lao động nói chung, cho người lao động bị thu hồi đất nông nghiệp nói riêng là vô cùng cần thiết vì nó không chỉ làm cho nền kinh tế tăng trưởng và phát triển, mà còn góp phần làm ổn định xã hội, giảm thất nghiệp và các tệ nạn xã hội, đồng thời cũng góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động theo đúng hướng đó là tăng tỉ trọng lao động trong ngành công nghiệp, dịch vụ, giảm tỉ trọng lao động trong ngành nông nghiệp
1.4 Kinh nghiệm của một số nước trong vấn đề thu hồi đất và giải quyết việc làm cho người dân bị thu hồi đất
Phát triển công nghiệp và đô thị là một tiến trình tất yếu trên toàn thế giới
Và thu hồi đất nông nghiệp là cách thức thường được thực hiện để xây khu công nghiệp và đô thị Quá trình thu hồi đất đặt ra rất nhiều vấn đề kinh tế - xã hội cần được giải quyết kịp thời và thỏa đáng Để có thể hài hòa được lợi ích của xã hội, tập thể và cá nhân, mỗi quốc gia có cách làm riêng của mình Sau đây là một số ví dụ:
1.4.1 Ở Trung Quốc
Ở Trung Quốc, có thể nói, mục tiêu bao trùm lên chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư là hạn chế đến mức tối đa việc thu hồi đất, giải tỏa mặt bằng, cũng như số lượng người bị ảnh hưởng bởi việc thu hồi đất để thực hiện dự án đầu tư Nếu như việc thu hồi đất là không thể tránh khỏi thì có sự chuẩn bị cẩn thận phương án đền bù, trên cơ sở tính toán đầy đủ lợi ích của nhà nước, tập thể và cá nhân, đảm bảo cho những người bị thu hồi đất có thể khôi phục lại hoặc cải thiện mức sống so với trước khi bị thu hồi đất
Theo quy định của pháp luật Trung Quốc, khi Nhà nước thu hồi đất thì người nào sử dụng đất sau đó sẽ có trách nhiệm bồi thường Người bị thu hồi đất được thanh toán ba loại tiền: tiền bồi thường đất đai, tiền trợ cấp về tái định cư,
Trang 32tiền trợ cấp bồi thường hoa màu trên đất Cách tính tiền bồi thường đất đai và tiền trợ cấp tái định cư căn cứ theo tổng giá trị tổng sản lượng của đất đai những năm trước đây rồi nhân với hệ số Tiền bồi thường cho hoa màu, cho các loại tài sản trên đất được tính theo giá cả hiện tại
Mức bồi thường cho giải tỏa mặt bằng được thực hiện theo nguyên tắc đảm bảo cho người dân có cuộc sống bằng hoặc cao hơn nơi ở cũ Việc quản lý giải phóng mặt bằng được giao cho các cục quản lý tài nguyên đất đai ở địa phương đảm nhiệm Tổ chức, cá nhân được quyền sử dụng thửa đất nào sẽ trả tiền thuê một đơn vị xây dựng giải tỏa mặt bằng
Để giải quyết nhà ở cho người dân khi giải phóng mặt bằng, phương thức chủ yếu của Trung Quốc là trả tiền và hỗ trợ bằng cách tính ba khoản sau: Một là, giá cả xây dựng lại, chênh lệch giữa giá xây dựng lại nhà mới và nhà cũ; Hai là, giá đất tiêu chuẩn; Ba là, trợ cấp về giá cả Ba khoản này cộng lại là tiền bồi thường về nhà ở
Việc bồi thường nhà ở cho dân ở thành phố khác với việc bồi thường cho dân ở nông thôn, bởi có sự khác nhau về hình thức sở hữu đất đai ở thành thị và nông thôn Đối với nhà ở của người dân thành phố, nhà nước bồi thường bằng tiền
là chính, với mức giá do thị trường bất động sản quyết định qua các tổ chức trung gian để đánh giá, xác định giá Với người dân nông thôn, nhà nước thực hiện theo những cách thức rất linh hoạt, theo đó, mỗi đối tượng khác nhau sẽ có cách bồi thường khác nhau: tiền bồi thường về sử dụng đất đai; tiền bồi thường về hoa màu; bồi thường tài sản tập thể
Theo đánh giá của một số chuyên gia tái định cư, sở dĩ Trung Quốc có những thành công nhất định trong công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư là do: Thứ nhất, đã xây dựng các chính sách và thủ tục rất chi tiết, ràng buộc đối với các hoạt động tái định cư, đảm bảo mục tiêu tạo cơ hội phát triển cho người dân tái định cư, tạo các nguồn lực sản xuất cho những người tái định cư Thứ hai, năng lực thể chế của các chính quyền địa phương khá mạnh Chính quyền cấp tỉnh chịu trách nhiệm hoàn toàn trong việc thực hiện chương trình bồi thường hỗ trợ tái định
cư Thứ ba, quyền sở hữu đất tập thể làm cho việc thực hiện bồi thường hỗ trợ tái
Trang 33định cư có nhiều thuận lợi, đặc biệt là ở nông thôn Tiền đền bù cho đất đai bị mất không trả cho từng hộ gia đình mà được cộng đồng sử dụng để tìm kiếm, phát triển đất mới hoặc mua của các cộng đồng sở tại hay dùng để phát triển kết cấu hạ tầng Chính quyền thôn, xã chịu trách nhiệm phân chia cho các hộ bị ảnh hưởng
Bên cạnh những thành công như vậy, chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định
cư của Trung Quốc cũng bộc lộ những tồn tại nhất định mà chủ yếu là vấn đề việc làm; tốc độ tái định cư chậm, thiếu đồng bộ, thực hiện giải phóng mặt bằng trước khi xây xong nhà tái định cư
1.4.2 Ở Thái Lan
Ở Thái Lan, cũng giống như ở nhiều nước khác trong khu vực châu Á, quá trình đô thị hoá diễn ra nhanh chóng, mọi giao dịch về đất đai đều do cơ chế thị trường điều tiết Mặc dù chưa có chính sách đền bù tái định cư quốc gia, nhưng tại Hiến Pháp năm 1982 quy định việc trưng dụng đất cho các mục đích xây dựng cơ
sở hạ tầng, quốc phòng, phát triển nguồn tài nguyên cho đất nước, phát triển đô thị, cải tạo đất đai và các mục đích công cộng khác phải theo thời giá thị trường cho những người hợp pháp về tất cả các thiệt hại do việc trưng dụng gây ra và quy định việc đền bù phải khách quan cho người chủ mảnh đất và người có quyền thừa kế tài sản đó Dựa trên các qui định này, các ngành có qui định chi tiết cho việc thực hiện trưng dụng đất của ngành mình Tuy nhiên, với những dự án do Chính phủ quản lý, việc đền bù được tiến hành theo trình tự: tổ chức nghe ý kiến người dân; định giá đền bù
Năm 1987 Thái Lan ban hành Luật về trưng dụng bất động sản áp dụng cho việc trưng dụng đất sử dụng vào các mục đích xây dụng tiện ích công cộng, quốc phòng, phát triển nguồn tài nguyên hoặc các lợi ích khác cho đất nước, phát triển
đô thị, nông nghiệp, công nghiệp, cải tạo đất đai vào các mục đích công cộng Luật qui định những nguyên tắc về trưng dụng đất, nguyên tắc tính giá trị đền bù các loại tài sản bị thiệt hại Căn cứ vào đó, từng ngành đưa ra các qui định cụ thể về trình tự tiến hành đền bù tái định cư, nguyên tắc cụ thể xác định giá trị đền bù, các bước lập và phê duyệt dự án đền bù, thủ tục thành lập các cơ quan, uỷ ban tính toán đền bù tái định cư, trình tự đàm phán, nhận tiền đền bù, quyền khiếu nại,
Trang 34quyền khởi kiện đưa ra toà án Ví dụ:
Trong ngành điện năng thì cơ quan điện lực Thái Lan là nơi có nhiều dự án đền bù tái định cư lớn nhất nước, họ đã xây dựng chính sách riêng với mục tiêu: “ Đảm bảo cho những người bị ảnh hưởng một mức sống tốt hơn” thông qua việc cung cấp cơ sở hạ tầng có chất lượng và đạt mức tối đa nhu cầu, đảm bảo cho những người bị ảnh hưởng có thu nhập cao hơn và được tham gia nhiều hơn vào quá trình phát triển xã hội, vì vậy thực tế đã tỏ ra hiệu quả khi cần thu hồi đất trong nhiều dự án
1.4.3 Đánh giá chung
Để phục vụ lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, mục đích phát triển kinh tế, mục đích an ninh, quốc phòng, các nước đều phải sử dụng quyền lực Nhà nước thông qua các chính sách pháp luật khác nhau để thu hồi đất hoặc trưng thu đất của người đang sở hữu hoặc sử dụng đất đai và được thể hiện ở các nội dung sau:
Trách nhiệm bồi thường: Có thể do Nhà nước hoặc người được sử dụng đất thu hồi
Đối tượng được bồi thường: Tất cả những người có đất bị ảnh hưởng bởi dự
án đều có quyền được bồi thường
Phương thức bồi thường: Việc thực hiện bồi thường được thực hiện bằng tiền hoặc hiện vật cho thiệt hại về đất đai
Giá trị đất bị thu hồi hoặc trưng thu: Được tính trên cơ sở giá trị thực của đất trên nguyên tắc là giá thị trường hoặc giá thay thế
Chính sách hỗ trợ: Các khoản hỗ trợ cho người bị thu hồi đất hoặc trưng thu đất nhằm tạo điều kiện chuyển đổi nghề nghiệp, ổn định sản xuất và cải thiện đời sống
Thông qua việc ban hành và thực hiện chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định
cư khi nhà nước thu hồi đất của các nước, rút ra các kinh nghiệm mà Việt Nam cần quan tâm được thể hiện ở một số điểm sau:
- Hoàn thiện hệ thống chính sách pháp luật về đất đai nói chung và chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất nói riêng đảm bảo tính ổn định, thống nhất và phù hợp Tập trung quan tâm vấn đề giá đất và định giá
Trang 35đất; vấn đề tuyên truyền và phổ biến chính sách bồi thường giải phóng mặt bằng tới mọi tầng lớp nhân dân trong xã hội
- Rà soát, bổ sung chính sách hỗ trợ người bị thu hồi đất chuyển đổi nghề, tạo việc làm mới để ổn định đời sống, cải thiện thu nhập Đặc biệt, đối với thu hồi đất sản xuất nông nghiệp, đối tượng bị ảnh hưởng là hộ nghèo, chưa đến tuổi và quá tuổi lao động
Tóm lại, những vấn đề nảy sinh trong thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định
cư đặc biệt công việc hỗ trợ chuyển đổi nghề, tạo việc làm cho lao động nông nghiệp bị thu hồi đất đối với bất cứ quốc gia nào, đặc biệt là ở các nước đang phát triển là vô cùng cần thiết và búc xúc Khắc phục những tồn tại đó sẽ đảm bảo sự ổn định, nâng cao điều kiện sống cho người dân ở những khu vực có đất bị thu hồi, góp phần vào sự vận hành và phát triển của thị trường bất động sản
Trang 36CHƯƠNG 2
PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG HỖ TRỢ CHUYỂN ĐỔI NGHỀ VÀ TẠO VIỆC LÀM CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG THUỘC DIỆN THU HỒI ĐẤT NÔNG NGHIỆP
Ở HUYỆN TỪ LIÊM
2.1 Khái quát chung về địa bàn nghiên cứu
2.1.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội
2.1.1.1 Điều kiện tự nhiên
Huyện Từ Liêm nằm ở phía Tây - Tây Bắc của Hà Nội, có vị trí địa lý cụ thể như sau:
- Phía Bắc giáp huyện Đông Anh (bên tả ngạn sông Hồng);
- Phía Nam giáp quận Hà Đông;
- Phía Tây giáp huyện Hoài Đức và huyện Đan Phượng;
- Phía Đông giáp quận Cầu Giấy, quận Tây Hồ và quận Thanh Xuân
Huyện Từ Liêm tập trung nhiều đầu mối giao thông đường bộ quan trọng có vai trò lớn trong phát triển kinh tế của thủ đô Hệ thống giao thông huyết mạch do trung ương và thành phố quản lý bao gồm: Đường Nam Thăng Long – Sân bay quốc tế nội bài ( nối trung tâm thủ đô Hà Nội với sân bay quốc tế nội bài); Đường
32 nối Hà Nội – Sơn Tây; Đại lộ Thăng Long chạy qua các xã Mễ Trì, Đại Mỗ, Tây Mỗ đi Hào Lạc; Đoạn đường quốc lộ 6 nối Hà Nội với các tỉnh Tây Bắc; Đường 70; Đường 23 Theo quy hoạch phát triển không gian đô thị thủ đô Hà Nội đến năm 2020 thì phần lớn diện tích đất nông nghiệp của Huyện sẽ được thu hồi để xây dựng các khu đô thị, điểm công nghiệp hiện đại và kết cấu hạ tầng cơ sở
* Địa hình, địa mạo, thổ nhưỡng:
Nằm trong vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng địa hình tương đối bằng phẳng,
Trang 37hướng nghiêng theo chiều Tây Bắc – Đông Nam Cao độ trung bình từ 6 – 6,5m; khu vực có địa hình cao nhất là 8m – 11m nằm ở phía Bắc ven sông Hồng, khu vực có địa hình thấp nhất là những ô trũng, hồ, đầm và vùng phía nam của huyện
Đây là khu vực có nền địa chất khá ổn định Tuy nhiên, đất đai phần lớn là đất phù xa mới nên cường độ chịu tải của đất kém, khi đầu tư xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồi hỏi phải đầu tư xử lý nền móng
2.1.1.2 Tình hình phát triển kinh tế, xã hội
Kinh tế của huyện có tốc độ tăng trưởng nhanh trong những năm qua, phát triển theo hướng bền vững, ưu tiên phát triển các lĩnh vực có sử dụng công nghệ cao
và ngành nghề sử dụng nhiều lao động, hiệu quả kinh tế lớn, ít làm ảnh hưởng đến môi trường
Năm 2011, được sự quan tâm của Đảng ủy, Hội đồng nhân dân, UBND thành phố Hà Nội cùng với sự nỗ lực, phối kết hợp của các ban ngành đoàn thể, huyện đã thực hiện thắng lợi những mục tiêu, chương trình về phát triển kinh tế - xã hội đề
ra Kết quả đạt được như sau:
Bảng 2.1: Giá trị sản xuất các ngành kinh tế của huyện Từ Liêm năm 2011
Năm 2011 cơ cấu kinh tế của Huyện tiếp tục chuyển dịch đúng hướng, đạt tốc độ tăng trưởng cao Tổng giá trị sản xuất năm 2011 của các ngành đạt được là 10.384 tỷ đồng vượt so với chỉ tiêu Nghị quyết Hội đồng nhân dân huyện đề ra trong năm là 5,2% Đồng thời tăng 20% so với năm 2010
Giá trị sản xuất của ngành nông nghiệp là 201 tỷ đồng Giá trị sản xuất của ngành công nghiệp - xây dựng là 5.594tỷ đồng, tăng 743 tỷ đồng so với năm 2010 Giá trị sản xuất của ngành thương mại - dịch vụ là 4.589 tỷ đồng, tăng 227 tỷ đồng
so với năm 2010
Trang 38Bảng 2.2: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế của huyện Từ Liêm qua các năm
Ngành công nghiệp - xây dựng:
Ngành công nghiệp - xây dựng luôn chiếm tỷ trọng lớn nhất trong cơ cấu các ngành kinh tế, đem lại nguồn thu lớn nhất cho địa phương Năm 2011, tỷ trọng của ngành công nghiệp chiếm 54,5% tổng giá trị sản xuất Sản phẩm phong phú, đa dạng, chất lượng ngày càng nâng cao Huyện đang đẩy mạnh xây dựng cụm Công nghiệp vừa và nhỏ Từ Liêm giai đoạn 2, đã hoàn thành 70% việc xây dựng nhà máy xử lý nước thải trong Cụm công nghiệp, tiến hành đầu tư xây dựng khu phụ trợ và giới thiệu sản phẩm Trên địa bàn huyện có hai làng nghề được Thành phố công nhận danh hiệu làng nghề truyền thống là: làng bún Phú Đô -Mễ Trì và làng may Cổ Nhuế
Ngành thương mại - dịch vụ:
Huyện đã chỉ đạo tập trung đầu tư cơ sở hạ tầng, sắp xếp ổn định các mạng lưới chợ hợp lý, hiệu quả Triển khai thí điểm việc đầu tư xây dựng chợ theo
Trang 39phương thức xã hội hóa gắn với giải quyết việc làm cho nông dân như: chợ Cầu Diễn, chợ Canh, chợ Đầu mối Minh Khai, chợ Nhổn, đầu tư xây dựng chợ nông sản Thượng Cát (xã Thượng Cát) trên khuôn viên mới, xây dựng các siêu thị, các trung tâm thương mại… Các xã tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân mua bán, thu hút được nhiều loại hình kinh doanh, dịch vụ của doanh nghiệp, hộ kinh doanh đa dạng góp phần đẩy nhanh lưu chuyển hàng hóa, không những tạo được nhiều việc làm cho người lao động mà còn làm cho giá trị sản xuất ngành dịch vụ, thương mại tăng không ngừng qua các năm Chỉ tính riêng năm 2011, tỷ trọng của ngành Thương mại - dịch vụ chiếm 44% tổng giá trị sản xuất Hoạt động xuất khẩu được đẩy mạnh, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa ước đạt 13 triệu USD, tăng hơn hai lần
so với năm 2010, với các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu là dệt may, đồ gia dụng, đồ
gỗ mỹ nghệ…Các chương trình xúc tiến thương mại, việc thực hiện chủ trương
“Người Việt Nam dùng hàng Việt Nam” được thực hiện tích cực, đạt kết quả tốt Công tác kiểm tra, kiểm soát thị trường và công tác chống buôn lậu, sản xuất hàng giả, gian lận thương mại được tăng cường, thị trường đảm bảo ổn định Nhìn
chung, tỷ trọng này vẫn còn khá khiêm tốn so với đà phát triển của Huyện
2.1.2 Tình hình quản lý, sử dụng đất của huyện Từ Liêm
Trước khi có Luật đất đai năm 1993, việc quản lý đất đai chưa chặt chẽ tình trạng tranh chấp, lấn chiếm đất diễn ra trên nhiều dạng khác nhau nhưng không có
cơ sở giải quyết, đất do nhiều ngành nhiều cấp quản lý Nguyên nhân chính của những tồn tại trên là do hệ thống quản lý đất đai từ cấp huyện cho tới xã không ổn định, đội ngũ cán bộ địa chính thiếu và yếu về năng lực chuyên môn, hơn nữa những chính sách về đất đai được ban hành đã không còn phù hợp với nền kinh tế thị trường nên công tác quản lý đất đai không chặt chẽ, việc theo dõi biến động đất đai không đầy đủ, không liên tục, thiếu các tài liệu cần thiết cho việc quản lý sử dụng đất
Từ năm 1993 đến nay, được sự chỉ đạo lãnh đạo của UBND huyện, Sở Địa chính (từ năm 2003 là Sở Tài nguyên và Môi trường) công tác quản lý đất đai của Huyện đã dần đi vào nề nếp và đạt được một số kết quả khả quan
Trang 40- Công tác đo đạc lập bản đồ địa chính: Bản đồ địa chính được thực hiện đo đạc theo lưới tọa độ Nhà nước
- Công tác giao đất, cho thuê đất: Đến năm 2010 đã giao và cho thuê là 2.035,86ha
- Đến nay Huyện đã hoàn thành việc thống kê đất năm 2011 theo quy định Trong 6 tháng đầu năm 2011, huyện đã cấp được 3.622 giấy chứng nhận, trong đó cấp mới được 1.396 giấy chứng nhận
Theo số liệu thống kê, kiểm kê đất đai của Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Từ Liêm, tổng diện tích đất tự nhiên của toàn Huyện năm 2011 là 7.562,79ha, trong đó diện tích đất đang sử dụng là 7.513,28ha, chiếm 99,35% tổng diện tích tự nhiên Diện tích đất chưa sử dụng hiện chỉ còn 49,51ha, chiếm 0,65% tổng diện tích đất tự nhiên của huyện
Bảng 2.3: Diện tích và cơ cấu các loại đất của huyện Từ Liêm năm 2011
* Tình hình sử dụng đất nông nghiệp của huyện Từ Liêm
Là một huyện nằm trong khu vực đồng bằng sông Hồng với địa hình bằng phẳng, huyện Từ Liêm có diện tích đất nông nghiệp là 2.779,93ha, chiếm 36,76%tổng diện tích đất tự nhiên toàn huyện Trong đó:
Đất sản xuất nông nghiệp có diện tích là 2.681,75ha, chiếm 96,47% diện tích đất nông nghiệp Diện tích này được sử dụng để trồng lúa, rau màu, các cây ăn quả đặc sản như Cam canh, bưởi diễn
Đất nuôi trồng thủy sản có diện tích là 66,07ha, chiếm 2,38% diện tích đất