30 Hình 3.3: Cấu hình buồng cộng hưởng laser Nd:YVO4 được bơm bằng laser bán dẫn, khóa mode thụ động sử dụng SESAM ..... có laser, quang phổ laser đã có được những thành tựu vĩ đại trong
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
-
LÊ THỊ KIM CƯƠNG
NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM QUÁ TRÌNH PHÁT XUNG LASER NGẮN BẰNG KHÓA-MODE THỤ ĐỘNG CỦA LASER Nd:YVO 4
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
HÀ NỘI – 2011
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
-
LÊ THỊ KIM CƯƠNG
NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM QUÁ TRÌNH PHÁT XUNG LASER NGẮN BẰNG KHÓA-MODE THỤ ĐỘNG CỦA LASER Nd:YVO 4
Chuyên ngành: Quang học
Mã số: 60 44 11
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
GS.TS NGUYỄN ĐẠI HƯNG
HÀ NỘI – 2011
Trang 3MỤC LỤC Danh mục chữ viết tắt và tiếng Anh
Danh mục các đồ thị, hình vẽ và bảng biểu
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: Tổng quan về laser rắn Nd:YVO 4 được bơm bằng laser bán dẫn 1.1 Tổng quan về laser rắn 5
1.1.1 Những thuộc tính của vật liệu làm laser rắn 6
1.1.2 Môi trường laser Nd:YVO4 7
1.2 Tổng quan về nguồn bơm quang học sử dụng laser bán dẫn 10
1.2.1 Cấu tạo laser bán dẫn 12
1.2.2 Lớp chuyển tiếp p – n 13
1.2.3 Sự hấp thụ, bức xạ tự phát và bức xạ cưỡng bức 14
1.2.4 Điều kiện nghịch đảo độ tích lũy 15
1.2.5 Điều kiện ngưỡng 16
Kết luận chương 1 Chương 2: Kỹ thuật phát xung ngắn bằng khóa mode thụ động sử dụng gương bán dẫn hấp thụ bão hòa 2.1 Điều kiện và nguyên lý khóa pha các mode dọc trong BCH 20
2.1.1 Mode dao động 20
2.1.2 Điều kiện khóa mode buồng cộng hưởng 21
2.1.3 Nguyên tắc chung của phương pháp khóa mode trong buồng cộng hưởng 21
Trang 42.2 Phương pháp khóa mode thụ động sử dụng gương bán dẫn hấp thụ bão
hòa (SESAM) 23
2.2.1 Cấu trúc điển hình của SESAM 23
2.2.2 Các chế độ hoạt động của laser với SESAM 25
2.3 Các thông số cơ bản của SESAM dùng trong hệ laser Nd:YVO4 27
Kết luận chương 2 Chương 3: Thực nghiệm quá trình phát xung laser ngắn bằng khóa mode thụ động của laser Nd:YVO 4 3.1 Khảo sát các đặc trưng của laser bơm 29
3.1.1 Đặc trưng công suất 29
3.1.2 Tính chất phân cực 30
3.2 Cấu tạo hệ laser Nd:YVO4 khóa mode bị động sử dụng gương bán dẫn hấp thụ bão hòa 31
3.2.1 Yêu cầu kỹ thuật của hệ laser Nd:YVO4 31
3.2.2.Cấu tạo hệ laser Nd:YVO4 được bơm bằng laser bán dẫn, phát xung ở chế độ khóa mode thụ động sử dụng SESAM 31
3.3 Sơ đồ hệ đo dùng khảo sát các đặc trưng của laser Nd:YVO4 phát xung ở chế độ khóa mode thụ động 34
3.4 Các kết quả khảo sát các đặc trưng của laser Nd:YVO4 khóa mode thụ động 36
3.4.1 Các chế độ phát xung của laser Nd:YVO4 36
3.4.2 Độ rộng phổ của laser Nd:YVO4 38
3.4.3 Tính chất phân kì và phân cực của chùm tia laser Nd:YVO4 44
Kết luận chương 3
Trang 5KẾT LUẬN 47 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 6Danh mục chữ viết tắt và tiếng Anh
Ký hiệu Nguyên bản tiếng Anh và tiếng Việt
BCH Buồng cộng hưởng
SESAM Semiconductor Saturable Absorber Mirror
(Gương bán dẫn hấp thụ bão hòa) TEM Transverse Electromagnetic Modes (Mode điện từ trường ngang) YAG Yttrium Aluminium Garnet
YVO4 Yttrium Orthovanadate
Trang 7Danh mục các đồ thị và hình vẽ
Hình 1.1: Các mức năng lượng Nd3+ tham gia vào quá trình laser 8
Hình 1.2: Phổ hấp thụ của Nd:YVO4 với các nồng độ tạp chất khác nhau 8
Hình 1.3: Phổ phát xạ huỳnh quang của Nd:YVO4 nồng độ 1,1% 10
Hình 1.4: Phổ bức xạ của laser bán dẫn 13
Hình 1.5: Điện tử ở vùng dẫn và lỗ trống ở vùng hóa trị ở nhiệt độ 0K 12
Hình 1.6: Đồ thị hàm phân bố Fermi-Dirac 14
Hình 1.7: Sự hấp thụ, bức xạ tự phát và bức xạ cưỡng bức 14
Hình 2.1: Công tua khuếch đại laser và độ rộng vạch của các mode dọc 21
Hình 2.2: Sơ đồ minh họa ảnh hưởng của sự tương hợp pha giữa các mode với cường độ laser phát ra 22
Hình 2.3: Cấu trúc của một SESAM điển hình dùng để phát tại bước sóng 1064 nm 23
Hình 2.4: Phổ phản xạ của gương Bragg với các lớp AlAs/GaAs cách nhau ¼ bước sóng với số lượng các cặp lớp vật liệu khác nhau, ở bước sóng thiết kế 1064 nm 24
Hình 2.5: Các chế độ hoạt động với gương SESAM 26
Hình 3.1: Đặc trưng công suất của laser bán dẫn ATC-C2000 30
Hình 3.2: Sơ đồ bố trí thí nghiệm xác định sự phân cực của laser bơm 30
Hình 3.3: Cấu hình buồng cộng hưởng laser Nd:YVO4 được bơm bằng laser bán dẫn, khóa mode thụ động sử dụng SESAM 32
Hình 3.4: Sơ đồ bố trí hệ khảo sát các đặc tính của laser Nd:YVO4 khóa mode thụ động sử dụng gương bán dẫn hấp thụ bão hòa 35
Trang 8Hình 3.5: Chuỗi xung laser thu được ở chế độ hoạt động Q – Switch khóa
mode khi công suất bơm đạt 900 mW 37
Hình 3.6: Đặc trưng công suất của laser khóa mode 38
Hình 3.7: Chuỗi xung laser thu được ở chế độ hoạt động khóa mode liên tục
39 Hình 3.8: Tần số lặp lại xung ở chế độ khóa mode liên tục 40
Hình 3.9: Vết tự tương quan của xung laser khóa mode thụ động 41
Hình 3.10: Sự phụ thuộc năng lượng của xung laser khóa mode vào công suất
bơm của laser bán dẫn 43
Hình 3.11: Sự phụ thuộc công suất đỉnh xung laser khóa mode vào công suất
bơm của laser bán dẫn 43
Hình 3.12: Độ rộng phổ của laser khóa mode 44
Danh mục các bảng biểu
Bảng 1.1: Các tham số vật liệu Nd:YVO4 9
Bảng 2.1: Các thông số của gương SESAM 27
Bảng 3.1: Quan hệ giữa độ rộng tương quan và độ rộng xung vào với dạng
xung Gauss và Sech2 41
Bảng 3.2 Giá trị độ rộng xung, độ rộng phổ của một số vật liệu 42
Trang 9có laser, quang phổ laser đã có được những thành tựu vĩ đại trong ngành vật
lý nguyên tử, vật lý phân tử, vật lý plasma, vật lý chất rắn, phân tích hóa học
và cho tới cả những ngành ít liên quan như nghiên cứu môi trường, y học hay công nghệ sinh học… Cùng với việc ngày càng mở rộng phạm vi ứng dụng của laser là những tiến bộ trong việc tạo ra các laser xung cực ngắn Bằng việc tạo ra các xung quang học cực ngắn cỡ femto giây (10-15 s) và Atto giây (10-18 s), chúng ta có thể nắm bắt được sự chuyển động của các electron trong nguyên tử, có thể đo được khoảng thời gian của từng bước phản ứng của quá trình quang hợp, thậm chí có thể nhờ các xung laser để điều khiển các phản ứng hóa học một cách có định hướng để tổng hợp các hợp chất mà bằng các phương pháp khác rất khó đạt được Trong điện tử, viễn thông, các xung laser cực ngắn cho phép tạo ra các cảm biến siêu nhạy và thực hiện lấy mẫu quang điện trong các mạch điện tử có tốc độ cao…
Trên thế giới, vào những năm 1970, cấu hình laser mới đã cho phép phát những xung cỡ pi-cô giây với công suất lên đến 1010 W [9], [26] giúp quan sát được nhiều hiệu ứng phi tuyến Đến cuối những năm 90 của thế kỷ
XX, xung laser cực ngắn với độ rộng xung cỡ 10 fem-to giây đã ra đời và đến ngày nay chúng vào khoảng hàng trăm atto giây [7], [9]
Các laser phát xung ngắn, trong đó laser Neodymium (Nd) chiếm một phần lớn, là nguồn kích thích quang học quan trọng đã và đang được sử dụng rộng rãi trong các phòng thí nghiệm quang học quang phổ Trước đây, các laser Nd chủ yếu được bơm bằng đèn flash với hiệu suất chuyển đổi năng
Trang 102
Mở đầu
lượng thấp khoảng 1% - 2% do phổ phát xạ của đèn flash rộng, trong khi phổ hấp thụ của Nd hẹp [20], [13] Ngày nay, nhờ sự phát triển của công nghệ bán dẫn, công suất phát của laser bán dẫn đạt đến hàng trăm oat với phổ phát xạ hẹp phù hợp với phổ hấp thụ của Nd Do vậy, việc sử dụng laser bán dẫn để bơm cho laser rắn Nd được phát triển mạnh mẽ Với các cấu hình buồng cộng hưởng (BCH) khác nhau, ta thu được hiệu suất chuyển đổi năng lượng khi bơm laser rắn bằng laser bán dẫn lên đến 10% - 80% [24] Để phát xung laser ngắn, chúng ta có thể sử dụng các phương pháp kỹ thuật như: biến điệu độ phẩm chất, chiết tách năng lượng BCH và khóa mode BCH,… Gần đây (năm 2000), một kỹ thuật rất hiệu quả để phát xung ngắn từ laser rắn bơm bằng laser bán dẫn là sử dụng gương bán dẫn hấp thụ bão hòa (SESAM)
Ở Việt Nam, nhu cầu nghiên cứu và ứng dụng laser rắn phát xung ngắn tại phòng thí nghiệm quang học, quang phổ của các trường đại học, viện nghiên cứu về vật lý, viện khoa học vật liệu, viện kỹ thuật quân sự, và các bệnh viện,… là rất lớn Tuy nhiên, những hệ laser nhập từ nước ngoài với giá thành khá cao [7] Xuất phát từ tình hình thực tiễn đó, viện Vật lý – viện KH
& CN Việt Nam đã nghiên cứu và chế tạo thành công hệ laser rắn Nd:YVO4 được bơm liên tục bằng laser bán dẫn, phát xung ngắn với kỹ thuật khóa mode thụ động sử dụng gương bán dẫn hấp thụ bão hòa (SESAM) Cho đến nay, kỹ thuật này tại Việt Nam là khá mới mẻ, do đó việc làm chủ công nghệ này để tạo tiền đề cho sự phát triển các phương pháp quang phổ hiện đại là cần thiết Chính vì lý do đó nên luận văn này được thực hiện có nội dung sau:
“Nghiên cứu thực nghiệm quá trình phát xung laser ngắn bằng khóa-mode thụ động của laser Nd:YVO 4 ”
Mục đích của luận văn: Nghiên cứu ưu thế của laser rắn Nd bơm bằng
laser bán dẫn Nghiên cứu kỹ thuật phát xung laser khóa mode thụ động sử
Trang 11Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu lý thuyết kết hợp thực nghiệm
Trên cơ sở đó nội dung luận văn được chia làm ba chương như sau:
Chương 1: Tổng quan về môi trường laser rắn Nd:YVO 4 được bơm bằng laser bán dẫn
Trong chương này, chúng tôi trình bày những tính chất vật lý, hóa học của môi trường hoạt chất Nd:YVO4 Bên cạnh đó sơ lược về nguyên lý của nguồn bơm – laser bán dẫn
Chương 2: Kỹ thuật phát xung ngắn bằng khóa mode thụ động sử dụng gương bán dẫn hấp thụ bão hòa
Điều kiện khóa mode, phương pháp khóa mode sử dụng SESAM là nội dung chính của chương này
Chương 3: Thực nghiệm quá trình phát xung laser ngắn bằng khóa mode thụ động của laser Nd:YVO 4
Chương này trình bày các kết quả nghiên cứu thực nghiệm trên hệ laser rắn Nd:YVO4 khóa mode thụ động sử dụng gương bán dẫn hấp thụ bão hòa, được bơm liên tục bằng laser bán dẫn Bao gồm các chế độ phát xung của hệ laser khóa mode và tính chất thời gian, không gian của chùm tia
Luận văn này được thực hiện dưới sự hướng dẫn tận tình của GS TS Nguyễn Đại Hưng, cùng các anh chị tại phòng Quang tử, Trung tâm Điện tử
Trang 124
Mở đầu
học lượng tử, Viện Vật lý, Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam Tuy nhiên, do còn những hạn chế về sự hiểu biết cũng như những sơ suất trong quá trình thực hiện, nên luận văn không tránh khỏi những sai sót Kính mong quý thầy cô và anh chị góp ý để luận văn được hoàn thiện hơn
Trang 135
Chương 1 TỔNG QUAN VỀ MÔI TRƯỜNG LASER RẮN Nd:YVO 4 ĐƯỢC BƠM
BẰNG LASER BÁN DẪN 1.1 Tổng quan về laser rắn
Laser (Light amplification by stimulated emission of radiation) là một nguồn sáng trong đó bức xạ cưỡng bức được khuếch đại và phát ra với sự định hướng cao
Đặc tính của laser đó là ánh sáng kết hợp, có tính định hướng cao trong không gian, độ đơn sắc rất lớn, cường độ tập trung mạnh vào một vùng phổ rất hẹp của bức xạ Với những đặc tính như vậy nên ngay từ khi mới ra đời, laser đã được dùng làm nguồn sáng trong quang phổ và dần dần thay thế cho các nguồn sáng truyền thống Kỹ thuật laser ngày càng phát triển và hiện nay laser có thể hoạt động ở nhiều chế độ khác nhau (chế độ phát liên tục, chế độ phát xung từ micro giây đến xung cực ngắn femto giây…), bước sóng phát ra phủ gần toàn bộ thang sóng quang học (từ hồng ngoại, khả kiến đến tử ngoại)
và còn có thể điều hưởng được bước sóng trong một vùng rộng
Laser có thể được phân loại theo nhiều cách Nếu dựa vào môi trường khuếch đại thì laser có thể được phân thành bốn loại cơ bản: laser khí, laser rắn, laser màu và laser bán dẫn
Lase rắn là loại laser cổ nhất Laser rắn đầu tiên do Maiman lắp đặt năm 1960 có môi trường laser là một tinh thể Rubi nhân tạo (Aluymin Al2O3 chứa 0.1% đến 1% ion Cr3+
), phát liên tục, được bơm quang học bằng các đèn xung chớp sáng xenon bao quanh thanh Rubi
Trước đây, các laser rắn được bán trên thị trường phát xạ các bước sóng
cố định Ngày nay, với những thành tựu của khoa học vật liệu, người ta đã
Trang 141.1.1 Những thuộc tính của vật liệu làm laser rắn
Vật liệu để phát laser phải có vạch huỳnh quang sắc nét (sharp fluorescent lines), dải hấp thụ mạnh, và hiệu suất lượng tử cao đối với dịch chuyển huỳnh quang ta cần Những đặc tính này thường được tìm thấy ở laser rắn pha tạp một lượng nhỏ các nguyên tố thuộc các kim loại chuyển tiếp, các nguyên tố đất hiếm và họ actinide
Vật liệu nền của laser rắn có thể là tinh thể rắn hoặc thủy tinh Vật liệu nền phải có các thuộc tính quang học, động học và nhiệt học tốt để chịu được các điều kiện phát khắc nghiệt của laser
Điều kiện tương quan giữa tinh thể nền và ion kích hoạt gồm sự chênh lệch kích thước, hóa trị và đặc tính phổ Trong trường hợp lý tưởng, kích thước và hóa trị của ion kích hoạt nên bằng với ion nền mà nó thay thế Vì thế một tinh thể phù hợp để làm vật liệu nền cho laser phải xem xét những điều kiện sau [25]:
(a) Tinh thể phải sở hữu thuộc tính quang học tốt Vì sự thay đổi chiết suất khúc xạ sẽ dẫn đến sự truyền không đồng nhất của ánh sáng khi đi qua tinh thể gây ra chất lượng chùm kém
(b) Tinh thể phải sở hữu thuộc tính động học và nhiệt học tốt, điều này cho phép công suất phát trung bình cao Các tham số quan trọng về nhiệt như: suất dẫn điện, độ cứng, độ bền chống nứt gãy
(c) Mạng tinh thể phải có khả năng tiếp nhận các ion pha tạp và có trường
Trang 157
tinh thể địa phương với tính đối xứng và chiều dài cần để gây ra những thuộc tính về phổ Thông thường các ion pha tạp vào chất nền nên có thời gian sống bức xạ với tiết diện phát xạ khoảng 10-20
cm2 (d) Nó phải có thể có cùng tỷ lệ với tinh thể tạp chất pha tạp, trong khi vẫn duy trì hiệu suất và chất lượng quang cao
Ion đất hiếm là một trong những thành phần tự nhiên dùng làm ion kích hoạt trong vật liệu laser rắn vì dịch chuyển huỳnh quang bao phủ hầu như toàn bộ từ vùng khả kiến đến hồng ngoại gần trên thang sóng điện từ, ngoài ra các vạch phát xạ tương đối hẹp và sự khác nhau về cấu trúc các mức năng lượng là không đáng kể giữa các chất nền khác nhau
1.1.2 Môi trường laser Nd:YVO 4
Nd3+ là ion đất hiếm hóa trị ba đầu tiên được sử dụng trong laser và nó đóng vai trò quan trọng nhất trong nhóm này Bức xạ cưỡng bức thu được từ
sự kết hợp của ion này với ít nhất 100 vật liệu nền khác nhau, kết quả là công suất thu được từ laser Neodyminum cao hơn bất kỳ vật liệu bốn mức năng lượng nào khác
Trang 168
Các laser Neodyminum hoạt động trên nguyên lý laser bốn mức, chuyển dịch quang học cho bức xạ laser là chuyển dịch giữa các mức năng lượng của ion Nd3+ Tùy theo việc pha tạp vào các nền quang học khác nhau mà các mức năng lượng tham gia quá trình laser bị suy biến
Bảng 1.1: Các dịch chuyển quang học và huỳnh quang của ion Nd 3+
60
4
F3/2 – 4I13/2 1,3184
1,3331 1,3351 1,3381 1,3533 1,3572
I11/2 Vì mức laser dưới bị suy biến nên ta có các dịch chuyển từ mức laser trên xuống mức laser dưới cho ta một loạt các bức xạ Ta
Trang 179
thấy dịch chuyển từ mức 4
F3/2 – 4F11/2 chiếm 60% tỷ lệ cường độ (theo số liệu bảng 1.1), do đó laser Nd:YVO4 chủ yếu được chế tạo để phát bức xạ laser ở bước sóng trung tâm 1064 nm
Hình 1.2 biểu diễn phổ hấp thụ của Nd:YVO4 với các nồng độ pha tạp khác nhau Ta thấy rằng nó có ba vùng hấp thụ chính là 600 nm, 750 nm và
800 nm Mà phổ phát xạ của laser bán dẫn lại có một peak ở vùng bước sóng
808 nm Vì vậy, nó rất thích hợp để bơm quang học bằng laser bán dẫn ở bước sóng 808 nm
Bảng 1.2 trình bày những tham số vật liệu quang trọng của Nd:YVO4 Hai đặc tính nổi bật của vật liệu này như đã được đề cập là tiết diện phát xạ
Hình 1.2: Phổ hấp thụ của Nd:YVO 4 với các nồng độ pha tạp khác nhau [32]
Trang 18Bảng 1.2: Các tham số vật liệu Nd:YVO 4 [24, tr 71]
Tiết diện laser 15.6×10-19cm2
Thời gian sống huỳnh quang tương đối ngắn, cụ thể là thời gian sống τf
ở trạng thái kích thích ngắn hơn Nd:YAG 2.7 lần [25] Thời gian sống huỳnh quang cũng là một thước đo khả năng lưu trữ năng lượng trong chế độ Q-switched Dự trữ năng lượng lớn đòi hỏi thời gian sống huỳnh quang dài Do vậy so với môi trường Nd:YAG, môi trường Nd:YVO4 có thể phát xung ngắn hơn, ngưỡng phát thấp hơn và hệ số khuếch đại laser cao hơn [25]
Phổ phát xạ huỳnh quang của ion Nd3+
trong nền YVO4 thu được ở nhiệt độ 3000K với cả hai phân cực p và s biểu diễn trên hình 1.3 Từ phổ phát
xạ huỳnh quang của Nd:YVO4 ta thấy rằng, phát xạ huỳnh quang mạnh nhất thu được ở bước sóng 1064 nm Vì vậy, hầu hết các laser Nd:YVO4 pha tạp ở các nồng độ khác nhau được chế tạo để hoạt động ở vùng bước sóng này
Trang 1911
nồng độ 1.1% trong trường hợp phân cực p
nồng độ 1.1% trong trường hợp phân cực s
Hình 1.3: Phổ phát xạ huỳnh quang của Nd:YVO 4 nồng độ 1.1% [32]
1.2 Tổng quan về nguồn bơm quang học sử dụng laser bán dẫn
Các laser rắn được kích thích bằng bơm quang học Hiệu quả của bơm quang học phụ thuộc vào hai yếu tố:
- Thứ nhất, bức xạ bơm phải được hấp thụ mạnh bởi các tâm hoạt chất và đồng thời không bị chất nền hấp thụ
- Thứ hai, hiệu suất lượng tử của bơm phải cao và gần như tất cả các tâm hoạt chất sau khi được đưa lên mức kích thích nhờ bơm phải chuyển về mức laser trên
Để nâng cao hiệu suất bơm quang học người ta có thể dùng các biện pháp sau:
- Chọn hoạt chất có mức kích thích là một băng rộng và đảm bảo sự trùng khớp giữa các tần số dịch chuyển trong kênh kích thích với cực đại trong phổ bức xạ bơm
- Sử dụng phương pháp nhạy hóa: bên cạnh những ion cơ bản, các loại ion khác (ion nhạy hóa) được đưa vào chất nền Những ion
Trang 20Trước khi có laser, các nguồn sáng mà nhà vật lý sử dụng chủ yếu là các đèn phóng điện bức xạ theo mọi phương của không gian, diện tích của mặt bức xạ vào khoảng cm2 Hoạt động của các nguồn này khi dùng để kích thích trạng thái phải chú ý đến một thực tế là muốn có độ sáng lớn, đèn cần phóng điện mạnh khiến cho phổ bị mở rộng và như vậy làm một phần lớn photon bức xạ không thể tham gia vào quá trình kích thích Do những trở ngại này, giá trị lớn nhất đạt được của một đèn cổ điển đối với thông lượng photon hữu ích là vào khoảng 1016
photon trong một giây và trên một cm2 (tương ứng với công suất hữu ích P/S vào khoảng 10 mW/cm2
) [5] Bây giờ sử dụng một laser làm nguồn bơm quang học Ngoài trường hợp đặc biệt thì công suất do laser bức xạ sẽ vào khoảng công suất do một đèn phóng điện bức xạ, tuy nhiên do những đặc trưng hình học của chùm (tính chất định hướng và tính chất hội tụ) và chất lượng phổ cho phép thu được đối với thông lượng của photon hữu ích tối thiểu cũng là 103 Ngoài ra, các laser có thể điều chỉnh bước sóng từ trong một vùng phổ rộng từ tử ngoại, khả kiến đến hồng ngoại (hình 1.4) Như vậy việc sử dụng laser mở rộng đáng kể khả năng kích thích quang học
Tâm hoạt chất Nd3+
có dải hấp thụ mạnh trong vùng đỏ và hồng ngoại, trong đó có một cực đại hấp thụ ở bước sóng của bức xạ laser diode Vì vậy laser bán dẫn rất thích hợp làm nguồn bơm quang học cho các laser rắn Nd3+ nhờ đó hiệu suất bơm được nâng lên đáng kể so với phương pháp bơm quang
Trang 2113
truyền thống đồng thời cấu hình laser được thu gọn đáng kể
1.2.1 Cấu tạo laser bán dẫn
Các laser bán dẫn được chế tạo phổ biến nhất theo cấu hình buồng cộng hưởng kiểu Fabry-Perot đặc biệt là cho các laser công suất cao Trong thực tế, hai gương laser (các mặt tách theo định hướng tinh thể) được tạo ra ở hai đầu của buồng cộng hưởng Các gương này được phủ bề mặt để kết hợp cả hệ số phản xạ cao và hệ số phản xạ thấp với mục đích tối ưu hóa chất lượng buồng cộng hưởng Các lớp phủ bề mặt gương này được xử lý để loại trừ khả năng hấp thụ Sự đảo mật độ tích lũy của bức xạ cưỡng bức được tạo ra bởi các hạt tải bơm chạy qua chuyển tiếp p-n (thông thường đảo mật độ tích lũy xảy ra ở nồng độ trên 1018
cm-3) Khi mật độ hạt tải vượt qua giá trị ngưỡng, laser bán dẫn bắt đầu phát bức xạ laser Giá trị dòng ngưỡng xác định điểm cân bằng giữa mất mát và khuếch đại
Trang 2214
1.2.2 Lớp chuyển tiếp p – n
Một tinh thể bán dẫn không chứa tạp chất hoặc không có sai hỏng mạng được gọi là bán dẫn riêng Cấu trúc năng lượng của một chất bán dẫn riêng được minh họa trên hình 1.5, trong đó vùng hóa trị và vùng dẫn được phân cách bởi độ rộng vùng cấm Eg, độ rộng này thay đổi với những vật liệu khác nhau
Ở nhiệt độ trên không độ tuyệt đối, sự kích thích nhiệt đẩy một số điện tử
từ vùng hóa trị lên vùng dẫn để lại những trạng thái trống trong vùng hóa trị Những điện tử được kích thích nhiệt này ở trong vùng dẫn và những lỗ trống trong vùng hóa trị được gọi là các hạt tải và làm cho vật liệu có tính dẫn điện Đối với một chất bán dẫn ở trạng thái cân bằng nhiệt, sự chiếm chỗ các mức năng lượng được mô tả bởi hàm phân bố Fermi- Dirac [10]
ở đây, k là hằng số Boltzmann và Ef là năng lượng Fermi hay mức Fermi
Để tạo ra nhiều hạt tải hơn, vật liệu được pha tạp với các nguyên tử tạp chất Tạp chất tạo ra nhiều các điện tử tự do gọi là tạp chất cho (donor), tạp chất tạo ra nhiều lỗ trống gọi là tạp chất nhận (acceptor) Tương ứng với
Hình 1.5: Điện tử ở vùng dẫn và lỗ trống ở vùng hóa trị ở nhiệt độ 0K
Điện tử Lỗ trống
Vùng hóa trị
Vùng dẫn
Năng lượng vùng cấm E g
(1.1)
Trang 231.4.2 Sự hấp thụ, bức xạ tự phát và bức xạ cưỡng bức
Hình 1.7: Sự hấp thụ, bức xạ tự phát và bức xạ cưỡng bức
Dưới tác dụng của bức xạ bên ngoài, điện tử nằm ở vùng hóa trị sẽ hấp thụ năng lượng và chuyển sang vùng dẫn khi năng lượng hấp thụ lớn hơn năng lượng của vùng cấm, lúc này trong vùng hóa trị sẽ xuất hiện lỗ trống tạo nên sự di chuyển mức Fermi
Sau một thời gian sống nhất định, điện tử ở vùng dẫn tái hợp với lỗ trống
ở vùng hóa trị và phát ra photon một cách ngẫu nhiên (có bước sóng, pha và
Trang 2416
hướng lan truyền khác nhau) - đó là bức xạ tự phát
Bức xạ cưỡng bức là quá trình mà ánh sáng chiếu tới gây ra sự phát xạ cưỡng bức của điện tử ở trạng thái khích thích Bức xạ phát ra có cùng bước sóng, pha và hướng lan truyền với ánh sáng chiếu tới, vì vậy nó có tính đơn sắc, kết hợp và định hướng cao Laser bán dẫn là linh kiện điện tử hoạt động trong điều kiện bức xạ cưỡng bức
1.4.3 Điều kiện nghịch đảo độ tích lũy
Khi chất bán dẫn được pha tạp thì ngoài các vùng năng lượng còn xuất hiện các mức năng lượng tạp chất nằm trong vùng cấm Mức tạp chất ở gần đáy vùng dẫn được gọi là mức donor còn mức tạp chất ở gần đỉnh vùng hóa trị gọi là mức acceptor Do đó, quá trình dịch chuyển của điện tử trong chất bán dẫn phân thành dịch chuyển giữa các vùng, dịch chuyển vùng và mức tạp chất và dịch chuyển giữa các mức tạp chất
- Dịch chuyển giữa các vùng
Để có nghịch đảo độ tích lũy cần tạo ra nồng độ không cân bằng của các điện tử và lỗ trống, nói cách khác các dịch chuyển điện tử từ vùng dẫn xuống vùng hóa trị phải lớn hơn các dịch chuyển từ vùng hóa trị lên vùng dẫn, nghĩa là quá trình bức xạ lớn hơn quá trình hấp thụ
Quá trình dịch chuyển từ vùng dẫn xuống vùng hóa trị phải tỷ lệ với xác suất có trạng thái năng lượng E2 ở vùng dẫn bị chiếm, xác suất có trạng thái năng lượng E1 ở vùng hóa trị để trống fc(E2)[1 - fv(E1)] , hệ số Einstein về bức
xạ cưỡng bức B21 và mật độ năng lượng bức xạ V nghĩa là tỷ lệ với đại lượng: B21cfc(E2)[1 - fv(E1)] Tương tự, quá trình dịch chuyển từ vùng hóa trị lên vùng dẫn sẽ tỷ lệ với đại lượng: B12Vfv(E1)[1 - fc(E2)]
Điều kiện nghịch đảo độ tích lũy đòi hỏi [2]:
Trang 25Với bán dẫn vùng cấm thẳng E2 - E1 = Δ (độ rộng vùng cấm) Điều kiện nghịch đảo độ tích lũy trở thành [2]:
Với bán dẫn vùng cấm nghiêng do có sự tham gia của phonon nên
Fc - Fv > Δ (1.5) Với là năng lượng của phonon
- Dịch chuyển giữa vùng và mức tạp chất
Do mức tạp chất thường ở gần các vùng nên luôn xảy ra sự tích thoát nhanh điện tử và lỗ trống giữa các mức và các vùng Vì vậy mà sự lấp đầy các mức tạp chất cũng sẽ được xác định bởi mức chuẩn Fermi của các hạt tải ở trong các vùng tương ứng Điều kiện nghịch đảo độ tích lũy có dạng đơn giản như sau
Fc - Fv > Δ - |Ei| (1.6)
ở đây Ei là năng lượng liên kết của hạt tải trên các mức tạp chất
1.4.4 Điều kiện ngưỡng
Như đã trình bày ở trên, các điều kiện nghịch đảo độ tích lũy chỉ là điều kiện cần nhưng chưa đủ Bức xạ cảm ứng tái hợp cần được khuếch đại trong buồng cộng hưởng laser để hệ số khuếch đại phải lớn hơn mất mát
Trang 261.4.4.2 Những mất mát trong buồng cộng hưởng
Nguyên nhân chính của mất mát trong buồng cộng hưởng là do sự phản
xạ một phần tại bề mặt của tinh thể Mất mát này quy định chất lượng của laser phát ra Với một buồng cộng hưởng có độ dài d thì hệ số mất mát do phản xạ là [10]:
1 2
1 2
ln 2
Những mất mát gây ra bởi sự mở rộng quang học có thể được tính toán bằng cách đưa vào hệ số giam giữ để mô tả phân bố năng lượng quang bên ngoài môi trường hoạt chất Khi ấy hệ số mất mát tổng cộng có thể được viết lại [10]:
Trang 281 Môi trường laser Nd:YVO4 thích hợp cho việc phát xung Q – switching
và khả năng phát xung khóa mode lên tới 1,3 ps [20] được sử dụng khá rộng rãi bởi có nhiều đặc điểm ưu việt như: hệ số dẫn nhiệt tốt, độ bền
cơ học cao, tiết diện phát xạ cưỡng bức rộng vì vậy ngưỡng phát của laser thấp và hệ số khuếch đại của laser cao
2 Laser bán dẫn đóng vai trò ngày càng quan trọng trong công nghệ chế tạo laser rắn, là nguồn bơm quang học cực kì hiệu quả Với phổ phát xạ của laser bán dẫn phù hợp với phổ hấp thụ của một số laser rắn đã thúc đẩy sự phát triển laser bán dẫn lên tầm cao mới
Trang 2921
Chương 2
KỸ THUẬT PHÁT XUNG NGẮN BẰNG MODE-LOCKING
Trong chương này chúng tôi sẽ trình bày nguyên tắc chung của phương pháp phát xung ngắn khóa mode, sau đó sẽ đề cập tới một số kỹ thuật để khóa pha các mode buồng cộng hưởng, tập trung chi tiết vào phương pháp khóa mode thụ động với gương bán dẫn hấp thụ bão hòa (SESAM – Semiconductor Saturable Absorber Mirror)
Mỗi mode có một không gian trường (biên độ và pha) xác định trong hướng vuông góc với buồng cộng hưởng và biểu hiện rõ trên mặt gương của buồng cộng hưởng Đặc trưng của cấu hình này được xác định nhờ các chỉ số của mode ngang m, n
Ngoài ra mỗi mode còn được đặc trưng bởi một độ dịch pha 2πq trên trục buồng cộng hưởng sau một lượt đi lại, với q là chỉ số mode dọc Một cách chặc chẽ thì mode không phải là sóng phẳng nên độ dịch pha được xét trên trục của buồng cộng hưởng
Mỗi một tổ hợp xác định của các chỉ số m, n phản ánh một cấu hình
Trang 3022
trường ngang xác định được ứng với một số lớn mode dọc (mode trục) với các giá trị khác nhau của q Mỗi một mode dọc này có một tần số ứng với một vạch hẹp trong phổ phát
Tập hợp các mode dọc ứng với một tổ hợp các chỉ số m, n cho trước gọi
là một mode ngang Một mode ngang đặc trưng nhờ các chỉ số ngang TEMmn Mỗi một mode ngang có một cấu trúc vết sáng xác định trên mặt gương buồng cộng hưởng
Hình 2.1: Công tua khuếch đại laser và độ rộng vạch của các mode dọc[12]
Trong buồng cộng hưởng, laser sẽ phát bức xạ cưỡng bức đồng thời ở nhiều tần số mà độ khuếch đại tương ứng của chúng G (νm) > 0 Trong khi đi lại trong buồng cộng hưởng chỉ các sóng thỏa mãn điều kiện sóng dừng, tức
νm = qc/2L (với q là một số nguyên, c là vận tốc ánh sáng, L là chiều dài buồng cộng hưởng) thì mới có thể dao động và phát ra ngoài được Mỗi một tần số nói trên gắn với một mode dọc của buồng cộng hưởng Thông thường
Trang 3123
bức xạ laser là đa mode Số mode càng nhiều nếu phổ bức xạ của hoạt chất laser rộng
2.2 Điều kiện khóa mode buồng cộng hưởng
Điều kiện để tiến hành phương pháp khóa mode:
- Hiệu số pha giữa hai tần số (mode dọc) liên tiếp là không đổi
- Môi trường khuếch đại phải có độ rộng phổ khuếch đại rộng, buồng cộng hưởng cho phép có nhiều tần số dao động nằm trong phổ khuếch đại của môi trường hoạt chất
2.3 Nguyên tắc chung của khóa mode trong buồng cộng hưởng
Để tạo ra những xung laser cực ngắn (cỡ femto giây) người ta sử dụng phương pháp khóa pha các mode của laser Trong chế độ đa mode, cường độ trường tạo thành trong buồng cộng hưởng là [1]:
Với N là số mode, i là pha thứ i
Pha của các mode là hoàn toàn ngẫu nhiên, không có mối liên hệ nào giữa pha của các mode dọc khác nhau Vì vậy, cường độ laser I tỷ lệ với E2
sẽ thăng giáng theo thời gian Tuy nhiên, khi có một sự liên hệ về pha nào đó được thiết lập giữa các mode dao động cưỡng bức có thể tạo ra sự chồng chập kết hợp của biên độ các mode và dẫn đến khả năng phát các xung cực ngắn từ
ps đến fs Vậy thay vì cường độ đầu ra không đổi hoặc ngẫu nhiên, tất cả các mode của laser sẽ giao thoa tăng cường một cách tuần hoàn với nhau, tạo ra
Trang 3224
một xung ánh sáng Một laser như thế được gọi là bị khóa mode hoặc khóa pha Để đơn giản ta giả sử bằng cách nào đó ở thời điểm t = 0 các mode có pha i = 0 và biên độ là A0 thì [1]:
Khi = 2π/N thì cường độ trường tổng hợp của các mode sẽ bằng không
Hình 2.2: Nguyên lý khóa pha các mode laser [1]
x
t = 0, = 0
NA0 a)
.
t T t
Trang 33Hình 2.3: Sơ đồ minh họa ảnh hưởng của sự tương hợp pha giữa các mode với cường
độ laser phát ra (a) đơn mode, (b) hai mode đồng pha, (c) 8 mode với phase ngẫu nhiên, (d) 8 mode đồng pha [12]
Trang 3426
Như vậy, khi các mode đồng pha, cường độ laser gồm một dãy các xung với chu kỳ 2L/c (đúng bằng thời gian ánh sáng đi lại trong buồng cộng hưởng)
Vậy khi phát ở chế độ đa mode, cường độ của tia laser ra không còn nhất thiết bất biến với thời gian Độ phân giải thời gian phụ thuộc mối quan hệ về pha tồn tại giữa các mode khác nhau, như được minh họa trên hình 2.3
2.4 Các phương pháp khóa mode thụ động sử dụng chất hấp thụ bão hòa
Để thực hiện sự đồng pha các mode có nhiều cách khác nhau, có thể chia thành ba phương pháp chính như sau: khóa mode chủ động, khóa mode thụ động và tự khóa mode Phương pháp chủ động thông thường liên quan đến việc dùng một tín hiệu bên ngoài để cảm ứng một sự điều biến của ánh sáng trong buồng cộng hưởng Phương pháp thụ động không dùng tín hiệu bên ngoài, mà lệ thuộc vào việc đặt một yếu tố nào đó vào trong buồng cộng hưởng để gây ra sự tự điều biến ánh sáng Phương pháp tự khóa mode có phần tương tự như phương pháp khóa mode thụ động là đưa vào buồng cộng hưởng một môi trường hấp thụ bão hòa, nhờ hiệu ứng quang học phi tuyến (hiệu ứng Kerr quang học) mà có thể tạo ra sự hội tụ ánh sáng truyền qua hoạt chất.Trong giới hạn luận văn, chúng tôi sẽ trình bày phương pháp khóa mode thụ động sử dụng chất hấp thụ bão hòa, đặc biệt là gương bán dẫn hấp thụ bão hòa (SESAM)
Theo H Hauss, phương trình động học tổng quát mô tả quá trình đi lại nhiều lần trong buồng cộng hưởng của xung laser được khóa mode bằng bộ hấp thụ bão hòa được đưa ra như sau [16,17]
Trang 3527
trong đó: g là độ khuếch đại của môi trường laser; l là mất mát trong buồng cộng hưởng; a(T, t) là xung laser trong buồng cộng hưởng; g là độ rộng của phổ khuếch đại laser; s(t) là mất mát của bộ hấp thụ bão hòa, TR là chu kỳ BCH laser
Như vậy, tùy thuộc vào các bộ hấp thụ bão hòa khác nhau mà ta có đóng góp của s(t) là khác nhau
2.4.1 Khóa mode sử dụng bộ hấp thụ bão hòa nhanh
Bộ hấp thụ bão hoà nhanh (SA nhanh) là trường hợp đơn giản nhất khi một thành phần trong buồng cộng hưởng có độ truyền qua/phản xạ phụ thuộc cường độ với hằng số thời gian ngắn hơn độ rộng xung và cường độ bão hòa
đủ thấp để SA có thể bị mất màu (bleached) bởi các xung năng lượng thấp Laser ban đầu dao động với pha không bị khóa mode và bao gồm các chớp sáng bùng lên liên tiếp ngẫu nhiên với cường độ khác nhau, như hình 2.3c Trong trường hợp này, hệ số khuếch đại công suất bão hoà trong một chu kỳ buồng cộng hưởng g0 xấp xỉ mất mát không bão hoà của buồng cộng hưởng trong một chu kỳ buồng cộng hưởng
Chớp sáng bùng lên với cường độ cao nhất sẽ chịu mất mát hấp thụ ít hơn và do đó phát triển nhanh hơn so với những chớp khác, làm giảm độ
khuếch đại trung bình xuống g 0 ' Do đó, sau một số chu kỳ buồng cộng
hưởng, trạng thái như hình 2.4 được thiết lập: một cửa sổ thời gian t1 - t2 của
độ khuếch đại khi xung truyền qua và cửa số mất mát nằm ngoài khoảng đó Trạng thái này dẫn đến việc các xung liên tục bị làm ngắn vì mất mát của hai đuôi xung lớn hơn so với đỉnh xung Thực tế, tỉ lệ làm ngắn xung (PSR),
Trang 3628
xác định hiệu suất làm ngắn xung trên mỗi lần truyền, sẽ tăng lên khi xung trở nên ngắn hơn [15]:
với p là mức làm ngắn xung một lần truyền qua, là hệ số tự điều chế biên
độ của bộ hấp thụ, và Ep là năng lượng xung
Buồng cộng hưởng đơn giản sử dụng bộ SA nhanh và quá trình hình thành xung laser được biểu diễn trên hình 2.5:
Với bộ hấp thụ bão hòa nhanh, mất mát trong quá trình xung laser trong quá trình truyền qua bộ hấp thụ bão hòa có dạng [15]:
Môi trường
khuếch đại
bộ hấp thụ bão hòa
thời gan
khuếch đại mất mát
Hình 2.5: BCH laser và quá trình phát xung mode-locking với bộ SA nhanh [15]
Mất mát Khuếch đại
t1 t2
Xung laser Thời gian
Hình 2.4: Quá trình phát xung ML với bộ hấp thụ bão hòa nhanh[15]
Trang 37Các bộ hấp thụ bão hòa nhanh thường sử dụng để phát các xung laser cực
ngắn (vùng fem-tô-giây), vì vậy, trong các trường hợp này phải tính đến cả
hiệu ứng tán sắc tốc độ nhóm và hiệu ứng thấu kính Kerr Khi đó, phương
trình tổng quát cho trường hợp mode-locking bằng hấp thụ bão hòa nhanh có
tính đến các hiệu ứng phi tuyến này có dạng [15]:
là tiết diện hiệu dụng của mode phát xạ laser
Khi đó, nghiệm của (2.9) ở trạng thái dừng có dạng [15]:
2
2 0
t a(t) = A sech
τ
Trang 3830
ở đây, - gọi là hệ số chirp xung (”
= 2D/d) với d là chiều dài môi trường hoạt chất
Tất nhiên, khi xung trở nên rất ngắn, số mode laser bị khóa pha và do đó
độ rộng phổ của nó tăng lên và tiến tới cỡ độ rộng phổ của hoạt chất laser Do
đó, nếu độ tán sắc có thể bỏ qua, trạng thái ổn định của độ dài xung có thể được thiết lập bởi sự cân bằng của hoạt động làm ngắn xung của bộ hấp thụ
và khuếch đại trong bộ khuếch đại
Lưu ý rằng, trong trường hợp hoạt chất laser có độ rộng phổ cho phép tạo ra xung femto giây, chúng ta không thể bỏ qua sự tán sắc và các hiệu ứng phi tuyến khác, trong trường hợp đó khóa mode được xét như là khóa mode
"soliton"
2.4.2 Khóa mode sử dụng bộ hấp thụ bão hoà chậm
Bộ hấp thụ bão hoà chậm (SA chậm) có hằng số thời gian hồi phục của
nó lớn hơn độ dài xung ở trạng thái ổn định và ngắn hơn chu kỳ buồng cộng hưởng
Cơ chế tạo mode-locking qua bộ hấp thụ bão hoà SA chậm, yêu cầu thời gian hồi phục khuếch đại laser có cỡ chu kỳ (buồng cộng hưởng), nhưng lớn hơn một chút so với thời gian hồi phục của bộ hấp thụ Thêm vào đó, thông lượng bão hòa của môi trường khuếch đại phải lớn hơn thông lượng bão hòa của SA và vẫn đủ thấp để nó có thể bị bão hòa bởi thông lượng laser trong buồng cộng hưởng Trạng thái ban đầu tương tự với trạng thái đã mô tả ở trên với SA nhanh: dao động mạnh ban đầu sẽ có mất mát thấp hơn một chút và sẽ tạo ra sự thay đổi mất mát hay khuếch đại của buồng cộng hưởng
Sau một số chu kỳ đi lại trong buồng cộng hưởng, thông lượng của xung
có thể đủ lớn để làm mất màu (bleach) bộ hấp thụ và sơ đồ khuếch đại/mất mát sẽ tương tự với trường hợp biểu diễn trong hình 2.6