1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

SKKN Bồi dưỡng học sinh giỏi văn lớp 9

38 2,4K 7

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 38
Dung lượng 198 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bằng cách nào để hướng dẫn học sinh viết được bài văn hay, có chất lượng cao trong một thời gian bồi dưỡng ngắn ngủi?. Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài: Trong đề tài này, tôi mạnh dạn trình

Trang 1

A PHẦN MỞ ĐẦU

I Lý do chọn đề tài:

Trong nghề dạy học, chẳng có gì có thể diễn tả hết niềm vui sướng và

tự hào của giáo viên khi thành quả lao động của mình đạt kết quả cao, nhất

là chất lượng mũi nhọn Chính vì thế mà mấy năm gần đây đã có một số thầy (cô) giáo chọn viết đề tài bồi dưỡng học sinh giỏi môn Ngữ văn Điều này đã cho thấy rằng, việc bồi dưỡng học sinh giỏi trong nhà trường đang thu hút sự quan tâm, chú ý của nhiều thầy cô giáo Nhưng đây là một công việc hết sức khó khăn, nặng nề đòi hỏi kinh nghiệm, nhiệt huyết và lòng tận tụy cao với nghề của nhà giáo Khi tham gia bồi dưỡng học sinh giỏi, điều trước tiên là

giáo viên luôn gặp phải những câu hỏi khó như: làm sao để khởi động, phát động ở học sinh niềm đam mê, thích thú khi học văn? Bằng cách nào để hướng dẫn học sinh viết được bài văn hay, có chất lượng cao trong một thời gian bồi dưỡng ngắn ngủi? Làm thế nào để các em phát huy hết năng lực của mình trên một thời gian làm bài trong mấy giờ ấn định ? Làm thế nàơ

để công lao vất vả của thầy và trò không bị uổng phí ? Làm sao để mang lại niềm vinh dự cho bản thân của các em và thành tích chung của nhà trường?

Là một giáo viên trực tiếp đứng lớp và đã từng tham gia bồi dưỡng

HS giỏi môn Ngữ văn nhiều năm nên tôi cảm nhận đó là những câu hỏi đang thách thức sự lao tâm khổ tứ, ý thức trách nhiệm cùng niềm vui, vinh dự lớn lao nhất trong sự nghiệp giáo dục của giáo viên nói chung và giáo viên Ngữ

văn nói riêng Kế thừa đề tài: Hướng dẫn học sinh viết văn nghị luận – một

số điểm cần lưu ý (của bản thân, đạt giải cấp tỉnh năm 2007), kết hợp với

những trải nghiệm thực tế (dạy học, bồi dưỡng học sinh, chấm thi học sinh giỏi, …), tôi mạnh dạn tiếp tục trao đổi thêm về kinh nghiệm của bản thân

Trang 2

đã tích lũy được trong nhiều năm với đề tài Bồi dưỡng học sinh giỏi môn

Ngữ văn 9

Vì đề tài được đề cập là hết sức phong phú và phức tạp, vì đối tượng tìm hiểu và phạm vi áp dụng chưa được rộng rãi nên kinh nghiệm này có lẽ vẫn còn thiếu sót Tuy vậy, tôi hi vọng và tin tưởng rằng kinh nghiệm này sẽ

có tác dụng thiết thực giúp cho nhiều GV thiết kế và bồi dưỡng học sinh viết được một bài văn như mong muốn

II Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài:

Trong đề tài này, tôi mạnh dạn trình bày một số nguyên tắc lí thuyết

cơ bản, thiết thực, nhằm đưa ra một quy trình hoàn chỉnh, trọn vẹn với đầy

đủ các khâu, các bước để cùng các đồng nghiệp trao đổi, lắng nghe, suy

ngẫm nhằm góp phần làm cho công tác bồi dưỡng HS giỏi môn Ngữ văn 9 đạt hiệu quả cao Đó là mục đích, nhiệm vụ thiết thực của đề tài mà bản thân tôi mong muốn đề cập

III Đối tượng nghiên cứu:

- Học sinh lớp 9 qua nhiều năm học ở trường THCS Ngô Quyền (trường dạy

từ năm 2000 đến năm 2010), xã Cưmta

- Học sinh trường THCS Hoàng Văn Thụ, xã Eah Mlay, huyện M’đrắk, tỉnh Đắk Lắk

- Học sinh tham gia kì thi học sinh giỏi huyện M’đrắk qua các năm

IV Giới hạn phạm vi nghiên cứu:

Để nghiên cứu và rút ra kinh nghiệm cho đề tài này, tôi chủ yếu tìm hiểu ở các em học sinh giỏi lớp 9, trường THCS Hoàng Văn Thụ, xã Eah Mlay, huyện M’đrắk, tỉnh Đắk Lắk, năm học 2010 - 2011

V Phương pháp nghiên cứu:

Trang 3

Với đề tài này, bản thân tôi sử dụng nhóm năm phương pháp chính như sau:

1 Phương pháp khảo sát và phân loại

I Cơ sở lý luận của công tác bồi dưỡng học sinh giỏi môn Ngữ văn 9 :

Nội dung, chương trình Ngữ văn bậc THCS được cấu tạo theo nguyên

tắc đồng tâm, trên cơ sở lấy 06 kiểu văn bản: tự sự, miêu tả, biểu cảm, lập

luận, thuyết minh, điều hành làm trục đồng quy Trong ý đồ thiết kế của

chương trình, kiến thức giữa ba phân môn Văn – Tiềng Việt – Tập làm văn luôn có mối quan hệ tích hợp chặt chẽ và có một sự tiếp nối, kế thừa, phát triển nâng cao rất lôgíc và hợp lí Chính vì thế nội dung kiến thức trong tâm của chương trình Ngữ văn lớp 9 tập trung vào ba kiểu văn bản: thuyết minh

– tự sự (học kì 1) - nghị luận (học kì 2)

Chúng ta biết rằng, mỗi môn học trong nhà trường việc học và dạy đều có đặc thù riêng của nó Môn Văn cũng không nằm ngoài ngoại lệ đó Phương pháp dạy và học văn đã được nói và bàn luận rất nhiều từ trước đến

Trang 4

nay Học như thế nào cho tốt? Dạy như thế nào cho thật sự có hiệu quả? Đó

là điều băn khoăn trăn trở của mỗi giáo viên dạy môn văn khi đứng lớp Một tiết dạy bình thường trên lớp cũng cần phải chuẩn bị kỹ lưỡng mới có thể dạy tốt được và mang lại hiệu quả được Nhưng một tiết dạy bồi dưỡng học sinh giỏi còn có yêu cầu cao hơn rất nhiều Khác với các đối tượng học sinh khác trong tiết dạy học đại trà, học sinh giỏi thường là học sinh có tố chất đặc biệt về khả năng cảm thụ, khả năng tư duy và nhất là khả năng diễn đạt Như vậy tiết dạy bồi dưỡng học sinh giỏi đòi hỏi giáo viên phải có sự chuẩn

bị và đầu tư nhiều hơn là tiết dạy bình thường trên lớp, thậm chí phải biết tìm tòi, đào sâu suy nghĩ và có quá trình tích lũy kinh nghiệm thì mới có thể đưa ra được nội dung và phương pháp bồi dưỡng mới mẻ, phù hợp, đạt hiệu quả Có như vậy giáo viên mới có thể thuyết phục học sinh, làm cho các em thực sự hứng thú, yên tâm và tin tưởng vào quá trình bồi dưỡng của thầy Đó

là mục tiêu của giáo viên bồi dưỡng phải đặt ra Muốn vậy, giáo viên tham gia bồi dưỡng phải có tinh thần khắc phục khó khăn, tinh thần trách nhiệm cao và luôn nhận thấy niềm vui, hạnh phúc thật sự trong công việc mới có thể biến một thời gian bồi dưỡng ít ỏi đạt được thành công nhất định

II Thực trạng của công tác tuyển chọn và bồi dưỡng học sinh giỏi môn Ngữ văn 9:

1 Thuận lợi và khó khăn:

a Thuận lợi:

Công tác bồi dưỡng học sinh giỏi được Ban giám hiệu nhà trường luôn quan tâm và động viên, khích lệ kịp thời, nhất là có cô hiệu trưởng là giáo viên văn lâu năm có nhiều kinh nghiệm, có tay nghề vững vàng

Bản thân là giáo viên đứng lớp nhiều năm nên có điều kiện tích lũy kinh nghiệm trong giảng dạy và trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi Ngoài ra, bản thân tôi thường xuyên chủ động dành nhiều thời gian và tâm

Trang 5

huyết để nghiên cứu, tìm tòi suy ngẫm về chuyên môn qua nhiều tài liệu đáng tin cậy, qua nhiều dạng đề thi học sinh giỏi các cấp của nhiều tỉnh thành khác nhau, qua trao đổi học học đồng nghiệp nhằm nâng cao tính hiệu quả của giờ lên lớp nói chung và giờ dạy bồi dưỡng học sinh giỏi nói riêng.

Giáo viên được ưu đãi lắp đặt In-tơ-nét nên có nhiều điều kiện thuận lợi trong việc tìm tòi, giao lưu, học hỏi kinh nghiệm qua nhiều Website tiêu biểu của nhiều thầy cô giáo trong cả nước

100 % học sinh có quê quán từ những vùng đất có truyền thống hiếu học và học giỏi, như Nghệ An và Hà Tĩnh

b Khó khăn:

* Về mối quan hệ giữa nhà trường và gia đình học sinh:

Sinh thời chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định rằng trong quá trình giáo dục nếu thiếu sự phối hợp của gia đình thì kết quả sẽ không hoàn toàn Trường THCS Hoàng Văn Thụ là một ngôi trường đóng trên địa bàn xã Eah Mlay – một xã vùng khó của huyện M’đrắk, dân cư thưa thớt, đi lại khó khăn, học sinh lại thuộc diện con gia đình kinh tế mới nên cuộc sống còn gặp nhiều khó khăn nên đã chi phối rất lớn đến việc học tập của các em Nhiều bậc phụ huynh mãi miết lao động để chống lại cái nghèo trên mảnh đất cằn M’đrắk mưa nhiều, nắng ít mà thiếu đi sự quan tâm, động viên, nhắc nhở con em học tập Việc học tập của con em họ hầu như chỉ phó thác cho giáo viên và nhà trường trong mấy tiếng đồng hồ ở trường

* Về tinh thần, thái độ học tập bộ môn Ngữ văn của học sinh:

Như chúng ta đều biết, với những đặc trưng vốn có, bộ môn Ngữ văn được coi là một trong những môn học có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong

tư tưởng và mục đích dạy - học ở nhà trường THCS Thế nhưng trong thời

gian gần đây học sinh (thậm chí cả các bậc phụ huynh) đang có xu hướng

xem nhẹ và quay lưng lại với môn Ngữ văn để chạy theo những môn học mà

Trang 6

các em cho là “mốt”, là “thời thượng” Vì vậy, các em thường có kiểu học

đối phó chiếu lệ, học hời hợt, học dưng dưng và khô cứng trước các vẻ đẹp văn học Các em học sinh thường có thói quen không thèm nắm tác giả, hoàn cảnh sáng tác; không thèm học thuộc thơ; không thèm tóm tắt một tác phẩm mà chỉ nắm kiến thức của bài học một cách sơ sài, mơ hồ qua phần ghi nhớ trong sách giáo khoa Cho nên khi viết bài, các em thường không có gì

để viết, dẫn đến bài viết nghèo ý, lời văn khô khan, trần trụi Bởi trong suy nghĩ non nớt, phiến diện của các em là học văn cốt chỉ đạt điểm trung bình

để không bị hạ loại hay đạt loại thấp khi tổng kết vào cuối kì, cuối năm Là giáo viên trực tiếp đứng lớp, khi phải chứng kiến thực trạng và ý thức học tập đó của học sinh như vậy thì ai mà không thể không buồn phiền, lo lắng? Chính vì thế mà hiện nay số học sinh giỏi Ngữ văn đang có chiều hướng ngày càng giảm đi, mà chất lượng của những em được công nhận cũng

không cao, số bài viết giàu “chất văn” ngày cũng càng hiếm đi!

Khi được thầy cô tuyển chọn bồi dưỡng môn văn, nhiều học sinh không thực sự sôi nổi, hào hứng mà có thái độ xem nhẹ môn Văn Học sinh chỉ chịu tham gia đội tuyển văn sau khi được thầy cô tư vấn rằng dễ đậu hơn các môn thi khác Có trường hợp học sinh không được chọn vào đội tuyển các môn khác mới chịu vào đội tuyển Văn một cách miễn cưỡng Chính vì thế, đội tuyển học sinh giỏi văn thường ít hơn so với các đội tuyển khác

* Về chất lượng dạy trên lớp :

Nguyên nhân sâu xa nào tác động đến ý thức, tinh thần và thực tế học tập của học sinh như nói ở trên? Thẳng thắn mà nhìn nhận rằng ngoài sự tác động thực dụng của xã hội thì yếu tố giáo viên là mấu chốt Qua thực tế đi

dự giờ, đi thanh kiểm tra chuyên môn, chúng ta nhận thấy rằng người dạy

văn chưa thực sự tạo được tạo được dấu ấn đẹp, dấu ấn “thân thiện” và “tay nghề văn” trong suy nghĩ của các em cho nên chưa khơi dậy hết tình yêu

thầy cô trong sáng, niềm yêu thích, hứng khởi với môn học Thông qua các

Trang 7

tiết dạy trên lớp, tôi nhận thấy học sinh chỉ thực sự yêu môn học khi học sinh cảm thấy yêu quý và tin cậy thầy cô bộ môn đó!

Hơn nữa, khi chấm bài cho học sinh, giáo viên văn thường ngại cho điểm điểm 8 điểm 9, dù bài viết của các em đã có nhiều cố gắng nhưng lại không sát với đáp án (!?) Chính điều này đã làm vơi đi lòng ham thích học văn, ý thức phấn đấu của các em cũng nhạt nhòa theo

* Về quá trình chọn lọc, bồi dưỡng học sinh giỏi:

Những giáo viên tham gia bồi dưỡng học sinh giỏi thường là những giáo viên có kinh nghiệm ở trường sở tại Nhưng có một bất cập là những giáo viên đó thường thường chỉ được phân công giảng dạy ở lớp 9 để bồi dưỡng nên không được bám sát được học sinh từ đầu cấp đến cuối cấp cho nên hết sức khó trong việc tuyển chọn Thử hình dung rằng một giáo viên dạy lớp 6, 7, 8 nhưng đến lớp 9 lại một giáo viên có kinh nghiệm dạy thì liệu giáo viên đó có nắm được một cách cụ thể điểm mạnh của học sinh để tuyển chọn ngay từ đầu hay không?

Bên cạnh đó, do thời gian bồi dưỡng chỉ diễn ra trong một thời gian không dài mà nội dung bồi dưỡng thì rất rộng nên đã gây không ít khó khăn, trở ngại cho cả thầy và trò trong quá trình bồi dưỡng Công tác bồi dưỡng được tiến hành ở các trường sở tại sớm nhất là vào tháng 9 và kết thúc muộn nhất là vào vào khoảng nửa đầu tháng 2 để các em dự thi cấp huyện Như vậy quỹ thời gian bồi dưỡng nhiều nhất cũng chỉ vẻn vẹn trong khoảng 5 tháng Trong thời gian ấy, cả thầy và trò không những còn phải tham gia dạy

và học trên lớp mà còn phải tham gia các hoạt động chung của trường lớp, của các tổ chức khác nên thời gian bồi dưỡng vốn không ít ỏi lại bị hạn chế rất nhiều Chính vì thế, quá trình chọn lọc và bồi dưỡng thường diễn ra rất cập rập, vội vã; nội dung bồi dưỡng cũng sẽ bị hạn chế đi rất nhiều Điều đó

đã tác động không nhỏ đến hiệu quả chung của công tác bồi dưỡng!

Trang 8

III Một số giải pháp và biện pháp cơ bản:

1 Giáo viên quan sát và định hướng đối tượng cần bồi dưỡng:

Làm bất cứ công việc gì cũng đều gặp phải những khó khăn, trở ngại nhất định Để công sức bồi dưỡng bỏ ra không bị uổng phí và có được “sản phẩm” chất lượng cao thì nhất thiết giáo viên cần có sự chuẩn bị kĩ lưỡng, cần phát huy cao độ ý thức, tinh thần trách nhiệm với công việc! Như đã nói

ở trên, những giáo viên tham gia bồi dưỡng thường chỉ dạy các em trong một hoặc hai năm học, hơn nữa thời gian bồi dưỡng vốn không nhiều lại bị hạn chế bởi thời gian dạy và học chính khóa trên lớp và các hoạt động phong trào chung của trường lớp Đó là những khó khăn lớn nhất thường gặp phải khi tiến hành bồi dưỡng

Nhằm khắc phục khó khăn đó, trong nhiều năm tham gia bồi dưỡng học sinh giỏi, bản thân tôi luôn chủ động theo dõi, tìm hiểu trước một cách

kĩ lưỡng tình hình học tập của các em học sinh từ lớp 6 đến lớp 8 thông qua nhiều kênh thông tin: giáo viên bộ môn, giáo viên chủ nhiệm lớp, và chính các em học sinh để phát hiện một cách chính xác mà không bỏ sót bất kì một

“viên ngọc thô” nào có tố chất văn Sau khi phát hiện, tôi tiếp tục phối hợp với giáo viên bộ môn văn từ lớp 6 đến lớp 8 để cùng bồi dưỡng; liên hệ với phụ huynh học sinh để đôn đốc, động viên các em phát huy năng khiếu trong quá trình học tập Trong quá trình theo dõi, tôi thường tổ chức cho học sinh làm bài kiểm tra thử theo định kì (hai lần/ học kì) với nội dung kiến thức phù hợp để rèn luyện một số kĩ năng cơ bản cho học và viết văn làm cơ sở thuận lợi sau này khi các em lên học lớp 9 giáo viên tuyển chọn và bồi dưỡng được thuận lợi hơn (vì huyện và tỉnh chỉ tổ chức thi học sinh giỏi ở lớp 9)

Nói như vậy có nghĩa là công tác bồi dưỡng học sinh phải được diễn

ra trong một thời gian dài chứ không phải chỉ bó hẹp trong mấy tháng khi

Trang 9

học sinh bước vào lớp 9 Trong thời gian ấy, giáo viên phải có kế hoạch lựa chọn và bồi dưỡng một cách hợp lý thì mới có hiệu quả cao

2 Giáo viên cung cấp tài liệu cần thiết và hướng dẫn học sinh sử dụng:

“Đọc sách là một trong những con đường quan trọng của học vấn.”

Thật vậy, học tập và tìm hiểu bất kì lĩnh vực nào cũng cần có tài liệu tham khảo Trong học văn và viết văn, nói không ngoa rằng nếu người học không tham khảo tài liệu, không đọc những bài văn hay thì chắc chắn rằng sẽ không có cách cảm thụ tốt, cách viết hay Bởi đọc tài liệu được coi là “văn hóa đọc” tối ưu nhất của con người trong thế kỉ XXI

Chính vì thế, trước và ngay sau khi lựa chọn được đối tượng và thành lập đội tuyển, giáo viên cần cung cấp thêm và hướng dẫn học sinh tìm đọc thêm một số tài liệu cần thiết cho quá trình bồi dưỡng học sinh giỏi Đối với một học sinh giỏi thì yêu cầu kiến thức phải thực sự phong phú, sâu rộng thì các em mới chủ động, mạnh dạn và làm cho cảm xúc theo lời văn cứ thế tuôn trào theo nét bút trải dài trên trang giấy trong quá trình làm bài Nếu kiến thức mỏng và nghèo nàn thì các em không thể tránh khỏi những lúng túng, những câu văn què cụt, tối nghĩa trong bài viết

Như chúng ta đã biết, trong chương trình Tập làm văn lớp 9, học sinh học và thực hành lạo lập ba kiểu bài văn: văn tự sự, văn thuyết minh, văn nghị luận Cấu trúc của phân môn Tiếng Việt và Văn của bộ môn Ngữ văn

lớp 9 cũng không nằm ngoài trục đồng quy đó Để tránh lạc hướng trong khi đọc, tôi chủ động cung cấp và hướng dẫn các em tìm đọc thêm tập trung

vào hai loại sách nhằm mở rộng và nâng cao kiến thức

Khi dạy học sinh thực hành tạo lập bài văn nghị luận về một vấn đề tư tưởng đạo lý, tôi thấy kiểu bài văn này liên quan đến rất nhiều câu tục ngữ,

thành ngữ, ca dao Bởi thế, nếu học sinh không nắm vững, hiểu sâu về chúng

Trang 10

thì khó có thể viết được bài văn Căn cứ vào điều này, tôi cho học sinh đọc

cuốn Từ điển thành ngữ, tục ngữ, ca dao Việt Nam

Đối với kiểu bài văn nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ và nghị luận

về tác phẩm truyện (hoặc đoạn trích) Đây là kiểu bài rất quan trọng và có

mối quan hệ chặt chẽ với các văn bản được trích học trong chương trình Ngữ văn THCS nên tôi đã cung cấp và hướng dẫn học sinh đọc thêm những tác giả và tác phẩm tiêu biểu như: Bà chúa thơ Nôm Hồ Xuân Hương, Nguyễn

Khuyến – “nhà thơ của làng cảnh quê hương Việt Nam”, Nguyễn Du –

“người có con mắt nhìn thấy sáu cõi, có tấm lòng nghĩ suốt nghìn đời”,

Nguyễn Đình Chiểu, ; các tác giả tiêu biểu trước cách mạng tháng Tám: Ngô Tất Tố, Nam Cao, ; các tác giả tiêu biểu của văn học Việt Nam từ sau cách mạng : Chính Hữu, Kim Lân, Phạm Tiến Duật, Thanh Hải, Viễn Phương, Có như vậy học sinh mới có vốn kiến thức vững vàng về tác giả, tác phẩm để dễ dàng vận dụng làm các luận cứ chính xác, có sức thuyết phục cho luận điểm nêu ra trong bài văn nghị luận đang viết

Ngoài việc nắm và cảm thụ tác phẩm văn học, học sinh còn cần phải

đọc các cuốn sách bài văn hay, sách bình giảng văn học, sách nghiên cứu lý

luận phê bình về văn học mới thực sự có điều kiện thâm nhập một cách đầy

đủ về tác phẩm đó Chẳng hạn khi cần nghị luận về bài thơ “Viếng lăng Bác” (Viễn Phương), giáo viên không thể không hướng dẫn học sinh đọc thêm tập thơ “Như mây mùa xuân”(Thanh Hải), “Theo chân Bác” (Tố Hữu)

và một số tài liệu khác có liên quan

Thực tế cho thấy rằng nếu không đọc hoặc đọc ít là một hạn chế rất lớn không tránh khỏi đối với một học sinh giỏi Đọc nhiều, đọc rộng sẽ phát huy được nhiều mặt tích cực, nhất là ở những học sinh có ít nhiều năng khiếu văn chương Việc đọc tác phẩm văn học và các tài liệu nghiên cứu phê bình văn học là một họat động cực kỳ quan trọng trong yêu cầu của công tác bồi dưỡng Giáo viên đặc biệt phải hết sức quan tâm đối với học

Trang 11

sinh và phải có cách đôn đốc nhắc nhở, kiểm tra học sinh để các em có được những kiến thức cần thiết trong quá trình làm bài Nếu học sinh chưa có ý thức đọc theo hướng dẫn thì giáo viên bồi dưỡng phải kiên quyết yêu cầu học sinh đọc Có kiến thức văn học phong phú, vững vàng là cơ sở và nền tảng đầu tiên để học sinh viết một bài văn tốt.

3 Giáo viên phải tự lập kế hoạch, tự tìm tòi nội dung và phương pháp bồi dưỡng làm sao cho có hiệu quả.

Quỹ thời gian bồi dưỡng chính thức vốn không nhiều, điều trước tiên khi bắt tay vào việc bồi dưỡng chính thức, giáo viên cần tham mưu với chuyên môn nhà trường để sắp xếp thời gian, lên thời khóa biểu bồi dưỡng một cách khoa học nhất, hiệu quả nhất Trong các năm qua, ngoài thời gian quan sát lựa chọn đội tuyển học sinh giỏi, quỹ thời gian (hơn 5 tháng) bồi dưỡng chính thức mỗi tuần tôi sắp xếp hai buổi, mỗi buổi dạy bốn tiết Thời gian con lại để dành cho học sinh học tập các môn học khác và tập trung đọc tài liệu tham khảo, làm các bài tập mà giáo viên yêu cầu

Ngay sau khi lên được thời khóa biểu, giáo viên thiết kế nội dung và phương pháp bồi dưỡng Có thể nói đây là công đoạn khó nhất, đòi hỏi giáo viên phải có năng lực, kinh nghiệm và ý thức trách nhiệm cao với công việc thì mới có thể làm được Bởi nội dung bồi dưỡng không chỉ là sự khái quát hóa, hệ thống hóa những kiến thức căn bản trong chương trình Ngữ văn THCS mà còn có sự mở rộng, nâng cao kiến thức Kiến thức căn bản là cơ

sở cần thiết cho học sinh giỏi trước khi muốn học và tìm hiểu những kiến thức sâu và rộng hơn Nhưng vì thời lượng bồi dưỡng rất hạn chế, giáo viên bồi dưỡng không thể làm việc được tất cả, nên phần ôn tập lại những kiến thức căn bản đã học ở các lớp dưới thì yêu cầu học sinh phải tự thực hiện Điều này không khó đối với một học sinh giỏi Tuy nhiên, khi giáo viên yêu cầu học sinh tự ôn tập, làm việc ở nhà thì giáo viên phải có sự kiểm tra một cách chặt chẽ, thường xuyên xem học sinh đã có ý thức học tập tốt chưa, đã

Trang 12

thực hiện và nắm các yêu cầu về kiến thức mà mình dặn dò chưa? nếu có học sinh chưa thực hiện đầy đủ, còn có những lỗ hổng kiến thức thì giáo viên phải đôn đốc, nhắc nhở và có biện pháp cần thiết để học sinh làm việc.

Mở rộng, nâng cao kiến thức là yêu cầu tối quan trọng của quá trình bồi dưỡng Khi tiến hành bồi dưỡng, giáo viên phải hết sức chú ý hướng dẫn học sinh tìm hiểu và thực hành thông qua một số chuyên đề cụ thể thì mới có hiệu quả Muốn làm tốt nội dung này, giáo viên phải sưu tầm được một ngân hàng đề thi học sinh giỏi phong phú, đa dạng Qua tìm hiểu nhiều đề thi học sinh giỏi của huyện và của tỉnh Đắk Lắk cũng như một số tỉnh, thành khác, tôi thấy cấu trúc đề thì thông thường là 03 câu, thuộc 03 phương diện: phân tích phép tu từ, cảm thụ văn học và viết bài văn nghị luận hoặc tự sự hoặc thuyết minh, với thang điểm là 20, được chia theo tỉ lệ: 5,0 điểm – 3,0 điểm – 12, 0 điểm hoặc 3,0 điểm – 5,0 điểm – 12, 0 điểm Căn cứ vào đó và nội dung chương trình Ngữ văn THCS, tôi chia nội dung bồi dưỡng làm ba chuyên đề lớn: chuyên đề phân tích phép tu từ, chuyên đề cảm thụ văn học, chuyên đề tập làm văn Cụ thể như sau:

a Chuyên đề phân tích phép tu từ:

* Giáo viên kiểm tra và hệ thống hóa, khái quát hóa kiến thức phép tu

từ Để thực hiện tốt khâu này, giáo viên cần thông báo cho học sinh ôn tập,

làm bảng thống kê các biện pháp tu từ đã được tìm hiểu trong chương trình Ngữ văn THCS, theo mẫu sau:

* Giáo viên ra bài tập và hướng dẫn học sinh tìm và phân tích cái hay

cái đẹp của các phương tiện và biện pháp tu từ tiếng Việt Đây là thời gian

chính của chuyên đề Đặc trưng của văn chương là nghệ thuật dùng phương tiện ngôn từ làm phương tiện biểu đạt tư tưởng, tình cảm, cảm xúc của người

Trang 13

nghệ sĩ về cuộc sống Chỉ có thể hiểu được một cách đầy đủ và sâu sắc về ý nghĩa của tác phẩm văn học khi người đọc phát hiện và phân tích được các phương tiện và biện pháp tu từ được người nghệ sĩ sử dụng trong tác phẩm

cụ thể Sau đây tôi xin trích dẫn một số ví dụ của chuyên đề:

- Phương tiện tu từ từ vựng:

+ Loại từ thi ca (được dùng trong thơ ca Trung đại):

Thâm niên kín cổng cao tường,

Cạn dòng lá thắm đứt đường chim xanh.

(Truyện Kiều – Nguyễn Du)

=> Điển tích, điển cố: “lá thắm” biểu thị duyên vợ chồng không hẹn mà nên

“Chim xanh” biểu thị người đưa tin

+ Từ Hán Việt:

Tạo hóa gây chi cuộc hí trườngĐến nay thắm thoát mấy tinh sươngLối xưa xe ngựa hồn thu thảo

Nền cũ lâu đài bóng tịch dương

( Thăng Long thành hoài cổ - Bà Huyện Thanh Quan)

=> Từ Hán Việt: tạo hóa, hí trường, tinh sương, xe, thu thảo, lâu đài, tịch dương làm cho đoạn thơ trang trọng, thanh nhã về màu sắc biểu cảm; trang nghiêm, cổ kính về về màu sắc phong cách

Trang 14

=> Thành ngữ “bảy nổi ba chìm” làm cho câu thơ ngắn gọn, súc tích và có tính hình tượng, tính biểu cảm cao về cuộc đời và thân phận khổ đau của người phụ nữ xưa.

- Biện pháp tu từ ngữ nghĩa:

+ Ẩn dụ:

Màu thời gian không xanhMàu thời gian tím ngắtHương thời gian không nồngHương thời gian thanh thanh

( Màu thời gian – Đoàn Phú Tứ)

=> Đoạn thơ có sự kết hợp giữa một khái niệm thuộc cảm giác: màu, hương với một khái niệm trừu tượng: thời gian tạo nên một ẩn dụ tượng trưng về

cuộc sống

+ Nhân hóa và vật hóa:

Khăn nhớ thương ai Khăn rơi xuống đất?

Khăn nhớ thương ai Khăn vắt lên vai?

Khăn nhớ thương ai Khăn chùi nước mắt?

( Cao dao)

Sầu đong càng lắc càng đầy,

Ba thu dọn lại một ngày dài ghê

( Truyện Kiều – Nguyễn Du)

=> “Sầu” là khái niệm chỉ tình cảm con người; “đong” như đong đồ vật nào

đó (đong gạo, ) cho nên gọi là vật hóa

Trang 15

+ Hoán dụ:

Một bên đèn sách văn chương Một bên chèo đẩy em thương bên nào Chữ nghĩa còn đợi giá cao

Quần nâu áo vải chân sào em thương.

(Ca dao)

=> “Đèn sách văn chương” chỉ người thư sinh, “chèo đẩy” chỉ người lái đò,

“chữ nghĩa” chỉ người đi học, “quần nâu áo vải chân sào” chỉ người lái đò Loại hoán dụ lấy dấu hiệu của sự vật để gọi tên sự vật

+ Điệp ngữ:

Áo em thoang thoảng hương cau

Áo em say đắm một màu nhớ thương

Áo em ngày nhớ đêm thương

Áo em chín nhớ mười thương anh chờ.

(Cao dao)

=> Sự lặp đi lặp lại hình ảnh “áo em” nhấn mạnh tình cảm đắm say của nhân vật trữ tình “anh” (điệp ngữ cách quãng)

+ Tăng cấp, liệt kê:

Chao ôi, dì Hảo khóc Dì khóc nức nở, khóc nấc lên, khóc như người ta thổ, dì thổ ra nước mắt. (Nam Cao)

=> Tiếng khóc của dì Hảo được Nam Cao miêu tả thật ấn tượng qua biện pháp liệt kê, tăng cấp

+ Chơi chữ:

Chồng chổng chồng chông

Chồng bát chồng đĩa nuôi hông cũng chồng

Trang 16

Trôi êm đềm dòng sông

Tuôn ào ào thác đỗ

ở nhà Trong mỗi lần ra đề, giáo viên cần phải giao thời gian cụ thể và kiểm tra, sửa chữa cụ thể những lỗi chính tả, lỗi dùng từ đặt câu, mà học sinh mắc phải

b Chuyên đề cảm thụ văn học:

* Giáo viên sơ lược về lịch sử văn học Việt Nam Bất kì một tác phẩm

văn học nào cũng lấy chất liệu từ thực tại cuộc sống thông qua lăng kính chủ quan của người sáng tạo Để cảm thụ một cách sâu sắc về văn học, thì nhất thiết phải hiểu đúng, hiểu rõ về văn học Nói như vậy có nghĩa là người cảm thụ phải đặt tác phẩm trong hoàn cảnh phát sinh và môi trường tiếp nhận Nền văn học Việt Nam được tạo nên bởi hai bộ phân.:

Trang 17

- Văn học dân gian Dòng văn học này là kết quả của sự đồng sáng tạo của người bình dân nhằm thể hiện tình cảm gia đình, tình yêu quê hương đất nước, con người, (ca dao, dân ca); đúc rút kinh nghiệm về thiên nhiên, lao động sản xuất cùng cong người và xã hội, vv

- Văn học viết Dòng văn học này có:

+ Văn học phong kiến ra đời và phát triển từ thế kỉ X đến hết thể kỉ XIX , được viết bằng chữ Hán và chữ Nôm Văn học viết từ thế kỉ X đến hết thể kỉ XIX có bốn giai đoạn, mỗi giai đọn có một âm hưởng chủ đạo

Giai đoạn từ thế kỉ X đến thế kỉ XV có nội dung chính là khẳng định dân tộc Ví dụ: “Tụng giá hoàng kinh sư” (Trần Quang Khải),

Giai đoạn từ thế kỉ XVI đến nửa đầu thế kỉ XVIII có nội dung chính

là ca ngợi cuộc sống ẩn dật, đề cao tiết tháo Ví dụ: “Truyền kì mạn lục” (Nguyễn Dữ), “Côn Sơn ca” (Nguyễn Trãi),

Giai đoạn từ nửa cuối thế kỉ XVIII đến nửa đầu thế kỉ XIX có nội dung chính là phê phán thế lực phong kiến và khẳng định quyền sống của con người Ví dụ: “Sau phút chia ly” (Đoàn Thị Điểm, Đặng Trần Côn),

“Bánh trôi nước “ (Hồ Xuân Hương), “Truyện Kiều” (Nguyễn Du),

Giai đoạn từ nửa cuối thế kỉ XIX có nội dung chính là đã kích cái lố lăng hủ bại đương thời và cổ vũ tinh thần yêu nước chống ngoại xâm Ví dụ: các sáng tác của Nguyễn Khuyến và Nguyễn Đình Chiểu,

+ Văn học Việt Nam hiện đại, gồm có:

Thơ văn hai mươi năm đầu của thế kỉ XX là những sáng tác thể hiện tinh thần bất khuất, ý chí chiến đấu son sắt của những nhà Nho, sĩ phu yêu nước bị bắt giam trong nhà tù thực dân Pháp: Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh,

Trang 18

Văn học giai đoạn từ 1932 đến 1945 gồm có nhiều khuynh hướng trào lưu: văn học hiện thực phê phán có “Sống chết mặc bay” của Phạm Duy Tốn, “Đồng hào có ma” của Nguyễn Công Hoan, “Tắt đèn” của Ngô Tất Tố, “Lão Hạc” của Nam Cao, Phong trào thơ Mới có “Nhớ rừng” của Thế Lữ, “Ông đồ” của Vũ đình Liên, thơ văn của những chiến sĩ cách mạng ở trong tù có “Khi con tu hú” của Tố Hữu, “Lấy củi” của Sóng Hồng,

“Nhật kí trong tù” của Hồ Chí Minh,

Văn học từ sau cách mạng tháng Tám đến năm 1975 Thời kì này lại được chia ra nhiều giai đoạn Văn học chống Pháp (1946 – 1954) có “Đồng chí” của Chính Hữu”, “Làng” của Kim Lân, ; văn học xây dựng chủ nghĩa

xã hội ở miền Bắc ( 1955 – 1964) có “Đoàn thuyền đánh cá” của Huy Cận, ; văn học chống Mĩ (1965 – 1975) có “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” của Phạm Tiến Duật, “Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ” của Nguyễn Khoa Điềm, “Bếp lửa” của Bằng Việt, “Chiếc lược ngà” của Nguyễn Quang Sáng, “Lặng lẽ SaPa” của Nguyễn Thành Long, “Những ngôi sao xa xôi” của Lê Minh Khuê,

Văn học sau năm 1975 phát triển trong một hoàn cảnh mới nên cũng

có sự thay đổi về đề tài, chủ đề, hình thức thể hiện Văn học sau năm 1975 tập trung thể hiện con người trong đời sống hằng ngày, trong lao động và sinh hoạt, trong đời sống riêng chung nên có thêm chiều sâu về tư tưởng như: “Ánh trăng” của Nguyễn Duy, “Mùa xuân nho nhỏ” của Thanh Hải,

“Viếng lăng Bác” của Viễn Phương, “Sang thu” của Hữu Thỉnh,

* Ngoài những tác phẩm trong chương trình, giáo viên nên chủ động cung cấp và hướng dẫn học sinh tìm hiểu thêm một số câu, đoạn, bài thơ – văn hay giúp học sinh vừa có thêm tư liệu văn học và hiểu được cái hay của

văn chương, vừa tạo chất văn cho bài viết Đặc trưng của văn chương là

nhận thức và tái hiện cuộc sống bằng hình tượng Để hiểu được ý nghĩa của

Trang 19

văn chương, ngoài trí tuệ thì người đọc cần phải phát huy cao độ trí tưởng tượng sáng tạo, suy nghĩ, cảm xúc bằng hình tượng Ví dụ:

Cối xay tre, nặng nề quay, từ nghìn đời nay, xay nắm thóc

(Cây tre Việt Nam – Thép Mới)

=> Bằng việc dùng dấu phẩy tác giả không chỉ tạo cho câu văn có nhạc điệu

mà còn thể hiện được cái nhọc nhằn cơ cực trong vòng quay đều đặn, nhẫn nại của cối xay, của chính nhịp lao động nặng nhọc, nhẫn nại của người nông dân

Ông Giáo nói phải! Kiếp chó là kiếp khổ thì ta hóa kiếp cho nó làm kiếp người, may ra nó sung sướng hơn một chút Kiếp người như kiếp tôi chẳng hạn!

(Lão Hạc – Nam Cao)

=> Với việc dùng dấu cảm thán và đặc biệt là dùng dấu chấm lửng trong câu văn có tác dụng như một phép lặng tu từ Dấu chấm lửng diễn tả được tâm trạng ngập ngừng, nghẹn ngào đau xót khi lão Hạc nói về cuộc sống của lão

Đến nay tháng sáu

Chợt nghe tin nhà

Ra thế

Lượm ơi! (Lượm – Tố Hữu)

=> Câu thơ thứ ba được ngắt làm đôi làm hai dòng đã thể hiện được sự bàng hoàng, nghẹn ngào, đau đớn tột cùng của nhà thơ khi hay tin Lượm hi sinh

Khẽ quờ tay chạm vào cát sông Hồng

Ai mới thả cánh bèo qua đó

Có chở lời quan họ theo không?

(Trương Nam Hương)

Ngày đăng: 31/03/2015, 15:44

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w