MỞ ĐẦU Tán xạ đàn hồi năng lượng cao của các nucleon được thực hiện nhờ tương tác mạnh của các hadron, nhưng trong trường hợp các hadron tích điện cần phải xét tương tác Coulomb giữa các
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
CHƯƠNG 1: MÔ HÌNH EIKONAL VÀ GIAO THOA COULOMB 1.1 Biên độ tán xạ tổng quát cho hai tương tác
1.2 Pha eikonal trong gần đúng eikonal
1.3 Công thức West và Yennie
CHƯƠNG 2 : TÁN XẠ CÁC NUCLEON NĂNG LƯỢNG CAO TRONG MÔ HÌNH EIKONAL 2.1 Một số cách tiếp cận tán xạ nucleon trong mô hình phi eikonal
2.2 Biên độ tán xạ các nucleon trong mô hình eikonal
2.3 Giá trị trung bình của các tham số va chạm
CHƯƠNG 3 : CÁC DỮ LIỆU THỰC NGHIỆM VỀ THAM SỐ VA CHẠM TRONG MÔ HÌNH TÁN XẠ PROTON – PROTON 3.1 Mô hình tán xạ đàn hồi pp và các đặc trưng của nó
3.2 Dữ liệu về tham số va chạm cho quá trình tán xạ pp ở 53GeV
KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC A HỆ SỐ DẠNG ĐIỆN TỪ CỦA NUCLEON
PHỤ LỤC B CÁC PHƯƠNG PHÁP GIẢI PHƯƠNG TRÌNH SCHRODINGER TRONG CƠ HỌC LƯỢNG TỬ
B.1 Phương pháp khai triển theo sóng riêng phần
B.2 Phương pháp hàm Green
B.3 Phương pháp chuẩn cổ điển
B.4 Mối liên hệ giữa biên độ tán xạ sóng riêng phần về biên độ tán xạ eikonal
B.4.1 Phép chuyển đổi từ biên độ sóng riêng phần sang biên độ sóng eikonal
B.4.2 Phép chuyển đổi từ biên độ sóng eikonal sang biên độ sóng riêng phần
B.5 Sơ đồ mối liên hệ giữa các phương pháp của bài toán tán xạ
1
5
7
10
12
16
23
25
27
33
34
39
41
41
49
55
57
57
58
59
Trang 4DANH MỤC HÌNH VẼ
Hình 2.1
Hình 2.2
Hình 3.1
Hình 3.2
Hình B.1
Hình B.2
Hình B.3
14 14 29 30 42 50 59 DANH MỤC BẢNG Bảng Trang Bảng 2.1 Bảng 3.1 Bảng 3.2
19
31
32
Trang 5MỞ ĐẦU
Tán xạ đàn hồi năng lượng cao của các nucleon được thực hiện nhờ tương tác mạnh của các hadron, nhưng trong trường hợp các hadron tích điện cần phải xét tương tác Coulomb giữa các hạt va chạm [16] Sử dụng phép gần đúng chuẩn cổ điển trong cơ học lượng tử, Bethe đã thu được công thức cho tán xạ thế với góc tán xạ nhỏ của proton lên hạt nhân, trong đó có tính đến sự giao thoa của các biên độ tán xạ Coulomb và biên độ tán xạ hạt nhân [45] Biên độ tán xạ đàn hồi được ký hiệu bằng C N
F và có thể biểu diễn một cách hình thức dưới dạng tổng hai loại biên độ tán xạ sau [45]:
,
F s t e F s t F s t (0.1)
trong đó s là bình phương năng lượng trong hệ khối tâm (cms), t là bình
phương xung lượng truyền 4 chiều, F C s t, - biên độ tán xạ hoàn toàn Coulomb được xác định trong điện động lực học lượng tử (QED), F N s t, - biên độ tán xạ hoàn toàn hadron (liên quan tới tương tác mạnh), 1/137, 036
là hằng số cấu trúc, s t, là pha tương đối - sự lệch pha được dẫn ra bằng
tương tác Coulomb tầm xa
Sử dụng mô hình tán xạ thế, Bethe đã có kết quả cụ thể cho pha [16] 2ln 1, 06 / qa (0.2)
trong đó q là xung lượng truyền của hạt tán xạ, còn a là tham số đặc trưng
cho kích thước của hạt nhân
Công thức của Bethe (0.2) có ý nghĩa quan trọng đối với lý thuyết và thực nghiệm Về lý thuyết phần thực của biên độ tán xạ kể trên cho phép ta kiểm tra hệ thức tán sắc [34], hay dáng điệu tiệm cận khả dĩ của tiết diện tán
xạ toàn phần [15], hay việc kiểm nghiệm các mô hình lý thuyết khác nhau cho tương tác mạnh Việc đánh giá phần thực của biên độ tán xạ hạt nhân phía trước ở vùng năng lượng thấp so với các số liệu thực nghiệm đã được thực
Trang 6hiện cho vùng có 2 2
lý thuyết và thực nghiệm còn chưa được nghiên cứu đầy đủ
Mô hình eikonal là một công cụ mạnh thích hợp cho việc xem xét quá trình tán xạ đàn hồi của các hadron năng lượng cao Với cách tiếp cận theo
mô hình này cho phép chúng ta có thể đưa ra các giá trị về tham số va chạm (ví dụ như phạm vi tác dụng của lực Coulomb và lực tương tác mạnh ở các khoảng cách khác nhau), một đặc trưng vật lý quan trọng của quá trình tương tác
Việc giải thích đầy đủ quá trình tán xạ các nucleon trong hạt nhân đòi hỏi không những tư duy logic mà còn cần cả tư duy hiện tượng luận dựa trên
các kết quả thực nghiệm Hiện tượng luận trong khoa học là cách lập luận
xuất phát từ thực nghiệm, và kết quả được thực tế chấp nhận, chứ không theo cách tư duy logic trong toán học Hàm delta Dirac là một ví dụ, nó là
hàm suy rộng, xuất phát từ thực tiễn, chứ nó không hẳn được định nghĩa như những hàm số thông thường Hàm delta Dirac phải mất bẩy năm mới được
giới học thuật thừa nhận!
Mục đích của bản luận văn thạc sỹ khoa học là nghiên cứu quá trình tán
xạ đàn hồi của các nucleon tích điện trong mô hình eikonal ở mọi giá trị t theo
những mô hình hiện tượng luận đã được thừa nhận Sự ảnh hưởng của hai tương tác là tương tác mạnh giữa các hadron và tương tác Coulomb đến biên
độ tán xạ và pha tán xạ được rút ra dựa trên các số liệu thực nghiệm
Nội dung luận văn gồm phần mở đầu, ba chương, các phụ lục và kết luận
Chương 1: Mô hình eikonal và Giao thoa Coulomb
Xuất phát từ mô hình eikonal cho tán xạ năng lượng cao, chúng tôi xây dựng biên độ tán xạ tổng quát cho hai loại tương tác – tương tác Coulomb và tương tác nucleon, trong đó pha eikonal được tính từ biên độ tán xạ trong gần đúng Born Trong mục 1.1 chúng tôi trình bầy vắn tắt việc tính biên độ tán xạ
Trang 7cho hai loại tương tác trong gần đúng Born Việc tính sự lệch pha cho biên độ tán xạ Coulomb trong mô hình eikonal được dẫn ra ở mục 1.2 Công thức cho lệch pha trong gần đúng eikonal thu được ở đây phù hợp với kết quả mà West
và Yennie thu được trong lý thuyết trường lượng tử bằng việc tính các giản đồ Feynman cho bài toán này Lưu ý ở đây có kể thêm hệ số dạng điện từ của nucleon nhưng bỏ qua spin của nucleon Mục 1.3 dành cho việc mở rộng công thức về sự lệch pha của biên độ tán xạ Coulomb và tán xạ hạt nhân từ tán xạ với xung lượng truyền nhỏ ra vùng xung lượng truyền lớn dựa trên các số liệu thực nghiệm
Chương 2: Tán xạ các nucleon năng lượng cao trong mô hình
eikonal
Chương 2 dành cho mô tả sự ảnh hưởng qua lại của hai loại tương tác Coulomb và tương tác đàn hồi hadron trong va chạm giữa các nucleon Trong mục 2.1 một số phương án mở rộng biểu thức hàm pha West và Yennie từ vùng xung lượng truyền nhỏ (khi cả hai loại tương tác Coulomb và tương tác mạnh cùng tham gia và sự giao thoa giữa chúng) cho vùng xung lượng truyền lớn (vùng mà tương tác Coulomb bị bỏ qua ) dựa vào các số liệu thực nghiêm
Ở đây đã chỉ ra những hạn chế và sự không chuẩn xác nếu chúng ta mở rộng công thức West và Yennie một cách đơn giản Để khắc phục những bất cập này trong mục 2.2 trong mô hình eikonal hiện tượng luận dựa vào hệ thức giữa biên độ tán xạ và pha eikonal qua phép biến đổi Fourier – Bessel Mục 2.3 dành cho việc tính các giá trị trung bình các tham số va chạm trong mô hình này
Chương 3: Các dữ liệu thực nghiệm về tham số va chạm cho tán xạ
proton – proton trong mô hình eikonal hiện tượng luận
Các giả thuyết về độ lệch quỹ đạo để đưa ra công thức đơn giản của West và Yennie sẽ được phân tích dựa trên biên độ tán xạ eikonal đầy đủ
Trang 8Trong mục 3.1 các đặc trưng cho tán xạ proton-proton được giới thiệu vắn tắt Mục 3.2 mô hình eikonal hiện tượng luận được áp dụng để phân tích các dữ
liệu tán xạ đàn hồi pp ở năng lượng 53 GeV
Trong phần kết luận ta hệ thống hóa những kết quả thu được và thảo luận việc mở rộng những nghiên cứu tiếp theo cho bài toán tương tự trong lý thuyết trường lượng tử
Phần phụ lục A sẽ đưa cách tính hệ số dạng điện từ của tán xạ các nucleon
Phần phụ lục B, ta trình bầy cách thu nhận biểu thức Eikonal cho biên độ tán xạ từ các cách giải khác nhau phương trình Schrodinger trong cơ học lượng tử
Trong luận văn này, hệ đơn vị nguyên tử c 1 và metric Feynman được sử dụng Các véctơ phản biến là tọa độ
Trang 9CHƯƠNG 1:
MÔ HÌNH EIKONAL VÀ GIAO THOA COULOMB
Trong chương này ta xuất phát từ mô hình eikonal cho biên độ tán xạ năng lượng cao và xung lượng truyền nhỏ (tán xạ phía trước), trong đó pha eikonal được tính từ biên độ tán xạ Born Trong mục 1.1, ta tính biên độ tán
xạ tổng quát cho hai tương tác – tương tác Coulomb và tương tác hạt nhân khi
sử dụng biên độ tán xạ Born, việc tính pha eikonal khi ta vận dụng gần đúng eikonal cho tương tác Coulomb được trình bầy ở mục 1.2 Trong mục 1.3, xây dựng công thức West và Yennie (WY) dạng tổng quát cho hàm pha tán
1.1 Biên độ tán xạ tổng quát cho hai tương tác
Mô hình eikonal được thuận tiện sử dụng khi xem xét tán xạ của các hạt với góc tán xạ nhỏ dựa trên phép gần đúng, coi quĩ đạo của các hạt tán xạ là thẳng (còn gọi là gần đúng quĩ đạo thẳng) Trong quĩ đạo này thì pha của quá trình tán xạ b sẽ chứa toàn bộ thông tin về quá trình tán xạ
2 2 2 ( )
1 4
ý nghĩa, nó không dựa vào cơ chế tương tác cụ thể nào Tất cả động lực học của quá trình trong mô hình eikonal được xác định, nếu cho trước dạng cụ thể của pha ( )b Pha này phụ thuộc vào tham số va chạm b và năng lượng của
khối tâm Ở năng lượng siêu cao thì pha ( )b được xác định bởi biểu thức:
1 2 2
2
iq b Born
Trang 10Ở đây chúng ta đã bỏ qua sự phụ thuộc vào s của biên độ tán xạ Born Khi đó, biên độ tán xạ eikonal ở vùng năng lượng lớn là:
1 4
iq b i b eik
đủ sẽ là:
2 2 2 ( ( ) ( ))
1 4
2 2 2 ( )
1 4
( )
s
i q F q
Biểu thức (1.7) là biểu thức tổng quát hóa của biên độ tán xạ eikonal của tán xạ các nuclon trong hạt nhân khi có sự giao thoa cả 2 loại, tương tác Coulomb và tương tác hạt nhân
Trang 111.2 Pha eikonal trong gần đúng eikonal
Để có thể áp dụng biểu thức (1.7) này cho các bài toán về sau chúng ta cần lấy gần đúng eikonal biên độ tán xạ Coulomb Từ biểu thức (1.2), chúng
ta đưa vào khối một photon khối lượng nhỏ để khử phân kỳ hồng ngoại:
2 2
1 2
2
1 ln 2 2
b i b i C
e e b d i
s q F
1 2
Trang 122 1 2
2
i i
C eik q
2
2 ' 2
N C
N i
Trang 13Trong biểu thức này, chúng ta chỉ lấy cận trên của tích phân là Q để
nhằm khử các phân kỳ xuất hiện khi lấy riêng rẽ từng tích phân ở vùng xung
lượng q 2
lớn Sau khi lấy tổng hai tích phân này và lấy giới hạn Q 2 sẽ thu được biểu thức hữu hạn Tổng của hai số hạng đầu tiên trong biểu thức (1.14) là:
Biểu thức dưới dấu tích phân trong (1.16) không có kì dị tại q = q’ So
sánh biểu thức (1.16) và (0.1), chúng ta suy ra được pha eikonal bằng:
Trang 141.3 Công thức West và Yennie
Dạng tổng quát của hàm pha ( , )s t trong phương trình (0.1) đã được West và Yennie xây dựng dựa trên kỹ thuật giản đồ Feynman (trao đổi một photon) Trong trường hợp các hạt tích điện biểu thức của hàm pha này có dạng:
2
0 4
Khi xây dựng công thức (1.19), West và Yennie không có các số liệu
thực nghiệm về tiết diện tán xạ vi phân d
dt
ở vùng |t| lớn mà chỉ dựa trên hai
giả thuyết chính sau:
- Sự phụ thuộc của độ lớn biên độ đàn hồi hadron vào t được biểu
diễn như là một hàm mũ của các biến động lực học theo t
- Cả phần thực và phần ảo của biên độ tán xạ đàn hồi hadron đều phụ thuộc vào t theo cùng một dạng hàm mũ của các biến động lực học của t
Vì thế tỉ số của hai phần này là hằng số
Cùng với hai giả thiết này và sử dụng một vài phép gần đúng khác (xem tài liệu tham khảo [15,45-46]), về mặt nguyên tắc chúng ta có thể thu được công thức (1.19) và (1.20) áp dụng cho vùng tương tác và giao thoa Coulomb Tất nhiên, chúng ta không thể chắc chắn ý nghĩa thực tế của các tham số thu được bằng cách khớp các số liệu thực nghiệm bởi vì rằng có thể chúng phụ
thuộc mạnh vào giá trị |t| khi nó lớn Tuy nhiên công thức (1.19), (1.20) hoàn
toàn có thể được sử dụng để khớp các số liệu thực nghiệm xác định tiết diện
tán xạ vi phân trong mọi thí nghiệm tán xạ đàn hồi hadron ở vùng |t| nhỏ mà
Trang 15không cần để ý đến sự phụ thuộc của biên độ tán xạ đàn hồi vào t ở vùng |t| lớn
Ba đại lượng tot,Bvà (ở các giá trị năng lượng tương ứng) được thiết lập dựa trên công thức (1.19), (1.20) cùng với các số liệu thực nghiệm ở vùng
giá trị nhỏ của |t| (trong vùng tương tác Coulomb, giao thoa và một phần nhỏ
kế tiếp của vùng tương tác hadron) Khi |t| lớn (ở vùng tương tác hadron) sự
ảnh hưởng của tán xạ Coulomb thường bị bỏ qua hoàn toàn và quá trình tán
xạ đàn hồi được mô tả bởi biên độ tán xạ hiện tượng luận hadron F N( , )s t ,
biên độ này thường phụ thuộc một cách tương đối phức tạp vào t hơn so với
công thức (1.20) Như vậy, tiết diện tán xạ vi phân ở các vùng khác nhau được biểu diễn bởi hai công thức khác nhau (dựa trên các giả thuyết không
tương thích) điều này chứng tỏ một sự thiếu hụt quan trọng của lý thuyết
Trang 16CHƯƠNG 2:
TÁN XẠ CÁC NUCLEON NĂNG LƯỢNG CAO TRONG MÔ
HÌNH EIKONAL
Biên độ tán xạ đầy đủ của các nucleon đã được xác định bởi Locher [34]
và West và Yennie [15] (bỏ qua sự ảnh hưởng của spin các hạt vào biên độ
tán xạ) được suy ra nhờ giả thiết rằng t phụ thuộc vào biên độ tán xạ đàn hồi
hadron và sử dụng một số phép tính gần đúng ở năng lượng cao Về mặt lý thuyết các biểu thức này có vẻ hợp logic toán học và khi West và Yennie đưa
ra các công thức đó thì hoàn toàn không có số liệu nào về cấu trúc nhiễu xạ trong tán xạ đàn hồi của các nucleon Tuy nhiên hiện nay câu hỏi nảy sinh là các số liệu thực nghiệm đưa ra là không phù hợp với các công thức đó
Trong mục 2.1 một số phương án mở rộng biểu thức hàm pha West và Yennie từ vùng xung lượng truyền nhỏ (khi cả hai loại tương tác Coulomb và tương tác mạnh cùng tham gia và sự giao thoa giữa chúng) cho vùng xung lượng truyền lớn (vùng mà tương tác Coulomb bị bỏ qua ) dựa vào các số liệu thực nghiêm Ở đây đã chỉ ra những hạn chế và sự không chuẩn xác nếu chúng ta mở rộng công thức West và Yennie [15] một cách đơn giản Để khắc phục những bất cập này trong mục 2.2 trong mô hình eikonal hiện tượng luận dựa vào hệ thức giữa biên độ tán xạ và pha eikonal qua phép biến đổi Fourier – Bessel Mục 2.3 dành cho việc tính các giá trị trung bình các tham số va chạm trong mô hình này
2.1 Một số cách tiếp cận tán xạ nucleon trong các mô hình phi eikonal
Trong một số bài báo [20,10], biên độ tán xạ đầy đủ F C N ( , )s t thu được nhờ công thức chứa các pha chuẩn West và Yennie (WY) và biên độ tán xạ
Trang 17đàn hồi hadron F N( , )s t được xây dựng dựa trên cơ sở của một số ý tưởng hiện tượng luận chưa chuẩn từ hai công thức (1.19) và (1.20)
Ban đầu biên độ tán xạ hadron thu được từ (1.20) có vẻ đúng nếu chỉ theo công thức (1.19) Tuy nhiên điều này lại là không thể vì rằng nếu pha
( , )
WY s t
là thực với mọi giá trị của t như đã giả thiết trong [16] thì phần ảo
của biểu thức (1.19) phải bằng không:
2
0 4
Một câu hỏi nảy sinh là liệu phương trình này có nghiệm duy nhất hay không Và câu trả lời đã có Theo [47] thì phương trình (2.3) đã được chứng minh bằng giải tích rằng nó có nghiệm duy nhất điều đó có nghĩa rằng pha tán xạ hadron
Trang 18N( , )s t (2.4)
pha của biên độ tán xạ hadron là không phụ thuộc vào t trong toàn bộ vùng các biến động học các giá trị của |t| [47] Cũng có nghĩa là đại lượng ( , ) s t là hằng số
( , )
WY s t
Điều này cũng được củng cố khi thực hiện phép tính số xác định phần ảo của
Hình 2.1, vẽ đồ thị sự phụ thuộc vào t của pha biên độ tán xạ đàn hồi
hadron trong hai trường hợp khác nhau (tán xạ trung tâm (central) và tán xạ
ngoài (peripheral)) khi trong quá trình tán xạ pp ở mức năng lượng 53GeV
(xem [48])
Hình 2.2: Phần ảo WY( , )s t khác không của pha tương đối WY ứng với phép tính số
pha tán xạ hadron ở hình 2.1
Hình 2.1: Hai sự phụ thuộc khác nhau của
pha tán xạ hadron N( , )s t vào t:
Đướng thứ nhất (chấm gạch) dẫn đến
bức tranh tán xạ trung tâm của tán xạ
đàn hồi pp với năng lượng 53 GeV
Đường thứ hai (nét liền) đưa ra bức
tranh tán xạ ngoài
Trang 19Ở đường thứ nhất, đầu tiên pha tán xạ thay đổi rất nhanh (tiến đến /2)
khi – t ~ 1,4 GeV dẫn đến bức tranh tán xạ trung tâm của quá trình tán xạ đàn
hồi các hadron trong không gian các tham số va chạm Tương ứng với nó là
sự phụ thuộc của phần ảo pha tán xạ vào t được vẽ ở hình 2 (đường nét đứt) Tại vùng |t| nhỏ, phần ảo của pha tán xạ WY là khác không và do đó pha tán
xạ WY là số phức
Ở đường thứ 2, tán xạ ngoại vi (peripheral scattering) đàn hồi các
hadron, sự phụ thuộc vào t của pha tán xạ đàn hồi hadron N( , )s t bị giới hạn bởi điều kiện rộng hơn N( , )s t 2 , phần ảo tương ứng của pha này được vẽ
ở hình 2.2 (đường nét liền) Phần ảo trong trường hợp này dao động quanh giá
trị không ở các giá trị |t| nhỏ Trong trường hợp này pha tương đối WY cũng
là phức
Tuy nhiên mô hình hiện tượng luận cho tán xạ đàn hồi các nucleon năng lượng cao dựa theo các số liệu thực nghiệm tạm thời đã chỉ ra một cách thuyết phục rằng đại lượng ( , )s t là phụ thuộc vào t Vì thế, chúng ta có thể kết luận
rằng tích phân trong biểu thức (2.1) chưa đủ để mô tả quá trình tán xạ đàn hồi của các hadron
Mặc cho thực tế này thì một số tác giả vẫn thử mở rộng biểu thức của
biên độ tán xạ đầy đủ WY cho các vùng của t lớn hơn với bất kỳ biên độ tán
xạ đàn hồi hadron N( , )s t nào phụ thuộc vào t (có nghĩa là cả F N( , )s t và
cho pha tán xạ WY Điều này có thể làm được, [7], khi sự hiệu chỉnh dẫn đến dạng tích phân Gauss của thừa số dạng (form factor) điện từ và của biên độ tán xạ hadron Như vậy, thực tế là chỉ có sự lệch dạng của lũy thừa các biến
phụ thuộc vào t là đáng quan tâm Tuy nhiên, trong luận văn này cũng không
đề cập đến sự phụ thuộc của đại lượng ( , )s t vào t
Trang 20Một cách tiếp cận khác được sử dụng trong tài liệu [36] Ở đây hai giả thuyết được đưa ra rất tự nhiên nhưng lại rất chi tiết Đầu tiên, sử dụng công thức biểu diễn tham số va chạm cho biên độ tán xạ, nó không có giá trị ở năng lượng hữu hạn nhưng lại có nghĩa ở năng lượng vô hạn Tiếp theo, sử dụng sự
phụ thuộc vào t của thừa số dạng lưỡng cực biểu diễn sự đóng góp riêng của
các điện tích nucleon để khai triển thành 3 số hạng: hai số hạng là các số hạng gần đúng Born của pha tương đối đến bậc 2 và số hạng còn lại là bổ chính pha WY, các số hạng này chứa các biểu thức biên độ tán xạ phức hadron ở dạng tổng quát phức thu được bằng cách khai triển biểu thức tổng quát Kết quả của việc tính số hạng bổ chính của pha tương đối thực WY là phức Như vậy, pha tương đối trở thành phức và nó mất đi ý nghĩa vật lý
Như vậy, cả hai cách tiếp cận trên gần như không thể là công cụ thích hợp để mô tả sự ảnh hưởng chung của tán xạ Coulomb và hadron mà biểu hiện tổng quát sự phụ thuộc của độ lớn và pha của biên độ tán xạ đàn hồi vào
xung lương truyền t Điều này đòi hỏi cần phải đưa ra một mô hình mới phù
hợp hơn để mô tả quá trình tán xạ này đó chính là mô hình eikonal Trong phần tiếp theo, chúng tôi sẽ chứng minh mô hình eikonal là thích hợp và là lợi thế hơn so với các tiếp cận của West và Yennie để mô tả quá trình tán xạ đàn hồi các nucleon
2.2 Biên độ tán xạ các nucleon trong mô hình eikonal
Trong bài báo của Adachi và các cộng sự [42] đã chỉ ra rằng biên độ tán
xạ đàn hồi F N C ( , )s t có thể được liên hệ với biên độ tán xạ đàn hồi eikonal
Trang 21biên độ tán xạ F N C ( , )s t chỉ được xác định ở vùng hữu hạn của t Về mặt toán
học, khi sử dụng biến đổi Fourier - Besel (FB) thì sẽ tồn tại biến đổi FB ngược Điều đó dẫn đến các giá trị của biên đội tán xạ rơi vào vùng không có
ý nghĩa vật lý, nơi mà biên độ tán xạ đàn hồi các hadron là không xác định [42] Vấn đề này đã được giải quyết nhờ Islam[29, 30] dựa trên tính liên tục giải tích của biên độ tán xạ đàn hồi các hadronF N( , )s t từ vùng của t không có
ý nghĩa vật lý đến vùng có ý nghĩa vật lý Khi đó biên độ tán xạ đàn hồi hadron trong không gian các tham số va chạm sẽ gồm hai số hạng:
Trang 22Biên độ tán xạ đàn hồi eikonal đầy đủ F C N ( , )s b có thể được biểu diễn như là tổng của hai biên độ tán xạ eikonal Coulomb F C( , )s b và tán xạ eikonal hadron F N( , )s b ở cùng một giá trị của tham số va chạm:
của s và t, đồng thời chỉ chứa các số hạng tuyến tính của hằng số cấu trúc :
N N p
| | ( ) 1
Trang 23Thay thế các đại lượng B và độc lập với t bằng các đại lượng phụ thuộc vào t được xác định bởi biểu thức:
( , ) ln 2 ( , )
( , )
N
N N
Các hệ số dạng f t1( ) và f t2( )phản ánh cấu trúc điện từ của các nucleon
va chạm và tạo nên một phần biên độ của tán xạ Coulomb từ lúc bắt đầu tương tác Do tích phân theo các biến động học được lấy trong vùng xác định
của t ở phương trình (2.12) nên sự tham số hóa thực tế mô tả cấu trúc điện từ của proton trong vùng lớn nhất có thể của t Đó là lý do vì sao thay cho việc
sử dụng hệ số dạng lưỡng cực như đã làm trong phương trình ở phần chú thích 1
(công thức (2.10b)) thì chúng ta có thể sử dụng một công thức thích hợp hơn [11,12]:
4 1
1
k j
với các giá trị của tham số g k và k được lấy từ [12], giá trị tái chuẩn hóa của
nó được cho trong bảng 1
g k 0,0301 0,8018 -1,0882 0,2642
k 0,1375 0,5848 1,7164 6,0042 Dạng của các hệ số dạng cho phép tính toán giải tích tích phân trong (2.13):
Trang 242 2
,
' '
j j
nó được cho bởi công thức Rosenbluth [32] (trong trao đổi một photon):
Trang 25Ở đây d (E0, )NS
d
là tiết diện tán xạ đàn hồi giữa một electron Dirac và một
proton tích điện khối lượng m (cả hai hạt đều coi là hạt điểm) với năng lượng
tới E 0 và góc tán xạ (trong gần đúng Born) Công thức chứa hệ số dạng
Sự phụ thuộc vào t của hệ số dạng điện đã được mô tả gần đúng theo
kinh nghiệm bằng cách đưa ra một lưỡng cực để fit phương trình (2.10b):
tiết diện tán xạ vi phân Rosenbluth với hai hệ số dạng đều phụ thuộc vào t và
được tham số hóa theo công thức Borkowski (2.17) Cách tốt nhất khi sử dụng
4 lưỡng cực để fit 3 tham số đã chỉ ra rằng các hệ số dạng điện và từ của proton có giá trị khác nhau và có sự sai khác so với phương trình (2.26) (xem bảng 4 tài liệu [12]) Kết quả của việc fit các số liệu thực nghiệm đã chỉ ra rằng tiết diện tán xạ vi phân đàn hồi được mô tả theo hệ số dạng điện Borkowski là lớn hơn nhiều so với mô tả bằng hệ số dạng lưỡng cực Thực tế thì kết luận này củng cố các kết luận tương tự của các tài liệu [16,19] với độ
sai lệch của tỉ số ( )
( )
E D
Trang 26hợp lý đã đưa ra được hệ số dạng từ quá trình tán xạ đàn hồi ep, từ đó suy ra
hệ số dạng của quá trình tán xạ đàn hồi pp
Khi biên độ tán xạ Coulomb trong công thức (1.13) là xác định thì biên
độ tán xạ đầy đủ chỉ còn phụ thuộc vào biên độ tán xạ hadron F N( , )s t Trong cách tiếp cận khác của WY, phương trình (2.11) cho xác định được biên độ tán xạ đầy đủ F C N ( , )s t với bất kỳ biên độ tán xạ đàn hồi hadron nào F N( , )s t
phụ thuộc vào t trong vùng xác định của t Sự khác nhau giữa hai cách tiếp
cận này đã được mô tả đầy đủ trong tài liệu [47, 48] Một phần sự khác nhau
này được minh họa trong trường hợp tán xạ đàn hồi pp ở năng lượng 53 GeV
d ( , )s t 2 F C N( , )s t 2
(2.27)
Thứ hai, chúng ta có thể lý giải lại về mặt hiện tượng sự phụ thuộc vào t
của biên độ tán xạ đàn hồi các hadronF N( , )s t ở giá trị s xác định và mọi giá trị đo được của t bằng cách fit lại số liệu thực nghiêm về tiết diện tán xạ vi
phân theo công thức (2.27) và (2.11) Điều cốt yếu ở đây là sự phù hợp của phép tham số hóa biên độ tán xạ hadron F N( , )s t
Trang 272.3 Giá trị trung bình của các tham số va chạm
Cách tiếp cận eikonal mang đến khả năng xác định giá trị trung bình của các tham số va chạm cho mỗi loại tương tác khác nhau Các đại lượng này có thể đặc trưng cho một dải các lực ứng với tán xạ đàn hồi, không đàn hồi và toàn phần Nếu điều kiện unita và định lý quang được sử dụng tính giá trị trung bình bình phương của các tham số va chạm cho mỗi loại tương tác khác
nhau một cách trực tiếp từ sự phụ thuộc vào t của biên độ tán xạ đàn hồi
cả hai số hạng này đều dương
Giá trị trung bình bình phương toàn phần (cho tất cả các quá trình va chạm) có thể được xác định theo công thức của định lý quang [50]:
2( ) 2 ( ,0)
tot
b s B s , (2.29) với hệ số nhiễu xạ B s t( , ) đã được xác định trong phương trình (2.14)
Theo tính chất unita của phương trình lấy trung bình của giá trị trung bình bình phương sẽ được liên hệ với giá trị trung bình bình phương đàn hồi bởi biểu thức:
Trang 28Tất cả các công thức đưa ra ở trên tạo nên hệ thống các công thức mà nó
sẽ được sử dụng để thu được các dự đoán cho các cách tiếp cận hiện tượng luận khác nhau khi nghiên cứu quá trình tán xạ của các nucleon này
Trang 29CHƯƠNG 3:
CÁC DỮ LIỆU THỰC NGHIỆM VỀ THAM SỐ VA CHẠM CHO TÁN
XẠ PROTON – PROTON TRONG MÔ HÌNH HIỆN TƯỢNG LUẬN
Các giả thuyết về độ lệch quỹ đạo để đưa ra công thức đơn giản của West và Yennie sẽ được phân tích dựa trên biên độ tán xạ eikonal đầy đủ Trong mục 3.1 các đặc trưng cho tán xạ proton-proton được giới thiệu vắn tắt Mục 3.2 mô hình eikonal hiện tượng luận được áp dụng để phân tích các dữ
liệu tán xạ đàn hồi pp ở năng lượng 53 GeV
3.1 Tán xạ đàn hồi pp và các đặc trưng của nó
Trong nhiều năm trước đây, rất nhiều mô hình hiện tượng luận mô tả va chạm năng lượng cao của các nucleon đã được xây dựng với độ phức tạp khác nhau Phần nhiều trong số đều sử dụng cách tiếp cận eikonal đơn giản ví dụ như mô hình của Bourelly, Soffer và Wu [8] Trong các mô hình khác các nucleon lại được giả định gồm có một nhân trung tâm và xung quanh là các mây meson [31 ] hoặc là một chuỗi các tương tác của các parton và sự mô tả
va chạm các hadron theo phương pháp tán xạ Glauber [41, 21] Sự đóng góp của 3 pomeron đã được xem xét trong tài liệu [52, 53] Một lớp các cách tiếp cận khác lại bắt đầu từ cấu trúc nucleon và đồng nhất các parton là các quark
và gluon, sự tán xạ hadron được mô tả như là tổng các trao đổi pomeron hoặc gluon [4] hoặc là tán xạ bán phần của quark và gluon [7,22,27,28] Một số cách khác lại thử mô tả quá trình tán xạ nhiễu xạ nucleon – nucleon năng lượng cao trong khuôn khổ lý thuyết QCD không nhiễu loạn và sử dụng mô hình chân không ngẫu nhiên [17,33]
Trang 30Tất cả các mô hình được xem xét trên đây đều được đặc trưng bởi một số tính chất được tổng quát hóa như sau:
1 Tất cả các phần ảo của biên độ tán xạ đàn hồi hadron đều được lấy ở phần ngoài của dải khá rộng của xung lượng truyền xung quanh tán
xạ trước và nó sẽ biến mất ở vùng cực tiểu nhiễu loạn Việc đưa ra vùng ngoài của tán xạ phải thỏa mãn định lý về tiệm cận năng lượng Tuy nhiên trong thực tế thì năng lượng tiệm cận ở rất gần vùng tán xạ trước
2 Phần thực của biên độ tán xạ đàn hồi các hadron thường là giảm từ
giá trị dương khi t=0 đến giá trị âm khi |t| nhỏ và đưa tiết diện tán xạ
vi phân vào vùng cực tiểu nhiễu xạ
3 Sử dụng biểu diễn eikonal hoặc tham số va chạm sẽ làm cho biên độ tán xạ trở nên hữu hạn ở năng lượng vô hạn Chỉ trong trương hợp
này các vùng vật lý của biến t là không bị giới hạn ở dưới, tức là
t , để thỏa mãn đòi hỏi của phép biến đổi FB Tuy nhiên, ở
năng lượng hữu hạn, trong các vùng vật lý của biến t lại bị giới hạn
dưới để đảm bảo sự đúng đắn toán học của phép biến đổi FB cũng
như trong vùng không có ý nghĩa vật lý của t Trong trường hợp này
ảnh của phép biến đổi Fourier Bessel cho biên độ tán xạ dao động ở các giá trị tham số va chạm cao [42,29,30]
4 Giả thiết động lực học chung: Sự đóng góp vào biên độ tán xạ của vật chất hadron là gần giống với đóng góp của hadron tích điện ở bên trong
5 Biên độ tán xạ đàn hồi đã được tính bằng giải tích, đơn trị và thoả mãn tính đối xứng và điều kiên biên Froissart–Martin [24, 40]
6 Trong các mô hình QCD các tính chất của biên độ tán xạ nucleon đều dựa trên mức độ hadron để suy ra một cách đơn giản biên độ của các
Trang 31mức quark Sự phụ thụộc của năng lượng, các tham số va chạm đều được hệ số hóa
7 Ảnh hưởng của cả tán xạ Coulomb và tán xạ đàn hồi hadron không được phản ánh đúng trong một số tài liệu Biên độ tán xạ đàn hồi đầy
đủ đã được West và Yennie thay thế bằng biên độ tán xạ mới không thỏa mãn đầy đủ các các giả thiết đã đưa ra ở trên
Tất cả các mô hình đã đề cập đều giúp chúng ta nghiên cứu sự phụ thuộc năng lượng vào các tiết diện tán xạ vi phân trong từng quá trình tán xạ cụ thể
3.2 Dữ liệu về tham số va chạm cho quá trình tán xạ pp ở 53 GeV
Dựa trên các kết quả phân tích số liệu của tán xạ đàn hồi pp ở năng
lương 53GeV tại ISR (Intersecting Storage Rings, a particle collider at CERN) [18] và dựa vào cách tiếp cận eikonal, mục này đưa ra các kết quả dữ liệu và tính số các tham số va chạm
Sử dụng các công thức (2.11), (2.13) cho biên độ tán xạ đàn hồi đầy đủ
del CN
(3.1)
Độ lớn và pha của biên độ tán xạ này được tham số hóa theo phương trình
(2.2) để mô tả quá trình tán xạ đàn hồi pp trung tâm cũng như tán xạ ngoài
Trong khi sự phụ thuộc của độ lớn biên độ vào là hoàn toàn rõ ràng được xác định từ các dữ liệu thực nghiệm thì pha của biên độ chỉ bị ràng buộc một phần Cả hai quá trình tán xạ có thể được lựa chọn (trung tâm và ngoài) đều
đã được trình bày trong tài liệu [18] Sự phụ thuộc của pha biên độ tán xạ hadron N( , )s t đã được chỉ ra trong hình 2.1
Một khi mà biên độ tán xạ đàn hồi các hadron F N( , )s t được xác định thì
nó có thể suy ra được các dữ liệu tương ứng về các tham số va chạm cũng như