Người được Nhà nước giao đất, cho thuê đất còn có trách nhiệm: Hỗ trợ chi phí đào tạo cho những lao động nông nghiệp phải chuyển làm nghề khác do bị thu hồi đất và nếu có nhu cầu tuyển d
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
Đỗ Thị Kim Quý
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ CHUYỂN ĐỔI NGHỀ VÀ TẠO VIỆC LÀM KHI THU HỒI ĐẤT NÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÕNG
Chuyên ngành: Quản lý đất đai
Mã số: 60.85.01.03
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS TRẦN VĂN TUẤN
Hà Nội - 2013
Trang 2MỤC LỤC
Trang
Chương 1 : TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ VỀ THU HỒI ĐẤT NÔNG
NGHIỆP VÀ CÁC CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ CHUYỂN ĐỔI NGHÈ VÀ TẠO
VIỆC LÀM CHO NGƯỜI CÓ ĐẤT NÔNG NGHIỆP KHI THU HỒI 4
1.1 Vấn đề thu hồi đất nông nghiệp trong quá trình công nghiệp hoá,
đô thị hoá ở Việt Nam
4
1.1.1 Công nghiệp hóa, đô thị hóa và sự cần thiết phải thu hồi đất 4
1.1.2 Sự cần thiết tạo việc làm cho lao động thuộc diện bị thu hồi đất
nông nghiệp do quá trình đô thị hóa
8
1.1.3 Khái quát chung về thực trạng thu hồi đất nông nghiệp phục vụ
CNH, HĐH và đô thị hóa ở Việt Nam
9
1.2 Khái quát sự thay đổi về chính sách thu hồi, bồi thường đất nông
nghiệp và hỗ trợ, tạo việc làm, cải thiện đời sống cho người có đất
nông nghiệp bị thu hồi từ khi có Luật đất đai 1993 đến nay
11
1.2.1 Chính sách thu hồi, bồi thường đất nông nghiệp và hỗ trợ
chuyển đổi nghề, tạo việc làm ở Việt Nam qua các thời kỳ
11
1.2.2 Chính sách dạy nghề, học nghề, giải quyết việc làm khi thu hồi
đất nông nghiệp
17
1.3 Nội dung chính sách hiện hành của Chính phủ về hỗ trợ chuyển
đổi nghề, tạo việc làm khi thu hồi đất nông nghiệp
23
Chương 2: PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG HỖ TRỢ CHUYỂN ĐỔI
NGHỀ VÀ TẠO VIỆC LÀM CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG KHI THU
HỒI ĐẤT NÔNG NGHIỆP Ở QUẬN LÊ CHÂN
26
2.2 Phương hướng phát triển kinh tế và nhu cầu chuyển đổi nghề, tạo
việc làm trên địa bàn quận Lê Chân giai đoạn 2011-2015
36
Trang 32.3 Tình hình thu hồi đất nông nghiệp tại quận Lê Chân giai đoạn
2007-2012
37
2.4 Thực trạng việc làm của người lao động thuộc diện khi thu hồi đất
nông nghiệp ở quận Lê Chân giai đoạn 2007-2012
42
2.5 Thực trạng công tác hỗ trợ chuyển đổi nghề tạo việc làm cho người
lao động bị thu hồi đất nông nghiệp
Chương 3: ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO
HIỆU QUẢ CHUYỂN ĐỔI NGHỀ VÀ TẠO VIỆC LÀM CHO LAO
ĐỘNG THUỘC DIỆN THU HỒI ĐẤT NÔNG NGHIỆP Ở QUẬN LÊ
CHÂN
62
3.1 Các quan điểm về tạo việc làm cho người lao động khi thu hồi đất
nông nghiệp do quá trình đô thị hóa ở quận Lê Chân
62
3.2.2.Giải pháp quy hoạch (đất dịch vụ tạo tiền điều kiện về việc làm) 67
3.2.3 Giải pháp tài chính tín dụng (huy động các nguồn vay vốn để
đầu tư sản xuất kinh doanh tạo việc làm)
Trang 4thống trên địa bàn quận
Trang 5DANH MỤC BẢNG
Bảng 1: Tình hình thu hồi đất ở một số địa phương trên cả nước……… 10
Bảng 2.1: Giá trị SX các ngành của quận Lê Chân năm 2011 33
Bảng 2.2: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế của quận Lê Chân qua các năm 33
Bảng2.3: Diện tích và cơ cấu các loại đất của quận Lê Chân năm 2011 …… 36
Bảng2.4: Diện tích và cơ cấu đất nông nghiệp quận Lê Chân năm 2011 …… 37
Bảng2.5: Biến động các loại đất của quận Lê Chân giai đoạn 2006-2011… 38
Bảng2.6: Một số dự án đầu tư trọng điểm trên địa bàn quận …… 42
Bảng2.7:Tình hình thu hồi đất GPMB tại một số dự án trên địa bàn quận 45
Bảng2.8:Tình hình việc làm của lao động trong diện bị thu hồi đất 49
Bảng2.9:Việc làm trước và sau khi diễn ra việc thu hồi đất của lao động 53
Bảng2.10:Tổng hợp các hộ mất đất từ ngày 01/01/2010-30/9/2011 55
Bảng2.11:Hỗ trợ chuyển đổi nghề, tạo việc làm cho các hộ mất đất trên 30% 57
Bảng2.12:Tình hình hỗ trợ đền bù và thực trạng đời sống của các hộ 58
Bảng2.13:Tỷ lệ người lao động rợ giúp sau khi thu hồi đất 59
Bảng2.14:Kết quả đăng ký dạy nghề năm 2011 tai quận 61
Bảng2.15:Khu vực làm việc trước và sau khi diễn ra việc thu hồi đất 64
Bảng2.16:Tình hình tuyển dụng lao động nông nghiệp trên địa bàn quận 65
Bảng2.17:Mục đích sử dụng tiền đền bù khi thu hồi đất của các hộ gia đình 67
PHIẾU ĐIỀU TRA
Phát phiếu điều tra 100 phiếu tới các hộ dân nhưng thu về được 55 phiếu
Dự án PTGT phát 33 phiếu thu về 16 phiếu
Mương An Kim Hải phát 20 phiếu thu về 10 phiếu
Làng Việt Kiều phát 47 phiếu thu về 29 phiếu
Trang 6DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Trang 7ĐẶT VẤN ĐỀ
1 Tính cấp thiết của đề tài
Quá trình đô thị hoá đã và đang diễn ra mạnh mẽ trên phạm vi cả nước nói chung và Hải Phòng nói riêng Ở tầm vĩ mô, một mặt đô thị hoá là một trong những giải pháp quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội theo hướng chuyển dịch
cơ cấu kinh tế đáp ứng mục tiêu công nghiệp hoá, hiện đại hoá: phát triển mạnh các ngành công nghiệp và thương mai – dịch vụ mà Đảng và Nhà nước đã đề ra trong giai đoạn từ nay đến năm 2020 Mặt khác đô thị hoá cũng là một trong những chỉ tiêu quan trọng phản ánh sự phát triển của một đất nước Tuy nhiên bên cạnh những tác động tích cực, vẫn còn có không ít những bất cập, tồn tại đặt ra cần phải giải quyết, đặc biệt
là vấn đề lao động - việc làm đối với một bộ phận lớn dân cư nông thôn bị rơi vào tình trạng thất nghiệp và thiếu việc làm khi bị thu hồi đất đai phục vụ mục tiêu đô thị hoá, phát triển đô thị
Hải Phòng là một trong những thành phố có tốc độ đô thị hoá thuộc loại nhanh Điều này được thể hiện qua sự mở rộng phạm vi địa giới và sự tăng trưởng về số lượng các khu công nghiệp tập trung, cụm công nghiệp vừa và nhỏ, các khu đô thị mới
Quận Lê Chân là một quận nội thành của thành phố Hải Phòng, có tốc độ đô thị hoá nhanh với khoảng 37 dự án đầu tư trong giai đoạn từ năm 2000 đến nay (tính đến 28/12/2012), trong đó phần lớn là cho mục đích phát triển xây dựng khu chung cư, nhà trẻ, trường học, chợ dân sinh, khu công nghiệp và nhiều ngành nghề khác với tổng diện tích đất thu hồi hàng trăm ha Đi cùng những dự án, hạ tầng kĩ thuật và hạ tầng xã hội ở các khu vực dân cư xung quanh vùng quy hoạch cũng được cải tạo và nâng cấp đồng bộ Đời sống của người dân có nhiều thay đổi theo chiều hướng tích cực, hạ tầng
cơ sở và hệ thống y tế, giáo dục, giao thông ngày càng được cải thiện hơn Tuy nhiên, bên cạnh những tác động của đô thị hoá đối với đời sống kinh tế - xã hội nói chung, không thể không đề cập tới những tác động của nó đối với vấn đề lao động - việc làm
Cùng với quá trình đô thị hoá là xu hướng diện tích đất nông nghiệp của quận bị thu hẹp lại và cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng giảm tỷ trọng nông nghiệp đã tất yếu dẫn đến việc chuyển đổi cơ cấu lao động và việc làm của người dân, ảnh hưởng đến thu nhập và đời sống của họ Vấn đề đặt ra ở đây là cơ cấu lao động và việc làm của người dân bị thu hồi đất nông nghiệp đã chuyển đổi như thế nào? Nhà nước đã có những chính sách, giải pháp gì để hỗ trợ chuyển đổi nghề và tạo việc làm cho người dân bị mất đất? Về những điểm này, đề tài luận văn sẽ tập trung đi sâu nghiên cứu, phân tích và lý giải Để từ đó đưa ra các giải pháp và đề
Trang 8nghị phù hợp nhằm tạo việc làm, giúp cho việc chuyển đổi việc làm đạt hiệu quả cao tại quận Lê Chân
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Đánh giá thực trạng thực hiện chính sách hỗ trợ chuyển đổi nghề và tạo việc làm cho lao động bị thu hồi đất nông nghiệp trên địa bàn quận Lê Chân giai đoạn 2007-2012
- Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả chuyển đổi nghề và tạo việc làm cho lao động thuộc diện thu hồi đất nông nghiệp ở quận Lê Chân
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tổng quan một số vấn đề về thu hồi đất nông nghiệp và các chính sách giải quyết việc làm cho người có đất nông nghiệp bị thu hồi
- Điều tra, khảo sát làm rõ thực trạ ng việc làm của lao động trong các gia đình
có đất nông nghiệp bị thu hồi và tình hình thực hiện chính sách chuyển đổi nghề, tạo việc làm trên địa bàn quận Lê Chân
- Đề xuất một số giải pháp góp phần cải thiện đời sống, việc làm cho người có đất nông nghiệp bị thu hồi
4 Phạm vi nghiên cứu:
Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng công tác chuyển đổi nghề, tạo việc làm cho người có đất nông nghiệp bị thu hồi trên địa bàn quận Lê Chân trong giai đoạn
2007 – 2012 và tập trung vào 03 dự án nghiên cứu điểm (Dự án phát triển giao thông
đô thị trên địa bàn phường Vĩnh Niệm, Dự án Cải tạo Kênh An Kim Hải trên địa bàn
phường Nghĩa Xá, Dự án Xây dựng Làng Việt Kiều trên địa bàn phường Niệm Nghĩa)
5 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp tiếp cận hệ thống: Vấn đề nghiên cứu được đặt trong mối quan hệ
tổng quan, được tiếp cận từ nhiều phía; cụ thể là tiếp cận từ tổng thể tới chi tiết; từ lý luận, phương pháp luận tới thực tiễn; từ chính sách, pháp luật tới thực tế triển khai thực hiện chính sách và thi hành pháp luật
- Phương pháp điều tra, khảo sát thực tế: Thực hiện điều tra thực tế bằng
phương pháp sử dụng phiếu điều tra và phỏng vấn trực tiếp các đối tượng liên quan tới vấn đề nghiên cứu: các hộ dân có đất nông nghiệp bị thu hồi tại một số dự án
- Phương pháp so sánh: So sánh làm rõ thực trạng giải quyết việc làm trước và
Trang 9sau khi thu hồi đất nông nghiệp của các hộ dân tại một số dự án trên địa bàn quận Lê Chân
- Phương pháp kế thừa: Thu thập tài liệu nghiên cứu trong và ngoài nước có liên
quan; khảo cứu tài liệu và kế thừa có chọn lọc các kết quả nghiên cứu của các chương trình, công trình, đề tài khoa học có liên quan tới vấn đề nghiên cứu
- Phương pháp phân tích: Phân tích làm rõ thực trạng công tác hỗ trợ chuyển đổi
nghề, tạo việc làm cho người lao động thuộc diện thu hồi đấ t nông nghiệp ở quận Lê Chân, từ đó đưa ra các giải pháp
- Phương pháp chuyên gia: Tham vấn, trưng cầu ý kiến các nhà khoa học, các
chuyên gia có kiến thức và kinh nghiệm trong lĩnh vực nghiên cứu thông qua đối thoại
trực tiếp, góp ý hoặc phản biện kết quả nghiên cứu
6 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, nội dung luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Tổng quan một các vấn đề về thu hồi đất nông nghiệp và các chính
sách hỗ trợ, giải quyết việc làm cho người có đất nông nghiệp bị thu hồi
Chương 2: Phân tích thực trạng hỗ trợ chuyển đổi nghề và tạo việc làm ch o người lao động thuộc diện thu hồi đất nông nghiệp ở quận Lê Chân
Chương 3: Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả chuyể n đổi nghề
và tạo việc làm cho lao động thuộc diện thu hồi đất nông nghiệp ở quận Lê Chân
CHƯƠNG 1
Trang 10TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ VỀ THU HỒI ĐẤT NÔNG NGHIỆP VÀ CÁC CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ CHUYỂN ĐỔI NGHỀ VÀ TẠO VIỆC LÀM CHO
NGƯỜI CÓ ĐẤT NÔNG NGHIỆP KHI THU HỒI
1.1 Vấn đề thu hồi đất nông nghiệp trong quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa ở Việt Nam
1.1.1 Công nghiệp hoá, đô thị hoá và sự cần thiết phải thu hồi đất
a Một số khái niệm có liên quan đến thu hồi đất, bồi thường khi thu hồi đất
Theo từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam 1996 thì “Bồi thường là đền bù
những tổn hại đã gây ra, trả lại tương xứng với giá trị hoặc công lao Như vậy, bồi thường là trả lại tương xứng với giá trị hoặc công lao cho một chủ thể nào đó bị thiệt hại vì hành vi của chủ thể khác” [1]
Theo Luật Đất đai năm 2003, các khái niệm có liên quan đến thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ khi thu hồi đất được định nghĩa như sau:
Thu hồi đất là việc Nhà nước ra quyết định hành chính để thu lại quyền sử dụng đất
hoặc thu lại đất đã giao cho tổ chức, UBND xã, phường, thị trấn quản lý
Bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước trả lại giá trị quyền sử
dụng đất đối với diện tích đất bị thu hồi cho người bị thu hồi đất
Hỗ trợ khi nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước giúp đỡ người bị thu hồi đất
thông qua đào tạo nghề mới, bố trí việc làm mới, cấp kinh phí để di dời đến địa điểm mới
Giá trị quyền sử dụng đất là giá trị bằng tiền của quyền sử dụng đất đối với một
diện tích đất xác định trong thời hạn sử dụng đất xác định [14]
Trong bồi thường, hỗ trợ đất nông nghiệp, khi Nhà nước thu hồi đất của nông
hộ thì Nhà nước phải tính toán “bồi thường” tiền cho người dân một khoản tương ứng
và phù hợp với giá trị hiện tại của mảnh đất đó Ngoài ra khi thu hồi đất thì người nông dân không có việc làm do mất tư liệu sản xuất, Nhà nước tiếp tục tính toán “bù” thêm một khoản cho người nông dân chuyển đổi nghề mới, tạo việc làm và ổn định cuộc sống
Nội dung của các khoản tiền bồi thường, hỗ trợ khi thu hồi đất nông nghiệp gồm:
- Tiền bồi thường đất: Là khoản tiền bồi thường cho hộ do bị mất tư liệu sản
xuất, cụ thể ở đây là đất nông nghiệp
Trang 11- Tiền bồi thường hoa mầu: Là khoản tiền bồi thường do việc thu hồi đất làm
thiệt hại đến hoa mầu chưa được thu hoạch trên diện tích thu hồi Mức bồi thường đối với cây hàng năm tính bằng giá trị sản lượng thu hoạch một vụ tính theo mức thu hoạch bình quân của ba vụ trước đó theo giá nông sản thực tế ở thị trường địa phương tại thời điểm bồi thường
- Tiền hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp
- Tiền hỗ trợ ổn định đời sống và ổn định sản xuất
Các khoản hỗ trợ này nhằm mục đích giúp đỡ phần nào cho người dân sau khi mất đất chuyển đổi nghề nghiệp, ổn định cuộc sống và ổn định sản xuất, giảm bớt những gắng nặng kinh tế Không nhằm mục đích giải quyết toàn bộ kinh phí chuyển đổi nghề nghiệp và ổn định sản xuất cho nông hộ, vì các khoản hỗ trợ này không nhiều
và chỉ mang tính chất hỗ trợ
b Quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá và đô thị hoá ở Việt Nam
CNH - HĐH và đô thị hoá là con đường phát triển của mọi quốc gia trên thế giới Trong thời đại khoa học - công nghệ phát triển nhanh, thì CNH - HĐH và đô thị hoá là con đường giúp cho các nước chậm phát triển rút ngắn thời gian so với các nước
đi trước
Thực tiễn phát triển của nhiều quốc gia trong những năm gần đây cho thấy, CNH - HĐH và đô thị hoá là nhân tố quyết định làm thay đổi căn bản phương thức sản xuất, chuyển nền kinh tế từ sản xuất nông nghiệp truyền thống, tiểu nông sang phương thức sản xuất mới, hiện đại, do đó cũng làm thay đổi nội dung kinh tế - xã hội nông thôn Trong nền kinh tế hiện đại, CNH - HĐH và đô thị hoá có sự gắn bó chặt chẽ với nhau, tạo thành một tiến trình thống nhất thúc đẩy sự phát triển kinh tế, xã hội
Trong quá trình CNH - HĐH, tiến trình phát triển xã hội đã có sự thay đổi cơ bản đó là: Phát triển đô thị kèm theo sự thu hẹp xã hội nông thôn, làm thay đổi căn bản
xã hội nông thôn theo hướng công nghiệp Hiện tượng đô thị hoá được xem như là một trong những nét đặc trưng nhất của sự biến đổi xã hội trong thời đại ngày nay Cùng với quá trình đô thị hoá, công nghiệp hoá được xem như một khía cạnh quan trọng của
sự vận động đi lên của xã hội Đô thị hoá là một quá trình lịch sử trong đó nổi lên một vấn đề kinh tế - xã hội là nâng cao vai trò của đô thị trong sự phát triển mọi mặt của xã hội Quá trình này bao gồm sự thay đổi trong phân bố lực lượng sản xuất, trước hết là
Trang 12trong sự phân bố dân cư, trong kết cấu nghề nghiệp - xã hội, kết cấu dân số, trong lối sống, văn hoá [12]
Tuy nhiên, bên cạnh những mặt thuận lợi đối với sản xuất và đời sống con người, sự phát triển nhanh chóng của các đô thị cũng là nguyên nhân chính gây ảnh hưởng đến cân bằng sinh thái do tài nguyên đất bị khai thác để xây dựng đô thị, giảm diện tích cây xanh và mặt nước, bùng nổ giao thông cơ giới Cùng với đó là sự gia tăng khối lượng khai thác và sử dụng nguồn nước sạch, mức độ ô nhiễm các chất thải công nghiệp và sinh hoạt ngày càng một lớn Ngoài ra, sự gia tăng dòng người di dân từ nông thôn ra đô thị cũng gây nên những áp lực đáng kể về nhà ở và vệ sinh môi trường,…
Đối với nước ta, từ một nền kinh tế nông nghiệp truyền thống muốn trở thành nước có nền công nghiệp hiện đại, cần phải đẩy mạnh quá trình CNH - HĐH đất nước,
đó là con đường để sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân Cũng như ở các quốc gia khác, CNH - HĐH ở nước ta tất yếu kéo theo quá trình đô thị hoá Tốc độ công nghiệp hoá càng nhanh sẽ dẫn đến trình độ đô thị hoá càng cao Đô thị hoá và sự hình thành các đô thị hiện đại là một trong những chỉ tiêu cơ bản phản ánh trình độ hiện đại hoá Về thực chất, CNH - HĐH và đô thị hoá là quá trình cơ cấu lại nền kinh tế theo hướng phát triển mạnh khu vực công nghiệp, dịch vụ, giảm mạnh lao động nông nghiệp Như vậy, phần lớn lao động nông thôn làm nông nghiệp sẽ phải chuyển sang làm phi nông nghiệp, dân sống ở nông thôn trở thành dân thành thị
Đến nay, tốc độ CNH - HĐH và đô thị hoá ở Việt Nam đã và đang được đẩy mạnh, nhưng so với thế giới Việt Nam vẫn ở mức thấp Theo báo cáo thống kê của Liên Hợp Quốc, các nước công nghiệp phát triển cho thấy trình độ, đô thị hoá của nước ta thấp hơn nhiều và năm 2009 mức thu nhập bình quân tính theo đầu người xếp 138/193 nước Mức thu nhập bình quân đầu người năm 2010 của Việt Nam cũng mới chỉ đạt khoảng 1.160 USD/người/năm Trong khi đó ở các nước có nền kinh tế công nghiệp mới đã có mức thu nhập quốc dân bình quân đầu người cao hơn gấp 5 đến 24 lần, các nước tư bản cao hơn gấp 60 đến 80 lần [13]
Trước tình hình trên, Việt Nam cần phải đẩy mạnh hơn nữa quá trình CNH - HĐH
và đô thị hóa, đó là một yêu cầu khách quan và cấp bách của sự phát triển Trên thực tế,
Trang 13đối với nước ta quá trình CNH - HĐH và đô thị hoá đang diễn ra với quy mô lớn và tốc độ nhanh, góp phần quan trọng phát triển các cơ sở sản xuất, kinh doanh và dịch vụ nhất là doanh nghiệp ngoài quốc doanh, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các trung tâm thương mại và dịch vụ là yếu tố quan trọng duy trì tăng trưởng kinh tế ở mức cao, tạo việc làm ở các khu vực chính với chất lượng công việc và giá trị lao động ngày càng cao
c Sự cần thiết phải chuyển đổi mục đích sử dụng đất để thực hiện công nghiệp hoá và đô thị hóa ở nước ta
Việc thu hồi đất để xây dựng các KCN, khu đô thị, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội ở nước ta được tiến hành mạnh mẽ từ khi thực hiện đường lối đổi mới, chuyển nền kinh tế từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Quá trình này được thúc đẩy nhanh hơn từ năm 1996, khi nền kinh tế nước ta bước vào giai đoạn đẩy mạnh CNH - HĐH Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX
đã xác định rõ: Đẩy mạnh CNH - HĐH, xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ,…tạo nền
tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại [19]
Cùng với CNH - HĐH nền kinh tế, nhiệm vụ xây dựng đồng bộ và từng bước hiện đại hoá hệ thống kết cấu hạ tầng được đặt ra một cách cấp thiết Tiến trình CNH - HĐH ở nước ta từ những năm 1990 được gắn liền với đô thị hoá cả về chiều rộng và chiều sâu Chiến lược phát triển đô thị Việt Nam thời kỳ 1996 - 2020 xác định mục tiêu phát triển đô thị cả nước đến năm 2020 là: Xây dựng tương đối hoàn chỉnh đô thị
cả nước, có kết cấu hạ tầng kinh tế kỹ thuật hiện đại, có môi trường đô thị trong sạch, được phân bổ phát triển hợp lý trên địa bàn cả nước,… phấn đấu đến năm 2020, dân số
đô thị chiếm khoảng 45% dân số cả nước [13]
Việc thu hồi đất nông nghiệp ở nước ta trong những năm gần đây gắn với sự chuyển đổi mục đích sử dụng sang các loại đất phi nông nghiệp Nhờ đó đã xây dựng được nhiều KCN, các cụm công nghiệp, mở rộng và xây dựng mới các khu đô thị, hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội giao thông, cấp điện, cấp thoát nước, thông tin liên lạc, trường học, bệnh viện,… hoàn thiện và phát triển các cơ sở dịch vụ như khách sạn, nhà hàng, siêu thị, trung tâm thương mại, trung tâm dịch vụ, du lịch; mở rộng và xây dựng mới các khu vui chơi giải trí, công viên, cây xanh,… chính điều đó làm cho quá trình CNH - HĐH có bước tiến đáng kể, quá trình đô thị hoá diễn ra mạnh mẽ hơn
Trang 14Tóm lại, nếu CNH - HĐH và đô thị hoá là tất yếu khách quan đối với nước ta
thì việc thu hồi đất để phục vụ cho quá trình này là vấn đề có ý nghĩa quan trọng Vì vậy, trong quá trình CNH - HĐH, bất cứ nước nào cũng phải chuyển đổi một số lượng đất đai từ mục đích nông nghiệp sang mục đích phi nông nghiệp để phục vụ cho việc phát triển hạ tầng
1.1.2 Sự cần thiết tạo việc làm cho lao động thuộc diện khi thu hồi đất nông nghiệp do quá trình đô thị hóa
Tạo việc làm cho người lao động là vô cùng cần thiết, trước hết là nhằm giảm lao động thất nghiệp cho nền kinh tế Công nghiệp hóa là xu hướng tất yếu đối với các quốc gia chậm phát triển muốn nhanh chóng thoát ra khỏi nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, chuyển sang nền kinh tế công nghiệp hiện đại, năng suất cao Trong quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa, việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ kéo theo chuyển dịch cơ cấu lao động Hơn nữa, cùng với quá trình phát triển kinh tế, nhiều ngành nghề mới, hoạt động sản xuất mới ra đời thay thế cho một số hoạt động sản xuất cũ dẫn đến thất nghiệp phát sinh Như vậy, tạo việc làm cho người lao động trước hết nhằm giảm lượng lao động thất nghiệp, đồng thời góp phần làm tăng sản lượng quốc dân, tăng tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế, tạo điều kiện cho nền kinh tế phát triển bền vững
Vấn đề việc làm và giải quyết việc làm là một trong những vấn đề có tính chất toàn cầu, là mối quan tâm rất lớn không những của nước ta mà là tất cả các nước trên thế giới Việc làm có ý nghĩa to lớn trong việc làm ra của cải vật chất để nuôi sống con người Tạo việc làm cho người lao động giúp họ có thu nhập, góp phần xóa đói giảm nghèo, tạo điều kiện thỏa mãn các nhu cầu chính đáng về vật chất và tinh thần của người lao động, ngày một nâng cao chất lượng cuộc sống, nâng cao vị thế của người lao động trong gia đình và ngoài xã hội
Tạo việc làm cho lao động không chỉ có ý nghĩa về mặt kinh tế mà còn có ý nghĩa về mặt xã hội Nếu không có việc làm, thất nghiệp sẽ tăng, đó là nguồn gốc của các tệ nạn xã hội như: trộm cắp, cờ bạc, ma túy…Như vậy, tạo việc làm không những góp phần đẩy lùi được các tệ nạn xã hội mà còn có thể kích thích người lao động sáng tạo, thúc đẩy sản xuất, thúc đẩy xã hội phát triển, đảm bảo công bằng xã hội
Trang 15Vấn đề tạo việc làm cho lao động là vấn đề cần thiết trong mọi thời kỳ, đặc biệt đối với đối tượng lao động trong diện giải tỏa đất nông nghiệp do quá trình đô thị hóa thì vấn đề này càng trở nên bức thiết vì họ là những người có trình độ chuyên môn thấp, khả năng tìm việc làm và chuyển đổi nghề nghiệp thường thấp hơn so với các đối tượng khác
Trong quá trình đô thị hóa, nhà nước thu hồi đất nông nghiệp để xây dựng các công trình đô thị phục vụ cho sự nghiệp CNH – HĐH Do đó, hàng nghìn hộ nông dân kéo theo hàng vạn nhân khẩu nông nghiệp mất tư liệu sản xuất dẫn tới mất việc làm, cuộc sống và thu nhập của họ gặp không ít khó khăn Một bộ phận nông dân có kiến thức, có trình độ đã chủ động mở mang các ngành nghề, dịch vụ, phát triển tiểu thủ công nghiệp… tạo việc làm và có cuộc sống ổn định Song bên cạnh đó còn rất nhiều
hộ còn lúng túng trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế do họ không bắt kịp với cơ chế thị trường, trình độ thấp, không có nghề, hay tuổi đời cao…họ gặp phải nhiều khó khăn trong việc tìm và tạo việc làm mới Do hạn chế về văn hóa và nhận thức, nếu như lực lượng này không được tạo việc làm, không có thu nhập để trang trải cuộc sống, cộng với việc có nhiều thời gian rảnh rỗi thì họ dễ bị lôi kéo, dụ dỗ vào các hoạt động phi pháp như trộm cắp, cướp giật, ma túy, cờ bạc…Vì vậy, tạo việc làm cho những lao động này cũng chính là biện pháp làm giảm tệ nạn xã hội, góp phần đảm bảo trật tự an ninh xã hội, môi trường sống xã hội sẽ trở nên tốt hơn
Như vậy, vấn đề tạo việc làm cho người lao động nói chung, cho người lao động bị thu hồi đất nông nghiệp nói riêng là vô cùng cần thiết vì nó không chỉ làm cho nền kinh tế tăng trưởng và phát triển, mà còn góp phần làm ổn định xã hội, giảm thất nghiệp và các tệ nạn xã hội, đồng thời cũng góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động theo đúng hướng đó là tăng tỉ trọng lao động trong ngành công nghiệp, dịch vụ, giảm tỉ trọng lao động trong ngành nông nghiệp
1.1.3 Khái quát chung về thực trạng thu hồi đất nông nghiệp phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá và đô thị hoá ở Việt Nam
Thực tiễn ở nước ta trong những năm qua cho thấy, CNH - HĐH và đô thị hoá tất yếu sẽ dẫn đến một bộ phận đất đai được chuyển đổi mục đích sử dụng Trong quá trình đó, Nhà nước sẽ thực hiện thu hồi đất để xây dựng các KCN, khu đô thị, kết cấu
hạ tầng kinh tế - xã hội, các công trình công cộng phục vụ lợi ích quốc gia
Trang 16Thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước cùng nhiệm vụ đặt ra trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam 10 năm, quá trình thu hồi đất để phát triển và xây dựng mới các đô thị, KCN và kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội ở nước ta diễn ra mạnh mẽ, đặc biệt đối với đất nông nghiệp
Theo số liệu của Viện Nghiên cứu định cư, hàng năm, diện tích đất nông nghiệp
bị thu hồi cho phát triển công nghiệp là khoảng trên 70.000 ha, chưa kể cho phát triển
đô thị là khoảng 10.000 ha Chỉ tính riêng một số tỉnh thuộc vùng Đồng bằng Sông hồng như: Bắc Ninh, Vĩnh Phúc, Hải Phòng và Ninh Bình, số diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi cho phát triển công nghiệp trong những năm vừa qua đã lên hàng chục nghìn hecta (Bắc Ninh: gần 2.000 ha, Hải Phòng: gần 4.000 ha, Bình Dương, trong số 24 KCN đã đưa vào sử dụng với tổng diện tích trên 8.100 ha thì cũng chủ yếu
là đất nông nghiệp Ninh Bình là một tỉnh nhỏ, nhưng cũng có tới 735 ha đất cho công nghiệp được lấy từ nông nghiệp), ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống của hàng chục nghìn hộ gia đình Trong quy hoạch từ nay đến năm 2020, một số tỉnh, diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi có thể tăng lên gấp đôi [20]
Thực tế cho thấy những diện tích đất bị thu hồi chủ yếu nằm ở những khu vực đông dân, có tốc độ phát triển nhanh, một số địa phương có điều kiện thuận lợi, nhất là gần các sân bay, bến cảng, các đầu mối giao thông đường sắt, đường bộ, gần các trung tâm kinh tế lớn của đất nước Hơn nữa, mức độ thu hồi đất còn phụ thuộc lớn vào những tỉnh, thành phố có đội ngũ cán bộ có năng lực, năng động, sáng tạo và có chính sách cởi
mở, phù hợp với xu thế phát triển của địa phương
Diện tích đất nông nghiệp của các tỉnh, thành phố bị thu hồi nhiều được trình bày ở bảng sau:
Bảng 1 Tình hình thu hồi đất ở một số địa phương trên cả nước
(Tính đến tháng 3/2011)
Trang 17TT Tỉnh, thành phố
Tổng diện tích đất nông nghiệp
Diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi
Tỷ lệ đất nông nghiệp bị thu hồi
Nguồn: Tổng cục Quản lý đất đai [16]
Trong những năm gần đây diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi ở nước ta rất lớn
và tập trung ở một số vùng có mật độ dân số cao, diện tích đất nông nghiệp bình quân đầu người thấp, có nhiều xã có diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi chiếm 70 - 80% diện tích đất canh tác, có nhiều xã chiếm tới 100%, điển hình ở các huyện nằm trong khu vực Hải Phòng mở rộng và các xã, huyện được quy hoạch xây dựng các khu công nghiệp, khu đô thị
1.2 Khái quát sự thay đổi về chính sách thu hồi, bồi thường đất nông nghiệp và hỗ trợ, tạo việc làm, cải thiện đời sống cho người có đất nông nghiệp khi thu hồi từ sau khi có luật đất đai 1993 đến nay
1.2.1 Chính sách thu hồi, bồi thường đất nông nghiệp và hỗ trợ chuyển đổi nghề, tạo việc làm ở Việt Nam qua các thời kỳ
Qua nghiên cứu cách chính sách thu hồi đất nông nghiệp ở nước ta cho thấy các quy định của pháp luật về thu hồi đất nông nghiệp ngày càng phù hợp hơn với yêu cầu thực tế Các chính sách được thể hiện qua các giai đoạn của quá trình áp dụng Luật đất đai, cụ thể như sau:
a Trước khi có Luật đất đai 1993
Ngày 14 tháng 4 năm 1959, Thủ tướng chính phủ đã ban hành Nghị định 151/TTg quy định thể lệ tạm thời về trưng dụng ruộng đất có nội dung: “Những người
có ruộng đất bị trưng dụng được bồi thường và trong trường hợp cần thiết được giúp
Trang 18giải quyết công việc làm ăn”
Ngày 11 tháng 01 năm 1970 Thủ tướng chính phủ đã ban hành Thông tư 1792/TTg quy định một số điểm tạm thời về bồi thường thiệt hại nhà cửa, đất đai, cây cối hoa màu cho nhân dân ở những vùng xây dựng kinh tế, mở rộng thành phố trên nguyên tắc “Phải đảm bảo thoả đáng quyền lợi kinh tế của hợp tác xã và của nhân dân” Thi hành Hiến pháp năm 1980, Luật Đất đai được Quốc hội thông qua ngày 29 tháng 2 năm 1987 quy định đất đai thuộc sở hữu toàn dân, Nhà nước giao đất cho các đối tượng có nhu cầu để sử dụng ổn định lâu dài, có thời hạn hoặc tạm thời theo quy hoạch
và kế hoạch sử dụng đất được duyệt Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền giao đất nào thì có quyền thu hồi đất đó
Ngày 31 tháng 5 năm 1990 Hội đồng Bộ trưởng ban hành quyết định số 186/HĐBT về việc đền bù thiệt hại đất nông nghiệp, đất có rừng khi bị chuyển mục đích sử dụng vào mục đích khác thì phải bồi thường UBND các tỉnh, thành phố quy định cụ thể mức bồi thường thiệt hại của địa phương mình sát với giá đất thực tế ở địa phương nhưng không thấp hơn hoặc cao hơn khung giá định mức Tổ chức, cá nhân được Nhà nước giao đất nông nghiệp, đất có rừng để sử dụng vào mục đích khác thì phải bồi thường về đất nông nghiệp, đất có rừng cho Nhà nước
Trong giai đoạn từ năm 1980 đến năm 1993 nhà nước chỉ mới có một số quy định riêng lẻ về đền bù thiệt hại, chưa hình thành chính sách thu hồi đất Nguyên nhân
là khi đó đất đai chỉ được xem là tài nguyên có giá trị sử dụng, mặt khác do nền kinh tế
có nhiều khó khăn nên nhu cầu thu hồi đất cũng không lớn
b Sau khi có Luật đất đai 1993 đến nay
Luật năm 1992 vẫn quy định đất đai thuộc sở hữu toàn dân và Nhà nước giao đất, cho thuê đất cho các tổ chức và cá nhân sử dụng ổn định, nhưng tiếp theo đó tuyên
bố trong trường hợp thật cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh và vì lợi ích quốc gia, Nhà nước trưng mua hoặc trưng dụng có bồi thường tài sản của cá nhân hoặc tổ chức theo thời giá thị trường
Giai đoạn này việc thu hồi và bồi thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất đã
có điều chỉnh so với giai đoạn trước trên cơ sở thực hiện Luật đất đai năm 1993 xác lập quyền sử dụng đất của hộ dân Chính phủ ban hành Nghị định 90/CP ngày 17 tháng 8 năm 1994 của Chính phủ quy định về việc bồi thường thiệt hại khi Nhà nước
Trang 19thu hồi đất sử dụng vào mục đích an ninh, quốc phòng, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng thay thế tất cả các văn bản, chính sách trước đây của Nhà nước về bồi thường giải phóng mặt bằng
Nhìn chung việc bồi thường đất nông nghiệp trong giai đoạn này có sự thay đổi
cơ bản về chủ thể đối với quyền sử dụng đất, nhưng vì giá bồi thường thiệt hại đất
nông nghiệp còn thấp (mới đảm bảo đủ chi phí cho việc khai hoang xây dựng đồng
ruộng) chưa phù hợp với giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất Việc thu hồi đất để
thực thi các dự án đầu tư còn gặp nhiều khó khăn Có thể thấy nội dung của Nghị định 90/CP còn rất sơ sài, chưa gắn với cơ chế thị trường
Ngày 24 tháng 4 năm 1998 Chính phủ ban hành Nghị định số 22/1998/NĐ-CP
để thay thế cho Nghị định số 90/CP Nghị định gồm 6 chương 40 điều quy định rõ phạm vi, đối tượng được bồi thường thiệt hại; Nguyên tắc, giá đất đền bù, chính sách
hỗ trợ, Đây là các văn bản quy định việc thu hồi và đền bù thiệt hại khi nhà nước thu hồi đất rất rõ ràng, đầy đủ nhất từ trước đến năm 1998 ở nước ta
Tuy vậy, việc quy định giá đất để đền bù còn hạn chế ở cách tính hệ số K cho từng
dự án để nhân với giá đất chung Chính phủ quy định Việc tính hệ số K ở mỗi dự án, mỗi địa phương rất phức tạp về cách tính toán và thủ tục hành chính, việc thực thi đền bù đất
bị kéo dài, trong khi giá cả thị trường về quyền sử dụng đất luôn biến động nên nảy sinh nhiều mâu thuẫn trong nhân dân Tại Điều 25 quy định về Hỗ trợ để ổn định sản xuất và đời sống nêu: “1 Hỗ trợ để ổn định sản xuất và đời sống cho những người phải di chuyển chỗ ở được tính trong thời hạn là 6 tháng, với mức trợ cấp tính bằng tiền cho 1 nhân khẩu/1 tháng tương đương 30 kg gạo theo thời giá trung bình ở thị trường địa phương tại thời điểm đền bù 4 Người được Nhà nước giao đất, cho thuê đất còn có trách nhiệm: Hỗ trợ chi phí đào tạo cho những lao động nông nghiệp phải chuyển làm nghề khác do bị thu hồi đất và nếu có nhu cầu tuyển dụng lao động mới thì phải ưu tiên tuyển dụng lao động thuộc các đối tượng có đất bị thu hồi.”
Trên cơ sở Luật đất đai ngày 26 tháng 11 năm 2003, Chính phủ ban hành Nghị định 197/2004/NĐ-CP ngày 03 tháng 12 năm 2004 về bồi thường, hỗ trợ tái định cư khi nhà nước thu hồi đất gồm 7 chương, 51 điều
Nghị định 197/2004 và Nghị định 22/1998 có bố cục về cơ bản thống nhất với nhau, nhưng Nghị định 197 đã khắc phục được những tồn tại trong Nghị định 22, trong
Trang 20đó quy định “giá đất để tính bồi thường là giá đất theo mục đích đang sử dụng” do UBND tỉnh quy định Tại Điều 29 quy định: “ 1- Hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp khi bị thu hồi trên 30% diện tích đất sản xuất nông nghiệp thì được
hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp cho người trong độ tuổi lao động, mức hỗ trợ và số lượng lao động cụ thể được hỗ trợ do UBND cấp tỉnh quyết định phù hợp với thực tế địa phương 2 - Việc hỗ trợ đào tạo chuyển đổi nghề nghiệp được thực hiện chủ yếu bằng hình thức cho đi học nghề tại các cơ sở dạy nghề”
Nghị định số 17/2006/NĐ-CP ngày 27 tháng 01 năm 2006 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định hướng dẫn thi hành Luật Đất đai Điểm mới là quy định trường hợp tại thời điểm có quyết định thu hồi đất mà giá đất chưa sát với giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất thực tế trên thị trường trong điều kiện bình thường thì UBND cấp tỉnh quyết định giá đất cụ thể cho phù hợp
Sau một thời gian thực hiện Chính Phủ ban hành Nghị Định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 đã thể hiện được tính khả thi và vai trò tích cực của các văn bản pháp luật Tại Điều 48 quy định: “Hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp bị thu hồi trên 30% diện tích đất nông nghiệp trong trường hợp không được Nhà nước bồi thường bằng đất nông nghiệp tương ứng mà không có nguyện vọng nhận bồi thường bằng đất làm mặt bằng sản xuất hoặc kinh doanh dịch vụ phi nông nghiệp thì được bồi thường bằng giao đất ở có thu tiền sử dụng đất tại khu tái định cư hoặc tại các vị trí trong khu dân cư phù hợp với quy hoạch”
Ngày 13/8/2009 Chính Phủ ban hành Nghị định số 69/2009/NĐ-CP quy định
về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư, bãi bỏ Điều 48 Nghị định 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 và một số Nghị định khác của Chính Phủ
Tại Điều 22 Nghị định số 69/2009/NĐ-CP quy định:
1 Hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp được hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp và tạo việc làm theo một trong các hình thức bằng tiền hoặc bằng đất ở hoặc nhà ở hoặc đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp như sau:
Trang 21a) Hỗ trợ bằng tiền từ 1,5 đến 5 lần giá đất nông nghiệp đối với toàn bộ diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi; diện tích được hỗ trợ không vượt quá hạn mức giao đất nông nghiệp tại địa phương
b) Hỗ trợ một lần bằng một suất đất ở hoặc một căn hộ chung cư hoặc một suất đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp Việc áp dụng theo hình thức này được thực hiện đối với các địa phương có điều kiện về quỹ đất ở, quỹ nhà ở và người được hỗ trợ
có nhu cầu về đất ở hoặc căn hộ chung cư hoặc đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp mà giá trị được hỗ trợ theo quy định tại điểm a khoản này lớn hơn hoặc bằng giá trị đất ở hoặc căn hộ chung cư hoặc đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp; phần giá trị chênh lệch được hỗ trợ bằng tiền
2 Trường hợp người được hỗ trợ theo quy định tại khoản 1 Điều này có nhu cầu được đào tạo, học nghề thì được nhận vào các cơ sở đào tạo nghề và được miễn học phí đào tạo cho một khóa học đối với các đối tượng trong độ tuổi lao động
Tại Khoản 1 điều 23 Nghị định số 69/2009/NĐ-CP quy định:
1 Ngoài việc hỗ trợ theo quy định, căn cứ vào tình hình thực tế tại địa phương, Chủ tịch UBND cấp tỉnh quyết định biện pháp hỗ trợ khác để bảo đảm có chỗ ở, ổn định đời sống và sản xuất cho người bị thu hồi đất; trường hợp đặc biệt trình Thủ tướng Chính phủ quyết định
Như vậy, khi thu hồi đất Nhà nước có những phương thức xử lý khác nhau về việc bồi thường, hỗ trợ cho người dân mất đất, có thể bồi thường hỗ trợ bằng tiền, và cũng có thể bồi thường bằng đất Tuy nhiên trên thực tế, bồi thường hỗ trợ bằng tiền được áp dụng rộng rãi hơn cả
Trên cơ sở các quy định của Nhà nước, để thực hiện và áp dụng cho phù hợp với tình hình phát triển kinh tế, xã hội của địa phương, trong những năm qua UBND thành phố Hải Phòng đã ban hành các cơ chế chính sách về công tác bồi thường, hỗ trợ chuyển đổi nghề, tạo việc làm khi thu hồi đất nông nghiệp cho khu vực nông thôn nói chung, lao động trong khu vực thu hồi đất nông nghiệp nói riêng như sau:
- Chính sách hiện hành được áp dụng theo Quyết định số 130/2010/QĐ-UBND ngày 22/01/2012 của UBND thành phố Hải Phòng quy định:
gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp khi thu hồi đất:
Trang 22“ 1 Nhà nước thu hồi trên 30% diện tích được giao theo hạn mức tại địa phương được hỗ trợ chuyển đổi nghề và tạo việc làm bằng tiền hoặc bằng đất ở hoặc nhà ở hoặc đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp Căn cứ tình hình thực tế của địa phương để xem xét mức hỗ trợ cụ thể cho phù hợp
2 Hỗ trợ một lần bằng một suất đất ở hoặc một căn hộ chung cư hoặc một suất đất kinh doanh, dịch vụ như sau:
- Giao đất để các hộ sản xuất kinh doanh, giao đất ở cho hộ gia đình, chỉ tính một lần (dự án thu hồi đất trước đó đã tính thì dự án thu hồi đất lần sau không được tính) Diện tích đất được giao để kinh doanh, dịch vụ tối thiếu 40m2/hộ, tối đa không quá 50m2/hộ gia đình đối với các quận; tối thiếu 50m2/hộ, tối đa không quá 60m2/hộ gia đình đối với các huyện
- Giá đất tính tiền sử dụng đất để giao đất làm nhà ở, giao đất làm cơ sở kinh doanh dịch vụ theo giá đất nông nghiệp cộng với chi phí đầu tư cơ sở hạ tầng (trường hợp khi nhận tiền đền bù về đất, nộp tiền sử dụng đất để được giao đất làm đất ở hoặc
để làm cơ sở kinh doanh dịch vụ nhưng vẫn không đủ thì được ghi nợ tiền sử dụng đất)
- Trường hợp không có đất ở, đất kinh doanh, dịch vụ để giao thì hỗ trợ bằng tiền 2.5 lần giá đất nông nghiệp đối với các quận; 2 lần giá đất nông nghiệp đối với các huyện cho toàn bộ diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi (trong trường hợp này không tính theo tỷ lệ diện tích đất thu hồi); diện tích hỗ trợ không vượt quá hạn mức giao đất nông nghiệp tại địa phương
Tại Điều 12: Mục 2.2 Hỗ trợ ổn định đời sống và ổn định sản xuất đối với hộ sản xuất nông nghiệp được giao theo mức giao đất nông nghiệp tại địa phương được
hỗ trợ ổn định đời sống và sản xuất theo các mức:
1) Thu hồi từ 30% đến 70% diện tích đất nông nghiệp đang sử dụng thì được hỗ trợ ổn định đời sống trong thời gian 6 tháng nếu không phải di chuyển chỗ ở và trong thời gian 12 tháng nếu phải di chuyển chỗ ở; trường hợp phải di chuyển đến các địa bàn có điều kiện kinh tế- xã hội khó khăn hoặc có điều kiện kinh tế- xã hội đặc biệt khó khăn thì thời gian hỗ trợ tối đa là 24 tháng;
Trang 232) Thu hồi trên 70% diện tích đất nông nghiệp đang sử dụng thì được hỗ trợ ổn định đời sống trong thời gian 12 tháng nếu không phải di chuyển chỗ ở và trong thời gian 24 tháng nếu phải di chuyển chỗ ở; trường hợp phải di chuyển đến các địa bàn có điều kiện kinh tế- xã hội khó khăn hoặc có điều kiện kinh tế- xã hội đặc biệt khó khăn thì thời gian hỗ trợ tối đa là 36 tháng;
3) Mức hỗ trợ cho một nhân khẩu quy định tại các điểm 1 và 2 khoản này được tính bằng tiền tương đương 30 kg gạo trong 01 tháng theo thời giá trung bình tại thời điểm hỗ trợ của địa phương do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện quyết định
Hộ gia đình, cá nhân chỉ được hỗ trợ theo quy định này một lần, sau này khi Nhà nước tiếp tục thu hồi đất không được hưởng khoản hỗ trợ này nữa”
1.2.2 Chính sách dạy nghề, học nghề, giải quyết việc làm khi thu hồi đất nông nghiệp
a Nhu cầu đào tạo nghề và việc làm cho nông dân khi thu hồi đất nông nghiệp
Trong những năm gần đây, vấn đề việc làm, đào tạo và chuyển đổi nghề nghiệp cho nông dân bị thu hồi đất nông nghiệp trên cả nước đang ngày càng nóng bỏng Đô thị hoá kéo theo sự mở rộng nhanh chóng nhu cầu sử dụng đất phát triển cho các KCN tập trung, xây dựng cơ sở hạ tầng và đất ở đô thị đã làm cho diện tích đất nông nghiệp ngày càng một thu hẹp Theo Cục Hợp tác xã và Phát triển nông thôn, ở những nơi bị thu hồi đất, có đến 67% số hộ vẫn phải quay lại nghề nông, chỉ có 13% có nghề mới
ổn định [15] Có nhiều hộ dân muốn quay lại nghề cũ nhưng không có đất để sản xuất, cuối cùng họ rơi vào cảnh thất nghiệp
Tốc độ đô thị hoá và luồng lao động dịch chuyển từ nông thôn ra thành thị lớn làm gia tăng lao động thành thị lên 4,7% so với 2,0% giai đoạn 1996 - 2008 Lao động nông thôn chiếm khoảng 80% tổng lực lượng lao động, mức tăng trưởng GDP nông nghiệp đóng góp 20% tổng GDP quốc gia thì tỷ lệ lao động nông thôn như vậy là cao, tốc độ thu hút lao động khỏi nông nghiệp vẫn chậm Ở nước ta lao động nông thôn chiếm 3/4 lao động cả nước và tập trung chủ yếu ở ngành nông nghiệp, nơi tạo ra năng xuất lao động thấp và cũng là nơi quỹ đất canh tác đang ngày càng bị thu hẹp và giảm dần Kết quả là nhiều lao động mất đất sản xuất hoặc thiếu đất sản xuất dẫn đến dư thừa lao động và thiếu việc làm Thu nhập của lao động nông nghiệp vì thế mà thấp và
Trang 24thất thường, đây cũng chính là lí do khiến tỷ lệ người nghèo tập trung nhiều ở các vùng nông thôn
Có một thực tế trong vài năm trở lại đây, khi các khu công nghiệp (KCN) mọc lên ngày càng nhiều thì cùng với sự phát triển đã có hàng trăm ngàn hecta đất nông nghiệp bị chuyển đổi mục đích sử dụng Hệ lụy kéo theo chính là hàng nghìn người dân lâm vào tình cảnh mất đất, mất nghề, phải xa xứ kiếm sống…
Theo khảo sát mới đây cho thấy cứ mỗi hecta đất bị lấy đi sẽ có 10 lao động bị ảnh hưởng Chỉ tính trong 3 năm 2009 đến 2011, tổng diện tích đất chuyên dùng đã tăng lên 104.422 ha dẫn đến một lượng lớn diện tích đất nông nghiệp được chuyển đổi mục đích theo hai hướng chính là phục vụ xây dựng các KCN, khu chế xuất, cụm công nghiệp vừa và nhỏ hoặc phát triển các khu đô thị tập trung theo các dự án xây dựng cơ
sở hạ tầng Các khu vực kinh tế trọng điểm là khu vực có diện tích đất nông nghiệp chuyển đổi lớn nhất, chiếm trên 50% tổng diện tích thu hồi Mặc dù, số diện tích đất nông nghiệp được thu hồi chỉ chiếm tỉ lệ nhỏ trong tổng diện tích đất nông nghiệp, nhưng do thu hồi mang tính tập trung nên một số xã bị "mất" từ 70 - 80% diện tích, kéo theo nhiều hộ bị thu hồi 100% diện tích, không còn đất sản xuất Còn lại, đa phần các hộ ở các địa phương có diện tích đất thu hồi lớn như Hà Nội, Hưng Yên, Hải Phòng, Bắc Ninh, Kiên Giang…thường bị thu hồi từ 50 - 70% diện tích Dự kiến, việc thu hồi đất nông nghiệp trong năm năm tới sẽ ảnh hưởng tới 2,5 triệu người [13]
Khi CNH - HĐH diễn ra nhanh thì quỹ đất canh tác bị thu hẹp lại, có thể là do phục vụ cho việc xây dựng các đô thị, KCN hay các công trình cũng có thể là do việc tích tụ ruộng đất của người nông thôn Trước thực tế đó nhiều lao động bị mất đất hoặc thiếu đất sẽ phải chuyển hướng tìm việc làm mới hoặc chuyển đổi nghề nghiệp Cũng
từ lý do đó lao động nông thôn rất cần được đào tạo, dạy nghề, họ cần có trình độ chuyên môn và cập nhật kiến thức đào tạo dạy nghề để đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế của đất nước Những năm gần đây, công tác dạy nghề đã có nhiều tiến triển Nhiều lao động đã ý thức được việc học nghề và số người tham gia các khoá đào tạo tăng lên rõ rệt Mới đây, nước ta cũng đã ban hành các chính sách và nghề cho nông dân vùng mất đất và dân tộc thiểu số và đã thu được nhiều kết quả đáng khích lệ
b Chính sách dạy nghề, học nghề, giải quyết việc làm cho người dân có đất nông nghiệp khi thu hồi
Trang 25Giải quyết việc làm là một trong những chính sách quan trọng đối với mỗi quốc gia, đặc biệt là đối với các nước đang phát triển có lực lượng lao động lớn như Việt Nam Vấn đề chuyển dịch mục đích sử dụng đất dẫn đến chuyển dịch lao động cũng đang diễn ra mạnh mẽ cả tự phát và trong quy hoạch đã ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống và việc làm của người dân bị thu hồi đất Hiện tượng lao động nông nghiệp có đất nông nghiệp thu hồi bị mất việc làm do quá trình đô thị hóa và hình thành các khu vực công nghiệp tập trung diễn ra mạnh mẽ
Những năm qua, bên cạnh các chính sách bồi thường hỗ trợ bằng tiền cho người dân mất đất, Nhà nước còn ban hành những chính sách nhằm hỗ trợ dạy nghề, học nghề
và tạo việc làm cho lao động nông thôn Có thể kể đến ở đây như là:
- Nghị quyết số 13/NQ/TW về tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể và Nghị quyết số 15-NQ/TW về đẩy mạnh CNH - HĐH nông nghiệp, nông thôn thời kỳ 2001 - 2010
- Chính phủ ra Quyết định số 126/QĐ-Tg ngày 11 tháng 7 năm 1998 phê duyệt chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm đến năm 2000
- Tiếp đó là Quyết định số 143/2001/QĐ-TTg ngày 27 tháng 9 năm 2001 phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia xoá đói, giảm nghèo và việc làm giai đoạn 2001
- 2005
- Quyết định số 032/2000/QĐ-TTg ngày 24/11/2000 của Thủ tướng Chính phủ
về một số chính sách khuyến khích phát triển ngành nghề nông thôn
- Quyết định số 81/2005/QĐ-TTg ngày 18/4/2005 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách hỗ trợ dạy nghề ngắn hạn cho lao động nông thôn Theo đó, đối tượng ưu tiên là đối tượng lao động bị thu hồi đất nông nghiệp Bộ tài chính cùng với Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội đã ban hành Thông tư liên tịch số 06/2006/TTLT-BTC-BLĐTBXH ngày 19/01/2006 hướng dẫn thực hiện Quyết định số 81/2005/ QĐ-TTg, trong đó có nêu: mỗi lao động bị thu hồi đất nếu có nhu cầu học nghề sẽ được hỗ trợ tối đa không quá 300.000 đồng/người/tháng và không quá 1.500.000 đồng/người/khóa học nghề
- Quyết định số 1956/QĐ-TTg ngày 27/11/2009 phê duyệt đề án “đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020” Quyết định ưu tiên đối tượng là người bị thu hồi đất nông nghiệp khi có nhu cầu học nghề thì được hỗ trợ chi phí học nghề ngắn
Trang 26hạn (trình độ sơ cấp nghề và dạy nghề dưới 3 tháng) với mức tối đa 03 triệu đồng/người/khóa học (mức hỗ trợ cụ thể theo từng nghề và thời gian học nghề thực tế); hỗ trợ tiền ăn với mức 15.000 đồng/ngày thực học/người; hỗ trợ tiền đi lại theo giá
vé giao thông công cộng với mức tối đa không quá 200.000 đồng/người/khóa học đối với người học nghề xa nơi cư trú từ 15 km trở lên
Các chính sách này đã góp phần quan trọng, tạo thế chủ động, tích cực để giải quyết vấn đề thu nhập, đời sống và việc làm cho lao động nông thôn nói chung, lao động nông nghiệp bị thu hồi đất nói riêng
Ngoài ra, Nhà nước đã ban hành những quy định cụ thể về việc hỗ trợ cho những người dân có đất bị thu hồi trong việc đào tạo nghề mới và chuyển đổi nghề nghiệp thông qua Luật đất đai năm 2003, Nghị định 197/2004/NĐ-CP về bồi dưỡng,
hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất; Nghị quyết số 01/2004/NQ-CP của Chính phủ về một số giải pháp chủ yếu tập trung chỉ đạo, điều hành thực hiện ngân sách nhà nước năm 2004, Chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm cũng đã dành
22 tỷ đồng bổ sung vốn vay giải quyết việc làm cho gần 10 nghìn lao động bị thu hồi đất
Tại Nghị định 69/2009/NĐ-CP ngày 13 tháng 8 năm 2009 của Chính phủ, quy định bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ tái định
cư cũng đưa ra chính sách cụ thể về hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp và tạo việc làm trong Điều 22, cụ thể như sau: Trường hợp người được hỗ trợ có nhu cầu được đào tạo, học nghề thì được nhận vào các cơ sở đào tạo nghề và được miễn học phí đào tạo cho một khóa học đối với các đối tượng trong độ tuổi lao động Kinh phí hỗ trợ chuyển đổi nghề cho các đối tượng chuyển đổi nghề nằm trong phương án đào tạo, chuyển đổi nghề và được tính trong tổng kinh phí của dự án đầu tư hoặc phương án bồi thường, hỗ trợ tái định cư được duyệt
Các địa phương đã ban hành và thực hiện chính sách hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp, tạo việc làm cho người dân có đất bị thu hồi dưới nhiều hình thức nhằm tạo thêm nhiều điều kiện cho người lao động đi học nghề và chuyển đổi nghề nghiệp [16]:
Thành phố Hải Phòng phê duyệt và triển khai thực hiện Đề án " Đào tạo nghề cho lao động nông thôn thành phố Hải Phòng đến năm 2020" và định mức chi phí, mức hỗ trợ đào tạo nghề trình độ sơ cấp nghề cho lao động nông thôn Căn cứ nhu cầu, năng lực đào
Trang 27tạo, khả năng giới thiệu việc làm sau đào tạo của các cơ sở dạy nghề, Sở Lao động - TBXH phân bổ chỉ tiêu đào tạo nghề, năm 2010 đã tuyển sinh được 34 lớp với 1151 học viên, tổng số kinh phí 1.199.619.000đ cụ thể như sau:
Số lớp học nghề nông nghiệp: 10 lớp, số học viên: 350 người
Số lớp học nghề phi nông nghiệp: 24 lớp, số học viên: 801 người
Số kinh phí bố trí từ ngân sách địa phương: 813.000.000đ
Số kinh phí đào tạo nghề theo mô hình thí điểm của Tổng cục Dạy nghề: 386.619.000đ
Tỷ lệ có việc làm sau đào tạo nghề: 90%
Thành phố Hà Nội: Ban hành Quyết định số 2526/QĐ-UBND ngày 1/7/2008 của UBND thành phố Hà Nội về việc phê duyệt đề án “Một số giải pháp hỗ trợ ổn định đời sống, học tập, đào tạo nghề và việc làm cho các hộ dân vùng chuyển đổi mục đích
sử dụng đất nông nghiệp” trên địa bàn thành phố Hà Nội Hỗ trợ kinh phí học nghề cho những người trong độ tuổi lao động có nhu cầu học nghề bằng hình thức cấp thẻ
học nghề, mức hỗ trợ tối đa không quá 6.000.000 đồng/thẻ (sáu triệu đồng) (không chi
trả trực tiếp bằng tiền cho người lao động) và hỗ trợ 01 lần duy nhất
Xã Khánh Phú, huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình: ngoài biện pháp hỗ trợ tạo việc làm xã đã liên kết với các doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh tổ chức dạy nghề cho người lao động gồm các nghề thêu ren, đan móc sợi, mây tre đan, may công nghiệp và phát triển mạnh các dịch vụ sẵn có ở địa phương như vận tải, sửa chữa cơ khí, mộc, nề, thu hút nhiều lao động vào làm việc, ổn định về tư tưởng của người dân, bảo đảm an ninh trật tự trong thôn xóm
Hải Dương thực hiện chính sách dạy nghề miễn phí 100% cho những người thuộc hộ đã bàn giao từ 50% diện tích đất canh tác trở lên
Vĩnh Phúc là tỉnh đầu tiên tại khu vực phía bắc thực hiện cấp đất làm dịch vụ cho các hộ nông dân khi thu hồi đất nông nghiệp Mỗi sào (360 m2
) đất khi thu hồi sẽ được cấp lại 10 m2
đất làm dịch vụ và mỗi lao động được thêm 2m2 (nhưng tổng cộng không quá 100 m2/hộ) Ngoài ra, để giải quyết lao động độ tuổi từ 35 trở lên, Vĩnh Phúc quy hoạch các KCN để dành một phần diện tích cho các cơ sở tiểu, thủ công nghiệp, các ngành nghề có thể sử dụng rộng rãi các đối tượng lao động
Bắc Ninh hỗ trợ để chuyển đổi nghề nghiệp là 14.700 đồng/m2, hỗ trợ ổn định
Trang 28đời sống và sản xuất là 5.300 đồng/m2
Thành phố Hồ Chí Minh hỗ trợ các nhà đầu tư dạy nghề, tạo việc làm có thu nhập ổn định cho nông dân có đất khithu hồi, mỗi người ở độ tuổi lao động khi thu hồi đất nông nghiệp phục vụ các dự án, nếu muốn tham gia học nghề để chuyển đổi việc làm, sẽ được hưởng một suất đào tạo 1,5 triệu đồng/người, không chốt thời hạn học nghề là 5 tháng Mỗi thẻ có trị giá 6 triệu đồng được phát cho các hộ gia đình khi thu hồi đất từ 30% diện tích trở lên Ngoài ra, để hỗ trợ nông dân, mỗi địa phương cần xây dựng kế hoạch cụ thể về đào tạo nghề cho trúng và đúng với ngành nghề mà huyện thu hút đầu tư, hỗ trợ chi phí học văn hóa, chi phí học nghề và cho vay vốn kinh doanh…
Nhiều địa phương đã lựa chọn xuất khẩu lao động như một hướng đi tích cực như Hưng Yên, Đà Nẵng Hà Nội cũng có quy định mỗi ha đất thu hồi phục vụ cho dự
án, chủ dự án phải đào tạo tại chỗ và tuyển dụng ít nhất 10 lao động địa phương Hưng Yên quy định doanh nghiệp thuê 100m2
đất sẽ phải nhận 1 lao động địa phương
Tuy nhiên, hiệu quả thực tế của những biện pháp nêu trên vẫn còn cách xa nhu cầu Một trong những nguyên nhân chủ yếu của hạn chế đó là khu quy hoạch đất nông nghiệp thu hồi ở nhiều địa phương chưa gắn với quy hoạch tái định cư, thiếu kế hoạch
cụ thể về hỗ trợ dạy nghề và việc làm cho người lao động Hầu hết nông dân trong hoàn cảnh này đều bị động khi phải chuyển đổi mục đích đất sản xuất Trong khi đó khả năng thu hút lao động vào các KCN còn thấp, chưa đến 35% tổng số lao động đang làm việc Đó là chưa kể một lượng lớn lao động không đáp ứng yêu cầu về tay nghề Nhiều địa phương có tới hàng nghìn lao động bị mất việc làm nhưng chỉ có 12 đến 20 người đã qua đào tạo
Trước khi thu hồi đất nông nghiệp, phần lớn người dân đều có cuộc sống ổn định vì họ có đất sản xuất, có tư liệu sản xuất mà đất sản xuất đó được kế thừa từ thế
hệ này qua thế hệ khác Sau khi bị thu hồi đất nông nghiệp các hộ nông dân không có đất để sản xuất, điều kiện sống và sản xuất của họ bị thay đổi hoàn toàn Mặc dù nông dân được giải quyết bồi thường hỗ trợ bằng tiền nhưng họ vẫn chưa định hướng ngay được những ngành nghề hợp lý để có thể ổn định được cuộc sống Đây cũng là nguyên nhân sinh ra các tệ nạn xã hội ở các vùng nông thôn đang đô thị hóa hoặc các vùng có nhiều nhà máy mới mọc lên
Trang 29* Đánh giá chung
Trong quá trình thực hiện các quy định của Nhà nước công tác thu hồi đất nông nghiệp và công tác hỗ trợ chuyển đổi nghề, tạo việc làm đã đạt được các kết quả khá
khả quan, thể hiện trên một số khía cạnh chủ yếu sau:
Thứ nhất, đối tượng được bồi thường, hỗ trợ ngày càng được xác định đầy đủ
chính xác, phù hợp với tình hình thực tế của đất nước, giúp cho công tác quản lý đất đai của Nhà nước được nâng cao, người dân bị mất trên 30% diện tích đất nông nghiệp được hỗ trợ cũng thấy thỏa đáng
Thứ hai, phương thức hỗ trợ tạo điều kiện cho người dân khi thu hồi đất có thể
khôi phục lại tài sản bị mất Một số biện pháp hỗ trợ đã được bổ sung và quy định rất rõ ràng, thể hiện được tinh thần đổi mới của Đảng và Nhà nước nhằm giúp cho người dân ổn định về đời sống và sản xuất
Thứ ba, giải quyết được nhiều khúc mắc, giúp cho các cơ quan nhà nước có
thẩm quyền thực hiện công tác bồi thường, tái định cư đạt hiệu quả
Thứ tƣ, các địa phương bên cạnh việc thực hiện các quy định Luật đất đai năm
2003, các Nghị định hướng dẫn thi hành, đã dựa trên sự định hướng chính sách của Đảng và Nhà nước, tình hình thực tế tại địa phương để ban hành các văn bản pháp luật
áp dụng cho địa phương mình, làm cho công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư được thực hiện hợp lý và đạt hiệu quả cao hơn Chính sách hỗ trợ thỏa đáng nên việc thu hồi đất tiến hành bình thường, mặc dù vẫn còn những khiếu nại nhưng con số này ít và không gây trở ngại đáng kể trong quá trình thực hiện
Nhờ những cải thiện về quy định pháp luật, về phương pháp tổ chức, về năng lực cán bộ thực thi giải phóng mặt bằng, tiến độ giải phóng mặt bằng trong các dự án đầu tư gần đây đã được rút ngắn hơn so với các dự án cũ, góp phần giảm bớt tác động tiêu cực đối với người dân cũng như đối với dự án Việc thực hiện chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đã giúp cho đất nước ta xây dựng cơ sở vật chất, phát triển kết cấu hạ tầng, xây dựng khu chế xuất, khu công nghiệp, khu công nghệ cao, các dự
án trọng điểm của Nhà nước, cũng như góp phần chuyển đổi cơ cấu nền kinh tế, ổn định đời sống sản xuất cho người có đất bị thu hồi
1.3 Nội dung chính sách hiện hành của Chính phủ về hỗ trợ chuyển đổi nghề, tạo việc làm khi thu hồi đất nông nghiệp
Trang 30Ngày 16/11/2012, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số
52/2012/QĐ-TTg về chính sách hỗ trợ giải quyết việc làm và đào tạo nghề cho người lao động bị thu hồi đất nông nghiệp
Theo Quyết định này người lao động thuộc các hộ gia đình trực tiếp sản xuất nông nghiệp bị Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp mà không có đất để bồi thường có
đủ những điều kiện: Có hộ khẩu thường trú tại hộ gia đình có đất nông nghiệp bị thu hồi; Trong độ tuổi lao động; Có nhu cầu học nghề, chuyển đổi nghề, tìm kiếm việc làm, vay vốn tạo việc làm thì được hưởng chính sách hỗ trợ trong thời hạn 3 năm, kể
từ khi có Quyết định thu hồi đất
Hỗ trợ đào tạo nghề
Người lao động khi thu hồi đất nông nghiệp có nhu cầu đào tạo, học nghề được nhận vào các cơ sở đào tạo nghề và được hỗ trợ chi phí học nghề ngắn hạn (trình độ sơ cấp và dạy nghề dưới 3 tháng) được Nhà nước hỗ trợ chi phí học nghề theo quy định tại Quyết định số 1956/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020
Học nghề trình độ trung cấp, cao đẳng được Nhà nước trả học phí cho một khóa học Mức học phí được Nhà nước trả bằng mức thu học phí thực tế của cơ sở đào tạo nhưng tối đa không quá mức trần học phí đối với cơ sở đào tạo nghề trung cấp, cao đẳng công lập theo quy định của pháp luật
Kinh phí hỗ trợ học nghề trình độ trung cấp, cao đẳng được bố trí từ kinh phí hỗ trợ chuyển đổi nghề nằm trong phương án đào tạo, chuyển đổi nghề và được tính trong tổng kinh phí của dự án đầu tư hoặc phương án bồi thường, hỗ trợ tái định cư được duyệt
Đối với người lao động thuộc hộ gia đình khi thu hồi đất nông nghiệp đồng thời cũng thuộc đối tượng cho vay vốn theo quy định tại Quyết định 157/2007/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về tín dụng đối với học sinh, sinh viên thì được vay vốn tín dụng
áp dụng đối với học sinh, sinh viên theo quy định hiện hành
Hỗ trợ tạo việc làm trong nước
Người lao động khi thu hồi đất nông nghiệp có nhu cầu tìm việc làm được hỗ trợ tư vấn học nghề, tư vấn, giới thiệu việc làm miễn phí tại các Trung tâm giới thiệu việc làm trực thuộc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội các tỉnh, thành phố trực
Trang 31thuộc Trung ương; ưu tiên vay vốn từ Quỹ quốc gia về việc làm theo quy định của pháp luật
Các cơ sở sản xuất kinh doanh nhận nhiều lao động bị thu hồi đất nông nghiệp vào làm việc được hưởng các chính sách ưu đãi về đất đai, tín dụng, thuế theo quy định của pháp luật
Hỗ trợ đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng
Người lao động khi thu hồi đất nông nghiệp có nhu cầu đi làm việc ở nước ngoài được hỗ trợ 100% học phí học nghề, ngoại ngữ, bồi dưỡng kiến thức cần thiết theo quy định của pháp luật về người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng; hỗ trợ 100% chi phí khám sức khỏe, làm hộ chiếu, thị thực và lý lịch tư pháp trước khi đi làm việc ở ngoài theo mức quy định hiện hành của Nhà nước
Bên cạnh đó, được hỗ trợ tiền ăn hàng ngày trong thời gian đi học theo mức quy định tại Quyết định số 1956/QĐ-TTg; hỗ trợ tiền đi lại 1 lượt đi và về từ nơi cư trú đến nơi học đối với các học viên ở cách địa điểm học trên 15 km theo giá vé thông thường của phương tiện công cộng tại thời điểm thanh toán
Đối tượng lao động này cũng được vay vốn với lãi suất ưu đãi từ Ngân hàng Chính sách xã hội để chi trả các chi phí cần thiết để đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài Mức cho vay tối đa bằng tổng chi phí cần thiết mà người lao động phải đóng góp theo quy định ghi trên hợp đồng đối với từng thị trường lao động Lãi suất cho vay bằng lãi suất cho vay hiện hành với người lao động không thuộc hộ nghèo đi làm việc
có thời hạn ở nước ngoài tại Ngân hàng Chính sách xã hội Thời hạn cho vay tối đa bằng thời gian đi lao động ở nước ngoài theo hợp đồng
Người lao động thuộc huyện nghèo theo Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP ngày 27/12/2008 của Chính phủ về Chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 61 huyện nghèo, khi đi làm việc ở nước ngoài được hưởng các chính sách theo quy định tại Quyết định số 71/2009/QĐ-TTg ngày 29/4/2009 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án hỗ trợ các huyện nghèo đẩy mạnh xuất khẩu lao động góp phần giảm nghèo bền vững giai đoạn 2009 - 2020
Người lao động được hỗ trợ một lần cho từng nội dung hỗ trợ đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng như nêu trên
Trang 32CHƯƠNG 2 PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG HỖ TRỢ CHUYỂN ĐỔI NGHỀ VÀ
TẠO VIỆC LÀM CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG KHI THU HỒI
ĐẤT NÔNG NGHIỆP Ở QUẬN LÊ CHÂN 2.1 Khái quát về địa bàn nghiên cứu
2.1.1 Điều kiện tự nhiên
Quận Lê Chân có tổng diện tích đất tự nhiên tính đến ngày 01/01/2012 là 1.186,3ha, với dân số trên 18 vạn người phân chia theo 15 đơn vị hành chính, gồm các phường An Dương, An Biên, Cát Dài, Đông Hải, Dư Hàng, Dư Hàng Kênh, Hồ Nam, Kênh Dương, Lam Sơn, Niệm Nghĩa, Nghĩa Xá, Trại Cau, Trần Nguyên Hãn, Vĩnh Niệm Quận có tiềm năng phát triển thành khu đô thị hiện đại của Hải Phòng Quận Lê Chân nằm tiếp giáp với quận Ngô Quyền và 1 phần Kiến Thụy, có vị trí địa lý cụ thể như sau:
Phía Bắc giáp quận Hồng Bàng;
Phía Nam giáp quận Hồng Bàng;
Phía Tây giáp huyện Kiến Thụy;
Phía Đông giáp quận quận Kiến An, huyện An Dương
Quận Lê Chân tập trung nhiều đầu mối giao thông đường bộ quan trọng có vai trò lớn trong phát triển kinh tế của thành phố Hệ thống giao thông huyết mạch do trung ương và thành phố quản lý Theo quy hoạch phát triển không gian đô thị thành phố Hải Phòng đến năm 2020 thì phần lớn diện tích đất nông nghiệp của Quận sẽ được thu hồi để xây dựng các khu đô thị, điểm công nghiệp hiện đại và kết cấu hạ tầng cơ
sở
+ Địa hình
Địa hình tương đối bằng phẳng, phần đất liền có độ cao từ +4,2 đến +4,5m so với mặt nước biển, không có đồi, núi, có các sông chảy qua như sông Tam Bạc phường Cát Dài, Lam Sơn, sông Lạch Tray phường Vĩnh Niệm, Niệm Nghĩa, Nghĩa
Xá Những năm gần đây khi triều cường nước sông Lạch Tray dâng lên thời gian từ 1 đến 3 giờ làm ngập đường Nguyễn Văn Linh phường Niệm Nghĩa từ đến 30 đến 40
cm, đoạn chân cầu Niệm
Trang 33Với địa hình như vậy khá thuận tiện cho việc xây dựng nhà ở và các trung tâm thương mại cao tầng, cũng như xây dựng các công trình công nghiệp dịch vụ Trong thực tế Bệnh viện Việt - Tiệp phường Cát Dài đã xây 2 khu nhà 7 tầng, chuẩn bị sẽ xây dựng 2 khu trung tâm thương mại cao tầng ở Tam Kỳ do Công ty Đầu tư và xây dựng
Hạ tầng làm chủ đầu tư Hiện nay đang triển khai 20 dự án lớn Dự án Khu đô thị nối đường Lạch Tray với đường Hồ Sen – Cầu Rào 2 là dự án có diện tích đất ở phải thu hồi của các hộ gia đình, cá nhân lớn nhất là 126.888,0m2
(12,69 ha) trên địa bàn 2 phường Đông Hải và Dư Hàng Kênh Dự án xây dựng Trạm bơm nước Vĩnh Niệm là
dự án có diện tích đất ở phải thu hồi của các hộ gia đình, cá nhân nhỏ nhất là 1.636,0m2 (0,17 ha) trên địa bàn phường Dư Hàng Kênh
+ Khí hậu
Nằm trong vành đai nhiệt đới gió mùa châu Á, sát biển Đông nên Hải Phòng nói chung và quận Lê Chân nói riêng chịu ảnh hưởng của gió mùa Mùa gió bấc (mùa đông) lạnh và khô kéo dài từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau Mùa gió nồm (mùa hè) mát mẻ, nhiều mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10 Lượng mưa trung bình hàng năm
từ 1.600 - 1.800 mm Bão lụt thường xảy ra từ tháng 6 đến tháng 9
2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
* Dân cư, lao động
Quận Lê Chân hiện có 216.516 nhân khẩu tương đương với 56.535 hộ gia đình, chia thành 949 tổ dân phố, mật độ dân số 18.251 người/km2
(tính tại thời điểm tháng
10 năm 2012) Độ tuổi lao động là 137.209 người, trong đó nam từ đủ 18 tuổi cho đến
60 là 70.067 người, nữ từ đủ 18 tuổi cho đến 55 là 67.142 người, độ tuổi hết tuổi lao động và già yếu là 27.369 người Độ tuổi dưới 18 là 51.938 người Cùng trong tình trạng với dân số của Thành phố, dân số quận Lê Chân thuộc diện dân số trẻ
* Y tế
Trang 34Nằm trên địa bàn phường Cát Dài có bệnh viện Hữu nghị Việt Tiệp là bệnh viện lớn của phía bắc, bệnh viện của miền duyên hải Bắc bộ có 2 khu nhà bệnh 7 tầng vừa được xây dựng với 800 giường bệnh Trên địa bàn phường Lam Sơn có bệnh viện
đa khoa Máy Đá, trên địa bàn phường Trại Cau có Bệnh viện Hồ Sen với tổng số giường bệnh là 120 Các bệnh viện có đội ngũ thầy thuốc giỏi, tận tâm tận lực với nghề nghiệp, với việc khám và chữa bệnh cho nhân dân, đặc biệt là bệnh nhân là đối tượng có bảo hiểm xã hội, bệnh nhân diện chính sách
* Văn hoá
Quận Lê Chân được hình thành trên cơ sở đô thị cũ và mở rộng ra một số xã ven đô, nhưng phần đô thị mở rộng lại chủ yếu là tự phát Trên toàn quận có sẵn mặt nước một số ao, hồ và kênh dẫn nước là kênh đào Thượng Lý và sông Lạch Tray bao bọc phía Tây và Nam quận Lê Chân Đến nay, trên địa bàn quận có rất nhiều di tích lịch sử và điểm văn hóa tâm linh, như: chùa Hàng, đền Nghè, đập Tam Kỳ, đình Hàng, đình An Biên, chùa Chiếu, đình Hàng Kênh… Hơn nữa, quận Lê Chân có 5 km sông Lạch Tray chạy qua, từ cầu Quay (đoạn sông đào) ra cầu An Đồng đến cầu Rào Đây
là một con sông đẹp nhưng rất tiếc chưa khai thác hết được tiềm năng Nếu biết phát huy du lịch sông nước bên 2 bờ sông như sông Thượng Hải (Trung Quốc) hay sông Hàn (Đà Nẵng) thì nơi đây sẽ tạo thành một điểm nhấn du lịch sinh thái tuyệt vời
* Kinh tế
Kinh tế của quận có tốc độ tăng trưởng nhanh trong những năm qua, phát triển theo hướng bền vững, ưu tiên phát triển các lĩnh vực có sử dụng công nghệ cao và ngành nghề sử dụng nhiều lao động, hiệu quả kinh tế lớn, ít làm ảnh hưởng đến môi trường Năm 2011, được sự quan tâm của Đảng ủy, Hội đồng nhân dân, UBND thành phố Hải Phòng cùng với sự nỗ lực, phối kết hợp của các ban ngành đoàn thể, quận đã thực hiện thắng lợi những mục tiêu, chương trình về phát triển kinh tế - xã hội đề ra Kết quả đạt được như sau:
*Ngành nông nghiệp
Tỷ trọng của ngành nông nghiệp trong năm 2011 chỉ chiếm một tỷ trọng rất nhỏ trong cơ cấu các ngành kinh tế với 1,0% Tỷ lệ trong cơ cấu kinh tế giảm dần qua các năm là do diện tích đất nông nghiệp bị thu hẹp dần bởi Nhà nước thu hồi đất xây dựng khu công nghiệp, khu đô thị phục vụ quá trình đô thị hóa Tuy nhiên, đầu tư vào nông
Trang 35nghiệp không cho hiệu quả cao bằng các ngành khác, nên nhiều hộ gia đình, nhiều lao động
đã lựa chọn việc chuyển sang ngành nghề khác thay vì làm nông nghiệp
Bảng 2.1 : Giá trị sản xuất các ngành kinh tế của quận Lê Chân năm 2011
Nguồn: UBND quận Lê Chân
Bảng 2.2: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế của quận Lê Chân qua các năm
2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011
1 Công nghiệp – xây dựng 48 59,7 56 51,3 57,2 54,5 55,8
2 Thương mại – Dịch vụ 39,6 32,1 36,7 32,7 39,9 44 43,2
Nguồn: UBND quận Lê Chân
*Ngành công nghiệp - xây dựng:
Ngành công nghiệp - xây dựng luôn chiếm tỷ trọng lớn nhất trong cơ cấu các ngành kinh tế, đem lại nguồn thu lớn nhất cho địa phương Năm 2011, tỷ trọng của ngành công nghiệp chiếm 55,8% tổng giá trị sản xuất Sản phẩm phong phú, đa dạng, chất lượng ngày càng nâng cao Quận đang đẩy mạnh xây dựng cụm Công nghiệp vừa
và nhỏ Vĩnh Niệm giai đoạn 2 Trên địa bàn quận có làng nghề được Thành phố công nhận danh hiệu làng nghề truyền thống là: Da giầy
Trang 36không ngừng qua các năm Chỉ tính riêng năm 2011, tỷ trọng của ngành Thương mại - dịch vụ chiếm 43,2% tổng giá trị sản xuất Các chương trình xúc tiến thương mại, việc thực hiện chủ trương “Người Việt Nam dùng hàng Việt Nam” được thực hiện tích cực, đạt kết quả tốt Công tác kiểm tra, kiểm soát thị trường và công tác chống buôn lậu, sản xuất hàng giả, gian lận thương mại được tăng cường, thị trường đảm bảo ổn định Nhìn chung, tỷ trọng này vẫn còn khá khiêm tốn so với đà phát triển của Quận
2.1.3 Tình hình quản lý, sử dụng đất của quận Lê Chân
Trước khi có Luật đất đai năm 1993, việc quản lý đất đai chưa chặt chẽ tình trạng tranh chấp, lấn chiếm đất diễn ra trên nhiều dạng khác nhau nhưng không có cơ
sở giải quyết, đất do nhiều ngành nhiều cấp quản lý Nguyên nhân chính của những tồn tại trên là do hệ thống quản lý đất đai từ cấp quận cho tới phường không ổn định, đội ngũ cán bộ địa chính thiếu và yếu về năng lực chuyên môn, hơn nữa những chính sách về đất đai được ban hành đã không còn phù hợp với nền kinh tế thị trường nên công tác quản lý đất đai không chặt chẽ, việc theo dõi biến động đất đai không đầy đủ, không liên tục, thiếu các tài liệu cần thiết cho việc quản lý sử dụng đất
Từ năm 1993 đến nay, được sự chỉ đạo lãnh đạo của UBND quận, Sở Địa chính (từ năm 2004 là Sở Tài nguyên và Môi trường), công tác quản lý đất đai của Quận đã dần đi vào nề nếp và đạt được một số kết quả khả quan
- Công tác đo đạc lập bản đồ địa chính: Ủy ban nhân dân Quận đề nghị Ủy ban nhân dân Thành phố cho phép đo vẽ bản đồ địa chính công nghệ số, đến nay đã có 14 phường có bản đồ địa chính công nghệ số, còn lại là phường Cát Dài và một phần của phường An Biên mới chính là phường An Biên cũ khi phường An Biên sáp nhập với phường Mê Linh và lấy tên là phường An Biên, chưa có bản đồ địa chính công nghệ
trong đó: Đất ở = 199.239 m2, đất công
Trang 37trình công cộng = 962 m2
, đất cơ sở hạ tầng = 96.723 m2
, với 20 dự án Chuyển mục đích sử dụng đất từ đất nông nghiệp sang đất ở 11 trường hợp với diện tích là 827 m2
Bảng 2.3: Diện tích và cơ cấu các loại đất của quận Lê Chân năm 2011
Nguồn: Phòng Tài nguyên Môi trường quận Lê Chân [18]
* Tình hình sử dụng đất nông nghiệp của quận Lê Chân
Quận Lê Chân có diện tích đất nông nghiệp là 203,59ha, chiếm 17,17% tổng diện tích đất tự nhiên của quận Trong đó:
Đất sản xuất nông nghiệp: Đất trồng cây hàng năm có diện tích là 113,77ha, chiếm 9,59% diện tích đất tự nhiên (trong đó đất trồng lúa diện tích 107,36ha, Đất trồng cây hàng năm khác diện tích 6,41ha) Diện tích này được sử dụng để trồng lúa, rau màu,
Đất nuôi trồng thủy sản có diện tích là 89,17ha, chiếm 7,52% diện tích đất tự
Trang 38nhiên Diện tích nuôi trồng thủy sản của phường chủ yếu là nuôi dạng ao, hồ phân bố trong khu dân cư Các loại cá thường được nuôi là: Cá trắm cỏ, cá trôi, cá rô phi
Đất nông nghiệp khác có diện tích là 0,65ha, chiếm 0,05% tổng diện tích đất tự nhiên
Bảng 2.4: Diện tích và cơ cấu đất nông nghiệp quận Lê Chân năm 2011
(ha)
Cơ cấu (%)
Tổng diện tích đất nông nghiệp NNP 203,59 100
Nguồn: Phòng Tài nguyên môi trường quận Lê Chân [18]
* Biến động đất đai giai đoạn 2005 - 2011
Trong giai đoạn 2005 - 2011, do địa bàn quận nằm trong khu quy hoạch phát triển khu đô thị và công nghiệp nên diện tích các loại đất có sự biến động tương đối lớn đặc biệt là đất nông nghiệp Cụ thể biến động diện tích các loại đất như sau:
Tổng diện tích tự nhiên của quận năm 2011 là 1.186,30ha tăng 5,00ha so với năm 2005 do đo đạc địa chính chính quy cho phường Dư Hàng Kênh ( nay là phường Kênh Dương và phường Dư Hàng kênh) hoàn thành vào cuối năm 2010 Có sự thay đổi về diện tích tự nhiên là thêm 5ha
Trang 39Bảng 2.5: Biến động các loại đất của quận Lê Chân giai đoạn 2005 -2011
2.4 Đất nghĩa trang, nghĩa địa 12,15 11,80 - 0,35 2.5 Đất sông suối và mặt nước CD 55,19 55,03 -5,21
Nguồn: Phòng Tài nguyên Môi trường quận Lê Chân [18]
Trang 40- Đất nông nghiệp: Trong giai đoạn 2005 - 2011, diện tích đất nông nghiệp của
quận đã giảm 41,10ha Chi tiết biến động các loại đất :
* Đất trồng lúa: giảm 34,40ha so với năm 2005
Giảm do chuyển sang các loại đất khác: Đất trồng cây hàng năm khác: 1,25ha do không đảm bảo hệ thống tưới, tiêu và điều kiện để trồng lúa Đất ở đô thị: 11,67 ha nhu cầu phát triển đô thị, chuyển đổi mục đích sử dụng đất, xây dựng các khu tái định
cư Đất trụ sở cơ quan công trình sự nghiệp: 0,08ha để xây dựng các trụ sở cơ quan trên địa bàn quận Đất an ninh : 0,29ha để xây dựng trụ sở công an phường, kho vật chứng công an quận Đất có mục đích công cộng : 20,29ha để xây dựng các công trình công cộng phục vụ nhân dân như: Giao thông, thủy lợi, trường học, trạm y tế
* Đất trồng cây hàng năm khác: giảm 4,06ha
Giảm do chuyển sang: Đất có mục đích công cộng 0,01ha để xây dựng các công trình công cộng phục vụ nhân dân.Giảm khác: 4,05ha do việc thống kê sau khi đã xây dựng bản đồ địa chính chính quy và điều tra quỹ đất nông nghiệp
Diện tích đất nuôi trồng thủy sản của quận trong những năm qua vẫn giảm mạnh, giảm 2,64ha so với năm 2006 cụ thể: Giảm do chuyển sang các loại đất khác: Đất trồng cây hàng năm khác 0,65ha, đất có mục đích công cộng 1,99ha
- Đất phi nông nghiệp: tăng 39,18ha do đo đạc địa chính chính quy, triển khai
thực hiện các dự án trên địa bàn quận và do kiểm kê tình hình sử dụng đất các tổ chức theo Chỉ thị 31/ CT- TTg Biến động của đất phi nông nghiệp như:
* Đất ở tại đô thị : Tăng 21,95ha, tăng do các loại đất khác chuyển sang là đất trồng lúa chuyển sang: 11,67ha, đất trụ sở cơ quan công trình sự nghiệp: 0,29ha, đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp chuyển sang: 0,79ha, đất có mục đích công cộng chuyển sang: 1,17ha, đất sông suối mặt nước và mặt nước chuyên dùng: 0,13ha, tăng khác : 11,90ha Giảm do chuyển chuyển sang các mục đích sử dụng khác: đất có mục đích công cộng 3,97ha, giảm khác 0,03ha
* Đất trụ sở cơ quan, công trình sự nghiệp: tăng 0,92ha, tăng do các loại đất khác chuyển sang là tăng do chuyển từ đất trồng lúa: 0,80ha Do chuyển từ đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp: 0,58, do chuyển từ đất công cộng: 0,03, tăng khác: 0,42ha Giảm do chuyển sang các mục đích sử dụng khác: giảm do chuyển sang đất ở đô thị 0,29ha, giảm khác do việc sai số liệu thống kê, đo đạc bản đồ địa chính: 0,62ha