Đỗ Bích Thúy đoạt giải nhất cuộc thi truyện ngắn Văn nghệ Quân đội năm 2000-2001, Nguyễn Đình Tú đoạt giải nhì cuộc thi truyện ngắn Văn nghệ Quân đội năm 2000-2001, Nguyễn Thế Hùng đoạt
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
ĐOÀN MINH TÂM
TRUYỆN NGẮN CÁC CÂY BÚT TRẺ QUÂN ĐỘI (QUA NGUYỄN THẾ HÙNG, ĐỖ TIẾN THỤY, NGUYỄN ĐÌNH TÚ)
LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Lý luận văn học
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
ĐOÀN MINH TÂM
TRUYỆN NGẮN CÁC CÂY BÚT TRẺ QUÂN ĐỘI (QUA NGUYỄN THẾ HÙNG, ĐỖ TIẾN THỤY, NGUYỄN ĐÌNH TÚ)
LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Lý luận văn học
Mã số: 60.22.32
Người hướng dẫn: GS.TS Lê Văn Lân
Hà Nội – 11/2010
Trang 3Mục lục
Lời cảm ơn…… ………3
Mở đầu:…… ……….4
Chương 1: Vài nét khái lược về các nhà văn trẻ và các nhà văn trẻ quân đội……….8
1.1:Vài nét khái lược về các nhà văn trẻ……… 8
1.1.1.Thế hệ nhà văn – nhà tri thức……….……… …… 10
1.1.2 Thế hệ nhà văn – nhà hội nhập… ……….10
1.1.3 Thế hệ nhà văn sống trong hoàn cảnh “không thuận lợi” cho sự phát triển văn học……… ……….12
1.1.3.1 Sự hờ hững của độc giả đối với văn chương và các hệ lụy phái sinh……….12
1.1.3.2.Sự thiếu vắng những tiền đề xã hội cho văn học phát triển………14
1.2.Vài nét khái lược về các nhà văn trẻ trong quân đội……… 15
1.2.1 Tình yêu với màu xanh áo lính………17
1.2.2 Bản lĩnh chính trị vững vàng……… 17
1.2.3 Những thuận lợi và khó khăn đặc thù của các nhà văn trẻ quân đội……… 18
1.3 Vài nét khái lược về ba nhà văn trẻ quân đội……… 20
1.3.1 Nhà văn Nguyễn Thế Hùng…… ……… 20
1.3.2 Nhà văn Đỗ Tiến Thụy……….21
1.3.3 Nhà văn Nguyễn Đình Tú……… 21
Chương2: Một vài đặc điểm về nội dung trong truyện ngắn của ba cây bút trẻ quân đội……… 23
2.1 Đề tài người lính hôm nay……… 23
2.1.1 Một vài nhận xét ban đầu……….23
2.1.2 Quan niệm về người lính hôm nay……… 26
Trang 4 2.1.3 Hình tượng người lính hôm nay trong sáng tác của ba nhà văn quân
đội……… 28
2.1.3.1 Những khó khăn, gian khổ của người lính hôm nay……… 28
2.1.3.2 Vẻ đẹp tâm hồn người lính hôm nay……….37
2.2 Đề tài miền quê……… 41
2.2.1 Miền quê nghèo đói, lạc hậu……… 42
2.2.2 Miền quê tha hóa trong cơn lốc đô thị hóa……… 45
2.2.3 Miền quê ấm áp nghĩa tình……… 48
2.3 Đề tài thành thị………51
2.3.1 Đời sống tha hóa của tầng lớp thị dân.giàu có………51
2.3.2 Đời sống nhợt nhạt, nghèo khổ của tầng lớp cư dân ngụ cư thành thị……… 53
Chương3: Một vài đặc điểm về nghệ thuật xây dựng truyện ngắn của ba cây bút trẻ quân đội……… 59
3.1 Kiểu nhân vật trong truyện ngắn của ba cây bút trẻ quân đội…………59
3.1.1 Kiểu nhân vật tư tưởng trong truyện ngắn Nguyễn Đình Tú……… 59
3.1.2 Kiểu nhân vật tha hương trong truyện ngắn Đỗ Tiến Thụy………….63
3.1.3 Kiểu nhân vật bản năng trong truyện ngắn Nguyễn Thế Hùng… …65
3.2 Kết cấu truyện ngắn của ba cây bút trẻ quân đội………68
3.2.1 Kết cấu truyện ngắn Nguyễn Đình Tú……… 68
3.2.2 Kết cấu truyện ngắn Đỗ Tiến Thụy……… 70
3.2.3 Kết cấu truyện ngắn Nguyễn Thế Hùng……… 75
3.3 Giọng điệu trong truyện ngắn của ba cây bút trẻ quân đội……….78
3.3.1 Giọng điệu trong truyện ngắn Nguyễn Đình Tú……… 78
3.3.2 Giọng điệu trong truyện ngắn Đỗ Tiến Thụy……… 81
3.3.3 Giọng điệu trong truyện ngắn Nguyễn Thế Hùng………84
Kết luận……… 90
Tài liệu tham khảo……… 92
Trang 5Mở đầu
1 Lý do chọn đề tài
Trong lịch sử văn học Việt Nam hiện đại, những nhà văn mặc áo lính có một
vị trí, vai trò quan trọng Tính đến nay, thế hệ những người lính cầm bút đã trải qua con số bốn Thế hệ thứ nhất xuất hiện trong kháng chiến chống Pháp với những tên tuổi như Hoàng Lộc, Vũ Cao, Trần Mai Ninh, Minh Huệ, Quang Dũng, Hồ Phương, Nguyên Ngọc… cùng những tác phẩm báo hiệu một thời kỳ mới của dòng văn học
cách mạng như Núi Đôi, Viếng bạn, Nhớ máu, Đêm nay Bác không ngủ, Cỏ non,
Đất nước đứng lên, Tây Tiến … Thế hệ nhà văn quân đội thứ hai là thế hệ trưởng
thành trong kháng chiến chống Mỹ Đây là đội ngũ nhà văn hùng hậu, đầy tài năng
có vai trò và tầm ảnh hưởng lớn đến văn học Việt Nam giai đoạn 1954 -1975 cũng như về sau này như Nguyễn Thi, Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải, Xuân Thiều, Thu Bồn, Nguyễn Khắc Trường, Hữu Thỉnh, Hữu Mai, Khuất Quang Thụy, Nguyễn Đức Mậu, Anh Ngọc, Chu Lai, Lê Lựu, Nguyễn Trí Huân, Vương Trọng, Trần Đăng Khoa … Thế hệ nhà văn quân đội thứ ba là thế hệ sinh ở cuối thập kỷ năm mươi, đầu thập niên sáu mươi của thế kỷ trước như Sương Nguyệt Minh, Nguyễn Hữu Quý, Bùi Thanh Minh, Nguyễn Bình Phương, Nguyễn Quốc Trung, Nguyễn Anh Nông, Mai Nam Thắng… Khi họ đến tuổi trưởng thành tuy đất nước thống nhất hai miền Nam Bắc sau hơn hai mươi năm chia cắt nhưng vẫn chưa nguôi tiếng súng Những nhà văn mặc áo lính thuộc thế hệ thứ ba lại cầm súng chiến đấu với quân Pôn Pốt xâm lược, rồi sang nước bạn Cam-pu-chia làm nghĩa vụ quốc tế cao
cả cho đến khi hoàn thành nhiệm vụ năm 1989 Thế hệ nhà văn thứ 4 của quân đội
là thế hệ những nhà văn sinh ở thập niên thập niên của thế kỷ trong hoàn cảnh đất nước hưởng nền hòa bình trọn vẹn như Đỗ Bích Thúy, Nguyễn Đình Tú, Đỗ Tiến Thụy, Nguyễn Thế Hùng, Phùng Văn Khai, Hồ Kiên Giang, Thôn Trung Phương, Phạm Duy Nghĩa, Phùng Kim Trọng… Ở họ nổi lên hai đặc điểm lớn Thứ nhất tình yêu với màu xanh áo lính Không như những bạn văn cùng trang lứa chọn những công việc khác thoái mái, tự do, nhàn hạ, họ tình nguyện gia nhập quân đội, tình nguyện sống trong môi trường kỷ luật nghiêm khắc với nhiều ràng buộc, sẵn
Trang 6sàng tuân theo sự điều động của quân đội, sẵn sàng đi bất cứ nơi đâu Tổ quốc cần
để bảo vệ mảnh đất hình chữ S thân yêu máu thịt Thứ hai là tài năng văn chương Những nhà văn quân đội thuộc thế hệ thứ tư sớm khẳng định mình trên văn đàn bằng những giải thưởng văn học uy tín Đỗ Bích Thúy đoạt giải nhất cuộc thi truyện
ngắn Văn nghệ Quân đội năm 2000-2001, Nguyễn Đình Tú đoạt giải nhì cuộc thi truyện ngắn Văn nghệ Quân đội năm 2000-2001, Nguyễn Thế Hùng đoạt giải nhất cuộc thi truyện ngắn Đồng bằng sông Cửu Long năm 2004, giải ba cuộc thi truyện ngắn Văn nghệ Quân đội năm 2005-2006, được Hội liên hiệp văn học nghệ thuật Hà Nội trao giải năm 2010 cho tiểu thuyết Họ vẫn chưa về… Cho đến nay đã có nhiều
bài viết, bài phê bình, thậm chí nhiều công trình nghiên cứu kỹ càng về các tác phẩm của họ Tuy nhiên đa phần những công trình này nghiêng về các tác giả riêng
rẽ, chú trọng nhiều đến các tác phẩm văn học mang đề tài thế sự chứ chưa quan tâm đúng mức những đặc điểm mang tính chất thế hệ, đến mảng tác phẩm họ viết về người lính và chiến tranh cách mạng Vì vậy việc bước đầu chỉ ra những đặc điểm chung mang tính chất thế hệ và những đặc điểm về nội dung và nghệ thuật, những nét riêng độc đáo trong các tác phẩm của những nhà văn “trung úy” thời bình hiện nay là cần thiết nhằm phân biệt rõ thế hệ này với ba thế hệ nhà văn quân đội trước
đây Đấy là lý do chính thôi thúc người viết hoàn thành bản luận văn Truyện ngắn
các cây bút trẻ Quân đội (Qua Nguyễn Thế Hùng, Đỗ Tiến Thụy, Nguyễn Đình Tú) này
2 Lịch sử vấn đề
Việc nghiên cứu các nhà văn trẻ quân đội nói chung và ba nhà văn Nguyễn Đình Tú, Nguyễn Thế Hùng, Đỗ Tiến Thụy nói riêng hiện nay chỉ tập trung ở các
bài phê bình, nghiên cứu đăng trên các báo chuyên ngành như báo Văn nghệ, Văn
nghệ trẻ, tạp chí Văn nghệ Quân đội… và các báo tổng hợp, các bài đăng trên các
báo mạng, những ý kiến phát biểu trong các cuộc hội thảo do ban văn trẻ thuộc Hội Nhà văn tổ chức hoặc trong các khóa luận, luận văn được thực hiện ở các trường đại học, viện nghiên cứu Ở thể loại truyện ngắn, về tác giả Nguyễn Đình Tú đáng chú
ý có các bài viết Nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Đình Tú in trên tạp chí Văn
Trang 7nghệ Quân đội số 631 của tiến sĩ Nguyễn Thanh Tú, bài viết Bốn lời bình về truyện ngắn Nguyễn Đình Tú in trên tạp chí Văn nghệ Quân đội số 661 của tác giả Đoàn
Minh Tâm Về tác giả Nguyễn Thế Hùng có bài viết Cái duyên trong truyện ngắn
Nguyễn Thế Hùng của tác giả Mai Thanh in trên tạp chí Văn nghệ Quân đội số 688,
bài viết Nguyễn Thế Hùng và những chuyến ngược ngàn của nhà nghiên cứu Lê Hương Thủy (Viện Văn học) in trên tạp chí Văn nghệ Quân đội số 38 cuối tháng 11 năm 2010 Về nhà văn Đỗ Tiến Thụy, có bài viết Xa xót đồng quê của tác giả Hà Thanh in trên Văn nghệ Quân đội số 24 cuối tháng 9 năm 2009, bài viết Về nhân
vật trong truyện ngắn Gió đồng se sắt của Đỗ Tiến Thụy của tác giả Nguyễn Hữu
Hoàng in trên tạp chí Văn nghệ Quân đội số 565+566
Các bài viết trên đều bàn đến tác phẩm của một tác giả cụ thể mà chưa có sự nghiên cứu, khảo sát mang tính chất tổng hợp về ba nhà quân đội nói trên Do vậy, cần thiết phải có một công trình nghiên cứu về họ
3 Phạm vi, đối tượng, mục đích nghiên cứu
Các nhà văn trẻ quân đội hiện nay có rất nhiều đang nằm rải rác tại các tòa báo quân đội, các đơn vị cơ sở, các nhà trường quân đội, các quân binh chủng… Trong luận văn này, người viết chỉ nghiên cứu ba trường hợp tiêu biểu là các nhà văn Nguyễn Đình Tú, Nguyễn Thế Hùng và Đỗ Tiến Thụy, hiện đang công tác tại
ban văn xuôi tạp chí Văn nghệ Quân đội và các tác phẩm truyện ngắn của họ Các
nhà văn trẻ quân đội khác và các tác phẩm của họ không nằm trong phạm vi khảo sát của luận văn này Mục đích nghiên cứu chính của luận văn là nhằm chỉ ra những đặc điểm cơ bản về nội dung và nghệ thuật trong truyện ngắn của ba cây bút trẻ
quân đội này
4 Phương pháp nghiên cứu
Trong luận văn này, người viết sử dụng phương pháp thống kê, so sánh, miêu tả, phân tích và có sử dụng phương pháp tiểu sử trong một số trường hợp cần
thiết
5 Cấu trúc luận văn
Trang 8Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được cấu trúc thành 3 chương chính gồm:
Chương 1: Vài nét khái lược về các nhà văn trẻ và các nhà văn trẻ quân đội Chương 2: Một vài đặc điểm về nội dung trong truyện ngắn ba cây bút trẻ
quan ất mong được sự đóng góp, chỉ bảo của thầy cô, bạn đồng học, các nhà
nghiên cứu, phê bình trong và ngoài quân đội cùng các tác giả được đề cập đến trong luận văn này để người viết có thể hoàn thiện đề tài trong thời gian sớm nhất
Cuối cùng, người viết xin được bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc của mình đến Giáo sư – Tiến sĩ Mã Giang Lân - Người trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo và dìu dắt người viết từ hồi còn là sinh viên đại học cho đến ngày hôm nay Không có thầy, người viết không những không thể hoàn thành luận văn cao học này mà khó
có được cuộc sống như bây giờ
Trang 9Chương 1 VÀI NÉT KHÁI LƯỢC VỀ CÁC NHÀ VĂN TRẺ VÀ CÁC NHÀ
VĂN TRẺ QUÂN ĐỘI 1.1 Vài nét khái lược về các nhà văn trẻ
Văn học trẻ hay văn trẻ là cách gọi chung phổ biến hiện nay của các nhà văn thuộc các thế hệ kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ nói riêng và văn giới nói chung đối với những nhà văn sinh vào thập kỷ bảy mươi (7X), tám mươi (8X) của thế kỷ trước Cách gọi này mang tính chất cảm tính và cơ bản không phải là một thuật ngữ văn học theo đúng những tiêu chí nghiêm ngặt của một thuật ngữ khoa học chuyên ngành Xét trên bình diện văn học và xã hội, các nhà văn thế hệ 7X, 8X
là hai thế hệ có nhiều điểm khác biệt Về độ tuổi, các nhà văn thế hệ 7X đã trải qua
tuổi “nhi lập” đang bước dần đến tuổi tứ tuần, độ tuổi đức Khổng Tử đánh giá là ở trạng thái “nhi bất hoặc” nên lối sống, cách cư xử của họ đã có sự chừng mực, điềm đạm, đứng đắn nhất định Nhiều cây bút thế hệ 7X đang bước những bước vững vàng trên con đường “công danh sự nghiệp”, được cất nhắc lên nhiều vị trí quan trọng tại cơ quan mình công tác như Đỗ Bích Thúy hiện là Phó tổng biên tập tạp chí
Văn nghệ Quân đội, Nguyễn Đình Tú trưởng ban văn xuôi tạp chí Văn nghệ Quân đội, Phạm Duy Nghĩa trưởng ban lý luận phê bình tạp chí Văn nghệ Quân đội,
Phong Điệp trưởng ban Văn nghệ báo Văn nghệ trẻ… Trong khi đó, các nhà văn thế
hệ 8X hiện nay mới chập chững bước đến độ tuổi ba mươi, độ tuổi của sự trưởng thành, nên ở đôi lúc, đôi chỗ, đôi nơi, cách ứng xử xã hội còn nhiều va vấp Tuy nhiên đây không phải là nguyên nhân chính buộc chúng tôi phải phân chia khái niệm văn trẻ ra thành hai thế hệ 7X và 8X Điểm khác biệt cơ bản nằm ở những yếu
tố chuyên môn Về đội ngũ, các nhà văn thế hệ 7X tập hợp một lực lượng sáng tác
đông đảo lên đến vài chục người trải dài từ địa đầu tổ quốc cho đến mũi Cà Mau như Đỗ Bích Thúy, Nguyễn Đình Tú, Nguyễn Xuân Thủy, Nguyễn Thế Hùng, Nguyễn Mạnh Hùng, Đỗ Tiến Thụy, Phùng Văn Khai, Nguyễn Vĩnh Nguyên, Nguyễn Ngọc Thuần, Nguyễn Danh Lam, Nguyễn Ngọc Tư, Phong Điệp, Hồ Kiên Giang, Phạm Duy Nghĩa, Di Li, Trần Nhã Thụy, Nguyễn Vĩnh Tiến, Lê Thiếu
Trang 10Nhơn, Dương Bình Nguyên, Đặng Thiều Quang, Thụy Anh, Phan Huyền Thư, Kiều Bích Hậu, Vũ Đình Giang…Trái ngược với sự “hùng mạnh” của các bậc đàn anh, đàn chị, thế hệ cầm bút 8X hiện nay quanh quẩn với những cái tên như Vi Thùy Linh, Nguyễn Quỳnh Trang, Trần Thu Trang, Hoàng Chiến Thắng, Nguyễn Thế Hoàng Linh, Thủy Anna, Đoàn Văn Mật, Đồng Chuông Tử, Phạm Vân Anh, Từ Nữ
Triệu Vương … Về khuynh hướng sáng tác, các nhà văn thế hệ 7X đa phần đều là
các cây bút thiên về văn xuôi, chỉ có một số ít làm thơ như Nguyễn Vĩnh Tiến, Phan Huyền Thư, trong khi đó các cây bút thế hệ 8X lại nghiêng về phía thơ ca nhiều hơn
và những gì được coi là thành công họ đạt được cho đến nay cũng chủ yếu ở thể loại này…Và điều quan trọng hơn cả là trong khi nhiều nhà văn thế hệ 7X đã có khối lượng tác phẩm tương đối dày, đã định hình được phong cách sáng tác, tạo dựng được thương hiệu, vị trí và tầm ảnh hưởng của mình trên văn đàn thông qua việc
đoạt các giải thưởng văn học uy tín của báo Văn nghệ, tạp chí Văn nghệ Quân đội,
Hội Nhà văn, giải thưởng văn học Asean…, được đông đảo công chúng biết đến như Nguyễn Ngọc Tư, Đỗ Bích Thúy, Nguyễn Ngọc Thuần, Nguyễn Đình Tú, Phạm Duy Nghĩa, Nguyễn Danh Lam, Kiều Bích Hậu… thì có một số lượng lớn các nhà văn thế hệ 8X đang chật vật đi tìm con đường văn học riêng cho bản thân, và không ít người đã chọn cho mình dòng văn học giải trí, chạy theo thị hiếu thị trường (có tính chất tầm thường) để mong “nổi danh” sớm chứ không đeo đuổi văn chương như một niềm đam mê nghệ thuật đích thực như trường hợp của các tác giả Keng, Gào….Do vậy không thể gộp chung hai thế hệ cầm bút vào trong khái niệm vốn chỉ
có ý nghĩa trên phương diện xác định độ tuổi Vậy nên trong khuôn khổ luận văn này, khi đề cập đến khái niệm văn học trẻ, người viết chỉ đề cập đến thế hệ 7X chứ không bàn đến thế hệ 8X Mọi điều người viết trình bày về văn học trẻ trong luận văn này là trình bày về văn học 7X Theo quan điểm của người viết về thế hệ cầm bút 8X chúng ta cần có thời gian chờ đợi, xem xét trước khi đưa ra những đánh giá,
nhận định, kể cả những nhận định mang tính chất khái lược, bước đầu
Mặt khác trong luận văn này người viết cũng không đặt ra yêu cầu phải giải quyết rốt ráo, quyết liệt vấn đề khái niệm văn học trẻ một cách chính xác như là một
Trang 11thuật ngữ văn học mà chỉ trình bày, làm rõ một vài đặc điểm của các nhà văn trẻ hiện nay theo suy nghĩ của bản thân Theo quan điểm cá nhân của người viết thế hệ cầm bút 7X có những nét khu biệt rất riêng so với các thế hệ nhà văn đi trước ở
và sinh hoạt trong khoa sáng tác và lý luận phê bình thuộc đại học Văn hóa Hà Nội hoặc đại học Văn hóa nghệ thuật quân đội Việc tốt nghiệp đại học (và ở các cấp học cao hơn) mang lại cho các nhà văn trẻ một nền tảng kiến thức cơ bản, toàn diện
và trong nhiều trường hợp giúp ích cho họ rất nhiều trong văn nghiệp Đơn cử như trường hợp nhà văn Nguyễn Đình Tú Những tri thức tích lũy về hình sự, về công tác tòa án trong những năm học ở đại học Luật là một lợi thế cơ bản của anh với các đồng nghiệp khi cùng viết về đề tài tội phạm Trong khi các bạn viết cùng trang lứa phải bỏ nhiều công sức, thời gian tìm hiểu tài liệu (mà hiệu quả chưa chắc đã cao) thì anh chỉ việc “ung dung” ngồi viết Đến giờ, những trang viết về thế giới tội
phạm và tòa án trong ba tiểu thuyết Hồ sơ một tử tù, Nháp và Phiên bản của nhà
văn Nguyễn Đình Tú được dư luận đánh giá cao về sự vững vàng, chắc chắn và thuyết phục
Trang 121.1.2 Thế hệ nhà văn – nhà hội nhập
Trong những năm tháng chiến tranh, giới trí thức nói chung và tầng lớp văn nghệ sĩ nói riêng thường chỉ tiếp xúc với tri thức, các trào lưu tư tưởng, văn hóa - văn học của các nước xã hội chủ nghĩa như Nga hay Đông Âu Các trào lưu tư tưởng, các tác phẩm văn học – nghệ thuật ở Tây Âu, Mỹ, hay các nước theo con đường tư bản chủ nghĩa đều bị hạn chế gắt gao, nếu có giới thiệu thì cũng chỉ trong phạm vi, giới hạn hết sức nhỏ hẹp Sau ngày giải phóng, đất nước ta tiến hành công cuộc cải cách mở cửa trên nhiều lĩnh vực, trong đó có lĩnh vực văn hóa – nghệ thuật Thế hệ cầm bút 7X hôm nay thỏa thuê mặc sức tìm hiểu, nghiên cứu những
tư tưởng triết học, những trào lưu văn học, những tác phẩm văn chương từ khắp
“năm châu bốn biển” mình quan tâm mà không vấp phải những trở ngại như các thế
hệ cầm bút đi trước Hơn nữa, họ lại đang sống trong trong thời đại internet kết nối toàn cầu, chỉ cần một chiếc máy tính cùng vài cú nhấp chuột là cả thế giới hiện ra trước mắt nên việc tìm kiếm thông tin lại càng dễ dàng Chính sự thuận lợi này dẫn đến hiện tượng khá phổ biến hiện nay trên văn đàn là không khó để bắt gặp dấu ấn những tác giả lớn trên thế giới trong sáng tác của các cây bút thế hệ 7X Tiểu thuyết
Sự trở lại của vết xước của Trần Nhã Thụy chịu ảnh hưởng của Murakami ở những
tình tiết liên quan đến sự hình thành và biến mất của vết xước trên thân thể nhân vật
tôi Nguyễn Danh Lam khi viết tiểu thuyết Giữa vòng vây trần gian đã bộc bạch
rằng mình viết cuốn sách này dưới ảnh hưởng lớn từ nhà văn Tiệp Khắc nổi tiếng
Kafka
Ở chiều hướng ngược lại, các nhà văn trẻ cũng có điều kiện giới thiệu, quảng bá tác phẩm của mình ra nước ngoài tự do, thoải mái mà không gặp bất cứ một “nghi vấn đáng quan ngại” nào từ phía các cơ quan chức năng Trường hợp tập truyện
ngắn Cánh đồng bất tận của nhà văn vùng đất mũi Cà Mau Nguyễn Ngọc Tư được dịch giả Ha Jae Hong dịch ra tiếng Hàn, hay truyện ngắn Hoa cẩm tú cầu ứng mệnh
của Phạm Duy Nghĩa được nhà văn Hồ Anh Thái tuyển chọn trong tuyển tập 100 truyện ngắn Việt Nam hay dịch sang tiếng Anh để giới thiệu với bạn đọc Mỹ là
Trang 13những tín hiệu vui cho thấy quá trình hội nhập văn học thế giới của các nhà văn trẻ
đang có những bước phát triển đáng mừng
1.1.3 Thế hệ nhà văn sống trong hoàn cảnh “không thuận lợi” cho sự phát triển văn học
Ở hai luận điểm trên người viết đã trình bày những thuận lợi cơ bản của các nhà văn trẻ so với các thế hệ cầm bút đi trước Tuy nhiên đó chỉ là những thuận lợi mang tính chất “hỗ trợ” chứ không phải là những nhân tố có sức ảnh hưởng lớn, quyết định đến sự nghiệp văn chương của các nhà văn trẻ Sự thật trong điều kiện hiện nay, để thành công, các nhà văn thế hệ 7X (và 8X, 9X) sau này sẽ phải nỗ lực hơn rất nhiều so với các thế hệ đi trước bởi họ phải đối diện với hàng loạt những
diễn ca nhạc, chương trình tìm kiếm tài năng âm nhạc như Sao Mai, Sao Mai điểm
hẹn…được tổ chức đều đặn với mật độ dày Các quán điện tử với những trò chơi
hấp dẫn trên những cỗ máy Playstation tân tiến ngày một phổ biến Việc đi theo các tua du lịch khám phá trong nước, ngoài nước đã trở thành hoạt động thường niên của một bộ phận người Việt Nam Đặc biệt sự xuất hiện của Internet dẫu muộn nhưng cũng tạo ra một thay đổi lớn trong cách hưởng thụ văn hóa của người Việt Đọc báo, xem phim, tìm kiếm thông tin, nghe nhạc, trò chuyện với bạn bè… mọi thứ đều có thể tiến hành cùng lúc miễn là máy tính nối mạng Những phương tiện, loại hình văn hóa – giải trí kể trên có ưu điểm là tính tương tác cao giữa người và thiết bị, nhanh gọn, hiện đại, dễ hiểu, dễ thưởng thức, không phải mất nhiều công sức suy ngẫm nhưng vẫn đem lại niềm sảng khoái… Đây là những ưu điểm vượt
Trang 14trội nếu đem so với với việc đọc một cuốn sách dày đặc toàn chữ là chữ, mất thời gian chiêm nghiệm, suy nghĩ, tìm tòi, luận giải về những tư tưởng được tác giả ẩn giấu bên dưới những ký tự khô khan, những hình tượng nhân vật, những thủ thuật thi pháp đôi lúc rối rắm khó hiểu…Do vậy, không quá khó hiểu khi giờ đây mối quan tâm của công chúng đối với văn học giảm sút Thế hệ bạn đọc hôm nay giờ không những hờ hững với tác phẩm của các tác giả cùng độ tuổi mà còn không mấy mặn mà ngay cả với những kiệt tác văn chương của nhân loại Mặt khác, nếu tìm đến sách thì các sách dạy làm giàu, dạy làm đẹp được họ ưa chuộng hơn những tác
phẩm văn học Trong bài viết Văn học đọc đang xuống cấp đăng trên báo điện tử Tổ
quốc, ông Vũ Hoàng Giang, Phó giám đốc công ty Nhã Nam bộc bạch: Gần đây các bạn trẻ không còn quan tâm nhiều đến sách văn học dịch, những tác phẩm kinh điển như “Tam quốc diễn nghĩa”, “Hồng lâu mộng”, “Đông Chu liệt quốc”…, nên thể loại sách dịch mang tính giải trí, thông tin thời sự của Anh, Mỹ luôn được chúng tôi đẩy lên phát hành với số lượng lớn 1
Báo Lao động số ra ngày 16 tháng 7 năm
2003 đưa ra một con số thống kê đáng quan ngại như sau: Không kể sách chuyên
ngành (62% sinh viên có đọc) loại sách được đọc nhiều nhất là… truyện tranh (60%), kế đến là truyện ngắn (50%), truyện dịch (35%), tiểu thuyết trong nước (30%) và thơ (20%) Hệ quả tất yếu đến từ sự lãnh đạm của công chúng là số lượng
bản in sụt giảm một cách đáng báo động Các tập truyện ngắn, tiểu thuyết trung bình in khoảng 1000 cuốn Thơ thông thường khoảng 500 cuốn Và điều đáng buồn hơn cả là những đứa con tinh thần được các tác giả dồn hết tâm huyết đấy rất ít khi
có chỗ đứng trên thị trường Chúng thường được đem tặng hoặc nẳm trong góc khuất của các thư viện hay tại các giá sách tại các hàng sách lớn Hiện tượng này không chỉ xảy ra với các tác giả trẻ, ngay cả các tên tuổi văn chương một thời cũng
chịu cảnh tương tự Nếu trước đây, trường ca Đường tới thành phố của nhà thơ Hữu Thỉnh in đến 80.000 bản thì số lượng tập thơ Thương lượng với thời gian cũng do
ông viết và xuất bản trong năm 2005 không vượt qua con số 1000 bản Vấn đề không nằm ở chất lượng tác phẩm mà do sự hờ hững của độc giả khiến các nhà xuất
1
Trang 15bản không thể in với một số lượng “hoàng kim” như trước kia Lượng “tia ra” giảm mạnh làm nhuận bút cũng “xuống dốc không phanh” Trước khi cải cách mở cửa,
nhuận bút tiểu thuyết Nắng đồng bằng giúp nhà văn Chu Lai mua ti vi, tủ lạnh
(những món hàng có giá trị cực lớn ở thời điểm đó), thoát khỏi cảnh đi chở xe nước
đá kiếm tiền phụ gia đình Song nhuận bút ở thời điểm hiện tại cho một cuốn tiểu thuyết (in 1000 bản) chỉ có mấy triệu đồng Một số tiền quá ít ỏi so với công sức lao động hàng mấy năm trời của nhà văn Có thể nói rằng các nhà văn thế hệ 7X hiện tại rất ít người sống được bằng nghề văn Nhiều người trong số họ phải làm các nghề khác như viết báo, kinh doanh… để tiếp tục sống cùng văn chương và không ngừng mơ ước văn chương bao giờ “trở lại ngày xưa”
1.1.3.2 Sự thiếu vắng những tiền đề xã hội cho văn học phát triển
Hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ đã gây ra nhiều mất mát đau thương không gì bù đắp nổi cho dân tộc Việt Nam Nhưng đây cũng lại là môi trường thuận lợi cho văn học phát triển, cho sự ra đời của những tác giả lớn cùng các tác phẩm lớn Văn chương thời loạn thường hay Điều này đúng với cả thế giới
và Việt Nam Thế chiến thứ hai cướp đi sinh mạng của hơn 60 triệu con người
nhưng lại đem lại cho văn học thế giới một Hêmingway với Giã từ vũ khí, Chuông
nguyện hồn ai, là nguồn cảm hứng cho Hunter Glass viết Cái trống thiếc sau này
Đất nước Việt Nam cuối thế kỷ 18 đầy loạn lạc thì văn học nước nhà sinh ra những Nguyễn Du, Đặng Trần Côn, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Gia Thiều… Thời Pháp thuộc và chín năm kháng chiến chống Pháp nền văn học nước nhà hình thành thế hệ nhà thơ mới: Xuân Diệu, Huy Cận, Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, Nguyễn Bính, Tế Hanh, Tố Hữu, Hữu Loan, Vũ Cao, Quang Dũng, Hoàng Trung Thông, Nguyễn Đình Thi Trần Mai Ninh… Thời chống Mỹ đã tạo nên những tên tuổi như Hữu Thỉnh, Phạm Tiến Duật, Nguyễn Khải, Nguyễn Minh Châu… Thế hệ cầm bút 7X
và sau này không có cái “may mắn” được “nhúng mình” vào những thời khắc, những giai đoạn lịch sử đầy bi thương và hào hùng đó nên “thua thiệt” nhiều về độ trải nghiệm vốn sống, về cảm hứng sáng tác…Do đó rất khó sáng tác nên những tác phẩm ghi “dấu ấn một thời và muôn đời” Nhà văn Khuất Quang Thụy từng nói các
Trang 16nhà văn trẻ trong quân đội hiện nay viết về người lính hôm nay khó hơn thế hệ ông viết về người lính thời chiến rất nhiều Thời chiến, chỉ riêng việc theo đơn vị tham gia trọn vẹn một trận đánh đã đủ “vốn liếng” cho cả đời văn Nhưng trong thời bình, khi mọi sinh hoạt của người lính đã đi vào nề nếp, tuân theo kế hoạch được lên chi tiết từng giờ thì thật sự khó phát hiện ra những vấn đề có thể viết được chứ chưa bàn đến việc hay, cảm động và sâu sắc Khi mà năng lực triết học của các nhà văn trẻ chưa vượt lên đến ngưỡng “nhìn thấu tương lai, soi tường quá khứ” thì việc bám vào hiện thực đời sống xã hội hiện tại để sáng tác vẫn là giải pháp khả thi nhất Nhưng trong hoàn cảnh hiện nay tìm được một vấn đề lớn, cảm hứng lớn thu hút sự quan tâm của toàn xã hội là điều không dễ dàng.Thời thế đã thay đổi! Bầu không khí “đại tự sự” không còn, thời đại “ra ngõ gặp anh hùng” cũng đã qua, những câu chuyện phi thường đã thành hoài niệm lịch sử, giờ chuyện cơm áo thường nhật, “lẽ sống hợp thời” choán hết tâm trí mọi người
Đây là hai khó khăn cơ bản nhất đối với các cây bút trẻ thế hệ 7X trong khát vọng đồng hành cùng văn chương Như vậy ở trên người viết vừa điểm qua những nét đặc trưng cơ bản nhất của thế hệ cầm bút 7X Những đặc trưng trên cũng là những đặc trưng của các nhà văn trẻ trong quân đội Tuy nhiên do công tác trong môi trường có tính đặc thù cao nên các nhà văn trẻ quân đội còn có những đặc trưng riêng dưới đây
1.2 Vài nét khái lược về các nhà văn trẻ trong quân đội
Con đường trở thành nhà văn quân đội của các cây bút trẻ tựu trung lại trong bốn trường hợp Trường hợp thứ nhất là những người được tuyển từ bên ngoài vào
quân đội, về làm ngay tại các cơ quan văn học của quân đội như tạp chí Văn nghệ
Quân đội, phòng văn nghệ báo Quân đội Nhân dân, phòng biên tập văn học Nhà xuất bản Quân đội… Những người được tuyển thường là những người có năng lực
văn chương đã được khẳng định, đáp ứng được các tiêu chuẩn về chính trị, đạo đức của quân đội nhân dân Việt Nam Tiêu biểu cho trường hợp này là hai nhà văn Đỗ Bích Thúy và Phạm Duy Nghĩa Nhà văn Đỗ Bích Thúy sau khi đoạt giải nhất cuộc
thi truyện ngắn Văn nghệ Quân đội năm 1999-2000 đã được Tổng cục Chính trị
Trang 17tuyển dụng, chuyển từ báo Hà Giang về làm tại tạp chí Văn nghệ Quân đội Nhà văn Phạm Duy Nghĩa mà tên tuổi gắn liền với truyện ngắn Cơn mưa hoa mận trắng, giải nhất báo Văn nghệ năm 2000 cũng được Tổng cục Chính trị xin về từ Cao đẳng
sư phạm Lào Cai, sau đó phân công công tác tại tạp chí Văn nghệ Quân đội năm
2007 Trường hợp thứ hai là những người được tuyển từ bên ngoài vào quân đội, làm ở lĩnh vực chuyên môn khác, nhưng trong quá trình công tác lại bộc lộ năng khiếu văn chương nên được Tổng cục Chính trị điều về công tác tại các cơ quan văn học của quân đội Nhà văn Nguyễn Đình Tú thuộc trường hợp này Sau khi tốt nghiệp đại học Luật, anh vào quân đội, công tác tại tòa án quân sự Quân khu ba
Giải nhì cuộc thi truyện ngắn Văn nghệ Quân đội 1999-2000 là “tấm vé thông
hành” đưa anh về công tác tại “nhà số 4, phố nhà binh” vài năm sau đó Các nhà văn như Phùng Văn Khai, Đỗ Tiến Thụy, Nguyễn Thế Hùng… thuộc trường hợp thứ ba
Họ đi nghĩa vụ quân sự rồi chuyển qua quân nhân chuyên nghiệp ở lại phục vụ lâu dài trong quân đội Ban đầu họ công tác tại đơn vị cơ sở, nhờ có năng khiếu văn chương nên họ được cử đi học ở những lớp tạo nguồn, sau đó được điều động về các cơ quan văn học của quân đội Cả ba nhà văn trên đều đang công tác tại tạp chí
Văn nghệ Quân đội Tốt nghiệp một trường đại học quân sự, về công tác tại đơn vị
cơ sở sau đó chuyển về công tác tại cơ quan văn học quân đội là trường hợp của một số nhà văn như Nguyễn Mạnh Hùng, Thôn Trung Phương… Tốt nghiệp trường
sĩ quan pháo binh, nhà văn Nguyễn Mạnh Hùng được điều động về công tác tại Quân đoàn hai Tuy nhiên tài năng văn chương đã mở ra con đường mới trong cuộc đời binh nghiệp của anh Năm 2009, nhà văn Nguyễn Mạnh Hùng được Tổng cục
Chính trị thuyên chuyển về công tác tại tạp chí Văn nghệ Quân đội Nhà văn Thôn
Trung Phương học ở Học viện Hải quân, có thời gian dài làm cảnh sát biển Cũng nhờ có năng lực văn chương nên anh được Tổng cục Chính trị điều về công tác tại
phòng kịch bản Điện ảnh Quân đội
Mặc dù con đường trở thành nhà văn quân đội thế hệ thứ 4 tuy các nhà văn trẻ
có những xuất phát điểm khác nhau, nhưng khi đã khoác trên mình màu xanh áo
Trang 18lính, đứng trong hàng ngũ quân đội nhân dân Việt Nam, giữa họ và những bạn văn cùng trang lứa dân sự có những đặc điểm riêng khác biệt
1.2.1 Tình yêu với màu xanh áo lính
Dù vào quân đội bằng nhiều con đường khác nhau, nhưng sống trong “trường học lớn”, giữa tình đồng chí đồng đội thiêng liêng, cao cả mà rất mực ấm áp, chân tình nên các nhà văn trẻ quân đội đều rất yêu màu xanh áo lính Mặc dù gặp nhiều khó khăn, vất vả trong cuộc sống nhưng các nhà văn quân đội đều nguyện gắn bó lâu dài với quân ngũ, không muốn “cởi mũ, hạ sao” chuyển ra ngoài dân sự để có cuộc sống đủ đầy hơn về vật chất, tự do hơn về tinh thần Nhà văn Phạm Duy Nghĩa
đã từ chối lời mời ra ngoài làm việc của tạp chí Văn học tuổi trẻ, của Đại học văn
hóa Hà Nội để ở lại với quân đội Các nhà văn Nguyễn Đình Tú, Đỗ Bích Thúy…
cũng đều từ chối những lời mời hấp dẫn với mức lương hàng chục triệu một tháng của các tờ báo lớn để phục vụ lâu dài trong quân đội Ở lại quân đội, họ vui vẻ chấp nhận một cuộc sống quân ngũ với kỷ luật của nhà binh, với những buổi cầm súng gác thâu đêm cho đồng đội, đồng bào yên giấc ngủ, với những ngày huấn luyện thao trường nắng cháy da cháy thịt, với suất ăn có phần đạm bạc, với đồng lương còn ít
ỏi, với những ngày tháng xa gia đình triền miên để làm nhiệm vụ của một quân nhân Tiếp bước các thế hệ nhà văn quân đội đi trước, thế hệ nhà văn quân đội thứ
tư hôm nay đều coi việc viết về người lính, về đề tài chiến tranh cách mạng là máu thịt, là trách nhiệm lớn nhất, cao cả nhất trong cuộc đời cầm bút của mình Để rồi từ
đó nhiều tác phẩm hay về người lính, về chiến tranh cách mạng ra đời, tiếp tục bồi đắp cho dòng chảy văn học cách mạng thêm nặng phù sa, thêm màu mỡ, mãi mãi là dòng chảy lớn trong con sông văn học Việt mênh mông
1.2.2 Bản lĩnh chính trị vững vàng
Bản lĩnh chính trị của các nhà văn trẻ quân đội thế hệ thứ tư được thể hiện qua nhiều hành động, việc làm cụ thể trong đời sống xã hội và công việc chuyên môn
Về đời sống xã hội, các nhà văn trẻ quân đội thế hệ thứ tư đều có cuộc sống riêng
tư lành mạnh, không gây nên những điều tiếng xã hội, tạo dư luận không tốt trong
quần chúng về hình ảnh người chiến sĩ quân đội nhân dân Việt Nam Về đời sống
Trang 19chính trị, tất cả các nhà văn quân đội thế hệ thứ tư đều là đảng viên Đảng cộng sản
Việt Nam Họ tuyệt đối chấp hành đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước và đặc biệt là điều lệnh, điều lệ quân đội Họ có lập trường chính trị, tư tưởng vững vàng, không bị ngả nghiêng, dao động trước những luận điệu xuyên tạc chống phá Đảng, Nhà nước của kẻ thù nhằm vào nhân dân nói chung và tầng lớp văn nghệ sĩ
(vốn hay lung lay) nói riêng Về công tác chuyên môn, với cương vị là người
“chiến sĩ trên mặt trận văn hóa tư tưởng” của quân đội, các nhà văn quân đội thế hệ thứ tư kiên quyết loại trừ, không để lọt những tác phẩm độc hại, nói xấu Đảng, quân đội, đất nước, con người Việt Nam xuất hiện trên những phương tiện truyền bá văn hóa nghệ thuật của quân đội, đấu tranh không khoan nhượng với những luận điểm phản động, sai trái của kẻ thù Những tác phẩm văn học của họ đều là tiếng lòng tha thiết phản ánh niềm tin, tình yêu của họ đối với Đảng, với quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng, với Tổ quốc quê hương giàu đẹp Mặt khác, là nhà văn, là “người của công chúng” được báo chí quan tâm nhiều, họ luôn ý thức được rằng những phát ngôn của mình – dù trong lĩnh vực chuyên môn - cũng đều có ảnh hưởng đến hình ảnh “anh bộ đội cụ Hồ” trong tâm tư tình cảm của mọi người dân Do vậy, những phát ngôn, những câu trả lời báo chí của họ đều nhã nhặn, lịch thiệp, chừng mực, không “đao to búa lớn”, không gây “phản cảm”, gây sốc, không tạo nên những
“scandal văn học” nhằm thu hút sự chú ý về mình như những lời tuyên bố của một
số ít nhà văn trẻ khác
1.2.3 Những thuận lợi và khó khăn đặc thù của các nhà văn trẻ quân đội
Mặc dù còn nhiều khó khăn nhưng Bộ Quốc phòng và đặc biệt là Tổng cục Chính trị rất quan tâm, chăm lo đến đời sống của nhà văn quân đội nói chung và các nhà văn trẻ quân đội nói riêng Các nhà văn quân đội luôn được tạo điều kiện làm việc tốt nhất để phục vụ sự nghiệp sáng tác Hàng năm, các cơ quan chuyên trách
văn hóa của Tổng cục Chính trị như Cục Tuyên huấn, tạp chí Văn nghệ Quân đội, báo Quân đội Nhân dân… đều phối hợp cùng các quân khu, quân đoàn, quân binh
chủng trong quân đội hoặc tự đứng ra tổ chức các trại sáng tác cho các nhà văn
Trong thời gian ở trại, mọi điều kiện sinh hoạt vật chất đều được đảm bảo ở mức tốt
Trang 20nhất để các nhà văn yên tâm sáng tác Cũng trong thời gian diễn ra trại sáng tác, các
cơ quan chức năng cũng thường tổ chức các chuyến đi thực tế đến các đơn vị quân đội, đặc biệt là các đơn vị sẵn sàng chiến đấu dưới cơ sở để các nhà văn tìm hiểu tâm tư nguyện vọng của các chiến sĩ có thêm cảm hứng, tư liệu để sáng tác Bên cạnh đó quân đội có hệ thống đào tạo, bồi dưỡng các nhà văn quân đội tương đối hoàn chỉnh Những chiến sĩ có năng khiếu văn học sẽ được đơn vị tạo điều kiện cho
đi học, bồi dưỡng tài năng tại các lớp trong và ngoài quân đội như khoa Viết văn đại học Văn hóa nghệ thuật quân đội, khoa Văn đại học khoa học xã hội nhân văn, trường Viết văn Nguyễn Du….Ở đó họ sẽ được các nhà nghiên cứu đầu ngành, các nhà văn tên tuổi giảng dạy về văn chương Mặt khác, các nhà văn trẻ trong quân đội
còn có những “bà đỡ mát tay” cho những đứa con tinh thần của mình Tạp chí Văn
nghệ Quân đội, báo Quân đội Nhân dân, nhà xuất bản Quân đội nhân dân… luôn là
nơi nâng đỡ, tạo điều kiện tối đa cho các nhà văn trẻ phát huy khả năng sáng tác của mình qua việc lựa chọn đăng tác phẩm, in, phát hành sách (một việc rất khó trong
môi trường hiện nay)
Đây là những thuận lợi cơ bản của các nhà văn thế hệ tư trong quân đội Những thuận lợi không phải bất cứ một nhà văn – nhất là nhà văn trẻ - nào cũng có được Những thuận lợi này là tiền đề quý báu giúp các nhà văn trẻ phát triển sự nghiệp văn chương Song bên cạnh những thuận lợi kể trên, các nhà văn trẻ trong quân đội cũng gặp một vài khó khăn nhất định Cũng như bao người lính khác trong quân đội nhân dân Việt Nam, các nhà văn trẻ quân đội phải thực hiện đầy đủ những nhiệm vụ quân sự bắt buộc với người quân nhân Họ phải hoàn thành những bài tập bắn súng, những bài tập phối hợp tiến công, phòng ngự theo đội hình tiểu đội, trung đội ngoài thao trường, các bài diễn tập tình huống chiến tranh giai đoạn một, giai đoạn hai, những đợt học chính trị trong năm Ngoài ra họ có thể được cấp trên điều động đi nhận nhiệm vụ mới ở bất cứ lúc nào, bất cứ thời gian nào Những nhân tố trên ảnh hưởng đôi chút đến quá trình sáng tác của họ vì ở nhiều thời điểm “văn đang vào mạch” thì phải đi thực hiện nhiệm vụ Hơn nữa là những người làm nhiệm vụ “gác gôn” trên mặt trận văn hóa văn nghệ trong quân đội, trách nhiệm của họ với công
Trang 21việc rất nặng nề Các sơ xuất, (cao hơn là sai lầm) trong lĩnh vực văn hóa văn nghệ
ở quân đội đều gây nên những hiệu ứng xã hội không tốt hơn rất nhiều so với các
lỗi tương tự ở các tòa báo, tạp chí văn nghệ bên ngoài Mà trong thời đại ngày nay, việc không mắc lỗi là điều gần như không tưởng đối với ngành báo chí và xuất bản
Do vậy áp lực công việc đối với các nhà văn trẻ quân đội rất lớn Việc phải đắn đo, cân nhắc, biên tập bản thảo cũng lấy đi của họ nhiều thời giờ quý báu cho công việc sáng tác Song khó khăn chủ yếu đối với các nhà văn quân đội thế hệ thứ tư nằm ở
áp lực buộc phải có tác phẩm xuất sắc về đề tài chiến tranh cách mạng Suốt trong
mấy chục năm qua chưa bao giờ văn đàn Việt thôi mơ ước về một Chiến tranh và
hòa bình made in Việt Nam, giấc mơ đó càng cháy bỏng trong tâm trí của những
nhà văn trẻ quân đội Quân đội đã tạo mọi điều kiện tốt nhất cho họ chỉ để mong chờ một tác phẩm có thi pháp hiện đại, chuyển tải trọn vẹn tinh thần hai cuộc kháng chiến thần thánh của nhân dân Việt Nam nói chung, quân đội nhân dân Việt Nam nói riêng Nhưng tất cả chúng ta đều biết đây là nhiệm vụ gần như “bất khả thi” đối với mặt bằng chung cả nền tiểu thuyết Việt Nam đương đại Các nhà văn trẻ khác
có thể “trốn tránh” siêu đề tài trên bằng việc chọn cho mình một hướng đi khác, nhưng đối với các nhà văn trẻ quân đội đó vừa là nhiệm vụ chính trị vừa là thử thách cao nhất về nghề nghiệp đối với họ Do vậy cho đến giờ và không biết đến bao giờ chấm dứt, các nhà văn trẻ quân đội vẫn cứ mải miết bước đi trên con đường văn nghiệp hun hút phía trước với gánh nặng trách nhiệm trả “món nợ ân tình” với nhân dân, với quân đội trên vai
1.3 Vài nét khái lược về ba nhà văn trẻ quân đội
1.3.1 Nhà văn Nguyễn Thế Hùng
Nhà văn Nguyễn Thế Hùng sinh năm 1972 Quê quán ở Hà Tĩnh Anh nhập ngũ năm mười tám tuổi, phục vụ nhiều đơn vị trong quân đội trước khi chuyển vào công tác tại Quân khu chín tại đồng bằng sông Cửu Long làm trung đội trưởng một khẩu đội pháo cao xạ Công tác tại Quân khu chín một thời gian, nhà văn Nguyễn Thế
Hùng chuyển sang làm ở báo Phòng không không quân Sau đó anh được cử đi học
khoa lý luận phê bình và sáng tác văn học tại trường đại hóa Văn hóa Hà Nội Tốt
Trang 22nghiệp một thời gian, anh chuyển về công tác tại tạp chí Văn nghệ Quân đội Hiện
Nguyễn Thế Hùng là thư ký tòa soạn tạp chí Văn nghệ Quân đội
Nhà văn Nguyễn Thế Hùng sáng tác nhiều về Hà Tĩnh và vùng đồng bằng sông nước miền Tây Nam bộ - mảnh đất anh coi là quê hương thứ hai Nhà văn
Nguyễn Thế Hùng đã đoạt được nhiều giải thưởng như giải nhất truyện ngắn Đồng
bằng sông Cửu Long, giải ba cuộc thi truyện ngắn Văn nghệ Quân đội cho tác phẩm Lộc trời, giải thưởng của Hội liên hiệp văn học nghệ thuật Hà Nội năm 2010 với
tiểu thuyết Họ vẫn chưa về
Các tác phẩm chính của anh gồm có: Họ vẫn chưa về, tiểu thuyết, và các tập truyện ngắn Đàn chim về sau bão, Truyện ngắn Nguyễn Thế Hùng, Ngược ngàn in
từ năm 2005 đến nay
1.3.2 Nhà văn Đỗ Tiến Thụy
Nhà văn Đỗ Tiến Thụy sinh năm 1970 Quê quán ở Chương Mỹ, Hà Nội Cũng như nhà văn Nguyễn Thế Hùng, nhà văn Đỗ Tiến Thụy nhập ngũ khi kết thúc chương trình phổ thông trung học Vào bộ đội, ban đầu Đỗ Tiến Thụy làm bên tài chính, hậu cần, sau anh chuyển sang lái xe để được “vi vu khắp đó đây” Nhà văn
Đỗ Tiến Thụy công tác nhiều năm tại binh đoàn Tây Nguyên Năm 2002, cùng với Nguyễn Thế Hùng, anh được quân đội cử đi học tại khoa Lý luận phê bình và sáng tác văn học - trường đại hóa Văn hóa Hà Nội a trường, anh chuyển về công tác tại
ban văn xuôi của tạp chí Văn nghệ Quân đội
Nhà văn Đỗ Tiến Thụy viết nhiều về vùng quê đồng bằng bắc bộ chiêm
trũng Đỗ Tiến Thụy đoạt giải ba truyện ngắn tạp chí Văn nghệ Quân đội năm
2005-2006, giải tư cuộc thi ký tạp chí Văn nghệ Quân đội năm 2004
Các tác phẩm chính của anh gồm có tiểu thuyết Màu rừng ruộng, các tập truyện ngắn Gió đồng se sắt, Vết thương thành thị, Người đàn bà đợi mưa in từ năm
2000 đến nay
1.3.3 Nhà văn Nguyễn Đình Tú
Nhà văn Nguyễn Đình Tú sinh năm 1974, tại Kiến An, Hải Phòng Anh học đại
học Luật rồi về công tác tại tòa án quân sự Quân khu ba Sau đó anh chuyển về
Trang 23công tác tại tạp chí Văn nghệ Quân đội Hiện anh là trưởng ban Văn xuôi tạp chí
Văn nghệ Quân đội
Nhà văn Nguyễn Đình Tú sáng tác nhiều cả truyện ngắn lẫn tiểu thuyết về nhiều đề tài Nhà văn Nguyễn Đình Tú đoạt nhiều giải thưởng văn học, trong đó
đáng chú ý có giải nhì cuộc thi truyện ngắn Văn nghệ Quân đội năm 1999-2000
Các tác phẩm chính của anh gồm có năm tiểu thuyết: Bên dòng sầu diện, Hồ
sơ một tử tù, Nháp, Phiên bản, Kín; các tập truyện ngắn: Chuyện lính, Những bước nhảy trong đêm, Vũ điệu của thị dân, Bên bờ những dòng chảy, Không thể nào khác
được, Đoản khúc mùa thu, Nỗi ám ảnh khôn nguôi in từ năm 2000 cho đến nay
Trang 24Chương2: MỘT VÀI ĐẶC ĐIỂM VỀ NỘI DUNG TRONG TRUYỆN NGẮN CỦA BA CÂY BÚT TRẺ QUÂN ĐỘI
2.1 Đề tài người lính hôm nay
2.1.1 Một vài nhận xét ban đầu
Là những nhà văn mặc áo lính, trong sáng tác của ba nhà văn Nguyễn Thế Hùng, Đỗ Tiến Thụy, Nguyễn Đình Tú tất yếu những truyện ngắn viết về chiến tranh cách mạng và người lính hôm nay giữ một vai trò quan trọng Đây là điểm phân biệt rõ ràng nhất giữa họ với các nhà văn trẻ ngoài quân đội vì trong thực tế sáng tác, các cây bút trẻ ngoài quân đội hầu như “bỏ quên” hai mảng đề tài này Viết về chiến tranh cách mạng được hiểu là viết về thế hệ người lính cầm súng chiến đấu trong hai cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc Viết về người lính hôm nay là viết về những người lính đang làm nhiệm vụ trong thời bình Tuy nhiên,
có một sự khác biệt đáng kể trong sáng tác của ba nhà văn quân đội ở hai mảng đề tài quan trọng này Những tác phẩm về đề tài người lính hôm nay của ba cây bút
Nguyễn Thế Hùng, Đỗ Tiến Thụy, Nguyễn Đình Tú vượt trội về số lượng so với
những trang viết về đề tài chiến tranh cách mạng Tổng số truyện ngắn viết về đề tài chiến tranh cách mạng của ba nhà văn quân đội nói trên theo khảo sát của chúng tôi
chỉ vẻn vẹn có năm truyện ngắn gồm: Người ở cồn Thương, Nơi sinh ra ký ức, Đất
quê cha, Chuyện xưa chưa kể, Họ nhà Vòn Trong khi đó số lượng truyện ngắn viết
về đề tài người lính hôm nay của họ lên đến con số hàng chục Theo chúng tôi, sở dĩ
có tình trạng trên là do những nguyên nhân sau:
- Ba nhà văn quân đội ngại sáng tác về đề tài chiến tranh cách mạng Tâm lý
e ngại này xuất phát từ hai phương diện Thứ nhất, ở thể loại truyện ngắn, đã có nhiều tác phẩm xuất sắc viết về người lính trong hai cuộc chiến đấu thần thánh của
dân tộc như Người còn sót lại rừng cười của Võ Thị Hảo, Truyền thuyết quán tiên của Xuân Thiều, Hai người đàn bà xóm Trại của Nguyễn Quang Thiều, Bến trần
gian, Câu chuyện của bảy chú lùn của Lưu Sơn Minh, Hai người trở lại trung đoàn
của Thái Bá Lợi….Đứng trước hàng loạt các truyện ngắn đỉnh cao này, việc ba nhà
Trang 25văn quân đội nói riêng (và nhiều nhà văn trẻ khác) có tâm lý ngại ngần cũng là điều
dễ hiểu Đây là hiện tượng tâm lý phổ biến trong giới cầm bút Thứ hai, khi viết về
đề tài chiến tranh cách mạng, xu hướng chủ đạo là viết tiểu thuyết Khi đã có những truyện ngắn hay về chiến tranh cách mạng đạt tầm thế giới, điều toàn văn giới khát khao từ ngày đất nước thống nhất cho đến bây giờ là một cuốn tiểu thuyết xứng tầm
với chiến thắng hào hùng, oanh liệt song cũng đầy bi thương của dân tộc, một Chiến
tranh và hòa bình của Việt Nam Chừng nào giấc mơ còn chưa thành hiện thực,
chừng đó nó còn sức quyến rũ, thôi thúc người cầm bút hướng đến đỉnh vinh quang
Ba nhà văn Nguyễn Đình Tú, Đỗ Tiến Thụy, Nguyễn Thế Hùng đều có khát khao cháy bỏng ấy và họ đang âm thầm làm việc một cách miệt mài để cho ra mắt bạn đọc những tiểu thuyết hay về đề tài chiến tranh cách mạng Trên thực tế, nhà văn
Nguyễn Đình Tú đã xuất bản tiểu thuyết Bên dòng sầu diện viết về cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ của quân dân Hải Phòng Tiểu thuyết Màu rừng ruộng của nhà văn Đỗ Tiến Thụy, Họ vẫn chưa về của nhà văn Nguyễn Thế Hùng cũng có
nhiều trang viết về hai cuộc kháng chiến dù cho đó không phải là bối cảnh chính của truyện Hiện nay cả ba nhà văn này đang tích cực viết những cuốn tiểu thuyết về chiến tranh cách mạng theo đơn đặt hàng của Bộ Quốc phòng Trong tương lai không xa cả ba nhà văn sẽ cho ra mắt bạn đọc những cuốn tiểu thuyết về đề tài này
- Do không được “nhúng mình” vào hai cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc nên để viết về chiến tranh cách mạng, các nhà văn trẻ quân đội thế hệ thứ tư phải tiến hành rất nhiều công việc “phụ trợ” như tìm hiểu cuộc chiến qua tư liệu, sách vở, gặp gỡ các nhân chứng lịch sử… Những việc này lấy đi của họ nhiều thời gian, công sức mà hiệu quả thu lại trong nhiều trường hợp lại không cao Nhưng khi viết về người lính hôm nay, những công việc phụ trợ, những khó khăn đó không tồn tại Ba nhà văn Nguyễn Thế Hùng, Nguyễn Đình Tú, Đỗ Tiến Thụy đều nhập ngũ trong thời bình Họ được ăn ở, sinh hoạt, học tập, rèn luyện với các đồng đội cùng trang lứa trong thời gian dài Đây là điều kiện thực tế tuyệt vời giúp các nhà văn quân đội thế hệ thứ tư tích lũy vốn sống, có những hiểu biết cụ thể, sâu sắc về tâm
tư, tình cảm của những đồng đội để từ đó hình thành nên những trang viết về người
Trang 26lính hôm nay sinh động, chân thực, giàu sức thuyết phục Mặt khác, đứng về thể tài văn học, đề tài người lính hôm nay là đề tài mới, còn nhiều khoảng trống để khai thác nên các nhà văn trẻ quân đội dễ có đất để “tung hoành” hơn so với viết về người lính trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ
Trên đây là hai nguyên nhân chủ yếu theo chúng tôi khiến cho số lượng các tác phẩm văn học viết về chiến tranh cách mạng của ba nhà văn quân đội thế hệ thứ
tư còn thưa thớt Hơn nữa, những tác phẩm viết về đề tài chiến tranh cách mạng của
ba nhả văn Nguyễn Thế Hùng, Đỗ Tiến Thụy, Nguyễn Đình Tú xét trên phương
diện chất lượng nghệ thuật chỉ ở mức độ trung bình, không có nét đặc sắc, nổi trội
Các truyện ngắn viết về đề tài này hầu hết đều sử dụng những motip truyện quen thuộc, không có nhiều những hình thức thử nghiệm mới về bút pháp, những câu chuyện làm cảm động người đọc như trong các truyện ngắn về đề tài thế sự của chính họ Lý do chính dẫn đến tình trạng tự thụt lùi so với chính mình của ba nhà văn quân đội theo chúng tôi là do thái độ “tự kiểm duyệt”, “tự biên tập” của họ ở đề tài này tương đối cao Mặc dù bầu không khí nghệ thuật trong xã hội hiện tại đã cởi
mở hơn trước rất nhiều, mặc dù Đảng và Nhà nước đã có những tuyên bố, những văn bản pháp quy ủng hộ, khuyến khích sự tự do sáng tác của văn nghệ sĩ, và trên thực tế đời sống văn học nước nhà đã xuất hiện nhiều trang viết trực diện về những vấn đề gai góc, những “góc tăm tối cuối cùng” của xã hội đương đại nhưng trong quân đội vẫn còn những “khoảng trống” nhất định Ba nhà văn Nguyễn Thế Hùng,
Đỗ Tiến Thụy, Nguyễn Đình Tú đều là sĩ quan quân đội nên khi viết về người lính (hơn nữa lại ở thể loại truyện ngắn) họ sẽ đề cao yếu tố “an toàn” lên trên những khám phá mới về nội dung và những cách tân về nghệ thuật Đây là thực tế trong đời sống văn học mà những người cầm bút phải chấp nhận
Với những điều đã trình bày ở trên, chúng tôi nhận thấy không nên và thực
tế là không thể đưa thành một luận điểm trong khóa luận về đề tài chiến tranh cách mạng mà chỉ trình bày dưới hình thức một vài nhận xét chung Do vậy chúng tôi chỉ
đi vào đề tài người lính hôm nay – đề tài quan trọng trong sáng tác của ba nhà văn quân đội thế hệ thứ tư
Trang 272.1.2 Quan niệm về người lính hôm nay
Với nguồn tài liệu hiện có, chúng tôi thấy “người lính hôm nay” xuất hiện trong thông báo số 31 tháng 1 năm 2001 do thượng tướng Phạm Văn Trà – Bộ
trưởng Bộ Quốc phòng ký có nêu rõ giao cho Tổng cục Chính trị phát động cuộc
vận động sáng tác tiểu thuyết, trường ca về đề tài chiến tranh cách mạng và người lính hôm nay Tuy nhiên, đây là thông báo hành chính hành chính có tính chất mệnh
lệnh chứ không phải một công trình nghiên cứu văn học Ở thời điểm hiện tại, thật khó xác định cụm từ “người lính hôm nay” xuất hiện lần đầu với tư cách là một đối tượng nghiên cứu của khoa học văn học trong một bài nghiên cứu văn học từ khi nào Việc “truy tìm nguồn gốc” tuy cần thiết song thiết nghĩ điều quan trọng hơn cả
là làm rõ khái niệm người lính hôm nay bởi đây là điều kiện tiên quyết cho công việc nghiên cứu, khảo sát tiến hành một cách khoa học, hiệu quả Cho đến nay, về khái niệm người lính hôm nay đang tồn tại hai quan niệm khác nhau
Quan niệm thứ nhất về người lính hôm nay cho rằng người lính hôm nay
là thuật ngữ dùng để chỉ những người lính đang sống ở thời điểm hiện tại Quan niệm này chú trọng đến sự tồn tại về bản thể của người lính, bao gồm bốn thế hệ người lính Thế hệ những người lính chống Pháp, thế hệ người lính chống Mỹ, thế
hệ người lính “giã từ vũ khí” sau chiến tranh biên giới 1979 và tham gia nghĩa vụ quốc tế tại chiến trường Campuchia 1989 và thế hệ những người lính trẻ, sinh ra sau chiến tranh đang làm nhiệm vụ bảo vệ sự bình yên cho Tổ quốc Những người lính này nếu đang sống ở thời điểm hiện tại đều được coi là người lính (của) ngày hôm nay Đây là quan niệm rộng, đầy màu sắc chủ quan, thiếu sự chặt chẽ, khoa học Tuy nhiên quan niệm này chỉ tồn tại trong một số ít nhà văn, nhà nghiên cứu, phê bình văn học trong quân đội Hơn nữa, tất cả họ đều mới chỉ trình bày quan niệm của mình qua những câu chuyện lúc “trà dư tửu hậu”2
, còn trên báo chí cũng như các phương tiện thông tin truyền thông chính thức thì – theo quan sát của chúng tôi
- chưa thấy đăng tải Do vậy, thật sự khó để đưa ra một dẫn chứng cụ thể cho quan
2
Trong những lần trao đổi trưc tiếp với chúng tôi, nhà nghiên cứu, phê bình văn học Phạm Duy Nghĩa đã bày
tỏ sự ủng hộ của mình về quan niệm này
Trang 28niệm này theo phương thức “chính danh” rất cần trong công trình nghiên cứu khoa học Tuy nhiên đây là điều bất khả kháng
Quan niệm thứ hai về người lính hôm nay cho rằng người lính hôm nay dùng để nói về thế hệ người lính thứ tư trong quân đội nhân dân Việt Nam: Những con người lính trẻ tuổi chưa từng trải qua chiến tranh, hiện đang khoác trên mình màu xanh áo lính canh giữ, bảo vệ chủ quyền và sự bình yên của đất nước
Đây là quan niệm do chúng tôi đề xuất trong quá trình nghiên cứu về người lính
hôm nay Ở quan niệm này có một điểm cần làm rõ Đó là cụm từ “chưa từng trải
qua chiến tranh” Sở dĩ chúng tôi nhấn mạnh đến cụm từ này là nhằm đảm bảo tính
khu biệt của thuật ngữ “Hôm nay” là khái niệm thời gian đầy tính mơ hồ, cần phải
có một mốc thời gian làm chuẩn để xác quyết rõ đại lượng thời gian này Đất nước hòa bình là vào năm 1975, nhưng thật sự im tiếng súng vào năm 1989 Trong khoảng thời gian này có nhiều người nhập ngũ Nếu tính độ tuổi trung bình gọi đi nghĩa vụ quân sự là 18 thì những người lính – mà chúng ta quan niệm là trẻ so với
cột mốc 1989 - sẽ sinh vào năm 1971 Và điều quan trọng là không phải tất cả họ đều cầm súng chiến đấu ở chiến tranh biên giới 1979 và tại Campuchia trong mười năm sau đó3
Do vậy tuy là quân nhân thuộc cùng một thế hệ nhưng sẽ có người lính dày dặn kinh nghiệm trận mạc bên cạnh những người lính mà chiến tranh chỉ được biết qua những bài giảng quân sự, qua sách báo văn chương và qua lời kể của những người đi trước Vì những lý do trên, nên chúng tôi quan niệm người lính hôm nay như đã trình bày ở trên nhằm thu hẹp tối đa phạm vi khảo sát Và từ đây, thuật ngữ khái niệm người lính hôm nay dùng trong bản luận văn này sẽ được dùng
nhất quán theo quan niệm thứ hai
3 Thực chất ngày trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ cũng có những người lính chưa từng trực tiếp ra trận Song dù vậy họ vẫn cảm nhận được hơi thở của chiến tranh qua cuộc sống hằng ngày, vì khi đó là toàn quốc kháng chiến Thế hệ những người lính sinh năm 1957 – đến năm 1975 là tròn 18 tuổi –chắc chắn cũng cảm nhận được sự khốc liệt của chiến tranh trong những ngày thơ ấu Duy chỉ có thế hệ sinh vào những năm đầu thập kỷ bảy mươi của thế kỷ trước mới xảy ra tình trạng trên Nguyên nhân chính là vì khi đó trong nước đã hòa bình được một khoảng thời gian dài Chỉ có người lính sang làm nghĩa vụ quốc tế chiến trường Campuchia mới cảm nhận được “chiến tranh không phải trò đùa” Còn những người lính trẻ đóng quân trong bầu không khí thanh bình của đất nước sẽ không cảm nhận được điều
Trang 292.1.3 Hình tượng người lính hôm nay trong sáng tác của ba nhà văn quân đội
Ở trên, chúng tôi đã làm rõ khái niệm người lính hôm nay Trong phần này, chúng tôi đặt ra nhiệm vụ mô tả kỹ lưỡng những nội dung chủ yếu trong các sáng tác về đề tài này của ba nhà văn quân đội Nguyễn Thế Hùng, Đỗ Tiến Thụy và Nguyễn Đình Tú, lấy đó làm cơ sở đánh giá khái quát về chất lượng phản ánh hình tượng người lính hôm nay của các nhà văn quân đội thế hệ thứ tư Theo đó, một trong những khía cạnh được ba nhà văn quân đội Nguyễn Thế Hùng, Đỗ Tiến Thụy,
Nguyễn Đình Tú tập trung khắc họa trong đời sống người lính hôm nay đó là:
2.1.3.1 Những khó khăn, gian khổ của người lính hôm nay
Đất nước hòa bình, thống nhất, bước vào công cuộc đổi mới đã được ba chục năm, đời sống của nhân dân cả nước nói chung và người lính nói riêng đã được cải thiện đáng kể Nhưng những người lính hôm nay vẫn ngày ngày phải đối mặt với những khó khăn, thử thách mang tính đặc thù của một lực lượng vũ trang được Đảng và nhân dân tin tưởng giao phó cho trọng trách bảo vệ sự bình yên của
Tổ quốc Để thực hiện tốt lời dạy thứ ba của Bác Hồ với quân đội “Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, kẻ thù nào cũng đánh thắng” những người lính hôm nay phải gắng sức, rèn luyện mình vượt qua vô vàn khó khăn, thử thách cam go và ác liệt Và khó
khăn đầu tiên là đời sống sinh hoạt, huấn luyện Những khó khăn trong sinh hoạt,
huấn luyện được ba nhà văn Nguyễn Thế Hùng, Nguyễn Đình Tú, Đỗ Tiến Thụy
miêu tả dưới điểm nhìn của những người lính tân binh Đây là giải pháp hợp lý vì
những người lính tân binh ngày đầu mới ra nhập quân đội sẽ gặp bỡ ngỡ, khó khăn
do phải chuyển đổi nề nếp sinh hoạt theo hướng vất vả hơn cuộc sống thường nhật
của họ ngày trước Sống trong môi trường quân ngũ, những người lính hôm nay phải chịu nhiều thiệt thòi trong sinh hoạt ngày thường, bắt đầu từ chuyện “miếng cơm, manh áo” Bữa ăn quân đội lo cho họ chỉ đủ no, đủ chất chứ không thể ngon miệng như những bữa cơm tại gia đình, các nhà hàng, quán xá Đối với những người lính trẻ đang quen cơm nhà, quen có sự chăm chút của gia đình, quen được
Trang 30bố mẹ dành những miếng ngon nhất thì những bữa ăn đạm bạc trong ngày đầu
quân ngũ quả là cực khổ “nuốt không trôi” Những người lính cậu trong truyện ngắn
Ngày ấy một lần của Nguyễn Đình Tú không chịu nổi cảnh bữa cơm sáng “là một
bát cơm duy nhất với ít muối vừng” [17, 112], bữa trưa, bữa tối là nồi cơm to đùng với những món “chém to kho mặn” nên thường xuyên phải ra ngoài căng tin để ăn
Mỳ tôm, trứng luộc - những món ăn dân dã ngày thường - giờ đối với họ cũng là những thứ xa xỉ phẩm Ngoài chuyện của cái “dạ dày”, những người lính trẻ cũng rất khó khăn khi thích nghi với đời sống kỷ luật thép trong quân đội Kỷ luật là sức mạnh quân đội! Toàn đơn vị hành động theo điều lệnh! Những khẩu hiệu đỏ chói được treo trong tất cả các doanh trại quân đội đối với những người lính trẻ ngày đầu nhập ngũ chỉ đơn thuần là những con chữ chứ chưa phải là cuộc sống của chính mình Đang quen nếp sống sinh hoạt thị thành, ngủ muộn, dậy muộn những người
lính tân binh như nhân vật tôi trong Những chàng trai sống cùng hoa săng đắng đã
vô cùng hoảng hốt khi vấp phải lịch sinh hoạt đầy lạ lẫm với “thời gian được chia nhỏ và công việc lên kế hoạch một cách chi tiết” [15,11] từ 5h sáng đến 9h30 tối,
phải đối mặt với kỷ luật và ý nghĩ về sự lười nhác luôn được đánh thức trong từng
tế bào[15,11] Cuộc sống của họ là sự hoán đổi liên tục giữa hai trạng thái huấn luyện chiến đấu và sản xuất tăng gia Đêm đang ngủ ngon lành họ phải bật dậy tập
trung thật nhanh khi nghe tiếng còi báo động Ngày dù nắng hay mưa, họ đều phải
đổ mồ hôi ngoài thao trường với những bài tập cá nhân như bắn súng, trườn, bò, võ thuật, những bài tập đồng đội như tấn công, phòng ngự theo đội hình các phân đội Ngoài ra họ còn phải luyện tập sức bền, khả năng cơ động sẵn sàng chiến đấu bằng những cuộc hành quân mười mấy cây số với khối lượng trang bị lên đến 25kg Huấn luyện chiến đấu cực nhọc là vậy, nhưng khi hết giờ luyện tập thì “một núi công việc” trong sản xuất tăng gia đang chờ đợi họ Các chiến sĩ mỗi người phải tự tăng gia bằng cách hoàn thành định mức rau xanh của mình, phải đào ao thả cá, chăn nuôi lợn gà, vịt, phải trồng cây để lấy bóng mát, phải xay xát lúa để lấy gạo ăn hàng ngày, phải làm những việc phụ giúp kinh tế cho đơn vị như đóng gạch, lấy củi… Mặt khác, sự phức tạp của cuộc sống “ăn cơm tập thể, nằm giường cá nhân” ra đụng
Trang 31vào chạm cũng làm họ cảm thấy chán nản, lắm khi gây nên ức chế Oánh trong
Những chàng trai sống cùng hoa săng đắng đã đào ngũ vì không chịu nổi những lời
châm chọc của các bạn cùng phòng, cùng tiểu đội về sự chậm chạp, nhút nhát của mình trong huấn luyện, sinh hoạt Đến khi được người cha thuyết phục trở lại quân đội thì bầu không khí trong phòng luôn ở trạng thái trầm lắng không còn hào hứng,
sôi nổi như lúc ban đầu Thêm nữa, sự tù túng trong doanh trại cũng vây bủa lấy
họ Ngoài kia, cách doanh trại một đoạn đường, một bức tường rào hay thậm chí chỉ một bước chân là thế giới lung linh nhiều màu sắc, huyên náo với bao nhiêu thú vui nhưng họ lại không được tham dự Những dịp người lính được ra ngoài doanh trại rất hiếm hoi và thường phải tuân thủ đúng theo thời gian quy định
Cuộc sống quân ngũ đơn điệu trong vòng quanh tuần tự của 11 chế độ trong ngày, trong không gian quen thuộc đến khó chịu của doanh trại, bấy nhiêu là nỗi vất
vả thêm nữa là sự giáo huấn nghiêm khắc từ những chỉ huy khiến người lính tân
binh phải thốt lên đầy cảm khái rằng: Ôi chao, thì ra làm người khó quá làm một
quân nhân lại còn khó hơn[17,113] Tuy nhiên đó chỉ là những khó khăn ban đầu
trong cuộc đời quân ngũ của họ Những “bài học đầu tiên” này sẽ rèn luyện cho người lính tân binh thể lực, tinh thần, bản lĩnh, ý chí, kỹ năng để đối mặt những khó khăn, thử thách lớn hơn sau này Khi đã trở thành “người đàn ông đích thực”, người
lính phải đối mặt với những khó khăn trong công việc Nhiệm vụ của người lính là
giữ gìn sự toàn vẹn chủ quyền lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ cuộc sống bình yên cho nhân dân Để hoàn thành tốt nhiệm vụ lớn lao, thiêng liêng cao cả ấy, từng người lính phải hoàn thành nhiệm vụ cấp trên giao phó Và để hoàn thành những nhiệm vụ
đó, họ đã phải vượt qua bao gian lao nguy hiểm đến từ nhiều phía, trong đó thiên
nhiên với sự khắc nghiệt và đỏng đảnh của mình là một phép thử cam go nhất cho
bản lĩnh, ý chí người quân nhân Các cụ ta có câu Nhất thủy, nhì hỏa hay thủy, hỏa,
đạo, tặc để nói về những tác hại to lớn của thiên nhiên gây ra cho con người Khi
thiên tai xảy ra, khi mọi người đều tìm cách trú ngụ thì những người lính vẫn bình thản đương đầu, nhận về mình phần gian khó, hiểm nguy để hoàn thành nhiệm vụ
được giao Người chiến sĩ quân bưu trong truyện ngắn Đêm thành Nam gió lùa của
Trang 32nhà văn Nguyễn Đình Tú đi đưa công văn trong lúc Trời rét kinh khủng Mưa cứ
như những lằn roi điện lướt qua mặt Và gió Gió cứ thông thốc thổi tới, phả cái giá buốt vào người [17,6] Dù cho biển đang ầm ầm giông bão, gào thét quăng quật với
sức mạnh vô biên của mình, những người lính hải quân truyện ngắn Ở nơi bão tố
vẫn ngày đêm chắc tay súng bảo vệ quê hương Hình ảnh người lính hải quân cầm súng gác vùng biển Tổ quốc trong đêm mưa bão mịt mùng đã gây xúc động mạnh
cho cậu bé mười bốn tuổi tình cờ trú ngụ tại đảo Biển đỏng đảnh và hung dữ lắm
Mặt biển chao lắc như người ta lắc một chậu nước đầy vậy Nước quất ràn rạt lên nhà đảo Gió tốc mọi thứ bay xuống biển… Nó thấy anh mặc áo mưa trùm kín người, lặng lẽ ôm súng đứng dưới gốc phong ba nơi góc đảo….Nó lặng lẽ chui vào màn và thao thức mãi không ngủ được Nó bị ám ảnh bởi cái dáng lùi dần, lùi dần của anh quanh gốc phong ba khi tránh nước biển hắt lên [17,29] Cũng là mưa gió,
nhưng tình huống Thành - người lính biên phòng – trong truyện ngắn Tròng trành
thuyền thúng của nhà văn Nguyễn Thế Hùng phải đối mặt còn nguy hiểm hơn gấp
bội Sau mưa là bão: Bão nổi Bão quăng quật, vặt trụi lá, bẻ gẫy răng rắc cây
cành, cuốn lên cao rồi thả cho rơi lả tả như trò chơi man dại của người khổng lồ trong cơn cuồng say [4,194] Sau bão là lũ Những cơn lũ miền Trung mang trong
mình sức phá hoại ghê gớm Con sông Ngàn Phố bình thường hiền hòa là vậy nhưng
khi vào mùa lũ vụt trở nên hung tợn khác thường: Trời vẫn mưa, bão rít trên mặt
sông như bước đi của ngàn vạn âm binh [4,202] Nước lũ cuốn trôi phăng nhà cửa,
ruộng vườn, trâu bò, của cải của người dân: Từng đám rều tác lẫn xác gia cầm nổi
lều phều, hết hợp rồi tan, tan rồi hợp Một con trâu lặn lên, ngụp xuống, mang theo trên lưng những con chuột béo nhẫy…xoáy nước đang réo xèo xèo bên cạnh, ở đó mọi thứ như một lũ rồ cùng nhau nhao xuống đáy sông [4,202] Ý thức rõ nguy
hiểm đang bủa vây mình, nhưng Thành cùng các chiến sĩ đồn Cầu Giác vẫn băng mình trong mưa bão, tỏa đi các hướng nhằm tìm kiếm xem còn người dân nào mắc kẹt chưa đến được nơi an toàn không, làm tròn trách nhiệm giúp đỡ nhân dân trong
hoạn nạn của một người lính biên phòng
Trang 33Không chỉ mưa bão, nạn hạn hán, khô cằn cũng là khó khăn khắc nghiệt thử thách bản lĩnh của những người lính đóng quân trên địa bàn Tây Nguyên Là chiến
sĩ điện báo, nhân vật anh trong truyện ngắn Nơi không có sóng Xì phôn của nhà văn
Đỗ Tiến Thụy làm việc trên đỉnh núi cao chót vót giữa Tây Nguyên đại ngàn Núi cao, nước thiếu, ngày ngày các chiến sĩ phải thay nhau đi mười mấy cây số lấy nước
về dùng cho sinh hoạt hàng ngày Đã vậy do ở lâu nơi nhiều lam sơn chướng, hầu
như chiến sĩ nào cũng được bệnh sốt rét hỏi thăm, đều sở hữu một làn da tai tái,
ngăm ngắm màu sốt rét [15,16]
Ngoài sự khắc nghiệt của thiên nhiên, tùy vào từng vị trí, từng nhiệm vụ, từng ngành nghề trong quân đội mà những người lính hôm nay phải đối mặt với
những khó khăn thiên hình vạn trạng khác nhau Ở truyện ngắn Cánh rừng không
yên ả, những người lính công binh làm nhiệm vụ dò mìn hàng ngày đối mặt với tử
thần là những trái mìn còn sót lại từ hai cuộc chiến tranh trước Biết rõ nguy hiểm thường trực, biết rõ khoảnh khắc giữa sự sống và cái chết ở nơi đây mong manh nhưng những người lính công binh vẫn làm việc một cách hăng say, nghiêm túc, đầy trách nhiệm vì họ biết rằng việc làm của mình không những đem lại sự an toàn cho những người dân quanh vùng mà còn đóng góp vào công cuộc xây dựng, kiến thiết đất nước Từ những mảnh đất họ làm “sạch”, nhà máy, công trường, bệnh viện, trường học sẽ mọc lên, mở ra cuộc sống ấm no, tươi đẹp Song khi mà ngày mai tươi sáng ấy chưa thành hiện thực, đã có những chiến sĩ công binh hy sinh giữa thời bình Tùng – một chiến sĩ công binh trẻ - trong khi làm nhiệm vụ đã vướng phải mìn sát thương và ra đi mãi mãi Câu nói của người cựu binh già ở cuối truyện
Tiếng nổ? Vẫn còn những tiếng nổ như thế này sao? Núi đồi ơi sao mi ủ những mầm chết chóc kỹ đến thế [17,470] vừa là lời cảm thán, vừa là lời cảnh báo về
những hiểm nguy mà những người lính công binh hôm nay đã, đang và sẽ phải đối mặt Cũng liên quan đến súng đạn, những người lính trong truyện ngắn Những
chàng trai sống cùng hoa săng đắng phải đối diện với khó khăn mỗi khi trường bắn
có đợi diễn tập Họ có nhiệm vụ phải lo đếm từng quả đạn cối nổ Nếu quả nào không nổ họ buộc phải đi tìm, phải làm cho nổ vì nếu không đó sẽ là những quả mìn
Trang 34thời nay, rất dễ gây nguy hiểm cho đồng đội và nhân dân Đây là công việc vô cùng nguy hiểm mà người lính canh giữ trường bắn phải đảm đương Những người lính
trong truyện ngắn Trên đồi cao và dưới thung sâu lại gặp khó khăn trong việc giúp
đồng bào dân tộc xây dựng đời sống mới Để đồng bào sớm ổn định cuộc sống tại vùng kinh tế mới, những người lính như Thêm phải lên trước, phải xây dựng nhà cửa, tự mày mò cách làm kinh tế, chăn nuôi gia súc để sau đó hướng dẫn lại bà con
Từ người lính chỉ quen cầm súng, bỗng chốc hóa thành anh chăn bò làm Thêm và các đồng đội mệt nhoài Thiếu thốn sách vở hướng dẫn, không có kinh nghiệm chăm sóc vật nuôi, bãi chăn thả rộng, bò đi lạc… hàng trăm thứ khó khăn đổ lên
đầu những người lính trẻ Một phương diện khác, truyện ngắn Nỗi ám ảnh khôn
nguôi đi sâu vào những khó khăn của người lính thông tin liên lạc nơi rừng sâu núi
thẳm Trông coi, quản lý hàng chục km đường dây liên lạc ở vùng biên giới, Nam
và những người đồng đội luôn đối diện với những khó khăn như dây hỏng do khí hậu khắc nghiệt, đồng bào dân tộc “cắt trộm” dây đem về làm… dây phơi Không thể dùng mệnh lệnh hành chính để ép buộc, Nam và các đồng đội phải tự mình học ngôn ngữ, tìm hiểu nếp sinh hoạt của đồng bào dân tộc, rồi vào bản giảng giải, thuyết phục cho người dân về tầm quan trọng của mấy sợi dây nhỏ bé để họ hiểu và giúp đỡ mình trong việc bảo vệ, bảo dưỡng đường dây liên lạc
Gian khổ là vậy, song tất cả những người lính hôm nay đều khắc phục, vượt
qua được Nỗi khó khăn thật sự của họ lại xuất phát từ phía gia đình và xã hội - vốn
là điểm tựa vững chắc cho ba thế hệ người lính trước kia Có thể nói đây là mảng khó khăn được ba nhà văn quân đội thế hệ thứ tư tập trung miêu tả nhất trong các
sáng tác của họ về người lính hôm nay Nỗi nhớ nhà, nhớ gia đình người thân ruột
thịt là khó khăn trước nhất của người lính được ba nhà văn Nguyễn Đình Tú,
Nguyễn Thế Hùng, Đỗ Tiến Thụy thể hiện qua những trang văn sinh động Trừ một
bộ phận rất nhỏ, may mắn có điều kiện công tác gần gia đình, còn tuyệt đại đa số những người lính đều công tác xa nhà, thậm chí có người lính còn trú quân tại những vùng đặc biệt khó khăn như biên giới, hải đảo… Quanh năm ở đơn vị nên nỗi nhớ nhà, nhớ gia đình, người thân ruột thịt luôn bủa vây quanh họ khi làm
Trang 35nhiệm vụ lẫn khi nghỉ ngơi Trong ngực áo đảo phó Vương (Ở nơi bão tố) luôn có tấm ảnh cô con rượu rất xinh nhá, lại hát hay nhá, lại học sinh giỏi nhá [17, 25]
Nhìn ảnh con chưa thỏa nỗi nhớ thương, anh còn thu âm giọng hát của con vào chiếc đài pin, lúc nào cũng đeo kè kè bên mình để mỗi khi nhớ quá lại bật lên nghe giọng con hát dân ca Ở chiều hướng ngược lại, nỗi nhớ cha mẹ luôn ngự trị trong trái tim những người lính trẻ Tết không được về, thương người mẹ già đón tết một
mình trong hiu quạnh, Bạch (Hoa của những người đàn ông) người lính biên phòng
đã nhờ người mang về biếu mẹ cành đào ở nơi mình đóng quân Cành đào khi đến tay người nhận tuy không còn thắm sắc nhưng người mẹ vẫn cảm nhận được tình cảm dạt dào của người con trai ở phương xa dành cho mình Khác với Nguyễn Đình
Tú, nhà văn Nguyễn Thế Hùng chú trọng miêu tả nỗi nhớ của những đôi lứa yêu nhau Đó là nỗi nhớ của người chồng nhớ vợ Nỗi nhớ ấy ghê gớm, mãnh liệt đến
nỗi mỗi khi được về phép, vừa về nhà người lính trong truyện ngắn Chuyến xe cuối
vội “yêu” vợ đến nỗi quên cỡi cả ba lô làm vợ giật mình không hiểu sao chồng mình tăng cân nhanh thế Đó là nỗi nhớ của người yêu dành cho người yêu Nỗi nhớ
ấy quyết liệt, cháy bỏng đến nỗi sĩ quan Hùng đang công tác tận Tây Nguyên (Khu
độc thân) liều lĩnh dám… nói dối thủ trưởng để trốn ra Bắc gặp người yêu, liều vay
tiền bạn bè “đi máy bay” cho nhanh chóng gặp được người mình thương nhớ Tình cảm của những người lính hôm nay dành cho hậu phương thật đậm đà, sâu sắc, da diết Nhưng trớ trêu thay, chính ở nơi tưởng chừng như điểm tựa vững chắc nhất cho người lính yên tâm công tác lại là nơi “bão tố” nổi lên nhiều nhất, đe dọa đến hạnh phúc của họ Thời chiến tranh, toàn bộ con trai ra trận, phụ nữ ở nhà “nuôi cái cùng con” Gia đình nào cũng giống nhau nên sự so bì hơn kém ít diễn ra Nhưng đến thời bình, nhìn những người phụ nữ khác hạnh phúc khi có chồng lúc nào cũng
ở bên canh, có cuộc sống giàu sang sung sướng, những người bạn đời của người lính không khỏi chạnh long, so sánh thiệt hơn Và khi người phụ nữ đã so sánh
chồng mình với người khác, nguy cơ tan vỡ gia đình sẽ hiển hiện như một tất yếu Người vợ trong truyện ngắn Câu chuyện ngày chủ nhật của nhà văn Nguyễn Đình
Tú đã có những phút trải lòng cùng người bạn gái về chồng mình, chồng người
Trang 36Càng so bì, chị càng thấy mình “thiệt đơn thiệt kép” Chồng thường xuyên phải đi
xa, đã vậy lại chẳng làm ra tấm ra món nào phụ giúp kinh tế cho vợ, thậm chí còn lấy tiền của nhà đi giúp người khác Giữa lúc người vợ đang sống trong nỗi cô đơn
và ấm ức thì ông trưởng phòng xuất hiện cùng những lời đường mật có cánh và món quà là chiếc nhẫn đính kim cương Kết cục câu chuyện thế nào hẳn người đọc cũng đoán ra được Người lính của chúng ta đã mất vợ, một mình lủi thủi đưa con nhỏ lên đơn vị chăm sóc Một kết cục buồn dành cho người lính có thừa tình yêu, sự thủy chung, lòng cao thượng nhưng nghèo về tiền bạc và thời gian dành cho gia đình
Tuy không đến mức tan vỡ gia đình như trong Câu chuyện ngày chủ nhật, nhưng những người lính ở truyện ngắn Làng mới của nhà văn Đỗ Tiến Thụy có nguy cơ
mất tình bạn, mất láng giềng mà nguyên nhân chính cũng là do họ vắng nhà lâu quá nên các bà vợ làm “loạn” Vắng chồng, họ sinh ra bứt rứt Người mang áo chồng ra giặt rồi ôm lấy hơi, người đêm đêm ra giếng tắm, người thức cả đêm không ngủ, làm thơ, rồi nghĩ vẫn nghĩ vơ Vắng chồng, ba người phụ nữ trở nên dễ cáu bẳn và nảy sinh nhiều mâu thuẫn từ những chuyện chẳng đâu vào đâu như việc bổ củi thì tránh giờ người ta nghỉ trưa, ai lại phun thuốc sâu khi người khác đang tưới hoa
ngay bên cạnh… Cũng may khi mâu thuẫn của ba người vợ đang ở cao trào thì ba
đức ông chồng về, mọi chuyện lập tức được hóa giải Dẫu có một kết cục “nhân hậu” nhưng không vì thế mà câu chuyện về sự khó khăn của người lính khi sống xa
nhà trong Làng mới lại giảm bớt tính thời sự, tính khắc nghiệt Khác với Đỗ Tiến
Thụy và Nguyễn Đình Tú, nhà văn Nguyễn Thế Hùng lại chú ý khai khác khía cạnh thiếu thốn trong cuộc sống “phòng the” Có chồng là lính trinh sát đi hàng tháng trời
mới về qua nhà một lần nên Len (Khu độc thân) luôn cảm thấy bứt rứt khó chịu
trong người Hàng đêm, cô phải ra giếng tắm cho nguội bớt lửa lòng Sự xuất hiện của chàng sĩ quan độc thân cao to, đẹp trai chưa vợ tên Hùng ở ngôi nhà liền kề càng thổi bùng lên ngọn lửa lòng trong cô Nhờ có sự can thiệp thường rất đúng lúc, đúng chỗ của người trung tá già về hưu cùng sự nỗ lực từ phía cô và Hùng nên chuyện đáng tiếc mới không xảy ra Viết nên câu chuyện này, nhà văn Nguyễn Thế Hùng phản ánh một cách trung thực, sống động một hiện tượng có thật trong đời
Trang 37sống của các sĩ quan xa nhà hiện nay Hạnh phúc của họ rất mong manh trong thời bình nhiều cám dỗ này Khó khăn là vậy, nhưng với những người lính lập được gia đình cũng là một niềm may mắn lớn nếu so với những người lính độc thân vì dù sao
họ cũng có một mái ấm, một nơi chốn để đi về, để nhớ mong Những người lính độc thân không có được may mắn ấy, và họ luôn đứng trước nguy cơ không lấy được vợ
vì những khó khăn nghề nghiệp mang lại Xã hội bây giờ không có nhiều bậc phụ huynh muốn gả con cho bộ đội và cũng có không ít những cô gái không thích lấy
chồng mặc quân phục Truyện ngắn Sóng ao làng của nhà văn Đỗ Tiến Thụy kể về
chuyện tình dang dở giữa Thuân và Thuyên Thuân nhập ngũ, đi biền biệt năm thì mười họa mới về nhà một lần khiến sự chờ đợi của Thuyên bị bào mòn dần theo năm tháng Ở nhà, trẻ, đẹp, Thuyên có bao nhiêu vệ tinh vây quanh Cuối cùng cô nguyện ước trăm năm với anh chủ tịch xã nhà cao cửa rộng Khi biết con gái mình
yêu bộ đội, mẹ Thủy (Tròng trành thuyền thúng) đã phản ứng quyết liệt và nhân lúc
anh đi vắng bà đã tác động buộc con gái “theo chồng bỏ cuộc chơi” Khi Thành đến,
bà nói với anh một câu xanh rờn: Chờ nhau thế cũng đã đủ rồi… hoa đến thì thì hoa
phải nở…đò đầy đò phải sang sông… [4, 204] Đau xót hơn, người lính thông tin
trong truyện ngắn Nơi không có sóng Xì phôn của nhà văn Đỗ Tiến Thụy bị một cô
tiểu thư thành thị quen thói ăn chơi trác táng lừa gạt tình cảm Người lính dành hết tình yêu cho cô gái Nhưng hóa ra cô là người phụ nữ sống buông thả bừa bãi Đưa bạn trai quen qua mạng vào nhà nghỉ, bị người yêu phát hiện, cô dối trá một cách trơ trẽn khi dám đứng trước vong linh cha chồng tương lai thề mình không phản bội Sự dối trá ấy làm trái tim người lính vốn chỉ quen với máy móc tan nát Anh bỏ
ra đi về đơn vị với vết thương lòng khó phai Từ đó, anh sống cuộc đời cô độc
Trên đây là những khó khăn cơ bản mà bất cứ người lính nào cũng đã, đang
và sẽ từng nếm trải Tuy nhiên vượt lên trên những khó khăn, vất vả ấy, người lính hôm nay vẫn gắng hết sức mình làm tròn nhiệm vụ Đảng, Nhà nước, quân đội và nhân dân giao phó Ở họ ngời lên biết bao phẩm chất tốt đẹp vừa có tính kế thừa, vừa có tính hiện đại mang hơi thở xã hội hôm nay Vẻ đẹp ấy cũng được ba nhà văn quân đội Nguyễn Đình Tú, Nguyễn Thế Hùng, Đỗ Tiến Thụy chú trọng khắc họa
Trang 382.1.3.2 Vẻ đẹp tâm hồn người lính hôm nay
Bộ đội là một nghề trong xã hội hiện đại Quan niệm về nghề này dẫn đến nhiều điều Người lính hôm nay trước nhất là một thực thể sinh học mang đầy đủ những tính cách của một người bình thường Thứ hai anh ta là một quân nhân, mang trong mình những phẩm chất của người lính Khắc họa nét tính cách “hai trong một” này là điều ba nhà văn quân đội thế hệ thứ tư hướng tới Tuy nhiên trong các
tác phẩm của mình, ba nhà văn quân đội thế hệ thứ tư đều miêu tả những nét tính cách xã hội của người lính hôm nay ở mức độ khái lược và được chia thành hai
nhóm Nhóm tính cách không gây ảnh hướng xấu, nghiêm trọng và nhóm tính cách
đáng phê phán Ở nhóm tính cách thứ nhất, có thể kể đến các truyện ngắn Võ công
binh nhì, Đêm thành Nam gió lùa của nhà văn Nguyễn Đình Tú Hùng (Võ công binh nhì), một chiến sĩ đặc công trẻ giỏi võ nhất đại đội, chỉ nghe đồng đội kháo
nhau rằng chiến sĩ mới về “võ nghệ đầy mình” ngay đêm đó đã đến tận phòng thách
đấu phân cao thấp Một hành động bộc lộ tính hiếu thắng và tính nông nổi của chiến
sĩ đặc công trẻ Người học võ đâu phải để phân cao thấp và nếu thủ trưởng cấp trên không phải là người rộng rãi, độ lượng thì cả hai có thể bị phạt nặng Ngoài tính hiếu thắng, nông nổi, những người lính trẻ còn có những phút giây mơ màng, liều
lĩnh, ưa khám phá Thành (Tròng trành thuyền thúng) dám theo bạn đi rình xem con gái tắm tiên buổi tối bên sông Ngàn Phố Người lính quân bưu trong Đêm thành
Nam gió lùa lại có máu hài hước bẩm sinh Người yêu anh lính cứ mắt tròn mắt dẹt
ra nghe người con trai của đời mình thao thao bất tuyệt về tính cách, thói quen của người lính quân bưu vừa bước vào phòng chờ tàu Cô đinh ninh anh có đầu óc quan sát nhạy bén và một tư duy logíc cực kỳ tốt mà không biết rằng thực ra anh đang kể
về chính cuộc đời làm người lính quân bưu của mình ngày trước Ở mức độ đáng phê phán hơn, các nhà văn quân đội cũng điểm qua những thói xấu gây ảnh hưởng
nghiêm trọng của người lính trẻ hôm nay Đó là thói ghen tỵ, tranh công của đồng đội Đức và Lâm (Chuyện lính) vốn là hai người bạn thân Nhưng trong một lần
tham gia dập đám cháy rừng, Lâm đã nhận hết công trạng dập đám cháy về mình dù
sự thật Đức mới là người đầu tiên phát hiện và liều mình dập lửa không cho đám
Trang 39cháy lan rộng Hành động cướp công ấy của Lâm suýt nữa đã làm tình bạn thân thiết bao năm qua giữa hai người tan thành mây khói trong phút chốc nếu như anh không kịp hối lối với Đức
Như đã nói ở trên, những tính cách xã hội của người lính hôm nay chỉ được
ba nhà văn quân đội thế hệ thứ tư miêu tả phác qua Điểm nhấn chính trong các tác phẩm của họ quy tụ về khắc họa vẻ đẹp tâm hồn người lính hôm nay Đây vừa là nhiệm vụ chính trị vừa là yêu cầu nghệ thuật đối với họ Khắc họa vẻ đẹp tâm hồn người lính hôm nay, ba nhà văn Nguyễn Đình Tú, Nguyễn Thế Hùng và Đỗ Tiến Thụy chủ yếu khai thác những vẻ đẹp có tính chất truyền thống chứ chưa đào sâu suy tưởng để tìm ra những vẻ đẹp có tính chất đương đại của người lính hôm nay Đây là điểm hạn chế trong sáng tác viết về người lính hôm nay của ba nhà văn quân đội này Hy vọng trong tương lai, ba nhà văn quân đội nói riêng và các nhà văn nói chung sẽ khắc phục được hạn chế này khi viết về người lính hôm nay
Một vẻ đẹp mang tính truyền thống của quân đội nhân dân Việt Nam là tình
đồng chí, đồng đội cao cả Đây là phẩm chất quý giá của người lính cụ Hồ được gìn
giữ qua nhiều thế hệ Thời kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, tình yêu thương giữa những người lính biểu hiện qua sự đồng cam cộng khổ nơi chiến trường ác liệt đạn bom
Miệng cười buốt giá Chân không giày Thương nhau tay nắm lấy bàn tay
(Đồng chí – Chính Hữu)
Qua nỗi tiếc thương những người bạn đã ngã xuống cho độc lập, tư do của
Tổ quốc
Chúng mình có ở cách xa nhau Một thước đất sao Hùng không nghe mình gọi…?
Một thước đất hóa khoảng trời vời vợi
Từ nay mình thương nhớ Hùng hơn xưa (Nấm mộ và cây trầm – Nguyễn Đức Mậu)
Trang 40Ngày hôm nay không còn chiến trường ì ùng tiếng súng, không còn phải
“nhận cái chết cho đồng đội sống”, cuộc sống cũng không khổ đến mức phải nhường cơm xẻ áo cho nhau nhưng không vì vậy mà tình đồng đội giữa những người lính phai màu thắm thiết Cuộc sống người lính hôm nay vẫn còn đó những khó khăn gian khổ và sự thông cảm sẻ chia giữa những người đồng đội đã làm ấm
lòng người trong cuộc Các chiến sĩ trong truyện ngắn Những chàng trai sống cùng
hoa săng đắng của nhà văn Nguyễn Đình Tú đã tự động góp tiền cho người trung
đội trưởng về quê ăn tết với gia đình sau hai năm xa cách Lý lẽ họ đưa ra thật giản
dị: Tháng sau chúng em ra quân cả rồi, đứa nào cũng được về với gia đình, vài
đồng phụ cấp ấy uống nước dọc đường cũng hết Hai năm qua anh chưa có dịp về thăm nhà, anh hãy nhận món quà đó của tụi em như là một kỷ niệm của đời lính
[15,26-27] Người trung tá trong truyện ngắn Khu độc thân của nhà văn Nguyễn
Thế Hùng hiện lên như một người huynh trưởng nghiêm khắc song cũng rất mực thương yêu đồng đội Lúc nói xa, khi nói gần, ông đã làm dịu lửa lòng của người sĩ quan trẻ chưa vợ và người vợ lính phải sống xa chồng lâu ngày, giữ cho họ không đi quá giới hạn để xảy ra chuyện đáng tiếc Phong, chồng Len, dù không thân thiết lắm với Hùng, song khi nghe vợ kể về hoàn cảnh khó khăn của bạn đã rất nhiệt tình giúp cho người yêu Hùng vào công tác tại đơn vị mình tạo điều kiện cho hai người lấy nhau Tình đồng đội còn được thể hiện qua sự đồng thuận, nhất trí cùng nhau hàn
gắn mối bất hòa giữa các đấng phu nhân của ba người lính trong truyện ngắn Làng
mới Nếu Trúc, Vui, Thu chỉ nghe lời vợ bo bo giữ lợi ích cho riêng gia đình mình
thì chắc chắn tình cảm giữa ba người sẽ sứt mẻ Nhưng ba người lính công tác tại địa bàn Tây Nguyên đã đoàn kết, nhất trí, khéo léo “bày mưu tính kế” hàn gắn mối bất hòa giữa những bà vợ để vừa giữ được hạnh phúc từng gia đình vừa tăng tình thân ái giữa những gia đình quân nhân
Bên cạnh tình đồng đội, tình cảm quân dân cũng là một mảng đề tài rất được
ba nhà văn quân đội thế hệ thứ tư quan tâm Một hình ảnh đẹp đã trở thành biểu tượng của tình cảm quân dân sâu đậm là hình ảnh người lính bất chấp hiểm nguy cứu người dân trong hoạn nạn Để giúp đỡ người dân, người lính hôm nay đã phải