1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tính triết - lý trữ tình trong tiểu thuyết của Trương Hiền Lượng (Cây hợp hoan và Một nửa đàn ông là đàn bà

106 1,3K 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 106
Dung lượng 1,02 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những tác phẩm của Trương Hiền Lượng được độc giả Việt Nam biết đến là Linh hồn và thể xác, Long Chủng, Thời thanh xuân, Phong cách nam nhi,… trong đó hai truyện Cây hợp hoan và Một nửa

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

HOÀNG THỊ LAN

TÍNH TRIẾT - LÝ TRỮ TÌNH TRONG TIỂU THUYẾT

CỦA TRƯƠNG HIỀN LƯỢNG (CÂY HỢP HOAN VÀ MỘT NỬA ĐÀN ÔNG LÀ ĐÀN BÀ)

LUẬN VĂN THẠC SĨ

Hà Nội-2013

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

HOÀNG THỊ LAN

TÍNH TRIẾT - LÝ TRỮ TÌNH TRONG TIỂU THUYẾT

CỦA TRƯƠNG HIỀN LƯỢNG (CÂY HỢP HOAN VÀ MỘT NỬA ĐÀN ÔNG LÀ ĐÀN BÀ)

Chuyên ngành: Văn học nước ngoài

Mã số: 60 22 30

LUẬN VĂN THẠC SĨ

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Lê Huy Tiêu

Hà Nội-2013

Trang 3

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 5

1 Mục đích, ý nghĩa của đề tài 5

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 7

3 Mục đích nghiên cứu 9

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 9

5 Phương pháp nghiên cứu 9

6 Cấu trúc luận văn 10

Chương 1 CƠ SỞ HÌNH THÀNH TÍNH TRIẾT LÝ – TRỮ TÌNH TRONG TIỂU THUYẾT CỦA TRƯƠNG HIỀN LƯỢNG 11

1.1 Tìm hiểu về tính triết lý – trữ tình 11

1.2 Hoàn cảnh lịch sử xã hội và văn học 12

1.2.1 Đại Cách mạng văn hóa vô sản Trung Quốc 13

1.2.2 Xu hướng đổi mới của văn học đương đại Trung Quốc 16

1.3 Nhà văn Trương Hiền Lượng 19

1.3.1 Hai mươi hai năm bão táp cuộc đời 19

1.3.2 Ngòi bút hiện thực tỉnh táo 21

Tiểu kết 24

Chương 2 TÍNH TRIẾT LÝ – TRỮ TÌNH QUA NGHỆ THUẬT XÂY DỰNG NHÂN VẬT 26

2.1 Nhân vật chiêm nghiệm về cuộc sống 26

2.1.1 Nhân vật mang tâm thế tự do 27

2.1.2 Nhân vật mang thân phận tù đầy 48

2.2 Nhân vật mang vẻ đẹp nội tâm phóng khoáng trữ tình 60

2.2.1 Vẻ đẹp thiên tính nữ 60

2.2.2 Vẻ đẹp của những người lao động khác 68

Trang 4

2.3 Nhân vật “siêu thực” mang suy ngẫm của tác giả 72

Tiểu kết 78

Chương 3 TÍNH TRIẾT LÝ - TRỮ TÌNH QUA TUYẾN CỐT TRUYỆN VÀ GIỌNG ĐIỆU TRẦN THUẬT 80

3.1 Tuyến cốt truyện – hành trình kiếm tìm bản ngã 80

3.2 Giọng điệu trần thuật 84

3.2.1 Giọng điệu mang tính triết lý và tự trào xót xa 84

3.2.2 Giọng điệu châm biếm trào phúng 87

3.2.3 Giọng điệu say sưa mang đậm chất trữ tình lãng mạn 89

Tiểu kết 93

PHẦN KẾT LUẬN 94

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 97

PHẦN PHỤ LỤC 100

Trang 5

Làm nên diện mạo văn học Trung Quốc đương đại 15 năm qua là lớp

thế hệ nhà văn xuất hiện sau Đại Cách mạng văn hóa Những nhà văn này

phải chịu đựng nhiều đau khổ trong những năm “đại động loạn”, bị “bè lũ bốn tên” bức hại tàn khốc Khác với lớp nhà văn thế hệ trước, họ ưu thời, mẫn thế, dám nghĩ dám làm, với khí thế xung trận, họ vạch trần những tàn

dư xấu xa trong xã hội Tiêu biểu là các nhà văn: Trương Hiền Lượng, Lưu Tâm Vũ, Mạc Ngôn, Giả Bình Ao, Phùng Ký Tài, Vương Mông,…

Trương Hiền Lượng là nhà văn đương đại Trung Hoa nổi tiếng Ông thuộc lớp nhà văn trung niên đang độ chín, là lực lượng nòng cốt sáng tác văn học hiện nay mà phần lớn đã từng là nạn nhân của đường lối “tả”

khuynh từ cuối thập kỉ 50 cho đến mười năm Cách mạng văn hóa khủng

khiếp Hiện nay Trương Hiền Lượng là Phó chủ tịch Hiệp liên hiệp văn học nghệ thuật tỉnh Ninh Hạ, kiêm Chủ tịch Hội nhà văn Ninh Hạ, đồng thời là

ủy viên Đoàn chủ tịch Hội nhà văn Trung Quốc Trương Hiền Lượng chính

là nhà văn có nhiều đóng góp to lớn cho nền văn học đương đại Trung Quốc Nhà văn thực sự cuốn hút người đọc bởi một lối viết trau chuốt, đầy chất thơ và chất triết lý sâu xa

Trang 6

Những tác phẩm của Trương Hiền Lượng được độc giả Việt Nam

biết đến là Linh hồn và thể xác, Long Chủng, Thời thanh xuân, Phong

cách nam nhi,… trong đó hai truyện Cây hợp hoan và Một nửa đàn ông

là đàn bà có thể nói là hai tác phẩm tiêu biểu trong sự nghiệp sáng tác của

nhà văn Truyện Cây hợp hoan đã đoạt giải “truyện vừa ưu tú” toàn quốc lân thứ ba (1983 – 1984) Tiểu thuyết Một nửa đàn ông là đàn bà được

bầu chọn là một trong 100 tác phẩm có ảnh hưởng nhất Trung Quốc Tác phẩm này đã được nhà xuất bản Tác gia trân trọng xuất bản năm 1985 tại Bắc Kinh với số lượng 60.000 cuốn Cũng với tác phẩm này, nhà văn Trương Hiền Lượng được bầu chọn là một trong 100 nhà văn có ảnh hưởng nhất thế kỉ XX của Trung Quốc

Hai tác phẩm Cây hợp hoan và Một nửa đàn ông là đàn bà được

xếp vào tủ sách “Kho tàng tiểu thuyết đương đại” của nhà xuất bản Tác gia tại Bắc Kinh với mục tiêu là giới thiệu những thành tựu mới nhất và xu hướng phát triển của sáng tác văn học đương đại Trung Quốc về các mặt đề tài, phong cách cũng như thủ pháp thể hiện Hai tác phẩm cũng đã được dịch ra tiếng Nga, tiếng Anh và phát hành với số lượng khá lớn ở Liên Xô,

Mỹ, Việt Nam và một số nước khác Cây hợp hoan và Một nửa đàn ông là

đàn bà là hai tác phẩm mang đậm phong cách sáng tác của nhà văn Trương

Hiền Lượng Đọc hai tác phẩm, người đọc vừa hiểu được những tâm tư, những suy ngẫm, triết lý của nhà văn về xã hội Trung Quốc thối nát, đảo lộn thời kì Cách mạng văn hóa, đồng thời cũng được thưởng thức những áng văn trữ tình, đầy chất thơ của nhà văn

Với những lí do như trên, chúng tôi muốn thông qua luận văn này để

nghiên cứu và tìm hiểu về Tính triết lý – trữ tình trong tiểu thuyết của Trương Hiền Lượng Đó cũng là một phong cách nghệ thuật độc đáo, riêng

biệt của nhà văn – một nhà văn tiêu biểu của văn học Trung Quốc đương

Trang 7

đại Tuy nhiên, nằm trong khuôn khổ giới hạn của luận văn, chúng tôi chỉ

đi sâu khai thác dựa trên hai tác phẩm Cây hợp hoan và Một nửa đàn ông

là đàn bà

1.2 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

Tính triết lý – trữ tình là một nét đặc trưng của ngòi bút Trương Hiền Lượng Bởi vậy, với việc nghiên cứu một cách hệ thống từ những cơ sở hình thành đến những biểu hiện cụ thể của Tính triết lý – trữ tình trong tiểu thuyết của ông, chúng tôi sẽ đóng góp một hướng tiếp cận mới trong việc nghiên cứu tiểu thuyết Trương Hiền Lượng Đồng thời, làm tư liệu cho những độc giả quan tâm đến tiểu thuyết của nhà văn

Nghiên cứu riêng về nhà văn Trương Hiền Lượng cũng được rất nhiều giới phê bình văn học Trung Quốc quan tâm Thông qua việc khảo sát, thống kê và phân loại, chúng tôi đã tổng hợp tình hình nghiên cứu về Trương Hiền Lượng chủ yếu tập trung ở các phương diện sau:

Thứ nhất là nghiên cứu về vấn đề giới tính trong tiểu thuyết của Trương Hiền Lượng (张贤亮小说中的性别政治) Đây là một vấn đề khá nổi bật trong các tác phẩm của ông Trong đó, cũng có những nghiên cứu

nhỏ về hình tượng nữ trong tác phẩm Cây hợp hoan

Trang 8

(张贤亮《绿化树》女性形象) hay nghiên cứu về sự xung đột giữa thân xác và dục vọng trong Một nửa đàn ông là đàn bà.(《男人的一半是女人》:与理想冲突的女人身体与欲望)

Thứ hai là nghiên cứu về những thay đổi trong tiểu thuyết của Trương Hiền Lượng (浅谈张贤亮小说创作的前后变化) Những thay đổi này cũng nằm trong sự thay đổi của nền văn học đương đại Trung Quốc

Một vấn đề nữa cũng được các nhà nghiên cứu, phê bình Trung Quốc quan tâm đó là vấn đề người trí thức trong tác phẩm của nhà văn (张贤亮:对知识分子精神世界的探索与表现) Xoay quanh người trí thức, có rất nhiều những vấn đề cần quan tâm như: biểu hiện của thế giới tinh thần người trí thức; sự trăn trở, tìm tòi cải tạo xã hội của những người trí thức chân chính,…

2.2 Trương Hiền Lượng tại Việt Nam

Tác giả Trương Hiền Lượng là một nhà văn có tên tuổi trong văn học đương đại Trung Quốc, có rất nhiều bài viết, bình luận về các tác phẩm của ông ở Trung Quốc Tuy nhiên, các tác phẩm của Trương Hiền Lượng đã được dịch ra tại Việt Nam không nhiều, cũng như việc nghiên cứu về tác giả này cũng rất hiếm hoi

Trong Cảm nhận mới về văn hóa và Văn học Trung Quốc, Lê Huy Tiêu có bài Đôi điều cảm nhận về những suy ngẫm mang tính triết lý trong tiểu thuyết của Trương Hiền Lượng Trong bài viết này, Lê Huy Tiêu đã

cho chúng ta thấy phong cách triết lý rất đặc trưng trong cách viết của nhà văn Những vấn đề của cuộc sống, của xã hội, của cá nhân luôn được các nhân vật trong các tác phẩm nghiền ngẫm và đúc kết thành những triết lý của cuộc sống Ngoài ra, trong bài viết, Lê Huy Tiêu cũng cho thấy nét đẹp trữ tình trong mỗi trang văn của Trương Hiền Lượng Đó cũng là những tư liệu đáng quý, giúp chúng tôi trong việc hoàn thành luận văn này

Trang 9

3 Mục đích nghiên cứu

Bước đầu tìm hiểu và phân tích Tính triết lý – trữ tình trong tiểu

thuyết của Trương Hiền Lượng thông qua hai tác phẩm Cây hợp hoan và

Một nửa đàn ông là đàn bà, từ đó nhận diện được một phong cách riêng,

độc đáo trong sáng tác của nhà văn

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu: Vì quy mô của luận văn và điều kiện

thời gian, tư liệu, chúng tôi chỉ giới hạn đối tượng nghiên cứu ở hai tiểu

thuyết của Trương Hiền Lượng là Cây hợp hoan (do Trần Đình Hiến dịch)

và Một nửa đàn ông là đàn bà (do Phan Hữu Các và Trịnh Trung Hiếu

dịch)

4.2 Phạm vi nghiên cứu: Có rất nhiều vấn đề nghiên cứu xoay

quanh tác phẩm của nhà văn Trương Hiền Lượng Tuy nhiên, luận văn chỉ

hướng tới tìm hiểu Tính triết lý – trữ tình trong tiểu thuyết của nhà văn

5 Phương pháp nghiên cứu

Sáng tác của Trương Hiền Lượng là một quá trình vận động liên tục trên con đường nhận thức và tự nhận thức Vì vậy, thực hiện đề tài này, chúng tôi vận dụng phối hợp các phương pháp sau:

Phương pháp miêu tả: Là dùng cách thức miêu tả, kể chuyện để tái hiện lại những sự kiện, tình tiết mang ý nghĩa triết lý trong tác phẩm

Phương pháp nghiên cứu hệ thống: Sẽ được sử dụng để xác lập các

cơ sở hình thành tính triết lý – trữ tình trong tiểu thuyết của Trương Hiền Lượng

Phương pháp so sánh văn học: Đặt nhà văn trong mối quan hệ đồng đại và lịch đại, để các vấn đề được xem xét, đánh giá một cách khách quan

Trang 10

Cuối cùng là các thao tác phân tích – tổng hợp được sử dụng để khái

quát và đưa ra những biểu hiện cụ thể của Tính triết lý – trữ tình trong tiểu

thuyết của nhà văn

6 Cấu trúc luận văn

PHẦN MỞ ĐẦU

Chương 1: Cơ sở hình thành tính triết lý – trữ tình trong tiểu thuyết của Trương Hiền Lượng

1.1 Tìm hiểu về tính triết lý – trữ tình

1.2 Hoàn cảnh lịch sử xã hội và văn học

1.3 Nhà văn Trương Hiền Lượng

Chương 2: Tính triết lý – trữ tình qua nghệ thuật xây dựng nhân vật

2.1 Nhân vật chiêm nghiệm về cuộc sống

2.2 Nhân vật mang vẻ đẹp nội tâm phóng khoáng trữ tình

2.3 Nhân vật siêu thực mang suy ngẫm của tác giả

Chương 3: Tính triết lý – trữ tình qua tuyến cốt truyện và giọng điệu trần thuật

3.1 Tuyến cốt truyện – hành trình kiếm tìm bản ngã

3.2 Giọng điệu trần thuật

PHẦN KẾT LUẬN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHẦN PHỤ LỤC

Trang 11

Chương 1

CƠ SỞ HÌNH THÀNH TÍNH TRIẾT LÝ – TRỮ TÌNH TRONG TIỂU THUYẾT CỦA TRƯƠNG HIỀN LƯỢNG

1.1 Tìm hiểu về tính triết lý – trữ tình

Để hiểu về tính triết lý – trữ tình, trước hết chúng ta cần tìm hiểu ý

nghĩa của khái niệm về tính triết lý và tính trữ tình Theo Từ điển tiếng Việt

do Hoàng Phê chủ biên, trữ tình có nội dung phản ánh hiện thực bằng cách biểu hiện những ý nghĩ, xúc cảm, tâm trạng riêng của con người trước cuộc

sống Còn trong Từ điển thuật ngữ văn học do Trần Đình Sử… chủ biên,

trữ tình là một trong ba phương thức thể hiện đời sống, làm cơ sở cho một loại tác phẩm văn học Trong tác phẩm văn học, trữ tình phản ánh đời sống bằng cách bộc lộ trực tiếp ý thức của con người, nghĩa là con người tự cảm thấy mình qua những ấn tượng, ý nghĩ, cảm xúc chủ quan của mình đối với thế giới và nhân sinh Trữ tình cũng tái hiện lại các hiện tượng của đời sống, nhưng sự tái hiện này không mang mục đích tự thân, mà tạo điều kiện

để chủ thể bộc lộ những cảm xúc, chiêm nghiệm, suy tưởng của mình

Cũng theo Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên, triết lý là

những lí luận chung của con người về những vấn đề nhân sinh và xã hội Như vậy, nó cũng là một phạm trù thuộc chủ quan, cảm xúc, suy nghĩ của con người Trong văn học, đặc biệt là trong thể loại tiểu thuyết, tính triết lý được hình thành từ bản chất phản ánh hiện thực của văn học Tính triết lý được đúc kết bởi những trải nghiệm của nhà văn từ chính hiện thực của cuộc sống

Trong một tác phẩm văn học, tính triết lý và tình trữ tình có thể kết hợp với nhau Sự kết hợp đó tạo nên phong cách riêng, độc đáo trong sáng

tác của nhà văn Nói như GN Pospelov trong Dẫn luận nghiên cứu văn học: “Suy tư trữ tình (trầm tư) và kể chuyện về các biến cố, như vậy, ở

Trang 12

phần lớn các tác phẩm tự sự - trữ tình, đều tạo thành một chỉnh thể không thể phá vỡ, chúng nằm bên nhau hài hòa, bình đẳng nhau” [17, 101]

Đặc điểm của tác phẩm tự sự - trữ tình cũng là một trong những yếu

tố làm toát lên tính triết lý – trữ tình trong tác phẩm văn học, mà cụ thể là

trong tiểu thuyết Theo G N Pospelov trong Dẫn luận nghiên cứu văn học,

nhiều khi tác phẩm tự sự bao gồm những đoạn mang tính chất trữ tình: đó

là những suy nghĩ mang tính cảm xúc của tác giả xâm nhập vào câu chuyện qua các biến cố Không ít những tác phẩm mà yếu tố tự sự và yếu tố trữ tình được kết hợp ở mức ngang nhau Người ta gọi chúng là tác phẩm tự sự

- trữ tình Mặt khác, trong bản thân các tác phẩm tự sự luôn lấy chất liệu từ hiện thực cuộc sống, rồi từ hiện thực đó đúc rút ra được những triết lý sâu sắc, mang tư tưởng của tác giả Chính điều đó khiến cho các tác phẩm tự sự

có sự kết hợp giữa tính triết lý và tính trữ tình

Hai tiểu thuyết Cây hợp hoan và Một nửa đàn ông là đàn bà của

nhà văn Trương Hiền Lượng là hai tác phẩm tự sự trữ tình, trong đó những cảm xúc, những suy nghĩ của tác giả thông qua hệ thống nhân vật đã được khái quát lên thành những triết lý vô cùng sâu sắc Đó cũng là một trong những đặc điểm nổi bật trong phong cách nghệ thuật của nhà văn Trương Hiền Lượng

1.2 Hoàn cảnh lịch sử xã hội và văn học

Văn học bao giờ cũng là sản phẩm của mối quan hệ giữa hiện thực khách quan và ý muốn chủ quan của bản thân nhà văn Đó là kết quả của sự nhào nặn những chất liệu cuộc sống trong thế giới quan và bàn tay tài năng của người nghệ sĩ Nhà văn là con đẻ của xã hội, là con đẻ của một hoàn cảnh và một kiểu quan hệ nhất định Chính vì vậy, khi nghiên cứu một tác phẩm nào đó, thì ta phải đặt tác phẩm ấy vào “vùng đất riêng” mà nhà văn

Trang 13

lựa chọn, cũng như hoàn cảnh xã hội, trào lưu văn học – một trong những yếu tố ảnh hưởng sâu sắc đến sáng tác của nhà văn

Cho nên, không thể hiểu đúng thực chất tác phẩm của Trương Hiền Lượng nếu không đặt nó vào trong bối cảnh xã hội Trung Quốc những thập

kỉ gần đây Hoàn cảnh xã hội thay đổi cũng khiến cho các xu hướng văn học, trào lưu văn học thay đổi Từ đó quan niệm nghệ thuật, cách nhìn cách đánh giá của nhà văn về cuộc sống cũng có nhiều đổi khác Tất cả đã tạo nên tính riêng, độc đáo trong mỗi cách viết của nhà văn

1.2.1 Đại Cách mạng văn hóa vô sản Trung Quốc

Đại Cách mạng văn hóa vô sản là sự kiện nổi bật trong lịch sử nước

Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa Sự kiện này được biết đến không chỉ bởi thời gian kéo dài (1966 – 1976) mà còn bởi quy mô và ảnh hưởng của nó

nữa Đại Cách mạng văn hóa vô sản đã làm đảo lộn tất cả trật tự đời sống –

xã hội, chính trị, văn hóa,… của nhân dân Trung Quốc Ngày 1/10/1949, nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa ra đời đã mở ra một trang sử mới cho đất nước Trung Quốc với những sự kiện khởi đầu của công cuộc khôi phục

và phát triển đất nước Mười năm xây dựng chế độ mới (1949 – 1958) đã đem lại nhiều thành tựu lớn cho Đảng và nhân dân Trung Quốc Những tưởng từ đây ước mong được sống yên ổn, hòa bình của nhân dân sẽ thành hiện thực, nhưng chẳng bao lâu sau, khi Mao Trạch Đông chính thức đưa ra đường lối “Ba ngọn cờ hồng” năm 1958, Trung Quốc đã từng bước lún sâu

vào một cơn khủng hoảng trầm trọng Đại Cách mạng văn hóa vô sản là

minh chứng rõ ràng và tiêu biểu nhất cho sự khủng hoảng đó

Cuộc cách mạng này được Mao Trạch Đông khởi xướng và lãnh đạo

từ ngày 16 tháng 5 năm 1966, với mục tiêu chính thức là loại bỏ những phần tử “tư sản tự do” để tiếp tục sự nghiệp đấu tranh của tầng lớp Cách mạng Tuy nhiên, mục đích chính của Cách mạng này được mọi người

Trang 14

công nhận là một cách để Mao Trạch Đông lấy lại quyền kiểm soát Đảng Cộng sản Trung Quốc sau cuộc Đại nhảy vọt bị thất bại, dẫn đến sự tổn thất quyền lực đáng kể của Mao Trạch Đông so với đối thủ chính trị là Lưu Thiếu Kỳ và cũng để loại bỏ những người bất đồng ý kiến như Đặng Tiểu Bình, Bành Đức Hoài,

Có thể xem Đại Cách mạng văn hóa vô sản là “vết thương trầm

trọng” đối với đất nước, con người Trung Quốc không chỉ về thể xác mà cả

về tinh thần Nó không chỉ gây tác động tức thời mà còn gây nên những hệ

quả sâu sắc, lâu dài cho tới mãi sau này Mười năm Đại Cách mạng văn hóa vô sản đã tàn phá không thương tiếc những thành tựu mà nhân dân

Trung Quốc tạo dựng trên tất cả các lĩnh vực: kinh tế, chính trị, văn hóa –

xã hội,… Tình trạng tranh chấp quyền lực giữa các phe phái trong nội bộ Đảng đã gây ra những mâu thuẫn, xung đột sâu sắc, phức tạp thậm chí dẫn tới sự tàn sát khốc liệt lẫn nhau Cục diện hỗn loạn, đau thương đó kéo dài,

gây ra những tổn thất cực kì to lớn đối với Trung Quốc Bên cạnh đó, Đại cách mạng văn hóa vô sản còn phá hoại nặng nề văn hóa Trung Quốc, để

lại nhiều di hại có ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống tinh thần của nhân dân một thời gian khá dài

Với việc thực hiện đường lối “Duy ý chí” và “Tả khuynh Mao – Ít”,

cùng với những diễn biến của cuộc Cách mạng văn hóa nhằm giành giật

quyền lợi giữa các phe phái trong bộ máy lãnh đạo Trung Quốc, đã dẫn tới hàng loạt cuộc trấn áp cán bộ và cả nhân dân, đặc biệt là trí thức, kể cả giới trí thức văn nghệ Để phục vụ cho đường lối phản động và sai lầm nói trên, nền văn học nghệ thuật Trung Quốc cũng trở thành một công cụ tuyên truyền, sặc mùi giáo điều, công thức và dối trá Những văn nghệ sĩ nào đi ngược lại đường lối này cũng đều chịu số phận bị đàn áp, bị tù đày, giống như số phận của chính nhà văn Trương Hiền Lượng

Trang 15

Trong lịch sử lâu đời của Trung Quốc, đã không ít lần xảy ra những

sự kiện hủy diệt văn hóa một cách khủng khiếp Thời Tần Thủy Hoàng là

“phần thư, khanh nho” (đốt sách, chôn nho) Thế kỷ XVIII, do lo ngại sợ phong trào chống ngoại tộc của dân tộc Hán, các hoàng đế Mãn Thanh ra lệnh cho các quan lại lập các “Ngục văn tự”, thu đốt mọi sách vở chống đối, bắt bớ giết hại hàng chục vạn người,…

Giữa thế kỷ XX này, ở Trung Quốc lại diễn ra một cuộc hủy diệt văn

hóa tương tự với quy mô rộng lớn hơn Nhân danh cuộc Đại Cách mạng văn hóa vô sản “đánh đổ hết thảy, quét sạch hết thảy”, người ta đều ra khẩu

hiệu “tẩy trừ bốn cũ”, đó là: tư tưởng cũ, văn hóa cũ, phong tục cũ và tập quán cũ Từ đó, với lực lượng Hồng vệ binh cuồng nhiệt và ngu dốt, biết bao nhiêu sản phẩm văn hóa, công trình văn hóa bị phá hủy, không hề phân biệt đúng, sai, xấu, tốt Ngay cả quyền tối thiểu của con người là được sống, được làm việc cũng bị chà đạp, hỏi còn nói gì đến việc bảo tồn những

di sản văn hóa, tinh hoa của dân tộc, nhân loại? Tất cả chỉ còn lại một thứ

tư tưởng: “Tư tưởng Mao Trạch Đông”, hiểu một cách thô thiển là nhất

nhất nói theo, làm theo lời chủ tịch Mao, được in trọn trong cuốn Ngữ lục

bìa đỏ Tất cả chỉ còn một thứ văn hóa: Văn hóa vô sản, với cái nghĩa bài trừ mọi cái mà họ cho là văn hóa của giai cấp tư sản, của nước ngoài Còn phong tục cũ, tập quán cũ thì được thay thế bằng lối sống vô chính phủ, tự

do “tạo phản”, bất chấp luật pháp, đại nghĩa Ai chống lại, thậm chí chỉ nói khác lời, liền bị “sức mạnh quần chúng” trấn áp ngay

Rất nhiều nhà văn, nghệ sĩ có tên tuổi trong nước và cả trên thế giới lúc bấy giờ đều bị đấu tố, giam giữ, cải tạo lao động, thậm chí là bị giết hại như nghệ sĩ tài năng Duy Thế Trương Hiền Lượng cũng cùng chung số

phận với những nhà văn thời bấy giờ Hai cuốn tiểu thuyết Cây hợp hoan

và Một nửa đàn ông là đàn bà mặc dù được sáng tác khi cuộc Cách mạng

Trang 16

văn hóa đã kết thúc, nhưng nó lại được hun đúc trong hoàn cảnh xã hội thối

nát, rối ren thời đó

1.2.2 Xu hướng đổi mới của văn học đương đại Trung Quốc

Từ sau 1976 đến 1982, những người Đảng viên Cộng sản chân chính với sự ủng hộ của quần chúng Cách mạng, kiên quyết đấu tranh chống lại

“bè lũ bốn tên” đã giành lại quyền lãnh đạo Cách mạng Đất nước Trung Quốc tìm ra đường lối mở cửa, phong trào “bốn hiện đại hoá” theo đường lối tư tưởng của lãnh tụ Đặng Tiểu Bình Văn học cuộn mình trỗi dậy

Bước sang thế kỷ XX, văn học phương Tây, nhất là tiểu thuyết thực

sự đi vào một hướng khác Xu hướng chi phối các nhà tiểu thuyết, xét từ Thomas Mann tới Hemingway, từ Faulkner tới Borges,… là đi sâu vào thế giới bên trong của con người Với tư cách là một phương hướng phát triển

tự nhiên của tư duy nhân loại, cách khai thác đời sống này cũng được chấp nhận ở phương Đông Nhiều nhà văn đương đại Trung Quốc cũng bị ảnh hưởng bởi xu hướng này Nhất là từ sau 1976, trong lịch sử Trung Hoa,

thời điểm này đánh dấu một bước ngoặt, đất nước ra khỏi Cách mạng văn hóa để dần dần trở về với một đời sống dân sự bình thường, đúng hơn từ

một xã hội kết dính theo kiểu trung cổ tới một xã hội tan băng, suy nghĩ của con người được giải phóng, những thang bậc tự do được mở rộng

Với tâm thế làm sao nhanh chóng vượt lên tình trạng cô lập trước kia

để tìm lại mối quan hệ với thế giới, các lớp nhà văn trẻ kế tiếp hào hứng đến với những quan niệm hiện đại và cả hậu hiện đại nữa Có thể thấy điều

đó ngay trong phạm vi ít ỏi những tác phẩm văn học Trung Hoa đương đại

đã được dịch ra tiếng Việt Từ Vương Mông tới Trương Hiền Lượng, từ Dư Hoa tới Thiết Ngưng, từ Trì Lợi tới Trương Kháng Kháng,… người ta đã

có thể nhận ra cả loạt tác giả đi vào khai thác thế giới nội tâm của con người

Trang 17

Đâu là chỗ gần nhau của những nhân vật trong các tiểu thuyết Một

nửa đàn ông là đàn bà, Cây hợp hoan, Thị trấn Phù Dung, Quạ đen, Thành phố không mưa? Đó là ở chỗ, họ đều đang ở trong cái thế đi tìm

mình, bởi băn khoăn không hiểu mình thế nào Những ý nghĩ bị coi là điên cuồng nảy nở không sao kìm nén nổi Bản năng tính dục được xem như cái phần sâu xa trong tâm thức bị quên lãng và nay cần ưu tiên khám phá Trong một thế giới như vỡ vụn ra, chính họ cũng ngổn ngang tan nát không sao chắp nối lại cho được Vẻ đẹp của sự hoàn thiện nay chỉ còn là một cái

gì xa lạ

Một loạt sáng tác văn học thời kỳ đổi mới của Trung Quốc đều gặp nhau ở một điểm, đó là: kêu gọi khôi phục giá trị đích thực của con người,

đề cao tính người Các tác phẩm như Chủ nhiệm lớp của Lưu Tâm Vũ; Hồ

Điệp của Vương Mông; Cây hợp hoan, Một nửa đàn ông là đàn bà của

Trương Hiền Lượng,… đều thể hiện những suy nghĩ khá sâu sắc về nhân

tính Trong bài viết Quan niệm văn học của tôi, Lỗ Khu Nguyên cũng bày

tỏ những quan niệm của mình về bản chất và giá trị của văn học Theo ông, giá trị của văn học là do đi sâu vào khai thác đời sống tâm linh của con người và bản chất của văn học chính là kiếm tìm cái đẹp sâu thẳm nơi tâm hồn con người

Cùng với sự thay đổi trong văn học thời kỳ đổi mới ấy, lúc này, trên văn đàn văn học đương đại Trung Quốc, xuất hiện các trào lưu tiểu thuyết mới, trong đó đáng lưu ý là hai trào lưu: Tiểu thuyết “văn học vết thương”

và tiểu thuyết “văn học phản tư” Dòng “văn học vết thương”, dòng “văn học phản tư” với những tác phẩm sục sôi đòi thanh toán nỗi uất ức “mười năm khủng khiếp”, triệt để phê phán giai đoạn sai lầm ấu trĩ, từ đây mở ra thời kì phục hưng văn học nghệ thuật

Trang 18

“Văn học vết thương” nói chung và tiểu thuyết thuộc dòng “văn học vết thương” nói riêng đã quan tâm đến con người, đến vết thương tinh thần, thể xác của con người và chú ý đến cả vận mệnh, tư tưởng, tình cảm, trạng thái tinh thần của con người Tác phẩm nào cũng chứa đựng tinh thần nhân đạo, thể hiện nhân tính, khẳng định giá trị của con người, đề cao vai trò của con người trong xã hội Nó vạch trần, phê phán những hành vi vô nhân của bọn phản động Về phương pháp sáng tác, tiểu thuyết dòng “văn học vết thương” đã khôi phục lại truyền thống hiện thực chủ nghĩa Các tác phẩm

đã đề cập tới mọi ngóc ngách của cuộc sống mà xưa nay bị coi là “khu cấm”, không được mô tả Các nhà viết tiểu thuyết đều nhìn thẳng vào hiện

thực, lấy bi kịch của hàng trăm nghìn người để phủ định Đại Cách mạng văn hóa, khiến cho độc giả lần đầu tiên được thưởng thức những áng văn

hiện thực chủ nghĩa, thức tỉnh con người cần phải cảnh giác

Gần như đồng thời hoặc chậm hơn một chút, trên văn đàn văn học đương đại Trung Quốc đã xuất hiện dòng “văn học phản tư” Nó là kết quả tất yếu của sự phát triển của dòng văn học vết thương Các nhà tiểu thuyết phản tư đi sâu quan sát cơn ác mộng vừa kết thúc, không chỉ dừng lại ở việc tố khổ, tìm ra nguyên nhân nỗi đau khổ của con người mà còn nêu ra những vấn đề không có lời giải đáp Họ cùng nhìn nhận lại các cuộc vận động chính trị và làn gió “tả khuynh” từ 1949 đến nay đã ảnh hưởng xấu đến đời sống và số phận của nhân dân như thế nào Những tác phẩm thuộc dòng văn học này đều đề cập đến những sai lầm trong phong trào “Đại nhảy vọt”, “Chống phái hữu”, “Chống phái đương quyền đi theo con đường

tư bản chủ nghĩa” Các tác phẩm đã dũng cảm phơi bày những vấn đề nhạy

cảm xưa nay cấm kị Câu chuyện bị cắt xén sai không những đề cập đến

những tai họa của nhà nước và nhân dân do “làn sóng Cộng sản”, “làn gió khoa trương thành tích”, “làn gió giả dối lừa bịp”, “làn gió mù quáng ảo

Trang 19

tưởng” gây nên, mà còn phản ánh sự thay đổi quan hệ giữa cán bộ và nhân dân trong thời kỳ trước và sau cách mạng thắng lợi

Điểm chung giữa các tác phẩm văn học này là các tác giả đều đi sâu

vào thế giới nội tâm nhân vật để thấy được ảnh hưởng của cuộc Cách mạng văn hóa đến đời sống của con người như thế nào Qua đó thông qua nhân

vật để suy ngẫm, triết lý và góp phần tìm ra phương hướng cải tạo xã hội ngày càng đi lên

Tiểu thuyết Cây hợp hoan và Một nửa đàn ông là đàn bà của

Trương Hiền Lượng vẫn không thể phân tách rạch ròi thuộc dòng văn học vết thương hay phản tư Ở cả trong hai tác phẩm đều có những “vết

thương” hằn sâu để lại do cuộc Cách mạng văn hóa gây nên Ngoài ra, nó

cũng là những suy ngẫm, những cái nhìn ngoái lại của nhà văn về một thời đại động loạn đã qua, từ đó nhìn nhận lại vấn đề, nhìn nhận lại xã hội và đánh giá chúng

Như vậy, có thể thấy, cuộc Đại cách mạng văn hóa, cùng xu hướng

đổi mới của văn học đương đại Trung Quốc đã tạo nên cách viết và phong cách mới cho mỗi nhà văn, cụ thể là tính triết lý – trữ tình trong tiểu thuyết của nhà văn Trương Hiền Lượng

1.3 Nhà văn Trương Hiền Lượng

1.3.1 Hai mươi hai năm bão táp cuộc đời

Trương Hiền Lượng quê gốc ở tỉnh Giang Tô, sinh năm 1936 tại thành phố Nam Kinh Năm 1954, Trương Hiền Lượng chưa đầy 18 tuổi đã phải chia tay tuổi học trò Sau khi người cha qua đời, Trương Hiền Lượng tuy còn ít tuổi đã phải gánh vác trọng trách gia đình Sau đó, ông dẫn mẹ và

em gái rời khỏi Nam Kinh, đến chân núi Hạ Lan, Ninh Hạ Mảnh đất này

đã thu hút chàng trai trẻ Trương Hiền Lượng, và viết văn đã trở thành phương thức tốt nhất để bày tỏ những ý nghĩ trong nội tâm của ông Trong

Trang 20

một thời gian rất ngắn, Trương Hiền Lượng đã trở thành nhà thơ trẻ nổi tiếng Trung Quốc

Năm 1957, Trương Hiền Lượng sáng tác bài thơ “Đại phong ca” thể

hiện lòng hăng hái tuổi thanh xuân, đăng trên nguyệt san văn học Diên Hà,

đã có sức ảnh hưởng lớn và gây phản ứng mạnh mẽ Nhưng cũng chính vì bài thơ này mà Trương Hiền Lượng đã bị phê phán kịch liệt Ông bị liệt vào danh sách phần tử phái hữu phản động, bị đày đi lao động khổ sai suốt hai mươi hai năm trên một vùng đất xa xôi, hoang vắng Đó là Trấn Bắc

Đảo thuộc địa phận tỉnh Ninh Hạ, nằm ở hướng Tây – Bắc Trung Quốc

“Ngẩng đầu lên ngó mênh mông – Chỉ nghe ngọn gió đầu đông thổi về” –

Đúng như câu hát dân gian, ở đây hoang vắng, hiu quạnh, chỉ có tiếng gió

là còn sức sống Gió như đoàn tàu tốc hành thổi ù ù suốt đêm ngày, xới tung bụi cát màu vàng vốn là màu sắc riêng biệt của vùng đất lưu vực sông Hoàng Hà, xới tung những dằn vặt, khổ đau của Trương Hiền Lượng và những người chung số phận với ông trong một thời kỳ cực kỳ buồn thảm của lịch sử Trung Quốc Trong một lần chia sẻ với Đài phát thanh quốc tế Trung Quốc, khi nhìn lại quãng thời gian ở tù đó, Trương Hiền Lượng đã

không hề chìm đắm trong tâm trạng u buồn Ông tâm sự rằng: “Tôi cảm thấy rất tự hào, vì tôi cùng một vận mệnh với dân tộc Trung Hoa Lúc cá nhân tôi gặp chuyện không may, dân tộc Trung Hoa cũng đang gặp trắc trở, hơn nữa lúc đó ngoài tôi ra, nhiều công nhân, nông dân, cán bộ và trí thức gặp phải chuyện tan nát nhà cửa, lạc vợ xa con, mất tự do, thậm chí mất tính mạng, tôi vẫn phải coi là người may mắn, là người may mắn sống sót” [49]

Sau hơn 20 năm trắc trở, năm 1979, Trương Hiền Lượng bước vào thời kỳ mùa xuân cuộc đời Lúc Trung Quốc mới thực thi chính sách cải cách mở cửa, Trương Hiền Lượng vẫn ở nông trường và bắt đầu viết tiểu

Trang 21

thuyết Tác phẩm thay đổi số phận Trương Hiền Lượng là tiểu thuyết Câu

chuyện giữa cụ Hình và con chó Từ đó, nhà văn liên tiếp có những tác

phẩm xuất sắc ra mắt độc giả Hai tiểu thuyết Linh hồn và thể xác,

Sôrubulak liên tiếp được trao Giải thưởng Truyện ngắn xuất sắc nhất

Trung Quốc Truyện Cây hợp hoan đoạt giải Truyện vừa ưu tú toàn quốc Truyện Một nửa đàn ông là đàn bà được bầu chọn là một trong 100 tác phẩm có ảnh hưởng nhất Trung Quốc Những tác phẩm khác như Thời

thanh xuân, Phong cách nam nhi,… cũng là một trong những tiểu thuyết

được độc giả các nước, đặc biệt là Việt Nam đón nhận một cách nhiệt tình Trong những bộ tiểu thuyết của nhà văn, sự suy nghĩ và giãy giụa của nhân vật chính, đã phản ánh số phận không may và khổ cực của một nhóm người

thời kỳ Cách mạng văn hóa Trương Hiền Lượng tâm sự cùng bạn đọc của

Đài phát thanh quốc tế Trung Quốc rằng:

nhân tôi, thì tác phẩm không có giá trị lịch sử lớn, cũng không có sự đóng góp lớn cho xã hội Nhưng, tác phẩm của tôi đã phản ánh trắc trở của dân tộc Trung Hoa chúng ta hơn 20 năm” [49]

Đối với Trương Hiền Lượng, suy ngẫm về một thời kỳ lịch sử có lẽ

là chủ đề xuyên suốt cuộc đời của nhà văn, vì đây chính là số phận của chính nhà văn Đối với thế hệ cùng thời với Trương Hiền Lượng mà nói, dù bằng lòng hay không bằng lòng, xã hội và chính trị đã tác động tới cá nhân, rồi trở thành một phần trong cuộc đời của cá nhân Trải qua nhiều đau khổ cay đắng của cuộc sống đã tạo nên khí chất tinh thần độc đáo của Trương Hiền Lượng Tiểu thuyết của ông là kết tinh của thơ ca và triết học dựa trên khí chất tinh thần ấy

1.3.2 Ngòi bút hiện thực tỉnh táo

Ta có thể thấy, ngòi bút tiểu thuyết của Trương Hiền Lượng có sự đổi mới rõ rệt và táo bạo so với các cây bút tiểu thuyết giai đoạn từ năm

Trang 22

1949 đến Cách mạng văn hóa Giai đoạn trước, do chi phối của tư tưởng giáo

điều và Mao – Ít, các cây bút đi theo xu hướng công thức, tô hồng và sơ lược, một chiều Những căn bệnh nghiêm trọng này, khiến tiểu thuyết Trung Quốc

đi ngược hẳn với truyền thống ưu tú của chủ nghĩa hiện thực mà tiêu biểu nhất

là ở các nhà văn xuất sắc như: Lỗ Tấn, Mao Thuẫn, Ba Kim

Ngay về mặt lí luận, chính Mao Trạch Đông đã tuyên bố thủ tiêu chủ nghĩa hiện thực, khi ông đưa ra một cách tùy tiện không có một lý giải khoa học nào về cái gọi là “Hai kết hợp”, tức là kết hợp “chủ nghĩa hiện thực Cách mạng” với “chủ nghĩa lãng mạn Cách mạng” Thêm vào cái đuôi

“Cách mạng” này, về thực chất, Mao đã phủ nhận chủ nghĩa hiện thực

Lý thuyết giáo điều của Mao, chính là để hướng văn học đi theo xu hướng dối trá, “tô hồng”, ca ngợi một chiều, nêu cao những cái tích cực và Cách mạng, công nông binh một cách giả tạo, trái với thực tế Vì thực chất, chính sách “Hai kết hợp” của Mao đã dẫn dắt văn học đi theo khuynh hướng công thức, một chiều, giả tạo: những gì của Cách mạng và công nông binh bất kể trong thực tế như thế nào, cũng hiểu là những yếu tố đúng đắn nhất, là chân lý và luôn luôn phát triển và có tương lai

Những khái niệm “Cách mạng” và “Công nông binh” cũng được Mao và những người theo Mao định nghĩa một cách đơn giản và độc đoán Cách mạng và công nông binh có nghĩa là làm theo tư tưởng “duy ý chí

luận của Mao, mọi hành vi, mọi suy nghĩ đều phải nhất nhất làm theo Ngữ

lục Ngữ lục được tôn trọng, sùng bái còn hơn cả kinh thánh Nó trở thành

cẩm nang cho toàn thể những cán bộ, nhân dân và cả văn nghệ sĩ nữa

Vì vậy, tất nhiên mọi trí tưởng tượng và sáng tạo phong phú đa dạng

và toàn bộ thế giới tinh thần, tình cảm, tâm lí của con người tất nhiên là bị loại bỏ ra khỏi tác phẩm văn học

Trang 23

Những tác phẩm của Trương Hiền Lượng ra đời đã phá vỡ được cái vành đai “giáo điều”, “công thức” đó và quay trở lại với truyền thống của chủ nghĩa hiện thực Ngòi bút của nhà văn đã mạnh dạn phê phán và bóc

trần hiện thực của xã hội Trung Quốc trong thời kỳ Cách mạng văn hóa Sự

phê phán và bóc trần hiện thực xuất phát từ cơ sở phủ định một cách quyết liệt cả một thời đại Mao-Ít, cả một nền văn nghệ Mao – Ít, tất nhiên nó hết sức sắc bén và dữ dội Vì vậy nó rất gần với chủ nghĩa hiện thực tỉnh táo của Lỗ Tấn

Đúng là khi tiểu thuyết đã trở về với cội nguồn vĩnh viễn bất diệt của văn học là hiện thực, thì tư duy nghệ thuật trở nên có sức mạnh nghệ thuật thật sự Ta có thể so sánh với châm ngôn khá phổ biến của văn học Xô Viết

trong “Cải tổ”: “Hãy nói sự thật, sâu sắc sự thật; dù cho nó có cay đắng và đau buồn biết mấy”

Bất luận là những tác phẩm viết về vết thương trong Cách mạng văn hóa hay những tác phẩm phản ánh công cuộc cải cách, hình tượng nhân vật

của Trương Hiền Lượng đều có những suy nghĩ mang tính triết lý sâu sắc Nhân vật của ông phần lớn là những người suy nghĩ, tự giác và liên tục Đó

là nhân vật Hứa Linh Quân trong Linh hồn và thể xác, nhân vật anh lái xe trong Sôrubulak, Nhân vật Trần Bao Thiếp trong Phong cách nam nhi, Chương Vĩnh Lân trong Cây hợp hoan và Một nửa đàn ông là đàn bà, nhân vật “tôi” trong Thời thanh xuân,… Những nhân vật ấy luôn trầm tư

và phản tỉnh, ít nhiều mang khí chất tinh thần của bản thân Trương Hiền Lượng

Trang 24

Tiểu kết

Thông qua việc tìm hiểu sơ lược về khái niệm tính triết lý – trữ tình, khái quát lịch sử xã hội và lịch sử văn học ảnh hưởng đến sáng tác của hai

tác phẩm Cây hợp hoan và Một nửa đàn ông là đàn bà, đồng thời tìm hiểu

đời sống cá nhân cũng như ngòi bút đặc trưng của nhà văn Trương Hiền

Lượng, chúng ta đã phần nào tìm hiểu được Cơ sở hình thành tính triết lý – trữ tình trong tiểu thuyết của Trương Hiền Lượng

Cuộc Đại Cách mạng văn hóa vô sản không chỉ làm cho xã hội

Trung Quốc lúc bấy giờ trở nên rối ren, đảo lộn mà nó còn tàn phá bao nhiêu giá trị văn hóa, đời sống tinh thần của người dân Rất nhiều giới văn nghệ sĩ, trong đó có Trương Hiền Lượng cũng phải chịu nỗi đau nặng nề từ những cuộc “đấu tố”, “xét lại” của cuộc Cách mạng ấy Nhà văn đã trải qua hai mươi hai năm lao động cải tạo Hơn hai mươi năm ấy đã giúp nhà văn

có cái nhìn tỉnh táo và sâu sắc về cuộc sống hiện thực, từ đó rút ra cho mình những triết lý sống đầy ý nghĩa Những triết lý ấy đều được ông ghi lại cụ thể trong tác phẩm văn học của mình

Bản thân Trương Hiền Lượng bước vào làng văn là một nhà thơ, chính bởi vậy tiểu thuyết của ông thấm đẫm tính chất trữ tình Với những triết lý sống được đúc rút từ trong hiện thực cuộc đời, trong triết lý của những nhà tư tưởng nổi tiếng, Trương Hiền Lượng đã thể hiện nó ra trong tiểu thuyết của mình bằng cách thức rất trữ tình Trữ tình từ trong cách tự truyện, trong giọng điệu, trong cách nhìn nhận, suy nghĩ của nhân vật

Cùng với sự thay đổi của xu hướng văn học đương đại Trung Quốc,

đi sâu vào diễn tả tâm lí, nội tâm giằng xé của nhân vật, dám nói lên cái

“tôi” với những trăn trở suy tư rất thực, Trương Hiền Lượng cũng dùng ngòi bút của mình, thông qua nhân vật để nói lên chính số phận mình Những giằng xé trong nội tâm nhân vật, những triết lý mà nhân vật chiêm

Trang 25

nghiệm được cũng chính là tư tưởng của tác giả muốn truyền đạt tới bạn đọc

Cũng bởi vậy, càng đi sâu vào tìm hiểu Cây hợp hoan và Một nửa

đàn ông là đàn bà, người đọc lại càng cảm thấy như được đón nhận một

làn gió mới, được thưởng một nghệ thuật thực sự mới mẻ

Trang 26

Chương 2 TÍNH TRIẾT LÝ – TRỮ TÌNH QUA NGHỆ THUẬT

XÂY DỰNG NHÂN VẬT

2.1 Nhân vật chiêm nghiệm về cuộc sống

Tác phẩm Cây hợp hoan và Một nửa đàn ông là đàn bà là câu

chuyện về cuộc đời của nhân vật chính - Chương Vĩnh Lân Người kể chuyện xưng “tôi” và kể lại toàn bộ những biến cố của cuộc đời mình trong

suốt thời gian hai mươi năm với bao đau khổ của thời kì Đại Cách mạng văn hóa vô sản Nhân vật đã từng sống, từng chứng kiến các sự việc và

cảm nhận về nó như thế nào đều được bộc bạch một cách chân thực nhất Chính bởi vậy, những chiêm nghiệm về cuộc sống cũng được đúc rút ra từ chính suy nghĩ và trải nghiệm của nhân vật trung tâm - Chương Vĩnh Lân

Nhân vật Chương Vĩnh Lân trong Cây hợp hoan bị quy là “phái

hữu”, sau khi ra khỏi trại cải tạo, được đưa về nông trường hoàng thổ lập nghiệp Ở đây, anh được nữ công nhân tên là Mã Anh Hoa yêu thương và cho ăn uống no nê Chính tình yêu thương của Mã Anh Hoa đã nhen nhóm trong anh tình yêu cuộc sống tha thiết và ôm ấp một ước muốn gắn bó với người con gái mà anh yêu thương Nhưng hạnh phúc thật ngắn ngủi vì anh chưa kịp hưởng thụ nó thì đã bị đưa đi cải tạo lao động ở một vùng khác

Một nửa đàn ông là đàn bà là tục biên của Cây hợp hoan Chương

Vĩnh Lân hết hạn cải tạo, về nông trường Tây Bắc kết hôn với Hoàng Hương Cửu Nhưng do cuộc sống dày vò, tinh thần bị áp chế lâu ngày, thể xác và tâm hồn bị tổn thương, nên trong cuộc sống chăn gối anh không thỏa mãn được đòi hỏi của vợ, vì anh chỉ còn là “nửa người đàn ông” thôi Nhưng bản thân anh sau bao lần cố gắng và được sự động viên của vợ, cuối cùng anh đã trở lại thành người đàn ông thực thụ Sau khi sức khỏe được

Trang 27

khôi phục, anh lại mơ ước một cuộc sống tinh thần cao hơn, cuối cùng anh

bỏ vợ, phiêu bạt tha phương

Cả hai tiểu thuyết đều viết về người trí thức vật lộn với “cái ăn” (thực) và “đàn bà” (sắc) trong thời đại tư tưởng “tả khuynh” đang thống trị

và gò bó nhân tính con người Dưới ánh sáng của lý tính, cả hai nhân vật đều phát hiện ra cái ti tiện, xấu xa do bản năng gây ra, phán xét linh hồn dung tục, nhỏ nhoi của bản ngã, đi tìm cái “cao hơn cuộc sống”

Trong mỗi tác phẩm, đặt nhân vật vào những hoàn cảnh khác nhau, nhà văn lại thông qua đó rút ra được những triết lý thấm thía khác nhau

Nếu như Chương Vĩnh Lân trong Cây hợp hoan có được những triết lý trải

nghiệm sâu sắc trong lao động cùng với người trí thức và những người

công nhân, thì trong Một nửa đàn ông là đàn bà nhân vật lại có được

những thấm thía của cuộc sống lao cải, chà đạp lên thể xác và tinh thần người trí thức

2.1.1 Nhân vật mang tâm thế tự do

Truyện Cây hợp hoan là khoảng thời gian nhân vật được tự do lao

động tại nông trường hoàng thổ Nói chính xác hơn là được trở thành

“người lao động sống bằng sức của mình” Lập nghiệp tại nông trường, Lân

đã sống cùng một nhà với những người trí thức ích kỉ, cá nhân nhưng ngày càng có quan hệ mật thiết với những người lao động nơi đây Thời gian ở hoàng thổ và gặp gỡ người phụ nữ Mã Anh Hoa chỉ diễn ra trong hơn sáu mươi ngày, từ những ngày đầu đông đến những ngày giáp Tết Nguyên đán, nhưng chính cuộc sống nơi đây đã giúp Lân nhận ra vẻ đẹp của người lao động Lân biết trân trọng giá trị của lao động và Lân đã hoàn toàn hòa nhập được vào cuộc sống lao động, là thành viên của những người rẻo cao Những trải nghiệm của cuộc sống tự do này đã giúp Chương Vĩnh Lân có

Trang 28

được những triết lý vô cùng sâu sắc về cuộc đời cũng như cảm nhận được tình người ấm áp từ cuộc sống bình dị nhất

2.1.1.1 Trong quan hệ với trí thức

Giống như phần lớn số phận của những người trí thức trong thời kỳ

đầy bão táp của Cách mạng văn hóa, những người trí thức trong Cây hợp

hoan bị quy vào thành phần “phái hữu” và bắt đầu cuộc đời lao cải tại các

nông trường với tư cách là người tù Họ bị mất tự do nặng nề về mọi phương diện và phải kìm hãm lý tưởng sống Và ngày 1 – 2 – 1961, sau bốn năm sống ở nông trường lao cải, họ được điều tới nông trường hoàng thổ lập nghiệp Những người trí thức có những nghề nghiệp khác nhau Đó

là tên “Chủ nhiệm kinh doanh” là nhân viên của một công ty bách hóa, anh cán bộ biên tập là người của một tờ báo ở Lan Châu, một cựu trung úy từng

là anh hùng Triều Tiên và tay kế toán là người của một ngân hàng Thượng Hải Đến nông trường, mặc dù đã trở thành những người “tự do” thực thụ, nhưng họ vẫn phải đối diện với cái đói của cuộc sống hàng ngày Chính vì vậy, họ bỗng trở nên ích kỷ, toan tính trong đối xử và hoàn toàn không muốn giao lưu tiến tới một cái gì tốt đẹp hơn ngoài việc giữ gìn quyền lợi của bản thân Cách cư xử của những người trí thức đã khiến Chương Vĩnh Lân nhận ra cuộc sống của mình đang bị nhấn chìm trong sự hẹp hòi và ích

kỉ Trong mối quan hệ với những người trí thức này, nhân vật Chương Vĩnh Lân luôn có sự dằn vặt, trăn trở về cái đói, sự tồn tại và những mâu thuẫn giữa tự do và kìm kẹp

2.1.1.1.1 Triết lý về cái đói và sự tồn tại

Nông trường lao cải cách nông trường hoàng thổ không xa, chỉ có một con mương Có thể thấy, bốn năm ở nông trường lao cải đã làm những người trí thức suy sụp quá nhiều về sức khỏe cũng như về đời sống tâm hồn

và tình cảm Hàng ngày, họ phải đối mặt với cái đói dày vò ghê gớm và câu

Trang 29

chuyện của lý tưởng thì coi như đã mất: “cái lý tưởng còn mờ nhạt xưa kia

đã bị phê phán tan biến ngay từ lúc nó chưa hình thành” [33, 46]

Và giờ đây, khi đặt chân lên nông trường hoàng thổ, mọi thứ dường như không có gì thay đổi so với nơi ở trước đây ở đội lao cải Nơi họ đặt chân đến là một vùng đất không làm những người trong đội lập nghiệp lạc

quan hơn cuộc sống trước đó: “Dưới cầu là lòng mương cạn khô về mùa lạnh Hai bờ mương mọc đầy cỏ đông vàng úa, lá nhỏ như sợi chỉ, đứng im… Chiếc cầu hết sức sơ sài, mặt cầu rải hoàng thổ, bị xe cộ qua lại nghiền thành bụi… Mặc cho ba con ngựa chạy loạng choạng, thở như kéo

bễ, lỗ mũi phả ra từng làn hơi trắng như sữa, những cặp mắt đáng thương trợn trừng, người đánh xe vẫn không chịu xuống” [33, 5] Và hình ảnh đầu

tiên khi nói về những người trí thức tới nông trường hoàng Thổ là họ nhảy

khỏi xe và chăm chú đi tìm của cải để ăn: “Tôi chợt nhận ra mấy người đồng hành cùng tôi không còn ở trên xe nữa Nhìn lại, họ đang lúi húi tìm kiếm trên một mảnh ruộng, điệu bộ chẳng khác đang phải học thuộc một đoạn cổ văn khó hiểu” [33, 9] Hình ảnh này đã cực tả sự đáng thương của

họ Hàng ngày, điều họ phải quan tâm một cách căng thẳng nhất lại chính là: Cái đói

Nông trường hoàng thổ đã phơi bày tất cả sự nghèo nàn và sự hoang

sơ của nó: “Chúng tôi chưa thấy dấu hiệu đón tiếp nào cả Nơi này chó gà không có lấy một con Chỉ có mấy ông lão ăn mặc rách rưới ngồi sưởi nắng bên cầu, khi chúng tôi qua cũng không buồn ngước lên” [33, 29]

Còn hình ảnh những ngôi nhà mang một cảm giác vắng vẻ, tẻ nhạt càng tô

đậm hơn cái hoang sơ: “Nhà cửa trong thôn không khác nông trường lao cải: những dãy nhà bằng đất xếp hàng như ở trại lính, có điều nhà ở đây

ọp ẹp hơn Vách đất đắp bằng đất phèn đã long ra nhiều chỗ” [33, 29]

Chính những hình ảnh ấy đã giúp nhà văn lột tả một cách thành công nhất

Trang 30

và khách quan nhất thái độ của những người trí thức khi dừng chân tại đây

Tay “Chủ nhiệm kinh doanh” cho rằng nơi này “Thua xa đội lao cải Đội lao cải còn có bếp lò” Anh cán bộ biên tập thì cho rằng nơi này nghèo nàn

hơn vùng Định Tây Anh cựu trung ý thì cho đây là một cực hình phải chịu

đựng: “Đ.mẹ, bất quá chỉ ngoi lên tầng thứ mười bẩy của mười tám tầng địa ngục”,…

Và trong cái đói của thể xác, những người trí thức đó đã quan hệ với nhau theo lối sống của cái “tôi” bản năng và ích kỉ Mối quan hệ giữa họ không giống với mối quan hệ của những người trí thức Họ không có biểu hiện của những người khát khao lý tưởng và hoài bão Mối quan hệ của họ rất cá nhân và độc lập về lợi ích Nó trở nên vô cùng căng thẳng khi lợi ích

cá nhân, nhu cầu bản năng bị người khác xâm phạm Nguyên tắc xử thế

giữa họ là sự tuyệt đối rạch ròi và sòng phẳng:“Tôi không lấy của anh một

xu, anh cũng đừng lấy của tôi một kẽm” Vì vậy mà mỗi lần có cục bông

nào từ chỗ nằm của Lân rơi sang bên nệm cỏ của tay kế toán thì hắn cung kính đưa hai tay trao lại Hắn rất nhạy bén về ranh giới giữa hai chỗ nằm của hắn và Lân, “nhạy bén hơn cả hai quốc gia quan hệ đang căng thẳng” Tay “Chủ nhiệm kinh doanh” có thể mời tay kế toán mẩu bánh mì vì hắn biết tay kế toán không bao giờ chịu ơn cái lòng tốt lớn lao đó Nên ngoài tay kế toán thì tay “Chủ nhiệm kinh doanh” không dám mời một ai Hắn cố tình làm như vậy để Lân thèm và tự bộc lộ sự hèn hạ trước cái đói Không khí trong phòng luôn duy trì sự im lặng và căng thẳng Họ hoàn toàn không

để ý đến ai, nhưng không cho phép ai ảnh hưởng đến miếng ăn và giấc ngủ của họ:

“Không khí trong phòng như ngưng đọng lại Nhưng người khác bề ngoài vẫn tỏ ra ai làm việc ấy, người thì vá bít tất, kẻ thì viết thư, người thì

Trang 31

nằm trong chăn nghĩ ngợi Nhưng rõ ràng tất cả vẫn để ý tới nửa cái bánh

mì trên nệm cỏ của tôi” [33, 95]

Đúng vậy, họ luôn căng thẳng bởi cái đói Cái đói không ai nói

nhưng đã là chủ đề của câu chuyện về họ Và dù mỗi người có đi: “đốt nhà cướp của ai cũng mặc, miễn là anh đừng làm ảnh hưởng gì đến họ” [33,

191] Đối với riêng Chương Vĩnh Lân, cái đói đã trở thành một vật có hình khối, có thể cảm nhận một cách rõ rệt:

“Cái đói đã trở thành một thực thể có sức nặng, có thể tích Nó lao ngang dọc trong dạ dày, réo ùng ục, gào lên với mỗi sợi thần kinh: ăn, ăn, ăn…” [33, 49]

Cái đói không chỉ tàn phá về thể xác mà còn có sức mạnh tàn phá tâm hồn Nó làm con người ta trở nên toan tính hơn, ích kỉ hơn, xấu xa hơn Đối với tay “Chủ nhiệm kinh doanh”, hắn dùng “cái ăn” làm “vũ khí tối

ưu” để đối chọi lại với Lân: “hắn không dám đánh nhau với tôi, nhưng hắn dùng những thứ hắn được tiếp tế, hoặc do may mà có ra khoe, hòng làm tôi thèm rỏ rãi Hắn biết đó là cách dày vò tôi hiệu quả nhất” [33, 12] Hay

cũng vì cái đói mà chính bản thân Lân cũng phải tìm mọi cách để được no bụng hơn Đó là cái bí quyết ăn trộm cháo của Lân Mỗi ngày, Lân ăn nhiều hơn tay “chủ nhiệm kinh doanh” một trăm cc là do Lân biết rất rõ cháo trong chậu của hắn đầy đến đâu Và Lân lấy ống bơ đổ nước đến đúng ngấn cháo hằng ngày được lĩnh rồi trút sang chậu của tay “Chủ nhiệm kinh doanh” Thế là Lân có thể lợi dụng sự sai lầm của thị giác để được no hơn Rồi cái đói còn dạy Lân cách không lấy bánh mà xin cạo bột ở mảnh vải, hay buổi cuối cùng ở lao cải, Lân không những được ăn cháo, mà hơn những người khác là được nhận thêm hai cái bánh mô mô Tất cả cũng nhờ cái đói đã vạch đường chỉ lối cho họ Vì cái ăn và sự tồn tại, họ phải dùng cái bản năng của mình để thích nghi và chống chọi lại

Trang 32

Sự sa đọa của con người do cái đói gây nên cũng được nhà văn

Trương Hiền Lượng nói một cách đầy chua xót trong tiểu thuyết Thời

thanh xuân Những câu văn tỉnh táo, sắc lạnh đã thể hiện một cách chân

thực bản chất của những người trí thức lúc bấy giờ trước cái đói:

“Anh không mở to mắt ra, không công kích người ta, thì người ta sẽ công kích anh Sống giữa một bầy sói, anh cũng phải như con sói tinh ranh, giảo hoạt Đành rằng cùng đi cải tạo với nhau đều là trí thức mà tuyệt đại

đa số là tín đồ của Đường thi Tống từ, từng áo mão xênh xang một thời trong xã hội, phong độ rất là nho nhã, nhưng lúc cán bộ quản giáo tuyên

bố các phạm phải theo dõi nhau, tố cáo nhau, phát giác nhau, cộng với nỗi khổ đói cơm, rét áo, lao lực thì bọn họ, trong đó có tôi, dần dần thoái hóa thành nửa người nửa ngợm” [32, 121] Tác giả đã không ngần ngại ví

những người trí thức như những “con sói” hay “bầy hổ”, những động vật hung dữ và không có tính người Điều đó đã cực tả về sự tha hóa của tầng lớp trí thức trước cuộc sống mưu sinh vì cái đói

Nhân vật Chương Vĩnh Lân trong Cây hợp hoan cũng vậy, anh cũng

trở nên “sa đọa” lúc nào không hay Vì đói, Lân đã trắng trợn lừa bác nông dân ba cân đậu tương để lấy năm cân củ cải Qua đó, ta thấy Lân phải đương đầu một cách quyết liệt, dùng đủ mưu mẹo để ăn và giành lấy sự sinh tồn cho bản thân Chính Lân cũng không ngờ về sự sa đọa của bản thân mình Từ đó, nỗi đau khổ và sự dằn vặt bản thân không ngừng diễn ra trong Lân Lân đã đi truy tìm nguyên nhân và đặt ra câu hỏi về cuộc sống

Ban ngày là thế, Lân chỉ mải mê toan tính, mải mê tìm kiếm cái ăn Chỉ có những lúc về đêm, ngồi đối diện với bức tường im ắng thì “mặt thứ hai của con người” Lân mới hiện ra dày vò tâm can anh:

“Tức thì mặt thứ hai của con người tôi bắt đầu hoạt động Tinh thần tôi bị hiện thực đau khổ và không sao hiểu nổi đập nát thành mảnh vụn, lúc

Trang 33

này tập hợp lại như ghép những mảnh kính vỡ, chà xát tôi bằng những cạnh sắc như dao ” [33, 44]

Đây là lúc nhân vật nhận thức sâu sắc nhất về hoàn cảnh sống, cũng như sự tồn tại của bản thân Nếu ban ngày, Lân sống với cái bản năng ích

kỷ và bị cái bản năng chi phối hành động thì ban đêm là lúc con người nội tâm đầy phức tạp trong Lân trỗi dậy ghê gớm Nó là nhân vật vô hình, đại diện cho lý trí, sát phạt và kiểm điểm Lân, dày vò và thẩm vấn Lân trước tòa án của lương tâm Có lẽ ban đêm là thời gian mà mỗi con người sống thật nhất với cái tôi của chính mình Thời gian trần thuật là là thời gian tuyến tính, từ ngày chuyển về đêm Nhưng thời gian trong suy nghĩ của nhân vật lại có sự đảo lộn, theo mạch cảm xúc Lân hồi tưởng lại những gì anh đã làm ban ngày và “giật mình vì sự ti tiện đủ kiểu và những ý nghĩ độc ác của mình” Rồi những hồi tưởng đó lại như một “gáo nước lạnh” dội thẳng vào mặt anh, khiến anh tỉnh táo hơn bao giờ hết, để thấy “căm ghét bản thân đến cùng cực” và thấy tâm hồn mình đã bị “vẩn bụi”, sa đọa:

“Sa đọa không đáng sợ, mà đáng sợ là sự tỉnh táo lúc sa đọa” [33, 45]

Thật đúng như vậy, con người ta nhận ra mình sa đọa mới thật là đáng sợ Lương tri không ngủ yên, mà luôn vùng vẫy trong đám bùn lầy

Đó cũng giống như cái đau đớn của anh trí thức Hộ trong Đời thừa của

Nam Cao vậy Đau đớn làm sao khi thấy mình viết ẩu, đi ngược lại với lương tâm nghề nghiệp, tha hóa về phẩm chất chỉ vì “nỗi lo cơm áo ghì sát đất” Đau đớn làm sao khi viết ra những dòng văn dễ dãi, chỉ muốn xé ngay sau khi đọc lại Đó chính là nỗi đau đớn của lương tri, của sự tồn tại Còn

Chương Vĩnh Lân trong Cây hợp hoan cũng đau đớn về sự sa đọa của

lương tri vì cái đói Một đoạn văn ngắn mà liên tiếp những câu tự vấn lương tâm: Tôi chưa chết có nghĩa là tôi đang sống Mà mục đích của cuộc sống là gì? Lẽ nào chỉ là để sống? Nếu không có gì cao hơn sự sống đó thì

Trang 34

sống có ý nghĩa gì? Từ nay trở đi tôi sống như thế nào? Vì sao mình đến nông nỗi này… Tôi cảm thấy tôi tồn tại Tồn tại là gì nhỉ?

Nhân vật tự chất vấn lương tâm rồi lại tự tìm câu trả lời cho chính mình Những dòng độc thoại nội tâm này đã phơi bày thế giới tình cảm sâu kín, nhiều cung bậc khác nhau mà nhân vật “tôi” trải qua Đó là nỗi dày vò khi không biết sống tiếp như thế nào, khi chưa có đường lối tư tưởng nào soi sáng, thấy bản thân không biết bấu víu vào đâu Và đòi hỏi mình phải suy nghĩ, phải lý giải vì sao bản thân lại đến nông nỗi này Để rồi cuối cùng, hoàn cảnh hiện tại vẫn chính là hiện thực đanh thép, giúp nhân vật nhận ra rằng:

“Đây là định mệnh ư? Vậy thì, đói rách có tính phổ biến đã đẩy hàng triệu người vào chung một số phận Bên tai tôi vang lên câu nói của anh cán bộ giảng dạy triết học: Số phận cá nhân gắn chặt với vận mệnh của đất nước!” [33, 47]

Qua những suy nghĩ của nhân vật, ta thấy mặc dù sống trong hoàn cảnh đói khổ nhưng nhân vật (cũng là tác giả Trương Hiền Lượng) vẫn luôn lo lắng cho đất nước, làm cách nào để thay đổi đất nước và hoàn cảnh hiện tại Những suy nghĩ và trăn trở đó của nhân vật rất đáng trân trọng, bởi xã hội rối ren đương thời, đâu còn nhiều người sống có trách nhiệm như anh

Hiện thực càng đói khổ thì càng rèn giũa ý chí sinh tồn của nhân vật Đói khổ bao nhiêu thì nhân vật càng khao khát sống bấy nhiêu, càng nung nấu tư tưởng muốn giải thoát, muốn kiếm tìm cái “cao hơn cả sự sống”, muốn đưa đất nước thoát khỏi hoàn cảnh thực tại Chương Vĩnh Lân cũng

đã thừa nhận với chính mình:

“Sống là rất hay, suy nghĩ được lại càng hay, hay đến nỗi không muốn ngủ”[33, 48]

Trang 35

Như vậy, có thể thấy cái đói và sự tồn tại là hai yếu tố luôn song hành cùng nhau trong những trăn trở của Chương Vĩnh Lân Vì cái đói mà con người ta trở nên mưu toan, ích kỷ hơn để tồn tại Nhưng cái ý nghĩa của sự tồn tại lại giúp con người vượt lên trên cái đói, hướng tới một cuộc sống cao cả Mặc dù sự tồn tại có chông chênh, có vất vả nhưng với tình yêu cuộc sống tha thiết, Chương Vĩnh Lân vẫn hướng đến một tương lai tốt đẹp hơn

2.1.1.1.2 Mâu thuẫn giữa tự do và kìm kẹp

Cuộc sống của một người lao động tự do đã đem đến cho Chương Vĩnh Lân những trải nghiệm vô cùng mới mẻ Trước tiên ta phải nhắc đến ngày đầu tiên Chương Vĩnh Lân được tự do và ăn bữa ăn cuối cùng tại nông trường lao cải Tại bữa ăn đó, Lân đã có buổi nói chuyện với người tri thức là anh cán bộ giảng dạy ở một trường của đại học Tây Bắc Cuộc nói chuyện tuy ngắn ngủi, nhanh chóng trong lúc xếp hàng đợi cơm nhưng lại

là cơ duyên đầy ý nghĩa, ảnh hưởng đến tư tưởng của Chương Vĩnh Lân sau này Cách ăn mặc, cư xử và điệu bộ nói chuyện của anh cán bộ giảng dạy đó đã giúp Lân nhận ra được giá trị của tự do trong tâm hồn:

“Ở cái nơi mà thân thể mất hết tự do thì đôi cánh của tư tưởng lại tự

Trang 36

thái vốn có của một học giả trăm phần trăm để trò chuyện với anh bên cửa

sổ ồn ào như chợ vỡ”

Cuộc nói chuyện chỉ là sự đối đáp dăm ba câu, nhưng ý nghĩa hàm chứa trong đó thì rất nhiều Nó cho thấy Chương Vĩnh Lân cũng như anh cán bộ kia là những người trí thức mang tư tưởng tiến bộ, luôn tận tâm với đất nước Mặc dù đang trong thân phận của một tù nhân nhưng họ vẫn luôn trăn trở, luôn suy nghĩ và tìm cách cải tạo đất nước Tất cả những suy nghĩ

đó được gửi gắm vào trong câu nói đầy tâm huyết của anh cán bộ giảng dạy nói với Lân:

“Số phận chúng ta gắn liền với số phận của đất nước” [33, 14]

Chương Vĩnh Lân đã mang theo triết lý ấy cùng cuốn sách triết học

mà anh cán bộ giảng dạy gửi tặng đến nông trường hoàng thổ lập nghiệp với tư thế là một người lao động tự do

Tại nông trường hoàng thổ, Lân luôn hạnh phúc vì từ nay tư cách của mình có sự thay đổi Anh cảm nhận được sự khác biệt rất lớn giữa cảm giác

ở nông trường lao cải và cảm giác phơi phới hi vọng ở nông trường hoàng

thổ: “Vậy mà chỉ cách một con mương! Con mương là ranh giới của tự do

và mất tự do” [33, 8]

Lân tuyệt đối coi trọng cái ngày đầu tiên này: “Vậy mà cái ngày cực

kỳ quan trọng, rất đáng kỷ niệm của tôi, ngày 1 tháng 2 năm 1961, đối với người khác lại bình thường như bất cứ ngày nào trong 365 ngày của một năm Điều này khiến tôi hơi cụt hứng” [33, 29] Với tâm thế ấy, trên đường

đến nông trường hoàng thổ, Lân đã để tâm hồn mình hòa cùng hồn đất và

hồn người nơi đây qua lời ca hồn hậu và ưu tư của anh xà ích Hỉ: “Điều quan trọng không phải là tiếng hát của anh, mà là tiếng hát đã thức dậy sự thiêng liêng của mảnh đất này, thức dậy ý thơ trong tôi ngủ say bao năm

Ô, hôm nay tôi là người tự do Tôi hôn một ngàn lần mảnh đất này bằng

Trang 37

cặp môi nứt nẻ và thâm đen vì thiếu máu”[33, 26] Lân thực sự bắt nhịp

được với ý nghĩa của cuộc sống bằng tâm hồn yêu thương cuộc sống rộng

mở và thiết tha

Cuộc sống với những người trí thức khác, đặc biệt là tay “Chủ nhiệm kinh doanh” cũng khiến Lân có được những trải nghiệm vô cùng mới mẻ

về cuộc sống tự do vốn vẫn chưa quen hẳn này Trước hết là Lân ý thức

được sự tự do một cách rõ rệt, hơn hẳn tay “Chủ nhiệm kinh doanh”:“Tôi còn ưu việt hơn hắn ở một điểm nữa Tôi ý thức được rằng, hôm nay tôi có thể rời con đường đất, hôm nay tôi có thể nhảy qua con mương ấy, con kênh ấy… Hôm nay ý chí tôi sẽ chi phối tôi” [33; 20,21] Đó chính là sự tự

do về tinh thần, trong suy nghĩ, nhận thức rõ được thân phận lúc này của mình như thế nào Trong khi đó, tay “Chủ nhiệm kinh doanh” thì chỉ mải lo bon chen, kèn cựa với người khác mà không có được cái hạnh phúc của sự

tự do ấy Anh ta chỉ quen sống dựa dẫm vào người khác, nhờ vào sự tiếp tế của người nhà, trong khi đó Chương Vĩnh Lân thì tận dụng một cách thông

minh sự tự do của mình để có được một cuộc sống tốt nhất:“Chỉ có con người tự do mới được vào bếp cạo bột ngô! Tự do thích thật” [33, 39]

Đó là sự tự do trong hành động Và Lân còn biết tìm kiếm sự tự do ít

ỏi ngay trong căn phòng tập thể rách nát của mình:“Trong phòng tập thể, anh chiếm được chân tường tức là đã giành được một nửa tự do, bớt đi một nửa quấy nhiễu” [33, 36]

Nhưng trong cái cuộc sống tự do ấy, bản thân Chương Vĩnh Lân vẫn

có những băn khoăn, nhiều khi là bế tắc, không có sự lựa chọn cho cuộc sống của mình Với những người trí thức khác, họ luôn luôn kêu than về cuộc sống đói khổ thực tại và chỉ mong ngóng đến hết hạn cải tạo để về với gia đình Chương Vĩnh Lân thì lại khác, cuộc sống đói khổ là thế, nhọc nhằn là thế nhưng anh vẫn phải bám trụ nơi đây, vì anh đâu còn nhà để mà

Trang 38

về Gia đình anh đã nát tan vì bom đạn của người Nhật Một gia đình quan lại kiêm tư sản bự đã bị sụp đổ, Lân chỉ còn một bà mẹ ở Bắc Kinh, sống nhờ một người họ hàng Chính vì vậy, trong cái thế giới tự do này, Lân dường như vẫn phải bám chặt vào nó, gắn bó với nó, không thể rời đi được

Đó là sự kìm kẹp về thể xác

Kìm kẹp về thể xác trong bốn năm lao cải cũng khiến Chương Vĩnh Lân ban đầu thấy bỡ ngỡ với cuộc sống tự do đầy mới lạ nơi nông trường hoàng thổ này Trước sự im lặng của anh xà ích Hỉ, Lân cũng thấy bồn

chồn không yên: “Tôi lặng lẽ quan sát anh ta, phân tích nguyên nhân vì sao, mình phấp phỏng không yên Cuối cùng, mới vỡ lẽ là do tôi đã quen bị quản thúc, bị chửi bới… trong tiềm thức, tình trạng không có đe nẹt, chửi bới thì tôi chưa quen”[33, 23] Và khi thể xác đã được tự do, Lân lại trăn

trở, suy tư về cuộc sống trước mắt sẽ ra sao, mình sẽ sống như thế nào? Anh lại thấy bản thân mình bế tắc, không lối thoát khi không tìm ra câu trả lời cho tương lai Với những người trí thức ích kỷ, nhỏ nhen thì cuộc sống trước mắt thật đen tối và vô nghĩa biết bao

Chương Vĩnh Lân đã thực sự tìm ra được ý nghĩa của cuộc sống này, cũng như giải thoát được bản thân khỏi sự kìm kẹp của tâm hồn khi tiếp xúc với những người lao động nơi đây

2.1.1.2 Trong quan hệ với người lao động

2.1.1.2.1 Triết lý về sự sống và cái chết

Khác với sự ích kỉ và lạnh lùng của những người trí thức, những người lao động mộc mạc như đội trưởng Tạ, anh Hỉ và Mã Anh Hoa đã cho Lân cảm nhận được một cuộc sống mới đầy tươi đẹp và tình người ấm áp

từ họ Nhưng tâm trạng của Lân vẫn có sự giằng xé giữa hạnh phúc và sự

hổ thẹn không nguôi trước tấm lòng chân thành của họ Tuy nhiên, chính những con người ấy đã giúp Lân nhìn thấy ý nghĩa mới của cuộc sống

Trang 39

Lần đầu tiên tiếp xúc với anh Hỉ, cái bản chất mộc mạc, chất phác cùng tiếng hát vút cao của anh đã khiến Lân thực sự xúc động Tiếng hát mang đặc trưng của vùng cao nguyên hoàng thổ:

“Ơi! Con thiêu thân đã lên trời… ời!

Con ễnh ương chằn xuống đất

Nhớ anh đầu nửa đêm không ngủ

Nhớ anh cuối nửa đêm thức hoài…!”[33, 25]

Tiếng hát như có một sức mạnh vô hình thấm dần vào trong huyết quản của Lân, khiến anh cảm thấy yêu tha thiết cuộc sống hiện tại và mảnh đất này hơn bao giờ hết Bao nhiêu tình cảm tốt đẹp đều sống dậy trong Lân qua lời ca:

“Lúc này đây, tôi cảm thấy đồng ruộng, đất đai, nắng gió, những đám mây do gió đem tới, bầu trời và những con chim ưng này… như vui sướng, sống động qua lời ca mơn trớn, có sức quyến rũ đến mê mẩn Vùng đất này bỗng trở nên đẹp đẽ, khiến tâm hồn tôi tràn ngập tình cảm êm dịu”[33; 25,26]

Lời ca như đã thổi sạch lớp bụi bẩn trong tâm hồn Lân qua những năm tháng ở đội lao động cải tạo, giờ đây chỉ còn tình yêu cuộc sống tha

thiết, tình cảm gắn bó với mảnh đất lao động thân thương này: “Tôi cảm thấy giai điệu mang đậm màu sắc địa phương trong bài hát của anh Hỉ đã truyền cho tôi cái tinh thần hăm hở của những người khai hoang Bắc Mỹ

mà Nêruđa ca ngợi Lời ca ấy, những con chim ưng ấy, đồng ruộng thê lương hút tầm mắt ấy, những dãy núi nối tiếp nhau liên miên bất tận chính

là làn điệu của bài dân ca… Tất cả sống dậy trong tôi Trong khoảnh khắc, tôi thấy mình đã trở nên đẹp đẽ và tràn trề sức sống”[33; 55,56]

Với tình yêu tha thiết cuộc sống, Lân nhìn cuộc đời, cảnh vật cũng trở nên tươi đẹp hơn, sống động hơn rất nhiều Cao nguyên hoàng thổ hiện

Trang 40

lên trong mắt Lân đẹp như một bức tranh Không còn “lòng mương cạn khô

về mùa lạnh”, không còn những đám “cỏ khô vàng úa” nữa mà thay vào đó

là một “Cao nguyên hoàng thổ mênh mông màu vàng chanh Thôn xóm rất

ít cây cối, vài cây bạch dương đã trụi lá nhô lên bầu trời như khảm bạc”[33, 55] Cao nguyên đó cũng như được thay một lớp áo mới, cũng

như được thổi một sự sống bất diệt Tất cả đều toát lên một vẻ đẹp đến mê

mẩn: “Tuyết trên cao nguyên hoàng thổ đẹp đến mê mẩn So với tuyết ở phương Nam, nó cao quý hơn, thư thái hơn, rộng lớn hơn và hùng tráng hơn Tuyết phương Nam làm cho người ta cảm thấy mùa đông đã ở trước mặt, còn tuyết phương Bắc gợi cho con người nghĩ tới mùa xuân Tuyết mới đúng là hoa xuân thực sự của cao nguyên hoàng thổ”[33, 120] Sức sống

của thiên nhiên ấy dường như đã được truyền sang từ sức sống mãnh liệt của con người Mà cụ thể đó là sức sống đang trào dâng trong từng huyết quản của Chương Vĩnh Lân

Tiếp xúc với những người lao động chất phác, còn giúp Lân cảm nhận được cái giá trị của lao động Từ đó càng khiến anh thêm yêu cuộc sống này hơn, muốn gắn bó với nó hơn Lân đã được Mã Anh Hoa tin tưởng, giao cho nhiệm vụ đắp lại chiếc lò một cách khoa học Đó là niềm tin của một người lao động chất phác đối với một trí thức có cái “đầu hóa học” Bảo nhiêu tâm huyết dồn vào niềm tin ấy đã khiến Lân hoàn thành công việc ngoài sức mong đợi, dưới sự cảm phục của cả anh Hỉ và Hoa Ngồi “thưởng thức” thành quả lao động của mình cũng là lần đầu tiên Lân

cảm thấy “sự tôn trọng của con người đối với người lao động Cái cảm giác ấy đã xua tan nỗi tủi nhục của tôi ngày hôm qua… Ở cái nơi khỉ ho cò gáy này, ở cái nơi mà có lẽ tôi phải ở lại suốt đời này, chỉ có thành quả lao động chân tay mới là thước đo giá trị của con người”[33, 115] Và thẳm

sâu trong tâm hồn Lân, đã trỗi dậy một sự sống thật tươi mới và gần

Ngày đăng: 31/03/2015, 15:26

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Vương Văn Anh chủ biên (2005), Văn học hiện đại Trung Quốc nhìn từ Thượng Hải, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học hiện đại Trung Quốc nhìn từ Thượng Hải
Tác giả: Vương Văn Anh chủ biên
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2005
2. Lại Nguyên Ân (2003), 150 thuật ngữ văn học, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2003
3. M. Bakhtin (1985), Những vấn đề thi pháp Đôxtôiepxki, Trần Đình Sử, Lại Nguyên Ân, Vương Trí Nhàn (dịch), Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề thi pháp Đôxtôiepxki
Tác giả: M. Bakhtin
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1985
4. M. Bakhtin (2003), Lý luận và thi pháp tiểu thuyết, Phạm Vĩnh Cư tuyển chọn, dịch, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận và thi pháp tiểu thuyết
Tác giả: M. Bakhtin
Nhà XB: Nxb Hội Nhà văn
Năm: 2003
5. Đặng Anh Đào (2001), Đổi mới tiểu thuyết phương Tây hiện đại, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới tiểu thuyết phương Tây hiện đại
Tác giả: Đặng Anh Đào
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2001
6. Phan Cự Đệ (2004), Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại
Tác giả: Phan Cự Đệ
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2004
7. Hà Minh Đức (chủ biên), (2010), Lí luận văn học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận văn học
Tác giả: Hà Minh Đức (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2010
8. Lê Bá Hán… (2011), Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Tác giả: Lê Bá Hán
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2011
9. Đào Duy Hiệp (2008), Phê bình văn học từ lí thuyết hiện đại, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phê bình văn học từ lí thuyết hiện đại
Tác giả: Đào Duy Hiệp
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2008
10. Hồ Sĩ Hiệp (biên soạn), 2003, Một số vấn đề văn học Trung Quốc thời kỳ cải cách mở cửa, Nxb Đại học quốc gia TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề văn học Trung Quốc thời kỳ cải cách mở cửa
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia TP. Hồ Chí Minh
11. Nguyễn Trần Huân (1954), Nhà văn Trung Hoa hiện đại, Nxb Vỡ Đất, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà văn Trung Hoa hiện đại
Tác giả: Nguyễn Trần Huân
Nhà XB: Nxb Vỡ Đất
Năm: 1954
12. Phương Lựu…(1998), Lí luận văn học (tập 3), Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận văn học (tập 3)
Tác giả: Phương Lựu
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998
13. Phương Lựu (1995), Tìm hiểu lí luận văn học phương Tây hiện đại, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu lí luận văn học phương Tây hiện đại
Tác giả: Phương Lựu
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1995
14. Nguyễn Đăng Mạnh (1979), Nhà văn tư tưởng và phong cách, Nxb Tác phẩm mới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà văn tư tưởng và phong cách
Tác giả: Nguyễn Đăng Mạnh
Nhà XB: Nxb Tác phẩm mới
Năm: 1979
15. Hồ Á Mẫn (2011), Giáo trình văn học so sánh, Lê Huy Tiêu (dịch), Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình văn học so sánh
Tác giả: Hồ Á Mẫn
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2011
16. Hoàng Phê (chủ biên) (1998), Từ điển tiếng việt, Nxb Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tiếng việt
Tác giả: Hoàng Phê (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1998
17. G.N. Pospevlov (chủ biên), 1985, Dẫn luận nghiên cứu văn học, Trần Đình Sử, Lại Nguyên Ân, Lê Ngọc Trà (dịch), Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dẫn luận nghiên cứu văn học
Tác giả: G.N. Pospevlov, Trần Đình Sử, Lại Nguyên Ân, Lê Ngọc Trà
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1985
18. Trần Minh Sơn (giới thiệu, tuyển chọn và dịch), 2004, Phê bình văn học Trung Quốc đương đại, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phê bình văn học Trung Quốc đương đại
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
19. Trần Đình Sử (2004), Tự sự học, một số vấn đề lí luận và lịch sử, Nxb Đại học sư phạm Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tự sự học, một số vấn đề lí luận và lịch sử
Tác giả: Trần Đình Sử
Nhà XB: Nxb Đại học sư phạm Hà Nội
Năm: 2004
20. Trần Đình Sử (1998), Giáo trình dẫn luận thi pháp học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình dẫn luận thi pháp học
Tác giả: Trần Đình Sử
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w