Phác hoạ quá trình giao lưu và tiếp biến văn hoá Tày – Việt trong lịch sử 28 1.3.Vai trò của truyện kể dân gian trong văn hóa tộc người 39 1.4.Tiếp cận truyện kể dân gian Tày, Việt theo
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Hà Thị Thu Hương
MỐI QUAN HỆ VĂN HÓA TÀY – VIỆT DƯỚI GÓC ĐỘ THẨM MỸ
QUA MỘT SỐ KIỂU TRUYỆN KỂ DÂN GIAN CƠ BẢN
LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HỌC
HÀ NỘI - 2007
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Hà Thị Thu Hương
MỐI QUAN HỆ VĂN HÓA TÀY – VIỆT DƯỚI GÓC ĐỘ THẨM MỸ
QUA MỘT SỐ KIỂU TRUYỆN KỂ DÂN GIAN CƠ BẢN
Chuyên ngành: Văn học dân gian
Mã số: 62.22.36.01
LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
1 PGS TS VŨ ANH TUẤN
2 GS TS KIỀU THU HOẠCH
HÀ NỘI - 2007
Trang 3MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU QUAN HỆ VĂN HÓA TÀY - VIỆT QUA TRUYỆN KỂ DÂN GIAN 1.1 Tổng quan về lý thuyết văn hoá tộc người 22
1.2 Phác hoạ quá trình giao lưu và tiếp biến văn hoá Tày – Việt trong lịch sử 28
1.3.Vai trò của truyện kể dân gian trong văn hóa tộc người 39
1.4.Tiếp cận truyện kể dân gian Tày, Việt theo tinh thần folklore học 45
Tiểu kết chương 1 54
CHƯƠNG 2: MỐI QUAN HỆ VĂN HOÁ TÀY – VIỆT QUA KHẢO SÁT SO SÁNH KIỂU TRUYỆN NGƯỜI ANH HÙNG KIẾN TẠO THẾ GIỚI, KIẾN TẠO VŨ TRỤ 2.1.Tiếp cận hình thức cấu tạo cốt truyện 55
2.2 Tiếp cận theo motif 80
Tiểu kết chương 2 96
CHƯƠNG 3: MỐI QUAN HỆ VĂN HOÁ TÀY- VIỆT QUA KHẢO SÁT SO SÁNH KIỂU TRUYỆN NGƯỜI ANH HÙNG VĂN HOÁ 3.1 Nhân vật anh hùng văn hoá, sự tiếp nối có cơ sở lịch sử 98
3.2 Các dạng thức của nhân vật anh hùng văn hoá 99
Trang 43.3.Sự tương đồng và khác biệt trong cấu tạo cốt truyện và trong việc tái tạo motif
đặc trưng của kiểu truyện nhân vật anh hùng văn hoá Tày – Việt 102
3.4 Những nhân vật anh hùng văn hoá tiêu biểu mang dấu ấn văn hoá tộc người Tày và Việt, từ góc nhìn mối quan hệ văn hoá tộc người
130 Tiểu kết chương 3 153
CHƯƠNG 4: MỐI QUAN HỆ VĂN HOÁ TÀY – VIỆT QUA KHẢO SÁT SO SÁNH KIỂU TRUYỆN NGƯỜI ANH HÙNG CHIẾN TRẬN CHỐNG GIẶC NGOẠI XÂM 4.1 Sự vận động mang tính quy luật tạo thành kiểu truyện 154
4.2 Kết cấu của kiểu truyện người anh hùng chiến trận trong truyện kể dân gian TàyViệt 158
4.3.Những motif đặc trưng của kiểu truyện 178
Tiểu kết chương 4 192
KẾT LUẬN 195
DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 201
TÀI LIỆU THAM KHẢO 202
PHỤ LỤC
PHỤ LỤC 1: DANH MỤC CÁC TẬP TRUYỆN DÂN GIAN CHÍNH ĐƯỢC KHẢO SÁT 226
DANH MỤC CÁC TRUYỆN ĐƯỢC DÙNG ĐỂ KHẢO SÁT 227
PHỤ LỤC 2: ẢNH VÀ BẢN ĐỒ 298
Trang 51
MỞ ĐẦU
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
1.1 Giá trị thời sự của đề tài:
1.1.1 Cuộc sống hiện đại trong sự hội nhập quốc tế đang diễn ra mạnh như
vũ bão đã làm cho nhu cầu nhận thức sâu sắc vấn đề bảo tồn, phát huy bản sắc văn hoá dân tộc và văn hoá tộc người trở nên cấp bách hơn bao giờ hết Coi trọng văn hoá truyền thống chính là coi trọng nền tảng sức mạnh tinh thần của dân tộc Nghị quyết Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ V khoá VIII đã nêu rõ: "Di sản văn hoá là tài sản vô giá, gắn kết cộng đồng dân tộc, là cốt lõi của bản sắc dân tộc, cơ sở để sáng tạo những giá trị mới và giao lưu văn hoá Cần phải hết sức coi trọng, bảo tồn,
phát huy những giá trị văn hoá truyền thống" [13, tr.63] Xu thế trở về cội nguồn để
khẳng định những giá trị văn hoá truyền thống là hướng đi mang tính tất yếu của thời đại
1.1.2 Trong bối cảnh toàn cầu hoá của thời đại mới, việc khẳng định giá trị văn hoá truyền thống từ nhiều hướng tiếp cận khác nhau vừa là yêu cầu và vừa là thách thức đối với nhiều nhà nghiên cứu Nhà thơ Cù Huy Cận đã khẳng định trong buổi toạ đàm về tuyên ngôn toàn cầu hoá về đa dạng văn hoá của Unesco vào ngày 23/8/2002: "Việc bảo tồn những giá trị văn hoá truyền thống hiện nay là một vấn đề cực kỳ quan trọng trước nguy cơ đồng dạng văn hoá, áp đặt các nền văn hoá của các nước phát triển với những quốc gia nhỏ bé Điều này sẽ làm cho bản sắc văn hoá bị biến dạng và mất đi nét đặc trưng của nó…"[161] Một trong những vấn đề mang tính thời sự của nhiều quốc gia trên thế giới hiện nay là ủng hộ đa dạng văn hoá và chống lại nguy cơ đồng dạng văn hoá Muốn làm được điều đó, trước tiên mỗi dân tộc phải tự khẳng định được bản sắc văn hoá đặc thù của chính dân tộc mình trên con đường tiếp xúc hội nhập Với cái nhìn tổng thể, văn hoá được hiểu là một phạm trù rất năng động với đủ các khía cạnh về tinh thần, vật chất, tri thức, tình cảm… Với cách hiểu đó, văn hoá đã khắc hoạ nên sắc thái diện mạo của mỗi vùng, miền, mỗi quốc gia dân tộc Đúng như nhận định của Trần Quốc Vượng, "Việt Nam là
Trang 62
một quốc gia nhưng là một quốc gia đa tộc… song nền văn hoá Việt Nam lại rất đa dạng, theo thời gian diễn triển, theo không gian gia đình - làng xã, vùng miền - tộc người… theo các mối giao lưu rồi giao thoa, hỗn chủng, đan xen, hỗn dung, tiếp xúc biến đổi, biến dạng nhưng cuối cùng vẫn hội tụ - kết tinh và định hình một nền
văn hoá Việt Nam" [305, tr.199] Như vậy, hướng nghiên cứu mối quan hệ văn hoá
tộc người trong cộng đồng Việt Nam thống nhất cần được sự quan tâm đặc biệt của nhiều ngành nghiên cứu
1.1.3 Nói như Tô Ngọc Thanh, nền văn hoá Việt Nam “là nền văn hoá kết tinh những giá trị văn hoá các tộc người, đồng thời lại là cơ sở cho quá trình giao lưu giữa các nền văn hoá tộc người để trở nên mạnh hơn, rộng hơn, nhanh hơn khiến cho văn hoá mỗi tộc người giàu có hơn và phát triển nhanh hơn" [196, tr.37] Nghiên cứu quan hệ văn hoá giữa tộc người chủ thể Kinh (Việt) với các tộc người khác sẽ làm sáng tỏ quy luật phát triển theo hướng trao đổi, tiếp thu văn hoá bằng hoà hợp dân tộc để xây dựng nền văn hoá thống nhất nhưng lại mang phong cách độc đáo của mỗi tộc người Cái độc đáo trong văn hoá của từng tộc người đã góp phần tạo nên diện mạo chung của văn hoá Việt Nam, có những yếu tố riêng mang tính đặc thù bên cạnh những yếu tố chung mang tính phổ quát
Trong đại gia đình các tộc người Việt Nam, tộc người Tày là tộc người có số dân đông thứ hai sau người Kinh (Việt), có quan hệ gắn bó với người Kinh theo suốt chiều dài của lịch sử từ thời mở nước đến tận ngày nay Mối quan hệ văn hoá Tày - Việt là mối quan hệ đặc biệt, cần phải được bảo lưu và phát triển
1.2 Giá trị lý luận của đề tài:
1.2.1 Kho tàng văn học dân gian cổ truyền, nhất là kho tàng truyện kể dân gian của các tộc người Việt Nam chứa đựng những giá trị văn hoá truyền thống vô giá đã được truyền giao qua nhiều thời đại Qua truyện kể dân gian chúng ta có thể nhận diện được nguồn gốc các loại hình văn hoá với đặc trưng vùng, địa phương rõ nét cùng với phong tục tập quán, tôn giáo của một tộc người hay của cả một dân tộc Vì thế, khai thác, giải mã truyện kể dân gian để tìm ra những giá trị văn hoá truyền thống tiềm ẩn qua nhiều lớp nghĩa là lý do mang tính học thuật đầu tiên
Trang 73
1.2.2 Văn học dân gian với ưu thế về chất liệu ngôn từ trong sự phản ánh thực tại là sự tích hợp những giá trị ưu tú nhất của văn hoá dân gian và tiềm ẩn nhiều mạch nguồn văn hoá, tư tưởng của dân tộc Văn học dân gian mang sức nặng của cả một gia tài văn hoá được trải nghiệm qua không gian và thời gian, được bảo lưu và trao truyền từ thế hệ này đến thế hệ khác Tìm hiểu, phân tích những giá trị của các tác phẩm văn học dân gian có nghĩa là góp phần nghiên cứu, bảo tồn và phát huy văn hoá dân tộc
1.2.3 Văn hoá - văn học dân gian của tộc người Tày và Kinh (Việt) là một
bộ phận không thể tách rời trong kho tàng văn hoá - văn học dân gian Việt Nam Để hiểu sâu sắc hơn nền văn hoá Việt Nam, thì việc khám phá những giá trị thẩm mỹ
và giá trị tư tưởng của kho tàng văn hoá - văn học dân gian của người Tày cũng như người Việt qua sự tiếp xúc ngôn ngữ, giao thoa, tiếp biến, dung hợp văn hoá theo cả hai chiều Tày - Việt và Việt - Tày là hướng nghiên cứu có ý nghĩa nhiều mặt, cả về
lý luận lẫn thực tiễn trong việc sưu tầm, nghiên cứu, giảng dạy văn học dân gian nói chung và truyện kể dân gian nói riêng Sự phát triển không ngừng của học thuật và
sự mở rộng hướng tiếp cận nhiều chiều trong nghiên cứu đã giúp các nhà nghiên cứu văn hoá - văn học dân gian Việt Nam từng bước có được nhận thức chính xác
về mối quan hệ chặt chẽ giữa văn học dân gian với văn hoá dân gian
Đề tài đã được lựa chọn "Mối quan hệ văn hoá Tày – Việt dưới góc độ
thẩm mỹ qua một số kiểu truyện kể dân gian cơ bản" có cơ sở lý luận và thực
tiễn nằm ngay trong bản chất đặc trưng của văn học dân gian: đặc trưng văn học và đặc trưng văn hoá Hệ thống luận điểm của đề tài sẽ được giải quyết giữa hai góc độ ngữ văn và dân tộc học, bởi lẽ văn học dân gian là một thành phần hữu cơ của văn hoá dân gian có tính nguyên hợp và tính đa chức năng Đặc biệt, đối với những di sản văn hoá dân gian đã lùi sâu vào dĩ vãng, là sản phẩm có căn rễ từ thời kỳ thị tộc,
bộ lạc như thần thoại, truyền thuyết thì tính nguyên hợp về lao động xã hội, về đối tượng phản ánh của nó rất nổi đậm Đã từng có nhiều công trình thuộc những lĩnh vực khoa học khác nhau tiếp cận nghiên cứu đó ở những góc độ khác nhau như: dưới góc độ lịch sử, dưới góc độ xã hội học , đến lượt mình, chúng tôi lựa chọn
Trang 84
cách tiếp cận dưới góc độ thẩm mỹ (chữ dùng của Đinh Gia Khánh) Nghiên cứu
mối quan hệ văn hoá dưới góc độ thẩm mỹ có nghĩa là chúng tôi phải khảo sát, kết hợp với cảm nhận, phân tích, suy luận từ những hình tượng, hình ảnh cụ thể của từng kiểu truyện, kiểu nhân vật để tìm ra quan hệ văn hoá ẩn chứa bên trong Trên
cơ sở đó, lý giải sự tương đồng và dị biệt của những motif, những kiểu truyện tiêu biểu mang tính đặc thù của văn hoá tộc người và tính phổ quát của văn hoá dân tộc thông qua lăng kính nghệ thuật thẩm mỹ dân gian
Sự giới hạn “qua một số kiểu truyện kể dân gian cơ bản” cũng có lý do nằm
ngay trong thuộc tính của các kiểu truyện được chọn lựa Đó là hầu hết các kiểu truyện được sử dụng làm đối tượng khảo sát đều nằm trong thể loại thần thoại, truyền thuyết hoặc thần thoại đã chuyển hoá thành truyền thuyết Vấn đề cơ bản là thể loại truyền thuyết trong văn học dân gian Tày, Việt có đặc điểm trội là chuyển hoá rất nhanh từ thần thoại theo cả ba phẩm chất anh hùng hoá, lịch sử hoá, dân tộc hoá, có khả năng tích hợp đặc biệt phong phú, tiêu biểu và độc đáo các giá trị văn hoá Tày cũng như Việt, đồng thời biểu hiện rất đậm nét mối quan hệ văn hoá Tày – Việt Thần thoại và truyền thuyết Tày, Việt đã bám sát và phản ánh những vấn đề quan trọng của lịch sử trong quá trình hình thành hai tộc người Ở đó, từ ngôn ngữ đến văn hoá cổ truyền nói chung và ý thức tự giác của mỗi tộc người nói riêng đều tiêu biểu hơn so với tất cả các thể loại khác Chẳng hạn có ít nhiều trong cổ tích và rất mờ nhạt trong truyện cười, truyện ngụ ngôn dân gian Với cổ tích, do khuôn khổ luận án, chúng tôi xin được tiếp tục trong một công trình mới Ở đề tài luận án này,
xin được hiểu “cơ bản” đồng thời cũng có nghĩa là “ tiêu biểu”
2 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ:
2.1.Vấn đề nghiên cứu so sánh văn hóa các dân tộc ở Việt Nam và nghiên cứu so sánh văn hoá Tày- Việt:
2.1.1 Đặt văn hóa các tộc người trong bối cảnh Đông Nam Á:
Sự cần thiết của việc nghiên cứu so sánh văn hóa của các tộc người trên lãnh thổ Việt Nam, nhất là giữa văn hóa của người Kinh (Việt) và văn hóa các tộc người khác đã từ lâu được giới nghiên cứu văn hóa Việt Nam đề cập đến Theo nhiều nhà
Trang 95
nghiên cứu văn hóa Việt Nam, nghiên cứu so sánh văn hóa người Kinh với văn hóa các tộc người khác cư trú trên lãnh thổ Việt Nam thực chất là đặt văn hóa Việt Nam vào bối cảnh Đông Nam Á để phân tích, nhận diện Có đặt văn hóa Việt Nam vào bối cảnh Đông Nam Á mới hiểu hết bản chất, đặc sắc của nền văn hóa này Nghĩa
là, việc nghiên cứu so sánh nói trên là con đường tất yếu để nhận diện bản sắc văn hóa Việt Nam
Thực ra đã có nhiều nhà nghiên cứu bàn về “bối cảnh Đông Nam Á” của
văn hóa Việt Nam, trong đó có các học giả Hà Văn Tấn, Trần Quốc Vượng, Phạm Đức Dương, Cao Xuân Phổ Chẳng hạn Trần Quốc Vượng cho biết từ năm 1972, tại Hội nghị Đông Nam Á học Việt Nam lần thứ nhất, ông cùng Cao Xuân Phổ đã
đọc tham luận Việt Nam trong bối cảnh Đông Nam Á, hoặc Hà Văn Tấn năm 1976
đã viết về văn hóa Hòa Bình trong bối cảnh Việt Nam [305, tr.18] Năm 1982,
Phạm Đức Dương với chuyên luận về Cội nguồn mô hình văn hoá - xã hội lúa nước
của người Việt qua cứ liệu ngôn ngữ [40, tr.180] đã nêu vấn đề tiếp cận giải mã
ngôn ngữ tiếng Việt trong bối cảnh Đông Nam Á, mà cụ thể ở đây là quan hệ giữa nhóm tộc người Việt – Mường và nhóm Tày – Thái
Ở đây, chúng tôi xin dừng lại nhiều hơn với Nguyễn Từ Chi, một trong những nhà nghiên cứu Việt Nam có ý thức rất sớm về việc cần thiết phải đặt văn hóa Việt Nam vào bối cảnh Đông Nam Á, người đã bước đầu triển khai chiến lược nghiên cứu này qua việc tìm hiểu văn hóa người Mường để từ đó, so sánh với văn
hóa người Việt (Kinh) Theo ông, giữa “bộ mặt tộc người” và “cảnh quan” (tức
môi trường tự nhiên) có mối quan hệ chặt chẽ Ông cho rằng để hình thành một bản sắc văn hóa, có nhiều nhân tố khác nhau nhưng nhân tố môi trường là quan trọng nhất: “có nguồn gốc tộc người, có sự giao lưu văn hóa, nhưng điều kiện cho một nền văn hóa ra đời - môi trường mới là cái quan trọng nhất” [28, tr.628] Khi giới nghiên cứu Việt Nam còn có những khó khăn trong việc nghiên cứu điền dã ở các nước Đông Nam Á, thì việc nghiên cứu bản thân “ba vùng môi trường lớn” của Đông Nam Á tại Việt Nam có thể khắc phục được khó khăn đó Bởi vì nếu như Đông Nam Á có ba môi trường: vùng núi, vùng đồng bằng và vùng biển thì Việt
Trang 106
Nam dẫu có nhiều dị biệt, nhưng vẫn có đủ các loại môi trường của Đông Nam Á nói trên Như vậy, một chiến lược nghiên cứu “nhìn nhận Đông Nam Á từ góc độ Việt Nam ” như lời ông nói, lại có tầm cỡ của một kế hoạch nghiên cứu lớn đòi hỏi công sức của nhiều thế hệ và có thể sẽ đưa kết quả “đặt lại vấn đề dân tộc học trên bối cảnh Đông Nam Á” [28, tr.629] Ông đã phác họa những nét đặc trưng chủ yếu của văn hóa các tộc người Việt Nam trên bốn vùng cảnh quan: vùng đồng bằng châu thổ và người Việt; vùng thung lũng chân núi với người Thái, người Mường ở Tây Bắc, người Tày Nùng ở Việt Bắc; vùng duyên hải cho biết cách ứng xử của cư dân Việt khi gặp biển; vùng hỏa canh: dọc Trường Sơn và cao nguyên Tây Nam Bộ Điều đáng chú ý là ông đã nêu lên một loạt những giả thuyết cho thấy cần suy nghĩ
về văn hóa Việt Nam trong quan hệ tương tác sống động trong lịch sử của các tộc người Chẳng hạn, ông nghĩ, “xu hướng chuyển dịch tộc người là từ phương Bắc xuống” [28, tr.633], do đó, diễn ra một “sự hòa hợp” giữa các tộc người “Chúng tôi ngờ rằng, buổi đầu, nhiều tộc người ở gò cao bị sức ép từ phương Bắc đã cùng nhau tràn xuống chiếm lĩnh toàn bộ đồng bằng sông Hồng Khi đã chiếm đóng đồng bằng, các tộc người bắt đầu hòa hợp ( ) Lúa nước (Thái) – giao lưu văn hóa- sức
ép của người Hán, tất cả làm cho các tộc người khác nhau hòa hợp lại, người Việt được hình thành như vậy Có thực thế hay không?” Ông dẫn luận điểm của Gorman cho rằng cây lúa không phải được thuần dưỡng từ vùng trũng mà là ở chân núi, như
ở vùng của các cư dân Tày, Thái, Nùng ở Việt Nam Ông lưu ý dấu ấn của người Thái trong văn hóa nông nghiệp của người Việt “nông nghiệp cổ truyền ở đồng bằng Bắc Bộ lại là nông nghiệp kiểu Thái” [28, tr.634] Hệ thống thủy lợi ở đồng bằng Bắc Bộ là áp dụng “hệ thống thủy lợi Thái, Mường, Kinh” Các luận điểm này như là những quan sát ban đầu, có luận điểm cần được nghiên cứu kỹ hơn nhưng có thể nói hướng đi như vậy là hết sức thú vị và mở ra những suy nghĩ về văn hóa Việt Nam trên bối cảnh rộng, giao lưu giữa các tộc người trên lãnh thổ Việt Nam Cách nhìn mang tính hệ thống này cho phép hình dung văn hóa Việt Nam một cách sống động, cho thấy các tộc người có văn hóa mang bản sắc riêng đồng thời lại giao lưu, tiếp biến, làm giàu cho văn hóa của cả cộng đồng dân tộc mà người Việt là chủ thể
Trang 112.1.2 Lịch sử nghiên cứu văn hoá tộc người và quan hệ văn hoá Tày – Việt:
Văn hoá và văn hoá tộc người cùng với mối quan hệ văn hoá giữa các tộc người là một vấn đề rộng lớn thuộc phạm trù nghiên cứu của nhiều ngành khoa học,
có thể được tiếp cận dưới nhiều góc độ chuyên môn khác nhau Trong bài viết về
Văn hoá tộc người - những bình diện nghiên cứu [96], chúng tôi đã khảo sát một số
công trình nghiên cứu văn hoá tộc người tiêu biểu của Đặng Nghiêm Vạn, Phan Hữu Dật, Ngô Đức Thịnh, Trần Quốc Vượng, Nguyễn Đăng Duy, Hoàng Nam, Nông Quốc Chấn, Nguyễn Chí Huyên… Chúng tôi cũng đã tham khảo các công trình có tính chuyên ngành về một vùng văn hoá hoặc một nhóm ngôn ngữ tộc
người để tiếp cận văn hoá của tộc người Tày trong: Một số vấn đề lịch sử văn hoá
các dân tộc ở Việt Bắc [186]; Văn hoá dân gian Cao Bằng[194], Các dân tộc Tày – Nùng ở Việt Nam[193], Giữ gìn, phát huy di sản các dân tộc Tây Bắc [202], Văn hoá dân gian Tày [129], Văn hoá và lịch sử các dân tộc trong nhóm ngôn ngữ Thái Việt Nam [206], Mấy vấn đề văn hoá và văn học dân gian Việt Nam [32], Đóng góp của các dân tộc nhóm ngữ Tày – Thái trong tiến trình lịch sử Việt Nam [207]…
Trong đó, theo chúng tôi, Văn hoá dân gian Tày [129] là công trình có giá trị
tổng kết theo hướng nghiên cứu truyền thống văn hoá Tày dưới góc độ lịch sử để khẳng định "Tiến trình văn hoá Tày phát triển theo quy luật ngày càng hoà nhập văn
Trang 128
hoá khu vực, đồng thời giữ vững bản sắc…" [129, tr.259] Công trình này đã cho
chúng tôi một cách nhìn khá toàn diện về văn hoá tộc người Tày
Tuy nhiên, các công trình đã lược điểm ở trên mới chỉ dừng lại ở việc khảo tả những đặc trưng văn hoá tộc người hoặc phác hoạ diện mạo văn hoá của từng tộc người Hầu như, mối quan hệ giữa tộc chủ thể – tộc người Kinh (Việt) với một tộc người khác trong khối cộng đồng theo quan hệ giao lưu, tiếp biến về văn hoá mới chỉ được điểm thoáng qua chứ chưa được khảo sát một cách cụ thể Đấy là một hướng mở còn chờ sự khai thác của các nhà nghiên cứu
Theo sự khảo sát của Phan Hữu Dật, việc nghiên cứu văn hoá truyền thống
đã sớm được tìm thấy trong tài liệu dân tộc học sớm nhất ở Việt Nam do chính
người Việt Nam ghi chép còn lưu lại cho đến nay là tác phẩm Dư địa chí của
Nguyễn Trãi (thế kỷ XV) trong đó đã đề cập đến sự phân bố dân cư và văn hoá tập quán của người Việt Còn văn hoá dân tộc thiểu số Việt Nam trong đó có văn hoá
của người Thổ (Tày), Thái, Nùng, Dao, Mèo (Mông) đã được mô tả lần đầu trong
Kiến văn tiểu lục của nhà bác học Lê Quí Đôn thế kỷ XVIII [29, tr.63 – 64] Như
vậy có hai hướng nghiên cứu cụ thể đã từng tồn tại: đó là hướng nghiên cứu lịch sử văn hoá của người Việt nói chung và lịch sử văn hoá của các tộc người khác trong
đó có tộc người Tày nói riêng Hàng loạt công trình của các nhà dân tộc học người Pháp và người Việt ngay từ những năm đầu thế kỷ XX đã cung cấp một bức tranh
đa dạng về văn hoá các tộc người trên lãnh thổ Việt Nam Các tác giả người Pháp như A Bonifacy, E Dignet đã viết về tộc người Tày, Nùng ở dạng miêu tả sinh hoạt và phong tục tập quán, có ý nghĩa bước đầu trong việc tìm hiểu những giá trị văn hoá vật chất và văn hoá tinh thần của tộc người Tày ở Việt Nam Các tác giả Việt Nam thời kỳ trước Cách mạng Tháng Tám đã nghiên cứu về văn hoá, văn minh Việt Nam có Phan Kế Bính, Nguyễn Văn Huyên, Đào Duy Anh…
Học giả Nguyễn Văn Huyên song song với việc nghiên cứu văn hóa người Việt cũng đã tiến hành nghiên cứu văn hóa, văn học dân gian Tày với cảm hứng so sánh, nhìn văn hóa Tày trong bối cảnh Đông Nam Á rõ rệt Trong gần mười năm từ
1936 - 1945, Nguyễn Văn Huyên đã xuất bản gần 50 công trình về các lĩnh vực sử
Trang 139
học, dân tộc học và văn học dân gian…chủ yếu là nghiên cứu văn hoá văn minh Việt Nam Ông đã "đặt nền móng cho nhiều định hướng cho khoa học xã hội mà cho đến nay vẫn còn nguyên giá trị" [101, tr.7] Riêng trong lĩnh vực nghiên cứu về dân tộc Tày - văn hoá - văn học dân gian Tày, ông đã có những đóng góp vô cùng quan trọng mở ra một định hướng nghiên cứu trên tổng thể văn hoá học từ văn hoá vật chất đến văn hoá tinh thần Các vấn đề thuộc về văn hoá xã hội của người Tày như nhà cửa, ăn mặc, lối sống đến tín ngưỡng, thờ cúng, nhất là việc nghiên cứu ngữ - văn học Tày (ngôn ngữ, thi ca…) đã được ông khảo tả Ông đã tiến hành nghiên cứu điền dã dân tộc học ở vùng Lạng Sơn - Cao Bằng, nơi cư trú chủ yếu của tộc người Tày Việt Nam Từ nghiên cứu thực địa đó, Nguyễn Văn Huyên đã thu thập được những tài liệu về lịch sử và nền văn minh [101, tr.783] của một vùng văn hoá tộc người nói riêng, phục vụ cho mục đích tìm hiểu giá trị văn hoá của cả dân tộc nói chung Ông là người đã rất sớm quan sát thấy mối quan hệ giữa người Tày với người Việt, và người Tày với các tộc người khác thông qua giao tiếp ngôn ngữ, thông qua hiện tượng song ngữ sống động của người Tày khi họ sử dụng cả hai thứ tiếng: tiếng mẹ đẻ và tiếng Việt [101, tr.781]
Quan hệ văn hoá Tày - Việt thời kỳ đầu cách mạng thực sự chưa được khảo sát sâu và vẫn còn là một khoảng trống lớn, nhưng dần dần qua từng giai đoạn từ cách mạng tháng Tám 1945 đến nay vấn đề đã được mở rộng trong quá trình nghiên cứu thông qua các cuộc hội thảo khoa học và các bài chuyên luận Tại Hội thảo khoa học về lịch sử văn hoá các dân tộc ở Việt Nam do Bảo tàng Việt Bắc tổ chức vào ngày 19 và 20/10/1981 tại Thành phố Thái Nguyên, tác giả Phạm Văn Thành đã
đi tìm những căn cứ khoa học cho mối quan hệ văn hoá Tày - Việt tuy mới chỉ là
Vài nét về mối quan hệ giao lưu văn hoá giữa người Tày và người Việt trong lịch sử
[252, tr.189 -195] Những luận điểm có tính đột phá của tác giả thực sự có ý nghĩa cho nghiên cứu của chúng tôi
Năm 1993, tại Hội thảo khoa học về việc tìm hiểu tiềm năng sưu tầm, khai thác nghiên cứu giá trị nền văn hoá dân gian của các dân tộc thiểu số ở Cao Bằng,
Trần Quốc Vượng đã có bài tham luận với nhan đề Cao Bằng dưới cái nhìn dân
Trang 1410
gian về sự giao thoa văn hoá Tày – Việt [304] Ngoài việc lý giải một cách thuyết
phục hiện tượng giao thoa văn hoá Tày - Việt bằng nhiều cứ liệu xã hội và văn hoá dân gian ở Cao Bằng, ông còn chứng minh Cao Bằng là mảnh đất điển hình của sự giao thoa văn hoá giữa các tộc người Những luận điểm rõ ràng và khá cô đọng của ông với nhiều cứ liệu đáng tin cậy cũng đã củng cố cho sự lựa chọn đề tài của chúng tôi
Việc nghiên cứu so sánh văn hoá Tày – Việt trong thời gian gần đây đã có những bước tiến theo hướng chuyên sâu hơn Năm 2003, Đặng Thanh Phương đã
hoàn thành luận án tiến sĩ lịch sử chuyên ngành dân tộc học về đề tài Tiếp xúc ngôn
ngữ Tày - Việt (Kinh) ở vùng Đông Bắc Việt Nam [219] Đây là một trong những đề
tài góp phần khẳng định vấn đề tiếp biến văn hóa và ngôn ngữ trong mối quan hệ văn hoá Tày – Việt, một hướng nghiên cứu đang được quan tâm hiện nay của nhiều ngành khoa học Tác giả của luận án đã xem xét về mối quan hệ Tày - Việt dưới góc
độ lịch sử trên ba phương diện: “quan hệ lịch sử - văn hoá Tày – Việt; quan hệ Tày
- Việt trong công cuộc dựng nước, giữ nước và dựng nước; quan hệ Tày - Việt về
mặt lịch sử ngôn ngữ” [219, tr 46 – 60] Tác giả đã đi đến kết luận: trong quá trình
hình thành cộng đồng Việt Nam trên vùng đất phía Bắc sông Hồng (quê hương của khối cư dân Phùng Nguyên - Đông Sơn) có sự tiếp xúc giữa người Tày cổ (lớp cư dân Tày - Thái cổ) với người Việt cổ (lớp cư dân Việt - Mường) Sự tiếp xúc này đã diễn ra liên tục từ thời cổ đại, qua trung đại, càng mạnh mẽ trong thời cận đại và phát triển ở đỉnh cao trong thời hiện đại Kết quả trực tiếp của sự tiếp xúc đó đã để lại nhiều dấu vết trên các lĩnh vực văn hoá vật chất, văn hoá tinh thần, trong ngôn ngữ, trong huyết thống và trong lịch sử đấu tranh dựng nước, giữ nước và xây dựng đất nước của cả hai tộc người Tày và Việt [219, tr.60] Những vấn đề bản chất, cốt lõi trong mối quan hệ Tày - Việt đã được tác giả luận án khảo cứu ở bước ban đầu Nói cách khác, những khái quát lý thuyết của các nhà nghiên cứu đi trước đã được thế hệ nghiên cứu trẻ phát triển và kiểm định Song nhìn chung vấn đề quan hệ văn hoá Tày - Việt trong luận án của Đặng Thanh Phương chủ yếu dừng ở góc độ
Trang 1511
nghiên cứu dân tộc học và nặng về khảo tả đúng với tính chất chuyên ngành Công trình này được chúng tôi tiếp nhận như một tư liệu dân tộc học có giá trị gợi mở
2.2 Nghiên cứu so sánh văn học dân gian Tày, Việt:
2.2.1 Nguyên lý lý luận chung:
Đặt văn học dân gian các thành phần dân tộc trên lãnh thổ Việt Nam trong bối cảnh các mối quan hệ văn hóa tộc người cũng là một định hướng chiến lược của giới nghiên cứu văn hóa Việt Nam Giới nghiên cứu ngày càng thấy rõ ý nghĩa của việc nghiên cứu quan hệ lịch sử – văn hóa tộc người đối với việc nhận diện văn hóa Việt Nam nói chung Về phương diện này, Chu Xuân Diên là nhà nghiên cứu nêu vấn đề một cách hệ thống hơn cả Ông viết:
Trong quá trình gia nhập cộng đồng quốc gia dân tộc, nếu như mỗi tộc người một mặt vẫn còn giữ lại được cho mình một căn bản văn hóa mang sắc thái tộc người riêng thì mặt khác do tác động của mối quan
hệ lịch sử - tộc người, giữa các tộc người đã hình thành một căn bản văn hóa chung cho toàn thể cộng đồng quốc gia dân tộc Căn bản văn hóa chung này là sợi dây liên kết văn hóa nói chung và văn hóa dân gian nói riêng của các tộc người thành một cấu trúc văn hóa, văn học dân gian riêng của toàn thể cộng đồng quốc gia dân tộc; nó nhào nặn lại văn hóa và văn học dân gian của mỗi tộc người, khiến cho văn hóa và văn học dân gian của mỗi tộc người đều “mang dấu ấn Việt Nam”, do
đó có thể phân biệt được ngay cả với văn hóa và văn học dân gian của người đồng tộc với chính tộc người ấy ở cộng đồng chính trị- xã hội khác [32, tr.137 – 138]
Theo Chu Xuân Diên, cách tiếp cận theo hướng này có thể cho phép ta cắt nghĩa nhiều hiện tượng văn học dân gian cụ thể mà nếu không được xem xét trong bối cảnh mối quan hệ lịch sử- văn hóa tộc người thì ít có khả năng hiểu đúng [32, tr.138] Nói cách khác, nhà nghiên cứu văn học dân gian buộc phải “đặt các hiện tượng văn hóa, văn học dân gian ấy vào trong mối quan hệ lịch sử văn hóa tộc người khác nhau ở Việt Nam để xem xét”[32, tr.143] Như để minh họa cho nguyên
Trang 16và con người ở người Việt, Mường, Thái có nhiều nét tương đồng đáng để giới nghiên cứu phải quan tâm [32, tr.150]
Đồng thời, Chu Xuân Diên cũng đã chỉ ra những tiền đề cho sự hình thành tính thống nhất trong đa dạng của văn học dân gian các tộc người ở Việt Nam như: các mối quan hệ nguồn gốc lịch sử – văn hóa tộc người (các tộc người đều có chung một cơ tầng văn hóa Đông Nam Á tiền sử); quan hệ giao lưu tiếp xúc văn hóa tộc người từ thời tiền sử đến nay (các quá trình tiếp biến văn hóa diễn ra mạnh mẽ); sự hình thành và phát triển của cộng đồng quốc gia dân tộc (chi phối đến sự tương đồng về đề tài và motif chung ở văn học dân gian các tộc người) Mặt khác, Chu Xuân Diên cũng khẳng định rằng cái chung và tính thống nhất “không xóa bỏ mà được thể hiện thông qua cái riêng và tính đa dạng của văn hóa, văn học dân gian từng tộc người” [32, tr.166]
Như vậy, Chu Xuân Diên là nhà nghiên cứu chú ý hệ thống hóa về mặt lý luận từ kết quả nghiên cứu của cả giới nghiên cứu văn hóa, văn học Việt Nam nhiều thập niên qua Quả thật, những khái quát trên đây của những nhà khoa học như Nguyễn Từ Chi, Chu Xuân Diên không chỉ dựa trên kết quả nghiên cứu riêng của bản thân mà còn dựa trên nỗ lực nghiên cứu của nhiều nhà nghiên cứu văn hóa, văn học dân gian khác Tuy vậy, ông chưa có điều kiện tiến hành nghiên cứu của riêng mình về quan hệ giao lưu tiếp biến văn hóa và văn học giữa các tộc người
Trang 17văn nghệ dân gian Việt Nam đã có hai công trình mang tính tổng thuật: Năm mươi
năm, sưu tầm nghiên cứu phổ biến văn hoá - văn nghệ dân gian [198] và Một thế kỷ sưu tầm nghiên cứu văn hoá văn nghệ dân gian [201] Cả hai công trình đã chỉ rõ sự
vận động, biến đổi của các hướng tiếp cận một số thể loại văn học dân gian theo quan điểm nghiên cứu thể loại qua lịch sử phát triển của ngành Folklore học Trong
đó có hai bài nghiên cứu đáng chú ý của Nguyễn Xuân Kính [198] và Nguyễn Thị Huế [201] Đặc biệt là bài viết có tính tổng quan về quá trình sưu tầm, nghiên cứu truyện kể dân gian như một đơn vị thể loại nghiên cứu độc lập của Nguyễn Thị Huế
đã phân tích và chỉ ra bước phát triển của quá trình nghiên cứu sưu tầm truyện cổ dân gian của người Kinh (Việt) cũng như của các tộc người khác qua từng mốc thời gian quan trọng
Nhìn lại thế kỷ XX, điều dễ thấy là ngày càng có nhiều công trình nghiên cứu chuyên sâu về văn học dân gian Tày Sau Cách mạng Tháng Tám, nhất là sau khi hoà bình lập lại ở miền Bắc năm 1954, với chính sách dân tộc đúng đắn của Đảng thì văn học dân gian của các tộc người thiểu số, đặc biệt là tộc người Tày đã được chú ý khai thác Con số thống kê của Vũ Anh Tuấn cho thấy: trước Cách mạng Tháng Tám trong số 530 công trình, luận văn, bài viết nghiên cứu về văn học dân gian thì chỉ có 10 công trình về văn học cổ truyền miền núi trong đó chỉ có hai nghiên cứu về Tày Từ Cách mạng Tháng Tám đến 1976 trong số 745 bài viết, công trình nghiên cứu văn học dân gian đã có 115 bài viết về văn học dân gian miền núi, trong đó có 9 công trình lấy văn học dân gian Tày làm đối tượng chính [287, tr.473]
Trang 1814
Việc nghiên cứu văn học dân gian miền núi theo các mối quan hệ loại hình lịch sử tộc người và lấy tộc người Tày làm đối tượng, trên thực tế đã được mở đầu
bằng công trình của Vi Hồng nhà nghiên cứu người Tày, vào năm 1979 với Sli,
lượn dân ca trữ tình Tày – Nùng [74], một công trình khảo cứu loại hình trữ tình
Tiếp tục hướng đi của Vi Hồng, Vũ Anh Tuấn triển khai nghiên cứu truyện
kể dân gian Tày, tức là đi vào lĩnh vực tự sự dân gian Từ năm 1981 đến 1991, những bài báo của Vũ Anh Tuấn đã được đăng tải trên các tạp chí chuyên ngành từ
nghiên cứu đầu tiên Thử tìm hiểu nét đặc sắc về thi pháp dân gian Tày qua việc
khảo sát một số truyện cổ Tày dạng Tấm Cám [277], đến các chuyên luận Suy nghĩ
về một số biểu tượng đặc thù trong truyện cổ miền núi [278], Vấn đề nghiên cứu và giảng dạy văn học dân gian miền núi [279], Tìm hiểu một cặp mẫu kể dân gian miền núi dưới góc độ loại hình [281]…Trong đó, tác giả luôn tuân theo một cơ sở lý
luận chung dựa trên các nguyên lý nhận thức luận duy vật lịch sử về mối quan hệ lịch sử dân tộc và nghệ thuật dân gian để khẳng định một định hướng: loại hình học folklore không tách rời loại hình học lịch sử văn hoá tộc người [282, tr.7] Nhận thức này đã kế thừa và góp phần phát triển kết quả những nghiên cứu về văn học dân gian miền núi của các tác giả đi trước như Phan Đăng Nhật, Võ Quang Nhơn…
Năm 1987, Đặng Nghiêm Vạn bắt đầu công trình nghiên cứu Huyền thoại về
nạn hồng thuỷ và nguồn gốc tộc người [292, tr.795 – 849] Đây là một công trình
được tiến hành trong hàng chục năm, có giá trị đích thực, có ý nghĩa sâu sắc trong việc xác định nguồn gốc tộc người và lý giải mối quan hệ văn hoá tộc người trên cơ
sở dân tộc học và folklore Chúng tôi coi những kiến giải khoa học cùng với những chứng cứ dân tộc học của ông trong công trình này như những luận đề cần thiết cho nghiên cứu của mình
Năm 1990, lần đầu tiên phương pháp loại hình học đã được Lê Chí Quế giới thiệu và phân tích cụ thể thích ứng với đối tượng của khoa học văn học dân gian ở Việt Nam [221] Sau đó trong một bài viết khác ông đã nhấn mạnh "trong khoa học văn học dân gian ở thời đại chúng ta cần phải nghiên cứu cả quá trình lâu dài và phức tạp, tính đa dạng của các biến thể tộc người, các giai đoạn lịch sử, các vùng
Trang 1915
dân cư khác nhau" [192, tr 224] Quan diểm đó cũng chính là cơ sở cho thao tác
nghiên cứu của chúng tôi trong khi thực hiện so sánh đối chiếu để khảo sát, thẩm định đánh giá những kiểu truyện dân gian Tày, Việt tiêu biểu với nhiều dị bản trong các cấu trúc mẫu kể xét theo các lớp văn hoá từ tầng nền, tầng trên đến tầng thêm
Năm 1991, sau hơn mười năm nghiên cứu văn học dân gian Tày, và sống ở những vùng văn hoá đậm chất Tày như Thái Nguyên, Sơn La, Cao Bằng Bắc Cạn, Lạng Sơn…Vũ Anh Tuấn đã khẳng định tính đặc sắc của văn học dân gian Tày, đặc
biệt là truyện kể dân gian Tày trong luận án tiến sĩ: Khảo sát cấu trúc và ý nghĩa
một số típ truyện kể dân gian Tày ở vùng Đông Bắc Việt Nam[282] Chuyên luận đã
nêu bật ba vấn đề có tính nguyên tắc là:
1 Nghiên cứu truyện kể dân gian Tày không tách rời việc xem xét nó dưới góc độ loại hình các mối quan hệ văn hoá tộc người
2 Tính loại hình khu vực là một đặc điểm phổ quát trong các típ truyện
kể dân gian Tày, trong đó mối quan hệ Tày Việt có ý nghĩa điều hoà lớn
3 Phương pháp khảo sát cụ thể văn học dân gian một tộc người xét đến cùng vẫn là phải nhận diện cho được dấu hiệu thẩm mỹ đặc thù vì chức năng tộc người của văn hoá vẫn trực tiếp và bền bỉ tác động vào đời
sống văn hoá một cộng đồng tộc người [282, tr.8]
Công trình của Vũ Anh Tuấn đã xây dựng được những luận điểm quan trọng
có tính gợi dẫn trong vấn đề nghiên cứu truyện kể dân gian dưới góc nhìn mối quan
hệ văn hoá tộc người Tuy nhiên, do khuôn khổ yêu cầu của đề tài, tác giả mới chỉ tập trung vào khảo sát đối tượng truyện kể dân gian Tày, hoặc nếu có so sánh Tày- Việt thì chỉ là một biện pháp để nhằm làm tăng tính chuyên biệt Tày
Bên cạnh Vũ Anh Tuấn còn có Hà Đình Thành, tác giả của loạt bài nghiên cứu so sánh truyện kể dân gian Tày Nùng [245 - 250]
Cũng trong lĩnh vực nghiên cứu truyện kể dân gian theo hướng so sánh loại hình văn hoá tộc người, sau đó đã xuất hiện nhiều bài nghiên cứu đáng chú ý như
Thử xây dựng lại hệ thống huyền thoại Việt Mường [163] của Phan Ngọc, Tìm hiểu quan hệ giữa truyện dân gian của người Tày và người Thái cổ với truyện dân gian
Trang 2016
của người Việt của Đặng Việt Bích [18], Giải mã truyện cổ Lào theo phương pháp tiếp cận văn hoá học của Phạm Đức Dương [39]; Cần và phải tìm hiểu mẫu kể An
Dương Vương trong mối quan hệ văn hoá Tày - Việt [283] của Vũ Anh Tuấn…
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu kể trên đã khẳng định hướng nghiên cứu truyện kể dân gian Tày theo hướng tiếp cận loại hình quan hệ lịch sử - văn hoá tộc người như là một hướng đi khoa học cần được tiếp tục triển khai sâu rộng hơn
Điểm qua những công trình nghiên cứu truyện kể dân gian của người Kinh (Việt) dưới góc độ so sánh quan hệ văn hoá - văn học dân gian, chúng ta không thể
bỏ qua những mốc thời gian quan trọng sau:
Từ những năm 60 của thế kỷ XX, cuộc trao đổi về truyện An Dương Vương
và Mỵ Châu- Trọng Thủy như là những truyện kể dân gian đã đặt ra vấn đề nghiên
cứu so sánh văn học dân gian
Năm 1968, Đinh Gia Khánh công bố chuyên luận Sơ bộ tìm hiểu những vấn
đề của truyện cổ tích qua truyện Tấm Cám [106] Trong chuyên luận này, ông đã
nhấn mạnh đến “tính đa dạng của kiểu truyện này biểu hiện ra trong các dị bản thuộc các môi trường lịch sử- văn hóa khác nhau (ông đặc biệt phân biệt một dạng
của truyện Tấm Cám ở khu vực Đông Nam Á và trong dạng này ông lại cố gắng
phân biệt những biến dạng khác nhau trong từng dân tộc hoặc tộc người)”[31, tr.77] Với công trình này, khoa nghiên cứu văn học dân gian Việt Nam bước vào quĩ đạo của truyền thống nghiên cứu so sánh trong ngành folklore học thế giới
Đến những năm 70, Nguyễn Đổng Chi đã mô tả khá nhiều cốt truyện và các
motif truyện cổ tích trên thế giới trong Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam [27]
Phương pháp so sánh đã được các nhà nghiên cứu Việt Nam làm chủ và vận dụng khá thành thục
Khối lượng các công trình nghiên cứu truyện kể dân gian người Việt khá phong phú Những năm 90 của thế kỷ XX đã xuất hiện nhiều công trình nghiên cứu
có tính chuyên sâu theo hướng tìm hiểu thi pháp thể loại, nghiên cứu bản chất cội nguồn lịch sử và tiến trình phát triển của truyện kể dân gian trong mối tương quan với nhiều lĩnh vực folklore ở cả bề rộng lẫn bề sâu, của các tác giả Tăng Kim Ngân
Trang 2117
với Cổ tích thần kỳ người Việt đặc điểm cấu tạo cốt truyện [159], Nguyễn Thị Bích
Hà với Thạch Sanh và kiểu truyện dũng sĩ trong truyện cổ Việt Nam và Đông Nam
Á [54], Nguyễn Thị Huế với Nhân vật xấu xí mà tài ba trong truyện cổ tích Việt Nam [84] Đây là các công trình nghiên cứu tiêu biểu của ba tác giả nữ viết khá
nhiều về truyện kể dân gian người Việt (xin xem thư mục về các tác giả)… Những công trình đó đã làm sáng tỏ nhiều vấn đề về văn hoá của người Việt cổ qua sự phân tích, giải mã các motif trong các kiểu truyện, kiểu nhân vật và đã cho chúng tôi nhiều gợi ý khi tiếp cận so sánh văn hoá giữa ngưòi Việt và người Tày
Năm 2001, Nguyễn Tấn Đắc cho xuất bản công trình Truyện kể dân gian đọc
bằng type và motif [42] Trong gần 300 trang, ông đã dành tới nửa số trang cho
chuyên luận Đọc lại truyện Tấm Cám ở Đông Nam Á [42, tr.162 – 296] Căn cứ vào
những bản kể ở dạng xa xưa nhất được sưu tầm từ cuối thế kỷ XIX, so sánh với những bản kể vào thế kỷ XX ở Việt Nam, ông đã tìm ra được sự khác biệt về cốt kể
và một số motif quan trọng Đặc biệt luận đề "sử dụng biện pháp nghiên cứu so sánh dựa trên type và motif của truyện để tìm hiểu sự giao lưu tương tác văn hoá
giữa các dân tộc trong khu vực qua một truyện kể cụ thể" [42, tr.211] của ông đã
làm cho hướng triển khai đề tài nghiên cứu của chúng tôi có thêm cơ sở lập luận
Nhìn tổng quát, các công trình nghiên cứu truyện kể người Việt trong mấy chục năm qua đã vượt khỏi phạm vi mô tả đơn giản để đạt đến trình độ nghiên cứu
có lý thuyết và phương pháp rõ ràng Tác giả Nguyễn Tấn Đắc cho biết “ Mới bước vào lĩnh vực truyện kể dân gian, tôi thử làm hai điều, một là tìm hiểu mối quan hệ của truyện kể Việt Nam với khu vực Đông Nam Á, và hai là thử đọc truyện kể bằng type và motif”[42, tr.5] Có thể nói hướng đi và cách làm của ông tiêu biểu cho hướng đi khoa học của cả giới nghiên cứu trong việc tiếp cận truyện kể dân gian và thực sự có ý nghĩa cho luận án của chúng tôi
Lịch sử vấn đề nghiên cứu so sánh văn hóa Tày Việt từ góc độ văn hóa tộc người, lịch sử nghiên cứu truyện kể dân gian Tày, Việt để lại những bài học sâu sắc
về nhiều phương diện cho những ai tiếp tục đi theo hướng nghiên cứu này Nhưng phải nói ngay rằng, vẫn còn thiếu những công trình chuyên sâu đặt vấn đề so sánh
Trang 2218
truyện kể dân gian Tày, Việt từ góc nhìn văn hóa tộc người, trong bối cảnh Đông Nam Á, ứng dụng cách đọc bằng type và motif Nhiệm vụ của luận án chúng tôi là góp phần làm đầy mảng trống đó Xét mối quan hệ văn hoá Tày - Việt trên toàn bộ
hệ thống tiếp cận như lịch sử nghiên cứu đã được tóm lược trên đây chính là mục
đích của luận án “Mối quan hệ văn hoá Tày Việt dưới góc độ thẩm mỹ qua một
số kiểu truyện dân gian cơ bản”
3 MỤC ĐÍCH, NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU:
3.1 Mục đích nghiên cứu:
3.1.1 Nghiên cứu văn hoá và mối quan hệ lịch sử văn hoá tộc người trong văn học dân gian sẽ góp phần làm sáng tỏ nhận thức về sự tồn tại của văn hoá trong trạng thái luôn vận động, có sự tiếp thu, chọn lọc, lưu giữ và nuôi dưỡng để vừa đảm bảo phát triển vừa giữ vững bản sắc cội nguồn theo tiến trình phát triển của lịch sử [63, tr.87] Từ xác định đề tài, chúng tôi sẽ sử dụng truyện kể dân gian như một đối tượng thẩm mỹ để hướng vào mục đích nghiên cứu lý giải những vấn đề về các quan hệ tương đồng, giao lưu, tiếp biến văn hoá tộc người Tày - Việt
3.1.2 Trên cơ sở nắm rõ vấn đề bản chất của văn học dân gian nằm ngay trong nội hàm của folklore và trên cơ sở kế thừa, tiếp thu thành tựu của các nhà nghiên cứu đi trước, chúng tôi sẽ giới thiệu những vấn đề bản chất nhất trong một
số hiện tượng văn học dân gian theo các mối quan hệ tương tác phức tạp và tinh tế của văn học dân gian miền núi - một hình thái ý thức xã hội giàu tính văn hoá nguyên sơ hơn là văn chương thuần tuý
3.1.3 Từ góc nhìn mối quan hệ văn hoá tộc người, luận án sẽ lý giải nguyên nhân của việc xuất hiện các kiểu và các lớp ở một số kiểu truyện trong môi trường văn hoá dân gian có sự giao thoa Tày - Việt Từ đó chỉ ra những quy luật phát triển của những yếu tố nội sinh và ngoại sinh qua quá trình tiếp xúc - hội tụ của mối quan
hệ qua lại ảnh hưởng tác động lẫn nhau để làm rõ bản sắc văn hoá dân tộc Việt Nam
“thống nhất trong đa dạng” trên cả hai trục thời gian và không gian văn hoá
3.1.4 Trên cơ sở khảo sát một số kiểu truyện kể dân gian Tày và Việt được chọn lọc, chúng tôi sẽ phác hoạ những nét tương đồng và dị biệt giữa văn hoá - văn
Trang 2319
học dân gian Tày, và văn hoá - văn học dân gian Việt, lý giải nguyên nhân của sự tương đồng và dị biệt ấy bằng cứ liệu lịch sử, văn hóa, xã hội của hai tộc người
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:
3.2.1 Ngoài việc đánh giá và làm sáng tỏ cái hay cái đẹp của những hình tượng thẩm mỹ trong truyện kể dân gian theo cách cảm thụ truyền thống, luận án còn có nhiệm vụ nghiên cứu truyện kể dân gian như một quá trình văn hoá để lý giải mối quan hệ văn hoá Tày - Việt Là một công trình nghiên cứu thuộc chuyên ngành ngữ văn, luận án phải tuân thủ những đòi hỏi thể hiện đặc thù của chuyên ngành khoa học đó Chính vì vậy, một mặt chúng tôi thường xuyên phải tôn trọng tính toàn vẹn, nguyên hợp của đối tượng nghiên cứu, thể hiện qua mối quan tâm nhiều chiều của văn hoá học, vận dụng đồng bộ tri thức và thành tựu của sử học, dân tộc học , mặt khác vẫn phải thường trực duy trì điểm nhìn chuyên biệt của mình, tức điểm nhìn ngữ văn học đối với đối tượng được khảo sát
3.2.2 Tiến hành nghiên cứu so sánh các mẫu kể tiêu biểu được xác định trong hệ thống truyện kể Tày và Việt để làm nổi bật mối quan hệ văn hoá Tày - Việt với những biểu tượng văn hoá thẩm mỹ đặc trưng, thông qua việc khảo sát và thẩm định những giá trị tư tưởng thẩm mỹ ở các cấp độ : hệ thống đề tài, cấu trúc tác phẩm, nhân vật và motif
3.2.3 Phân tích, so sánh cụ thể dựa trên quá trình hình thành, chuyển hoá của những hình tượng nhân vật trung tâm đánh dấu bước đi của cả hai tộc người Tày - Việt trong diễn trình lịch sử Đó là:
*Kiểu truyện về người anh hùng kiến tạo thế giới, kiến tạo vũ trụ
*Kiểu truyện về người anh hùng sáng tạo văn hoá
*Kiểu truyện về người anh hùng chiến trận chống giặc ngoại xâm
4 ĐỐI TƢỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU:
4.1 Đối tượng nghiên cứu là truyện kể dân gian Tày và Việt với sự lựa chọn
những kiểu truyện tiêu biểu, trong đó có chứa những yếu tố văn hoá truyền thống được chuyển hoá từ yếu tố cùng nguồn mang tính đồng hình đến giao lưu, tiếp biến
Trang 2420
trong quá trình "cho" và "nhận" của hai tộc người thông qua sự tiếp xúc từ ngôn
ngữ đến văn học, từ văn học đến văn hoá
4.2 Phạm vi nghiên cứu là nghiên cứu mối quan hệ văn hoá Tày - Việt qua một
số kiểu truyện kể dân gian cơ bản, trong tiến trình phát triển các thể loại của loại hình tự sự dân gian Do vậy, phạm vi khảo sát để tiến hành so sánh sẽ không thể bao quát được tất cả mọi thể loại của truyện kể dân gian Tày và Việt, mà sẽ chỉ tập trung
vào những kiểu truyện như chúng tôi đã giới thuyết trong mục 1.2.3 ở phần Mở đầu
của luận án
5 NGUỒN TƢ LIỆU:
Để thực hiện đề tài này, chúng tôi đã sử dụng nhiều nguồn tư liệu khác nhau:
5.1 Các công trình sưu tầm biên soạn, chú giải truyện kể dân gian trong đó có
các truyện kể của người Kinh (Việt) và Tày.Về truyện kể dân gian Việt, chúng tôi
chọn lựa từ các tuyển tập: Lĩnh Nam chích quái của Vũ Quỳnh - Kiều Phú [230],
Lược khảo về thần thoại Việt Nam của Nguyễn Đổng Chi [24], Truyện hay nước Việt của Đinh Gia Khánh [111], Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam của Nguyễn
Đổng Chi [27], Tuyển tập văn học dân gian Việt Nam của Viện Văn học [85] …
Về truyện kể dân gian Tày, chúng tôi chọn lựa từ các tuyển tập truyện kể dân gian của các dân tộc ít người trong sự đối sánh chung với các tộc người khác Đó là
các tuyển tập: Truyện cổ Tày Nùng [226], Truyện cổ các dân tộc ít người Việt Nam [291], Truyện cổ Bắc Cạn [285] và truyện cổ Bắc Thái (Nàng tiên thứ bảy)[189]…
Tổng số truyện khảo sát là 378 truyện của tộc người Kinh (Việt) và 201 truyện của tộc người Tày trong 11 tuyển tập truyện chính (xin xem thêm phần phụ lục)
5.2 Các công trình nghiên cứu về văn hoá tộc người của các nhà nghiên cứu
thuộc các lĩnh vực dân tộc học như: Nguyễn Văn Huyên, Đào Duy Anh, Phan Hữu Dật, Đặng Nghiêm Vạn, Lã Văn Lô, Hoàng Nam, Nguyễn Chí Huyên…thuộc các lĩnh vực văn hoá học như Nguyễn Từ Chi, Trần Quốc Vượng, Nông Quốc Chấn, Trần Ngọc Thêm, Nguyễn Đăng Duy , và thuộc lĩnh vực văn hoá - văn học dân gian như Đinh Gia Khánh, Chu Xuân Diên, Ngô Đức Thịnh, Nguyễn Xuân Kính, Vi Hồng, Triều Ân, Hoàng Quyết, Vũ Anh Tuấn…
Trang 2521
5.3 Những bài viết, những công trình nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài
nước từ trước đến nay trên các sách, báo, tạp chí chuyên ngành và thông báo khoa học về văn hoá, văn học dân gian có liên quan đến đề tài
5.4 Sử dụng những tài liệu của cá nhân thu thập được trong các lần đi thực tế ở
Thái Nguyên, Lạng Sơn, Cao Bằng…
6 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
Truyện kể dân gian cũng như bất kỳ một thể loại văn học dân gian nào khác đều
là một hiện tượng mang tính nguyên hợp nên đã là đối tượng nghiên cứu được khai thác từ nhiều góc độ như sử học, khảo cổ học, dân tộc học, ngôn ngữ học và một số ngành nghệ thuật khác… đặc biệt là từ góc độ nghiên cứu của folklore, của văn hoá
- văn học dân gian Vì thế chúng tôi đã áp dụng những phương pháp nghiên cứu sau:
6.1 Phương pháp nghiên cứu cơ bản là phương pháp so sánh loại hình - lịch sử
theo mối quan hệ văn hoá tộc người giữa hai góc độ ngữ văn - dân tộc học
6.2 Trong quá trình khảo sát, so sánh phân tích các tài liệu cụ thể chúng tôi áp
dụng hệ thống các phương pháp có tính phổ biến: phương pháp thống kê, phân loại, phương pháp phân tích logic và phân tích lịch sử, phương pháp tổng hợp liên ngành
7 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN:
Luận án sẽ có những đóng góp mới trên các phương diện về sưu tầm tư liệu, về
nội dung và hàm lượng khoa học, cũng như phương pháp Cụ thể là:
7.1 Trong luận án, một vấn đề học thuật trong nghiên cứu văn học dân gian
được nhấn mạnh trên cả hai góc độ ngữ văn và dân tộc học Trong đó, nhiều khía cạnh khác nhau của cơ tầng văn hoá dân tộc được khai thác đồng thời với việc vận dụng những thành tựu về lý thuyết và lịch sử văn hoá nói chung, luận án đã làm nổi
rõ mối quan hệ văn hoá tộc người, quan hệ văn hoá Tày – Việt qua sự tiếp xúc, giao lưu, tiếp biến theo cả hai chiều Tày – Việt và Việt – Tày Như vậy, luận án này là một công trình nghiên cứu tập trung chuyên sâu đầu tiên về mối quan hệ văn hoá Tày – Việt dưới góc độ thẩm mỹ, trên cơ sở khảo sát, so sánh các kiểu truyện kể
dân gian tiêu biểu
Trang 2622
7.2 Trong khi vấn đề nghiên cứu và giảng dạy văn hóa – văn học dân gian hiện
nay trong nhà trường, ở mọi cấp học, đang đòi hỏi những đổi mới phù hợp với diện mạo và chiều sâu văn hoá Việt Nam như nó vốn có và đủ sức đáp ứng được những thách thức của thời đại, thì luận án này có ý nghĩa tạo ra một hướng nghiên cứu liên ngành và đối chiếu so sánh, mới cả về nội dung học thuật và phương pháp
7.3 Trong công việc giảng dạy Tiếng Việt và văn hoá Việt Nam cho người
nước ngoài, các kết quả nghiên cứu của luận án sẽ có tác dụng giúp sinh viên nước ngoài hiểu rõ hơn bản chất văn hoá Việt Nam trong quá trình hội nhập
8 KẾT CẤU CỦA LUẬN ÁN:
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận , luận án gồm 4 chương:
Chương 1: Tổng quan cơ sở lý luận và thực tiễn của việc nghiên cứu quan hệ văn
hóa Tày - Việt qua truyện kể dân gian
Chương 2: Mối quan hệ văn hoá Tày – Việt qua khảo sát, so sánh kiểu truyện
người anh hùng kiến tạo thế giới, kiến tạo vũ trụ
Chương 3: Mối quan hệ văn hoá Tày – Việt qua khảo sát, so sánh kiểu truyện
người anh hùng văn hoá
Chương 4: Mối quan hệ văn hoá Tày – Việt qua khảo sát, so sánh kiểu truyện
người anh hùng chiến trận chống giặc ngoại xâm
Trang 2723
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU QUAN HỆ VĂN HÓA TÀY - VIỆT QUA TRUYỆN KỂ DÂN GIAN
Nghiên cứu quan hệ văn hóa Tày - Việt qua truyện kể dân gian thực chất là nghiên cứu so sánh văn hóa của hai tộc người trên cứ liệu truyện kể - một loại hình tiêu biểu, đặc biệt của văn hóa dân gian Do đó, có một số vấn đề lý luận và thực tiễn cần được giải quyết trước khi tiến hành việc nghiên cứu so sánh này Cụ thể là các vấn đề sau:
- Tộc người và văn hoá tộc người
- Quá trình lịch sử của sự giao lưu tiếp biến văn hóa Tày- Việt
- Vai trò của văn học dân gian trong văn hóa tộc người
- Tìm hiểu truyện kể dân gian theo phương pháp nghiên cứu folklore
1.1 Tổng quan về lý thuyết văn hoá tộc người:
1.1.1 Tộc người, văn hoá tộc người và văn hoá của tộc người:
Việt Nam là một quốc gia, một cộng đồng dân tộc bao gồm 54 tộc người với hơn trăm nhóm địa phương Tầm quan trọng của vấn đề tộc người đối với sự hình thành và phát triển cộng đồng quốc gia dân tộc là hiển nhiên, cần được tập trung nghiên cứu Tại lễ kỷ niệm 50 năm ngày thành lập Trung tâm Khoa học Xã hội và
Trang 2824
Nhân văn Quốc gia vào ngày 26/12/2003, ông Đỗ Hoài Nam đã nhấn mạnh: "Sự hình thành dân tộc Việt Nam có liên quan đến vấn đề các tộc người cư trú trên dải đất Việt Nam tạo thành cộng đồng dân tộc Việt Nam"[156, tr.5] Để có thể vận dụng lý thuyết văn hoá tộc người vào nghiên cứu so sánh truyện kể dân gian Tày, Việt, chúng tôi thấy cần phải có nhận thức chính xác về tộc người và văn hoá tộc người
Điều dễ nhận thấy là các định nghĩa về tộc người thường nhấn mạnh yếu tố văn
hóa như là dấu hiệu nhận diện quan trọng về tộc người Vào những năm 70 của thế
kỷ trước, Iulian Vlađimirovich Bromlei (Nga) đã từng nhấn mạnh: trong cộng đồng tộc người, ngoài những đặc điểm bề ngoài về thể chất của con người mang những dấu hiệu chủng tộc ra thì các tộc người còn được phân biệt bằng những đặc điểm khác còn quan trọng hơn nhiều, trước hết là những đặc điểm về văn hoá [273, tr.22]
Ở Việt Nam, có lẽ cũng khoảng thời gian đó, khi nghiên cứu Quá trình tộc người và
mối quan hệ dân tộc ở nước ta, Phan Hữu Dật đã định nghĩa như sau về tộc người:
"Tộc người là một cộng đồng người được hình thành trong lịch sử, mang ba tiêu
chuẩn chủ yếu sau đây: cùng chung tiếng nói; cùng có chung một ý thức tự giác tộc người biểu hiện ở tên tự gọi chung; có những yếu tố văn hoá thống nhất.” Và
“ Tộc người là một phạm trù lịch sử, có phát sinh, phát triển và tiêu vong” [29, tr.456] Còn Đặng Nghiêm Vạn lại diễn giải một cách cụ thể hơn: tộc người “là một
cộng đồng mang tính tộc người có chung một tên gọi, một ngôn ngữ (trừ trường hợp
cá biệt) được liên kết với nhau bằng những giá trị sinh hoạt văn hoá, tạo thành một tính cách tộc người, có chung một ý thức tự giác tộc người, tức có chung một khát vọng, được cùng chung sống, có chung một số phận lịch sử thể hiện ở những kí ức lịch sử (truyền thuyết, lịch sử, huyền thoại, kiêng cữ…) Một tộc người không nhất thiết phải có cùng lãnh thổ, cùng một cộng đồng sinh hoạt kinh tế”[294, tr.73], nhưng tộc người thường là một bộ phận cấu thành một quốc gia, dân tộc Chính Đặng Nghiêm Vạn cũng là người đã phân biệt rất rõ hai khái niệm dân tộc (nation)
và tộc người (ethnic) [294, tr.15 – 75]
Trang 2925
Các nhà dân tộc học nói trên đều thống nhất nhấn mạnh ba tiêu chí căn bản xác định tộc người, đó là: ngôn ngữ, văn hoá và ý thức tự giác tộc người Văn hóa có vai trò vô cùng lớn lao đối với sự hình thành và phát triển các cộng đồng tộc người
Còn theo chúng tôi: Tộc người là một chủ thể mang tính cộng đồng, sáng tạo nên
ngôn ngữ và văn hóa mang đặc trưng của tộc người đó với ý thức tự giác tộc người
Văn hoá tộc người được hiểu theo nghĩa rộng nhất là tập hợp những phương thức
hoạt động riêng biệt với những kết quả cụ thể của một cá nhân cũng như của cả một cộng đồng tộc người Trên thực tế, trong vô số các cách tiếp cận khác nhau về văn hóa, ta có thể phân tích bản chất của văn hóa từ quan điểm dân tộc học, trong trường hợp này văn hóa chính là văn hóa tộc người, văn hóa được hình thành cùng với quá trình hình thành tộc người Nguyễn Từ Chi đã có một cách hình dung rất dễ hiểu về tộc người và văn hóa tộc người Theo ông, trong ứng xử với môi trường, thiên nhiên xung quanh con người, con người với tính cách một cá nhân đơn lẻ không thể tồn tại được mà cần có sự hợp tác chặt chẽ của tất cả mọi thành viên của một cộng đồng Cộng đồng lớn nhỏ khác nhau tùy theo môi trường sống và lao động, như: cộng đồng ở dạng từng nhóm nhỏ cùng huyết thống trong điều kiện chật hẹp của từng vùng; thị tộc và bộ lạc trong môi trường rộng thoáng của đồng cỏ; công xã định cư khi chuyển sang trồng trọt Để giữ vững mối liên kết cộng đồng
ấy, mỗi cộng đồng trong từng trường hợp cụ thể của mình phải đặt ra những qui tắc
tổ chức riêng biệt, vốn không có ngay từ đầu trong bản năng của con người Thế là văn hóa hình thành, bởi văn hóa hiểu một cách thật giản dị chính là cái gì không phải là thiên nhiên [28, tr.565 - 566] Như vậy, cơ sở hình thành văn hóa chính là hoạt động sống, sinh hoạt, lao động của cộng đồng người Các biểu hiện tinh thần của văn hóa (văn hóa phi vật thể) được hình thành, theo cách trình bày của Nguyễn
Từ Chi, nhờ áp lực của các “nghi thức xã hội hay tôn giáo” thực hành trong cộng
đồng tộc người: nghi thức trong ăn uống, cách cư xử trong gia đình, ngoài xã hội, đám cưới, đám tang Tiếp đến là thơ ca, nhạc, họa và các loại hình nghệ thuật khác Tất cả đã tạo nên văn hoá tộc người Về vấn đề này, Ngô Đức Thịnh cũng đã
khái quát: văn hoá tộc người là tổng thể các yếu tố văn hoá mang tính đặc thù tộc
Trang 3026
người, nó thực hiện chức năng cố kết tộc người và phân biệt tộc người này với tộc người kia Trong văn hoá tộc người, các yếu tố đầu tiên được nhận diện là ngôn ngữ, trang phục, các tín ngưỡng và nghi lễ, vốn văn học dân gian, tri thức dân gian
về tự nhiên xã hội, về bản thân con người và tri thức sản xuất, khẩu vị ăn uống, tâm
lý dân tộc…[303, tr.107] Điều đó cũng có nghĩa, diện mạo chính của văn hóa tộc người là văn hóa dân gian Văn hoá tộc người Tày mang đặc trưng văn hoá thung lũng, đậm chất miền núi Văn hoá tộc người Kinh (Việt) đại diện cho văn hoá lúa nước ở vùng châu thổ với đặc trưng văn hoá đậm chất đồng bằng
Tất nhiên, các tộc người khác nhau sẽ có các nền văn hóa khác nhau Theo quan sát dân tộc học của Nguyễn Từ Chi, có hai diện mạo chính quyết định nền văn hóa của một tộc người Đó là: 1) môi trường tự nhiên mà tộc người đó định cư Chính môi trường định cư qui định sự hình thành các ứng xử văn hóa phù hợp với môi trường; 2) nguồn gốc văn hóa tộc người: các tộc người khác nhau trong môi trường khác nhau thì có nền văn hóa khác nhau; nhưng do nhiều lý do mà họ thiên di đến nơi khác, một loạt ứng xử văn hóa mới được hình thành để thích ứng với môi trường mới đồng thời các ứng xử văn hóa cũ vẫn được bảo lưu [28, tr.627 - 628] Trong quá trình di chuyển này của các tộc người, thực chất đã diễn ra sự giao lưu và tiếp biến văn hóa Quá trình giao lưu và tiếp biến tất nhiên diễn ra rõ ràng hơn, mạnh mẽ hơn đối với các nền văn hóa của những tộc người sống trên một địa bàn gần nhau, khả năng cư trú xen kẽ là một khả năng hiện thực Từ thực tế đó, các nhà
khoa học nhân văn đã dùng hai khái niệm khác nhau văn hoá tộc người và văn hoá
của tộc người Văn hóa tộc người dùng để chỉ văn hóa của riêng cộng đồng một
tộc người trong ứng xử với thiên nhiên với những giá trị hằng số Còn văn hoá của
tộc người lại là các yếu tố văn hoá hiện đại của một tộc người nào đó trong đó cả
yếu tố văn hoá truyền thống - văn hoá tộc người và yếu tố văn hoá của tộc người khác được tiếp nhận qua quá trình giao lưu văn hoá Các yếu tố văn hoá của tộc người có thể đến một lúc nào đó sẽ trở thành yếu tố văn hoá tộc người [22, tr.123] Chẳng phải ngẫu nhiên mà đã có học giả Pháp ví Việt Nam là ngã tư của các nền văn minh Hiếm thấy nơi nào trên thế giới các tôn giáo lớn đều được truyền vào như
Trang 3127
ở Việt Nam: từ đạo Phật, cho đến đạo của Nho giáo, Lão giáo, Ấn Độ giáo đến cả đạo Cơ đốc, đạo Tin lành, đạo Hồi Cũng ít có nơi trên thế giới được chứng kiến sự tác động mạnh của các nền văn minh lớn như ở Việt Nam: từ văn minh Trung Hoa,
Ấn Độ, Ả Rập đến văn minh Âu, Mỹ… Người Việt có khả năng bản địa hoá các yếu tố văn hoá vốn không phải là của mình "để ứng dụng đắc lực" cho mình và phát triển thành yếu tố văn hoá tộc người như trường hợp Phật giáo trở thành tôn giáo
phổ biến ở Việt Nam Nói một cách đơn giản nhất văn hoá tộc người là những cái ban đầu, cái gốc, còn văn hoá của tộc người là văn hoá thường được làm giàu thêm
bởi sự tiếp xúc giao lưu với các tộc láng giềng
1.1.2 Chức năng tộc người của văn hoá:
Căn cứ vào những khái niệm cơ bản về văn hoá tộc người như đã phân tích ở phần trên, chúng tôi quan niệm khi văn hoá tộc người được hiểu theo nghĩa là các giá trị, các chuẩn mực của tộc người được hình thành có tính lịch sử, được phản ánh vào đời sống sinh hoạt của cộng đồng tộc người ấy thì việc xác định chức năng tộc người của văn hoá là rất quan trọng đối với nghiên cứu văn hoá tộc người Chức
năng tộc người của văn hoá có thể khái quát lại trong sáu từ, đó là bảo tồn, chọn lọc
và điều tiết các giá trị văn hoá tộc người Ngoài việc duy trì sự tồn tại của tộc
người, theo chúng tôi, chức năng tộc người của văn hoá còn có ba nhiệm vụ sau:
Thứ nhất, chức năng tộc người của văn hoá có nhiệm vụ bảo tồn bản sắc văn hoá tộc người để chống lại những ảnh hưởng có tính áp đặt hoặc có tính lấn át
Người Tày đã bảo lưu những giá trị văn hoá truyền thống của tộc người mình trong
những truyện cổ, trong những bài ca Sli lượn, trong cả những tín ngưỡng dân gian của Mo - Then - Pựt… và trong những ngày lễ hội dân gian (như hội cầu mùa Lồng Tổng, hội mởi Nàng Hai (mời Nàng Trăng) mang tính chất vừa cầu phúc, cầu mưa
qua các hình thức lễ nghi nông nghiệp đặc sắc của người Tày…) Còn người Kinh (Việt) với khả năng tiếp nhận và khả năng lan toả của văn hoá tộc người chủ thể đã bảo lưu những giá trị văn hoá tộc người trong sự gắn kết văn hoá dân tộc Vì “văn hoá Việt do khả năng thâu nhận cao nên cũng có độ lan toả và ảnh hưởng đối với văn hoá tộc người khác trong phạm vi quốc gia Việt Nam” [260, tr.5] Chức năng
Trang 3228
tộc người của văn hoá làm cho văn hoá không bị đứt mạch Chức năng tộc người của văn hoá cũng là nền tảng để trên cơ sở đó tiếp thu những cái mới Văn hoá tộc người Tày là nền văn hoá được hình thành từ thuở "khai sinh" ra tộc người này, trải qua quá trình phát triển cùng với sự tiếp thu trong giao thoa văn hoá với các tộc người anh em khác vẫn luôn giữ bản sắc Tày Văn hoá tộc người Việt là nền tảng cho văn hoá văn minh Sông Hồng, văn minh Đại Việt
Thứ hai, chức năng tộc người của văn hoá còn làm nhiệm vụ chọn lọc các yếu
tố văn hoá ngoại tộc để làm giàu thêm cho văn hoá tộc người Văn hoá của người
Tày và người Kinh đã trở nên phong phú và giàu có hơn trong quá trình chọn lọc, trao đổi, tiếp nhận các yếu tố mang giá trị văn hoá tộc người đặc trưng của nhau
Trong truyện kể dạng Tấm Cám của người Tày, dường như sự xuất hiện của chi tiết
"yếm đỏ" vốn là trang phục của các cô gái Việt, đã là một minh chứng cho sự tiếp
thu, "chọn lọc" của tộc người Tày khi tiếp nhận yếu tố văn hoá của người Kinh Qua
các mẫu kể về An Dương Vương, Vũ Anh Tuấn với Cần phải tìm hiểu mẫu kể An
Dương Vương trong mối quan hệ văn hoá Tày – Việt [283] đã phân tích rõ nhiều
yếu tố văn hoá bản địa Tày có giá trị thẩm mỹ được tìm thấy trong truyện kể của
người Kinh như các biểu tượng: rùa vàng - gà trắng - áo lông ngỗng Khi tính đa
nghĩa và sự bí ẩn của các biểu tượng văn hoá dân gian được khúc xạ đa chiều qua thời gian và không gian vào các lớp văn hoá khác nhau đã được bóc tách, thì sự tiếp cận dường như có nhiều sức hút hơn Tìm ra được các tín hiệu văn hoá mang tính đặc trưng tộc người bằng phương pháp giải mã văn hoá các biểu tượng văn hoá dân gian sẽ giúp chúng ta nhận diện rõ hơn chức năng tộc người của văn hoá
Thứ ba, chức năng tộc người của văn hoá luôn giữ vai trò điều tiết đời sống văn hoá cộng đồng vừa tương đồng ổn định bền vững vừa giao lưu hội nhập và
phát triển Văn hoá tộc người giữ vai trò vô cùng quan trọng trong việc khẳng định bản sắc văn hoá dân tộc Nếu nói “văn hoá là sự bộc lộ đặc thù của lối sống, hành vi ứng xử của các dân tộc riêng biệt, phương thức cảm nhận thế giới đặc biệt của nó trong huyền thoại, truyền thuyết, hệ thống tín ngưỡng, tôn giáo bằng sự định hướng giá trị đã mang lại ý nghĩa cho sự tồn tại của con người” [133, tr.49] thì văn hoá tộc
Trang 3329
người nằm trong chính hệ quy chiếu đó Một nền văn hoá bao giờ cũng hàm chứa nhiều yếu tố, trong đó yếu tố văn hoá tộc người là một trong những yếu tố quan trọng của nền văn hoá có nhiều thành phần tộc người như nền văn hoá Việt Nam Các tộc người Việt Nam vốn cùng sinh tụ lâu đời trên một khu vực địa lý là hành lang của châu Á nhìn ra Thái Bình Dương, theo trục Bắc - Nam với hướng mở rộng
về phía Nam Điều kiện tự nhiên vừa có tính thống nhất vừa có tính khu biệt đã tạo
ra cho Việt Nam những thông số chung của văn hoá dân tộc quốc gia, trên cơ tầng văn hoá bản địa Đông Nam Á và những bản sắc văn hoá tộc người vừa phong phú vừa đậm đà, có yếu tố phổ biến và yếu tố đặc thù [196, tr.55] Đó là nền văn hoá có cội nguồn và bản sắc riêng của ba phức thể văn hoá lúa nước với ba yếu tố: văn hoá rừng núi, văn hoá đồng bằng, văn hoá biển, yếu tố đồng bằng tuy có sau nhưng lại đóng vai trò chủ thể [40]
Xét trên bình diện văn hoá tộc người thì văn hoá của người Việt, người Tày cũng như văn hoá của các tộc người anh em khác đã trở thành những thành phần hữu cơ của nền văn hoá Việt Nam qua sự liên kết và điều tiết của chức năng tộc người của văn hoá thông qua sự giao lưu tiếp biến văn hoá giữa các tộc người
1.2 Phác hoạ quá trình giao lưu và tiếp biến văn hoá Tày – Việt trong lịch sử :
1.2.1 Tiếp biến văn hoá tộc người, tiếp biến văn hoá Tày – Việt:
Trên thực tế, nói chung trong nhiều trường hợp đòi hỏi phải nhìn khái niệm văn hóa tộc người theo quan điểm hệ thống mở, nghĩa là phải hình dung văn hóa một tộc người là kết quả của một quá trình hình thành lâu dài, có sự tham gia của các tộc người khác Nguyễn Từ Chi đã quan sát thấy có sự giao thoa giữa hệ thống thủy lợi,
kỹ thuật đắp thành (thành Cổ Loa ba vòng tương tự như thành Xán Mứn của người Thái Mường Thanh), cho biết: “Những nét cơ bản của văn hóa đồng bằng sông Hồng từ nông nghiệp, xây thành đến cơ cấu xã hội đều có tiền đề Thái” Từ đây ông nêu lên một “giả thuyết làm việc” khá quan trọng: phải chăng người Kinh được hình thành từ các cộng đồng khác nhau? [28, tr.638 – 639] Hiện tượng giao thoa văn hóa như trên khá tiêu biểu cho một hiện tượng được giới nghiên cứu gọi là “tiếp biến văn hóa”
Trang 3430
Tác giả Jean – Paul Piriou trong Lexique de sciences économiques et sociales
đã cho biết: “ các nhà nhân chủng học Redfield, Linton và Herskovits trong tập
“Ghi chép” công bố năm 1936 ở tạp chí Nhà nhân chủng học người Mỹ đã định
nghĩa tiếp biến văn hoá - acculturation - là tổng thể những thay đổi trong các mô hình văn hoá bản địa khi tiếp xúc lâu dài với các nhóm người của những nền văn hoá khác Nó thể hiện dưới các hình thức vay mượn, trao đổi, diễn giải lại.” [104, tr.5]
Ở Việt Nam, một thời gian dài, giới nghiên cứu đã sử dụng khái niệm tiếp biến
văn hoá theo định nghĩa trong Từ điển bách khoa toàn thư (Mỹ) Theo đó thì khái
niệm tiếp biến văn hoá acculturation - được định nghĩa "là hiện tượng xảy ra khi những nhóm người có văn hoá khác nhau, tiếp xúc trực tiếp và lâu dài với nhau gây nên sự biến đổi trong dạng thức văn hoá ban đầu của một hay cả hai bên"[303, tr.164] Theo Nguyễn Xuân Kính, “thuật ngữ “acculturation” được dịch ở Việt Nam
là “hỗn dung văn hoá”, “đan xen văn hoá”, “thâu hoá văn hoá” Cách dịch được nhiều người sử dụng là “tiếp biến văn hoá” (tiếp thu và biến cải (hoặc biến đổi) văn hoá) Gần đây nhất, Hữu Ngọc dịch là “tương tác văn hoá” ”[126, tr.53] Theo chúng tôi, cách dịch nào cũng đều nhằm làm nổi rõ mối quan hệ văn hoá giữa các tộc người trong cộng đồng văn hoá dân tộc Việt Nam
Để làm rõ hơn các khái niệm có liên quan, chúng tôi tạm đưa ra phác đồ biến đổi văn hoá tộc người như sau:
Văn hoá dân tộc
=
Quá trình
"cho"
"nhận"
Tiếp biến văn hoá
Tiếp
Giao lưu văn hoá
biến đổi
Trang 3531
dung hợp văn hoá
+ Yếu tố ngoại sinh
Hội nhập văn
hoá giữ vững
bản sắc
= trên 4 cấp độ
Quốc gia (trong đất nước Việt Nam
và giữa các tộc người) Khu vực (Trung Quốc - Ấn Độ) Châu lục (phương Tây)
Toàn cầu (thế giới)
Làm giàu thêm
Các tác giả Cơ sở văn hoá Việt Nam đã nhấn mạnh: giao lưu và tiếp biến văn
hoá là sự tiếp nhận văn hoá vốn không phải của tộc người mình, của dân tộc mình, bởi tộc người chủ thể, là sự vận động thường xuyên của xã hội, gắn bó với tiến hoá
xã hội và đồng thời cũng là sự vận động thường xuyên của văn hoá gắn bó với sự phát triển của văn hoá để xử lý mối quan hệ biện chứng giữa yếu tố nội sinh và yếu
tố ngoại sinh Thực sự là rất khó tách biệt hai yếu tố này trong một thực thể văn hoá
vì chúng có khả năng chuyển hoá cho nhau [306, tr.52] Trên bình diện văn hoá dân
tộc, sự tiếp nhận yếu tố ngoại sinh được thể hiện qua hai dạng: một là tự nguyện,
hai là cưỡng bức Văn hoá Việt Nam trong quá trình giao lưu với văn hoá Trung Hoa thời Bắc thuộc đã diễn ra sự giao lưu tiếp biến văn hoá mang tính cưỡng bức mạnh hơn tự nguyện Còn trong thời Đại Việt khi đất nước đã được độc lập thì giao
lưu tự nguyện mạnh hơn Trên bình diện văn hoá tộc người, sự tiếp nhận trong quá
trình giao lưu văn hoá giữa các tộc người cũng được nhận diện ở hai mức độ: một là mức độ tiếp nhận đơn thuần, hai là mức độ tiếp nhận sáng tạo có thể là mô phỏng
Trang 3632
nhưng đã được chức năng tộc người của văn hoá chọn lọc, sắp xếp lại cho phù hợp
với "quan niệm giá trị của tộc người chủ thể" ở một vùng văn hoá tộc người
Đối với vùng Việt Bắc, một vùng hội tụ văn hoá tộc người, chúng ta nhận thấy rất rõ sự tiếp nhận trong quá trình giao lưu văn hoá của các tộc người anh em xoay quanh tộc người Tày, có thể coi là tộc người chủ thể của vùng văn hoá này với lý do
đa số các tộc người khác hiện định cư ở vùng này thì người Tày có lịch sử định cư ở đây lâu đời hơn, bề dày văn hoá phong phú hơn, số lượng cư dân đông đảo hơn cả Hơn nữa, tộc người Tày còn tạo dựng được một trung tâm văn hoá ở vùng Việt Bắc:
"theo lịch sử tộc người thì vùng Hoà An, Cao Bằng đã từng là thủ phủ của người Tày qua nhiều triều đại"[196, tr.155] Chính vì vậy, ở nơi này tộc người Tày đã có
sự giao lưu văn hoá rộng rãi với nhiều tộc người như Tày - Nùng, Tày - Kinh, Tày - Hoa, Tày - Dao, Tày - Mông…Trên một địa bàn rộng rãi có người Tày cư trú, hầu hết trong quan hệ với người Tày, các tộc người khác đều biết nói tiếng Tày, khi xuống chợ, họ đều dùng tiếng Tày như thứ tiếng phổ thông để giao tiếp Trong sự giao thoa tiếp biến văn hoá giữa người Tày và người Kinh (Việt) thì người Tày lại dùng tiếng Việt như thứ tiếng phổ thông để trao đổi văn hoá Sự tiếp xúc ngôn ngữ
và tiếp xúc văn hoá Tày - Việt một cách tự nhiên và tự nguyện đã tạo nên mối quan
hệ gắn bó keo sơn giữa hai tộc người Theo cách phân vùng của Ngô Đức Thịnh thì Việt Bắc là một trong bảy vùng văn hoá của Việt Nam Vùng này gồm có 6 tỉnh phía Bắc: Bắc Kạn, Cao Bằng, Hà Giang, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Tuyên Quang Vùng Việt Bắc vốn nằm trong cương vực của quốc gia Văn Lang Âu Lạc từ ngày lập quốc và đã trở thành "phên dậu" của quốc gia Đại Việt để chống lại âm mưu thôn tính và đồng hoá của phong kiến phương Bắc [258, tr.120] Lên phía Bắc đi trên con đường huyết mạch mới thấy hết vai trò các tộc người miền núi nói chung
và tộc người Tày nói riêng trong việc trấn giữ biên ải ở vùng Ải Bắc vốn trập trùng hoang sơ Chính vì thế, sự kết hợp giữa tộc người Kinh (Việt) với các tộc người miền núi phía Bắc cũng vẫn luôn luôn là sự kết hợp mang tính lịch sử để giữ gìn non sông đất nước
Trang 37về tộc người Tày, tộc người Kinh (Việt) với mối quan hệ giao lưu tiếp biến văn hoá Tày – Việt ở những phương diện sau:
Về mặt lịch sử tộc người, cả hai tộc người Tày, Việt đều có mối liên quan với
cộng đồng Bách Việt Cộng đồng này bao gồm nhiều tộc Việt như Ô Việt ở Chiết
Giang, Mân Việt ở Phúc Kiến, Dương Việt ở Giang Tây và người Tây Âu, Lạc
Việt ở khu vực phía Bắc Việt Nam Về mặt nhân chủng, cả hai tộc người Tày, Việt,
cũng như nhiều cư dân khác trên đất nước Việt Nam đều thuộc loại hình nhân chủng Mongoloid phương Nam Về mặt văn hoá, cùng với các tộc người ở Đông Nam Á, hai tộc người Tày, Việt đã góp phần tạo nên nền tảng văn hoá bản địa đậm chất văn hoá phương Nam ở vùng Đông Nam Á
Trong không gian văn hoá Bách Việt, người Tày cổ và người Việt cổ đều có
chung một cội nguồn văn hoá Trong cuốn Tìm về nguồn gốc văn minh Việt Nam
dưới ánh sáng mới của khoa học, Cung Đình Thanh cho biết: nhà sử học Joseph
Needham đã tóm lược được 25 điểm đặc trưng văn hoá của Bách Việt trong Science
and Civilization in China – Introduction như sau: văn hóa biển và sông nước, kỹ
thuật đóng tàu dài, đặc điểm nhà làng để cho dân tụ tập sinh hoạt, tục đua thuyền, huyền thoại con rồng, thờ phụng loài rắn, tục linh thiêng hoá ngọn núi, đặc thù về giống chó, văn minh trống đồng, thuật dùng nỏ bắn bằng tên, phép làm quần áo bằng vỏ cây, tục xăm mình, đốt rừng làm rẫy, hội về mùa xuân và mùa thu cho trai gái vui chơi để tự do lựa vợ kén chồng, văn minh trồng lúa nước, thuật đào mương dẫn nước, thuật làm nương rẫy, phép thuần hoá trâu để cày, tục thờ cúng ông bà, tục giết heo để cúng bái, tục cầu tự, thuật làm khí giới có chất độc, thuật trồng tre và sử dụng dụng cụ bằng tre, kỹ thuật đúc sắt, kỹ thuật làm sơn mài [241, tr.51]
Trang 3834
Do cùng ở trong một khu vực lịch sử dân tộc, lại sống gần kề nhau nên các cư dân của hai tộc Việt ở phía Bắc Việt Nam là Âu Việt (Tây Âu) và Lạc Việt đã có mối giao hoà từ lâu đời Mối hoà hợp, giao hoà đầu tiên giữa các cư dân Tày cổ và Việt cổ đã được phản ánh khá rõ trong truyền thuyết mang đầy tính huyền thoại về
thời Hồng Bàng Thị qua truyện Lạc Long Quân - Âu Cơ Đỉnh cao của mối giao hoà
Tày – Việt được đánh dấu bằng sự ra đời nhà nước Văn Lang để làm cơ sở cho sự hình thành nhà nước Âu Lạc Nhà nước Âu Lạc đã trở thành biểu tượng minh chứng cho sự hoà nhập hai khối Âu Việt và Lạc Việt
Căn cứ vào các di chỉ khảo cổ học, nhân chủng học, thư tịch lịch sử, dân tộc học và ngôn ngữ học so sánh, đồng thời kết hợp với những khảo sát nghiên cứu các lớp từ địa danh còn lưu lại trong các vùng cư trú của người Kinh (Việt) ở khu vực xung quanh đền Hùng, Cổ Loa và các motif thần thoại chung trong các truyền
thuyết về nguồn gốc của cả hai tộc người Tày, Việt như Lạc Long Quân - Âu Cơ (Kinh - Việt), Quả bầu mẹ (Tày Thái), Nàng Hươu Sao và Chàng Cá (Mường),
chúng ta thấy rằng giữa người Việt cổ và người Tày cổ đã diễn ra sự tiếp xúc lâu đời với mức độ tăng tiến từ cuối thiên niên kỷ thứ nhất trước Công nguyên
Tài liệu khảo cổ học cho biết chúng ta đã tìm thấy các hiện vật như Thạp đồng Đào Thịnh, một hiện vật đồng thau nổi tiếng của văn minh Việt Nam ở điạ phương của người Tày – Hoàng Liên Sơn (nay thuộc Lào Cai và Yên Bái); trống đồng, thành tựu văn minh mang tính biểu tượng của cả cộng đồng dân tộc Việt Nam ở hầu khắp các vùng người Tày (Việt Bắc) Ngoài ra, chúng ta còn tìm được khuôn đúc dao găm ở Cao Bằng, Lạng Sơn , rìu, lưỡi xéo ở Cao Bằng, Tuyên Quang, chiếc đinh ba bằng đồng bốn mũi nhọn, từng mũi có ngạnh , giống như một loại vũ khí có
độ sát thương cao ở Văn Bàn, Lào Cai
Tài liệu dân tộc học còn cho biết thêm tục búi tóc “tằng cấu”, mặc váy, đội mũ lông chim là những đặc trưng văn hoá của một số tộc người, đặc biệt là của nhóm
cư dân Tày Thái cổ Có tài liệu còn ghi rõ: tập tục của dân vùng Lĩnh Nam (vùng các tộc người Tày và Choang hiện nay) thường lấy lông ngỗng làm đệm, làm chăn [252, tr.191] Chăn đệm bằng lông ngỗng vốn là vật hữu dụng được dùng trong đời
Trang 3935
sống của người Tày, đã trở thành biểu tượng áo lông ngỗng trong truyện kể Mỵ
Châu Trọng Thuỷ của người Kinh (Việt) Điều đó chuyển tải khá rõ sự tiếp biến văn
hoá tộc người Hơn nữa, người Tày – Thái cũng như người Việt – Mường đã cùng góp phần tạo nên nền văn hoá nông nghiệp lúa nước với những quá trình canh tác chịu ảnh hưởng qua lại lẫn nhau Đặc biệt là, “các tộc người thuộc nhóm ngôn ngữ Tày – Thái không chỉ là người định cư sớm cùng với người Việt khai hoang mở cõi, dẫn mạch, khơi nguồn, tạo nên văn hoá Đông Sơn, nhà nước Văn Lang - Âu Lạc,
mà còn góp phần tạo nên chính tộc người Việt với các nền văn hoá văn minh Việt
cổ, cùng với người Việt giữ vai trò trụ cột của dòng chảy chủ đạo của lịch sử đất nước”[207, tr.11] Sự tiếp xúc thường xuyên tự nhiên trong các hoạt động văn hoá của hai tộc người Tày – Việt đã tạo nên lực hấp dẫn để tiến tới một sự giao thoa văn hoá, tiếp nhận những ảnh hưởng văn hoá từ hai phía Trong lịch sử của mối giao lưu Tày- Việt, chúng tôi nhận thấy có hai thời điểm có tính xác định thể hiện rõ nhất sự tiếp biến văn hoá của hai tộc người Đó là thời hình thành nhà nước Âu Lạc với vai trò thủ lĩnh của Thục Phán An Dương Vương Sau đó, là thời kỳ liên minh toàn diện ngót một thế kỷ của vương triều nhà Mạc để tồn tại ở Cao Bằng
Nếu như tên gọi Tày thổ dân dùng để chỉ người Tày bản điạ thì tên gọi Tày lưu
quan lại gắn liền với sự kiện lịch sử kéo dài khởi đầu từ thời Đại Việt, Lý - Trần
phát triển mạnh vào thời Lê Nguyễn, khi triều đình áp dụng chính sách “cải thổ quy lưu” - đưa các quan lại người Kinh từ kinh đô lên trực tiếp nắm quyền cai trị vùng miền núi Đặc biệt là việc nhà Mạc lên đóng đô ở Cao Bằng vào thế kỷ XVI đã đem lại cho mối quan hệ giao thoa Tày – Việt một sự đột biến có ý nghĩa để phát triển văn hoá, văn minh Tày trong đó có ngôn ngữ và chữ viết Vương triều nhà Mạc ở Cao Bằng đã tạo nên một nền học vấn với ảnh hưởng của Hán học cho các trí thức người Tày Có ý kiến cho rằng do tộc người Tày cư trú gần Trung Quốc hơn, ít nhất cực gần về huyết thống với Choang (Quảng Tây), thậm chí có nhiều người còn coi Tày là một bộ phận Choang Việt hoá, nên dẫn đến có thể có hai ngả đường văn hoá Hán vào Tày Theo chúng tôi, về cơ bản văn hoá Hán, văn minh Hán, văn tự Hán đã được khúc xạ qua người Kinh (Việt) để đến với người Tày khi xã hội Tày đã tương
Trang 4036
đối phát triển Trong nhiều truyện Nôm của người Tày có nhiều từ Hán Việt đã
được sử dụng Trong truyện Nhân Lăng của người Tày có nhắc đến hai nhân vật
Tống Trân, Cúc Hoa của người Kinh (Việt) [228, tr.59] Theo Trần Quốc Vượng,
âm nhạc cung đình đã theo chân các ca công, nhạc công của triều đình nhà Mạc tản
mác vào dân và được Tày hoá sau khi nhà Mạc mất ngôi để hoá thành các bài Bụt, bài Giàng của các mo, then Tày [304, tr.23] Còn Trần Nho Thìn lại đưa ra giả thiết,
có lẽ thể thơ song thất lục bát là kết quả hội nhập của thơ lục bát người Việt với thể thơ bảy chữ vần lưng của người Tày khi các nho sĩ người Kinh (Việt) theo nhà Mạc chạy lên vùng Cao Bằng, nơi cư trú của người Tày [256, tr.12]
Bên cạnh đó sự hoàn thiện chữ Nôm Tày cũng là một kết quả của quá trình giao lưu, tiếp biến văn hoá Tày – Việt Đương nhiên, chữ Nôm Tày xuất hiện là một nhu cầu khách quan, tất yếu và dựa trên cơ sở chữ Hán Việt Khi nghiên cứu chữ Nôm Tày, Hoàng Triều Ân cho biết ông đã cùng chuyên gia chữ Nôm Tày Lục Văn Pảo khảo cứu được 59 tác phẩm truyện Nôm Tày khuyết danh Theo ông, truyện viết bằng chữ Nôm Tày đã có từ rất lâu, ít nhất là trước khi nhà Mạc lên Cao Bằng lập
phiên triều thế kỷ XVI – XVII Trải qua sửa chữa, tu chỉnh của nhiều người, đến
thời nhà Mạc ở Cao Bằng chữ Nôm Tày mới được ổn định, hoàn chỉnh [228, tr.861
– 863] Tác giả Cung Văn Lược trong Văn bản và văn tự Nôm Tày Nùng Cao Bằng
– thành tựu văn hoá dân tộc trong lịch sử cũng cho biết: xét về phương diện cấu tạo
thì toàn bộ chữ Nôm Tày Nùng được vay mượn từ hai nguồn: vay mượn từ văn bản Hán hay văn bản Hán – Việt, và vay mượn từ văn bản Nôm Việt [194, tr.78] Điều này cũng đã được phản ánh trong nhận định của Hoàng Triều Ân: chữ Nôm Tày, trước hết “phải là sự sáng tạo của bản thân tộc Tày (trong nhóm ngữ hệ Tày – Thái) sau nữa còn có ảnh hưởng của văn tự cổ Nôm Choang bên Trung Quốc (thường gọi
là tục tự Choang cổ) và văn tự Nôm Việt.” [206, tr.868] Bế Viết Đẳng cũng cho biết thêm: “người Tày và người Choang, Nam Trung Quốc, trước đây vẫn có những quan hệ qua lại với nhau, một bộ phận người Tày có thể đã tiếp thu qua người Choang, chữ Choang Hán” [206, tr.869]