Trên cơ sở đó, tác giả lựa chọn đề tài: “Cưỡng bức tình dục trong hôn nhân - Nghiên cứu trường hợp tại xã Gia Vượng, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình và phường Tứ Liên, Quận Tây Hồ, Hà Nộ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ KIM DUNG
Cưỡng bức tình dục trong hôn nhân - Nghiên cứu trường hợp tại xã Gia Vượng, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình và phường Tứ Liên, Quận Tây Hồ, Hà Nội
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ……… 5
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI ……….5
2 Ý NGHĨA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI………7
2.1 Ý nghĩa lý luận……….7
2.2 Ý nghĩa thực tiễn ……… …7
3. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU……… 7
4 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU……… …7
5 ĐỐI TƯỢNG, KHÁCH THỂ, PHẠM VI, MẪU NGHIÊN CỨU… 8
5.1 Đối tượng nghiên cứu……… 8
5.2 Khách thể nghiên cứu 8
5.3 Phạm vi nghiên cứu 8
5.4 Mẫu nghiên cứu 8
6 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 8
6.1 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi 8
6.2 Phương pháp thảo luận nhóm tập trung……….10
6.3 Phương pháp phỏng vấn sâu 11
6.4 Phương pháp phân tích tài liệu 12
6.5 Phương pháp quan sát 12
7 NHỮNG KHÓ KHĂN GẶP PHẢI CÓ THỂ LÀM HẠN CHẾ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 12
7.1 Sự né tránh bàn đề chủ đề cưỡng bức tình dục trong hôn nhân 12
7.2 Hạn chế về lực lượng nghiên cứu 13
8 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU VÀ GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU……14
Trang 31 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 15
2 PHƯƠNG PHÁP LUẬN……… 157 3 CƠ SỞ LÝ LUẬN……….19
3.1 Các khái niệm được sử dụng trong luận văn 19
3.2 Những lý thuyết được sử dụng trong luận văn 22
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CƯỠNG BỨC TÌNH DỤC TRONG HÔN NHÂN 29
1 VÀI NÉT VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 29
1.1 Lý do lựa chọn địa bàn nghiên cứu 29
1.2 Đặc điểm của địa bàn nghiên cứu 30
2 THỰC TRẠNG CƯỠNG ÉP TÌNH DỤC TRONG HÔN NHÂN 33
2.1. Mức độ cưỡng bức tình dục trong hôn nhân 33
2.2. Tâm trạng và quan niệm của người trong cuộc – những phụ nữ đã từng bị cưỡng bức tình dục 37
2.3 Quan điểm của Nam giới về cưỡng bức tình dục trong hôn nhân 45
2.4 Quan điểm và thái độ của chính quyền địa phương 52
2.5 Mối liên hệ giữa cưỡng bức tình dục trong hôn nhân và các hình thức bạo lực gia đình đối với phụ nữ 58
3 NGUYÊN NHÂN CỦA CƯỠNG BỨC TÌNH DỤC TRONG HÔN NHÂN 57
3.1 Các nguyên nhân từ nam giới 58
3.2 Các nguyên nhân từ gia đình 64
3.3 Các nguyên nhân từ cộng đồng 67
3.4 Xã hội 69
4 HẬU QUẢ CỦA CƯỠNG BỨC TÌNH DỤC TRONG HÔN NHÂN 80
4.1 Đối với người bị cưỡng bức 77
Trang 44.2 Đối với người cưỡng bức 83
4.3 Đối với gia đình 85
4.4 Đối với xã hội 88
KẾT LUẬN – KHUYẾN NGHỊ……… 89
1 KẾT LUẬN………89
2 KHUYẾN NGHỊ……… 90
2.1 Về cách tiếp cận lồng ghép 90
2.2 Về việc nâng cao nhận thức 90
2.3 Về luật pháp 91
2.4 Về hoạt động tập huấn 91
TÀI LIỆU THAM KHẢO………92
PHỤ LỤC……… 96
Trang 5MỞ ĐẦU
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
“Bạo lực chống lại phụ nữ là biểu hiện của các quan hệ quyền lực không bình đẳng về mặt lịch sử giữa nam giới và nữ giới, điều đó dẫn tới sự thống trị và phân biệt dối xử của nam giới đối với phụ nữ và ngăn cản sự tiến
bộ mọi mặt của phụ nữ” (United Nations 1995)
Trước năm 1993, phần lớn các Chính phủ coi bạo lực chống lại phụ nữ chủ yếu là vấn đề riêng tư giữa các cá nhân (United Nations 1996) Tuy nhiên trong những thập kỷ gần đây, xóa bỏ tình trạng phân biệt đối xử đối với phụ
nữ đã trở thành một trong những nội dung quan trọng của cuộc đấu tranh vì quyền con người của phụ nữ Phụ nữ có quyền bình đẳng với nam giới trên tất cả các lĩnh vực là nội dung được ghi nhận trong hệ thống pháp luật quốc tế
và hệ thống pháp luật của nhiều quốc gia trên thế giới
Bạo lực gia đình đối với phụ nữ là một trong những hình thức của bạo lực chống lại phụ nữ Các nghiên cứu trên thế giới đã cho thấy bạo lực gia đình là một hiện tượng có tính chất toàn cầu và hiện đang tác động đến
khoảng 20-50% toàn bộ phụ nữ trên thế giới “Phần lớn bạo lực chống lại
phụ nữ xảy ra trong gia đình và người gây ra bạo lực gần như luôn luôn là đàn ông” (WHO 1998) Bạo lực gia đình ngày càng được nhìn nhận như
“một trở ngại đối với sự bình đẳng và là sự vi phạm không thể chấp nhận được đối với nhân phẩm con người” 1
Việt Nam là một trong những quốc gia đầu tiên ký Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử đối với phụ nữ của Liên Hiệp Quốc
1
Vũ Mạnh Lợi và cộng sự: “Việt Nam- Bạo lực trên cơ sở giới” Hà nội, 11/1999, trang
Trang 6(CEDAW) và Chương trình hành động Bắc Kinh Điều này cho thấy chính phủ Việt Nam đã nhận thức được tầm quan trọng của việc xóa bỏ nạn bạo lực chống lại phụ nữ nói chung và bạo lực gia đình đối với phụ nữ nói riêng đối với sự phát triển của phụ nữ, đối với mục tiêu bình đẳng giới
Ở Việt Nam, trong những năm gần đây, bạo lực gia đình đã được đề cập đến trên các phương tiện truyền thông đại chúng, nhiều nghiên cứu về bạo lực gia đình được thực hiện, các mô hình phòng chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ được áp dụng ở các địa phương
Tuy nhiên, trong 3 hình thức bạo lực gia đình được đề cập đến là: bạo lực thể chất, bạo lực tình thần và bạo lực tình dục thì hình thức bạo lực tình
dục dường như ít được “quan tâm” hơn cả bởi tính chất nhạy cảm của nó
Trong nền văn hóa Việt Nam, tình dục là vấn đề ít được các cặp vợ chồng thảo luận một cách cởi mở Những nghiên cứu hiện nay về phụ nữ Việt Nam cho thấy người phụ nữ thường được mô tả là tương đối “thụ động” trong quan hệ tình dục Họ có vẻ chấp nhận và chịu đựng trong quan hệ tình dục với chồng hơn là tham gia một cách chủ động trong quan hệ này Do vậy, cưỡng bức tình dục trong hôn nhân thường khó được nhận biết bởi nó bị che lấp bởi những chuẩn mực đạo đức, những quan niệm về đức hạnh của phụ nữ Cưỡng bức tình dục không chỉ gây ra những tổn thương về mặt thể xác mà còn gây ra những hậu quả về tinh thần đối với người phụ nữ cũng như ảnh hưởng tới hạnh phúc gia đình
Trên cơ sở đó, tác giả lựa chọn đề tài: “Cưỡng bức tình dục trong hôn
nhân - Nghiên cứu trường hợp tại xã Gia Vượng, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình và phường Tứ Liên, Quận Tây Hồ, Hà Nội” làm đề tài luận văn
nhằm tìm hiểu thực trạng của vấn đề cưỡng bức tình dục trong hôn nhân tại nông thôn và đô thị Việt Nam, nguyên nhân của vấn đề này cũng như những hậu quả đối với người phụ nữ và cuộc sống gia đình
Trang 72 Ý NGHĨA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
2.2 Ý nghĩa thực tiễn
Cưỡng bức tình dục trong hôn nhân là một vấn đề có tính “nhạy cảm” nhất là trong một xã hội mà các chuẩn mực, giá trị vẫn chịu ảnh hưởng của quan niệm Nho giáo Nghiên cứu góp phần đưa ra một bức tranh rõ nét về thực trạng về hiện tượng cưỡng bức tình dục trong hôn nhân-một biểu hiện của sự vi phạm quyền con người Kết quả nghiên cứu góp phần lý giải mức
độ phổ biến, các hình thức của cưỡng bức tình dục trong hôn nhân; nguyên nhân dẫn đến cưỡng bức tình dục và hậu quả Từ đó, nghiên cứu đưa ra một
số kết luận và khuyến nghị làm cơ sở cho các tổ chức xã hội có cùng mối quan tâm cũng như đưa ra một vài khuyến nghị có tính khả thi
4 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
4.1 Tìm hiểu quan niệm và hành vi tình dục của nam giới và phụ nữ trong gia đình
4.2 Tìm hiểu và phân tích mối liên hệ giữa cưỡng bức tình dục trong hôn nhân và các hành vi bạo lực gia đình khác
4.3 Tìm hiểu và phân tích các nguyên nhân và hậu quả của vấn đề cưỡng bức tình dục trong hôn nhân
Trang 84.4 Tìm hiểu kiến thức và hành vi của lãnh đạo chính quyền đối với vấn đề cưỡng bức tình dục trong hôn nhân
4.5 Đưa ra kết luận và đề xuất một số khuyến nghị, giải pháp nhằm giải quyết vấn đề cưỡng bức tình dục trong hôn nhân
5 ĐỐI TƯỢNG, KHÁCH THỂ, PHẠM VI, MẪU NGHIÊN CỨU
5.1 Đối tượng nghiên cứu: Cưỡng bức tình dục trong hôn nhân
5.2 Khách thể nghiên cứu
- Phụ nữ và nam giới đã có gia đình trong độ tuổi từ 20-55
- Nạn nhân và thủ phạm của bạo lực gia đình chống lại phụ nữ
5.4 Mẫu nghiên cứu
- 400 bảng hỏi
- 6 thảo luận nhóm với người dân, cán bộ chính quyền đoàn thể
- 26 phỏng vấn sâu với nam giới gây bạo lực gia đình, phụ nữ là nạn nhân và nhóm cán bộ chính quyền đoàn thể
6 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu đã sử dụng kết hợp các phương pháp định tính và định lượng để thu thập thông tin Các phương pháp cụ thể bao gồm:
6.1 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
Nhằm tìm hiểu mức độ phổ biến và nhận thức của nam giới và phụ nữ
Trang 9viên dân số cung cấp, chúng tôi lựa chọn các gia đình có các cặp vợ chồng trong độ tuổi cần thu thập Sau đó, số hộ gia đình được chia đều cho số mẫu cần lấy Khi đã xác định được khoảng cách mẫu, chúng tôi tiếp tục lựa chọn ngẫu nhiên có chủ đích dựa trên danh sách sao cho số nam giới và số phụ nữ được mời trả lời là bằng nhau và không có cặp vợ chồng nào cùng được hỏi Kết quả thu được 396 bảng hỏi (200 bảng tại Hà Nội và 196 bảng tại Ninh Bình) với các đặc điểm cụ thể như sau:
Số con trong gia đình
Số con trong gia đình Số người (tỷ lệ)
Trang 10- Nghề khác: 8 (làm việc tại công ty tư nhân) (2%)
6.2 Phương pháp thảo luận nhóm tập trung
6 cuộc thảo luận nhóm tập trung đã thực hiện tại 2 địa bàn nghiên cứu với 1) nhóm người dân ở các địa phương, đó là nam giới và phụ nữ đã có gia đình (2 nhóm nam và 2 nhóm nữ); 2) Nhóm lãnh đạo xã/phường và các ban ngành đoàn thể tại địa phương
Trang 11Địa điểm chủ yếu để tiến hành các thảo luận nhóm tập trung là tại hội trường UBND xã/phường
6.3 Phương pháp phỏng vấn sâu
Mục tiêu chung của phương pháp phỏng vấn sâu nhằm giúp người nghiên cứu hiểu sâu, hiểu kỹ về vấn đề cưỡng bức tình dục trong hôn nhân Phương pháp phỏng vấn sâu bán cấu trúc được sử dụng trong toàn bộ cuộc nghiên cứu Các bảng hướng dẫn phỏng vấn sâu được xây dựng chi tiết cho từng đối tượng để đảm bảo thu được thông tin đầy đủ phục vụ cho nghiên cứu Người phỏng vấn tự do hoàn toàn trong cách dẫn dắt cuộc phỏng vấn, đặt trình tự các câu hỏi và cách thức đặt câu hỏi nhằm thu thập được thông tin mong muốn Trong quá trình phỏng vấn, cá nhân nào am hiểu về vấn đề nào trong nghiên cứu, thì điều tra viên tập trung hỏi sâu cá nhân này về vấn đề đó Việc chọn người để phỏng vấn có chủ định, đó là những người có liên quan đến mục tiêu nghiên cứu Cụ thể trong nghiên cứu này chúng tôi đã tiến hành
26 phỏng vấn sâu với:
- 2 Chủ tịch Hội Phụ nữ xã/phường
- 2 đại diện lãnh đạo UBND
- 2 nhân viên y tế
- 10 phụ nữ có gia đình đã từng bị bạo lực gia đình
- 10 nam giới đã có gia đình và từng có hành vi bạo lực gia đình
Do tính chất “nhạy cảm” của chủ đề nên việc lựa chọn phụ nữ là nạn nhân của bạo lực gia đình và nam giới là thủ phạm rất khó khăn Đầu tiên chúng tôi lựa chọn dựa trên danh sách do Hội phụ nữ cung cấp Do đó hầu hết các trường hợp được xác định đều là bạo lực thể xác trong gia đình Tiếp
đó chúng tôi sử dụng phương pháp quả bóng tuyết để tiếp tục lựa chọn thêm những người được phỏng vấn Tức là khi phỏng vấn một nạn nhân của bạo lực gia đình, chúng tôi hỏi họ về những trường hợp giống như họ và họ sẽ giới thiệu cho chúng tôi trường hợp đó Mặt khác, hai nghiên cứu viên nam
Trang 12có kinh nghiệm cũng được mời cộng tác để phỏng vấn và điều hành các thảo luận với nhóm nam giới
6.4 Phương pháp phân tích tài liệu
Nhằm thu thập các thông tin liên quan đến chủ đề nghiên cứu, ngay từ khi bắt đầu xây dựng đề cương nghiên cứu đến trước khi viết báo cáo chúng tôi đã tiến hành thu thập các tài liệu có liên quan Các tài liệu đó bao gồm:
- Các công trình nghiên cứu, tạp chí, kỷ yếu hội thảo của một số tổ chức làm việc về vấn đề bạo lực trong gia đình và bạo lực tình dục, sức khoẻ tình dục…
- Các bài viết, số liệu, công trình nghiên cứu được đăng trên các tạp chí Khoa học như tạp chí Xã hội học, tạp chí Cộng sản, báo Gia đình Xã hội… và các website trong nước và quốc tế trên mạng Internet
- Các báo cáo của địa bàn nghiên cứu có liên quan đến chủ đề nghiên cứu
6.5 Phương pháp quan sát
Phương pháp quan sát cũng được sử dụng trong suốt quá trình nghiên cứu để nhằm hiểu rõ hơn các thông tin qua thái độ, cử chỉ, hành vi cũng như môi trường và hoàn cảnh của người cung cấp thông tin
7 NHỮNG KHÓ KHĂN GẶP PHẢI CÓ THỂ LÀM HẠN CHẾ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
7.1 Sự né tránh bàn đề chủ đề cưỡng bức tình dục trong hôn nhân
Cưỡng bức tình dục trong hôn nhân là một chủ đề nhạy cảm và khó khăn trong việc thu thập thông tin, trong quá trình tiến hành nghiên cứu, chúng tôi gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp cận với các khách thể nghiên cứu để lấy thông tin Câu trả lời khẳng định ban đầu rất phổ biến mà chúng tôi thu được thường là không có một trường hợp cưỡng bức tình dục trong hôn nhân Các đại diện lãnh đạo UBND nơi chúng tôi tiến hành thu thập
Trang 13đó Và khi chúng tôi dẫn chứng một số trường hợp thì họ đã từ chối trả lời và chuyển trách nhiệm đó cho các ban ngành khác
Để thu thập được thông tin, chúng tôi đã không thể nói rõ mục tiêu nghiên cứu với những người cung cấp thông tin vì khi tiến hành nghiên cứu thử chúng tôi đã thất bại khi thu thập thông tin và vấp phải sự phản ứng mạnh mẽ đối với chủ đề được coi là nhạy cảm này Chúng tôi đã phải khéo léo nói rằng nghiên cứu của chúng tôi nhằm tìm hiểu thực trạng về sức khoẻ tình dục, tuy nhiên các nội dung và đối tượng thu thập thông tin vẫn được đảm bảo như trong đề cương nghiên cứu đã đề ra Trước sự không hợp tác từ phía lãnh đạo địa phương, chúng tôi đã cộng tác với các cán bộ dân số và cán
bộ Hội Phụ nữ tại các địa phương này
Khi tiến hành nghiên cứu thử các phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm, chúng tôi cũng thấy rằng cụm từ “cưỡng bức tình dục trong hôn nhân” đã gây
ra sự khó chịu ở nhóm nam giới tham gia cung cấp thông tin, do đó họ không
có tâm lý muốn trả lời hoặc thảo luận những vấn đề liên quan Và để khắc phục khó khăn này chúng tôi đã phải sửa cụm từ “cưỡng bức tình dục trong hôn nhân” thành “quan hệ tình dục không mong muốn trong hôn nhân” Những nam giới tham gia phỏng vấn được giải thích rằng quan hệ tình dục không mong muốn trong hôn nhân là việc một người vẫn quan hệ tình dục với vợ khi đã nhận thấy vợ không mong muốn việc quan hệ đó Việc sửa đổi tên gọi đã cho kết quả là nam giới đã cộng tác với nhà nghiên cứu một cách tích cực và cởi mở hơn trước đó Tuy nhiên đối với một số trường hợp, khi chúng tôi nhận thấy nam giới rất cởi mở, thì chúng tôi vẫn sử dụng cụm từ
“cưỡng bức tình dục trong hôn nhân”
7.2 Hạn chế về lực lượng nghiên cứu
Ban đầu, tác giả đã mời hai nghiên cứu viên nữ cùng tham gia nghiên cứu, tuy nhiên trong nghiên cứu thử, chúng tôi đã gặp khó khăn khi lấy thông tin từ nam giới bởi sự khác biệt về giới tính và sự khó khăn khi bàn luận chủ
đề tình dục giữa những người khác giới Do đó khi tiến hành nghiên cứu, hai nghiên cứu viên nam có kỹ năng về thu thập thông tin và kinh nghiệm nghiên
Trang 14cứu trên lĩnh vực này đã được mời tham gia hướng dẫn thảo luận và phỏng vấn với nhóm nam giới và một nghiên cứu viên nữ cùng với tác giả phỏng vấn nhóm phụ nữ
Trong suốt quá trình thu thập thông tin, chúng tôi đã gặp một số trường hợp mà người nói không cho ghi âm, không cho ghi chép, không cho hỏi lại thông tin nếu chúng tôi không kịp nghe hoặc nhớ Tuy nhiên vì nhóm nghiên cứu bao giờ cũng gồm ít nhất hai người nên chúng tôi đã duy trì được các cuộc “cùng nhớ lại” và ghi chép tương đối kết quả Những thông tin này là một bổ sung quý giá cho nhiều trường hợp không dùng được máy ghi âm Nó được chính xác hóa nhờ sự kết hợp thảo luận giữa những người trong nhóm phỏng vấn
8 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU VÀ GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU
Khi bắt đầu tiến hành nghiên cứu, tác giả đã đặt ra các câu hỏi nghiên cứu:
- Cưỡng bức tình dục trong hôn nhân có phải là một hiện tượng phổ biến không? Có sự khác biệt gì giữa nông thôn và thành phố?
- Nguyên nhân của hiện tượng cưỡng bức tình dục trong hôn nhân là gì? Và những hậu quả của nó ra sao?
Từ những câu hỏi nghiên cứu trên, tác giả đã đi đến các giả thuyết nghiên cứu sau:
8.1 Cưỡng bức tình dục trong hôn nhân xảy ra phổ biến tại các gia đình ở nông thôn và đô thị
8.2 Cưỡng bức tình dục có mối liên hệ với các hành vi bạo lực bạo lực gia đình đối với phụ nữ
8.3 Nguyên nhân của cưỡng bức tình dục là sự bất bình đẳng giới trong gia đình, các định kiến giới liên quan đến vấn đề tình dục trong hôn nhân và sự khác nhau trong quan điểm về tình dục giữa vợ và chồng
8.4 Cưỡng bức tình dục trong hôn nhân ảnh hưởng đến sức khỏe của
Trang 159 KHUNG LÝ THUYẾT NGHIÊN CỨU
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Theo Tổ Chức Y Tế Thế Giới (WHO-1997), bạo lực tình dục được nhận thấy như một vấn đề ưu tiên trong các vấn đề sức khỏe cộng đồng và nhân quyền bởi vì vấn đề này tồn tại ở nhiều nước trên thế giới và gây ảnh hưởng lớn đến sức khỏe của người phụ nữ Cưỡng bức tình dục trong hôn nhân là một hình thức bạo lực đối với phụ nữ, nó không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe về mặt thể chất mà cả về mặt tinh thần Do vậy, trên thế giới đã có rất nhiều bài viết khoa học đề cập đến vấn đề này
Bài báo “Bạo hành tình dục với phụ nữ: một vấn đề toàn cầu” (1999), tác giả Randall đã nhấn mạnh rằng bạo lực tình dục nằm ở cốt lõi của mối
Bối cảnh kinh tế-xã hội
Bất bình đẳng giới trong gia đình
Các định kiến giới liên quan đến vấn đềtình dục trong hôn nhân
Cưỡng bức tình dục trong hôn nhân
Các hành vi bạo lực gia đình đối với phụ nữ
Sự khác nhau về quan
điểm, kiến thức tình
dục giữa vợ và chồng
Trang 16quan hệ không bình đẳng giữa nam với nữ và nó ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe sinh sản và sức khỏe tình dục của người phụ nữ Bài báo cũng chỉ ra rằng các định kiến giới và sự thống trị quyền lực của nam giới đã nuôi dưỡng
và làm trầm trọng hơn tình trạng cưỡng bức tình dục trong hôn nhân2
Bài báo “Cưỡng bức tình dục” trong “Báo cáo dân số” của Tổ Chức Y
Tế Thế Giới về chủ đề bạo lực chống lại phụ nữ số 4 năm 1999 cho biết kết quả của một nghiên cứu định lượng về nguy cơ lây nhiễm HIV của phụ nữ ở
15 quốc gia cho thấy nhiều phụ nữ là nạn nhân của sự cưỡng ép tình dục trong hôn nhân Thậm chí nhiều người trong số họ đã bị chồng đánh đập để
ép quan hệ tình dục3
Ở Việt Nam, vấn đề bạo lực gia đình mới được nghiên cứu trong khoảng 10 năm trở lại đây Tuy nhiên vẫn chưa có những nghiên cứu ở diện rộng, đặc biệt thiếu vắng những nghiên cứu riêng biệt về bạo lực tình dục trong gia đình
Năm 1997, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam tiến hành một nghiên cứu
về bạo lực gia đình Trong nghiên cứu này, các nhà nghiên cứu sử dụng các
số liệu thứ cấp lấy từ báo chí và các cơ quan khác nhau tại ba tỉnh: Hà Nội,
Hà Tây và Thái Bình làm cơ sở phân tích Nghiên cứu này đã chỉ ra được rằng bạo lực gia đình tỏ ra khá phổ biến, tuy nhiên nghiên cứu chưa cung cấp được những thông tin toàn diện về bạo lực gia đình cũng như bạo lực tình dục trong gia đình
Năm 1998, Lê Thị Phương Mai (Hội đồng Dân số) đã thực hiện một nghiên cứu về bạo lực và hậu quả của nó đối với sức khỏe sinh sản Nghiên cứu này đã đề cập đến vấn đề cưỡng bức tình dục trong hôn nhân như là một biểu hiện của bạo lực gia đình Mặc dù vậy, các khái niệm cũng như cảm nhận về cưỡng bức tình dục trong gia đình của cả hai giới không được đề cập đến
Trang 17Trong nghiên cứu “Bạo lực trên cơ sở giới ở Việt Nam” do Ngân hàng Thế giới và các nhà nghiên cứu của Viện Xã hội học thực hiện năm 1999, khía cạnh bạo lực tình dục trong gia đình đã được đề cập đến qua các phần về các hình thức biểu hiện của các ngược đãi liên quan đến tình dục và vấn đề cưỡng bức làm tình Mặc dù vậy, những nội dung này chỉ chiếm một phần rất nhỏ trong nghiên cứu và các nhà nghiên cứu vẫn chưa chỉ rõ được quan niệm
và hành vi tình dục của nam giới, từ đó có cái nhìn toàn diện về vấn đề này
Năm 2002, nghiên cứu về “Sự im lặng của phụ nữ và sự hòa thuận trong gia đình: Thái độ và hành vi tình dục của phụ nữ nông thôn có gia đình” của Vũ Song Hà-(Công ty tư vấn Đầu tư Y tế) đã phát hiện ra rằng hầu hết phụ nữ nghĩ rằng họ không có quyền từ chối đòi hỏi tình dục của chồng mình Cho dù không có hứng thú hoặc nhu cầu thì họ vẫn chiều theo ý chồng
để giữ gìn sự hòa thuận trong gia đình Nghiên cứu đã không xem xét các quan niệm và hành vi tình dục của nam giới để biết được rằng nam giới nghĩ
gì và cảm thấy như thế nào khi họ nhận ra vợ mình đang phải chịu đựng khi quan hệ với chồng, đây chính là điểm then chốt để khám phá quá trình hình thành và sự tồn tại của cưỡng bức tình dục trong hôn nhân
Năm 2003, nghiên cứu của Phan Thị Thu Hiền về cưỡng bức tình dục trong hôn nhân tại một vùng nông thôn của Quảng Trị đã cho thấy một bức tranh tương đối rõ ràng về thực trạng của vấn đề này Nghiên cứu đã chỉ ra rằng bất bình đẳng giới là nguyên nhân gốc rễ của bạo lực và cưỡng bức tình dục trong hôn nhân Những nguyên nhân của vấn đề này được tìm hiểu bao gồm: 1) các quan niệm văn hoá về nam tính và nữ tính đã ảnh hưởng đến mối quan hệ quyền lực trong gia đình cũng như quan hệ tình dục giữa vợ và chồng; 2) Sự hạn chế kiến thức về tình dục và sự thiếu cởi mở trong trao đổi
về tình dục giữa vợ và chồng Các hậu quả của vấn đề cưỡng bức tình dục đối với vợ, chồng cũng được đề cập đến trong nghiên cứu Tuy nhiên nghiên cứu được tập trung nhìn nhận dưới góc độ y tế nhiều hơn là góc độ xã hội và địa bàn nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở một vùng nông thôn
Trang 18Năm 2006, nghiên cứu về Gia đình Việt Nam tại 6 tỉnh thành phố của Việt Nam do Trung tâm Nghiên cứu Giới, Gia đình và Môi trường trong phát triển phối hợp với Uỷ ban các Vấn đề xã hội của Quốc hội cũng đã cho thấy hiện tượng cưỡng bức tình dục có xảy ra trong gia đình Có tới gần 30% số người được hỏi cho rằng trong cuộc sống vợ chồng có xảy ra chuyện “một trong hai người không muốn mà vẫn phải chiều người kia” Nghiên cứu đã chỉ ra mực độ bạo lực tình dục trong gia đình, thực trạng về nhận thức của cộng đồng đối với vấn đề này cũng như thái độ của vợ khi chồng có bạo lực tình dục Kết quả nghiên cứu này cho thấy phần nào bức tranh về hiện tượng cưỡng bức tình dục trong hôn nhân xét từ quan điểm của các nhà xã hội học Tuy nhiên do đây là một nghiên cứu tổng hợp nên chưa các vấn đề lý giải một cách cụ thể
Ngoài các nghiên cứu trên, còn có nhiều bài viết về vấn đề cưỡng bức tình dục trong hôn nhân cũng đã được đề cập trên các tạp chí chuyên ngành (như tạp chí Xã hội học, Tạp chí Luật…), các báo cũng như trên mạng Internet Tuy nhiên những bài viết này phần lớn chỉ mang tính chất mô tả thực trạng và chưa phân tích chi tiết về nguyên nhân gốc rễ cũng như đưa ra được những giải pháp cụ thể
Chủ nghĩa duy vật lịch sử nhìn các hiện tượng xã hội trong một quá trình: mọi hiện tượng trong xã hội không tồn tại một cách bất biến mà luôn
Trang 19cứu một hiện tượng, vấn đề xã hội nào thì cần xem xét nó trong một quá trình
và đặt nó trong một giai đoạn lịch sử nhất định
3 CƠ SỞ LÝ LUẬN
3.1 Các khái niệm được sử dụng trong luận văn
Gia đình
Theo điều 8 luật “Hôn nhân và gia đình” của Quốc hội nước cộng hoà
xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá X (kỳ họp thứ 7, ngày 09/06/2000) thì: “Gia
đình là tập hợp những người gắn bó với nhau do hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc do quan hệ nuôi dưỡng, làm phát sinh các nghĩa vụ và quyền giữa họ với nhau”
Các nhà xã hội học đưa ra nhiều định nghĩa khác nhau về gia đình,
nhưng định nghĩa sau đây được sử dụng trong luận văn: “Gia đình là một
nhóm xã hội hình thành trên cơ sở các quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc nuôi dưỡng tuy không có quan hệ máu mủ Các thành viên trong gia đình gắn bó với nhau về trách nhiệm và quyền lợi (kinh tế, văn hoá, tình cảm ) Giữa họ có những ràng buộc có tính pháp lý được nhà nước thừa nhận và bảo vệ, đồng thời có những quy định rõ ràng về quyền được phép và những cấm đoán trong quan hệ tình dục giữa các thành viên gia đình”4
Bạo lực chống lại phụ nữ
Định nghĩa về bạo lực chống lại phụ nữ được chúng tôi sử dụng là định nghĩa đang được sử dụng rất rộng rãi trên thế giới do Đại hội đồng Liên hiệp
quốc thông qua năm 1993, theo đó “ Bất kỳ một hành động bạo lực dựa trên
cơ sở giới nào dẫn đến hoặc có khả năng dẫn đến những tổn hại về thân thể, tình dục hay tâm lý hay những đau khổ của người phụ nữ, bao gồm cả sự đe dọa có những hành động như vậy, sự cưõng bức hoặc sự tước đoạt tự do một cách tùy tiện, dù nó xảy ra ở nơi cộng cộng hay trong cuộc sống riêng tư”
(Liên Hiệp Quốc, 1993)
Bạo lực gia đình
4Chung Á- Nguyễn Đình Tấn, “Nghiên cứu xã hội học” Nhà xuất bản Chính trị Quốc
Trang 20Bạo lực gia đình là các hành vi bạo lực xảy ra trong phạm vi gia đình,
đó là sự xâm phạm và ngược đãi về thân thể, tinh thần hay tình cảm giữa các thành viên trong gia đình Bạo lực gia đình là sự lạm dụng quyền lực, một hành động sử dụng vũ lực nhằm hăm doạ hoặc đánh đập một người thân trong gia đình để điều khiển hay kiểm soát người đó5
Bạo lực gia đình chống lại phụ nữ
Hình thức phổ biến nhất của sự ngược đãi phụ nữ trên thế giới là “bạo
lực gia đình” hay là sự ngược đãi về thân thể, tinh thần và /hoặc về tình dục
đối với người phụ nữ gây ra bởi những người bạn tình hay đàn ông thân thiết của họ (Heise, 1994)
Theo nhận định của Tổ chức Y tế Thế giới năm 1998: “ Phần lớn bạo lực chống lại phụ nữ xảy ra trong gia đình và người gây ra bạo lực luôn luôn
là nam giới, thường là người chồng/người tình hoặc chồng cũ/người tình cũ, hay những người đàn ông quen biết của phụ nữ”6
Cƣỡng bức tình dục trong hôn nhân
Cưỡng bức tình dục trong hôn nhân có thể do chồng hoặc vợ gây ra Trong bài viết “Cưỡng ép tình dục trong hôn nhân” của tác giả Hoàng
Bá Thịnh, trong tạp chí Xã hội học số 4/2006, “cưỡng ép tình dục trong hôn nhân” được hiểu phần lớn là chồng cưỡng hiếp vợ hay đôi khi được hiểu một cách chuẩn hơn trong mối quan hệ giới: cưỡng hiếp vợ chồng Cưỡng ép tình dục trong hôn nhân được hiểu là những hành vi bạo lực về tình dục trong mối quan hệ vợ chồng7
Tuy nhiên dựa trên những kết quả nghiên cứu trên thế giới và ở Việt Nam, trong khuôn khổ luận văn tôi chỉ tập trung nghiên cứu cưỡng bức tình
5
Hoàng Bá Thịnh, “Bạo lực giới trong gia đình Việt Nam và vai trò của truyền thông
đại chúng trong sự nghiệp phát triển phụ nữ”, Trung tâm nghiên cứu Giới- Gia đình và
Môi trường trong phát triển, Nhà xuất bản Thế giới 2005, trang 17
Trang 21dục trong hôn nhân giữa vợ và chồng và người chồng là người gây ra, do đó tôi sử dụng khái niệm cưỡng bức tình dục của Phan Thị Thu Hiền, theo đó
“Cưỡng bức tình dục trong hôn nhân được hiểu là: bất cứ hành vi nào của người chồng dùng để làm cho vợ chấp nhận quan hệ tình dục với chồng khi người vợ không hề mong muốn Hành động ép buộc tình dục của người chồng làm cho phụ nữ không có cơ hội từ chối, vì nếu họ từ chối thì họ sẽ phải gánh chịu sự xâm hại về mặt thể chất hoặc tinh thần”8
Sức khỏe tình dục
Theo định nghĩa của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) năm 2002: Sức khoẻ tình dục là trạng thái thoải mái về thể chất, cảm xúc, tâm thần và xã hội liên quan đến tình dục; sức khoẻ tình dục không chỉ có nghĩa là không có bệnh tật Sức khoẻ tình dục đòi hỏi một cách tiếp cận tích cực và nghiêm túc đối với tình dục và các mối quan hệ tình dục, những thú vui tình dục và những trải nghiệm tình dục an toàn và không có ép buộc tình dục9
Bình đẳng giới
Theo điều 5, Luật Bình đẳng giới: “Bình đẳng giới là việc nam nữ có
vị trí, vai trò ngang nhau, được tạo điều kiện và cơ hội phát huy năng lực của mình cho sự phát triển của cộng đồng, của gia đình và thụ hưởng như nhau về thành quả của sự phát triển đó.”
Định kiến giới
Theo điều 5, Luật Bình đẳng giới: “Định kiến giới là nhận thức, thái độ
và đánh giá thiên lệch, tiêu cực về đặc điểm, vị trí, vai trò và năng lực của nam và nữ” 10
Trang 22http://www.who.int/repoductive-Vai trò giới là các công việc mà phụ nữ và nam giới thực hiện với tư cách là nam hay nữ11
Các vai trò giới bao gồm:
+) Vai trò sinh sản, nuôi dưỡng: Bao gồm trách nhiệm sinh đẻ, nuôi
con và những công việc nhà cần thiết để duy trì và tái sản xuất sức lao động (nó không chỉ bao gồm tái sản xuất sinh học mà còn có cả chăm lo duy trì lực lượng lao động hiện tại và lực lượng lao động trong tương lai)
+) Vai trò sản xuất: Bao gồm các công việc nhằm tạo ra thu nhập bằng
tiền hoặc hiện vật để tiêu dùng hoặc trao đổi Ví dụ công việc đồng áng của nhà nông, làm công nhân, làm thuê, buôn bán v.v
+) Vai trò cộng đồng: Bao gồm các công việc thực hiện ở ngoài cộng
đồng, nhằm phục vụ cho cuộc sống chung của mọi người Ví dụ làm vệ sinh đường làng ngõ xóm, quyên góp, vận động kế hoạch hoá gia đình, tham gia Hội đồng Nhân dân
Các vai trò giới là trách nhiệm và hoạt động khác nhau mà nam giới và phụ nữ phải đảm nhiệm trên thực tế ví dụ phụ nữ làm việc nhà, nam giới làm quản lý Vai trò về giới có thể thay đổi giữa nam và nữ.12
2.1 Những lý thuyết được sử dụng trong luận văn
2.1.1 Lý thuyết xã hội hoá vai trò giới Theo lý thuyết này, vai giới, tương quan giới là kết quả của quá trình
xã hội hoá cá nhân Các cấu trúc hành vi, tình cảm và thái độ đặc thù cho mỗi giới đã có sẵn trong xã hội trước khi đứa trẻ chào đời Kể từ khi lọt lòng cho đến lúc mất đi, con người không ngừng tiếp thu và làm theo các cấu trúc giới đang tồn tại một cách khách quan Trẻ em nam và trẻ em nữ bắt chước, học tập các cách ứng xử theo khuôn mẫu quy định một cách tương ứng đối với nam hay nữ
Trang 23Việc giáo dục vai giới theo mô hình “tam tòng tứ đức” là một ví dụ điển hình của tác động văn hoá- xã hội và sự học hỏi đối với việc hình thành vai giới của phụ nữ trong xã hội Quan niệm giáo dục vai giới như vậy đã góp phần hình thành tư tưởng “trọng nam khinh nữ” khá phổ biến trong không ít gia đình và các cá nhân (cả nam lẫn nữ) Nhìn chung, lý thuyết này nhấn mạnh yếu tố tâm lý- xã hội (bắt chước; giáo dục) của sự phát triển vai giới và quan hệ giới
Lý thuyết xã hội hoá vai trò giới được vận dụng trong luận văn để giải thích nguyên nhân dẫn đến hiện tượng cưỡng bức tình dục trong hôn nhân, bổ sung thêm cho cách giải thích theo mô hình sinh thái Cưỡng bức tình dục trong hôn nhân là một hình thức của bạo lực gia đình – một biểu hiện của sự bất bình đẳng về quyền lực trong gia đình Bạo lực gia đình là một hành vi thu nhận được thông qua quan sát và giao tiếp với cá nhân và các thiết chế xã hội Các hành vi cũng như những động cơ ngầm ẩn bên trong thủ phạm như: chống lại ai? làm như thế nào? ở đâu? khi nào? đều do học hỏi mà có Bạo lực gia đình nói chung, cưỡng bức tình dục trong hôn nhân nói riêng và sự ủng hộ cho hành vi này đã được thủ phạm học hỏi qua quan sát trực tiếp trong cộng đồng hoặc từ chính những người thân trong gia đình mình như bố hoặc anh/ em trai hay bạn bè Về phía nạn nhân, lý thuyết này có ý nghĩa trong việc giải thích sự chịu đựng sống trong bạo lực của nạn nhân Sự nhẫn nhịn đó chính là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng bạo lực trong gia đình và cưỡng bức tình dục trong hôn nhân Ngoài ra, lý thuyết xã hội hoá vai trò giới còn góp phần giải thích hậu quả đối với trẻ em khi chúng sống trong môi trường bạo lực tại chính ngôi nhà mình
2.1.2 Mô hình sinh thái13
Các nhà nghiên cứu đang ngày càng có xu hướng sử dụng "Khung sinh thái học" “hay mô hình sinh thái” để tìm hiểu sự tác động, ảnh hưởng lẫn
Trang 24
nhau của các nhân tố cá nhân, hoàn cảnh và văn hoá-xã hội với nguyên nhân của bạo lực Trong mô hình này, bạo lực gia đình là do sự tác động lẫn nhau của các nhân tố ở các cấp độ khác nhau của môi trường xã hội
Mô hình này gồm 4 vòng tròn đồng tâm Vòng tròn trong cùng mô tả nhân tố sinh học và lịch sử cá nhân mà mỗi cá nhân thể hiện trong hành vi của mình
Chứng kiến bạo lực gia đình khi còn là đứa trẻ
Không có cha hoặc
bị cha chối
bỏ
dụng khi còn là một đứa trẻ
Uống rượu
Nghèo đói, tình trạng, điều kiện kin tế-xã hội thấp
Có liên quan đến các nhóm tội phạm
Tình trạng đơn độc của phụ nữ và gia đình
Mâu thuẫn
vợ chồng
Nam giới kiểm soát tài sản và ra quyết định trong gia đình
Trang 25Vòng tròn thứ ba mô tả cấu trúc xã hội và thiết chế xã hội, chính thức
và không chính thức, mà trong đó các mối quan hệ gắn vào đó như: mối quan
hệ xóm giềng, nơi làm việc, mạng lưới xã hội và nhóm có chung một đặc điểm nào đó – nhóm đồng đẳng (ví dụ như nhóm đồng nghiệp, đồng trang lứa )
Vòng tròn ngoài cùng mô tả môi trường kinh tế và xã hội bao gồm cả những chuẩn mực văn hoá
Những nghiên cứu diện rộng cho thấy có một số nhân tố ở mỗi cấp độ
có thể làm gia tăng nguy cơ bạo lực của người chồng với người vợ
Cấp độ cá nhân bao gồm: bị lạm dụng hoặc từng chứng kiến bạo lực gia đình khi còn là một đứa trẻ, không có cha hoặc bị cha chối bỏ, thường xuyên uống rượu
Ở cấp độ gia đình và các mối quan hệ thân quen, các nghiên cứu lát cắt văn hoá đã chỉ ra sự kiểm soát của cải, việc ra các quyết định trong gia đình và mâu thuẫn vợ chồng là những nhân tố nguy cơ dẫn đến bạo lực
Ở cấp độ cộng đồng, các nhân tố như: tình trạng đơn độc của phụ nữ, thiếu sự giúp đỡ của xã hội, sự liên kết của các nhóm nam giới …
đã dung túng và hợp thức hoá bạo lực do nam giới gây ra dự báo sự gia tăng của tình trạng bạo lực
Ở cấp độ xã hội, các nghiên cứu trên thế giới đã chỉ ra rằng bạo lực gia đình phổ biến nhất ở những nơi các vai trò giới được xác định một cách cứng nhắc và bị ép phải tuân theo và ở những nơi mà quan niệm về nam tính gắn liền với tính ngoan cố, danh dự đàn ông và sự thống trị Các chuẩn mực văn hoá khác có liên hệ với bạo lực bao gồm: sự nhẫn nhịn chịu đựng sự ngược đãi về thể xác của phụ nữ và trẻ em, chấp nhận bạo lực như là một biện pháp để dàn xếp mối bất hoà cá nhân và quan điểm cho rằng nam giới có "quyền sở hữu" đối với phụ nữ.14
Trang 26
Bằng việc kết hợp các nhân tố nguy cơ ở cấp độ cá nhân và những nghiên cứu lát cắt văn hoá, mô hình sinh thái học góp phần vào việc giải thích lý do tại sao một số xã hội và một số cá nhân lại hung hãn hơn và tại sao phụ nữ - đặc biệt là những người vợ lại trở thành nạn nhân của bạo lực (và ngược lại)
Cách tiếp cận sinh thái học đối với bạo lực chỉ ra rằng không có một
nhân tố nào duy nhất gây ra bạo lực gia đình mà bạo lực gia đình xảy ra
do sự kết hợp của một số nhân tố tạo nên nguy cơ khiến một người đàn ông trong một tình huống cụ thể gây ra bạo lực đối với phụ nữ
Mô hình sinh thái này được áp dụng một cách hiệu quả để giải thích nguyên nhân của bạo lực gia đình một cách toàn diện Do đó trong luận văn này, tác giả cũng sử dụng mô hình sinh thái để giải thích nguyên nhân của hiện tượng cưỡng bức tình dục trong hôn nhân Các yếu tố nào ở các cấp độ:
cá nhân, gia đình, cộng đồng và xã hội đã khiến cho người đàn ông cưỡng bức tình dục đối với vợ và người vợ chấp nhận sự cưỡng bức của chồng
2.1.3 Lý thuyết tương tác biểu trưng giới
Mối tương quan giới là sản phẩm của quá trình tương tác giữa các cá nhân nam và nữ Mối tương quan này bị quy định bởi các quy tắc, các biểu tượng, các ký hiệu và bộc lộ qua các hành vi, thái độ và suy nghĩ của nhau trong quá trình giao tiếp Trong giao tiếp đã hình thành nên một phức hợp các biểu tượng có ý nghĩa chung là phân biệt địa vị, lao động và hành vi giới Vai giới được xác định thông qua hàng loạt các hệ thống biểu tượng do chính người phụ nữ và nam giới tạo ra và sử dụng trong cuộc sống hàng ngày Nhưng mối quan hệ giữa nam và nữ không giới hạn ở mối tương tác xã hội cấp vi mô gồm các cá nhân mà còn mở rộng sang cấp vĩ mô là hệ thống xã hội Từ đồ ăn, thức uống, quần áo, giày dép đến xe cộ, nhà cửa; từ điệu bộ, cử chỉ đến lời ăn, tiếng nói; từ nề nếp gia đình đến luật pháp nhà nước; từ tế bào gia đình đến cơ thể xã hội tất cả đều mang ý nghĩa giới
Trang 27(Nguồn: Lê Ngọc Hùng- Nguyễn Thị Mỹ Lộc, “Xã hội học về giới và
phát triển” NXB Đại học Quốc gia 2000, tr 25)
Bạo lực chống lại phụ nữ trong gia đình biểu hiện ra qua ngôn ngữ, cử chỉ, hành động như những câu nói không vừa lòng, những hành vi xúc phạm, thậm chí là mắng chửi, đánh đập nhau Ví dụ, cặp đại từ nhân xưng “anh- em” trong quan hệ vợ- chồng xác định rõ vị thế và tương ứng là các vai trò của mỗi người Khi trật tự đó trở nên bất bình đẳng một cách phi lý thì người
vợ có thể dùng cách xưng hô “anh- tôi”, hoặc “ông- tôi” để lập lại thế cân bằng Còn người chồng dùng cụm từ “cô- tôi” vừa để xác định lại khoảng cách và vị thế của mỗi người vừa thừa nhận tình thế “bình đẳng”.15
Cũng tương tự như vậy, trong các trường hợp cưỡng bức tình dục trong hôn nhân, thủ phạm đã sử dụng những lời nói xúc phạm, đập phá đồ đạc nhằm thể hiện quyền uy, sức mạnh của mình với nạn nhân và để đạt được mong muốn là quan hệ tình dục với nạn nhân Ngược lại, nạn nhân có thể hiểu rằng đằng sau những hành vi kể trên của thủ phạm là một thông điệp:
“tiếp theo sẽ đến lượt cô” “nếu cô không đồng ý quan hệ tình dục với tôi, cô
Suy nghĩ
Hành vi Thái độ
Biểu
Vai nữ
Vai nam
Trang 28sẽ bị đánh đập”… Tóm lại, lý thuyết tương tác biểu trưng giới được sử dụng trong nghiên cứu để phân tích và làm rõ các hình thức cưỡng bức tình dục và cách thức thủ phạm sử dụng để cưỡng bức nạn nhân có quan hệ tình dục
Trang 29CHƯƠNG 2
: THỰC TRẠNG, NGUYÊN NHÂN VÀ HẬU QUẢ CỦA HIỆN TƯỢNG CƯỠNG BỨC TÌNH DỤC TRONG HÔN NHÂN
1 VÀI NÉT VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU
Lý do lựa chọn địa bàn nghiên cứu
Với mục đích tìm hiểu thực trạng của hiện tượng cưỡng bức tình dục trong hôn nhân tại Bắc Bộ, trong thiết kế nghiên cứu của mình tác giả đã dự kiến tiến hành nghiên cứu tại một phường của một đô thị và một xã nông thôn Hà Nội và Ninh Bình đã được lựa chọn làm địa bàn nghiên cứu bởi đây
là hai địa phương có những số liệu về bạo lực gia đình trong đó có đề cập đến hiện tượng cưỡng bức tình dục trong gia đình, những số liệu này xuất phát từ nghiên cứu của Viện Sức Khoẻ và Sinh sản (trước đây là Trung tâm Sức khoẻ
và Gia đình) năm 2001 về “Bạo lực gia đình chống lại phụ nữ-thái độ và thực hành của nhân viên y tế đối với nạn nhân của bạo lực gia đình chống lại phụ nữ” Tuy nhiên, điều này không có nghĩa đây là những địa phương có hiện tượng cưỡng bức tình dục trong hôn nhân phổ biến hay trầm trọng hơn Ngoài ra Ninh Bình và Hà Nội là hai địa phương tác giả đã có thời gian dài công tác nên nắm rõ các đặc điểm về kinh tế, xã hội, văn hoá…cũng như có các mối quan hệ với các ban ngành, đây cũng là một thuận lợi về thời gian cho tác giả khi tiến hành nghiên cứu một chủ đề nhạy cảm như thế này Hơn nữa, tiến hành ở đây tác giả cũng tiết kiệm được thời gian và chi phí Tại hai địa phương này chúng tôi đã chọn xã Gia Vượng và phường Tứ Liên làm địa bàn tiến hành nghiên cứu
Trang 30Đặc điểm của địa bàn nghiên cứu
Phường Tứ Liên
Phường Tứ Liên thuộc Quận Tây Hồ Hà Nội Phường được thành lập năm 1996 với 1.800 hộ dân với số nhân khẩu là 7.987 nhân khẩu Phường được đánh giá là một phường ổn định về chính trị, trật tự an toàn xã hội được đảm bảo, các chỉ tiêu kinh tế-xã hội cơ bản đạt kế hoạch của Quận và Thành phố đề ra, các phong trào của phường được phát triển ổn định
Y tế, Dân số-Gia đình-Trẻ em:
Công tác chăm sóc khám chữa bệnh cho nhân dân được duy trì tốt, Phường thực hiện tốt kế hoạch phòng chống suy dinh dưỡng, phòng thiếu vi chất ở trẻ em, 100% trẻ em được uống vitamin A, 100% trẻ em được tiêm chủng phòng bệnh Phường thường xuyên kiểm tra công tác vệ sinh an toàn thực phẩm và tổ chức tập huấn vệ sinh an toàn thực phẩm cho các hộ kinh doanh trong toàn phường Mỗi năm phường tổ chức khám chữa bệnh cho
3120 lượt người dân, đảm bảo công tác chăm sóc sức khoẻ ban đầu cho người dân trong phường Phường cũng thường xuyên tổ chức truyền thông về dân
số lồng ghép dịch vụ Kế hoạch hoá gia đình, cung cấp thông tin về dân số tới các đối tượng
Phường cũng có những chính sách giúp đỡ cụ thể đối với những trẻ em
có hoàn cảnh khó khăn và tặng quà cho các cháu nhân dịp năm mới, mùng 1 tháng 6 hay Rằm Trung thu…
Hàng năm phường đều tổ chức tháng hành động vì trẻ em và cấp thẻ bảo hiểm y tế miễn phí cho các cháu từ 0-6 tuổi
Văn hoá xã hội
Phường thường xuyên tổ chức các hoạt động văn hoá văn nghệ, thể dục thể thao Các hoạt động phát thanh trên hệ thống loa truyền thanh của phường hoạt động đều đặn và có chất lượng
Trang 31Nhân dân trong phường tham gia tích cực vào phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá” với nhiều hộ gia đình, khu dân cư được khen thưởng là tổ dân phố văn hoá, gia đình văn hoá
Các lễ hội đình đám của phường được tổ chức theo nguyên tắc đảm bảo trang trọng, tiết kiệm, đúng quy định của bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch
Tình hình an ninh trật tự trên địa bàn phường ổn định, không để xảy ra các vụ việc lớn Các vụ án liên quan đến tệ nạn xã hội và vi phạm trật tự an toàn xã hội đều được giải quyết triệt để theo quy định của pháp luật
Kinh tế
Tình hình kinh tế của phường phát triển khá ổn định Đầu năm, phường xây dựng các chỉ tiêu kinh tế- xã hội và giao chỉ tiêu cho các khu dân cư, tổ dân phố để triển khai, tổ chức thực hiện
Hàng năm, phường đều tổ chức chợ hoa tết cho nhân dân tiêu thụ sản phẩm quất cảnh, hoa các loại Năm 2007, phường thu ngân sách trên địa bàn đạt 88,4%; số lao động được giải quyết việc làm là 550 trường hợp Mức sống của người dân trong phường được ghi nhận là có sự chuyển biến rõ rệt trong những năm qua
Lao động-Thương binh-Xã hội
Phường đã thực hiện tốt pháp lệnh ưu đãi người có công, tổ chức trao quà cho các đối tượng chính sách vào các dịp lễ tết Phường đã tổ chức trao huy chương kháng chiến chống Mỹ cho các đối tượng có thành tích Phường cũng phối hợp với Uỷ ban Mặt trật Tổ quốc của phường xét duyệt các hộ nghèo và cận nghèo để hỗ trợ từ quỹ “Vì người nghèo” của phường Những
cá nhân trong diện người tàn tật cũng được phường quan tâm bằng các chính sách trợ cấp hoặc hỗ trợ vay vốn, tạo việc làm…
Xã Gia Vượng
Gia Vượng là một xã nằm ở trung tâm của huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình Xã tiếp giáp với các xã Gia Hoà, Liên Sơn, Gia Thịnh, Gia Lạc Xã Gia
Trang 32Vượng được chia làm hai khu vực rõ rệt bởi con đường 12B thị trấn Me, phía Bắc xã gồm 4 xóm và phía Nam gồm 6 xóm Xã có 1 đảng bộ, 10 chị bộ và 3 trường học Xã có một hợp tác xã nông nghiệp với 10 đội sản xuất nông nghiệp, hầu hết dân trong xã đều làm ruộng Xã có diện tích 298,5 ha với tổng số hộ là 1.277 hộ và 4.982 nhân khẩu
Trạm y tế xã thường xuyên theo dõi tuyên truyền vận động nhân dân tổ chức tốt vệ sinh thôn xóm, thu gom rác thải Các buổi tuyên truyền sức khoẻ sinh sản và chăm sóc sức khoẻ ban đầu được tuyên truyền đều đặn trên hệ thống loa phát thanh của xã Trạm y tế xã tổ chức khám chữa bệnh cho nhân dân, khám chữa bệnh và cấp thuốc miễn phí cho trẻ em từ 0-6 tuổi
Phường quan tâm giúp đỡ nhóm trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, trẻ khuyết tật, tặng quà các em trong các dịp lễ tết
Phường tổ chức giao hương ước cho 100% số hộ trong toàn xã, lập hồ
sơ theo dõi, quản lý biến động nhân khẩu theo quy định của huyện
Cả ba trường học trong xã đều luôn giữ vững trường tiên tiến xuất sắc cấp tỉnh Đảng và chính quyền xã luôn quan tâm đến công tác giáo dục của
xã Xã thường xuyên thăm hỏi tặng quà các thầy cô giáo và các em học sinh
có thành tích tốt trong học tập
Việc thực hiện chính sách chi trả cho các đối tượng có công được xã đảm bảo thực hiện tốt Xã tổ chức tốt việc thăm hỏi tặng quà cho các gia đình chính sách trong những ngày lễ tết
Xã thường xuyên vận động nhân dân làm tốt công tác vệ sinh môi trường, thực hiện tốt hương ước làng xóm, việc cưới xin việc tang được thực hiện theo nếp sống mới
Đài phát thanh phường thường xuyên làm tốt việc tiếp sóng đúng giờ, phát tin bài cho việc tuyên truyền các chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước và các tin bài địa phương tới toàn thể nhân dân
Trang 33Các buổi biểu diễn văn nghệ quần chúng được tổ chức vào các dịp lễ tết tạo không khí vui vẻ cho nhân dân Xã có đội văn nghệ và đội thể thao với các môn bóng chuyền, bóng đá
Kinh tế của xã dựa chủ yếu trên sản xuất nông nghiệp của các hộ gia đình Trong những năm qua do thay đổi cơ cấu nghề nghiệp nên mức sống của các hộ gia đình đã được cải thiện đánh kể
2 THỰC TRẠNG CƢỠNG BỨC TÌNH DỤC TRONG HÔN NHÂN
Mức độ cưỡng bức tình dục trong hôn nhân
Khi nói đến cưỡng bức tình dục người ta thường liên tưởng đến những hành vi cưỡng bức bên ngoài xã hội giữa những người xa lạ mà thường không để ý đến một hình thức xảy ra trong tổ ấm của mỗi người, đó là cưỡng bức tình dục trong hôn nhân Hàng ngày đâu đó trên các tờ báo hay trên mạng Internet chúng ta có thể dễ dàng tìm thấy những câu chuyện, những bài viết
kể về những người vợ bị chồng mình cưỡng bức quan hệ tình dục hay bị chồng bạo lực tình dục Cưỡng bức tình dục trong hôn nhân được thừa nhận một cách rõ ràng là có tồn tại như một biểu hiện của sự bất bình đẳng Báo cáo dân số của Tổ chức Y tế Thế giới năm 1999 đã chỉ ra rằng cưỡng bức tình dục trong hôn nhân là chuyện khá phổ biến trong các gia đình và là nguyên nhân của nhiều vấn đề sức khoẻ của phụ nữ Tuy nhiên, câu hỏi đặt ra
là cưỡng bức tình dục trong hôn nhân có xảy ra không và có phổ biến ở Việt Nam hay không?
Với mục đích tìm hiểu về mức độ phổ biến của hiện tượng này tại địa bàn nghiên cứu, một bảng hỏi ngắn với những câu hỏi đóng, đơn giản và dễ hiểu đã được xây dựng Kết quả thu được từ bảng hỏi đã cho thấy trong số
396 bảng hỏi được phát ra, có tới 56,6% số người được hỏi (224 người) trả lời rằng đã từng phải quan hệ tình dục không mong muốn với chồng/vợ trong
đó có tới 140 người đã phải quan hệ tình dục không mong muốn trên 10 lần
và 60 người đã phải quan hệ tình dục không mong muốn từ 5-10 lần
Trang 34Biểu đồ 1 – Số lần phải quan hệ tình dục không
mong muốn với vợ/chồng
Khi tiến hành các phỏng vấn sâu các phụ nữ đã từng bị bạo lực gia đình cũng như thảo luận với nhóm người dân là phụ nữ chúng tôi nhận thấy
có tới 90% những người tham gia thảo luận nhóm và 100% những người được phỏng vấn sâu thừa nhận rằng họ đã từng phải có quan hệ tình dục không mong muốn với chồng
“Chuyện đó ai chẳng từng trải qua nếu là vợ chồng Thiếu gì lần vợ mệt hoặc chồng mệt nhưng vì nghĩa vụ vẫn phải chiều nhau Đó là điều bình thường” (Nữ, 32 tuổi, cán bộ nhà nước, Đại học, thành phố)
Theo báo cáo của WHO năm 1999 “Xét về mối quan hệ giữa nạn nhân và người cưỡng ép, cưỡng ép tình dục trong hôn nhân được cho là phổ biến hơn
cả Nạn nhân thường là người vợ, kẻ ép buộc thường là người chồng”16
và Việt Nam cũng không nằm ngoài quy luật đó Trong số 396 bảng hỏi được phát ra, có tới 190 phụ nữ thừa nhận đã từng phải quan hệ tình dục không mong muốn với chồng (trong tổng số 224 người thừa nhận có quan hệ tình
Trang 35Bảng 1: Số lần quan hệ tình dục không mong muốn với vợ/chồng
140 người (62,5%)
24 người (10,7%)
224 người
Trong số 190 phụ nữ thừa nhận rằng đã từng quan hệ tình dục không mong muốn với chồng thì đa số rơi vào nhóm phụ nữ có số năm kết hôn từ 11 năm trở lên với 114 người (chiếm 60%) và chia đều cho cả khu vực thành phố và nông thôn
Một điều bất ngờ là với câu hỏi lý do vì sao họ phải quan hệ tình dục không mong muốn với chồng trong tổng số 190 người thì tỉ lệ người bị chồng dùng vũ lực ép phải quan hệ lên tới 37,5% và 35,4% là do chồng sử dụng các sức ép về mặt tâm lý, quan hệ và các sức ép khác để vợ buộc phải quan hệ tình dục với mình Những sức ép này sẽ được tác giả phân tích kỹ hơn ở phần các nạn nhân chia sẻ các câu chuyện của họ
Bảng 2: Lý do phải quan hệ tình dục không mong muốn với chồng
Lý do phụ nữ phải quan hệ
tình dục không mong muốn
với chồng
Chồng dùng vũ lực ép buộc
Chồng dùng các sức
ép về tâm lý, tình cảm và các sức ép khác
(37,4%)
65 người (35,4%)
Trang 36Theo quan điểm của nhóm phụ nữ tham gia thảo luận nhóm thì cưỡng bức tình dục trong hôn nhân chỉ có thể xảy ra ở nông thôn, nơi mà trình độ học vấn của người dân thấp và kinh tế khó khăn và người phụ nữ thường rụt
rè nhút nhát hơn
“Ép buộc vợ quan hệ tình dục ở đây hiếm lắm, nếu có thì cũng chỉ ở những nhà mà cả vợ và chồng học thấp hoặc kinh tế khó khăn, người vợ phải phụ thuộc vào anh chồng chứ ở thành phố chuyện đó không xảy ra đâu vì ở thành phố họ tự chủ về kinh tế, họ bình đẳng lắm Không có chuyện anh thích (quan hệ tình dục) rồi bắt tôi quan hệ là tôi cũng phải chịu.” (Nữ, 33 tuổi, nông dân, cấp 3, nông thôn)
“Cưỡng ép tình dục giữa vợ và chồng hoạ chăng nảy sinh ở nông thôn với những gia đình trình độ học vấn thấp Người vợ phụ thuộc kinh tế vào người chồng, người chồng vin vào đó mà bắt ép quan hệ” (Nữ, 41 tuổi, buôn bán nhỏ, cấp 3, thành phố)
Tuy nhiên kết quả định lượng cho thấy số phụ nữ bị chồng dùng vũ lực
ép quan hệ tình dục ở thành phố cao hơn ở nông thôn
Biểu đồ 2 – Số phụ nữ bị chồng dùng vũ lực
ép quan hệ tình dục không mong muốn theo địa bàn nghiên cứu
Trang 37Qua đó, có thể nhận định rằng cưỡng bức tình dục không chỉ xảy ra ở các gia đình nông thôn mà còn xảy ra ở thành phố:
“Lắm lúc chị cũng thấy mệt lắm nhưng không chiều không được Mình
là phận đàn bà đó cũng là trách nhiệm Nếu có việc cỏn con đó mà cũng không chiều được chồng thì không thể trách được nếu chồng đi ngoại tình hay gia đình sứt mẻ được Đàn ông chuyện đó rất quan trọng với họ Mình tâm lý là mình phải hiểu điều đó” (Nữ, 40 tuổi, cán bộ nhà nước, Đại học, thành phố)
Như vậy, cưỡng bức tình dục được ghi nhận là tương đối phổ biến trong địa bàn nghiên cứu Tác giả không khẳng định rằng vấn đề này là phổ biến ở các địa phương khác Tuy nhiên phát hiện này có thể là một hướng gợi mở cho các nhà nghiên cứu về các nghiên cứu tiếp theo ở diện rộng hơn
Tâm trạng và quan niệm của người trong cuộc – những phụ nữ đã từng
Trang 38quan hệ tình dục với chồng Không phải tôi không yêu chồng tôi mà vì cách chồng tôi đối xử với tôi khi muốn quan hệ Ông ấy cứ nghĩ rằng bất cứ khi nào ông ấy muốn thì tôi cũng đều muốn mà chẳng bao giờ hỏi tôi có cảm thấy thoải mái hay không, có thích hay không…Ông ý cứ vật tôi ra để làm chuyện đó cho dù tôi có chống cự hay không cũng mặc…Không chiều thì ông
ý chửi có lần đánh…Có những lần tôi sợ lắm…Tôi mong mình hết kinh (mãn kinh), mong ham muốn trong ông ý giảm đi, có như thế tôi mới có những đêm ngon giấc trong chính gia đình mình…” (Nữ, 47 tuổi, nông dân, cấp 2, nông thôn)
Trên đây là một trong những câu chuyện mà chúng tôi được nghe khi tiến hành nghiên cứu Mặc dù số lượng phụ nữ được phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm không nhiều (phỏng vấn sâu: 10 người; thảo luận nhóm: 18 người) nhưng những câu chuyện mà họ chia sẻ đã cho chúng tôi - những người nghiên cứu thấy được phần nào bức tranh về hiện tượng cưỡng bức tình dục trong hôn nhân qua lời kể của những người vợ Mỗi người trong số họ bị chồng cưỡng bức theo các cách khác nhau Tuy nhiên chúng tôi thấy có 2 hình thức cưỡng bức phổ biến, đó là: 1) dùng vũ lực cưỡng bức; 2) dùng các sức ép về tâm lý, tình cảm và các sức ép khác
Một trường hợp điển hình về hình thức vợ bị chồng dùng vũ lực cưỡng bức là trường hợp của một phụ nữ ở Hà Nội Chị đã tâm sự với chúng tôi rằng chồng chị có nhu cầu rất lớn về tình dục Chồng chị là một doanh nhân thành đạt và có tiếng ở Hà Nội Chồng chị không bắt chị phải đi làm hay làm việc nhà, công việc chồng chị yêu cầu chị là chỉ cần chị ở nhà và phục vụ anh
ta (quan hệ tình dục) bất cứ lúc nào anh ta muốn, cho dù đó là lúc anh ta vừa
đi làm về, lúc chị đang giặt quần áo hay đang nấu ăn Chồng chị trở thành cơn ác mộng của chị trong đời sống vợ chồng
Trang 39lần, lúc ở trong phòng ngủ, khi ở trong bếp, lúc trong nhà tắm Tôi có cảm giác tôi như nô lệ tình dục của anh ta Nhưng tôi không thoát được vì tôi còn
có con, còn gia đình dòng họ 2 bên Tôi không thể ra toà chỉ vì lý do anh ta
“yêu” tôi nhiều quá”(Nữ, 40 tuổi, nội trợ, cấp 3, thành phố)
Cũng tương tự như chị, có đến 2/3 những phụ nữ được phỏng vấn sâu thừa nhận rằng họ đã từng bị chồng dùng vũ lực để bắt quan hệ tình dục Có người bị chồng dùng tay chân giữ chặt cơ thể bắt quan hệ, có người bị chồng đánh, trói vào giường, lại có chị bị chồng cưỡng hiếp cả khi có thai khiến chị
bị sẩy thai (Ghi chép từ sổ ghi chép của nhân viên y tế tại xã Gia Vượng)
Và lý do đưa ra cũng không ngoài việc cho rằng do chồng họ nói riêng
và nam giới nói chung có nhu cầu tình dục cao hơn phụ nữ và khi không được đáp ứng từ phía vợ, họ sẽ phản ứng như vậy
“Thường là chồng (nam giới) bao giờ sức khoẻ cũng hơn phụ nữ do đó mà vấn đề sinh lý cũng có nhu cầu cao hơn” (Nữ, 40 tuổi, nông dân, cấp 2, nông thôn)
Không chỉ dùng vũ lực để cưỡng ép vợ quan hệ tình dục, người chồng còn dùng các sức ép khác để buộc vợ phải quan hệ với mình, chẳng hạn như cho rằng vợ ngoại tình:
“Em đã có lần bị chồng nghi là ngoại tình khi 2 lần liên tiếp em nói rằng em không muốn làm chuyện ấy vì em mệt Chả là hồi đó em mới đi nạo thai về được 2 tuần Mấy chị y tá dặn phải kiêng quan hệ một thời gian để giữ sức khoẻ Anh ấy đi xa về không biết cứ đòi hỏi Em từ chối thì nói em ở nhà tằng tịu với người nọ người kia rồi chửi um lên Cực chẳng đã em đành để cho muốn làm gì thì làm Không cho quan hệ thì chắc cũng chửi em hết đêm, có khi lại đuổi em về nhà bố mẹ em cũng nên” (Nữ, 25 tuổi, cán bộ nhà nước, cao đẳng, nông thôn)
Trang 40Lợi dụng sự phụ thuộc của vợ về mặt kinh tế hay để duy trì hạnh phúc gia đình, người chồng bắt vợ phải quan hệ tình dục cho dù vợ không muốn
“Mỗi lần quan hệ là chị lại thấy rùng mình, người cứng đơ ra mặc chồng muốn làm gì thì làm Chị ở nhà không kiếm ra tiền, anh ý một tay gây dựng gia đình, nuôi chị và các con ăn học Chị thấy ghê tởm lắm mỗi lần phải làm chuyện đó vì có phải chỉ làm như bình thường đâu, anh ý còn bật đĩa rồi bắt làm theo, toàn những hành động kinh tởm Đôi lần chị cũng tỏ ý không muốn như thế nhưng anh ý quát rồi bảo nhu cầu của anh ý thế, chị không chiều được thì chia tay Mà giờ chia tay thì chị chẳng có gì cả, chị sống bằng gì, rồi con chị nữa, chị không muốn xa hai chị em nó…”(Nữ, 45 tuổi, nội trợ, cấp 3, thành phố)
“Theo tôi đàn ông họ khoẻ, mình từ chối thì họ dằn vặt mệt lắm Chỉ bất đắc dĩ lắm là lúc bị hành kinh thì họ sợ họ chạy thôi Chứ còn mệt mấy thì mệt cũng năn nỉ hoặc là dằn vặt vợ để vợ cho quan hệ bằng được thì thôi”(Nữ, 42 tuổi, buôn bán nhỏ, cấp 3, thành phố)
“Ông chồng tôi mà không chiều ông ý thì không xong với ông ý Ông ý vùng vằng, rồi thì đá thúng đụng nia, quát mèo quát chó Có lần điên quá ông ý còn đốt cả cái đống rơm ở sân trước”(Nữ, 50 tuổi, nông dân, cấp 1,nông thôn)
Mong muốn có con trai cũng là một trong những áp lực được các ông chồng sử dụng để ép buộc vợ phải quan hệ tình dục