DANH MỤC CÁC BẢNG 2.1 Nguyên nhân khiến vi phạm pháp luật ở vị thành niên tăng lên 61 2.2 Ý kiến của cha mẹ theo địa bàn nghiên cứu về việc nhà trường và xã hội có thể thay thế gia đình
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
ĐOÀN THỊ THANH HUYỀN
GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO CON CÁI
TRONG GIA ĐÌNH HIỆN NAY (Nghiên cứu trường hợp tỉnh Quảng Ninh)
LUẬN ÁN TIẾN SĨ XÃ HỘI HỌC
HÀ NỘI, 4/2014
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
ĐOÀN THỊ THANH HUYỀN
GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO CON CÁI
TRONG GIA ĐÌNH HIỆN NAY
(Nghiên cứu trường hợp tỉnh Quảng Ninh)
CHUYÊN NGÀNH: XÃ HỘI HỌC
MÃ SỐ: 62.31.30.01
LUẬN ÁN TIẾN SĨ XÃ HỘI HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Hoàng Bá Thịnh
HÀ NỘI, 4/2014
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả trong luận án trung thực Các trích dẫn chỉ rõ nguồn tài liệu và tác giả
Tác giả luận án
Đoàn Thị Thanh Huyền
Trang 4MỤC LỤC
Trang DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
DANH MỤC CÁC HỘP
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Tổng quan nghiên cứu 3
2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 4
2.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài 12
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 15
3.1 Mục đích 15
3.2 Nhiệm vụ 15
4 Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu 16
4.1 Đối tượng nghiên cứu 16
4.2 Khách thể nghiên cứu 16
4.3 Phạm vi nghiên cứu 16
5 Câu hỏi nghiên cứu, giả thuyết nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, khung phân tích 17
5.1 Câu hỏi nghiên cứu 17
5.2 Giả thuyết nghiên cứu 18
5.3 Phương pháp nghiên cứu 18
5.4 Khung phân tích 21
6 Ý nghĩa, điểm mới, hạn chế của đề tài 23
6.1 Ý nghĩa 23
6.2 Điểm mới 23
6.3 Hạn chế 23
7 Kết cấu của luận án 23
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 24
1.1 Cơ sở lý luận 24
1.1.1 Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh về gia đình và giáo dục 24
1.1.2 Các khái niệm công cụ 30
1.1.3 Các lý thuyết tiếp cận 40
1.2 Cơ sở thực tiễn 52
1.2.1 Khái quát về địa bàn nghiên cứu 52
1.2.2 Tình trạng vi phạm pháp luật ở người chưa thành niên hiện nay 54
Trang 5CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO CON
CÁI LỨA TUỔI TRUNG HỌC CƠ SỞ VÀ TRUNG HỌC PHỔ
THÔNG TRONG GIA ĐÌNH HIỆN NAY 57
2.1 Nhận thức của các bậc cha mẹ về tầm quan trọng của giáo dục pháp luật cho con cái trong gia đình 57
2.1.1 Nhận thức chung của các bậc cha mẹ về mức độ quan trọng của giáo dục pháp luật cho con cái trong gia đình 57
2.1.2 Đặc điểm xã hội của cha mẹ và việc đánh giá tầm quan trọng của giáo dục pháp luật cho con cái trong gia đình 59
2.2 Những vấn đề về giáo dục pháp luật cho con cái trong gia đình ở địa bàn nghiên cứu 68
2.2.1 Nội dung giáo dục 68
2.2.2 Phương pháp giáo dục 80
2.3 Mức độ tiếp nhận giáo dục pháp luật của con cái 105
2.3.1 Nhận xét của con cái về tầm quan trọng của giáo dục pháp luật 105
2.3.2 Nhận xét của con cái về nội dung giáo dục pháp luật 109
2.3.3 Nhận xét của con cái về phương pháp giáo dục pháp luật 114
CHƯƠNG 3: GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO TRẺ EM TRONG GIA ĐÌNH VÀ MỐI QUAN HỆ GIỮA CÁC YẾU TỐ 121
3.1 Mối quan hệ giữa đặc điểm nhân khẩu - xã hội của cha mẹ và những khó khăn trong giáo dục pháp luật cho con cái 121
3.1.1 Hạn chế về học vấn, kiến thức 121
3.1.2 Hạn chế về phương pháp giáo dục 124
3.1.3 Khó khăn về thời gian 126
3.2 Mối quan hệ giữa gia đình và nhà trường trong giáo dục pháp luật cho trẻ em 131
3.2.1 Sự liên lạc giữa gia đình và nhà trường 131
3.2.2 Khả năng kiểm soát con cái của cha mẹ 134
3.3 Mối quan hệ giữa môi trường xã hội và việc giáo dục pháp luật cho trẻ em 136
3.3.1 Bạn bè 136
3.3.2 Internet 144
3.3.3 Điều kiện kinh tế - văn hóa - xã hội 149
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 153
1 Kết luận 153
2 Khuyến nghị 156
DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 159
TÀI LIỆU THAM KHẢO 160
PHỤ LỤC
Trang 6DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT STT Chữ viết tắt Nghĩa của chữ viết tắt
1 BVCSTE Bảo vệ chăm sóc trẻ em
2 CĐ Cao đẳng
3 CNXH Chủ nghĩa xã hội
4 CNH - HĐH Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
5 CQĐP Chính quyền địa phương
6 ĐH Đại học
7 GDCD Giáo dục công dân
8 GDTX Giáo dục thường xuyên
22 UBND Ủy ban nhân dân
23 UNESCO Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hiệp quốc
24 UNICEF Quỹ Nhi đồng Liên hiệp quốc
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
2.1 Nguyên nhân khiến vi phạm pháp luật ở vị thành niên tăng lên 61
2.2 Ý kiến của cha mẹ theo địa bàn nghiên cứu về việc nhà trường và xã
hội có thể thay thế gia đình trong giáo dục pháp luật cho con cái 66
2.3 Học vấn của cha mẹ với quan điểm nhà trường và xã hội có thể thay
thế gia đình trong giáo dục pháp luật cho con cái 66
2.4 Đánh giá của cha mẹ về mức độ quan trọng trong việc chấp hành kỷ
2.5 Đánh giá của cha mẹ về mức độ quan trọng đối với việc tôn trọng kỷ
2.6 Tình hình vi phạm kỷ luật trường học của học sinh tại Quảng Ninh 73
2.7 Tương quan địa bàn nghiên cứu và nhận thức của cha mẹ về nội dung
giáo dục ý thức phòng tránh các hành vi vi phạm pháp luật 77
2.8 Đánh giá của cha mẹ về mức độ nghiêm trọng đối với các hành vi vi
2.9 Tương quan địa bàn nghiên cứu với việc đánh giá mức độ tiếp nhận
phương pháp truyền đạt, phân tích, giảng giải ở con cái 82
2.10 Tương quan địa bàn nghiên cứu với việc đánh giá mức độ tiếp nhận
phương pháp giáo dục nêu gương ở con cái 84
2.11 Tương quan địa bàn nghiên cứu với việc đánh giá mức độ tiếp nhận
2.12 Ý kiến của cha mẹ về việc xử lý con cái trong tình huống giả định con
cái vi phạm kỷ luật, quy định ở trường 93
2.13 Ý kiến của học sinh về cách xử lý của cha mẹ đối với các em trong
tình huống giả định các em vi phạm kỷ luật, quy định ở trường 95
Trang 82.14 Ý kiến của cha mẹ về việc xử lý trong tình huống giả định con cái họ
2.15 Ý kiến của con cái về cách xử lý của cha mẹ trong tình huống giả định
các em vi phạm quy định, luật lệ xã hội 96
2.16 Cách thức xử lý của cha mẹ trong tình huống giả định con cái họ mắc
2.17 Cách thức xử lý của cha mẹ trong tình huống giả định con cái họ vi
2.18 Phản ứng của con cái trong tình huống giả định bị bố mẹ áp đặt 100
2.19 Đánh giá của học sinh về mức độ nghiêm trọng của các hành vi vi
2.22 Đánh giá của cha mẹ và con cái về phương pháp giáo dục pháp luật 116
2.23 Hành động mà con cái mong muốn ở cha mẹ và đánh giá của cha mẹ
3.1 Tỷ lệ cha mẹ gặp khó khăn trong giáo dục pháp luật cho con cái do
hạn chế về học vấn, kiến thức ứng với trình độ học vấn của họ 122 3.2 Mức độ giao tiếp, chuyện trò của cha mẹ và con cái 127 3.3 Mức độ gần gũi của cha mẹ và con cái 127 3.4 Nội dung nói chuyện giữa cha mẹ và con cái 130
3.5 Những yếu tố gây hạn chế hiệu quả của giáo dục pháp luật cho con cái
3.6 Hành động của trẻ khi thấy bạn có nguy cơ vi phạm pháp luật 142
3.7 Tương quan học vấn của cha mẹ với nhận thức về tác động của môi
trường kinh tế - văn hóa - xã hội tới giáo dục pháp luật cho con cái 150
Trang 9DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
2.1 Lý do các bậc cha mẹ cho rằng cần phải giáo dục pháp luật cho con cái 58
2.2 Nhận thức của các bậc cha mẹ về những nội dung của giáo dục ý
thức phòng tránh các tệ nạn xã hội 75
2.3 Nhận thức của cha mẹ về nội dung giáo dục ý thức phòng tránh các
2.4 Trả lời của cha mẹ và con cái về cách giáo dục pháp luật 99
2.5 Đánh giá của học sinh theo địa bàn nghiên cứu về tầm quan trọng của
giáo dục pháp luật trong gia đình 105
2.6 Tương quan cấp học với việc đánh giá của học sinh về tầm quan
trọng của giáo dục pháp luật trong gia đình 106 2.7 Ý kiến của học sinh về những điều cần làm để trở thành công dân tốt 108
2.8 Đánh giá của con cái và của cha mẹ về hành động ứng xử, lối sống
của cha mẹ so với những điều họ dạy chúng 118
2.9 Người có ảnh hưởng nhiều nhất đến việc giáo dục pháp luật và hình
thành ý thức pháp luật đối với trẻ em 119
3.1 Tương quan địa bàn và mức độ liên lạc của cha mẹ với giáo viên của
3.2 Ý kiến của cha mẹ và của con cái về môi trường có tác động mạnh
mẽ nhất đến việc hành thành ý thức pháp luật ở trẻ em 136
3.3 Tương quan cấp học với việc trao đổi về các chuyện liên quan đến
các vụ án hoặc các hành vi vi phạm pháp luật ở học sinh 141 3.4 Lý do trẻ bỏ mặc khi bạn có nguy cơ vi phạm pháp luật 143 3.5 Nguyên nhân của sự gia tăng trẻ em vi phạm pháp luật 152
Trang 10DANH MỤC CÁC HỘP
Hộp 2.1: Sự suy giảm chức năng giáo dục của gia đình đối với con cái…… 64
Hộp 2.2: Cách thức xử lý con cái hư……… …101
Hộp 3.1: Trao đổi giữa phụ huynh và giáo viên về kỷ luật của học sinh… 132 Hộp 3.2: Vấn đề game với học sinh trường THCS Yên Thọ………….… 146
Hộp 3.3: Game với trẻ em……… 147
Trang 11đình làm cơ sở Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI đã nhấn mạnh: “…nâng
cao chất lượng giáo dục toàn diện, đặc biệt coi trọng giáo dục lý tưởng, giáo dục truyền thống lịch sử cách mạng, đạo đức lối sống, năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hành, tác phong công nghiệp, ý thức trách nhiệm xã hội” Muốn đạt được điều đó cần phải: “Đề cao trách nhiệm của gia đình và xã hội phối hợp chặt chẽ với nhà trường trong giáo dục thế hệ trẻ” [23, tr.216]
Trong sự nghiệp CNH - HĐH đất nước, nhân tố con người luôn giữ vai trò có tính chất quyết định Muốn đẩy mạnh CNH - HĐH nhằm đạt mục tiêu dân giàu, nước mạnh,
xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, vững bước đi lên CNXH thì trước hết phải phát triển giáo dục - đào tạo, phát huy nguồn lực con người Để phát triển nguồn nhân lực thì sự nghiệp giáo dục - đào tạo phải được chú trọng toàn diện cả bề rộng lẫn chiều sâu, phải kết hợp giáo dục nhà trường, gia đình và xã hội, tạo nên môi trường giáo dục lành mạnh ở mọi nơi, trong từng cộng đồng, từng tập thể và trong chính mỗi gia đình
Hiện nay, phần lớn các gia đình rất quan tâm đến việc giáo dục con cái về các phương diện như: đạo đức, ý thức công dân, lối sống, kiến thức văn hóa, lao động, giới tính Sự phát triển của xã hội mang lại nhiều điều kiện thuận lợi, hỗ trợ gia đình trong việc giáo dục con cái Nhưng bên cạnh đó, cũng tồn tại nhiều yếu tố tiêu cực tác động không nhỏ tới sự an toàn, ổn định và phát triển của xã hội, trong đó, tình trạng vi phạm pháp luật đang là một trong những nguy cơ đe dọa đến giá trị đạo lý, văn hoá truyền thống của dân tộc
Trang 122
Trong những năm gần đây, tình trạng vi phạm pháp luật ở người chưa thành niên có chiều hướng gia tăng, tính chất phạm tội ngày càng nguy hiểm để lại nhiều hậu quả nặng nề Quảng Ninh là một tỉnh giáp biên giới có điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội phát triển Cùng với sự biến đổi nhanh chóng về tình hình kinh tế - xã hội, tình trạng vi phạm pháp luật ở người chưa thành niên tại đây có chiều hướng gia tăng và diễn biến phức tạp cả về tính chất và mức độ nghiêm trọng, đặc biệt ở trẻ vị thành niên Tính một cách tổng thể từ năm 2000 đến nay, theo số liệu thống kê của Công an tỉnh Quảng Ninh, toàn tỉnh đã xảy ra 1.966 vụ với 2.834 đối tượng trong lứa tuổi vị thành niên vi phạm pháp luật [52, tr.3] Số người chưa thành niên vi phạm pháp luật và bị khởi tố hình sự chiếm tỷ lệ cao so với toàn quốc (đứng thứ 5 sau thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Nghệ An và Hải Phòng) [74, tr.2] Tội danh mà người chưa thành niên phạm phải chủ yếu là các tội xâm phạm trật tự an toàn xã hội; xâm phạm sở hữu tài sản như: trộm cắp, cướp giật, cưỡng đoạt tài sản; gây rối trật tự công cộng, chống người thi hành công vụ, cố ý gây thương tích, hiếp dâm Những năm gần đây, tỉnh Quảng Ninh nổi lên tình trạng một bộ phận thanh thiếu niên bỏ nhà sống lang thang, tụ tập và sử dụng hung khí nguy hiểm thực hiện những hành vi vi phạm pháp luật nghiêm trọng Một số loại tội phạm trước đây không có hoặc ít thấy trong độ tuổi chưa thành niên thì nay có xu hướng gia tăng như: buôn bán, tàng trữ, sử dụng ma túy; xâm phạm sức khỏe
và tính mạng con người Theo số liệu thống kê của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh,
“người chưa thành niên phạm tội chiếm từ 7% đến 10% tổng số tội phạm Những hành
vi phạm tội do người chưa thành niên thực hiện trên địa bàn tỉnh không chỉ dừng lại ở tội phạm ít nghiêm trọng mà ngược lại, đang có xu hướng gia tăng ở tất cả những tội rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng với khung hình phạt lên đến 15 năm tù, tù chung thân hoặc tử hình” [74, tr.2]
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng này, nhưng một trong những nguyên nhân cơ bản, đó là gia đình chưa thực hiện tốt chức năng giáo dục của mình Nhằm đẩy mạnh việc phòng chống tội phạm, tạo ra sự an toàn, ổn định và phát triển cho xã hội,
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng nhấn mạnh: “Đấu tranh
chống các biểu hiện phi văn hóa, suy thoái đạo đức, lối sống, tác động tiêu cực của các sản phẩm văn hóa thông tin đồi trụy, kích động bạo lực Đẩy mạnh phòng, chống tội phạm và các tệ nạn xã hội; giảm tệ nạn ma túy, mại dâm…” [23, tr.127]
Để thực hiện tốt chủ trương này, toàn xã hội phải chăm lo đến giáo dục, trong
đó có giáo dục pháp luật Giáo dục pháp luật cần phải được quan tâm, chú ý trong nhà trường, ngoài xã hội và trước hết, tại chính mỗi gia đình Bản thân pháp luật không thể
Trang 133
tự đến với mỗi người mà phải thông qua quá trình tác động có định hướng, có mục đích - đó là giáo dục pháp luật Mục đích của giáo dục pháp luật là góp phần hình thành và nâng cao ý thức pháp luật, nâng cao văn hoá pháp lý của từng cá nhân và toàn
xã hội Giáo dục pháp luật là mục tiêu, nhiệm vụ không thể tách khỏi bản chất của giáo dục Hiện nay, có khá nhiều công trình nghiên cứu đã đề cập đến giáo dục pháp luật cho học sinh, sinh viên, thanh niên trong các trường phổ thông, trung học chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học và trong các tổ chức xã hội Tuy nhiên, chưa có đề tài nào đề cập đến giáo dục pháp luật cho con cái trong gia đình, trong khi gia đình lại là một thiết
chế xã hội có vai trò hết sức quan trọng Chọn vấn đề Giáo dục pháp luật cho con cái
trong gia đình hiện nay (nghiên cứu trường hợp tỉnh Quảng Ninh) làm đề tài cho luận
án tiến sĩ, chúng tôi mong muốn góp phần vào việc khẳng định vị trí, vai trò quan trọng của gia đình trong sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc và đặc biệt là giáo dục trẻ em
2 Tổng quan nghiên cứu
Pháp luật là một yếu tố cơ bản, không thể thiếu của đời sống xã hội Xã hội càng phát triển, hiện đại, văn minh thì yêu cầu về hiểu biết và hành động theo pháp luật càng trở thành bắt buộc đối với mỗi cá nhân con người Pháp luật không chỉ là phương tiện để nhà nước căn cứ vào đó quản lý các mặt của đời sống xã hội mà nó còn là phương tiện thực hiện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mỗi công dân Đối với những người đã trưởng thành, sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật là một yêu cầu bắt buộc Đối với trẻ em, để đảm bảo việc sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật khi trưởng thành thì ngay từ khi còn nhỏ, việc giáo dục pháp luật cho trẻ là một yêu cầu mang tính cấp thiết Pháp luật không chỉ có vai trò xây dựng cho xã hội những thế hệ người sống đúng, sống chuẩn mực mà nó còn tạo ra chất lượng cho cuộc sống Vấn đề này được xã hội quan tâm sâu sắc bắt đầu vào những năm 1980 khi tình hình tội phạm ở trẻ vị thành niên bắt đầu gia tăng và có diễn biến phức tạp Ngày nay, nó trở thành một vấn đề mang tính cấp bách, buộc các nhà nghiên cứu phải vào cuộc Qua tìm tòi, nghiên cứu, chúng tôi thấy rằng các nghiên cứu về giáo dục gia đình nói chung được triển khai nhiều và được công bố theo các cách tiếp cận đa dạng trên nhiều ấn phẩm thuộc các chuyên ngành khác nhau Tuy nhiên, các nghiên cứu về giáo dục pháp luật cho trẻ em không nhiều và
cơ bản nghiêng về giáo dục pháp luật cho học sinh trong nhà trường, cho thanh thiếu niên nói chung, rất ít nghiên cứu liên quan đến giáo dục pháp luật cho trẻ em trong gia đình, nếu có thì chỉ đề cập ở một số lát cắt, góc độ nhất định, không mang tính hệ thống Dưới đây, chúng tôi sẽ cố gắng làm rõ những luận điểm liên quan đến giáo dục pháp luật trong gia đình, vai trò của gia đình trong giáo dục pháp luật cho trẻ em đối với những công trình đã được công bố
Trang 144
2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước
Để vấn đề đi theo từng mảng riêng biệt giúp người đọc dễ hình dung, trước hết, chúng tôi đề cập đến những nghiên cứu liên quan đến giáo dục pháp luật cho trẻ em trong nhà trường Về vấn đề này, cần kể đến luận án phó tiến sĩ Luật học (1991) của
tác giả Lê Quý Đình với đề tài Giáo dục pháp luật cho học sinh trong nhà trường phổ
thông ở nước ta hiện nay Nghiên cứu cho chúng ta cái nhìn bao quát về lý luận và
thực tiễn về giáo dục pháp luật nói chung ở Việt Nam vào những năm đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX trên cơ sở lý luận về bản chất vai trò của pháp luật và những con đường, biện pháp thể hiện vai trò đó trong cuộc sống hiện thực Vấn đề tiếp theo được tác giả
đề cập đến, đó là, trên cơ sở lý luận Mác - Lênin về pháp luật và lý luận của khoa học giáo dục, đề tài làm sáng tỏ những vấn đề có tính quy luật của việc nâng cao chất lượng
và hiệu quả của giáo dục pháp luật cho học sinh trong nhà trường phổ thông Với đề tài này, tác giả sử dụng phương pháp phân tích tài liệu, luận giải, chứng minh những luận điểm quan trọng Bằng những con số thống kê, khảo sát thực tế, và quan sát thực tiễn, tác giả tập trung làm rõ bản chất, vai trò của giáo dục pháp luật cũng như thực trạng giáo dục pháp luật trong hệ thống giáo dục toàn diện cho học sinh Qua nghiên cứu thực trạng giáo dục pháp luật cho học sinh, tác giả khẳng định:
- Thứ nhất, giáo dục pháp luật góp phần vào việc hình thành nhân cách con người mới XHCN trong học sinh phổ thông
- Thứ hai, giáo dục pháp luật - một rrong những biện pháp quan trọng để đấu tranh và phòng ngừa vi phạm và tội phạm trong học sinh
- Thứ ba, đổi mới về nhận thức và tổ chức thực tiễn quá trình giáo dục pháp luật cho học sinh phổ thông không chỉ dựa trên cơ sở lý luận mà phải không ngừng nâng cao hiệu quả hơn nữa
Từ thực trạng đó, nghiên cứu đưa ra phương hướng nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả của công tác giáo dục pháp luật cho học sinh trong nhà trường phổ thông
Cũng với chủ đề giáo dục pháp luật cho học sinh trong nhà trường phổ thông,
tác giả Nguyễn Khắc Hùng đã thực hiện luận án tiến sĩ (2009) với đề tài Các biện
pháp tổ chức giáo dục pháp luật cho học sinh trung học phổ thông tại thành phố Hồ Chí Minh Trong nghiên cứu này, tác giả đã sử dụng các khái niệm cơ bản: khái niệm
hoạt động giáo dục, khái niệm tổ chức, khái niệm pháp luật, khái niệm giáo dục pháp luật Các phương pháp nghiên cứu của luận án bao gồm:
- Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận gồm: khái quát hóa những quan niệm, lý thuyết nhằm xác định những quan điểm chỉ đạo và những khái niệm; vận
Trang 155
dụng quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về giáo dục, giáo dục pháp luật, xã hội hóa công tác giáo dục pháp luật; phân tích, đánh giá, so sánh kinh nghiệm nước ngoài về mặt lý luận trong nghiên cứu về giáo dục pháp luật
- Nhóm phương pháp nghiên cứu cụ thể gồm các phương pháp: phỏng vấn, quan sát, chuyên gia, thực nghiệm, hồi cố tư liệu
- Nhóm phương pháp nghiên cứu sử dụng toán học
Với cách tiếp cận đó, đề tài đã đi sâu nghiên cứu hai vấn đề cơ bản, đó là: thực trạng tổ chức giáo dục pháp luật cho học sinh trung học phổ thông và biện pháp giáo dục pháp luật cho học sinh trung học phổ thông ở thành phồ Hồ Chí Minh
Cũng tương tự như đề tài luận án tiến sĩ của Lê Quý Đình, đề tài luận án này cũng đi sâu nghiên cứu về thực trạng giáo dục pháp luật cho học sinh trung học phổ thông với những điểm cơ bản như nội dung giáo dục, chất lượng đội ngũ giáo viên,
sự phối hợp giữa các ban ngành đoàn thể xã hội Tuy nhiên, nghiên cứu này đi sâu hơn về các biện pháp, các cách thức tổ chức giáo dục Phần quan trọng nhất của luận
án là đưa ra các biện pháp giáo dục pháp luật cho học sinh phổ thông bao gồm: các nguyên tắc xây dựng và hoàn thiện các biện pháp giáo dục pháp luật, biện pháp giáo dục pháp luật cho học sinh, nhóm biện pháp tác động vào nhận thức của các lực lượng có trách nhiệm, nhóm biện pháp tác động vào nội dung, chương trình giáo dục, nhóm biện pháp tác động vào công tác quản lý Và đây là phần chính của nghiên cứu
Cùng tác giả Nguyễn Khắc Hùng, cuốn sách Phương pháp giáo dục pháp luật,
tập 1 và tập 2 (Nxb Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh, 2009) là một công trình nghiên cứu khoa học mang tính lý luận sâu sắc và tính thực tiễn phong phú Theo tác giả, đi đôi với việc tuyên truyền giáo dục pháp luật, chương trình giáo dục pháp luật trong nhà trường cũng cần phải được đổi mới về nội dung, chương trình, hình thức và phương pháp để đảm bảo chất lượng Tác giả cho rằng, trong một thời gian khá dài, công tác tuyên truyền pháp luật trong nhân dân nói chung và giáo dục pháp luật cho học sinh trong nhà trường nói riêng chưa thực sự được quan tâm đúng mức Do vậy, sự hiểu biết pháp luật của nhân dân còn hạn chế dẫn đến tình trạng vi phạm pháp luật, đặc biệt ở trẻ
vị thành niên còn nhiều Xuất phát từ thực tế đó, công tác giáo dục pháp luật đối với học sinh cần phải được quan tâm một cách đầy đủ hơn; công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên và các lực lượng giáo dục đảm nhận nhiệm vụ này cũng cần phải được đánh giá đúng mức
Ở một góm độ khác, bài viết Xã hội hóa công tác giáo dục pháp luật cộng đồng
đối với thanh thiếu niên học sinh tại thành phố Hồ Chí Minh của tác giả Nguyễn Khắc
Trang 166
Hùng đăng trên Tạp chí Giáo dục (số 82, 4/2004) bàn về xã hội hóa công tác giáo dục pháp luật cho thanh thiếu niên, học sinh Bài viết đưa ra một số biện pháp để đa dạng hóa các hình thức giáo dục pháp luật cho học sinh và sinh viên tại Thành phố Hồ Chí Minh nhằm nâng cao hiệu quả tác động giáo dục pháp luật đối với từng đối tượng trẻ
em hoặc thanh, thiếu niên
Nhấn mạnh vai trò của nhà trường đối với việc giáo dục pháp luật cho học
sinh, sinh viên, đề tài Thực trạng phạm tội của học sinh, sinh viên Việt Nam trong mấy
năm gần đây và vấn đề giáo dục pháp luật trong nhà trường (1995) của hai tác giả
Vương Thanh Hương (Viện Nghiên cứu và Phát triển giáo dục) và Nguyễn Minh Đức (Viện Kiểm sát nhân dân tối cao) đã đề cập đến những trở ngại và thách thức mà Việt Nam phải đối mặt, đó là: tình trạng phạm tội của học sinh, sinh viên; công tác giáo dục pháp luật và phòng ngừa tội phạm trong trường học tại Việt Nam
Liên quan đến giáo dục pháp luật trong nhà trường, cuốn sách Giáo dục pháp
luật trong nhà trường của tác giả Nguyễn Đình Đặng Lục (Nxb Giáo dục, Hà Nội,
2008) là một nghiên cứu có nhiều điểm chung với những nghiên cứu nói trên Tương đồng với nghiên cứu của tác giả Lê Quý Đình và Nguyễn Khắc Hùng, nghiên cứu này
đề cập đến những nhận thức chung và vai trò của pháp luật trong quá trình hình thành nhân cách Nghiên cứu khẳng định giáo dục pháp luật góp phần quan trọng vào việc hình thành nhân cách con người, ngoài ra nghiên cứu cũng đưa ra nhiệm vụ, nguyên tắc, hình thức giáo dục pháp luật trong trường phổ thông, bàn đến nội dung giáo dục pháp luật trong nhà trường Có điểm khác với những nghiên cứu đã có, cuốn sách này
đề cập đến những nhận thức cơ bản của giáo dục pháp luật trong nhà trường phổ thông
Với mục tiêu giáo dục toàn diện là đào tạo con người Việt Nam có đạo đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và CNXH; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, việc xây dựng và không ngừng hoàn thiện hệ thống pháp luật, trong đó vấn đề đẩy mạnh phổ biến, giáo dục pháp luật cho mọi nhóm đối tượng, bao gồm cả học sinh, sinh viên - những công dân trẻ là một yêu cầu cấp thiết và mang tính khách quan Giáo dục pháp luật là một nội dung không thể thiếu trong chương trình giáo dục ở các cấp học và trình độ đào tạo của hệ thống giáo dục quốc dân Với mục tiêu này, Sở Tư pháp thành phố Đà Nẵng đã cho ra đời ấn phẩn tuyên truyền
Pháp luật Chuyên đề phổ biến giáo dục pháp luật trong nhà trường (3/2012)
Những nghiên cứu đã được nêu ở trên chỉ đề cập đến giáo dục pháp luật trong nhà trường Trong phần tiếp theo, chúng tôi sẽ tìm hiểu về các góc độ nghiên cứu giáo dục
Trang 177
pháp luật liên quan gia đình Cuốn sách Phòng ngừa người chưa thành niên phạm tội
của nhóm tác giả Vũ Đức Khiển, Bùi Hữu Hùng, Phạm Xuân Chiến, Đỗ Văn Hãn, Trần Phàn (Nxb Pháp lý, Hà Nội, 1987), bằng phương pháp tổng hợp, phân tích tài liệu, điều tra khảo sát, chứng minh bằng các con số thống kê đã nêu lên vấn đề mà xã hội quan tâm vào những năm 1980, đó là tình trạng phạm tội ở trẻ vị thành niên và đưa
ra các biện pháp phòng ngừa Với nội dung này, nghiên cứu đưa ra 3 vấn đề cơ bản:
Thứ nhất, tình trạng phạm tội ở trẻ vị thành niên vào những năm 1980 và hậu quả
của nó Đây là vấn đề được các bậc cha mẹ và toàn xã hội lúc bấy giờ quan tâm
Thứ hai, môi trường với vấn đề người chưa thành niên phạm tội Liên quan đến
vấn đề này, có 3 môi trường được nói đến, đó là: gia đình, nhà trường và xã hội, trong
đó, môi trường gia đình được đưa ra bàn thảo nhiều hơn cả Theo lập luận của các tác giả, gia đình là tế bào của xã hội, việc quan tâm tạo điều kiện cho những tế bào đó phát triển lành mạnh là nền tảng cho sự phát triển của một xã hội tốt đẹp Muốn hoàn thành tốt nhiệm vụ ấy, mỗi gia đình phải biến mình thành một đơn vị giáo dục Gia đình có làm tròn được bổn phận ấy hay không là tùy thuộc vào những người làm cha, làm mẹ Các tác giả cho rằng, phần lớn những trẻ vị thành niên phạm tội là do không được giáo dục tốt ngay trong gia đình Các lập luận này được minh chứng bằng những số liệu điều tra và khảo sát hết sức sinh động và có sức thuyết phục Hai môi trường còn lại là nhà trường và xã hội cũng được xem như những yếu tố cực kỳ quan trọng góp phần vào việc giáo dục và hoàn thiện nhân cách trẻ em
Thứ ba, từ thực tế và những lập luận nêu trên, nhóm tác giả đưa ra các biện pháp
phòng ngừa tình trạng người chưa thành niên phạm tội Các yếu tố được đề cập đến, đó là: vai trò giáo dục của gia đình, hoạt động của nhà trường, những biện pháp của nhà nước, những biện pháp tác động của cơ quan bảo vệ pháp luật Trong đó, tác giả nêu ra các biện pháp cụ thể của gia đình cũng như của nhà trường trong giáo dục pháp luật cho trẻ em, đồng thời nhấn mạnh yếu tố phối hợp mang tính đồng bộ giữa gia đình, nhà trường và xã hội trong việc giáo dục pháp luật cho trẻ em để mang lại kết quả tối ưu
Trong cuốn sách trên, gia đình được đề cập đến như một trong những môi trường quan trọng nhất trong giáo dục nói chung, giáo dục pháp luật cho trẻ em nói riêng Nghiên cứu cho thấy vai trò không thể thay thế của gia đình trong giáo dục pháp luật đối với con cái và điều quan trọng nữa là nghiên cứu chỉ ra tầm quan trọng của mối liên hệ giữa gia đình, nhà trường và xã hội trong quản lý và giáo dục trẻ em
Cuốn sách tác giả Nguyễn Đình Đặng Lục Vai trò của pháp luật trong quá trình
hình thành nhân cách (Nxb Tư pháp, Hà Nội, 2005) đưa ra các nội dung liên quan đến:
Trang 188
nhân cách và môi trường xã hội; vai trò của pháp luật trong quá trình hình thành nhân cách của người chưa thành niên; đặc điểm giáo dục pháp luật đối với người chưa thành niên và nội dung nguyên tắc, nhiệm vụ đối với công tác giáo dục này; vai trò của nhà trường, xã hội, gia đình trong quá trình hình thành và phát triển nhân cách; đặc điểm tâm
lí và tính nguyên tắc trong giáo dục pháp luật đối với người chưa thành niên Không giống với nghiên cứu khác của chính tác giả cũng như các tác giả khác, nghiên cứu này của Nguyễn Đình Đặng Lục ngoài việc đi sâu nghiên cứu giáo dục pháp luật trong nhà trường còn đề cập đến vai trò của gia đình trong giáo dục pháp luật cho trẻ em Tuy nhiên, đây chỉ là một vấn đề trong một số vấn đề được đề cập đến, công trình không đi sâu nghiên cứu toàn diện về giáo dục pháp luật trong gia đình
Đáp ứng mục tiêu xây dựng bộ tài liệu phục vụ cho các lớp tập huấn cán bộ làm việc với trẻ em làm trái pháp luật, Ủy ban Bảo vệ và Chăm sóc trẻ em Việt Nam tái bản
cuốn sách Tài liệu tham khảo về công tác với trẻ em làm trái pháp luật (1999), trong
đó đề cập rất cụ thể đến các vấn đề sau: vai trò giáo dục trong việc ngăn ngừa các hành
vi làm trái pháp luật của trẻ em, giáo dục lại đối với trẻ em hư và có hành vi làm trái pháp luật, biện pháp phòng ngừa và giáo dục lại trẻ hư - làm trái pháp luật, thực trạng - nguyên nhân - giải pháp đối với trẻ em làm trái pháp luật Liên quan đến giáo dục pháp luật cho trẻ em, cuốn sách cũng đề cập đến 3 môi trường cơ bản Đối với giáo dục pháp luật trong nhà trường, tài liệu đề cập cơ bản về sự thiếu thống nhất trong việc tác động đến trẻ em của những người giáo dục, chưa phát huy thế mạnh của giáo dục bằng tập thể, giáo viên chưa quan tâm đến công tác giáo dục pháp luật, chưa hiểu đặc điểm tâm sinh lý của học sinh, thiếu nghiêm túc trong quá trình tổ chức, kiểm tra, thi cử Về phía
xã hội, nghiên cứu chỉ ra những ảnh hưởng tiêu cực của giáo dục xã hội đối với trẻ em như: thiếu sót về tổ chức hoạt động đoàn đội ở địa phương, những thiếu sót của phương tiện truyền thông đại chúng, ảnh hưởng của văn hóa phẩm không lành mạnh, những tiêu cực từ phát triển kinh tế thị trường, môi trường sống thiếu lành mạnh, những sai lệch trong định hướng giá trị nghề nghiệp… Liên quan đến giáo dục pháp luật trong gia đình, liệu này nhấn mạnh đến chức năng, vai trò giáo dục của gia đình, những sai lệch cha mẹ thường mắc phải trong giáo dục con cái, sự không quan tâm đúng mức đến giáo dục của cha mẹ đối với con cái, sự bất hợp lý trong nội dung, phương pháp giáo dục, sự áp đặt và không hiểu tâm sinh lý của con cái ở các bậc cha
mẹ Nhìn chung, dù được nói đến, nhưng cũng tương tự như nghiên cứu trên, giáo dục pháp luật trong gia đình chỉ là một khía cạnh nhất định mà tài liệu đề cập đến
Trang 199
Tác giả Đặng Trần Thanh Ngọc với bài viết Tình hình và giải pháp ngăn ngừa
tình trạng vi phạm pháp luật của học sinh, sinh viên đăng trên Tạp chí Nhà nước và
Pháp luật (số 2/2010) khẳng định: giáo dục đạo đức, pháp luật cho mọi thành viên trong
xã hội, đặc biệt đối với đối tượng học sinh, sinh viên vốn là những chủ nhân tương lai của đất nước là một vấn đề mang tính cấp bách Trong bài viết, bằng những con số điều tra, tác giả đã nêu lên thực trạng đáng báo động về tệ nạn xã hội và vi phạm pháp luật ở học sinh, sinh viên Từ thực trạng đó, nghiên cứu đi tìm hiểu nguyên nhân sâu xa Tác giả cho rằng, đó là kết quả của sự quan tâm không đúng mức, giáo dục không đồng bộ của gia đình, nhà trường và xã hội, trong đó, giáo dục gia đình đóng vai trò quyết định
Để ngăn ngừa tình trạng vi phạm pháp luật của học sinh, sinh viên, nghiên cứu đã đưa ra các kiến nghị xác đáng, mang tính thực tiễn cao Trong nghiên cứu này, tác giả đề cao vai trò của gia đình trong giáo dục pháp luật cho trẻ em, tuy nhiên điểm quan trọng mà tác giả muốn đề cập đến là mối quan hệ giữa các thiết chế trong giáo dục trẻ em
Để tìm hiểu nguyên nhân của việc phạm pháp ở trẻ em, bài viết Một vài nhận
xét về hiện tượng thiếu niên phạm pháp (qua khảo sát ở Trường giáo dưỡng Xuân An),
của tác giả Phạm Đình Chi, đăng trong cuốn Trẻ em gia đình và xã hội do Mai Quỳnh
Nam chủ biên (2004), đã nhận diện những nguyên nhân dẫn đến vi phạm pháp luật ở trẻ em mà nguyên nhân cơ bản là do gia đình Bằng phương pháp điều tra xã hội học thực nghiệm qua khảo sát ở Trường Giáo dưỡng Xuân An, xã An Phước, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai, nghiên cứu khẳng định vai trò và ảnh hưởng to lớn của gia đình đối với việc hình thành ý thức pháp luật ở trẻ em Tác giả bài viết khẳng định điều kiện hoàn cảnh kinh tế nghèo túng, cha mẹ không có việc làm, gia đình đông con, sự bất hòa giữa cha mẹ… là nguyên nhân cơ bản dẫn đến tình trạng vi phạm pháp luật ở trẻ
em Trong nghiên cứu này, gia đình cũng được đề cập đến như một yếu tố căn bản tác động đến việc hình thành nhân cách trẻ em Cùng có quan điểm như vậy, cũng trong
cuốn sách này, tác giả Mai Quỳnh Nam cũng có bài viết Quan hệ xã hội và tội phạm
chưa đến tuổi thành niên cho rằng tình trạng gia tăng vi phạm pháp luật ở người chưa
thành niên trách nhiệm trước hết thuộc về gia đình Để giải quyết vấn đề này, trước hết các gia đình phải làm tốt công tác giáo dục và chăm sóc trẻ em, bên cạnh đó, giáo dục pháp luật trong nhà trường cũng phải được tăng cường Nhìn chung, hai nghiên cứu này cơ bản đi sâu tìm hiểu nguyên nhân của tình trạng vi phạm pháp luật ở người chưa thành niên, trong đó nhấn mạnh yếu tố gia đình và đề cập đến sự phối hợp giữa các
Trang 2010
thiết chế trong giáo dục pháp luật cho trẻ em, không đề cập cụ thể đến giáo dục pháp luật cho trẻ em trong gia đình
Tiếp cận từ góc độ hỏi đáp pháp luật, cuốn sách Giáo dục pháp luật cho trẻ em
(Nxb Hà Nội, 2005) của nhóm tác giả Nguyễn Vĩnh Oánh và Trần Thị Quốc Khánh góp phần bồi dưỡng kiến thức pháp luật, giáo dục ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật đối với trẻ em, đồng thời giúp các bậc cha mẹ, những người làm công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em có điều kiện tìm hiểu pháp luật về trẻ em Cuốn sách được chia ra làm hai phần, phần thứ nhất gồm một số danh ngôn về giáo dục trẻ em; phần thứ hai là các câu hỏi và trả lời ngắn gọn, xúc tích về Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, quyền, bổn phận trẻ em, vi phạm hành chính và vấn đề xử lý hình sự… Cuốn sách giúp cho việc tìm hiểu, thi hành pháp luật nói chung, pháp luật về trẻ em nói riêng nhằm từng bước làm cho công tác giáo dục pháp luật cho trẻ em có hiệu quả
Trên đây là những nghiên cứu liên quan đến giáo dục pháp luật cho học sinh trong nhà trường và một số khía cạnh liên quan đến giáo dục pháp luật cho trẻ em trong gia đình Ngoài những công trình này, còn một số nghiên cứu liên quan đến giáo dục pháp luật nói chung đối với trẻ em
Xuất phát từ nhiệm vụ đấu tranh chống tội phạm nói chung và yêu cầu giáo dục, chăm sóc và bảo vệ thế hệ trẻ trong điều kiện hiện nay nói riêng, việc triển khai các hoạt động phòng ngừa, ngăn chặn và giải quyết tình trạng trẻ em vi phạm pháp luật nói
chung, Bộ Lao động Thương binh và Xã hội và UNICEF đã biên soạn cuốn sách Bảo
vệ và chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, trong đó có chương Trẻ em vi phạm pháp luật đề cập chi tiết đến: thực trạng trẻ em vi phạm pháp luật, cơ cấu vi phạm pháp luật,
nguyên nhân và một số biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn và giải quyết tình trạng trẻ
em vi phạm pháp luật Các số liệu trong nghiên cứu này cho thấy cái nhìn tổng quát về vấn đề vi phạm pháp luật của trẻ em trong suốt thập kỷ 90 của thế kỷ XX
Góp phần phòng ngừa trẻ em vi phạm pháp luật, tác giả Phạm Văn Hùng có bài
viết Phòng ngừa trẻ em làm trái pháp luật đăng trong cuốn Vấn đề phụ nữ và trẻ em
thời kỳ 2001 - 2010 do Bộ Lao động Thương binh và xã hội và UNICEF phối hợp biên
soạn Trong bài viết, vấn đề về thực trạng tình hình trẻ em làm trái pháp luật, nguyên nhân và công tác phòng ngừa, xử lý được nêu ra cụ thể Bên cạnh đó, bài viết cũng đề xuất các giải pháp phòng ngừa trẻ em làm trái pháp luật
Viện Nghiên cứu Thanh niên (thuộc Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ
Chí Minh) với đề tài Đánh giá thực trạng, xác định nội dung, hình thức, kế hoạch và
Trang 21Công trình nghiên cứu Một số vấn đề giáo dục pháp luật ở miền núi và vùng
dân tộc thiểu số (Nxb Chính trị quốc gia, 1996) nêu lên thực trạng, khó khăn và
đặc thù trong việc giáo dục pháp luật cho đồng bào các dân tộc miền núi Đây là một trong số ít đề tài được triển khai nghiên cứu do đặc thù và tính phức tạp của
địa bàn và đối tượng nghiên cứu Những công trình nghiên cứu khác như: Một số
vấn đề về giáo dục pháp luật trong giai đoạn hiện nay của Bộ tư pháp (Nxb
Thanh niên, 1997); Xây dựng ý thức và lối sống theo pháp luật của Đào Trí Úc (1995); Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về giáo dục pháp luật trong công cuộc
đổi mới của Viện Nghiên cứu khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp (1995)… thể hiện
những khía cạnh nghiên cứu riêng nhưng đều xoay quanh vấn đề trung tâm là giáo dục pháp luật cho nhân dân nói chung, trẻ em nói riêng
Bài viết Một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác giáo dục pháp luật (2008)
của tác giả Trần Thị Sáu góp phần khẳng định tầm quan trọng của giáo dục pháp luật và đưa ra một số giải pháp thiết thực nhằm nâng cao hiệu quả của công tác này
Với góc độ tiếp cận Tâm lý học, cuốn sách Tâm lý phạm tội và vấn đề chống tội
phạm (lứa tuổi vị thành niên) của tác giả Lê Văn Cương và các cộng sự (Nxb Công an
nhân dân, 1999) lại dựa trên cơ sở tâm lý học và triết học để tìm hiểu cơ chế tâm lý phạm tội ở trẻ vị thành niên, từ đó có những giải pháp thực tiễn đúng đắn cho vấn đề giáo dục pháp luật cho trẻ em Cuốn sách tập trung làm rõ đặc điểm tâm lý lứa tuổi vị thành niên, đi tìm nguyên nhân phạm tội ở lứa tuổi này và đề ra giải pháp phòng ngừa hành vi phạm tội Không giống như các nghiên cứu khác thường thể hiện bằng những con số thống kê hay khảo sát, cuốn sách này, bằng những câu chuyện có thật được sưu tầm mang tính xác thực và sinh động đã lột tả toàn bộ tâm trạng, suy nghĩ của những trẻ vị thành niên đã từng phạm tội, những yếu tố tác động tới lối nghĩ của trẻ lúc sắp phạm tội, sự manh động liều lĩnh khi hành động, sự ăn năn hối cải với những giọt nước mắt muộn màng… tất cả những điều đó miêu tả chân thực cuộc sống tâm lý cũng như những cuộc “chiến tranh” tâm lý của trẻ em Bằng phương pháp nghiên cứu tâm lý độc đáo, cuốn sách giúp cho các gia đình, các nhà hoạch định chính sách tìm ra các giải pháp phù hợp, cùng với xã hội ngăn ngừa tội phạm từ gốc rễ
Trang 2212
Cũng với giác độ tiếp cận Tâm lý học, Ký sự những vụ án trẻ em phạm pháp
(Nxb Phụ nữ, 2001) của tác giả Thủy Cúc, với lời văn tinh tế, bình dị đã ghi lại một cách sinh động những câu chuyện đời thường cùng những mặt trái, những bi kịch của cuộc sống qua các vụ án xét xử tại tòa án khiến người đọc phải suy ngẫm và trăn trở Cuốn sách không chỉ chia sẻ, gợi mở cho người lầm lỗi hướng tới một cuộc sống lương thiện mà còn góp phần làm cho con người nói chung, những người làm công tác liên quan đến pháp luật nói riêng có một cái nhìn khách quan và hướng thiện đối với tội phạm, đặc biệt là tội phạm ở lứa tuổi chưa thành niên
Tóm lại, giáo dục pháp luật là một vấn đề đã được khá nhiều nghiên cứu trong nước quan tâm, nhất là trong những năm gần đây Những nghiên cứu này đã cung cấp, phân tích các số liệu nhằm đánh giá về tình trạng vi phạm pháp luật ở người chưa thành niên cũng như công tác giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên Tuy nhiên, phần lớn các công trình tập trung nghiên cứu giáo dục pháp luật cho trẻ em trong nhà trường và xã hội, ít nghiên cứu liên quan đến giáo dục pháp luật cho con cái trong gia đình một cách độc lập hoặc đánh giá về vai trò của gia đình trong giáo dục pháp luật cho con cái Để có cái nhìn tổng thể hơn, chúng tôi đưa ra một số nghiên cứu của nước ngoài liên quan đến giáo dục pháp luật cho trẻ em
2.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
Giáo dục đạo đức, nhân cách và ý thức pháp luật cho trẻ em nói chung, cho học sinh, sinh viên nói riêng được các quốc gia trên thế giới quan tâm Mục đích của việc giáo dục ý thức pháp luật cho trẻ em không phải chỉ làm cho chúng hiểu và sống theo pháp luật, mà quan trọng hơn là giáo dục cho các em kỹ năng sống, kỹ năng vươn lên chính mình, khắc phục khó khăn, có ý chí và có cách ứng phó trong mọi hoàn cảnh sống Nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề tội phạm, tội phạm vị thành niên, ngăn chặn tội phạm vị thành niên, vai trò của xã hội đối với việc ngăn ngừa tội phạm vị thành niên… đã được triển khai Qua tìm tòi, chúng tôi xin đưa ra một số công trình nghiên cứu của nước ngoài có liên quan sau đây:
Thanh niên, tội phạm và công việc của cảnh sát (Youth, crime and police work)
(New York: Macmillan Press Ltd, 1998) của tác giả Maggy Lee đề cập đến việc giữ gìn trật tự và ứng phó với tội phạm thanh, thiếu niên; những đòi hỏi về nghiệp vụ đối với cảnh sát làm nhiệm vụ ngăn chặn tội phạm ở tuổi trẻ; trách nhiệm của toàn xã hội trong việc quản lý và ngăn ngừa trẻ vị thành niên phạm tội [91]
Trang 2313
Tác giả Snare Annika với cuốn Thanh niên, tội phạm và công lý (Youth, crime
and justice”) (Norwegian Univ press, 1991) cơ bản đề cập đến vấn đề trẻ vị thành niên
phạm tội ở các nước Bắc Âu; luật pháp với vấn đề tội phạm ở lứa tuổi vị thành niên và thái độ của xã hội đối với vấn đề này [89]
Đề tài nghiên cứu Tại sao thanh niên đi theo bạo lực? (Pourquoi les jeunes sont -
ils violents?) của Khadij Imogai, Panline Van Deth, Aymeric Beav Chêne (số 5125,
ngày 31/12/2000) (Nguồn: Viện Thông tin khoa học xã hội - số TN 2001 - 60) đề cập đến hành vi bạo của thanh niên Đây là một vấn đề đáng quan tâm, lo ngại của nhiều nước trên thế giới, kể cả các nước phát triển hay đang phát triển Trong nghiên cứu này, tác giả tập trung nghiên cứu và đi tìm nguyên nhân sâu xa của hành vi bạo lực ở thanh niên Yếu tố tâm lý lứa tuổi, tác động của văn hóa không lành mạnh hoặc sự thiếu sót của giáo dục không được đề cập đến như những nguyên nhân chủ yếu mà tác giả đặc biệt chú ý phân tích khía cạnh được coi là cơ bản, đó là, cơ chế ứng xử của xã hội đối với thanh niên, coi đây là yếu tố tác động cơ bản đến hành vi bạo lực của thanh niên Theo tác giả, sự phân biệt đối xử (được gọi là bạo lực xã hội) giữa các thanh niên trong xã hội chính là nguyên nhân dẫn đến hành vi bạo lực này Phản xạ tự nhiên của bộ phận thanh niên này sẽ là phản ứng có ý thức hoặc không có ý thức nhằm chống lại bạo lực của xã hội và đây chính là nguyên nhân gây ra hành vi bạo lực của thanh niên Theo tác giả, để giải quyết tình trạng bạo lực này, trước hết phải giải quyết những vấn đề về cơ chế và ứng xử của xã hội đối với thanh niên Đây được coi như một yếu tố quan trọng góp phần giảm thiểu tình trạng bạo lực ở thanh niên, mặt khác nâng cao ý thức trách nhiệm công dân của họ đối với xã hội [94]
Đề cập đến các hình phạt đối với vị thành niên phạm tội đặc biệt nghiêm trọng,
cuốn sách Thanh thiếu niên và án tử hình (Teens and the death penalty) của tác giả
Landau Elaine (Hants: Enslow publishers, 1992) nói về hình phạt tử hình đối với việc
xử phạt trẻ vị thành niên phạm tội đặc biệt nghiêm trọng dưới chế độ tư bản, đặc biệt là
ở Mỹ; hiệu quả của hình phạt này nhìn từ khía cạnh xã hội học và thái độ của xã hội đối với hình phạt này [90]
Vấn đề tương tự cũng được bàn đến trong cuốn Cảnh sát và thanh niên tại
Úc (The police and young people in Australia) (Cambridge: Cambridge at the
university press, 1994) của tác giả White Rob Nghiên cứu nói về sự phạm pháp của thanh niên, việc xét xử thanh niên phạm tội, thái độ của cảnh sát đối với thanh niên, luật pháp và cách ngăn chặn tội phạm ở thanh niên Úc [92]
Trang 2414
Đánh giá chung:
* Đối với các nghiên cứu trong nước: Các công trình nghiên cứu trong nước cơ
bản đặt ra các vấn đề về lý luận và thực tiễn trong hoạt động giáo dục nói chung Đã có khá nhiều nghiên cứu trong những năm gần đây đề cập đến giáo dục pháp luật cho trẻ
em ở các lứa tuổi, tuy nhiên, phần lớn các đề tài nghiên cứu tập trung đánh giá thực trạng về tình trạng vi phạm pháp luật ở người chưa thành niên hiện nay, làm rõ nguyên nhân và đưa ra các giải pháp khắc phục Các nghiên cứu cơ bản nghiêng về giáo dục pháp luật cho học sinh, sinh viên trong nhà trường, ít đề tài liên quan đến giáo dục pháp luật cho con cái trong gia đình Những nghiên cứu về giáo dục pháp luật trong nhà trường tập trung cơ bản vào các vấn đề: thực trạng vi phạm pháp luật ở học sinh, sinh viên, thanh niên hiện nay; vai trò của nhà trường trong giáo dục pháp luật cho học sinh; đổi mới nội dung, phương pháp, đa dạng hóa các hình thức giáo dục pháp luật trong nhà trường; công tác đào đạo, nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên giảng dạy pháp luật; khẳng định sự cần thiết của mối liên hệ giữa gia đình, nhà trường và xã hội trong giáo dục pháp luật cho trẻ em; phương pháp, cách thức tổ chức giáo dục pháp luật, các giải pháp đẩy mạnh công tác giáo dục pháp luật trong nhà trường và tại các tổ chức xã hội với mục đích nâng cao ý thức pháp luật cho trẻ em nhằm ngăn ngừa và giảm thiểu tình trạng phạm tội ở người chưa thành niên Các công trình nghiên cứu chỉ ra các góc độ và khía cạnh đa dạng, phản ánh khá cơ bản, toàn diện bức tranh về tình trạng vi phạm pháp luật ở trẻ em và việc giáo dục pháp luật cho trẻ em ở nhà trường hiện nay Các công trình nghiên cứu thể hiện sự công phu, có thể giúp các nhà hoạch định chính sách tham khảo
để xây dựng các chính sách xã hội phù hợp với sự phát triển chung của đất nước
Liên quan đến giáo dục pháp luật cho con cái trong gia đình, các nghiên cứu đề cập đến những vấn đề cơ bản như: tình trạng vi phạm pháp luật ở người chưa thành niên hiện nay, nguyên nhân và các biện pháp phòng ngừa; vai trò của gia đình trong giáo dục pháp luật cho con cái; tầm quan trọng của việc kết hợp giữa gia đình, nhà trường và xã hội trong giáo dục pháp luật cho trẻ em, song các nghiên cứu này mới chỉ phản ánh vấn
đề ở một số góc độ nhất định, chưa đa dạng, phong phú, chưa có nghiên cứu nào phản ánh toàn diện về giáo dục pháp luật cho trẻ em trong gia đình
* Đối với các nghiên cứu của nước ngoài: Có thể nói rằng, các công trình
nghiên cứu thể hiện sự công phu, mang tính thiết thực cao Các nghiên cứu thường thẳng thắn, không né tránh khi nói đến các vấn đề thường được cho là nhạy cảm ở Việt Nam Phương thức giáo dục có hiệu quả, huy động và thu hút được sự tham gia của mọi thành phần xã hội, mọi nguồn lực của quốc gia Các nghiên cứu thường đề cao, coi trọng và khám phá đối tượng nghiên cứu một cách triệt để, tạo ra những kết quả sát thực đáp ứng
Trang 2515
mục tiêu của nghiên cứu Tuy nhiên, các công trình nghiên này phần lớn liên quan đến từng mảng cụ thể của vấn đề, ít nghiên cứu thể hiện một cách toàn diện cả về lý luận và thực tiễn thực trạng phạm tội ở trẻ em và vấn đề giáo dục pháp luật cho trẻ em
Tóm lại, các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước là nguồn tài liệu quan
trọng và quí báu để tác giả tham khảo, kế thừa và định hướng cho đề tài nghiên cứu của mình Các kết quả nghiên cứu cung cấp những số liệu tin cậy về tình trạng vi phạm pháp luật ở người chưa thành niên; nguyên nhân của vấn đề này; vai trò của gia đình, nhà trường và xã hội trong giáo dục pháp luật cho trẻ em; các giải pháp để nâng cao hiệu quả của giáo dục gia đình, nhà trường và xã hội đối với trẻ em… Tất cả những khía cạnh này đều ít nhiều liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến luận án Các kết quả nghiên cứu là những bằng chứng khoa học quan trọng để trên cơ sở đó, luận án có thể chứng minh được tính khoa học, tính chính xác của các luận điểm được đưa ra Tuy nhiên, trong các công trình khoa học đã được công bố, phần lớn đề cập đến giáo dục pháp luật cho trẻ em trong nhà trường và xã hội, ít công trình đề cập đến giáo dục pháp luật cho con cái trong gia đình Nếu có, thì nó chỉ được thể hiện ở những khía cạnh và góc độ nhất định, chưa có nghiên cứu nào được thực hiện một cách toàn diện, độc lập
về giáo dục pháp luật cho con cái trong gia đình Để bổ sung cho sự khẳng định về vai trò quan trọng của gia đình trong giáo dục pháp luật cho con cái, góp phần tìm ra các giải pháp nâng cao hiệu quả của giáo dục pháp luật trong gia đình hiện nay, trên cơ sở
kế thừa và tiếp thu có chọn lọc kết quả của các nghiên cứu trước, chúng tôi tiến hành
thực hiện đề tài nghiên cứu: “Giáo dục pháp luật cho con cái trong gia đình hiện nay”
(nghiên cứu trường hợp tỉnh Quảng Ninh)
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa các khái niệm, lý thuyết sử dụng trong nghiên cứu
- Nhận diện thực trạng giáo dục pháp luật cho con cái lứa tuổi THCS, THPT trong các gia đình tại tỉnh Quảng Ninh hiện nay thông qua nghiên cứu nhận thức của các bậc cha mẹ; nội dung, phương pháp giáo dục; hiệu quả của giáo dục pháp luật trong gia đình
- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến giáo dục pháp luật cho con cái trong gia đình ở Quảng Ninh hiện nay
Trang 2616
- Đề xuất khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả của giáo dục pháp luật cho con cái trong gia đình
4 Đối tƣợng, khách thể, phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Giáo dục pháp luật cho con cái trong gia đình hiện nay
* Không gian: Huyện Đông Triều và TP Hạ Long thuộc tỉnh Quảng Ninh
* Giới hạn nội dung nghiên cứu: Giáo dục pháp luật cho con cái có nhiều nội
dung để triển khai nghiên cứu Trong khuôn khổ một luận án, chúng tôi chỉ tập trung vào ba nội dung cơ bản để nghiên cứu, đó là: giáo dục ý thức tổ chức kỷ luật, giáo dục
- Đây là lứa tuổi đánh dấu bước ngoặt lớn trong nhận thức của người chưa thành niên Tuy nhiên, ở lứa tuổi này, trẻ chưa phát triển đầy đủ về thể chất cũng như về tâm, sinh lý Các em còn hạn chế về trình độ nhận thức cũng như kinh nghiệm sống, thiếu những điều kiện về bản lĩnh tự lập và khả năng tự kiềm chế nên dễ bị kích động, lôi kéo vào những hoạt động phiêu lưu, mạo hiểm Theo thống kê của Bộ Công an, người chưa thành niên làm trái pháp luật trên phạm vi toàn quốc, chia theo nhóm tuổi thì nhóm tuổi có số trẻ vi phạm pháp luật cao nhất là từ 16 đến dưới 18 tuổi chiếm 52,90%, thứ hai là trẻ ở lứa tuổi từ 14 đến dưới 16 tuổi, chiếm 34,77%, còn dưới 14 tuổi chỉ chiếm 11,68% [77, tr.172] Cũng như số liệu tổng hợp này, số liệu trong một
nghiên cứu trường hợp cũng cho thấy điều tương tự: “Về tuổi, trong 145 đối tượng
phạm pháp được khảo sát, có 11% tuổi dưới 14; 40% từ 14 đến dưới 16 tuổi và 49% từ
16 đến dưới 18 tuổi” [12, tr 284]
Trang 2717
- Đây là lứa tuổi bắt đầu phải chịu trách nhiệm hình sự Điều 12 Bộ Luâ ̣t Hình
sự năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009 qui đi ̣nh đô ̣ tuổi chi ̣u trách nhiê ̣m hình sự như
sau: người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm; người
từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng
Đó là những lý do chính khiến chúng tôi lựa chọn vị thành niên ở độ tuổi THCS, THPT để nghiên cứu thay vì nghiên cứu toàn bộ độ tuổi của người chưa thành niên Tương ứng, khách thể nghiên cứu là người lớn chính là cha mẹ của trẻ
* Lý do chọn địa bàn:
Tác giả luận án chọn Quảng Ninh làm địa bàn nghiên cứu bởi lẽ đây là một tỉnh
giáp biên giới có điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội phát triển Sau đổi mới, nền kinh tế
của đất nước nói chung và của tỉnh Quảng Ninh nói riêng phát triển không ngừng Tuy nhiên, cùng với những thành tựu về kinh tế - văn hóa - xã hội cũng đồng thời xuất hiện những vấn nạn của xã hội, trong đó, tình trạng vi phạm pháp luật ở người chưa thành niên là một vấn đề đáng báo động Hiện tượng học sinh bỏ học, tụ tập đánh nhau, sa vào các tệ nạn xã hội và đặc biệt là vi phạm pháp luật tăng lên trong những năm gần đây, mà Quảng Ninh là một trong những tỉnh đứng đầu cả nước về tình trạng trẻ em hư và trẻ em
vi phạm pháp luật Là một trong những nguyên nhân gây ra tình trạng này, giáo dục pháp luật cho con cái trong gia đình tại Quảng Ninh là một vấn đề cần được nghiên cứu Đây là lý do chính mà tác giả luận án chọn tỉnh Quảng Ninh làm địa bàn nghiên cứu cho
đề tài của mình Tại địa bàn tỉnh Quảng Ninh, tác giả luận án chọn 2 khu vực là huyện Đông Triều và TP Hạ Long để nghiên cứu với lý do Quảng Ninh là một tỉnh có sự phân
bố địa lý hành chính gồm nhiều loại: thành phố, nông thôn, miền núi, hải đảo; đặc điểm nhân khẩu - xã hội của người dân như: nghề nghiệp, học vấn, tôn giáo, mức sống, số thế
hệ trong gia đình… khá đa dạng, chính vì vậy mà tác giả luận án chọn 1 địa bàn đại diện cho cư dân đô thị (TP Hạ Long), 1 địa bàn đại diện cho cư dân nông thôn, miền núi (huyện Đông Triều) với mục đích làm cho mẫu khảo sát mang tính đại diện cao hơn
5 Câu hỏi nghiên cứu, giả thuyết nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, khung phân tích
5.1 Câu hỏi nghiên cứu
- Các bậc cha mẹ có con trong độ tuổi THCS và THPT nhận thức như thế nào về tầm quan trọng của giáo dục pháp luật cho con cái trong gia đình?
- Thực trạng giáo dục pháp luật cho con cái trong gia đình tại tỉnh Quảng Ninh hiện nay như thế nào?
Trang 2818
- Việc tiếp nhận giáo dục pháp luật ở con cái như thế nào và những yếu tố nào ảnh hưởng tới giáo dục pháp luật cho con cái?
5.2 Giả thuyết nghiên cứu
- Có sự khác biệt giữa nhận thức và hành vi của cha mẹ trong giáo dục pháp luật cho con cái
- Sự khác biệt về đặc điểm nhân khẩu - xã hội của cha mẹ tạo nên sự khác nhau trong nhận thức, lựa chọn nội dung và phương pháp giáo dục pháp luật cho con cái
- Các yếu tố cơ bản như: học vấn, nghề nghiệp, địa bàn cư trú, mối quan hệ giữa gia đình và nhà trường, môi trường xã hội ảnh hưởng đến giáo dục pháp luật cho con cái
5.3 Phương pháp nghiên cứu
5.3.1 Phân tích tài liệu
Thu thập và xử lý các tài liệu, số liệu và kết quả sẵn có ở các nghiên cứu trước về gia đình, vai trò giáo dục của gia đình; trẻ em, giáo dục trẻ em Tham khảo và sử dụng
số liệu của một số công trình khoa học, báo cáo tổng kết, báo cáo thống kê, khảo sát của các cơ quan nhà nước về công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em Việc phân tích tài liệu để so sánh kết quả nghiên cứu của luận án với những kết quả nghiên cứu đã
có nhằm khẳng định tính đúng đắn của những luận điểm được đưa ra trong đề tài này
5.3.2 Nghiên cứu định tính
Số lượng phỏng vấn là 30 người (gồm 08 người cha, 07 người mẹ, 08 học sinh đang học THCS và 07 học sinh THPT) Với mục đích có được thông tin định tính phong phú và đa dạng, đối tượng nghiên cứu được lựa chọn có chủ định thuộc các thành phần khác nhau về đặc điểm nhân khẩu - xã hội Các thông tin thu thập liên quan đến nhận thức, nội dung, phương pháp, khó khăn… của cha mẹ trong giáo dục pháp luật cho con cái; nhận định, đánh giá của con cái về những vấn đề này
5.3.3 Nghiên cứu định lượng
Phương pháp này được tiến hành khảo sát với 600 bảng hỏi vào tháng 9/2012 Mẫu của nghiên cứu là cha mẹ và con cái đang sinh sống tại huyện Đông Triều và TP
Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh Trong đó, 300 bảng hỏi dành cho cha mẹ từ 30 tuổi trở lên,
300 bảng hỏi dành cho con cái trong độ tuổi vị thành niên hiện đang học tập tại các trường THCS và THPT
Trang 2919
5.3.4 Chọn mẫu nghiên cứu
Trong nghiên cứu này, tác giả luận án đã lựa chọn mẫu phi xác suất thuận tiện Mẫu được lựa chọn trên cơ sở có sự phân bố theo cơ cấu hợp lý về các đặc điểm như: địa bàn nghiên cứu, đặc điểm nhân khẩu - xã hội của khách thể nghiên cứu
Quảng Ninh có 14 huyện thị bao gồm: Ba Chẽ, Cô Tô, Đông Triều, Hoành Bồ, Bình Liêu, Đầm Hà, Tiên Yên, Hải Hà, Vân Đồn, Uông Bí, Hạ Long, Móng Cái, Cẩm Phả, Quảng Yên, trong đó có 9 huyện và 5 thành phố, thị xã Để đảm bảo tính đại diện, chúng tôi đã chọn huyện Đông Triều đại diện cho khu vực dân cư nông thôn và Hạ Long đại diện cho khu vực dân cư thành phố làm địa bàn khảo sát
Huyện Đông Triều có 19 xã và 2 thị trấn, để mẫu mang tính đại diện cho đặc trưng khu vực nông thôn, chúng tôi đã chọn xã Yên Thọ và xã Thủy An làm địa bàn khảo sát Thành phố Hạ Long có 20 phường, với mục đích lấy mẫu đặc trưng cho khu vực thành phố, chúng tôi đã lựa chọn phường Hồng Gai và phường Hồng Hà làm địa bàn khảo sát
Tại địa bàn huyện Đông Triều, trường THPT Lê Chân và trường THCS Yên Thọ được lựa chọn làm địa bàn khảo sát Tại thành phố Hạ Long, 2 trường được lựa chọn khảo sát là trường THPT Văn Lang và trường THCS Trần Quốc Toản
Mẫu khảo sát đối với con cái là những học sinh thuộc các lớp học bình thường (không lấy học sinh các lớp chuyên, lớp chọn và không lấy học sinh các lớp cá biệt) Khảo sát được thực hiện đối với 300 học sinh tại các trường nêu trên và 300 cha hoặc mẹ của những học sinh này
Trang 3121
Xác định biến số:
* Biến số độc lập:
- Đặc điểm gia đình: số thế hệ, số con, địa bàn cư trú, mức sống
- Đặc điểm nhân khẩu học của cha mẹ: tuổi, giới tính, học vấn, nghề nghiệp, tình trạng hôn nhân
* Biến số phụ thuộc:
Giáo dục pháp luật cho con cái trong gia đình
5.4 Khung phân tích (trang 22)
Trang 32GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO CON CÁI TRONG GIA ĐÌNH HIỆN NAY
Mối quan hệ giữa các yếu tố
và việc giáo dục pháp luật cho trẻ em
Nội dung và phương pháp ĐIỀU KIỆN KINH TẾ, VĂN HOÁ, XÃ HỘI
Trang 336.1.2 Ý nghĩa thực tiễn
Nâng cao nhận thức về giáo dục pháp luật cho con cái trong gia đình hiện nay, từ
đó đề xuất một số khuyến nghị nhằm tạo điều kiện cho gia đình phát huy vai trò của mình trong giáo dục nói chung, giáo dục pháp luật cho con cái nói riêng, góp phần vào công cuộc đào tạo con người mới, đáp ứng yêu cầu phát triển của xã hội hiện đại
6.2 Điểm mới
Ở Việt Nam, chưa có nghiên cứu xã hội học thực nghiệm nào đi sâu nghiên cứu vai trò của gia đình trong giáo dục pháp luật cho con cái Luận án đã đi sâu nghiên cứu thực trạng vai trò của gia đình trong giáo dục pháp luật cho trẻ vị thành niên theo hướng tiếp cận xã hội học trên phương diện nhận thức của cha mẹ, nội dung và phương pháp giáo dục; mức độ tiếp nhận giáo dục pháp luật của con cái; những yếu tố ảnh hưởng đến giáo dục pháp luật cho trẻ em, từ đó cung cấp những cơ sở khoa học, giúp các bậc cha mẹ có nhận thức đúng đắn, tổ chức hợp lý việc giáo dục, góp phần nâng cao vai trò của gia đình trong giáo dục pháp luật cho con cái
6.3 Hạn chế
Trong khuôn khổ một luận án, tác giả mới chỉ nghiên cứu việc giáo dục pháp luật cho con cái trong gia đình với khách thể nghiên cứu là học sinh ở độ tuổi vị thành niên mà chưa thể thực hiện được ở các độ tuổi khác, do phạm vi khách thể quá lớn sẽ khó đáp ứng tính sâu sắc của nghiên cứu
Đề tài mới chỉ thực hiện nghiên cứu tại một địa bàn tỉnh mà chưa thể mở rộng nghiên cứu trên phạm vi không gian lớn hơn
Nội dung giáo dục chỉ được xác định ở ba nội dung cơ bản mà không triển khai nghiên cứu trên tất cả các nội dung nhằm mục đích tập trung đi sâu phân tích, đánh giá
vấn đề một cách sâu sắc, tránh dàn trải
7 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, tài liệu tham khảo và phần phụ lục, luận án gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn
Chương 2: Thực trạng giáo dục pháp luật cho con cái lứa tuổi trung học cơ sở và trung học phổ thông trong gia đình hiện nay
Chương 3: Giáo dục pháp luật cho trẻ em trong gia đình và mối quan hệ giữa các yếu tố
Trang 3424
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh về gia đình và giáo dục
1.1.1.1 Quan điểm của Các - Mác, Ph.Ăngghen về gia đình và giáo dục gia đình
Trong tác phẩm “Hệ tư tưởng Đức”, khi nói về tiến trình phát triển của lịch sử
nhân loại, C.Mác và Ph.Ăngghen đã xem xét ba mối quan hệ con người đã được hình
thành trong lịch sử nhân loại Quan hệ thứ nhất là quan hệ giữa con người với tự nhiên,
phản ánh khát vọng chinh phục tự nhiên, nghiên cứu tự nhiên để tồn tại và cũng nhằm
thỏa mãn những nhu cầu không ngừng nảy sinh của con người Quan hệ thứ hai là quan
hệ giữa con người với con người trong quá trình sản xuất, phản ánh các quan hệ sở hữu đối với tư liệu sản xuất, các quan hệ trong tổ chức và quản lý sản xuất, trong phân phối
sản phẩm lao động Quan hệ thứ ba là quan hệ gia đình Theo các ông, quan hệ gia đình
tham dự ngay từ đầu vào quá trình phát triển của lịch sử và cho rằng, hàng ngày tái tạo
ra đời sống của bản thân mình, con người bắt đầu tạo ra những người khác, sinh sôi nảy nở - đó là quan hệ giữa chồng và vợ, cha mẹ và con cái Theo C.Mác và Ph.Ăngghen, ba quan hệ này đan xen, hòa vào nhau và cùng tồn tại
Về giáo dục, C.Mác và Ph.Ăngghen cũng chỉ rõ, con người là sản phẩm của lịch
sử xã hội, của sự tiến hóa lâu dài thông qua lao động Với tư cách là chủ thể xã hội, con người, bằng hoạt động của mình, tác động vào thế giới tự nhiên, cải biến tự nhiên, đồng thời cải tạo chính bản thân mình, thúc đẩy sự phát triển của lịch sử xã hội C.Mác khẳng
định: “Cái học thuyết duy vật chủ nghĩa cho rằng, con người là sản phẩm của hoàn
cảnh, của giáo dục…; cái học thuyết ấy quên rằng, chính những con người làm thay đổi hoàn cảnh và bản thân nhà giáo dục cũng phải được giáo dục” [10, tr.10]
Những luận điểm mang tính khoa học của C.Mác là cơ sở cho các nghiên cứu khoa học về con người và giáo dục con người Có thể nói rằng, muốn giáo dục tốt con người thì phải nắm được bản chất con người Giáo dục gia đình đóng một vai trò quan trọng trong việc hình thành nhân cách của mỗi cá nhân, giúp họ từng bước hòa nhập vào đời sống xã hội Chính vì vậy, để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực thì trước hết phải nâng cao vị trí, vai trò của gia đình trong việc thực hiện chức năng xã hội hóa con người, đồng thời phải kết hợp hài hòa các môi trường giáo dục, đó là gia đình, nhà trường và xã hội Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, chúng ta đang nắm nhiều cơ hội song cũng có không ít thách thức phải vượt qua, trong đó có thách thức về xây dựng gia đình Việt Nam đáp ứng những đòi hỏi ngày càng cao của công cuộc đổi mới đất nước, của sự nghiệp CNH - HĐH và hội nhập kinh tế quốc tế
Trang 3525
1.1.1.2 Tư tưởng của Hồ Chí Minh về giáo dục và giáo dục gia đình
Trong di sản tư tưởng Hồ Chí Minh, tư tưởng về giáo dục luôn có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc đối với sự nghiệp cách mạng của Việt Nam Trong sự nghiệp đào tạo nguồn nhân lực phục vụ cho công cuộc CNH - HĐH đất nước, tư tưởng đó của Người càng có ý nghĩa thiết thực Hồ Chí Minh gắn lý luận giáo dục với thực tiễn giáo dục trong một thể thống nhất không thể tách rời, kết hợp giáo dục gia đình với giáo dục nhà trường và giáo dục xã hội
Ngay sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, nhân dịp khai giảng năm học đầu tiên dưới chế độ mới, trong thư gửi cho học sinh vào ngày 5/9/1945, Bác đã viết:
“Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp được hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới
đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các cháu” [43, tr.20 - 21] Đó là lời căn dặn ân cần,
cũng là sứ mệnh của thế hệ trẻ được Bác Hồ gửi gắm Hồ Chí Minh luôn luôn đề cao giáo dục, đặc biệt là giáo dục thế hệ trẻ mà trước hết là các cháu thiếu niên, nhi đồng
Mở đầu bài nói chuyện của Người tại lớp học chính trị của giáo viên cấp II và cấp
III toàn miền Bắc ngày 13/9/1958, Bác đã dạy: “Vì lợi ích mười năm trồng cây, vì lợi ích
trăm năm trồng người” [44, tr.91] Điều Bác nghĩ suy, trăn trở nhiều nhất là việc “trồng
người” Bác nói với anh chị em giáo viên: “Chúng ta phải đào tạo ra những công dân tốt
và cán bộ tốt cho nước nhà Nhân dân, Đảng, Chính phủ giao các nhiệm vụ đào tạo thế
hệ tương lai cho các cô, các chú Đó là một trách nhiệm nặng nề, nhưng rất vẻ vang Mong mọi người phải cố gắng làm tròn nhiệm vụ Tất cả các giáo viên chớ nên cho học thế này đã là đủ, mà phải tiếp tục học tập thêm để tiến bộ mãi” [48, tr.222]
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhắc nhở toàn Đảng, toàn dân: “Bồi
dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết” [44,
tr.542] Người chỉ ra mối quan hệ biện chứng giữa giáo dục với cách mạng, với sự nghiệp giải phóng dân tộc và kiến thiết đất nước Người khẳng định, muốn giữ vững nền độc lập, muốn cho dân mạnh, nước giàu, thì mỗi người Việt Nam phải hiểu biết quyền lợi của mình, phải có kiến thức mới có thể tham gia vào công cuộc xây dựng nước nhà Muốn thực hiện dân giàu, nước mạnh thì dân trí phải cao Muốn dân trí được nâng lên thì phải đa dạng hoá các loại hình đào tạo, mở trường vừa học, vừa làm để tạo điều kiện cho người lao động, cán bộ, chiến sĩ được đi học Khi dân trí cao sẽ xuất hiện nhiều nhân tài tham gia xây dựng đất nước Hồ Chí Minh khẳng định, con đường đưa đất nước thoát khỏi cảnh yếu hèn, đó là con đường phát triển giáo dục Người nói:
"Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu" Trong rất nhiều lời kêu gọi, Chủ tịch Hồ Chí
Trang 3626
Minh luôn khuyến khích người dân thi đua học tập để đưa dân tộc Việt Nam trở thành một dân tộc văn minh và tiến bộ Tháng 10 năm 1968, dù trong hoàn cảnh chiến tranh ác
liệt, vào đầu năm học mới, Bác Hồ vẫn không quên căn dặn: “Dù khó khăn đến đâu cũng
phải tiếp tục thi đua dạy tốt và học tốt Trên nền tảng giáo dục chính trị và lãnh đạo tư tưởng tốt, phải phấn đấu nâng cao chất lượng văn hoá và chuyên môn nhằm thiết thực giải quyết các vấn đề do cách mạng nước ta đề ra và trong một thời gian không xa, đạt những đỉnh cao của khoa học, kỹ thuật…” [49, tr.403]
Về mục đích của giáo dục, Người chỉ rõ: “Xây dựng cho con cháu chúng ta đời
sống sung sướng, vui tươi, thái bình, hạnh phúc để mai sau nhi đồng ta thành những công dân có tài, có đức, xứng đáng là người chủ của đất nước Việt Nam” [45, tr.564]
Để có kết quả tốt trong giáo dục trẻ em, Hồ Chí Minh luôn đánh giá cao vị trí và
vai trò của gia đình: “Trước hết gia đình (tức ông bà, cha mẹ, anh chị) phải làm tốt
công việc ấy” [46, tr.257] Người nhấn mạnh vai trò của giáo dục gia đình: “Phải liên
hệ mật thiết với gia đình học trò bởi vì giáo dục trong nhà trường chỉ là một phần, còn cần có sự giáo dục ngoài xã hội và trong gia đình để giúp cho việc giáo dục trong nhà trường được tốt hơn Giáo dục trong nhà trường dù tốt mấy, nhưng thiếu giáo dục trong gia đình và ngoài xã hội thì kết quả cũng không hoàn toàn” [47, tr.101] Tại Hội
nghị cán bộ thảo luận về Luật Hôn nhân và gia đình ngày 10/10/1959, trong khi nhấn
mạnh mối quan hệ giữa gia đình và xã hội, Người nói: “Rất quan tâm đến gia đình là
đúng, vì nhiều gia đình cộng lại mới thành xã hội, gia đình tốt thì xã hội mới tốt, xã hội tốt thì gia đình càng tốt Hạt nhân của xã hội là gia đình Muốn xây dựng CNXH tốt đẹp thì phải chú ý đến hạt nhân gia đình cho tốt” [45, tr.728] Để thực hiện được mục
đích trên, ngoài việc dạy dỗ trẻ em bằng lời nói, trước hết, những người lớn cần phải nêu gương Đặc biệt trong gia đình, mỗi người cần phải là một tấm gương sáng trong lời nói và hành động
Theo quan điểm của Người, giáo dục trẻ em là một khoa học, là nghệ thuật và nhất thiết phải có sự kết hợp đồng bộ, chặt chẽ giữa ba môi trường: gia đình, nhà
trường và xã hội Người chỉ ra rằng: “Giáo dục các em là việc chung của gia đình, nhà
truờng và xã hội Bố mẹ, thầy giáo và người lớn phải cùng nhau phụ trách” [45, tr.74]
Người đề ra biện pháp giáo dục: “Các gia đình liên lạc chặt chẽ với nhà trường, giúp
nhà trường giáo dục và khuyến khích con em chăm chỉ học tập, sinh hoạt lành mạnh và hăng hái giúp ích cho nhân dân” [45, tr.81] Như vậy, trong bất kỳ hoàn cảnh, giai đoạn
lịch sử nào, Hồ Chí Minh cũng luôn luôn đề cao giáo dục và giáo dục gia đình
Trang 3727
1.1.1.3 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về giáo dục gia đình, giáo dục pháp luật
a, Quan điểm của Đảng và Nhà nước về giáo dục gia đình
Đảng và Nhà nước ta xác định sự nghiệp giáo dục là một trong những nhiệm vụ hàng đầu có ý nghĩa chiến lược, trong đó giáo dục gia đình đóng một vai trò đặc biệt quan trọng Công tác này không chỉ đáp ứng yêu cầu hoàn thành nhiệm vụ trước mắt,
mà còn đảm bảo cho sự phát triển lâu dài
Đảng luôn đề cao vai trò của giáo dục gia đình đối với thế hệ trẻ Đảng ta khẳng định việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em phải được thực hiện ngay từ khi lọt lòng
và ở mọi lứa tuổi, trong mọi tổ chức và trong mỗi gia đình: “Phải xây dựng con người
mới từ lúc mới lọt lòng và ở mọi lứa tuổi, trong tất cả các tổ chức quần chúng, các cơ
sở kinh tế, văn hóa, các hoạt động xã hội, ở mọi ngành, mọi cấp, trong từng khu phố, thôn xóm và gia đình” [18, tr.68]
Để đảm bảo cho sự phát triển của đất nước với tinh thần dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, vai trò giáo dục của gia đình một lần nữa được khẳng
định: “Gia đình giữ vai trò quan trọng là giáo dục con người, bảo tồn văn hóa, truyền
thống, chống lại các tệ nạn xã hội Gia đình tốt là yếu tố đảm bảo cho dân giàu, nước mạnh, giữ cho xã hội lành mạnh và văn minh” [24, tr.15]
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng nhấn mạnh: “Chăm lo giáo dục
rèn luyện thế hệ trẻ là trách nhiệm của Đảng, nhà nước, các tổ chức trong hệ thống chính trị, gia đình, nhà trường và của toàn xã hội” [19, tr.125]
Liên tục trong các Nghị quyết Đại hội Đảng đều đề cập đến vị trí, vai trò của gia đình trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước Đến Đại hội X của Đảng thì vị trí,
vai trò của gia đình lại được xác định cụ thể và rõ ràng hơn: “Phát huy những truyền thống
tốt đẹp của gia đình Việt Nam, thích ứng với đòi hỏi của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa Xây dựng gia đình ấm no, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, thực sự là tổ ấm của mỗi người, là tế bào lành mạnh của xã hội, là môi trường quan trọng hình thành nuôi dưỡng, giáo dục nhân cách con người, bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống tốt đẹp, tạo nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc” [22, tr.103 - 104]
Như vậy, ở thời kỳ nào, giáo dục gia đình cũng luôn được Đảng và Nhà nước ta xác định là hạt nhân của sự nghiệp xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước Trong thời
kỳ CNH - HĐH đất nước, giáo dục gia đình lại càng trở thành yếu tố đặc biệt quan trọng, là tiền đề cho sự phát triển bền vững
Trang 3828
b, Quan điểm của Đảng, Nhà nước về giáo dục pháp luật
Trong mọi giai đoạn của cách mạng Việt Nam, Đảng ta luôn coi trọng công tác tuyên truyền, phổ biến và giáo dục pháp luật, điều này được thể hiện rõ trong các Văn
kiện của Đảng Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V khẳng định: “Các cấp uỷ Đảng,
các cơ quan Nhà nước và các đoàn thể phải thường xuyên giải thích pháp luật trong các tầng lớp nhân dân, đưa việc giáo dục pháp luật vào các trường học, các cấp học, xây dựng ý thức sống có pháp luật và tôn trọng pháp luật” [32, tr.3]
Văn kiện Đại hội VII nhấn mạnh: “Coi trọng công tác giáo dục tuyên truyền,
giải thích pháp luật, đưa việc dạy pháp luật vào hệ thống các trường của Đảng, của Nhà nước (kể cả các trường phổ thông, đại học) của các đoàn thể nhân dân Cán bộ quản lý các cấp từ trung ương đến đơn vị cơ sở phải có kiến thức về quản lý hành chính và hiểu biết về pháp luật, cần sử dụng nhiều hình thức và biện pháp để giáo dục, nâng cao ý thức pháp luật và làm tư vấn pháp luật cho nhân dân… Điều quan trọng
để phát huy dân chủ là xây dựng và hoàn chỉnh hệ thống pháp luật, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, nâng cao trình độ dân trí, hiểu biết pháp luật và ý thức tuân thủ pháp luật của nhân dân Thường xuyên giáo dục pháp luật, xây dựng ý thức sống và làm việc theo pháp luật trong nhân dân” [32, tr.3]
Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng, quan điểm này lại một lần
nữa được xác định: “Triển khai mạnh mẽ công tác tuyên truyền và giáo dục pháp luật,
huy động mọi lực lượng của các đoàn thể chính trị - xã hội, nghề nghiệp các phương tiện thông tin đại chúng vào các đợt vận động Thiết lập trật tự kỉ cương và các hoạt động thường xuyên, xây dựng nếp sống và làm theo pháp luật trong các cơ quan Nhà nước và trong xã hội” [20, tr.24] Nghị quyết Hội nghị Trung ương II (khóa VIII) của Đảng về
giáo dục - đào tạo đã đề ra định hướng, mục tiêu đến năm 2010 nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, phát huy nguồn lực con người trong trong sự nghiệp CNH - HĐH đất nước Đây chính là mục tiêu định hướng chung của toàn bộ hoạt động giáo dục - đào tạo, trong đó có hoạt động giáo dục pháp luật Với chủ trương xây dựng nhà nước pháp quyền, chúng ta không thể phát huy được nhân tố con người nếu như bản thân con người không có kiến thức cần thiết về mọi lĩnh vực, trong đó có kiến thức về pháp luật Kiến thức, kỹ năng, lối sống tích cực của mỗi công dân trong xã hội hiện đại với những năng lực, ý thức và hành vi đúng đắn trong các quan hệ xã hội, tuân thủ pháp luật là một trong những biểu hiện của văn hóa pháp luật Do vậy, có thể xác
Trang 3929
định mục đích giáo dục pháp luật nói chung là nhằm xây dựng, nâng cao kiến thức, ý thức pháp luật cho mỗi con người và cho toàn xã hội Điều này cũng được thể hiện trong
Báo cáo Chính trị của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa IX: “Phát huy dân chủ đi
đôi với giữ vững kỉ luật, kỉ cương tăng cường pháp chế, quản lí xã hội bằng pháp luật, tuyên truyền, giáo dục toàn dân, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật” [21, tr.135]
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X cũng ghi: “Đẩy mạnh cải cách tổ
chức và hoạt động của nhà nước, phát huy dân chủ, tăng cường pháp chế, phát huy dân chủ đi đôi với giữ vững kỉ luật, kỉ cương, tăng cường pháp chế, quản lý xã hội bằng pháp luật, tuyên truyền giáo dục toàn dân, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật” [33, tr.43]
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH, Đại hội Đảng
lần thứ XI nêu: “Nhà nước ban hành pháp luật; tổ chức, quản lý xã hội bằng pháp luật
và không ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa” [23, tr.85]
Các quan điểm này được Nhà nước thể chế hóa thành pháp luật, cụ thể, tại điều
31, chương III, Hiến pháp năm 1992 đã ghi rõ: “Nhà nước tạo điều kiện để công dân
phát triển toàn diện, giáo dục ý thức công dân, sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật, giữ gìn thuần phong mỹ tục, xây dựng gia đình có văn hóa, hạnh phúc, có tinh thần yêu nước, yêu chế độ xã hội chủ nghĩa, có tinh thần quốc tế chân chính, hữu nghị và hợp tác với các dân tộc trên thế giới” [54] Điều 12, Hiến pháp năm 1992 cũng ghi nhận:
“Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, không ngừng pháp chế xã hội chủ nghĩa Các
cơ quan nhà nước, các tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang, nhân dân và mọi công dân phải nghiêm chỉnh chấp hành Hiến pháp và pháp luật, đấu tranh phòng ngừa
và chống các tội phạm, các vi phạm Hiến pháp và pháp luật” [54]
Để sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật, tuân thủ nghiêm chỉnh pháp luật và kỷ cương xã hội, mỗi công dân phải có ý thức pháp luật trong từng môi trường
cụ thể Điều kiện quan trọng để xây dựng nhà nước pháp quyền là phải đánh giá đầy đủ vai trò của giáo dục pháp luật, coi nó là một động lực tinh thần, một giá đỡ tư tưởng cho con người hành động Hiến pháp năm 1992 khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội Về mặt pháp lý, quy định này có ý nghĩa quan trọng trong việc thi hành Hiến pháp và pháp luật Hiến pháp quy định mọi tổ chức của Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật, thực hiện đúng đắn đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, đó chính là hành vi tôn trọng và thực hiện pháp luật Đây là những căn cứ pháp lý quan trọng để công tác giáo dục pháp luật được triển khai trong cuộc sống
Trang 4030
Ngày 07/01/1998, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 01/1998/CT - TTg
về việc tăng cường công tác phổ biến giáo dục pháp luật; Quyết định số 03/1998/QĐ - TTg về việc ban hành kế hoạch triển khai công tác phổ biến giáo dục pháp luật từ năm
1998 đến năm 2002 và thành lập Hội đồng phối hợp công tác phổ biến giáo dục pháp luật Đối với học sinh THPT (từ lớp 10 - 12), phải phổ cập kiến thức pháp luật phổ thông
cơ bản, thiết thực đã có trong chương trình hiện hành Nghiên cứu, khảo sát để sửa đổi,
bổ sung cho phù hợp, chú trọng trang bị kiến thức cơ bản, tối thiểu về nhà nước và pháp luật, về các quyền và nghĩa vụ công dân cho học sinh, về các quan hệ pháp luật trong một số lĩnh vực thiết yếu của cuộc sống Những Chỉ thị và Quyết định đó đã khẳng định quyết tâm của Đảng và Nhà nước ta trong việc đổi mới, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm thực hiện quản lý xã hội bằng pháp luật, phục vụ cho
sự nghiệp CNH - HĐH đất nước trong thời kỳ đổi mới
Phát triển giáo dục là sự nghiệp của toàn xã hội, của nhà nước và mỗi cộng đồng, của từng gia đình và mỗi công dân Sự kết hợp chặt chẽ giữa giáo dục gia đình, nhà trường và xã hội là cơ sở quan trọng để phát huy sức mạnh tổng hợp trong việc nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật
1.1.2 Các khái niệm công cụ
1.1.2.1 Khái niệm gia đình
Gia đình là một phạm trù xuất hiện rất sớm trong lịch sử xã hội loài người và không ngừng biến đổi cùng với bước tiến của nền văn minh nhân loại Gia đình biến đổi theo thời gian nên không dễ đưa ra một khái niệm chuẩn cho mọi gia đình Trên cơ
sở thừa nhận sự đa dạng trong định nghĩa về gia đình, căn cứ vào tiêu chí cụ thể của định nghĩa gia đình mang tính phổ biến, phù hợp với xã hội Việt Nam hiện nay, chúng tôi sẽ đưa ra một số định nghĩa về gia đình theo từng quan điểm nhất định
Khi mô tả khái niệm gia đình hoặc nhấn mạnh ý nghĩa toàn xã hội của gia đình hay tính chất nhóm của nó, theo giác độ xã hội học vĩ mô, Từ điển Xã hội học của
G.Endruweit và G.Trommsdorff cho rằng: “Gia đình là một thiết chế xã hội, nghĩa là
một đơn vị cơ sở được mọi người công nhận để thực hiện những chức năng xã hội nhất định mà trước hết là sự tái sinh các đặc trưng của loài người (M Horkheimer)” Còn
theo giác độ vi mô thì: “Gia đình thường được mô tả là một nhóm gồm một cặp vợ
chồng chung sống với lớp kế cận trực tiếp của họ” [27, tr 640 - 641] Định nghĩa hẹp
này không đầy đủ vì nó hướng quá mức vào khía cạnh sinh học của gia đình và rút gọn
về loại gia đình hạt nhân, nó cũng sẽ không đúng trong trường hợp gia đình nhận con nuôi Theo cuốn sách này, khó khăn đặc biệt trong việc đưa ra khái niệm gia đình là nó