Lựa chọn đề tài Thế giới nghệ thuật trong tiểu thuyết của Nguyễn Xuân Khánh qua Hồ Quý Ly, Mẫu thượng ngàn, Đội gạo lên chùa, người viết muốn khám phá một phương trời rất riêng mà nhà v
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
VŨ THỊ THANH TÂM
THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT TRONG
TIỂU THUYẾT NGUYỄN XUÂN KHÁNH (QUA HỒ QUÝ LY, MẪU THƯỢNG NGÀN, ĐỘI
GẠO LÊN CHÙA)
LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Hà Nội - 2013
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
VŨ THỊ THANH TÂM
THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT TRONG
TIỂU THUYẾT NGUYỄN XUÂN KHÁNH (QUA HỒ QUÝ LY, MẪU THƯỢNG NGÀN, ĐỘI
GẠO LÊN CHÙA)
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 60 22 01 21
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Hà Văn Đức
Hà Nội-2013
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn thạc sĩ này là công trình nghiên cứu của riêng tôi, không sao chép của ai Những nội dung của luận văn có tham khảo
và sử dụng các tài liệu, thông tin đƣợc đăng tải trên các sách, báo, các trang web, khóa luận tốt nghiệp và luận văn đã đƣợc chú thích theo danh mục tài liệu tham khảo của luận văn
Tác giả luận văn
Vũ Thị Thanh Tâm
Trang 4
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện nghiên cứu đề tài Thế giới nghệ thuật trong tiểu thuyết của Nguyễn Xuân Khánh (qua Hồ Quý Ly, Mẫu thượng ngàn, Đội gạo lên chùa) tôi đã nhận được sự quan tâm, giúp đỡ nhiệt tình từ rất nhiều phía Trước hết tôi xin chân thành cảm ơn PGS.TS Hà Văn Đức – Khoa Văn học, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội
đã tận tình hướng dẫn và tạo điều kiện thuận lợi nhất cho tôi thực hiện đề tài này
Xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo đã có những ý kiến đóng góp chân thành, sâu sắc cho tôi trong quá trình thực hiện luận văn
Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất đến gia đình, bạn bè – những người đã luôn ủng hộ, động viên tôi nỗ lực để hoàn thành tốt nhất luận văn này
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 12/2013
Tác giả
Vũ Thị Thanh Tâm
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
MỞ ĐẦU 3
1 Lý do chọn đề tài 3
2 Lịch sử vấn đề 5
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 9
3.1 Đối tượng nghiên cứu: 9
3.2 Phạm vi nghiên cứu: 9
4 Phương pháp nghiên cứu 9
5 Mục đích nghiên cứu 9
6 Cấu trúc luận văn 10
NỘI DUNG 11
CHƯƠNG 1: HÀNH TRÌNH SÁNG TÁC VÀ QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT CỦA NGUYỄN XUÂN KHÁNH 11
1.1 Hành trình sáng tác và quan niệm nghệ thuật của Nguyễn Xuân Khánh 11 1.1.1 Vài nét về tiểu sử nhà văn 11
1.1.2 Các chặng đường sáng tác của Nguyễn Xuân Khánh 12
1.1.3 Quan niệm nghệ thuật của Nguyễn Xuân Khánh 17
1.2 Khái niệm về thế giới nghệ thuật và thế giới nghệ thuật trong tiểu thuyết 21
1.2.1 Thế giới nghệ thuật 21
1.2.2 Thế giới nghệ thuật trong tiểu thuyết 23
CHƯƠNG 2: THẾ GIỚI NHÂN VẬT TRONG TIỂU THUYẾT CỦA NGUYỄN XUÂN KHÁNH 24
2.1 Nhân vật và phân loại nhân vật trong tiểu thuyết 24
2.2.1 Nhân vật trong tiểu thuyết 24
2.1.2 Phân loại nhân vật trong tiểu thuyết 26
2.2 Nhân vật trong tiểu thuyết của Nguyễn Xuân Khánh 27
Trang 62.2.1 Nhân vật trong tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh trước Hồ Quý Ly 27
2.2.2 Nhân vật trong tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh trong bộ ba tiểu thuyết Hồ Quý Ly, Mẫu thượng ngàn, Đội gạo lên chùa 29
2.2.2.1 Nhân vật luận đề - tư tưởng 29
2.2.2.2 Nhân vật tính cách - số phận 40
2.2.2.3 Nhân vật kí hiệu – biểu tượng 44
2.3 Nghệ thuật xây dựng nhân vật trong tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh 49
2.3.1 Nghệ thuật miêu tả nhân vật 49
2.3.2 Nghệ thuật phân tích tâm lý nhân vật 55
2.3.3 Ngôn ngữ nhân vật 63
CHƯƠNG 3: THỜI GIAN VÀ KHÔNG GIAN NGHỆ THUẬT TRONG TIỂU THUYẾT NGUYỄN XUÂN KHÁNH 69
3.1 Thời gian và không gian nghệ thuật trong tiểu thuyết 69
3.1.1 Thời gian nghệ thuật trong tiểu thuyết 69
3.1.2 Không gian nghệ thuật trong tiểu thuyết 71
3.2 Không gian nghệ thuật trong tiểu thuyết của Nguyễn Xuân Khánh 73
3.2.1 Không gian thực (không gian lịch sử) 73
3.2.2 Không gian ảo (thế giới văn hóa tâm linh) 82
3.2.3 Không gian chuyện kể đa tầng 88
3.3 Thời gian nghệ thuật trong tiểu thuyết của Nguyễn Xuân Khánh 93
3.3.1 Hiện tượng thời gian chết 93
3.3.2 Hiện tượng thời gian nén 96
3.3.3 Hiện tượng thời gian giãn cách 100
KẾT LUẬN 106
TÀI LIệU THAM KHảO: 108
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong các thể loại văn học, tiểu thuyết là một thể loại lớn mang chức năng đa dạng nhất và đang biến chuyển nhiều nhất Đối với quá trình phát triển của văn học, sự vận động của thể loại bao giờ cũng giữ vị trí vô cùng quan trọng Ngày nay, hơn bao giờ hết, tiểu thuyết đã và đang tiên phong trong quá trình cách tân, đổi mới thể loại để nỗ lực tìm hướng phát triển cho nền văn học Ở Việt Nam, chỉ trong vòng chưa đầy ba mươi năm kể từ năm
1986 đến nay, với sự ra đời của hàng loạt tác phẩm có giá trị, tiểu thuyết là một trong những thể loại đóng góp tích cực nhất vào thành công của văn học thời kỳ Đổi Mới Trong quá trình tìm tòi đổi mới thể loại, khuynh hướng tiểu thuyết lịch sử kiểu mới nổi lên như một khuynh hướng độc đáo bên cạnh các khuynh hướng tiểu thuyết vết thương, khuynh hướng tiểu thuyết triết lý và khuynh hướng tiểu thuyết hiện thực huyền ảo
Nguyễn Xuân Khánh là một trong số ít những nhà văn thành công với tiểu thuyết lịch sử của văn học đương đại Cùng thế hệ với những nhà văn như Nguyễn Minh Châu, Nguyên Ngọc, Ma Văn Kháng… với tài năng văn chương của mình, lẽ ra Nguyễn Xuân Khánh đã sớm có được vị trí xứng đáng trong đời sống văn học cùng với những cây bút đồng trang lứa trên Tuy vậy, trong suốt một thời gian dài, vì nhiều lý do ông “mất tích” trên văn đàn chính thống Phải đến thời kỳ Đổi mới, ông mới có điều kiện để công bố sáng tác và tập trung thời gian cho việc viết văn Khi tác phẩm đầu tiên được công bố sau
một thời gian dài - Hồ Quý Ly (xuất bản năm 2000) đã trở thành cú huých vô
cùng ngoạn mục cho sự tái xuất chói sáng của Nguyễn Xuân Khánh trên văn
đàn chính thống Hai tác phẩm ra đời liên tiếp sau đó (Mẫu thượng ngàn, Đội gạo lên chùa) cũng mang lại thành công liên tiếp với doanh thu lớn, đạt kỷ lục
Trang 8về số lần tái bản, nối bản cũng như đem lại cho tác giả liên tiếp các giải thưởng văn học quan trọng vào các năm 2000 và 2006 Các tác phẩm của ông khi được đánh giá đều nhận được đa số phiếu đồng thuận từ Hội đồng tuyển
chọn Và từ đây, Nguyễn Xuân Khánh được nhắc đến như người đưa lịch sử vào tiểu thuyết, người tự do trên “sân chơi” tiểu thuyết lịch sử Với những
thành công vang dội trên, không khó khăn để nhận thấy rằng những tác phẩm của ông theo khuynh hướng tiểu thuyết lịch sử không chỉ là những tác phẩm quan trọng nhất trong sự nghiệp cầm bút của nhà văn lão làng mà còn là chìa khóa đưa ông vào vị trí danh dự nhất của những nhà văn tiên phong đổi mới văn xuôi Việt Nam nói chung và tiểu thuyết Việt Nam nói riêng Ông khẳng định vị trí của mình như một trong những nhà viết tiểu thuyết đáng kính nhất của văn xuôi Việt Nam đương đại
Bộ ba tiểu thuyết Hồ Quý Ly, Mẫu thượng ngàn, Đội gạo lên chùa là
những tác phẩm lớn, có giá trị nghệ thuật khẳng định vị trí của Nguyễn Xuân Khánh khi trở lại văn đàn sau nhiều năm vắng bóng Ra đời ở chặng cuối trên con đường sáng tác của một nhà văn có nhiều kinh nghiệm cả trong đời sống thực lẫn trên văn đàn với nhiều vấp váp, các tác phẩm này cho thấy sự “đằm duyên” hơn rất nhiều cả trong lối kể và trong tư tưởng so với các tác phẩm
trước đó của ông Hồ Quý Ly, Mẫu Thượng Ngàn, Đội gạo lên chùa luôn
được nhắc đến như một bộ ba bởi tính xuyên suốt trong cả nội dung và hình thức như chính Nguyễn Xuân Khánh đã từng nhận định trong bài phỏng vấn
Chúng ta là những người nhà quê (đăng tải trên website tuoitre.vn): đời mỗi
nhà văn chỉ có thể quan tâm đến một, hai vấn đề mà thôi Trong những tác
phẩm chính của ông, Trư cuồng, Miền hoang tưởng chính là vấn đề thứ nhất: những điều nóng bỏng của thời hiện đại; Hồ Quý Ly, Mẫu thượng ngàn và sau này là Đội gạo lên chùa chính là mối quan tâm thứ hai: mối quan tâm về lịch
sử - văn hóa Việt Sự xuất hiện trở lại của ông với bộ ba tác phẩm đồ sộ làm
Trang 9xôn xao văn đàn đủ thấy sức hút của những tác phẩm này như thế nào Không chỉ dày dặn về số trang, ba tác phẩm còn thể hiện những quan điểm nghệ thuật và định hướng sáng tạo rất riêng của Nguyễn Xuân Khánh Những giải thưởng văn học lớn, chính thống mà ông giành được từ những tác phẩm này cho thấy sự thành công và thừa nhận, đền đắp lại những nỗ lực trong sáng tạo
tiểu thuyết của ông Lựa chọn đề tài Thế giới nghệ thuật trong tiểu thuyết của Nguyễn Xuân Khánh (qua Hồ Quý Ly, Mẫu thượng ngàn, Đội gạo lên chùa),
người viết muốn khám phá một phương trời rất riêng mà nhà văn lão thành đã tạo nên ở cái tuổi xưa nay hiếm, cái tuổi mà không ai có thể nghĩ rằng đó là thời sáng tạo sung sức nhất của nhà văn
2 Lịch sử vấn đề
Nổi lên như một hiện tượng trong những năm gần đây, Nguyễn Xuân
Khánh và các tác phẩm của ông đăch biệt là bộ ba tiểu thuyết Hồ Quý Ly, Mẫu thượng ngàn, Đội gạo lên chùa được giới nghiên cứu đặc biệt quan tâm
Rất nhiều cuộc tọa đàm, hội thảo về Nguyễn Xuân Khánh và tác phẩm của ông được tổ chức với sự tham gia của đông đảo nhà phê bình uy tín và độc giả
yêu văn học Tiêu biểu như: Cuộc Hội thảo về tiểu thuyết Hồ Quý Ly ngày
21/09/2000 do Nhà xuất bản (Nxb) Phụ nữ kết hợp với Hội Nhà văn Hà Nội
tổ chức, tại đây đã có rất nhiều ý kiến đánh giá của các nhà văn: Vũ Bão, Trần Thị Trường, Châu Diên, Phạm Xuân Nguyên, Trịnh Đình Khôi… nhìn chung các ý kiến đều đi đến khẳng định những thành công của cuốn tiểu thuyết này;
Tọa đàm về Lịch sử và văn hóa trong tiểu thuyết của Nguyễn Xuân Khánh do
Viện Văn học và Nxb Phụ nữ tổ chức với gần 30 tham luận của các nhà văn, các nhà lý luận - phê bình với những cách tiếp cận đa chiều về tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh - hiện tượng đáng chú ý của tiểu thuyết Việt Nam đầu thế kỷ XXI Cuộc tọa đàm đã khẳng định những nỗ lực tìm kiếm cũng như chỉ
Trang 10ra được hạn chế trong nghệ thuật trong các sáng tác của tiểu thuyết của Nguyễn Xuân Khánh, đặc biệt là ba cuốn tiểu thuyết gần đây nhất của ông
Trong một khoảng thời gian không dài sau khi xuất hiện trở lại (năm
2000 đến nay), Nguyễn Xuân Khánh đã cho thấy vị trí đặc biệt của mình trong dòng tiểu thuyết Việt Nam hiện đại Công trình mới nhất và đáng chú ý
nhất do nhà nghiên cứu Nguyễn Đăng Điệp chủ biên: Lịch sử và văn hóa cái nhìn nghệ thuật Nguyễn Xuân Khánh do Nxb Phụ nữ kết hợp với Viện Văn
học xuất bản năm 2012, đây có thể được coi là một công trình dầy dặn nhất tổng hợp những bài nghiên cứu về bộ ba tác phẩm của Nguyễn Xuân Khánh Công trình gồm 25 bài viết của các nhà nghiên cứu hàng đầu hiện nay về nhiều phương diện từ nội dung đến nghệ thuật của các tác phẩm Cuốn sách chủ yếu chọn lọc các tham luận tham gia tọa đàm về tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh do Viện Văn học và Nxb Phụ nữ phối hợp tổ chức nhân dịp nhà văn tròn 80 tuổi Công trình gần 500 trang giúp người đọc có những đánh giá khách quan hơn về những thành công và hạn chế của tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh Ngoài ra, những nghiên cứu này cũng mở ra những cách hiểu mới về diễn ngôn lịch sử và những chuyển động của tiểu thuyết Việt Nam thời kỳ Đổi mới khi đặt các tác phẩm của Nguyễn Xuân Khánh trong tương quan với các tác phẩm khác cùng thời
Sự xuất hiện trở lại của Nguyễn Xuân Khánh và các tác phẩm của ông như đã đề cập ở trên trở thành một nét mới khuấy động đời sống văn học đương đại, thu hút sự quan tâm của dư luận, giới truyền thông và đặc biệt là các nhà nghiên cứu Thời gian gần đây có rất nhiều những bài viết về Nguyễn Xuân Khánh cũng như các tác phẩm của ông được đăng tải rộng rãi trên các báo, tạp chí và các website, đặc biệt là các bài viết về bộ ba tác phẩm hoặc một trong ba tác phẩm này Các bài viết rất đa dạng, từ đơn giản ở mức nêu cảm nhận, đến những phân tích của các chuyên gia có sự đầu tư về những
Trang 11kiến thức chuyên môn cũng như nỗ lực khám phá Mối quan tâm đặc biệt của độc giả càng khẳng định độ nóng của Nguyễn Xuân Khánh và tiểu thuyết của ông Ở những mức độ, phương diện khác nhau, các bài viết đều khẳng định giá trị và những cách tân độc đáo của tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh Trong khuôn khổ của các bài viết nhỏ, các tác giả chỉ có thể đề cập tới một vài phương diện nhất định trong thế giới nghệ thuật của Nguyễn Xuân Khánh, song đây cũng là những gợi ý quan trọng để chúng tôi tìm tòi, triển khai, mở rộng các vấn đề nghiên cứu trong luận văn này Những bài viết đáng chú ý
nhất có thể kể tới: Suy nghĩ về những tiểu thuyết mang chủ đề lịch sử của nhà nghiên cứu Phạm Xuân Thạch đăng trên website Vietnamnet.vn; Về tiểu thuyết Hồ Quý Ly của Nguyễn Xuân Khánh của nhà nghiên cứu Đinh Công Vĩ (2006); những nhận định sắc sảo trong bài viết Đọc Hồ Quý Ly của nhà nghiên cứu Phạm Xuân Nguyên (2001); Một cuốn tiểu thuyết thật hay về văn hóa Việt của nhà văn Nguyên Ngọc (2006); Nhà văn Nguyễn Xuân Khánh: về
từ miền hoang tưởng của Nguyễn Thị Thanh Bình…
Nhìn chung những bài viết cũng như tham luận tại các tọa đàm, hội thảo vẫn dừng lại ở những tìm tòi, cách tân hay hạn chế trong sáng tác của Nguyễn Xuân Khánh ở những khía cạnh nhỏ và chưa có hệ thống
Ngoài ra, các tác phẩm và sự nghiệp văn chương của Nguyễn Xuân Khánh cũng trở thành đối tượng nghiên cứu của rất nhiều sinh viên, học viên các trường Đại học, Viện nghiên cứu chuyên ngành từ đề tài nhỏ như tiểu luận đến Khóa luận tốt nghiệp và Luận văn Trong đó có thể kể đến những công trình nghiên cứu như: Luận văn thạc sĩ của Hoàng Thị Hiền Lương –
Đại học Khoa học Xã hội và Nhân Văn, Hà Nội năm 2010 với đề tài Tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh qua góc nhìn trần thuật học Luận văn đã khái
quát về sự nghiệp văn chương của Nguyễn Xuân Khánh, tìm hiểu nghệ thuật
Trang 12thuật qua ba tác phẩm Miền hoang tưởng, Hồ Quý Ly và Mẫu thượng ngàn;
Luận văn Thạc sĩ của Tống Thị Thanh - Đại học Khoa học Xã hội và Nhân
Văn, Hà Nội năm 2010 với đề tài Những đóng góp của Nguyễn Xuân Khánh vào tiến trình đổi mới tiểu thuyết Việt Nam đương đại qua hai tác phẩm Hồ Quý Ly và Mẫu thượng Ngàn Đề tài trong đó tìm hiểu những cách tân về mặt
hình thức thể loại và nét độc đáo trong nội dung tư tưởng tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh trong tương quan với các tác giả tiểu thuyết khác như Dương
Hướng, Lê Lựu, Phạm Thị Hoài, Bảo Ninh… qua hai tác phẩm Mẫu thượng ngàn và Hồ Quý Ly; Tiểu thuyết của Nguyễn Xuân Khánh cũng được nghiên
cứu trong tương quan với các tác phẩm khác cùng thể loại Xét riêng trong trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội đã có một số lượng
đáng kể các Khóa luận, Luận văn Thạc sĩ như: Khóa luận tốt nghiệp Tiểu thuyết lịch sử của Hoàng Quốc Hải và Nguyễn Xuân Khánh của Nguyễn Thùy Dương năm 2004; Hư cấu nghệ thuật trong tiểu thuyết lịch sử (qua khảo sát Hồ Quý Ly của Nguyễn Xuân Khánh và Giàn thiêu của Võ Thị Hảo) của Đinh Việt Hà, Khóa luận tốt nghiệp năm 2004; Một số lý luận về tiểu thuyết lịch sử qua Hồ Quý Ly của Nguyễn Xuân Khánh và Sông Côn mùa lũ của Nguyễn Mộng Giác của Nguyễn Thị Liên, Luận văn Thạc sĩ năm 2006…
Những công trình nghiên cứu này đã ít nhiều tìm hiểu sáng tác của Nguyễn Xuân Khánh ở mức hệ thống với những vấn đề được các cá nhân cho là nổi cộm Tuy vậy có thể thấy hầu hết các công trình đều hạn chế phạm vi nghiên
cứu ở một đến hai tác phẩm Và dù có đề cập tới cả bộ ba tác phẩm Hồ Quý
Ly, Mẫu thượng ngàn, Đội gạo lên chùa cùng với sự trùng lặp trong phạm vi
nghiên cứu, luận văn này vẫn mong muốn tìm được hướng đi riêng và những phát hiện mới trong thế giới nghệ thuật của Nguyễn Xuân Khánh ở bộ ba tác phẩm để đời của ông
Trang 133 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu:
Bộ ba tiểu thuyết của Nguyễn Xuân Khánh: Hồ Quý Ly, Mẫu thượng ngàn, Đội gạo lên chùa
4 Phương pháp nghiên cứu
Với luận văn này, chúng tôi sử dụng đan xen nhiều phương pháp nghiên cứu, trong đó có ba phương pháp được sử dụng nhiều nhất đó là:
- Phương pháp loại hình
- Phương pháp tiếp cận văn hóa học
- Phương pháp tiếp cận thi pháp học
Ngoài ra, luận văn còn sử dụng một số phương pháp khác như: Phương pháp tiểu sử, phương pháp thống kê, phương pháp lịch sử xã hội… nhằm làm
rõ những vấn đề được đưa ra
5 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu một số vấn đề thi pháp trong tiểu thuyết của Nguyễn Xuân Khánh, chúng tôi nhằm mục đích làm rõ hơn những nét riêng trong thế giới nghệ thuật trong tiểu thuyết của ông Từ những tìm tòi này, chúng tối muốn góp phần tạo nên cái nhìn đầy đủ và toàn diện hơn về những đóng góp của Nguyễn Xuân Khánh trong nền văn học văn học Việt Nam nói chung và khuynh hướng tiểu thuyết lịch sử nói riêng
Trang 146 Cấu trúc luận văn
Luận văn gồm 3 phần: Mở đầu, Nội dung và Kết luận
Phần nội dung gồm 3 chương:
Chương 1: Hành trình sáng tác và quan niệm nghệ thuật của Nguyễn Xuân Khánh
Chương 2: Thế giới nhân vật trong tiểu thuyết của Nguyễn Xuân Khánh
Chương 3: Thời gian và không gian nghệ thuật trong tiểu thuyết của Nguyễn Xuân Khánh
Trang 15NỘI DUNG CHƯƠNG 1:
HÀNH TRÌNH SÁNG TÁC VÀ QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT CỦA
NGUYỄN XUÂN KHÁNH
1.1 Hành trình sáng tác và quan niệm nghệ thuật của Nguyễn Xuân Khánh
1.1.1 Vài nét về tiểu sử nhà văn
Nguyễn Xuân Khánh sinh năm 1932 tại Phố Huế, Hà Nội Ông quê gốc
ở làng Cổ Nhuế nằm ở vùng Nam Thăng Long bây giờ, nơi có nghề may nổi tiếng thuộc ngoại ô thành phố Sớm thiếu vắng tình cảm của người cha khi ông mới 5,6 tuổi, cuộc sống cùng mẹ và gần gũi với những người phụ nữ luôn yêu thương mình đã tạo nên trong tâm hồn nhạy cảm của Nguyễn Xuân Khánh những hình ảnh chan chứa yêu thương Sự đồng cảm của ông dành cho những người phụ nữ sau này trở thành một trong những điểm nhấn đặc biệt trong các sáng tác nổi tiếng của ông Là người rất say mê âm nhạc và tham gia tích cực vào các hoạt động văn nghệ nhưng không theo học nghệ thuật, ông từng đỗ Tú tài ngành Toán, học Đại học Y khoa Hà Nội Những năm tháng đầu của tuổi hai mươi Nguyễn Xuân Khánh dành trọn cho nghiệp quân nhân và môi trường mới ấy đã tạo điều kiện cho ông chạm ngõ văn chương Trong quãng thời gian quân ngũ này, ông đã sáng tác những tác phẩm đầu
tiên năm Năm 1957, truyện ngắn Một đêm đem đến cho ông thành công đầu
tiên với giải thưởng cuộc thi viết truyện ngắn của Tạp chí Văn nghệ Quân đội (giải nhì, không có giải nhất) và từ đây, văn chương đã gắn với ông như một duyên nghiệp
Sau thời gian quân ngũ (khoảng năm 1960), Nguyễn Xuân Khánh về làm việc cho Tạp chí Văn nghệ Quân Đội và sau đó có thời gian làm cho Báo
Trang 16Thiếu niên Tiền phong Một tai nạn nghề nghiệp khiến nhà văn phải về hưu sớm và không xuất hiện trong đời sống văn học Đây là quãng thời gian ông sống ẩn dật, tuy có viết một số tác phẩm và lấy bút danh khác nhưng không được in Ông lao vào cuộc sống mưu sinh với đủ mọi nghề từ những nghề
“cao sang” cho đến “mạt hạng” nhất như: Dịch thuật, nghề may, nuôi lợn, bảo
vệ, thợ khóa thậm chí là bán máu Tuy vậy, có thể nói chính thời gian này đã tạo điều kiện cho Nguyễn Xuân Khánh có nhiều trải nghiệm cuộc sống, trau dồi vốn kiến thức văn hóa và điểm lùi để suy tư Đây là quãng thời gian tuy sóng gió, gian nan nhưng là điều không thể thiếu tạo nên độ chín của cây bút tiểu thuyết được biết đến rộng rãi sau này
Chịu nhiều sóng gió và thiệt thòi trong cả sự nghiệp và đời tư, nhưng ở Nguyễn Xuân Khánh ta luôn nhận thấy một ý chí cố gắng và phấn đấu không mệt mỏi để nuôi dưỡng tình yêu văn chương dường như chưa bao giờ dứt Chính những cố gắng ấy đã đem lại cho ông những thành công của hiện tại,
dù số lượng tác phẩm đã công bố không nhiều Hiện nay ông sống cuộc sống yên bình cùng gia đình trong ngôi nhà số 36 trên đường Trần Khát Chân thuộc quận Hai Bà Trưng, ngôi nhà cũ mới tu sửa lại từ tiền giải thưởng và tiền xuất bản sách của mình Đó như là một sự bù đắp dù có hơi chút muộn màng dành cho những cố gắng không biết mệt mỏi của nhà văn Tới tuổi 70 mới trở thành hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, và ở cái tuổi thất thập cổ lai
hy, có khi nào Nguyễn Xuân Khánh lại một lần nữa khiến bạn đọc ngỡ ngàng với những trang viết mới của mình Bạn đọc luôn chờ đón một ngày “cội mai già” ấy sẽ lại lặng lẽ nở hoa
1.1.2 Các chặng đường sáng tác của Nguyễn Xuân Khánh
Nhìn vào sự nghiệp văn chương của Nguyễn Xuân Khánh, không quá khó khăn để chúng ta thấy được ba chặng đường khá riêng biệt thể hiện từng
bước chân của ông trên văn đàn Việt
Trang 17Chặng đường đầu tiên được đánh dấu bằng lần đầu bén duyên văn nghiệp khi Nguyễn Xuân Khánh ngoài hai mươi tuổi Ông chính thức ra mắt
làng văn miền Bắc vào đầu năm 1959 với truyện ngắn Một đêm đăng trên Tạp
chí Văn nghệ Quân đội số 2/1959 Ông lập tức được thừa nhận với giải thưởng đầu tiên trong sự nghiệp của mình (giải nhì cuộc thi viết truyện ngắn trên tạp chí đăng tải, không có giải nhất) Tiếp đó tuyển tập các truyện ngắn từ
năm 1958 đến 1962 của ông được in thành tập Rừng sâu do Nxb Văn học ấn
hành năm 1963 Có thể thấy rằng, những sáng tác của Nguyễn Xuân Khánh trong giai đoạn đầu này vẫn gói gọn trong trường phủ sóng của phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa Dù được công nhận là nhà văn có lối viết khá sinh động nhưng mạch văn của ông vẫn nằm trong khuôn khổ của cảm hứng khẳng định, ngợi ca cuộc sống, như nhiều tác phẩm của các tác giả
đương thời khác có thể kể đến: Đất nước của Mai Ngữ, Gánh vác của Vũ Thị Thường, Xóm mới của Hồ Phương… Điều này cũng thật dễ hiểu khi chàng
thanh niên chập chững bước vào nghề văn đang sống trong trung tâm của nền văn học miền Bắc với hai chủ đề chính xuyên suốt các tác phẩm trên văn đàn chính thống đó là: xây dựng miền Bắc và đấu tranh thống nhất đất nước Hơn nữa, cây bút trẻ ấy đang được rèn luyện trong môi trường quân đội, viết cho Tạp chí Văn nghệ Quân đội thuộc Tổng cục Chính trị và sau khi xuất ngũ là phóng viên của tờ báo thuộc Trung ương đoàn Thanh niên Lao động Việt Nam Trong giai đoạn này, tên tuổi của Nguyễn Xuân Khánh chưa thực sự
Trang 18hẹp” của những người trong giới Đây cũng là một tác phẩm thể hiện nhiều tâm huyết của Nguyễn Xuân Khánh trong hành trình sáng tạo nghệ thuật Ngay cả khi không được xuất bản, những tư tưởng táo bạo của ông trong tác phẩm này cũng trở thành đề tài bàn tán xôn xao và dường như vẫn là một cú sốc với người tiếp nhận Vắng bóng trên văn đàn chính thống suốt 20 năm (1969 – 1989), những năm 1973 – 1974, Nguyễn Xuân Khánh hoàn thành tác
phẩm Hoang tưởng trắng, đến năm 1990 công bố trên văn đàn công khai với tên gọi Miền hoang tưởng và bút danh Đào Nguyễn Cuốn sách dài 220 trang
do Nxb Đà Nẵng ấn hành đã vấp phải sự phản ứng mạnh của dư luận Sự ra đời của cuốn sách cũng có thể gọi là một scandal trong ngành xuất bản khi những người liên quan đến việc xuất bản bị kỷ luật và bản thân tác giả và tác phẩm bị đè bẹp bởi những lời lẽ nặng nề từ văn đàn chính thống Phan Tứ, một tác giả tiêu biểu của văn học chính thống lúc bấy giờ đã thốt lên sau khi
đọc Miền hoang tưởng, ông cảm thấy: rúng xương và vã mồ hôi lạnh Một
loạt các bài phê phán đăng trên tuần báo Công an Quảng Nam – Đà Nẵng
như: Mai Lĩnh với Miền hoang tưởng, cuốn sách không chỉ bôi đen, phủ nhận thành quả của chủ nghĩa xã hội, mà còn kêu gọi phản kháng chế độ (Công an Quảng Nam - Đà Nẵng số 39 ra ngày 29/09/1990); Thấy gì qua cuốn Miền hoang tưởng Phan Tứ (Công an Quảng Nam – Đà Nẵng số 44 ra ngày
03/11/1990); ngoài ra còn có hẳn một cuộc thảo luận tại báo văn nghệ với những đánh giá khác nhau trong đó có nhiều ý kiến trái chiều về tác phẩm này Có thể thấy điểm chung của hai sáng tác ở giai đoạn này đó là đều đề cập đến những vấn đề nóng bỏng của thời cuộc Chúng thể hiện những quan điểm của tác giả qua lối viết đậm tính huyền hoặc và giàu triết lý, tuy nhiên, các tác
phẩm đều không được công chúng đón nhận
Sau những cú “sốc” trên con đường văn nghiệp, phải mất một thời gian dài Nguyễn Xuân Khánh mới trở lại văn đàn chính thống Trong quãng thời
Trang 19gian ẩn dật, ông chỉ xuất hiện thấp thoáng qua những tác phẩm dịch thuật khi cộng tác với các nhà xuất bản Công việc dịch thuật có thể coi là một công việc cao quý (so với những việc ông phải làm để mưu sinh trong thời gian này) không chỉ giúp ông kiếm thêm thu nhập mà còn là cách để ông bớt nhớ nghề - cái nghề viết đã đem lại cho ông không ít đắng cay Qua dịch thuật, Nguyễn Xuân Khánh cũng tích lũy và học hỏi được nhiều điều không những
về tri thức mà còn cả về văn hóa nước ngoài, sự tích lũy ấy cũng là một trong những yếu tố tạo nên thành công của các tác phẩm sau này Những tác phẩm dịch thuật của ông khi cộng tác với Nxb Phụ nữ những năm 90 có thể kể đến
như: George Sand, nhà văn của tình yêu in năm 1994; tiểu thuyết Những quả vàng in năm 1996 của nhà văn Nathalie Sarraute; Lời nguyện cầu cho kẻ vắng mặt in năm 1996 của nhà văn Tahar Ben Jolloun… Cộng tác với Nxb Kim Đồng dịch một số tác phẩn cho trẻ em như: Năm tuần trên khinh khí cầu in năm 2003 của tác giả Anne Francosie Loseau; Hoàng hậu Sicile (tiểu thuyết
của Pamela Schoenewaldt, Nxb Kim Đồng, Hà Nội, 1999) Cộng tác với Nxb
Tri thức: Tâm lý học đám đông (tiểu luận của Gustave le Bon, Nxb Tri thức,
Hà Nội, 2006)… bên cạnh đó ông còn công bố một số tác phẩm viết cho thiếu
nhi của mình, đó là tập truyện ngắn Hai đứa trẻ con và con chó Mèo xóm núi
in năm 2002, Nxb Kim Đồng; Mưa quê, Nxb Kim Đồng, Hà Nội, 2003
Chặng đường thứ ba trong sự nghiệp văn chương của Nguyễn Xuân
Khánh chỉ thực sự bắt đầu với sự ra đời của Hồ Quý Ly được Nxb Phụ nữ ấn
hành năm 2000 Tác phẩm đã có được thành công vang dội và được độc giả yêu văn chương cũng như các nhà nghiên cứu chào đón nồng nhiệt Quả là sau hồi “bĩ cực” đến ngày “thái lai”, tác phẩm đưa về cho Nguyễn Xuân Khánh hàng loạt giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam và Hội Nhà Văn Hà
Nội Năm 2000, Hồ Quý Ly giành được 4 giải: – Giải thưởng Cuộc thi tiểu thuyết (1998 – 2000) của Hội Nhà văn Việt Nam, – Giải thưởng của Hội Nhà
Trang 20văn Hà Nội, 2001, – Giải thưởng Mai vàng của báo Người lao động, 2001, – Giải thưởng Thăng Long của Uỷ ban nhân dân thành phố Hà Nội, 2002 Hồ Quý Ly được công nhận như là đòn bẩy để ông tiếp tục đưa ra những kiến giải
về lịch sử và văn hóa của mình trong hai tác phẩm tiếp theo: Mẫu Thượng ngàn năm 2005 và Đội gạo lên chùa năm 2011 Cả hai tác phẩm đều tiếp tục
được đón nhận nồng nhiệt và đem lại cho nhà văn những vinh quang từ giải
thưởng cũng như từ sự tin yêu từ phía người đọc Mẫu Thượng ngàn (2005):
có 2 giải: – Giải thưởng Hội Nhà văn Hà Nội, 2006, – Giải thưởng văn hoá Doanh nhân, 2007 Đội gạo lên chùa xuất bản đầu năm 2011, đầu năm 2012
đã được trao ngay Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam Cả ba tác phẩm đều được tái bản nhiều lần với số lượng lớn: Hồ Quý Ly đã tái bản 11 lần Mẫu Thượng ngàn: tái bản 7 lần, gần như lần nào cũng in với số lượng lớn Đội gạo lên chùa phát hành hồi tháng 6 năm 2011 đến nay cũng đã tái bản 4 lần
Những con số trên cũng đủ cho thấy sức hút, độ nóng của tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh ở thời điểm hiện tại Bộ ba tác phẩm trong giai đoạn sáng tác thứ
3 này của Nguyễn Xuân Khánh thể hiện mối quan tâm của ông đến vấn đề lịch sử văn hóa – phong tục, chúng thể hiện những suy tư gắn liền với niềm tin về bản sắc văn hóa dân tộc Nguyễn Xuân Khánh trở lại khi ông không còn trẻ, nhưng bù lại những kiến giải của ông về dân tộc và lịch sử đã đằm chín hơn nhiều Đó có thể coi như là độ lùi lịch sử cần thiết để một “trí thức chịu nạn” có bản lĩnh (theo cách nói của nhà nghiên cứu Nguyễn Đăng Điệp) vượt qua khoảng dài ẩn mình để vươn tới một “chỗ đứng dưới ánh mặt trời” Ông trở thành một trong những nhà văn tiêu biểu nhất của văn xuôi Việt Nam đầu
thế kỷ XXI
Nhìn lại chặng đường đời cũng như nghiệp văn của Nguyễn Xuân Khánh chúng ta thấy rằng ông là người phải chịu nhiều thiệt thòi, vất vả Tuy vậy, ta luôn thấy ở ông nghị lực vươn lên mọi khó khăn và tấm lòng tràn đầy
Trang 21tình thương yêu con người Cho đến nay, những tác phẩm của Nguyễn Xuân Khánh không nhiều nhưng cũng đủ để nhà văn khẳng định vị trí và thể hiện tài năng của mình trong dòng văn học đương đại Những tác phẩm ấy phần nào giúp lão nhà văn thỏa nỗi đam mê của ông với duyên nghiệp này Thành công của ông gặt hái được cho đến nay chính là những quả ngọt từ quá trình gieo hạt, ươm mầm gian nan ấy
1.1.3 Quan niệm nghệ thuật của Nguyễn Xuân Khánh
Trong văn học, con người bao giờ cũng là con người được quan niệm,
vì thế “nói đến quan niệm nghệ thuật là nói đến ý hướng của nhà văn hướng đến thế giới và con người ngay trong khi sáng tác văn học” [13 tr211] và
“quan niệm nghệ thuật về thế giới và con người thể hiện tầm nhìn của nhà văn và chiều sâu triết lý của tác phẩm”[13 tr210] Quan điểm nghệ thuật của
nhà văn trước tiên hình thành từ những tiền đề Một trong những tiền đề quan trọng nhất chính là hoàn cảnh sống với những trải nghiệm quý báu của nhà văn từ thủa thiếu thời Với Nguyễn Xuân Khánh, hầu hết các tác phẩm của
ông đều được xây dựng dựa trên những trải nghiệm thực tế của đời sống
Những năm tháng tuổi thơ chính là những hồi ức khó quên cho ông những suy tư đầu đời Mồ côi cha từ rất nhỏ lại mang thân con vợ lẽ (bố ông
có 3 vợ), mẹ ông không lấy chồng mà ở vậy nuôi con đến cuối đời dù ông biết đáy lòng bà không phải không có những khát khao của riêng mình Tuổi thơ ông gắn với những cuốn sách và những ngày theo mẹ hầu đồng nơi cửa Phật Lặng ngắm những bước nhảy mê đắm đến man dại trong cõi linh thiêng, ông đắm trong nỗi cô liêu của người mẹ trong những cuộc hầu đồng Không chỉ có
mẹ, Nguyễn Xuân Khánh lớn lên trong vòng tay của những người phụ nữ trong gia đình, họ là bác, là là dì, là chị em họ của ông, và hầu hết họ đều mang những số phận không may mắn Người đàn bà Việt theo nhà văn đã đẹp sẵn rồi, đẹp ngay trong gian khổ, đói nghèo Cảm nhận ấy xuất phát từ chính cuộc sống thực tế của lão nhà văn Chính những con người thực ấy đã đem
Trang 22đến cho Nguyễn Xuân Khánh cái nhìn sinh động, đầy đủ và rõ rệt về tính nữ, chất âm tính mà ông miêu tả trong tiểu thuyết của mình Có lẽ chính vì thế mà những nhân vật nữ trong các tác phẩm của ông luôn dành được một vị trí danh
dự Đắm trong tình yêu thương và thấu hiểu nỗi khổ cực của những người phụ
nữ ấy Nguyễn Xuân Khánh đã cho thấy một tình cảm đặc biệt, giàu sự cảm thông và đậm chất nhân văn cho số phận những nhân vật của mình Cũng vì thế mà “mẫu tính” trở thành một nét đặc biệt được nhiều nhà nghiên cứu nhắc đến như là một trong những yếu tố đặc sắc nhất trong sáng tạo nghệ thuật của Nguyễn Xuân Khánh
Quan điểm sống của Nguyễn Xuân Khánh gắn nhiều với tôn giáo, đặc
biệt là đạo Phật Ông thừa nhận: Triết học và tư tưởng Phật giáo vẫn ảnh hưởng đến tôi nhiều nhất Tôi luôn lấy đạo Phật làm điểm tựa để lý giải cho người và xã hội [28] Tác phẩm của ông nhằm tái hiện một lối sống Phật giáo
chứ ông không viết với tư cách một người tu hành Ông nói: đạo Phật vốn mềm dẻo, thế nên mới có cuốn sách gợi hứng từ hai chữ “tùy duyên” Ông luôn quan niệm rằng: Cứ sống hết mình với cuộc đời này bằng bốn chữ của nhà Phật từ - bi – hỉ - xả thì tôi nghĩ cũng đã hạnh phúc rồi, và những người xung quanh cũng cảm thấy dễ chịu rất nhiều Ông cũng lý giải về tôn giáo
trong tác phẩm của mình: Tôi viết về đạo Phật, nhưng không phải khuyến khích đi tu mà chính là nói về cái lối sống Phật giáo Con người sống không rời xa hoan lạc, nhưng lại phải an tĩnh [28] Các tác phẩm của Nguyễn Xuân Khánh từ Hồ Quý Ly, Mẫu thượng ngàn và đặc biệt là Đội gạo lên chùa đã
viết theo lối suy tư ấy Bên cạnh đạo Phật, đạo Mẫu cũng ảnh hưởng rất nhiều đến Nguyễn Xuân Khánh Với ông, đạo Mẫu tuy không “cao sang” như đạo Phật, không có một hệ thống lý luận để trở thành một tôn giáo thực thụ, tuy vậy đạo Mẫu lại là nơi xoa dịu mọi nỗi đau, là điểm tựa tinh thần của con người, đặc biệt là người phụ nữ
Quê hương nơi Nguyễn Xuân Khánh sinh ra và lớn lên chính là bối cảnh tạo nên không gian nghệ thuật trong tiểu thuyết của ông Đó là hai vùng
Trang 23đất Thanh Nhàn và Cổ Nhuế khi xưa – khi mà những nét đẹp của thiên nhiên, cảnh vật và cả những nét văn hóa tinh thần quý giá còn chưa khuất lấp bởi văn minh đô thị Chính hai cái làng ấy trở thành tiền đề, thành không gian sống cho các nhân vật của ông
Quan điểm, cách nhìn về lịch sử của Nguyễn Xuân Khánh đã chi phối
rất nhiều đến lối viết của ông Nhà nghiên cứu Phạm Toàn trong Tọa đàm Lịch sử và văn hóa qua tự sự nghệ thuật của Nguyễn Xuân Khánh đã rất có lý khi ví von đầy hình tượng rằng: Lịch sử là người câm đã đi mất, người làm khoa học lịch sử cũng chỉ là người ghi chép lại quan điểm của cá nhân họ Chỉ có những nghệ sĩ là chạm đến khát vọng của lịch sử, khơi mở những vấn
đề ẩn khuất và lay động con người [1] Nhận định của ông nhằm xác lập một
ranh giới tự do cho các nhà văn viết về lịch sử, loại trừ những tranh cãi, đúng
- sai, sự thật – hư cấu mà dư luận luôn đưa ra bàn tán Nguyễn Xuân Khánh chính là một trong số ít ỏi những nhà văn thành công khi khẳng định được sự
tự do của mình trên “sân chơi” tiểu thuyết lịch sử Khi phát biểu quan điểm
của mình về mục đích thể loại, Nguyễn Xuân Khánh cho rằng: Theo tôi, tiểu thuyết lịch sử có hai loại Một là viết về những nhân vật nổi tiếng trong lịch
sử Và người viết không được phép bịa đặt một cách trắng trợn, chỉ có thể hư cấu về tâm lý hoặc thêm những nhân vật hư cấu để soi sáng nhân vật có thực Còn một loại khác là nhà văn xây dựng không khí xưa nhưng nhân vật là nhân vật hư cấu Có một vài nhân vật nhưng chỉ làm bối cảnh cho nhân vật
hư cấu Và lịch sử chỉ là cái đinh treo [46] Coi lịch sử chỉ là cái đinh treo văn chương, Nguyễn Xuân Khánh nhấn mạnh Tôi quan niệm rằng tiểu thuyết lịch
sử không phải là kể lại lịch sử mà là phản ánh những vấn đề của con người hiện tại Vì chúng ta đang viết cho những người đang sống đọc, vì vậy phải đề cập đến những vấn đề mà họ quan tâm [46] Bằng những quan điểm đó,
Nguyễn Xuân Khánh cho thấy rõ những định hướng của mình khi viết tiểu
Trang 24thuyết lịch sử Tựu chung lại, viết tiểu thuyết lịch sử đối với ông cũng chính
là viết về cuộc sống, về con người và những vấn đề của hiện tại
Nhà nghiên cứu Trần Đình Sử cho rằng, Nguyễn Xuân Khánh là người
có tư tưởng riêng chứ không minh họa cho tư tưởng nào khác Ông viết lịch
sử là để viết về con người, về những giá trị nhân văn trong đời sống [1] Tác
phẩm của Nguyễn Xuân Khánh khiến nhà nghiên cứu Trần Đình Sử liên tưởng tới "Sông Đông êm đềm" của M.Solokhop - miêu tả cái dữ dội của hiện thực từ một giai đoạn lịch sử để cuối cùng cũng chỉ hướng tới khao khát nhân văn của nhân loại
Lịch sử đã hòa vào văn hóa, phong tục, tín ngưỡng văn hóa dân gian trong tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh để soi rọi con người Dùng văn hóa để kiến giải lịch sử là một cách đi riêng của Nguyễn Xuân Khánh Với ông, lịch
sử chỉ là đinh treo văn chương
Nguyễn Xuân Khánh trung thành với lối viết truyền thống Bản thân tôi
tự nhận mình có nhiều nhược điểm, xuất phát từ cấu trúc gia đình, xã hội, những trải nghiệm của bản thân và cả những ý thích riêng đi ngược với thời đại [1] Nguyễn Xuân Khánh cho rằng, có người chê ông không hiểu hết về
đạo Phật, về đạo Mẫu, Nguyễn Xuân Khánh nói, ông không viết với tư cách một người truyền giáo, mà chỉ giới thiệu một lối sống trong thời hiện đại Về
việc viết dài, Nguyễn Xuân Khánh chia sẻ: Tôi chỉ sợ viết thiếu lịch lãm, trải nghiệm chứ không sợ dài [1]
Nhà văn cũng nói về lý do ông lựa chọn lối viết truyền thống chứ không tìm đến kỹ thuật hiện đại hay hậu hiện đại để xử lý các tiểu thuyết về lịch sử của mình Ông không "khoái" hậu hiện đại khi bỏ nhân vật, bỏ tâm lý,
bỏ cốt truyện và đặc biệt cắt đứt mối quan hệ với quá khứ, mối giao lưu với
độc giả Ông cũng tự nhận: Cái khuynh hướng của tôi khác Tôi không đi tìm hình thức, mà chủ yếu là vấn đề, suy tư của dân tộc mình là chủ yếu [35]
Khẳng định quyền tìm lối đi riêng trong văn học thời hiện đại của mỗi cá
Trang 25nhân, Nguyễn Xuân Khánh kêu gọi: Hãy cho mọi người có quyền khác anh để mỗi người đều có chỗ đứng dưới ánh mặt trời Đó chính là biểu hiện cao nhất của tinh thần dân chủ Còn với riêng ông: Cho tôi phát biểu dưới ánh mặt trời một ý nghĩ của tôi, thế thôi [1]
1.2 Khái niệm về thế giới nghệ thuật và thế giới nghệ thuật trong tiểu thuyết
1.2.1 Thế giới nghệ thuật
Từ thời cổ đại, Aristot đã hình dung chỉnh thể tác phẩm như một cấu tạo, mà nếu đổi thay hay lấy bớt một bộ phận thì toàn thể sẽ đổi thay hay vận động Quan điểm nhìn tác phẩm như một khách thể toàn vẹn ấy tồn tại cho đến hết thời kỳ trung đại Tới chủ nghĩa Lãng mạn, người ta đã nhìn tác phẩm văn học như một thế giới có tổ chức và có sự sống riêng, phụ thuộc vào ý thức sáng tạo của nghệ sĩ
Trong lịch sử văn học, Seđrin và Banzăc là những người đầu tiên gọi một tác phẩm là “thế giới nghệ thuật”, “ vũ trụ nghệ thuật” Với Banzăc, tác phẩm là một vũ trụ, vũ trụ ấy là cuộc đời nhìn qua nhãn quan của ông tạo nên một "thế giới kiểu Balzac" in rõ dấu ấn của "cảm hứng vĩ mô” và đó là "vũ trụ
được sáng tạo hơn là được mô phỏng" Nhà văn Seđrin đã nói: “Tác phẩm văn học là một vũ trụ thu nhỏ, mỗi sản phẩm nghệ thuật là một thế giới khép kín trong bản thân nó” Như vậy, một tác phẩm toàn vẹn phải xuất hiện như một thế giới nghệ thuật Bêlinxki cũng đã từng nhận xét: “Mọi sản phẩm nghệ thuật đều là một thế giới riêng mà khi đi vào đó thì ta buộc phải sống theo các quy luật của nó, hít thở không khí của nó”
Từ những nhận xét trên ta có thể hiểu thế giới nghệ thuật là sản phẩm sáng tạo của người nghệ sĩ Thế giới nghệ thuật là một khái niệm mang tính đặc thù vừa thể hiện qua chất liệu nghệ thuật, vừa tồn tại trong cảm nhận của người thưởng thức Bên cạnh đó, nó còn là sự thống nhất giữa nội dung và hình thức trong chỉnh thể thẩm mỹ của tác phẩm
Trang 26Theo Từ điển thuật ngữ văn học thì thế giới nghệ thuật là: khái niệm
chỉ tính chỉnh thể của sáng tạo nghệ thuật (một tác phẩm, một loại hình tác phẩm, sáng tác của một tác giả, một trào lưu) Thế giới nghệ thuật nhấn mạnh rằng sáng tác nghệ thuật là một thế giới riêng được tạo ra theo các nguyên tắc tư tưởng và nghệ thuật (…) Khái niệm thế giới nghệ thuật giúp
ta hình dung tính độc đáo về tư duy nghệ thuật của người nghệ sĩ [29 tr251]
Trước tiên cần khẳng định thế giới nghệ thuật xác lập tính độc lập tương đối của chủ thể sáng tạo so với thế giới tự nhiên hay thực tại xã hội
Đó chính là sự thừa nhận quyền sáng tạo của người nghệ sĩ Người nghệ
sĩ sáng tạo ra tác phẩm văn học không phải là sự sao chép, lệ thuộc máy móc
vào thực tại bên ngoài, mà: “là một thế giới riêng được sáng tạo theo các nguyên tắc tư tưởng, khác với thế giới thực tại vật chất hay thế giới tâm lí của con người, mặc dù nó phản ánh thế giới ấy Thế giới nghệ thuật có không gian, thời gian riêng, có quy luật tâm lí riêng, có quan hệ xã hội riêng, quan niệm đạo đức, thang bậc giá trị riêng chỉ xuất hiện một cách ước lệ trong sáng tạo nghệ thuật” [29.tr251] Thế giới nghệ thuật là sản phẩm tinh thần,
kết quả của trí tưởng tượng, sự sáng tạo chỉ có trong các tác phẩm nghệ thuật Bởi vậy, thế giới nghệ thuật có cấu trúc riêng, quy luật riêng được thể hiện ở đặc điểm con người, tâm lý, không gian, thời gian, đồ vật, xã hội… gắn liền với một quan niệm về chúng của tác giả Thế giới nghệ thuật tương ứng với thế giới quan, nhân sinh quan, vũ trụ quan, lịch sử quan, hay cảm nhận thế giới của chủ thể sáng tạo Do đó, thế giới nghệ thuật bao quát sâu rộng hơn hình tượng nghệ thuật Điều này làm cho mỗi hình tượng, chi tiết trong tác phẩm văn học mang một ý nghĩa đặc thù, khác với những hiện tượng, chi tiết trong thế giới thực tại Con người trong văn chương cũng khác với con người thực tại ngay trong những tác phẩm được gọi là hiện thực chủ nghĩa bởi nó mang tính khái quát, tượng trưng hơn Vì vậy, nghiên cứu thế giới nghệ thuật
khác với việc phân tích hình tượng nghệ thuật Cuối cùng, thế giới nghệ thuật
Trang 27là thực tại tinh thần mà người đọc ở vào khi sống với tác phẩm Nhưng nó không đơn giản là một tồn tại khác của thực tại, mà là một thế giới đã đột phá tính hữu hạn của thực tại để mở vào chiều sâu vô hạn của ý nghĩa, làm thành một thế giới ước lệ, tượng trưng [41 tr1660]
Như vậy thế giới nghệ thuật phản ánh thế giới quan, nhân sinh quan, vũ trụ quan và cách cắt nghĩa đời sống rất riêng của chủ thể sáng tạo Mỗi tác phẩm lớn, tác giả lớn đều có thế giới nghệ thuật riêng của mình, chúng thể hiện tính độc đáo trong tư duy và phong cách nghệ thuật của nhà văn
Cách hiểu trên đây về thế giới nghệ thuật là cơ sở để chúng tôi tìm
hiểu và nghiên cứu thế giới nghệ thuật trong tiểu thuyết của Nguyễn Xuân
Khánh
1.2.2 Thế giới nghệ thuật trong tiểu thuyết
Mỗi thể loại văn học cũng có một thế giới nghệ thuật với quy luật riêng của nó Thế giới nghệ thuật trong tiểu thuyết là một khái niệm chưa được cắt nghĩa rành mạch và trọn vẹn trong bất kỳ công trình lý luận văn học nào Theo chúng tôi, có thể hiểu một cách chung nhất: Thế giới nghệ thuật trong tiểu thuyết vừa mang những đặc điểm chung của thế giới nghệ thuật trong các sáng tác văn học, vừa có những đặc điểm riêng gắn với đặc trưng thể loại của
nó Đặc điểm riêng ấy là chất văn xuôi vừa trữ tình vừa bay bổng nhưng cũng vừa thô nhám, xù xì như chính cuộc sống đời thường đa dạng quanh ta Đó là thế giới rộng mở về biên độ thời gian, không gian, nhân vật như chính sức bao quát lớn lao của thể loại tiểu thuyết mà không thể loại văn học nào sánh kịp Mối quan tâm đặc biệt trong thế giới nhân vật của tiểu thuyết tất nhiên
chính là con người với số phận của họ Từ những quan điểm trên, chúng tôi đi
vào nghiên cứu thế giới nhân vật và những đặc điểm về không gian – thời gian trong sáng tác của Nguyễn Xuân Khánh nhằm đưa ra một hình dung về thế giới nghệ thuật trong tiểu thuyết của ông
Trang 28CHƯƠNG 2:
THẾ GIỚI NHÂN VẬT TRONG TIỂU THUYẾT
CỦA NGUYỄN XUÂN KHÁNH
2.1 Nhân vật và phân loại nhân vật trong tiểu thuyết
2.2.1 Nhân vật trong tiểu thuyết
Văn học bao giờ cũng thể hiện cuộc sống của con người Nhân vật văn học được tác giả mô tả rất đa dạng Nhân vật văn học có khi là những người
có họ tên như Từ Hải, Thúy Kiều, Lục Vân Tiên, anh Pha, chị Dậu… cũng có thể là những nhân vật không có họ tên như: anh trai cày, tên lính, người hầu gái… Nhân vật trong văn học cũng có khi là một loài vật, đồ vật hoặc một hiện tượng nào đó ngoài tự nhiên, mang ý nghĩa biểu tượng cho số phận, tư tưởng, tình cảm của con người
Nhà văn sáng tạo nhân vật để thể hiện nhận thức của mình về một cá
nhân vào đó, về một loại người nào đó, về một vấn đề nào đó của hiện thực Nhân vật chính là người dẫn dắt người đọc vào một thế giới riêng của đời sống trong một thời kỳ lịch sử nhất định [10.tr126]
Theo 150 thuật ngữ văn học do nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân biên soạn, nhân vật văn học là một đơn vị nghệ thuật, nó mang tính ước lệ, không thể đồng nhất với con người thật, ngay cả khi tác giả xây dựng nhân vật với những nét rất gần với nguyên mẫu có thật Nhân vật văn học là sự thể hiện quan niệm nghệ thuật của nhà văn về con người; nó có thể được xây dựng chỉ dựa trên cơ sở quan niệm ấy Ý nghĩa của nhân vật văn học chỉ có được trong một hệ thống tác phẩm cụ thể [3 tr250]
Nhân vật là phương tiện khái quát các tính cách, số phận con người và các quan niệm về chúng, đồng thời nhân vật là phương tiện thể hiện tư tưởng của nhà văn Như vậy, nghiên cứu nhân vật chính là thao tác tìm hiểu cách
Trang 29nhà văn nhìn nhận, cắt nghĩa và lý giải về con người Nhân vật văn học là sản phẩm sáng tạo của nhà văn trên cơ sở quan sát những con người trong cuộc sống Tìm hiểu nhân vật văn học chính là tìm hiểu yếu tố trung tâm thể hiện tài năng nghệ thuật của nhà văn Bên cạnh đó, từ việc nghiên cứu nhân vật văn học, chúng ta cũng phần nào thấy được những yếu tố cốt lõi, tiêu biểu mang tính thời đại của cuộc sống thực tại và sự sáng tạo của nhà văn trong con đường tìm tòi, đổi mới nghệ thuật Nhân vật văn học giữ vai trò quyết định nội dung tư tưởng của tác phẩm vì vậy, nghiên cứu nhân vật trong tác phẩm chính là con đường ngắn nhất tìm ra tư tưởng của tác phẩm cũng như nhà văn
Đối với tiểu thuyết, nhân vật giữ vai trò cực kỳ quan trọng, thể hiện sức sống của thể loại Một trong những đặc trưng cơ bản của tiểu thuyết là nhân vật chính là “con người nếm trải” Nói cách khác, nhân vật trong tiểu thuyết phải chịu rất nhiều trải nghiệm trong cuộc đời với bao nhiêu thăng trầm, biến đổi, những đau khổ, dằn vặt và suy nghĩ Bởi lẽ nhân vật của tiểu thuyết luôn chịu tác động của hoàn cảnh Vì vậy, mặt tâm lý của nhân vật luôn là trung tâm nhấn mạnh của tiểu thuyết
Nhân vật trong tiểu thuyết có thể là con người toàn vẹn, đầy đặn, được miêu tả từ ngoại hình đến tính cách, nội tâm, nhưng có thể chỉ là những phiến đoạn, một dòng nội tâm hoặc một tượng trưng (Máckét), một ký hiệu như Jozef K hay Gregoa trong tác phẩm của F Kapka, thậm chí nhân vật chỉ còn những mảnh vụn (tiểu thuyết phương tây hiện đại)
Thế giới nhân vật là hệ thống các nhân vật được tổ chức thành một chỉnh thể nghệ thuật, trong đó, mỗi nhân vật là một yếu tố của chỉnh thể ấy Thế giới nhân vật trong các tác phẩm văn học đặc biệt là trong tiểu thuyết vô cùng đa dạng, phong phú bao gồm nhiều loại nhân vật, được đặt trong nhiều
Trang 30mối quan hệ đời sống, thể hiện tư tưởng của tác phẩm và ý đồ sáng tạo nghệ thuật của nhà văn
Vấn đề nhân vật trong tiểu thuyết Việt Nam thời kỳ Đổi mới là một vấn
đề lý luận quan trọng Đặc biệt trong mười năm đầu của thế kỷ XXI, vấn đề nhân vật tiểu thuyết lại càng được đặt ra một cách rốt ráo, khi con người cá nhân, vấn đề cá nhân trong bộn bề cuộc sống thời kỳ đầu Đổi mới trở thành trung tâm của đời sống văn học
2.1.2 Phân loại nhân vật trong tiểu thuyết
Trong nghiên cứu văn học, có rất nhiều cách phân loại nhân vật khác nhau Theo quan niệm truyền thống, căn cứ vào vai trò và mối quan hệ của các nhân vật mà phân thành nhân vật chính, nhân vật trung tâm, nhân vật phụ Dựa trên bình diện tư tưởng, ý thức hệ trong quan hệ với tư tưởng xã hội – thẩm mĩ của nhà văn phân thành nhân vật chính diện, nhân vật phản diện Căn
cứ vào phương thức cấu trúc nhân vật phân thành nhân vật chức năng, nhân vật loại hình, nhân vật tính cách, nhân vật tư tưởng
Quan niệm tự sự đương đại cho thấy cái nhìn phức hợp, đa dạng hơn trong việc phân chia kiểu loại nhân vật Nhiều tác giả khi nghiên cứu tiểu thuyết hiện đại Việt Nam đã đưa ra những phân loại theo cách riêng của mình
Nhà nghiên cứu Hoàng Cẩm Giang trong luận văn Cấu trúc thể loại tiểu thuyết Việt Nam đầu thế kỷ XXI (2010) đã phân loại nhân vật tiểu thuyết thành
các cấp độ: Cấp độ tâm lý - tính cách; Cấp độ thân phận – hành động; Cấp độ chức năng – tự sự… Nhà nghiên cứu Phạm Xuân Thạch khi nghiên cứu nhân vật trong tiểu thuyết lịch sử cũng đã đưa ra cách phân loại nhìn từ góc độ ngữ nghĩa thành các kiểu nhân vật: Nhân vật chủ thể của tiến trình lịch sử; Nhân vật nạn nhân của lịch sử; Nhân vật kẻ quan sát lịch sử
Tất nhiên mọi cách phân loại nhân vật dù theo quan niệm truyền thống hay hiện đại đều mang tính chất tương đối, đặc biệt khi nghiên cứu tiểu thuyết
Trang 31hiện đại, khi mà thế giới nhân vật trong mỗi tác phẩm luôn nằm trong những mối quan hệ phức tạp Với mục đích đưa ra cái nhìn khái quát về thế giới
nhân vật trong tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh (qua Hồ Quý Ly, Mẫu thượng ngàn, Đội gạo lên chùa) chúng tôi đề xuất cách phân loại nhân vật thành:
Kiểu nhân vật tính cách - số phận; Kiểu nhân vật tư tưởng – luận đề; Kiểu nhân vật kí hiệu - biểu tượng Trên thực tế, với hệ thống nhân vật vô cùng đa dạng, phức tạp, chằng chéo trong vô vàn mối quan hệ, việc phân loại này chỉ mang tính chất tương đối Đặc biệt, trong hệ thống nhân vật đồ sộ của bộ ba
tiểu thuyết Hồ Quý Ly, Mẫu thượng ngàn, Đội gạo lên chùa thì việc phân loại
nhân vật khi tiếp cận thế giới nghệ thuật của Nguyễn Xuân Khánh cũng là một thách thức khá lớn đối với chúng tôi Sự phức tạp trong xây dựng nhân vật của nhà văn khiến cho các nhân vật đôi khi nằm trong sự giao thoa của các kiểu loại Việc phân loại trên là một trong những cơ sở để chúng tôi tìm hiểu thế giới nhân vật trong tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh
2.2 Nhân vật trong tiểu thuyết của Nguyễn Xuân Khánh
2.2.1 Nhân vật trong tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh trước Hồ Quý Ly
Như đã đề cập ở trên chúng ta thấy rằng, năm tác phẩm lớn nhất đều
nằm ở hai chặng cuối sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Xuân Khánh Trước Hồ Quý Ly, hai tác phẩm lớn ấy chính là Trư cuồng và Miền hoang tưởng Trư cuồng (1982) là cuốn tiểu thuyết viết về chứng cuồng của một người khi đã quá gần gũi với lợn Đó là nhân vật Hoàng, một anh nhà báo bị kỷ luật phải về
nuôi lợn cùng với những người dân xóm nghèo của anh
Miền Hoang Tưởng (1990) là cuốn tiểu thuyết viết về những con người
khi phải đối mặt với những vấn đề của cuộc sống hàng ngày - cụ thể là cuộc sống của những trí thức thất thế, nghèo đói trong giai đoạn khó khăn của đất nước những năm 70 - 80, thế kỷ XX Đó là một anh nhạc sỹ bị đuổi ra khỏi biên chế, một anh giáo viên nghèo, một anh hoạ sỹ thất nghiệp Những nhân
Trang 32vật này biểu lộ một phần đời sống vật chất, tinh thần có thực của giới trí thức
Hà Nội những năm tháng đánh Mỹ
Thế giới nhân vật trong hai tác phẩm là những con người cụ thể, đời thường trước những trăn trở hàng ngày mà nhà văn từng bắt gặp ngoài cuộc đời Có thể thấy rằng, nhân vật trong tiểu thuyết của Nguyễn Xuân Khánh
trước Hồ Quý Ly chủ yếu vẫn là những người trí thức, nghệ sĩ bị ràng buộc
trong rất nhiều mối lo toan bộn bề của cuộc sống hiện đại Họ dần trở nên tha hóa hoặc chấp nhận nghiệt ngã, thậm chí cuồng thực sự để giữ gìn nhân cách
Trong Trư cuồng, Nguyễn Xuân Khánh xây dựng nhân vật Nguyễn Hoàng,
một “cựu nhà báo” bằng lối viết nhật ký và giọng điệu có phần giễu nhại Chứng cuồng lợn của Hoàng làm cho mọi thứ dường như đảo lộn, đôi khi không còn phân biệt rõ đâu là thế giới của người, của lợn, đâu là điều tốt đẹp,
đâu là sự phàm tục, thô kệch của cuộc đời Ở Miền hoang tưởng đó lại là
những trí thức, nghệ sĩ có tâm với nghề, có tình yêu chân chính nhưng luôn gặp trắc trở, bất hạnh trong cuộc đời như Hưng, Minh, Tư, Ngọ… Họ rơi vào một thế giới chơi vơi không biết đâu là bến bờ Ta có thể nhìn thấy ở đó bóng dáng của những trí thức như Nguyễn Xuân Khánh trước những bộn bề của cuộc sống những năm 80 của thế kỷ XX, khi bộ khung Xã hội Chủ nghĩa đang rệu rã bởi phương thức quản lý tập trung, quan liêu, bao cấp không còn phù hợp Thực tế những vấn đề nóng hổi của cuộc sống đầy rẫy khó khăn trong thời kỳ bao cấp hậu chiến ấy là một trong những đề tài nóng bỏng của tiểu thuyết những năm cuối thế kỷ XX Chính những tiểu thuyết viết về đề tài nóng ấy khẳng định bước đổi mới trong cách tiếp cận hiện thực của tiểu thuyết giai đoạn này Nguyễn Xuân Khánh đã bắt kịp thời đại, nhưng tác phẩm của ông dù được xuất bản công khai theo phương thức chính thống hay chỉ chia sẻ trong nhóm nhỏ cũng vấp phải sự chỉ trích nặng nề của dư luận
Có lẽ những tác phẩm này đã đụng chạm đến những vấn đề quá nhậy cảm,
Trang 33nằm ngoài vòng phủ sóng của văn học chính thống và những chuẩn mực đạo
đức, tư tưởng của xã hội đương thời
Nhìn chung, ngoài việc đề cập đến những vấn đề khá nhậy cảm ở trên,
nhân vật trong tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh trước Hồ Quý Ly có số lượng
khá ít (trên chục nhân vật), được xây dựng trong một không gian hẹp, bộc lộ quan điểm, tư tưởng của nhà văn về đời sống xã hội đương thời Các nhân vật chưa được xây dựng thành những tính cách rõ nét, chưa được đặt trong nhiều mối quan hệ đa dạng, phức tạp của đời sống Vì thế, nhân vật kém sinh động, thậm chí tẻ nhạt, đơn điệu
2.2.2 Nhân vật trong tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh trong bộ ba tiểu thuyết Hồ Quý Ly, Mẫu thượng ngàn, Đội gạo lên chùa
2.2.2.1 Nhân vật luận đề - tư tưởng
Trái với hình thức tự sự truyền thống thông qua lời trần thuật ngôi thứ
ba với điểm nhìn mang tính khách quan của tự sự, một đặc điểm quan trọng trong nghệ thuật tự sự hiện đại đó là quá trình chủ quan hóa hay sự gia tăng cách kể, gia tăng điểm nhìn của người kể chuyện ngôi thứ nhất Cùng với đó
là sự gia tăng của đối thoại bên trong đi liền với sự ra đời của nhân vật lập trường tư tưởng Nằm trong khuynh hướng tiểu thuyết lịch sử luận giải, ba cuốn tiểu thuyết của Nguyễn Xuân Khánh cho thấy rất rõ quan điểm của tác giả khi luận giải lịch sử Nói một cách khác qua ba tác phẩm tác giả đã đưa ra cách hiểu, sự mường tượng và lý giải của mình về lịch sử dân tộc trong những giai đoạn khác nhau Kiểu nhân vật luận đề - tư tưởng vì vậy xuất hiện rất nhiều trong tiểu thuyết của Nguyễn Xuân Khánh, là công cụ tích cực để qua
đó nhà văn đưa ra cách luận giải của mình
Với kiểu nhân vật luận đề - tư tưởng, có lẽ những người trí thức là lựa chọn hoàn hảo nhất Kẻ sĩ hay người trí thức có vai trò quan trọng trong bất
kỳ xã hội nào Với tài năng của mình, họ có thể là nguồn lực, cũng có thể là
Trang 34lực cản của lịch sử Người Việt tự xưa đã có truyền thống đề cao những cá nhân có trí tuệ, có phẩm chất đẹp Trong những biến động lịch sử, người trí thức sẽ có biểu hiện rõ nhất, cụ thể nhất thái độ và khát vọng của mình trước những vấn đề của con người và xã hội Với khả năng tư duy ngôn ngữ nhạy bén và logic, người trí thức chính là nhân vật lý tưởng để tác giả đưa ra những phát ngôn, những quan điểm của mình Từ lực lượng này cũng có thể phân ra nhiều lớp lang ứng với những quan điểm, tư tưởng khác nhau Trước tiên có thể kể đến những trí thức có hoài bão, khát vọng và luôn ưu hoài tới vận mệnh của quốc gia, dân tộc Ở đây ta có thể kể đến các nhân vật tiêu biểu như Hồ
Nguyên Trừng, Sử Văn Hoa trong Hồ Quý Ly, Huy trong Mẫu thượng ngàn
An, Hải, Vô Trần…trong Đội gạo lên chùa
Hồ Nguyên Trừng là một lãng tử, ý chí được thể hiện qua giấc mộng bay khi thấy mình mọc cánh, thân xác cất khỏi mặt đất muốn bay thật xa mà không sao cất nổi quá xa những mái nhà, những ngọn tre Giấc mộng ấy đã cho thấy cả ý chí và tấm lòng cũng như dự báo số phận Hồ Nguyên Trừng Người viết sử có biệt tài giải mộng Sử Văn Hoa đã có những giải đáp chính xác về giấc mộng ấy:
Không gở Không xấu cũng không tốt Là cái chí của công tử đấy thôi Tức là lũy tre, nếp nhà, mặt đất còn níu kéo cậu lại, vì cậu gắn bó với chúng Nếu không cậu sẽ bay vút lên trời cao, và biết đâu đấy… bầu trời thì to rộng,
ai mà lường hết được cái kết cục [19.tr36]
Hồ Nguyên Trừng là người có chí, nhưng Nguyên Trừng cũng là kẻ đa tình Cái tình ở đây không chỉ đơn giản là tình nhi nữ mà còn là tình yêu thương con người nói chung, cụ thể là yêu thương nhân dân, đất nước mình Khác với em trai Hồ Hán Thương luôn yêu thích rồng vì ở đó vừa có sự uy nghiêm, vừa có sự thâm hiểm của loài rắn, thực thực – hư hư, tiềm long tức là tiềm xà, Hồ Nguyên Trừng thích phượng hoàng Sở thích này được thể hiện
Trang 35qua bài ca Phượng hoàng được phóng tác từ một bài thơ Đường của chàng
công tử đa tài Hồ Nguyên Trừng Nếu biểu tượng rồng ứng với hoàng đế, thì phượng hoàng là biểu tượng của hoàng hậu Ở phượng hoàng có sự uyển chuyển, mềm mại của tính nữ Sở thích ấy cũng ứng với đời thực, thể hiện chính con người và tư tưởng của Hồ Nguyên Trừng Vừa uyển chuyển, mềm mại nhưng cũng giàu quyền uy như phượng hoàng chàng công tử ấy luôn ưu hoài về vận mệnh dân tộc bằng cái nhìn linh hoạt không hề cứng nhắc Hồ Nguyên Trừng không chỉ là một kẻ sĩ mà còn là một lãng tử, khi chưa tìm được phương tiện thích hợp để thực hiện chí lớn của mình chàng tìm về tình yêu Chính tình yêu đã là liều thuốc đưa Nguyên Trừng ra ngoài những cuồng vọng Hồ Nguyên Trừng vẫn là một nhà nho chịu ảnh hưởng của lễ giáo truyền thống Nhận thấy chính sách của Hồ Quý Ly có những bất ổn vì quá nhanh, quá bạo liệt nhưng một phần cũng vì bổn phận của người làm con, một phần bởi Nguyên Trừng chưa tìm ra con đường nào khác, cuối cùng ông vẫn phải lựa chọn trở thành một phần trong cuộc chiến của cha mình Có chăng, với con người giàu tình yêu thương ấy, tấm lòng được bộc lộ ở việc luôn cố gắng hạn chế tới mức tối đa những yếu tố bạo lực từ những việc được giao phó Kết thúc tiểu thuyết Hồ Quý Ly là cuộc chia tay đầy nước mắt của Thanh Mai và Nguyên Trừng , qua đây, chúng ta có thể thấy được khoảng khắc đưa
ra lựa chọn khó khăn của ông:
Cô lái đò lại lên tiếng giục giã
Thanh Mai nước mắt như mưa, chân bước xuống thuyền, đầu còn ngoái lại
Ở phía xa, tiếng trống ngũ liên mỗi lúc mỗi gấp gáp Con thuyền đã nhổ neo Thanh Mai nâng vạt áo lên, hai bàn tay ngọc ôm lấy mặt Tôi vẫy tay cho đến lúc con đò lẫn vào màn sương đêm trên sông
Tôi lặng lẽ đi về phía tiếng trống [19.tr802]
Trang 36Cuộc chia tay không hề có lời yêu thương, an ủi, giã biệt hay hẹn ước ngày gặp lại Chỉ một câu ngắn kết thúc đoạn văn mà thể hiện một sức nặng thật lớn Đó là sức nặng của suy tư, của đau đớn đè nặng lên hành động của Nguyên Trừng Cái lặng lẽ của cuộc chia tay vì vậy mà giàu ý nghĩ hơn mọi lời giã biệt nào Nhà nghiên cứu Phạm Xuân Thạch cho rằng, con người trong tác phẩm của Nguyễn Xuân Khánh bị trói buộc bởi vô vàn mối quan hệ Vì thế, họ nhiều khi không thể hành động dứt khoát theo một ý thức hệ, hoặc theo một lựa chọn chính trị nào [37] Hồ Nguyên Trừng là một trường hợp như thế Đứng giữa vô vàn ràng buộc, vì vậy mà Nguyên Trừng không thể dứt khoát hành động theo ý chí của mình, lựa chọn “đi về phía có tiếng trống” tức
là trở về với thời cuộc rối ren, dấn thân vào đó, trở thành một phần của lịch
sử, đi theo con đường mà bản thân Nguyên Trừng đã lường trước kết quả
Trong Đại Việt sử ký toàn thư Hồ Nguyên Trừng chỉ được nhắc đến
trong một câu khi Hồ Hán Thương đã làm vua triệu tập cuộc họp bàn về việc
nên đánh hay nên hòa quân Minh: Thần không ngại đánh, chỉ sợ lòng dân có theo hay không thôi [21 tr444] Sử thần Ngô Sĩ Liên đã bàn: Mệnh trời ở lòng dân, lời nói của Trừng đúng chỗ chủ yếu, không nên lấy cớ là họ Hồ mà bỏ câu nói của Trừng [21.tr445]
Chỉ với một câu nói còn sót lại, Nguyễn Xuân Khánh đã xây dựng nên một nhân vật vô cùng đặc sắc, sinh động: Hồ Nguyên Trừng – một con người dám dấn thân vào thời cuộc, một con người tư tưởng và đúng như Sử thần Ngô Sĩ Liên đã nhận định, Nguyên Trừng không chỉ nhìn nhận được vấn đề vận nước ở lòng dân mà còn là một con người hết lòng vì nhân dân, đi về phía nhân dân
Tiếp đến là những trí thức luôn có những hoài bão, khát vọng cách tân đất nước, là những con người luôn muốn chủ động chiếm lĩnh lịch sử như: Hồ Quý Ly, Nguyễn Cẩn… Họ luôn được đặt trong sự đối lập với những nhân
Trang 37vật là đại diện tiêu biểu cho lớp trí thức thủ cựu, đại diện tiêu biểu của thế hệ nhà nho mẫu mực luôn muốn duy trì những ánh hào quang vương vất lại từ quá khứ như: Trần Khát Chân, Thuận Tông… Hồ Quý Ly, Nguyễn Cẩn, Hồ Hán Thương có thể gọi là những con người “bị quỷ ám” bởi những lý tưởng cuồng vọng của mình
Hồ Quý Ly là một nhân vật vô cùng đặc biệt được xây dựng hết sức công phu của Nguyễn Xuân Khánh Ở Hồ Quý Ly ta có thể thấy sự tổng hòa của các nhân vật Hồ Hán Thương, Nguyễn Cẩn và cả Hồ Nguyên Trừng Hồ Quý Ly là một lãnh tụ chính trị theo đuổi lý tưởng cải chính xã hội nhưng bị giằng xé bởi mục đích hướng tới và phương tiện thực hiện để rồi cuối cùng rơi vào vũng lầy của chính mình Hồ Quý Ly quyết liệt thực hiện những chủ chương mới nhưng chính ông cũng nhìn ra sự bất ổn của những chủ chương
ấy Minh đạo là một cuốn sách thể hiện tâm huyết của cả một đời Thái sư Hồ
Quý Ly Nhà văn muốn nhấn mạnh vào cuốn sách như là điều thể hiện rõ nhất ước mơ mà Hồ Quý Ly theo đuổi Ước mơ ấy chính là một tương lai sáng lạn khi đất nước được chấn hưng - một ước mơ vô cùng chính đáng Theo Hồ Quý Ly, để đạt được ước mơ ấy cách duy nhất là cải cách không ngừng Con người Hồ Quý Ly thuộc về lí tưởng, và ông luôn quyết tâm thực hiện lý tưởng đến cùng Trên con đường đi đến mục đích của ông không có chỗ cho sự do
dự và phản kháng Sự mục nát, nhu nhược của nhà Trần chính là yếu tố đầu tiên cản trở mục đích ấy Hồ Quý Ly lựa chọn bạo lực và ngày càng quyết liệt, dù biết ông đang bị kẻ sĩ rời xa và hơn hết là lòng dân không thuận Tuy vậy, với vị trí của một thủ lính chính trị, một kẻ đứng đầu thì làm sao có thể
do dự, ông vẫn phải kiên định trên con đường gian nan và cô độc của mình Chính sự kiên định và chính sách hà khắc ấy đã đẩy Hồ Quý Ly vào những hành động đi quá xa so với mục đích chính đáng ban đầu Bản thân ông lúc này lại viện vào ước mơ đẹp đẽ ấy để biện bạch cho những bước đi không
Trang 38đúng đắn của mình Mâu thuẫn giữa mục đích cần đạt được và phương thức hành động tối ưu để đạt được mục đích ấy càng đẩy Hồ Quý Ly vào sự cô đơn, lạc lõng giữa đỉnh cao của danh vọng, quyền uy Ở Hồ Quý Ly là hai con người đối lập, khi cứng rắn, kiên quyết và trơ trọi trên con đường mình lựa chọn khi lại vô cùng mềm yếu tìm đến sự bao dung, che chở từ người phụ nữ của mình Đó là những lúc ông mệt mỏi nhất, bải hoải về tinh thần nhất như sau khi nghe Sử Văn Hoa giải mộng về “người mặt trắng” tức là kẻ sĩ đang quay lưng lại với ông:
Quý Ly ngửa người trên chiếc ghế da hổ, vẻ mặt buồn tênh Ông nhắm mắt lại, để đầu óc dần trở về yên tĩnh Ông cảm thấy bải hoải, ông kêu lên trong lòng:
“Chao ôi! Sao ta mệt mỏi! Ta thèm giấc ngủ… giá như…” Một tiếng nói âu yếm bỗng vang lên trong tâm tưởng: “Tướng công hãy thư giãn, hãy nới lỏng bàn tay, nới lỏng lòng mình… Hãy nghĩ đến một cánh hoa, một tiếng đàn, một dòng suối róc rách, hãy rũ sạch lòng mình… và giấc ngủ dịu dàng
sẽ đến Nào! Ngủ đi! Ngủ đi! ” [19.tr529]
Một người thủ lĩnh chính trị vô cùng hà khắc đã dường như biến mất hoàn toàn, thay vào đó là một người đàn ông yếu đuối cần sự chở che và vỗ
về an ủi từ tình yêu của mình, dù người phụ nữ ấy đã ra đi và chỉ còn trong tưởng tượng
Nguyễn Xuân Khánh đã rất dụng công trong việc xây dựng hình tượng nhân vật Hồ Quý Ly Ông vua quyền uy hiện lên như một con người vừa hà khắc, vừa cứng rắn, là kẻ đứng đầu thủ lĩnh những con người muốn chiếm lĩnh lịch sử, nhưng cũng thật yếu đuối và nhiều ẩn ức trong tâm hồn Vì vây, ở
Hồ Quý Ly, người đọc không chỉ thấy một nhân vật khô cứng, là cái “loa phát thanh” cho những tư tưởng đã định sẵn mà còn thấy một con người với đầy đủ những ưu tư sâu kín nhất
Trang 39Hồ Hán Thương, Nguyễn Cẩn (phe cải cách) và Trần Khát Chân (phe bảo thủ) tuy ở hai đầu chiến tuyến nhưng họ lại giống nhau ở một điểm đó là đều điên cuồng với lý tưởng của mình Nguyễn Cẩn là một công tử phong lưu nhưng sẵn sàng bỏ đi cái quý giá nhất của người đàn ông để trở thành công cụ đắc lực nhất của Hồ Quý Ly Hồ Hán Thương lại là một kẻ cuồng tín luôn sùng kính cha mình Trần Khát Chân ban đầu có cảm tình với Hồ Quý Ly bởi tài năng của ông nhưng khi nhìn ra tham vọng của Hồ Quý Ly, ông trở thành người đứng đầu cho phe đối lập chống lại phe cải cách Trần Khát Chân đã dùng đến mọi thủ đoạn từ việc sử dụng cung nữ Ngọc Kiểm bên cạnh Thuận Tông; dùng Thanh Mai làm nội gián bên cạnh Hồ Nguyên Trừng; đến lôi kéo Phạm Sinh phục vụ âm mưu ám sát Hồ Quý Ly… Trần Khát Chân vì vậy mà rơi vào cực đoan khi phủ nhận hoàn toàn cải cách Phe bảo thủ mà đứng đầu
là Trần Khát Chân chính là đại diện tiêu biểu cho thế hệ những nhà nho truyền thống, tư duy theo những tư tưởng cũ tới mức trở nên bảo thủ Họ chịu ảnh hưởng của quan điểm trung quân cứng nhắc, một tướng không thờ hai vua, lòng trung của họ được đẩy đến cực đoan như chính những quan niệm
ấy
Đinh Công Phác hay còn gọi là Trịnh Huyền trong Mẫu thượng ngàn là
đại diện cho thế hệ nhà nho cũ trong buổi đầu tiếp xúc, giao lưu văn hóa Đông Tây Là một nhà nho yêu nước, khi đất nước bị rình rập, tấn công của giặc ngoại xâm, triều đình nhu nhược, Đinh Công Phác thể hiện ý chí của mình khi không ngần ngại tham gia khởi nghĩa cụ Đề Chính cuộc khởi nghĩa ấy đã cướp đi ngoại hình của một thư sinh nho nhã, biến Đinh Công Phác nhà nho thành một Trịnh Huyền mang kiếp cầm ca mua vui cho thiên hạ với nửa khuôn mặt dị dạng Ẩn sau vỏ bọc ấy vẫn là một Đinh Công Phác với ý chí của một nhà nho yêu nước, bất chấp mọi khó khăn, gian khổ và thiệt thòi về tình cảm cá nhân để hoạt động cách mạng Trong con người ông luôn có sự
Trang 40giằng xé, đấu tranh của con người cá nhân, tình cảm cá nhân và trách nhiệm với dân tộc Cuối cùng, con người trách nhiệm luôn biết hi sinh bản thân ấy
đã chiến thắng, ông sống trong vỏ bọc mới để thực hiện trách nhiệm của mình đối với đất nước Một Trịnh Huyền âm thầm phục vụ cách mạng, tin và chiến đấu cho cách mạng, sống trong vỏ bọc lạnh lùng thay thế cho một con người luôn khát khao yêu đương chính là hình ảnh đẹp mà Nguyễn Xuân Khánh đã tạo nên trong tác phẩm của mình Đó là hình ảnh một nhà nho cách mạng tiêu biểu luôn đấu tranh không ngừng và hi sinh anh dũng cho dân tộc như truyền thống của cha ông
Tiếp nối thế hệ nhà nho yêu nước ấy là Huy, Tuấn - những trí thức tiểu
tư sản, được tiếp xúc với Tây học và văn hóa phương Tây từ rất sớm Những con người trẻ tuổi ấy mang trong mình hoài bão, khát vọng thay đổi thời cuộc,
họ luôn băn khoăn về số phận của dân tộc mình Họ giữ cho mình sứ mệnh đi tuyên truyền đường lối đúng đắn cho nhân dân và chỉ cho dân biết cách phản kháng lại thực dân Pháp một cách hiệu quả và ít thương vong nhất Huy tham gia cách mạng ngay từ những ngày đầu khi tổ chức còn non trẻ Về làng, mục đích của Huy không chỉ là xây dựng căn cứ địa cách mạng mà còn muốn đưa làng quê thoát khỏi cảnh lạc hậu, mù chữ Chính Huy là người nối tiếp và làm sống lại một Đinh Công Phác, một cụ đồ Tiết để dẫn dắt dân làng chống lại giặc ngoại xâm
Đội gạo lên chùa là gạch nối tiếp Hồ Quý Ly và Mẫu thượng ngàn Hải
là một trí thức tây học yêu nước tiêu biểu cho thế hệ của mình Sống trong những ràng buộc của mối quan hệ dòng tộc, Hải làm việc cho Tây tưởng chừng như chỉ để cân bằng thế lực của dòng họ mình Anh phải chịu đựng tai tiếng và sự hiểu lầm ngay bởi người vợ sắp cưới vốn yêu thương hết mực Thực tế, công việc tưởng chừng nhiều lợi lộc nhưng bán rẻ nhân cách ấy lại chính là vỏ bọc để Hải hoạt động cách mạng Những ngày tháng chịu tra tấn,