Sông Hương là tên tạp chí của Hội liên hiệp Văn học Nghệ thuật tỉnh Thừa Thiên – Huế, một ấn phẩm có uy tín trong giới sáng tác, phê bình, nghiên cứu văn học nghệ thuật – văn hóa.. Tác
Trang 1TẠP CHÍ SÔNG HƯƠNG VÀ CỬA VIỆT TRONG
GIAI ĐOẠN ĐẦU CỦA VĂN HỌC ĐỔI MỚI (KHẢO SÁT GIAI ĐOẠN 1986 – 1996)
LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
HÀ NỘI – 2014
Trang 2đại học quốc gia hà nội TRƯỜNG đại học khoa học xã hội và nhân văn
NGUYỄN THỊ KIM HẰNG
TẠP CHÍ SễNG HƯƠNG VÀ CỬA VIỆT
TRONG GIAI ĐOẠN ĐẦU CỦA VĂN HỌC ĐỔI MỚI
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là kết quả nghiên cứu của tôi dưới sự hướng dẫn của TS Phạm Xuân Thạch
Tôi cũng xin cam đoan đề tài này không trùng với bất cứ đề tài luận văn nào đã được công bố ở Việt Nam
Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về nội dung của đề tài
Người cam đoan
Nguyễn Thị Kim Hằng
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo Khoa Văn học - Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội đã tạo điều kiện thuận lợi giúp đỡ cho tôi trong suốt quá trình học tập
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Thầy Phạm Xuân Thạch là người đã gợi mở đề tài, trực tiếp hướng dẫn, và chỉ bảo tận tình cho tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến các thầy cô trong Hội đồng đã có những góp ý quý báu cho tôi trong quá trình chỉnh sửa luận văn
Tôi cũng chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè đã luôn ở bên, tạo điều kiện, giúp đỡ và động viên tôi trong suốt quá trình làm luận văn
Tác giả
Nguyễn Thị Kim Hằng
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 3
1 Lí do chọn đề tài 3
2 Lịch sử vấn đề 5
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 8
4 Mục đích nghiên cứu đề tài 8
5 Phương pháp nghiên cứu 9
6 Bố cục luận văn 9
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VĂN HỌC VIỆT NAM GIAI ĐOẠN ĐẦU ĐỔI MỚI VÀ HAI TỜ TẠP CHÍ SÔNG HƯƠNG, CỬA VIỆT 11 1.1 Khái lược về Đổi mới Văn học 11
1.1.1 Tiền đề Đổi mới văn học Việt Nam 11
1.1.2 Đổi mới văn học giai đoạn 1986 - 1996 18
1.1.3 Vai trò của báo chí đối với văn học trong giai đoạn đầu của Đổi mới văn học 21
1.2Khái quát về tạp chí Sông Hương và Cửa Việt 23
1.2.1 Tạp chí Sông Hương 23
1.2.2 Tạp chí Cửa Việt 29
Tiểu kết chương 1 35
CHƯƠNG 2: NHỮNG ĐỔI MỚI Ở BÌNH DIỆN LÍ LUẬN, PHÊ BÌNH 36 2.1 Sự xuất hiện tư tưởng mới trong văn học 36
2.1.1 Mối quan hệ giữa văn học và chính trị 36
2.1.2 Mối quan hệ giữa văn nghệ và hiện thực 41
2.2 Tâm thế của lớp nhà văn đối với công cuộc Đổi mới văn học 44
2.2.1 Bàn về Đổi mới văn học 45
2.2.2 Bàn về các hiện tượng văn học 51
2.2.3 Phê bình văn học 53
Trang 62.3 Hình thành đội ngũ tác giả 55
2.3.1 Hình thành đội ngũ tác giả thường trực cộng tác 55
2.3.2 Chuẩn bị đóng góp cho việc nâng đỡ nghệ sĩ tương lai 56
2.3.3 Góp phần tái khẳng định những giá trị độc đáo 60
Tiểu kết chương 2 62
CHƯƠNG 3: NHỮNG ĐỔI MỚI Ở BÌNH DIỆN SÁNG TÁC 64
3.1 Mở rộng phạm vi phản ánh hiện thực 64
3.1.1 Đề cập đến tiêu cực xã hội 64
3.1.2 Đề cập đến những đau thương, mất mát trong quá khứ và hiện tại 68
3.1.3 Đề cập đến hiện thực huyền ảo, thế giới tâm linh 73
3.2 Cảm hứng mới trong văn học 75
3.2.1 Cảm hứng tự phê phán 75
3.2.2 Cảm hứng thế sự và cảm hứng đời tư 78
3.3 Sự xuất hiện khuynh hướng mới về nghệ thuật 86
3.3.1 Sự xuất hiện khuynh hướng mới về nghệ thuật trong thơ ca 86 3.3.2 Sự xuất hiện khuynh hướng mới về nghệ thuật trong văn xuôi 91
Tiểu kết chương 3 97
KẾT LUẬN 98
TÀI LIỆU THAM KHẢO 101 PHỤ LỤC 1
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Vào năm 1986, Đại hội VI của Đảng Cộng sản Việt Nam diễn ra, Việt Nam đã thực hiện công cuộc Đổi mới toàn diện đất nước Đường lối Đổi mới và tư tưởng chỉ đạo của Đảng “Nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói đúng sự thật” đã tạo nên một bầu không khí dân chủ thực
sự trong đời sống văn nghê ̣ Tinh thần Đổi mới văn học, Đổi mới lí luận trở thành câu chuyện của cộng đồng - cộng đồng văn chương và cộng đồng xã hội Mặc dù chưa có một cuộc thảo luận rộng rãi cũng như chưa có sự tổng kết về vấn đề này, nhưng nhìn chung các nhà văn và các nhà lí luận đều có
xu hướng coi thời gian từ 1986 đến 1996 là một giai đoạn đánh dấu sự Đổi mới trong văn học Việt Nam hiện đại, là một giai đoạn quan trọng, chứa đựng những thay đổi lớn của văn học Việt Nam hậu chiến và mở ra giai đoạn đương đại của văn học Việt Nam Bất cứ sự thay đổi và phát triển nào cũng đều được chuẩn bị từ trước đó và giai đoạn văn học này cũng vậy, nó
có những mầm mống, những thử nghiệm và những bài học từ nhiều năm trước, trong suốt quá trình vận động của văn học cách mạng Việt Nam Cho đến nay, công cuộc Đổi mới đã thực hiện được gần ba mươi năm, thiết nghĩ chúng ta đã có một độ lùi cần thiết để có thể tổng kết về những thành tựu bước đầu của Đổi mới
Sau năm 1975, văn ho ̣c Viê ̣t Nam đã phát triển trong mô ̣t bối cảnh văn hóa – xã hội mới với những thay đổi trên nhiều phương diện , và cũng chính lúc này , báo chí lại thể hiện rõ vai trò tiên phong đi đầu của mình Hòa chung không khí đổi mới của cả nước trên tất cả các lĩnh vực, văn học – nghê ̣ thuâ ̣t cũng tích cực làm mới mình Các nghê ̣ sĩ mạnh dạn đổi mới quan niê ̣m văn học, dám nhìn thẳng nói thâ ̣t về chính đời sống hiê ̣n thực đang diễn ra Đâu là diễn đàn để bày tỏ những suy nghĩ đó? Lúc này, hơn ai
Trang 8hết, báo chí với chức năng thông tin nhanh và câ ̣p nhâ ̣t nhất đã phát huy thế mạnh của mình Có thể nói, công cuộc Đổi mới văn học do Đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo bắt đầu từ những tác phẩm in trên báo trung ương như
Văn nghệ, Văn nghệ Quân đội… Bên cạnh báo của trung ương, vào thập
niên tám mươi , chín mươi của thế kỉ trước, các báo địa phương cũng tích
cực hòa vào công cuộc Đổi mới như báo Văn nghê ̣ (thành phố Hồ Chí Minh), báo Người Hà Nội (Hà Nội) Trong thời gian đó , Cửa Viê ̣t và Sông Hương là hai trong số những tạp chí của địa phương tiên phong trong Đổi
mới văn học có vai trò đáng kể trong giai đo ạn đời sống văn nghê ̣ dân tô ̣c
sôi động nhất của văn ho ̣c Đổi mới Cửa Việt là tên tạp chí của Hội Văn
học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị xuất bản sau khi tách khỏi tỉnh Bình Trị Thiên Số đầu tiên được xuất bản tháng 2/1990 Tạp chí nhanh chóng quy
tụ được những cây bút tên tuổi có tư tư ởng Đổi mới Sông Hương là tên
tạp chí của Hội liên hiệp Văn học Nghệ thuật tỉnh Thừa Thiên – Huế, một
ấn phẩm có uy tín trong giới sáng tác, phê bình, nghiên cứu văn học nghệ
thuật – văn hóa Số đầu tiên được xuất bản tháng 6/1983 Có thể nói, Sông Hương và Cửa Việt là hai tạp chí nổi bật nhất của miền Trung Việt Nam
vào thời điểm bấy giờ, có vai trò quan trọng đối với văn học Đổi mới, không chỉ trong thời điểm chính sách Đổi mới chính thức được thực hiện từ Đại hội Đại biểu Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1986 mà còn trong giai đoạn về sau Hai ta ̣p chí này là ta ̣p chí của đi ̣a phương , có đóng góp vào sự phát triển văn hóa văn nghệ của tỉnh nhà , và ảnh hưởng sâu rộng đến đời sống văn nghê ̣ trên cả nước Những tác phẩm sáng tác , lí luâ ̣n phê bình đăng tải trên hai tạp chí này đa phần mang đến làn gió lạ của không khí Đổi mới văn ho ̣c thực sự dân chủ , cởi mở Trong quá trình nhập tỉnh đã tạo nên một đội ngũ sáng tác văn chương gắn với một vùng đất gồm cả ba vùng địa
Trang 9lí Bình – Trị Thiên, rồi quá trình tách tỉnh đã làm thay đổi đời sống văn nghệ của một đội ngũ sáng tác đông đảo nhưng vẫn gắn với vùng đất trung
tâm là Thừa Thiên Huế Tạp chí Sông Hương trước đây thuộc Hội Văn học Nghệ thuật Bình Trị Thiên Khi chia tỉnh, một phần ba Sông Hương ở lại Huế, lấy tên cũ là Sông Hương, một phần ba Sông Hương về Quảng Trị, lấy tên mới là Cửa Việt, một phần ba Sông Hương còn lại về Quảng Bình, lấy tên mới là Quảng Bình Như thế, có thể thấy, hai tạp chí Sông Hương
và Cửa Việt có mối quan hệ thân thiết bởi tính chất địa lí cũng như đội ngũ
biên tập và cộng tác viên của hai tạp chí đều là những tên tuổi có uy tín lớn trên văn đàn cả nước nói chung và các tỉnh miền Trung Trung Bộ nói riêng
đoạn 1945 – 1975, tập trung lại những sự kiện chính trong văn học sau
1975 với công cuộc Đổi mới của Đảng, Nghị quyết 05 của Bộ Chính trị về văn học nghệ thuật, nêu lên sự xuất hiện của tác giả, tác phẩm mới với những bước phát triển về đề tài, thi pháp mới, và đưa ra những thách thức
mà văn học Việt Nam phải đối mặt trong thời đại mở cửa Trần Đình Sử
với Ba mươi năm lí luận, phê bình, nghiên cứu văn học – thành tựu và suy ngẫm đã điểm lại thành tựu của lí luận, phê bình, nghiên cứu văn học là phê
phán các giáo điều lí luận xơ cứng, và làm cho chúng mất thiêng; giới thiệu, phiên dịch những lí luận văn học trước nay bị xem là vùng cấm; vận dụng sáng tạo những lí thuyết mới trong nghiên cứu và phê bình văn học Trong
công trình mới nhất gần đây, xuất bản vào năm 2013: Phác thảo văn học
Trang 10Việt Nam hiện đại (thế kỉ XX), nhà nghiên cứu Phong Lê đã thâu tóm những
tri thức chính yếu nhất của văn học hiện đại Việt Nam trong cả thế kỉ XX ở phần tổng luận, các thể loại thơ, văn xuôi, lí luận, phê bình, nghiên cứu văn học
Ngoài ra, bàn về văn học Đổi mới, đã có nhiều công trình của các tác giả, tập trung vào một phạm vi nhất định trong văn xuôi, thơ, văn học dân
gian, văn học thiếu nhi: Nguyễn Thị Bình, Văn xuôi Việt Nam 1975 – 1995 – những Đổi mới cơ bản; Nguyễn Thị Kim Tiến, Con người trong tiểu thuyết Việt Nam thời kì Đổi mới; Nguyễn Bích Thu, Một cách tiếp cận tiểu thuyết Việt Nam thời kì Đổi mới; Mai Hương, Đổi mới tư duy văn học và sự đóng góp của một số cây bút văn xuôi; Lê Lưu Oanh, Thơ trữ tình 1975 – 1990; Phạm Bích Hà, Phác thảo diện mạo và đặc điểm văn học dân gian sau 1975; Lã Thị Bắc Lý, Văn học thiếu nhi Việt Nam thời kì Đổi mới; Phạm Quốc Ca, Mấy nhận xét về thể thơ trong thơ trữ tình Việt Nam 1975 – 2000; Nguyễn Đăng Điệp, Thơ Việt Nam sau 1975 – diện mạo và khuynh hướng phát triển; Lưu Khánh Thơ, Thơ văn xuôi trong sự vận động của thể loại thơ sau 1975…
Bàn về mối quan hệ giữa vă n ho ̣c và báo chí, Phong Lê trên ta ̣p chí
Nghiên cứu Văn học số 8, năm 2006, có bài viết : Văn học trong đời sống báo chí – xuất bản từ nửa sau thế kỉ XIX đến nửa đầu thế kỉ XX Nguyễn Đình Chú – Trịnh Vĩnh Long: Báo chí và văn chương qua một trường hợp: Nam Phong tạp chí (Tạp chí Nghiên cứu Văn học số 2/2005) Tác giả Nguyễn Thị Trâm có công trình Văn học và báo chí, Từ một góc nhìn (Nhà
xuất bản Thanh niên, Hà Nội, năm 2003) là tập hợp các bài viết về mối quan hệ giữa báo chí và văn học trong văn học Việt Nam hiện đại đầu thế
kỉ XX qua một số trường hợp như Tao Đàn tạp chí, đóng góp của tác giả Hoàng Ngọc Phách, Trọng Lang… Đặc biệt, Trần Thị Trâm có bài viết Báo chí và cuộc hành trình Đổi mới văn học cuối thế kỉ XX đã nêu lên vai trò
Trang 11của báo chí đối với công cuộc Đổi mới văn học: báo chí là nguồn động lực quan trọng làm nhiệm vụ tạo đà, mở đường cho công cuộc Đổi mới văn học; báo chí làm nhiệm vụ phát hiện, bồi dưỡng tài năng, góp phần định hướng cho sự phát triển của văn học trong thời kì Đổi mới; báo chí đã đăng tải kịp thời một khối lượng tác phẩm văn chương rất lớn; báo chí tiếp tục góp phần quan trọng vào quá trình hiện đại hóa nền văn học dân tộc Nhờ những vai trò đó, báo chí đã giúp công cuộc Đổi mới văn học diễn ra nhanh chóng hơn, tốc độ hơn và đúng định hướng hơn
Những nghiên cứu về hai ta ̣p chí Cửa Viê ̣t và Sông Hương chưa có
nhiều và chưa mang tính hê ̣ thống Các bài viết bước đầu chỉ mang tính cảm quan, trình bày suy nghĩ mà chưa có tư liệu dẫn chứng đầy đủ Võ Văn
Luyến, Mấy ý nghĩ bên lề 200 số Tạp chí Cửa Việt, 2011: “Trong 200 số,
tạp chí Cửa Việt không mệt mỏi đổi mới nội dung và hình thức Nói theo
cách văn nghệ, các anh chị ấy đã cố gắng làm sao cho “y phục xứng kỳ đức” và trên đại thể, không thể không công nhận những đóng góp mở đường Văn bút các tác giả ngày càng được tung tẩy hào phóng, thoải mái hơn, gây được chú ý của người đọc nhiều hơn Tuy nhiên, cũng cần nhiều hơn những tác phẩm mang hơi hướng phản biện xã hội (thơ, kí, truyện), phản biện nghệ thuật (nghiên cứu, phê bình) Còn nữa, ngoài lực lượng sáng tác tại chỗ, nên giới thiệu những tác giả (trong/ngoài nước) mang phong cách, bút pháp mới nhằm cập nhật và khơi gợi nhiều chiều trong Đổi mới văn học Cần quan tâm nhiều hơn những cây bút năng sản tỉnh nhà nhiều triển vọng và trưởng thành, kích thích động cơ đốt trong ở họ mạnh
mẽ hơn, tạo luồng sinh khí mới cho văn chương một vùng đất” Kỉ niệm 30
năm Tạp chí Sông Hương, nhiều nhà thơ, nhà văn từng gắn bó với tạp chí
này, đã có những bài viết ghi lại kỉ niệm, cảm nhận về tạp chí, chứ chưa có
một nghiên cứu chi tiết, cụ thể nào như: “Tôi biết ơn Sông Hương đã tạo
Trang 12cho tôi một động lực quý để đi tiếp con đường mà mình đã chọn Dòng
chảy Sông Hương ba mươi năm được làm nên bởi những người chèo chống tâm huyết, họ chính là những người khơi thông dòng chảy để có một Sông Hương thao thiết trong lòng bạn đọc (Đoàn Mạnh Phương trong Sông Hương ba mươi năm, những dòng tâm cảm), Tô Nhuận Vỹ trong Tạp chí Sông Hương và Bản lĩnh văn hóa…
Tóm lại, cho đến thời điểm này, chưa có một công trình khoa học
nào nghiên cứu về tạp chí Sông Hương và tạp chí Cửa Việt trong giai đoạn đầu của Đổi mới văn học
3 Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tƣợng nghiên cứu
Để luận văn rút ra hướng giải quyết thấu đáo hợp lí đòi hỏi người viết phải xác định đúng đối tượng nghiên cứu Đây là việc làm thiết yếu, cần thiết trước khi bắt tay vào triển khai đề tài Hiểu rõ tầm quan trọng của việc lựa chọn đối tượng nghiên cứu, chúng tôi đã tiến hành tìm hiểu và nhận thấy bộ phận sáng tác và lí luận phê bình là hai mảng thể hiện rõ nhất
đóng góp của TCSH và TCCV trong giai đoạn đầu của văn học Đổi mới
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Trong 10 năm, TCSH có tổng cộng 78 số, TCCV có 33 số Như thế,
trong khuôn khổ luận văn, chúng tôi tiến hành, khảo sát, nghiên cứu 111 số tạp chí
4 Mục đích nghiên cứu đề tài
Nhìn nhận và đánh giá vai trò của Cửa Viê ̣t và Sông Hương trong
giai đoa ̣n đầu của văn ho ̣c Đổi mới
Tìm hiểu đóng góp của Cửa Viê ̣t và Sông Hương trong đời sống văn
hóa, văn học Việt Nam thâ ̣p niên chín mươi của thế kỉ XX trên nh ững mặt văn hóa – xã hội, hoạt động báo chí; đóng góp cho công cuô ̣c Đổi mới văn
Trang 13học và phát triển các thể loại truyện ngắn, thơ, bút kí, lí luận, phê bình văn học
5 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện những nội dung này, chúng tôi chủ yếu áp dụng phương pháp tiếp cận văn học sử, bên cạnh đó là phương pháp tiếp cận văn hóa học, phương pháp tiếp cận thi pháp học Bằng việc đưa ra những mô tả tổng quát về hai tạp chí (sự ra đời, mục đích hoạt động, hình thức tạp chí, ban biên tập, đội ngũ cộng tác viên), khái quát những vấn đề đặt ra từ hai tạp chí từ phương diện đổi mới lí luận, phê bình đến đổi mới thực tiễn sáng
tác, luận văn sẽ tái dựng lại tạp chí Sông Hương và tạp chí Cửa Việt trong
giai đoạn đầu của Đổi mới văn học từ năm 1986 đến 1996
Phần mở đầu: Trình bày lí do chọn đề tài, lịch sử vấn đề, đối tượng
và phạm vi nghiên cứu, mục đích nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu,
quy ước trình bày, bố cục luận văn
Chương một: Tổng quan văn học Việt Nam giai đoạn đầu Đổi mới và hai tờ tạp chí Sông Hương, Cửa Việt
Chương này có nhiệm vụ trình bày một số vấn đề sau:
- Khái lược về giai đoạn đầu của Đổi mới văn học Việt Nam
- Mối quan hệ của báo chí và văn học trong giai đoạn đầu của Đổi mới văn học
Trang 14- Giới thiệu khái quát về TCSH và TCCV
Chương hai: Những đổi mới ở bình diện lí luận, phê bình
Chương này chủ yếu tiến hành nghiên cứu các bài viết về lí luận, phê bình văn học, các cuộc tranh luận văn chương, diễn đàn trao đổi văn học nghệ thuật trên hai tạp chí
Chương ba: Những đổi mới ở bình diện sáng tác
Thông qua việc phân tích về các tác giả, tác phẩm thơ và văn xuôi
đăng tải trên TCSH và TCCV, người viết sẽ đưa đến cái nhìn đánh giá khái
quát về đóng góp cụ thể của hai tạp chí trên mảng sáng tác đối với văn học Việt Nam giai đoạn đầu Đổi mới
Kết luận: Tóm lược kết quả nghiên cứu đã làm được khi nghiên cứu TCSH và TCCV trong giai đoạn đầu của Đổi mới văn học
Phụ lục:
- Bảng danh mục các tác phẩm thơ, truyện ngắn, tùy bút/ bút
kí, lí luận phê bình trên TCSH
- Bảng danh mục các tác phẩm thơ, truyện ngắn, tùy bút/ bút
kí, lí luận phê bình trên TCCV
Trang 15CHƯƠNG 1:
TỔNG QUAN VĂN HỌC VIỆT NAM GIAI ĐOẠN ĐẦU ĐỔI MỚI
VÀ HAI TỜ TẠP CHÍ SÔNG HƯƠNG, CỬA VIỆT
Trong chương một này, trước khi trình bày về tạp chí Sông Hương
và tạp chí Cửa Việt trong giai đoạn đầu của Đổi mới, người viết sẽ tái hiện
lại bức tranh chung về Đổi mới văn học ở Việt Nam, các tờ báo có đóng góp quan trọng vào công cuộc Đổi mới văn học Tiếp theo, luận văn sẽ đưa
ra những nét khái lược về giai đoạn đầu của Đổi mới văn học Việt Nam (1986 – 1996), mối quan hệ của báo chí và văn học trong giai đoạn đầu của
Đổi mới văn học, giới thiệu khái quát về TCSH và TCCV trên các vấn đề sự
ra đời, mục đích hoạt động, hình thức tạp chí, ban biên tập và đội ngũ cộng
tác viên Thông qua đó, chương một sẽ đưa ra cái nhìn tổng thể về TCSH
và TCCV trong giai đoạn đầu của Đổi mới văn học (1986 – 1996)
1.1 Khái lược về Đổi mới Văn học
1.1.1 Tiền đề Đổi mới văn học Việt Nam
Như chúng ta đã biết, Đổi mới văn học là dòng chảy trung tâm của văn học Việt Nam sau 1975 Trước khi công cuộc Đổi mới được phát động chính thức với Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam, văn học đã có những dấu hiệu đổi mới Một loạt các sự kiện trong đời sống văn chương đã dần dần thể hiện những quan điểm mới, nhìn nhận các vấn đề nội tại trong đời sống văn học Việt Nam một cách khách quan, trung thực Công cuộc Đổi mới ở ta trước hết bắt nguồn từ những đòi hỏi sống còn của bản thân đời sống văn chương, nghệ thuật Sự sáng suốt trong lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam tập trung biểu hiện ở khả năng nhạy bén phát hiện ra những vấn đề của đời sống, phản ánh kịp thời trong các nghị quyết, chỉ thị về văn hóa văn nghệ, để chỉ đạo có hiệu quả thực tiễn sáng tạo đặc thù của nghệ thuật Trong bước khởi đầu của công
Trang 16cuộc Đổi mới, sự thay đổi quan niệm văn chương, nghệ thuật cho phù hợp với thời cuộc, nhất là đối với quan niệm của giới lãnh đạo và văn nghệ sĩ, mang ý nghĩa quyết định, từ đó mới đưa đến sự thay đổi rõ rệt trong sáng tác và phê bình vào giai đoạn sau Lí luận nghệ thuật nước ta đã phần nào
tỏ rõ vai trò tiên phong của mình, đặc biệt vào những thời khắc biến chuyển của đời sống và của văn chương, nghệ thuật
Cuối năm 1978, tổ chức ở Hội Nhà văn có một sự chuyển biến quan trọng Đảng đoàn Hội Nhà văn được thành lập, đứng đầu là nhà văn Nguyên Ngọc Các thành viên khác của Đảng đoàn, ngoài Nguyễn Đình Thi và Chế Lan Viên, hầu hết là các nhà văn ở các chiến trường về hoặc từ quân đội chuyển sang Công việc đầu tiên của Đảng đoàn là tổ chức một chuyến đi nghiên cứu khá dài về các vấn đề lí luận và kinh nghiệm lãnh đạo văn chương nghệ thuật ở Liên Xô Sau khi trở về nước, Đảng đoàn triệu tập
một cuộc họp các đảng viên Hội Nhà văn Việt Nam (thường gọi tắt là Hội nghị đảng viên) bàn về sáng tác văn chương Hội nghị được tiến hành vào
các ngày 11, 12, 13/6/1979 tại Hội trường Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật Việt Nam Đây là cuộc hội nghị có tính chất nội bộ nhằm bước đầu trao đổi về một số vấn đề liên quan đến tình hình và định hướng sáng tác, trước khi đưa ra trao đổi rộng rãi trong toàn thể hội viên Để gợi ý cho hội nghị thảo luận, Đảng đoàn đã thảo ra bản đề cương Đề dẫn do nhà văn Nguyên Ngọc chấp bút và trình bày trước Hội nghị các vấn đề nhìn lại văn học một thời đã qua và phương hướng nhiệm vụ của văn học trong tình
hình mới Trong Nhớ lại… (NXB Văn hóa Thông tin, 2002) nhà thơ Đào
Xuân Quý nhận xét: “Chưa bao giờ có một Hội nghị của Hội Nhà văn mà được dư luận cả trong và ngoài Hội chú ý như vậy Phải chăng đó là điều
mà tất cả những người hoạt động văn học, và những người quan tâm đến văn học đều suy nghĩ, đều chờ đợi” Tuy nhiên, hội nghị này mới chỉ bước
Trang 17đầu đặt vấn đề về Đổi mới, thể hiện sự vội vàng, chưa phù hợp với hoàn cảnh, do tôn trọng tính khách quan của lịch sử nên chúng tôi vẫn ghi lại sự kiện này
Trên báo Văn nghệ số 23, ngày 9/6/1979, trong bài viết Về một đặc điểm của văn học và nghệ thuật ở ta trong giai đoạn vừa qua, nhà nghiên
cứu Hoàng Ngọc Hiến gần như là người mở đầu cho việc khai phá về phương diện lí luận theo hướng tìm tòi, tự đổi mới văn học Ở bài viết này, ông thể hiện sự đồng tình với ý kiến của nhà văn Nguyễn Minh Châu trong
bài Viết về chiến tranh: “Hình như trong ý niệm sâu xa của người Việt
Nam chúng ta, hiện thực của văn học có khi không phải là cái hiện thực đang tồn tại mà là cái hiện thực mọi người đang hi vọng, đang mơ
ước” (Văn nghệ Quân đội, số 11/1978) Ông cho rằng: “Đứng ở bình diện
cái phải tồn tại, người nghệ sĩ dễ bị cuốn hút theo xu hướng miêu tả cuộc sống cho “phải đạo”, còn đứng ở bình diện cái đang tồn tại, mối quan tâm
hàng đầu là miêu tả sao cho “chân thật” Hoàng Ngọc Hiến còn chỉ
rõ “Xác định xu hướng cao cả như là một đặc tính phổ quát của nền văn học nghệ thuật ở ta hiện nay… Thực ra trong đời sống văn học, nghệ thuật của ta hiện nay, cái cao cả còn biểu hiện một cách phổ quát ở nhiều mặt khác… là sự lấn át của cấp lí tính đối với cấp cảm tính trong sự nhận thức của chủ thể mĩ học, sự lấn át của nội dung đối với hình thức trong cấu trúc của hình tượng và tác phẩm nghệ thuật, sự lấn át của lí trí đối với cảm xúc trong hình ảnh con người mới, cũng như sự lấn át của bản chất đối với hiện tượng trong hình ảnh cuộc sống mới được phản ánh vào tác phẩm”
Một loạt hiện tượng tiểu thuyết ra đời cho thấy ý thức đổi mới trong
văn học đã xuất hiện Gặp gỡ cuối năm (Nguyễn Khải – 1983) là cuộc đối
thoại của nhiều luồng tư tưởng, nhiều quan niệm giá trị, ở đó chân lí cách
mạng bị đặt dưới sự phán xét của những người “phía bên kia” Thời gian
Trang 18của người (Nguyễn Khải – 1985) là phép “tương chiếu” những lựa chọn
khác nhau nhưng họ lại gặp nhau ở chỗ đều có tính cách mạnh
mẽ, đều tôn thờ một cách sống: sống say mê, “sống hết mình” cho một niềm tin tốt đẹp nên đều có khả năng để lại “dấu vết” trong thời gian miên
viễn Mưa mùa hạ (Ma Văn Kháng – 1982), Mùa lá rụng trong vườn (Ma Văn Kháng – 1985), Đứng trước biển (Nguyễn Mạnh Tuấn – 1982), Cù lao Tràm (Nguyễn Mạnh Tuấn – 1985) khẳng định nhân cách của những người
“đi trước thời đại”, biết “phản biện” lại chân lí cũ, chỉ ra cái lỗi thời của cơ chế kinh tế bao cấp và cái bất cập, bất ổn trong những tiêu chí đánh giá con
người nặng về ý thức hệ… Đặc biệt, hiện tượng tiểu thuyết Đứng trước biển của nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn ra đời trong bối cảnh kinh tế ở khắp
các địa phương và trong tất cả các ngành đang có sự chuyển biến mạnh mẽ
về cách làm ăn theo những Chỉ thị, Nghị quyết mới của Trung ương Kết cấu nghệ thuật của cuốn tiểu thuyết xoay quanh sự trả lại vị trí thích hợp của một cán bộ quản lí gắn với sự thay đổi của một xí nghiệp đánh cá với những suy nghĩ về thời cuộc: “Biển cũng như sự nghiệp cách mạng này có lúc êm ả, nhưng nhiều lúc ầm ào sóng động Phải thấy rằng tĩnh chỉ là tương đối nhất thời của mặt biển, của cuộc sống” Từ nhan đề tác phẩm, khuynh hướng tư tưởng của tác phẩm đã bộc lộ khá rõ: Đứng trước biển, đứng trước cuộc sống, người cách mạng chân chính nghĩ gì và làm như thế nào? Có thể nói, trong một loạt tác phẩm kể trên, bên cạnh cảm hứng ngợi
ca đã xuất hiện cảm hứng phê phán, nhận thức lại; góc độ quan sát, đánh giá con người dịch chuyển dần về phía đạo đức sinh hoạt Trong định hướng thế sự, đời tư, nhiều chủ đề mới được nhấn mạnh: giáo dục gia đình, bản lĩnh cá nhân, cái ngẫu nhiên may rủi trong đời sống, khả năng thích ứng với thời thế… là những yếu tố có vai trò rất quan trọng đối với quá trình hình thành giá trị của con người
Trang 19Vào năm 1986, Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam diễn ra, Việt Nam đã thực hiện công cuộc Đổi mới toàn diện đất nước Đường lối Đổi mới và tư tưởng chỉ đạo của Đảng
“nhìn thẳng vào sự thật, nói đúng sự thật” đã tạo nên một bầu không khí dân chủ thực sự trong đời sống văn nghệ Đại hội Đảng lần thứ VI là đại hội Đổi mới toàn diện đất nước, trên tất cả các lĩnh vực và như thế, đại hội này cũng đã đáp ứng được nhiều đòi hỏi, bức xúc của văn chương, nghệ thuật Đại hội đã chỉ ra phương hướng nhất quán là: “Tiếp tục phát triển
và nâng cao chất lượng các hoạt động văn hóa, văn học, nghệ thuật; xây dựng một nền văn hóa, văn nghệ xã hội chủ nghĩa đậm đà bản sắc dân tộc” Vai trò của văn chương nghệ thuật cũng được xác định: “Không hình thái tư tưởng nào có thể thay thế được văn học và nghệ thuật trong việc xây dựng tình cảm lành mạnh, tác động sâu sắc vào việc Đổi mới nếp nghĩ, nếp sống của con người”
Công cuộc Đổi mới ở nước ta trước hết bắt nguồn từ những đòi hỏi sống còn của bản thân đời sống văn chương, nghệ thuật Sự sáng suốt trong sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam tập trung biểu hiện ở khả năng nhạy bén phát hiện ra những vấn đề của đời sống, phản ánh kịp thời trong các Nghị quyết, Chỉ thị về văn hóa, văn nghệ để chỉ đạo có hiệu quả thực tiễn sáng tạo đặc thù của nghệ thuật
Trong bước khởi đầu của công cuộc Đổi mới, sự thay đổi quan niệm văn chương, nghệ thuật cho phù hợp với thời cuộc, nhất là đối với quan niệm của giới lãnh đạo và văn nghệ sĩ mang ý nghĩa quyết định Từ
đó mới đưa đến những đổi thay rõ rệt trong sáng tác và phê bình giai đoạn sau Lí luận nghệ thuật nước ta đã phần nào tỏ rõ vai trò tiên phong của mình, đặc biệt vào những thời khắc biến chuyển của đời sống và của văn chương, nghệ thuật
Trang 20Đặc biệt, dưới ánh sáng của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, Nghị
quyết 05 của Bộ Chính trị về Đổi mới và nâng cao trình độ lãnh đạo, quản
lí văn học, nghệ thuật và văn hoá, phát huy khả năng sáng tạo, đưa văn học, nghệ thuật và văn hoá phát triển được khởi thảo và thông qua Để chuẩn bị
cho Nghị quyết quan trọng này, trong tháng 6 và tháng 7 năm 1987, tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, Ban Văn hoá – Văn nghệ Trung ương đã tổ chức mười cuộc hội thảo khoa học về các vấn đề văn hóa, văn học và nghệ thuật như Hội thảo về Vũ Trọng Phụng diễn ra tại Thành phố Hồ Chí Minh
ngày 6 tháng 12 năm 1987, cuộc Hội thảo về văn chương Tự lực văn đoàn
tổ chức ngày 27 tháng 5 năm 1987 tại Hà Nội…
Ngày 28/11/1987, Nghị quyết 05 của Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương khóa VI chính thức được ban hành Nghị quyết thẳng thắn chỉ
ra những khuyết điểm và nhược điểm của văn hóa, văn nghệ trong thời gian qua Nghị quyết nêu rõ: “Với thái độ nhìn thẳng vào sự thật, cần nhận rõ chất lượng và hiệu quả các hoạt động văn hóa, văn nghệ nói chung còn thấp, tác phẩm văn học, nghệ thuật có giá trị còn ít, tiềm năng sáng tạo chưa được huy động đầy đủ, bệnh phô trương hình thức, công thức, sơ lược còn nặng” [8] Với yêu cầu văn nghệ nước ta càng phải đổi mới, đổi mới tư duy, đổi mới cách nghĩ, cách làm, Nghị quyết đòi hỏi văn nghệ phải trở thành “tiếng nói đầy trách nhiệm, trung thực, tự do, tiếng nói của sự thật, của lương tri, của tinh thần nhân đạo cộng sản chủ nghĩa…, phát huy chức năng hiểu biết, khám phá, dự báo, sáng tạo, nắm bắt nhạy bén hiện thực đang diễn biến” Đặc biệt, từ phương châm phải quán triệt sâu sắc quan điểm cơ bản của Đảng là coi trọng con người, Nghị quyết chỉ rõ: “Tự do sáng tác là điều kiện sống còn để tạo nên giá trị đích thực trong văn hóa, văn nghệ, để phát triển tài năng… Cần tạo một không khí hồ hởi trong sáng tác, khơi gợi nhiều cảm hứng sáng tạo cao
Trang 21đẹp trong các văn nghệ sĩ… khuyến khích văn nghệ sĩ tìm hỏi sáng tạo, khuyến khích và yêu cầu có những thể nghiệm mạnh bạo và rộng rãi trong sáng tạo nghệ thuật” Đồng thời, Nghị quyết nhấn mạnh: “Tự do sáng tác
đi đôi với tự do phê bình” Tuy nhiên, để có tự do thật sự, các nhà lí luận, phê bình cần phải: “Nâng cao tính lí luận, trình độ khoa học, trình độ thẩm mĩ, hiểu biết thực tế sáng tác và thực tế cuộc sống sâu sắc hơn nữa trong công tác phê bình văn học, nghệ thuật” Có thể nói, đây là Nghị quyết quan trọng đáp ứng những yêu cầu của đời sống văn chương, nghệ thuật, có ảnh hưởng sâu rộng tới tư duy lí luận trước mắt cũng như lâu dài của văn nghệ sĩ
Trong hai ngày 6 và 7, tháng 10 năm 1987, Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh đã có cuộc gặp gỡ với hơn một trăm văn nghệ sĩ và nhà hoạt động văn hóa như nhà văn Nguyễn Khải, Anh Đức, Nguyễn Quang Sáng, Nguyễn Kiên, Nguyễn Đình Thi, Tế Hanh, Nguyên Ngọc, Nguyễn Minh Châu, Bằng Việt, Chính Hữu, Chu Văn ; các nhà hoạt động sân khấu Dương Ngọc Đức, Tất Đạt, Lưu Quang Vũ, Tào Mạt, Phạm Thị Thành, Hồ Ngọc, Thanh Hương, Nguyễn Đình Nghi ; các nhà hoạt động âm nhạc Huy Du, Phạm Tuyên, Ái Vân, Xuân Thanh, Hoàng Vân, Đàm Linh, Trung Kiên, Vũ Tự Lân ; các nghệ sĩ tạo hình Nguyễn Tư Nghiêm, Phan Kế An, Đặng Thị Khuê, Dương Viên, Nguyễn Quân, Nguyễn Thụ, Thái Bá Vân, Phạm Viết Hồng Lam ; các kiến trúc sư Tạ Mỹ Duật, Trọng Chi, Hoàng Nghĩa Sang, Ngô Thúc Hoàng ; các nhà hoạt động điện ảnh Trần Đắc, Hải Ninh, Trần Văn Thủy, Bùi Đình Hạc, Đoàn Lê, Lí Thái Bảo, Như Quỳnh, Đặng Nhật Minh ; các nhà nhiếp ảnh Hoàng Tư Trai, Hoàng Kim Đáng, Đinh Ngọc Thông ; cùng các nhà hoạt động văn hóa nổi tiếng Nguyễn Khắc Viện, Phan Huy Lê, Nguyễn Hồng Phong, Vũ Khiêu, Nông Quốc Chấn, Phan Hữu Dật Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh đã kêu gọi giới văn
Trang 22nghệ sĩ “không nên uốn cong ngòi bút của mình, thà rằng chưa viết được thì cứ đi vào thực tế đời sống tích lũy thêm vốn hiểu biết, chứ không viết theo kiểu tùy thời Trong lĩnh vực văn học nghệ thuật, người nghệ sĩ phải
dũng cảm, có tấm lòng trong sáng, đừng chùn bước” (Báo Văn nghệ, số 42,
ngày 17/10/1987)
Có thể nói, Hội nghị Đảng viên, sự ra đời của các tác phẩm văn học,
lí luận phê bình mang dấu ấn đổi mới, đường lối Đổi mới tại Đại hội VI của Đảng Cộng sản Việt Nam, tiếp theo là Nghị quyết 05 của Bộ Chính trị, cuộc gặp gỡ của Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh với đại diện giới văn nghệ
sĩ vào cuối năm 1987, tất cả những sự kiện đó đã thổi một luồng gió lớn vào đời sống văn học nghệ thuật nước nhà, mở ra thời kì Đổi mới của văn học Việt Nam theo tinh thần đổi mới tư duy và nhìn thẳng vào sự thật
1.1.2 Đổi mới văn học giai đoạn 1986 - 1996
Trong đời sống xã hội, thời kì Đổi mới ở Việt Nam được tính từ năm
1986 - năm diễn ra Đại hội VI của Đảng Cộng sản Việt Nam Trên thực tế, hàng chục năm trước đó, người ta đã thấy xuất hiện nhiều truyện ngắn, tiểu thuyết, kịch, thơ, bút kí… thể hiện sự đổi mới sâu sắc trong đời sống của
văn học nghệ thuật Truyện ngắn Bức tranh viết năm 1975 của nhà văn
Nguyễn Minh Châu là ví dụ tiêu biểu Nhiều người vẫn gọi chung văn học sau 1975 là “văn học Đổi mới” hoặc, “văn học của thời kì Đổi mới” Trong
bài viết Có một sự đổi mới thực sự trong văn học, trên báo Văn nghệ, số 49
năm 1991, nhà nghiên cứu Hà Xuân Trường khẳng định: “Sự đổi mới của văn học cũng như bao sự đổi mới khác là cả một cuộc chuyển động biện chứng lâu dài, khẳng định nó bắt đầu từ đâu kể ra cũng là võ đoán Đúng là Đại hội VI là sự kiện quyết định cho công cuộc Đổi mới toàn diện của đất nước ta, nhưng để đi đến những nội dung mà Đại hội thông qua, Đảng ta phải qua một quá trình trăn trở, tìm tòi, có cái được, có cái hỏng, kể cả
Trang 23những việc làm từ Đại hội IV Văn học thuộc lĩnh vực nhận thức xã hội nên không thể không chịu ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp những chủ trương chính sách của Đảng Vì thế sự vận động của nó là đa dạng, khi chậm, khi nhanh, khi bột phát, khi tiệm tiến ”
Giai đoạn khởi động của văn học thời kì Đổi mới kéo dài trong khoảng mười năm tính từ năm 1975, văn học nghệ thuật hình như vẫn vận động theo quán tính của văn học thời chiến Lúc này, đất nước vừa ra khỏi chiến tranh, nhưng vẫn phải đối mặt với công cuộc bảo vệ lãnh thổ, văn học
đã có dấu hiệu Đổi mới những chưa thành trào lưu Đề tài về chiến tranh và người lính vẫn là đề tài cơ bản của nhiều sáng tác văn học Các sáng tác ấy vẫn thể hiện nhãn quan giá trị và nguyên tắc tư duy nghệ thuật của nền văn học sử thi Sau năm 1975, hoạt động dịch, giới thiệu nền văn học đương đại
Âu – Mỹ diễn ra sôi nổi Hầu hết những tác phẩm được giải Nobel, những tác phẩm ưu tú của các tác gia đương đại thuộc các trường phái nghệ thuật hết sức khác nhau, như tượng trưng, siêu thực, hiện sinh, trường phái hiện đại, hậu hiện đại… Mảng văn học dịch này làm thay đổi thị hiếu nghệ thuật của đông đảo độc giả, trước hết là thị hiếu nghệ thuật của tầng lớp thanh niên Các nhà văn từng sáng tác trong thời kì chiến tranh đều nhận ra, nếu tiếp tục viết như cũ, họ sẽ tự đánh mất độc giả, nghĩa là văn học dịch đã buộc các nhà văn Việt Nam phải đổi mới cách viết
Khoảng thời gian mười năm sau chiến tranh, từ 1975 đến 1985, trong lĩnh vực sáng tác, khuynh hướng đổi mới chưa trở thành một phong trào rầm rộ Chưa thấy xuất hiện những cây bút trẻ có khuynh hướng đổi mới Những nhà văn đi tiên phong trong công cuộc Đổi mới văn học ở giai đoạn này là Nguyễn Minh Châu, Ma Văn Kháng, Lê Lựu, Nguyễn Mạnh Tuấn…
Họ là những nhà văn từng sáng tác từ trước năm 1975 Đóng góp của họ cho công cuộc Đổi mới văn học ở Việt Nam chủ yếu là ở lĩnh vực văn xuôi
Trang 24Tập truyện ngắn Bến quê của Nguyễn Minh Châu, tiểu thuyết Mùa lá rụng trong vườn của Ma Văn Kháng, Cù Lao Tràm của Nguyễn Mạnh Tuấn, và muộn hơn một chút, tiểu thuyết Thời xa vắng (1987) của Lê Lựu từng gây
được những tiếng vang rất lớn
Giai đoạn sôi nổi nhất của đời sống văn nghệ ở Việt Nam trong thời
kì Đổi mới có thể được xem từ năm 1986 đến năm 1996 Trong khoảng thời gian này, văn học về cơ bản đã đạt được một số thành tựu nhất định với truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp, tiểu thuyết của Bảo Ninh, lí luận văn học của Lê Ngọc Trà Văn học dịch vẫn tiếp tục phát triển và phát huy tác dụng, nhưng giờ đây, giữ vai trò chủ công trong Đổi mới văn học là hoạt động lí luận, phê bình văn học và hoạt động sáng tác của các nhà văn, nhà thơ
Đổi mới văn học suy đến cùng là đổi mới quan niệm: quan niệm về con người, về đời sống và quan niệm về bản thân văn học nghệ thuật Cho nên vào nửa sau của những năm tám mươi thế kỉ XX, hoạt động lí luận phê bình văn học gần như vượt lên phía trước, giữ vị trí là nhân tố mở đường Nghị quyết 05 về phê bình văn học của Bộ Chính trị Đảng cộng sản
Việt Nam được đón nhận hồ hởi Trên tờ báo Văn nghệ, cơ quan ngôn luận
của Hội Nhà văn Việt Nam (số 49 và 50, ra ngày 5/12/1987), Nguyễn Minh
Châu có bài phát biểu nổi tiếng Hãy đọc lời ai điếu cho một giai đoạn văn nghệ minh họa Bài báo vừa là tuyên ngôn lí thuyết, vừa thể hiện tinh thần
đổi mới văn học hết sức triệt để của giới sáng tác Chưa bao giờ các cuộc toạ đàm “bàn tròn”, hội nghị, hội thảo khoa học về những vấn đề lí luận văn học được tổ chức rầm rộ như ở giai đoạn này Có hai cuộc hội thảo lớn thu hút sự tham gia rất đông đảo của cả giới sáng tác, lẫn giới nghiên cứu
phê bình Cuộc hội thảo thứ nhất xoay quanh đề tài về mối quan hệ giữa văn nghệ và chính trị Cuộc hội thảo thứ hai tập trung vào đề tài văn học
Trang 25phản ánh hiện thực Văn học phục vụ chính trị là như thế nào? Văn học cần
phản ánh hiện thực như thế nào? Chủ thể sáng tạo của người nghệ sĩ có vai trò gì trong việc phản ánh hiện thực Đặc trưng của văn học là gì? Vì sao văn học cần Đổi mới? Đó là những vấn đề lí luận và thực tiễn sáng tác liên quan tới hai đề tài nói trên Những vấn đề này, tưởng như đã có kết luận xong xuôi từ lâu, nay được xới lên bàn bạc, phân tích, giải quyết lại theo tinh thần đổi mới
Giai đoạn từ 1996 đến nay, trên văn đàn vẫn tiếp tục có những tên tuổi mới xuất hiện, một số nhà văn vẫn cho ra đời những tác phẩm văn học
ít nhiều gây được tiếng vang như Mảnh đất lắm người nhiều ma của Nguyễn Khắc Trường, Cơ hội của chúa của Nguyễn Việt Hà, Đi tìm nhân vật của Tạ Duy Anh… Văn xuôi Phan Thị Vàng Anh được công chúng
mến mộ Thơ có vẻ như đang tìm đường bứt phá để tiến lên phía trước Vài năm gần đây, người ta nói tới cuộc nổi loạn trong thơ của một số cây bút rất trẻ như Vi Thuỳ Linh, Phan Huyền Thư là những gương mặt sáng giá nhất Có thể thấy, từ 1996 đến nay, đang định hình một giai đoạn mới trong văn học với những bước phát triển đáng kể về chất
1.1.3 Vai trò của báo chí đối với văn học trong giai đoạn đầu của Đổi mới văn học
Nhìn vào tiến trình vận động của văn học Việt Nam, có thể dễ dàng nhận thấy sự xuất hiện mạnh mẽ và đóng góp quan trọng của báo chí đối với công cuộc hiện đại hóa văn học Việt Nam đầu thế kỉ XX Phan Ngọc đã nhận định: “Chủ nghĩa hiện thực Việt Nam bắt đầu từ phóng sự” với cả một
phong trào phóng sự: Tôi kéo xe (Tam Lang), Hà Nội lầm than, Thanh niên trụy lạc (Trọng Lang), Việc làng, Vụ án cái đinh (Ngô Tất Tố), Cơm thầy cơm cô, Cạm bẫy người, Lục sĩ, Kĩ nghệ lấy Tây (Vũ Trọng Phụng)…
Trang 26Công cuộc Đổi mới Văn học Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam phát động cũng được các nhà văn hưởng ứng và báo chí là nơi đăng tải đầu tiên những tác phẩm mang hơi hướng đổi mới đó Một loạt phóng sự,
truyện kí đăng tải trên báo Văn nghệ giai đoạn đó như: Cái đêm hôm ấy đêm gì (Phùng Gia Lộc, báo Văn nghệ, 1986), Người đàn bà quỳ (Lê Văn
Ba, báo Văn nghệ, 1988), Vua lốp (Trần Huy Quang, báo Văn nghệ, 1986), Lời khai của bị can, Người biết làm giàu (Trần Huy Quang, báo Văn nghệ, 1987), Người đàn bà quỳ (Lưu Loan), Tiếng kêu cứu của một vùng văn hóa (Võ Văn Trực), Đêm trắng (Hoàng Hữu Các) rồi những tác phẩm gây chấn động lớn trong dư luận của nhà báo – nhà văn Minh Chuyên: Người không
cô đơn, Nước mắt làng, Vào chùa gặp lại… đã gây xôn xao dư luận và hơn
cả là kéo công chúng lập tức quay trở lại với văn học
Đối với phê bình văn học, báo chí thật sự có công lớn giúp phê bình phát triển nhanh và tiếp cận được với đông đảo công chúng Trước khi các chuyên luận, tiểu luận được in thành sách, hầu hết là in rải rác trên báo chí, điều này có thể nhận thấy qua một loạt cuốn sách của các nhà phê bình:
Nguyễn Đăng Mạnh (Nhà văn hiện đại Việt Nam – Chân dung và phong cách), Vương Trí Nhàn (Những kiếp hoa dại), Đỗ Lai Thúy (Con mắt thơ), Trần Đăng Khoa (Chân dung và đối thoại)…
Trong giai đoạn Đổi mới văn học, được báo chí tiếp thêm sức mạnh, tạo những điều kiện cần thiết đã thức tỉnh ý thức cá nhân, giúp nhà văn bản lĩnh hơn, có thêm dũng khí hòa mình vào công cuộc Đổi mới nền văn học
dân tộc Tại thời điểm đó, một loạt báo như Văn nghệ, TCSH và TCCV trở
thành đầu tàu của công cuộc Đổi mới Bên cạnh đó, xuất hiện những tờ báo
như Quân đội nhân dân, Nhân dân, Sài gòn Giải phóng có công trong việc
ngăn cản những khuynh hướng cực đoan của Đổi mới
Trang 27Có thể nói, ở giai đoạn đầu của công cuộc Đổi mới văn học, báo chí
là chất xúc tác lớn nhất đưa văn học quay lại hiện thực, là diễn đàn đối thoại công khai các vấn đề Đổi mới để nhà văn bộc lộ quan điểm, góp phần điều chỉnh những quan điểm sai trái, lệch lạc, và hình thành được sự đồng thuận trong giới văn nghệ; đồng thời báo chí còn phát hiện ra các hiện tượng văn học mới, là vườn ươm nuôi dưỡng các tài năng văn học nghệ thuật Đối với người nghiên cứu văn học sử, báo chí là trầm tích hóa thạch của đời sống văn hóa, giúp khôi phục văn hóa trong đời sống sống động
của nó Sông Hương và Cửa Việt là hai tạp chí của Thừa Thiên Huế và
Quảng Trị song đã không giới hạn, bó hẹp trong khuôn khổ là một tạp chí địa phương, gắn riêng với đời sống địa phương mà còn có tầm quốc gia, hướng đến sự hòa nhập của nhà văn trên cả nước
1.2 Khái quát về tạp chí Sông Hương và Cửa Việt
1.2.1 Tạp chí Sông Hương
1.2.1.1 Sự ra đời và mục đích hoạt động
TCSH là tạp chí sáng tác phê bình nghiên cứu văn học nghệ thuật
văn hóa tỉnh Thừa Thiên Huế ra đời năm 1983, trụ sở tòa soạn tại 26 Lê
Lợi, Huế Kỉ niệm 5 năm Sông Hương ra đời, nhà văn Nguyên Ngọc – Tổng Biên tập Báo Văn nghệ đã chia sẻ trên TCSH số 32, năm 1988: “Tôi đọc Sông Hương không được đều Nhưng tôi cho đấy là một tờ báo lớn, có tầm toàn quốc Cái giỏi của Sông Hương là: nếu xét từng bài thì chưa hẳn
bài báo nào cũng hay (mà báo nào cũng thế thôi), nhưng tất cả hợp thành một khối thống nhất Đấy là một tờ báo “sang trọng” (xin hiểu cho từ dùng
của tôi), trí thức Chúng tôi đang lo Văn nghệ bị lỏi, rất mong Sông Hương,
vốn có tính khuynh hướng mạnh mẽ, cùng “hợp đồng tác chiến” Tôi biết
Sông Hương có quyết tâm, nhưng theo tôi cần phải tìm cho ra phương thức
riêng với tờ báo của mình”
Trang 28Như Thư Sông Hương trong số ra đầu tiên vào tháng 6.1983, do nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm làm Tổng Biên tập, mục tiêu của TCSH đã được
khẳng định: “Mang tên dòng sông duyên dáng thả mình bên thành phố Huế
- Sông Hương , những trang tạp chí này là dòng chảy của những cảm xúc
tươi đẹp trên “khúc ruột miền Trung” đất nước”… “Từ nơi đây, như truyền thống đã có, sẽ bắt đầu cuộc gặp gỡ giữa những văn nghệ sĩ, nhà nghiên
cứu với bạn đọc cùng thời của họ Sông Hương sẽ chuyển đến các bạn
những sáng tác mới, những công trình nghiên cứu, phê bình, những cuộc mạn đàm về văn học, nghệ thuật và văn hóa, cùng trang văn học nước ngoài nằm trong tầm quan tâm của mỗi chúng ta Tạp chí phấn đấu là tiếng nói văn nghệ, văn hóa chính thức của một vùng đất, với những dấu hiệu riêng của nó, trong khi không ngừng vươn lên gắn bó với bước đi chung
của đời sống văn nghệ đất nước” Có thể nói, ngay từ đầu, Sông Hương
đã xác định rõ vai trò và sứ mệnh là trung tâm văn hóa của dải miền Trung, đồng hành cùng công cuộc Đổi mới đất nước trên mặt trận văn hóa nghệ thuật ở cả lĩnh vực sáng tác, phê bình
Khi TCSH ra đời, ngay từ đầu, Ban Biên tập đã xác định rõ tầm vóc
và sứ mệnh của tạp chí: “Chúng tôi âm thầm khẳng định Sông Hương là tờ
tạp chí tầm quốc gia để phấn đấu Thừa Thiên Huế là một trung tâm trí thức, trung tâm văn hóa lớn của đất nước từ xưa đến nay Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Thừa Thiên Huế là một Hội lớn của cả nước, nhiều văn nghệ sĩ
dư sức có mặt trên tạp chí Sông Hương nhưng nhiều tác giả trong cả nước cũng cần có mặt trên Sông Hương Một nhà văn, một trí thức ở Huế không
phải chỉ suy ngẫm chuyện xảy ra ở Thừa Thiên Huế, không phải chỉ
khoanh vùng ở Việt Nam…” (Tô Nhuận Vỹ, Tạp chí Sông Hương và Bản lĩnh văn hóa)
Trang 29Có thể nói, ngay từ khi ra đời, TCSH đã xác định được nhiệm vụ của
một tờ tạp chí sáng tác phê bình nghiên cứu văn hóa nghệ thuật song về
tầm vóc của mình, Sông Hương đã thể hiện khát vọng vươn xa, là tạp chí
không chỉ giới hạn trong “chuyện xảy ra ở Thừa Thiên Huế”, thậm chí
“không phải chỉ khoanh vùng ở Việt Nam” Nhìn nhận lại tiến trình hoạt
động của Sông Hương trong giai đoạn đầu Đổi mới, tạp chí này thật sự là
một tạp chí “nói và làm” được, xứng đáng là một trong những tạp chí văn hóa nghệ thuật hàng đầu Việt Nam giai đoạn 1986 – 1996
1.2.1.2 Hình thức tạp chí
Số đầu tiên của TCSH phát hành vào tháng 5, 6/1983, Tổng Biên tập
là nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm, Phó Tổng Biên tập là nhà văn Nguyễn Khắc Phê Tạp chí ra 2 tháng 1 kì, dày 112 trang (chưa kể bìa) Đến số 19 (tháng 5, 6/1986), Tổng Biên tập là nhà văn Tô Nhuận Vỹ, Phó Tổng Biên tập là nhà văn Nguyễn Khắc Phê Sau số 39 (tháng 8, 9/1989), tạp chí tạm dừng xuất bản ba tháng vì chia tỉnh Bình Trị Thiên thành ba tỉnh Quảng
Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên Huế Số 40 (tháng 1/1990) Sông Hương ra báo lại sau một thời gian gián đoạn Tại Huế, tạp chí Sông Hương, số 1 (số
40 - tháng 1/1990), số Xuân Canh Ngọ, tạp chí (được cấp phép) ra hàng tháng, là cơ quan ngôn luận của Hội Văn nghệ Thừa Thiên Huế1; Sông Hương từ đây đánh số mới, bắt đầu từ số 1, các số lũy tiến suốt tiến trình xuất bản khi chưa tách tỉnh được để trong ngoặc: [Sông Hương, số 1 (40)]
song khuôn khổ và tôn chỉ tạp chí không thay đổi; xi-nhê2 không ghi Ban Biên tập; giấy phép xuất bản số 916 - BTT, cấp ngày 20/12/1989 Số 43
(tháng 6/1990) ra thông báo của Ban Biên tập Tạp chí Sông Hương về rút
1
Bắt đầu từ khi tách tỉnh, một bộ phận ban biên tập cũ thành lập tạp chí Cửa Việt tại Quảng Trị,
cũng ra số 1 vào đầu năm 1990
2
Trang ghi thông tin Ban Biên tập (Tổng Biên tập, Phó Tổng Biên tập, người phụ trách các cơ sở
Trang 30kinh nghiệm về những khuyết điểm thiếu sót từ số 3 (tháng 4 -
5/1990) “tâm huyết nhưng đã lệch một số vấn đề cơ bản ”, Tổng Biên tập
Tô Nhuận Vỹ từ chức Ban Chấp hành Hội Văn học Nghệ thuật Thừa Thiên Huế đã ghi nhận sự từ chức này, và giao nhiệm vụ điều hành cho hai Phó Tổng Biên tập đương nhiệm cho đến Đại hội Văn học Nghệ thuật tỉnh kỳ tới Số 44 (tháng 1/1991): Ra báo lại sau sáu tháng không xuất bản, tạp chí không ghi tên các thành viên trong Ban Biên tập Đến số 46 (tháng 4/1991), Nguyễn Khắc Phê là Tổng Biên tập, Nguyễn Đắc Xuân là Phó Tổng Biên tập Số 47 (1 - 2/1992): Ra báo lại sau tám tháng không xuất bản, Tổng Biên tập là nhà văn Hồng Nhu Tạp chí đổi măng sét, bìa của họa sĩ Phạm
Đại Các số báo từ đây không đánh theo số thứ tự nữa, mà đánh số từ 1 đến
12 theo các tháng trong mỗi năm Số tháng 1-2/1993 công bố Ban Biên tập gồm: Tổng Biên tập Hồng Nhu, Phó Tổng Biên tập Hà Khánh Linh, Võ
Mạnh Lập Từ số 1/1994, Tạp chí Sông Hương ra 1 tháng 1 kỳ Số tháng
6/1997: Sự kiện Tạp chí Sông Hương tròn 100 số Trong bài “Góp ý cho
Sông Hương” có ghi lại ý kiến của cuộc tọa đàm góp ý cho TCSH Nhiều ý kiến cho rằng: “Sông Hương thời điểm này không còn dễ dàng có các điều
kiện “thiên thời, địa lợi, nhân hòa” như thời bao cấp nữa Cơ chế thị trường
đã đỏng đảnh “tước đoạt” mất địa vị “độc tôn” của nó trên một số mặt mà trong đó, mảng nghiên cứu văn hóa Huế là đáng tiếc hơn cả Các tác giả trên lĩnh vực này đều dễ dàng in sách riêng hoặc gửi bài cho nhiều tờ báo
khác mà “danh” và “lợi” đều có thể “qua mặt” Sông Hương Chỉ thuần túy
làm văn học nghệ thuật mà không tham dự vào các hoạt động xã hội (từ
thiện, khuyến học, giao lưu, đối ngoại ) là đã tự thu nhỏ mình lại Sông Hương hiện tại quá khiêm tốn từ tổ chức đến cơ sở vật chất ” Có ý kiến cho rằng Sông Hương chỉ trội về thơ và nghiên cứu văn hóa Huế, những gì
còn lại đều bình bình
Trang 31Từ năm 1986 – 1996, TCSH bao gồm nhiều chuyên mục sau:
Thơ, Văn xuôi, Kí: Chuyên mục đăng tải các sáng tác của các nhà
văn, nhà thơ Đây là những chuyên mục trọng tâm và chính yếu nhất của
TCSH
Trang viết đầu tay đăng những tác phẩm của các cây viết trẻ lần đầu tiên xuất hiện trên báo chí Với mỗi tác giả này, Ban Biên tập Sông Hương
đều có lời giới thiệu ngắn gọn về tác giả và điểm nổi bật trong sáng tác của họ
Thơ chọn từ những trang sách và Thơ tự chọn của các tác giả là trang thơ do Ban Biên tập Sông Hương tự chọn và giới thiệu từ các tác giả
có tên tuổi
Văn học nước ngoài: Chuyên mục cập nhật những sáng tác mới của các
tác giả đạt giải thưởng văn chương lớn ở nhiều quốc gia như Trung Quốc, Liên
Xô, Nhật Bản, Cuba, Ba Tư, Nam Phi, Ba Lan, Anh, Pháp, Đức
Nhìn ra thế giới: Chuyên mục trích dẫn lại các tư liệu quan trọng trong đời sống văn nghệ nước ngoài
Nghiên cứu – Phê bình: Chuyên mục trình bày các bài nghiên cứu,
phê bình văn học, về những hiện tượng trong đời sống văn nghệ
Chân dung văn học: Chuyên mục viết về các tác gia của văn học
Việt Nam và thế giới
Tư liệu: Chuyên mục trích dẫn lại tư liệu của các tác gia văn học Diễn đàn văn nghệ và cuộc sống: Chuyên mục ghi lại các ý kiến trao đổi
của các tác giả đối với các sự kiện văn hóa, nghệ thuật trong và ngoài nước
Tin văn hóa văn nghệ: Chuyên mục điểm tin lại sự kiện văn hóa
nghệ thuật chính của Việt Nam nói chung và tỉnh Thừa Thiên Huế nói riêng
Tòa soạn và bạn đọc: Chuyên mục ghi lại những lời nhắn, phản hồi của Ban Biên tập Sông Hương đến các cộng tác viên gửi bài
Trang 32Kỉ niệm 5 năm Sông Hương: Chuyên mục đặc biệt của năm 1988 nhân dịp kỉ niệm 5 năm ra đời của TCSH Chuyên mục đăng tải bài phát
biểu của Tổng Biên tập Tô Nhuận Vỹ, lược thuật những hoạt động trong 5
năm của Sông Hương , Văn bản hợp tác giữa TCSH và tạp chí Nhê man
(Liên Xô)
Trước thềm Đại hội Nhà văn lần thứ IV: Chuyên mục đăng tải những
cuộc tranh luận sôi nổi trong lí luận văn học, phỏng vấn các nhà nghiên cứu, nhà thơ, nhà văn về tình hình văn nghệ trước Đại hội Nhà văn lần thứ IV
1.2.1.3 Ban Biên tập và đội ngũ cộng tác viên
Các Tổng Biên tập của tạp chí Sông Hương từ 1983 - 2013: Nguyễn
Khoa Điềm, Tô Nhuận Vỹ, Nguyễn Khắc Phê, Hồng Nhu, Nguyễn Quang
Hà, Nguyễn Khắc Thạch, Hồ Đăng Thanh Ngọc Đến nay, Tạp chí đã có 4 trong tổng số 7 nhà văn, nhà thơ Tổng Biên tập Tạp chí đã được nhận Giải thưởng Nhà nước Đó là nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm, Tổng Biên tập Tạp
chí Sông Hương những ngày đầu tiên Đó là các nhà văn Tô Nhuận
Vỹ, nhà văn Nguyễn Khắc Phê, nhà văn Hồng Nhu - các Tổng Biên tập
Tạp chí Sông Hương trong những ngày tháng mà Sông Hương đạt đến đỉnh
cao trong làng báo Việt Nam
Ban Biên tập TCSH gồm có các nhà văn, nhà thơ: Lâm Thị Mỹ Dạ,
Nguyễn Quang Hà, Xuân Hoàng, Hà Khánh Linh, Lê Thị Mây, Thái Ngọc
Trang 33Vũ Hải (Buôn Ma Thuột) Riêng Dương Thành Vũ đã có truyện ngắn đầu tay “Mái hiên trời”, Hồ Thế Hà, Triều Nguyên liên tiếp cho ra mắt các tập truyện ngắn, thơ của mình
Nhiều cây bút trên cả nước đã xuất hiện trên Sông Hương và đã
khẳng định được tên tuổi trong thập niên tám mươi có: Nguyễn Quang Lập, Trần Thùy Mai, Phạm Tấn Hầu, Nguyễn Khắc Thạch, Lê Văn Ngăn, Hồng
Thế, Hải Kỳ Nhiều tác giả nữ được TCSH phát hiện và giới thiệu tỏ ra có
bề dày vốn sống để đi xa cùng văn học như Tôn Nữ Ngọc Hoa, Nhật Lệ,
Trần Thị Huyền Trang Những cây bút đang thử sức mình được TCSH giới
thiệu để định hình tác giả như Trần Thùy Mai, Nguyễn Thế Tường, Thanh
Ba, Phạm Phú Phong… và Lê Thị Mây vốn nổi tiếng với những bài thơ đặc
sắc cũng bắt đầu in văn xuôi trên Sông Hương như một cây bút mới mẻ
Sông Hương từ 1990 đến 1996 đã liên tiếp trình làng những gương mặt
mới như Nguyễn Hồng Hạnh, Phạm Xuân Phụng, Việt Hùng, Lê Thị Minh Nghĩa, Nhật Lệ, Đoàn Quỳnh Anh, Phạm Nguyên Tường, Nguyễn Thị Thái… những cây bút này đến với văn học bằng những cách thể hiện mới lạ Hầu hết
các cây bút đi ra từ Sông Hương đã rất chững chạc trên văn đàn, trở thành các
nhà văn như Trần Thùy Mai, Nguyễn Quang Lập, có người có tiểu thuyết như Dương Thành Vũ, Nguyễn Quang Vinh, Đỗ Hoàng…Đặc biệt văn xuôi của một loạt cây bút trẻ, đã làm thay đổi hẳn diện mạo văn xuôi thời kỳ này, mà nổi bật trong số họ là Nguyễn Huy Thiệp
Cộng tác viên minh họa gồm các họa sĩ Bửu Chỉ, Nguyễn Đính, Đinh Cường, Hải Bằng Cộng tác viên ảnh: Sĩ Sô, Thái Nguyên Hạnh, Phạm Văn Chiến, Bùi Quang Trung
1.2.2 Tạp chí Cửa Việt
1.2.2.1 Sự ra đời và mục đích hoạt động
Cửa Việt là tên tạp chí của Hội Văn học nghệ thuật tỉnh Quảng
Trị xuất bản sau khi tách khỏi tỉnh Bình Trị Thiên, theo giấy phép của Bộ
Trang 34Thông tin Việt Nam (2 số đầu giấy phép số 83/BTT cấp ngày 15.2.1990, từ
số 3 giấy phép số 25/BC - GPXB của Bộ Văn hóa – Thông tin - Thể thao
và Du lịch cấp ngày 17.4.1990), định kỳ 2 tháng 1 số Số 1 được xuất bản tháng 2.1990
Chỉ một thời gian ngắn sau khi lập lại tỉnh Quảng Trị, Uỷ ban Nhân
dân tỉnh đã có quyết định thành lập Tạp chí Cửa Việt với tôn chỉ mục đích
là diễn đàn văn học nghệ thuật của văn nghệ sĩ Quảng Trị, nơi giao lưu, gặp
gỡ cùng bạn bè văn nghệ cả nước và cũng là mảnh đất ươm tài năng cho sự
nghiệp sáng tạo trên mảnh đất sâu nặng nghĩa tình Tạp chí Cửa Việt trực
thuộc Hội Văn học Nghệ thuật Quảng Trị Nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường được bổ nhiệm làm Tổng Biên tập Nhà văn Nguyễn Quang Lập làm Phó Tổng Biên tập
Trong số đầu tiên, Cửa Việt đã xác định mục tiêu hoạt động của
mình: “Lịch sử không thuộc về dĩ vãng, lịch sử vẫn tồn tại với sức năng động của nó trong mỗi khoảnh khắc của hiện tại và tương lai chúng ta, với
bất cứ ai còn giữ lòng biết ơn Nhân Dân Cửa Việt ra đời, trước hết mong
được làm chứng ngôn về lòng biết ơn của con người trước lịch sử, mà nếu quên đi, chúng ta sẽ không còn sức mạnh để đi tới đích phía trước… Đổi mới không phải là lời hô muôn năm, mà thực sự là một cuộc chiến đấu đòi
hỏi sự dấn thân của văn học nghệ thuật Cửa Việt ra đời, từ một mảnh đất
sâu dày khát vọng của nhân dân, mong mỏi đóng góp bằng cả tâm huyết
công dân của văn nghệ sĩ Cửa Việt là một cửa biển, và cửa biển nào cũng nhìn ra đường chân trời…” Cũng giống như TCSH, TCCV ngay từ khi ra
đời đã xác định tầm vươn xa của tạp chí vượt khỏi giới hạn địa lí, với tinh thần của mảnh đất quật cường trong chiến tranh, trong thời Đổi mới, tạp chí văn hóa nghệ thuật của Quảng Trị tiếp tục trọng trách tiên phong, “dấn thân” trong công cuộc Đổi mới văn hóa nghệ thuật của nước nhà
Trang 351.2.2.2 Hình thức của tạp chí
Từ 1986 đến 1996, sự phát triển của TCCV có hai giai đoạn chính:
1990 – 1992 và 1994 – 19961
Tạp chí Cửa Việt giai đoạn 1990 - 1992 (còn được gọi là Cửa Việt bộ
cũ) Kể từ ngày thành lập ra số đầu tiên đến khi tạm dừng để củng cố tổ chức, Cửa Việt bộ cũ đã tồn tại gần 3 năm, xuất bản 17 số Thời kì đầu, Cửa Việt xuất bản 2 tháng/ số với giấy phép tạm thời cấp theo từng số của
Bộ Thông tin, sau đó là Bộ Văn hoá Thông tin, Thể thao và Du lịch (Năm
1990 xuất bản 5 số, khổ 16 x 24 cm, 96 trang Năm 1991: xuất bản 6 số Năm 1992: xuất bản theo giấy phép thường xuyên của Bộ Văn hoá thông tin Thể thao và Du lịch với 1số/tháng Đã xuất bản thêm được 6 số nữa)
Tháng 10/1992, sau khi số 17 được xuất bản, Tạp chí Cửa Việt tạm thời
dừng lại để củng cố tổ chức tòa soạn
Chỉ với 17 số đầu tiên ra mắt bạn đọc, nhưng Cửa Việt (bộ cũ) đã tạo
được một dấu ấn rõ nét trong lòng bạn đọc cả nước Với khát vọng đổi mới
và mở cửa, Ban Biên tập Cửa Việt đã cố gắng tập hợp được một số bạn đọc,
bạn viết có bản sắc, giọng nói riêng, tạo nên một tạp chí văn nghệ khá sôi động Tháng 4/1994, Uỷ ban Nhân dân tỉnh Quảng Trị đã có quyết định sáp
nhập Tạp chí Cửa Việt và Tạp chí Văn hoá Quảng Trị thành một đơn vị, lấy tên Tạp chí Cửa Việt nhưng trực thuộc Sở Văn hoá Thông tin Nhà văn Xuân Đức tiếp tục giữ chức Tổng Biên tập Trụ sở Tạp chí Cửa Việt (bộ
mới) vẫn đóng ở 27, thị xã Đông Hà, tỉnh Quảng Trị
Tạp chí Cửa Việt giai đoạn 1994 – 1996: Trung thành với tôn chỉ
mục đích là diễn đàn của những người làm công tác văn hóa - văn nghệ trên quê hương Quảng Trị, kế tục những kinh nghiệm quý báu và thành
1
Năm 1990, TCCV ra đời, đến năm 1992, tạm thời dừng để củng cố tổ chức và năm 1994, sáp
Trang 36công của hai tờ tạp chí tiền thân, rút kinh nghiệm về những sai sót trong
quá khứ, tạp chí Cửa Việt (bộ mới) đã cố gắng duy trì và phát triển ngày
càng rộng rãi đội ngũ cộng tác viên trong tỉnh cũng như cả nước, không ngừng nâng cao chất lượng bài vở và mỹ thuật trình bày, tìm nhiều giải pháp phát hành với số lượng ổn định Với định kỳ xuất bản 1 số/tháng, số
lượng được duy trì 1500 đến 2000 bản/số, có thể khẳng định TCCV đã trở
thành một tờ báo văn nghệ địa phương có số lượng phát hành lớn Đầu năm
1995, nhà văn Xuân Đức được bổ nhiệm làm Giám đốc Sở Văn hoá Thông
tin Nhà thơ Lê Thị Mây từ tạp chí Sông Hương được mời chuyển về
Quảng Trị để làm Phó Tổng Biên tập, rồi sau đó bổ nhiệm làm Tổng Biên
tập tạp chí Cửa Việt thay nhà văn Xuân Đức Nhà văn Cao Hạnh được điều
động từ Trung tâm Văn hoá thông tin về giữ chức Phó Tổng Biên tập Từ
khi Cửa Việt (bộ mới) ra đời cho đến tháng 3/1998 trước khi chuyển chủ
quản trở về Hội Văn học Nghệ thuật đã xuất bản 47 số
Từ năm 1986 đến 1996, các chuyên mục chính của TCCV như sau:
Từ vĩ tuyến 17, Sự kiện và Đối thoại, Sự kiện và Bình luận: Chuyên mục đăng tải những ý kiến, trao đổi giữa TCCV với các tác giả, các nhà
lãnh đạo về các vấn đề nổi bật của đời sống xã hội, văn học nghệ thuật
Thơ, Trang thơ phái đẹp, Truyện ngắn, Kí: Chuyên mục đăng tải các
sáng tác của các nhà văn, nhà thơ Đây là những chuyên mục trọng tâm và
chính yếu nhất của TCCV
Văn học nước ngoài: Chuyên mục cập nhật những sáng tác mới,
khuynh hướng sáng tác theo trào lưu mới của văn học nước ngoài
Lí luận Phê bình: Chuyên mục trình bày các bài nghiên cứu, phê
bình văn học, các bài đọc sách về những hiện tượng trong đời sống văn nghệ đương đại bấy giờ
Sống và viết trên quê hương Quảng Trị - Trên quê hương Quảng Trị
- Nghĩ về Quảng Trị Ba chuyên mục này chỉ là tên gọi khác nhau trên từng
Trang 37số tạp chí, nội dung chuyên mục đều đăng các bài kí, phóng sự, ghi chép của các tác giả sống và viết về Quảng Trị
Ý kiến bạn đọc: Chuyên mục đăng tải những ý kiến, đóng góp, bình
luận của bạn đọc về tất cả các mặt đời sống xã hội, văn hóa…
Ghi chép phóng viên, Góc biển chân trời: Chuyên mục đăng tải những tư liệu của phóng viên TCCV về các vấn đề diễn ra trong đời sống
quê hương
Văn hóa thời đại: Chuyên mục đăng tải những bài báo về nhiều khía
cạnh khác nhau của đời sống văn hóa
Sổ tay tòa soạn, Thư Tòa soạn: Chuyên mục ghi lại những lời nhắn, phản hồi của Ban Biên tập Cửa Việt đến các cộng tác viên gửi bài
Tin vui văn nghệ: Chuyên mục điểm lại các sự kiện mới, cập nhật về
tình hình văn hóa văn nghệ trong và ngoài nước
Ngoài ra, trên TCCV cũng đăng tải những bức tranh, bức ảnh về văn
hóa đẹp, bản nhạc sinh động, giàu giá trị nhân văn
1.2.2.3 Ban Biên tập và đội ngũ cộng tác viên
Các Tổng Biên tập của TCCV từ khi ra đời cho đến nay: Hoàng Phủ
Ngọc Tường, Lê Thị Mây, Xuân Đức, Cao Hạnh Với sự nhiê ̣t tình, dũng
cảm ủng hô ̣ cái mới và bản thân các Tổng Biên tâ ̣p của Cửa Viê ̣t giai đoa ̣n
đầu cũng là những người sáng tác, luôn mang trong mình khát khao được bày tỏ và thể hiê ̣n tiếng nói đã là những người chắp cánh cho những tên tuổi mới và những tên tuổi cũ biết làm mới mình trong làng văn
Bên cạnh đó, đội ngũ biên tập viên của TCCV đều giữ vai trò kép, họ
vừa là nhà báo vừa là nhà văn Ban Biên tập gồm có: Xuân Đàm, Xuân Đức, Nguyễn Quang Lập, Hoàng Phủ Ngọc Phan, Nguyễn Trọng Tạo, Ngô Thảo, Lê Anh, Trương Bé, Sĩ Sô…
Rất nhiều những cây bút có tư tưởng Đổi mới về sáng tác cũng như lí luận, phê bình văn học có tên tuổi từ Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh…
Trang 38như Hoàng Ngọc Hiến, Phạm Xuân Nguyên, Vương Trí Nhàn, Nguyễn Thị Hoàng, Bùi Minh Quốc đã gửi bài đăng tạp chí
Bản thân đội ngũ sáng tác sống ở Quảng Trị cũng là một lực lượng sáng tác hùng hậu: Lê Bá Tạo, Tân Trà, Hải Bằng, Trần Chinh Vũ, Nguyễn Tiến Đạt, Tấn Hoài…
Cộng tác viên minh họa: Hoàng Ngọc Biên, Lê Bá Đảng, Trương Bé, Nguyễn Trọng Tạo, Nguyễn Đính, Nguyễn Vũ Trọng Thi
Trang 39 Tiểu kết chương 1
Trước khi Đại hội Đảng lần thứ VI chính thức diễn ra năm 1986 với vấn đề Đổi mới trong văn học, các sự kiện của đời sống văn học Việt Nam đương đại đã chứa trong nó những mầm mống đổi mới như : Hội nghị Đảng viên, sự ra đời hành loạt tác phẩm văn học, lí luận, phê bình mang dấu ấn Đổi mới Đặc biệt, sau Đại hội Đảng lần thứ VI, Nghị quyết 05 của
Bộ Chính trị được ban hành, Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh có cuộc gặp gỡ với đại diện giới văn nghệ sĩ vào cuối năm 1987 đã mở ra một không khí đổi mới thật sự theo tinh thần đổi mới tư duy và nhìn thẳng vào sự thật
Cho đến nay, giai đoạn từ 1986 đến 1996 là giai đoạn sôi động nhất của đời sống văn nghệ Việt Nam thời kì Đổi mới Với sự xúc tác của báo chí, văn học được chắp thêm đôi cánh để tạo nên bước phát triển cả về số
lượng và chất lượng Tạp chí Sông Hương và tạp chí Cửa Việt là hai trong
số tạp chí hàng đầu trong công cuộc Đổi mới văn học Tuy về hình thức, hai tạp chí này là tạp chí địa phương nhưng những vấn đề mà nó đề cập đã vượt qua địa phận tỉnh Thừa Thiên Huế và Quảng Trị, vượt ra ngoài khu vực miền Trung, tiến tới đồng hành cùng đời sống văn nghệ cả nước
Trang 40CHƯƠNG 2:
NHỮNG ĐỔI MỚI Ở BÌNH DIỆN LÍ LUẬN, PHÊ BÌNH
Trong chương một, người viết đã trình bày khái quát về tiền đề Đổi mới văn học Việt Nam, Đổi mới văn học Việt Nam giai đoạn 1986 – 1996, vai trò của báo chí đối với văn học trong giai đoạn đầu của Đổi mới văn
học, khái quát về tạp chí Sông Hương và Cửa Việt trong mười năm đầu sau
Đại hội Đảng lần thứ VI Ở chương hai này, chúng tôi tiến hành tìm hiểu
đổi mới văn học trên Sông Hương và Cửa Việt bắt đầu từ lĩnh vực đổi mới
lí luận phê bình Phần lí luận, phê bình trên tạp chí Sông Hương và Cửa Việt có thể coi là những phần thể hiện rõ nhất quan niệm đổi mới văn học
trên lĩnh vực tư tưởng, quan điểm cũng như tinh thần dũng cảm, tư duy có chính kiến của những người làm báo Thông qua việc phân tích các bài báo,
các bài tranh luận, nghiên cứu, phê bình tiêu biểu trên TCSH và TCCV,
người viết sẽ đề cập đến các vấn đề đặt ra từ hai tạp chí: sự xuất hiện tư tưởng mới trong văn học (mối quan hệ giữa văn nghệ và chính trị, mối quan hệ giữa văn học và hiện thực), tâm thế của nhà văn đối với công cuộc Đổi mới văn học, đóng góp trong việc hình thành tác giả (đội ngũ sáng tác thường trực, tái khẳng định những giá trị độc đáo, chuẩn bị nâng đỡ đóng góp lớp nghệ sĩ tương lai)
2.1 Sự xuất hiện tư tưởng mới trong văn học
2.1.1 Mối quan hệ giữa văn học và chính trị
Nghị quyết 05 của Bộ chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam (1987) đã
mở ra một cách nhìn mới về vị trí và chức năng của văn nghệ Giờ đây, văn học nghệ thuật không còn được hiểu đơn giản chỉ như là công cụ của chính trị, là vũ khí của công tác tư tưởng, là phương tiện tuyên truyền, giáo dục quần chúng, mà là “một bộ phận trọng yếu của cách mạng tư tưởng và văn hóa”, “là bộ phận đặc biệt nhạy cảm của văn hóa, thể hiện khát vọng của