Với hành động đó, Tản Đà đã mạnh bạo và dũng cảm chứng minh một cách hùng hồn rằng: văn chương không phải chỉ để ngâm ngợi cho khuây hay “mua vui cũng được một vài trống canh” như trong
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 3A PHẦN MỞ ĐẦU 6
1 Lý do chọn đề tài 6
2 Mục đích nghiên cứu 9
3 Lịch sử vấn đề 9
4 Phạm vi đề tài 13
5 Phương pháp nghiên cứu 13
6 Đóng góp mới của luận văn 13
7 Cấu trúc của luận văn 14
B PHẦN NỘI DUNG 15
Chương 1: “Giấc mộng báo chí” của Tản Đà 15
1.1 Con đường làm báo của Tản Đà 15
1.2 Tản Đà và An Nam tạp chí 26
Chương 2: Sự phát triển của báo chí, nhà xuất bản và sự hình thành loại hình ký giả - văn nhân chuyên nghiệp giai đoạn giao thời 31
2.1 Vai trò báo chí, nhà xuất bản - môi trường tồn tại, lưu hành của văn chương phi truyền thống giai đoạn giao thời 31
2.2 Tản Đà - người đóng vai trò tiên phong trong việc hình thành đội ngũ ký giả - văn nhân chuyên nghiệp 40
2.3 Quan niệm báo chí của Tản Đà 46
2.4 Tản Đà trong so sánh với các nhà báo giai đoạn đương thời 53
2.4.1 Trong mối quan hệ tương sinh: Ảnh hưởng và dấu ấn của Tản Đà với Nguyễn Công Hoan, Nguyễn Tuân, Ngô Tất Tố,… 53
2.4.2 Trong mối quan hệ tương khắc: Phạm Quỳnh 61
2.5 Những giới hạn của ký giả Tản Đà và mâu thuẫn của một nhà Nho làm báo 64
Trang 4Chương 3: Khảo sát mục: Việt Nam nhị thập thế kỷ xã hội thiển đàm và
Việt Nam nhị thập thế kỷ xã hội ba đào ký 81
3.1 Việt Nam nhị thập thế kỷ xã hội thiển đàm 81
3.2 Việt Nam nhị thập thế kỷ xã hội ba đào ký 84
C KẾT LUẬN 88
TÀI LIỆU THAM KHẢO 91
PHỤ LỤC 96
Trang 5A PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
“Đọc Tản Đà, ta thấy ông hiện lên mồn một trước hết không chỉ là một nhà thơ mà ông còn là hay chính là một nhà báo đầy bản lĩnh và tâm huyết, một nhà văn xuôi sắc sảo, một cây bút viễn tưởng tài hoa, một nhà biên khảo tận tụy và thận trọng” [51, 26, tập 1]
Nhận định trên của nhà nghiên cứu Đào Thái Tôn đã tổng kết Tản Đà với rất nhiều tư cách khác nhau: nhà thơ, nhà văn, nhà báo, nhà biên khảo, … Tuy nhiên, xưa nay, người ta vốn chỉ nhắc nhiều tới Tản Đà với vai trò của nhà thơ, nhà văn, đề cao ông là thi sỹ mở đầu cho nền thơ ca Việt Nam hiện đại Còn một Tản Đà - nhà báo thì có phần ít được nhắc tới hoặc chưa đánh giá đúng mức vai trò của báo chí trong sự nghiệp của Tản Đà Trên thực tế, có nhìn nhận sự nghiệp sáng tác của Tản Đà một cách đầy đủ và thấu đáo mới hiểu được những nỗ lực và tâm huyết của Tản Đà dành cho báo chí - cụ thể và
điển hình nhất là An Nam tạp chí - nơi ông gửi gắm tâm huyết của cả cuộc đời mình Không ngẫu nhiên mà An Nam tạp chí đình bản rồi lại tải bản tới 6 lần
và mỗi lần tái bản, ông lại có một bài cảm tác, thể hiện niềm tin và hi vọng vào sứ mệnh của tờ báo
Trong bối cảnh xã hội lúc bấy giờ, Tản Đà là người đầu tiên đưa ra quan niệm “nôm na phá nghiệp kiếm ăn xoàng”, tức coi viết văn, làm báo như một nghề (theo cái nghĩa là một công việc để người ta có thể làm và nhờ đó mà tồn tại) - điều này chưa từng xảy ra ở xã hội Việt Nam trước đó Ông hăm hở bước vào địa hạt báo chí với biết bao dự định cách tân, đổi mới Nhiều bài báo của ông có tính thời sự cao và mang đậm hơi thở của cuộc sống - hai đặc điểm quan trọng và không thể thiếu của báo chí Đặt sự nghiệp làm báo của Tản Đà trong bối cảnh xã hội lúc bấy giờ mới nhận thấy hết những nỗ lực của một nhà Nho trong việc dùng báo chí để tự khẳng định mình, hay nói cách
Trang 6khác là dùng việc viết văn, làm báo để xác lập vị trí của mình một cách đường hoàng, đĩnh đạc Với hành động đó, Tản Đà đã mạnh bạo và dũng cảm chứng minh một cách hùng hồn rằng: văn chương không phải chỉ để ngâm ngợi cho khuây hay “mua vui cũng được một vài trống canh” như trong quan niệm của các nhà Nho xưa mà còn có thể là một “công cụ” để kiếm sống Người ta có thể dựa vào nó để đường hoàng nhận những phần nhuận bút (từ những bài báo hay những cuốn sách được xuất bản) Trước đây, các nhà Nho dù là những quan lại hay thầy đồ, ẩn sĩ thì cũng thường chỉ tìm đến với văn chương như một cách để giải khuây hay bày tỏ nỗi lòng, chứ ít ai coi đó là một cách để kiếm sống Văn chương và cuộc sống vì thế, bỗng trở thành hai phạm trù riêng biệt và khó lòng hòa hợp Người ta coi văn chương là cái gì đó tách biệt hẳn và vượt ra những bon chen của cuộc sống thường nhật, bởi thế, nó chỉ có thể là những gì thuộc về đời sống tinh thần chứ không thể gắn với gánh nặng
áo cơm, với những lo toan vật chất bộn bề Bởi thế, hành động “đem văn chương đi bán phố phường” hay “nôm na phá nghiệp kiếm ăn xoàng” mang
vẻ ngoài của một sự ngông nghênh, bất cần và dường như khác người ấy thực chất đã chứa đựng trong nó mầm mống của một quan niệm hoàn toàn mới mẻ
so với truyền thống Hay nói cách khác, chính là một sự phá rào, vượt ra khỏi những quan niệm thông thường lúc bấy giờ để tạo tiền đề cho sự hình thành một xu hướng tất yếu: viết văn, làm báo theo hướng chuyên nghiệp, cũng đồng nghĩa với việc hình thành một đội ngũ ký giả - văn nhân chuyên nghiệp Khái niệm “chuyên nghiệp” ở đây không phải chỉ là một sự thể hiện về trình
độ mà còn là cách thức, là tuân theo sự vận động của cơ chế thị trường với những ngặt nghèo và quy luật cạnh tranh tất yếu Lẽ dĩ nhiên, đã là sáng tác
để đi bán thì không thể không nói tới vai trò của người mua, ở đây chính là đội ngũ độc giả đông đảo thuộc nhiều tầng lớp khác nhau Từ đây hình thành một mối liên hệ chặt chẽ giữa người sáng tác và người tiếp nhận, tức độc giả
Trang 7Điều này trong sáng tác của các nhà Nho trước đó có lẽ ít được quan tâm tới bởi người ta chỉ quan niệm văn chương như một cách để bày tỏ nỗi lòng mình, đâu cần nghĩ đến người tiếp nhận nó sẽ như thế nào
Trong quá trình hiện đại hóa văn học Việt Nam giai đoạn giao thời, Tản
Đà là một tác giả có vị trí đặc biệt Trong bài Công của thi sỹ Tản Đà, Xuân Diệu đã viết: “Tản Đà là người thi sỹ đầu tiên mở đầu cho thơ Việt Nam hiện
đại Tản Đà là người thứ nhất đã có can đảm làm thi sỹ, đã làm thi sỹ một cách đường hoàng, bạo dạn, dám giữ một bản ngã, dám có một cái Tôi”
[9,166] Và từ xưa đến nay, người ta vẫn nhắc tới Tản Đà như một dấu nối giữa hai hệ hình văn học, giữa văn học truyền thống và văn học hiện đại Nhưng độc đáo hơn hết, vẫn là một Tản Đà với những quan niệm và phong cách sáng tác đặc biệt, mới mẻ: “Đem văn chương đi bán phố phường” hay
“Nôm na phá nghiệp kiếm ăn xoàng” Những tuyên ngôn dường như “gây sốc” trong giới sáng tác thời bấy giờ không đơn thuần chỉ là biểu hiện của cái Tôi ngông, sự đề cao vai trò của bản ngã cá nhân, mà chính là sự báo hiệu sự xuất hiện một xu hướng mới, một loại hình tác giả mới với những quan niệm sáng tác mới - loại hình ký giả, văn nhân chuyên nghiệp Và đó cũng là xu thế tất yếu trong quy luật vận động, phát triển và hiện đại hóa văn học Việt Nam giai đoạn giao thời
Là một người đảm lĩnh vai trò đặc biệt đó, Tản Đà, chắc hẳn có những cách tân, phá rào, nhưng cũng có những giới hạn và hạn chế nhất định với vai trò là “gạch nối văn chương” - người đặt ra những nền móng cơ bản với vai trò là tiền đề, là bước đệm ban đầu cho quá trình hình thành và phát triển của văn học Việt Nam hiện đại sau này
Trang 82 Mục đích nghiên cứu
Trong bối cảnh xã hội - lịch sử Việt Nam giai đoạn giao thời, luận văn muốn khẳng định Tản Đà với những đóng góp và công lao to lớn trong vai trò người đi tiên phong, mở đường cho sự hình thành loại hình ký giả, văn nhân chuyên nghiệp Vai trò mở đường ở đây, bao gồm cả những đổi mới, cách tân,
và cả những giới hạn mang tính đặc định của lịch sử trong quá trình phát triển tất yếu của văn học, báo chí Việc giải thích lý do vì sao Tản Đà thất bại với giấc mộng báo chí của mình chính là cách để làm nổi bật những đặc điểm của lịch sử, văn hóa, văn học và báo chí giai đoạn giao thời 30 năm đầu thế kỷ 20, đồng thời cũng để hiểu được tại sao Tản Đà có thể ghi dấu ấn đậm nét của mình trong giai đoạn lịch sử đầy hụt hẫng và biến động ấy
3 Lịch sử vấn đề
Việc nhìn nhận Tản Đà với tư cách là ký giả - văn nhân là một vấn đề đã được một số nhà nghiên cứu đề cập tới Tuy nhiên, đó mới chỉ là những nhận xét mang tính đơn lẻ, nằm trong một hệ thống những nghiên cứu trên những bình diện khác về cuộc đời và sự nghiệp của Tản Đà Chưa có một công trình riêng biệt nào dành riêng cho việc nghiên cứu Tản Đà với vai trò là nhà báo, nhà văn chuyên nghiệp, mặc dù hầu hết đều công nhận ông là người tiên phong, mở đường cho quan niệm “mang văn chương đi bán phố phường” Vai trò ký giả của Tản Đà vì thế chưa được đánh giá đúng với ý nghĩa là một phần quan trọng trong quan niệm cũng như tư tưởng của Tản Đà Nói đúng hơn đó
mới là giấc mơ mà ông theo đuổi để trở thành một “Á Châu Khổng phu tử chi
đồ” chứ không phải chỉ đơn thuần là việc sáng tác thơ văn Khi Tản Đà tuyên
bố: Chữ nghĩa Tây Tàu trót dở dang/Nôm na phá nghiệp kiếm ăn xoàng chính
là lúc ông tuyên bố nhập cuộc với vai trò là một nhà báo chứ không phải một nhà Nho làm thơ như lối đi quen thuộc trong truyền thống Đây là một lựa chọn táo bạo nhưng có chủ định của nhà thơ núi Tản sông Đà về một cách lập
Trang 9công danh mới trong bối cảnh xã hội mà văn chương khoa cử truyền thống đã nhạt màu
Người đầu tiên “phát hiện” và đánh giá cao vai trò nhà báo của Tản Đà chính là Phan Khôi, một trong những nhà báo lớn lúc bấy giờ Điều này càng khẳng định vị thế và ảnh hưởng rất lớn của Tản Đà với tư cách nhà báo Phan Khôi cũng như một thế hệ độc giả thời bấy giờ không khỏi ngạc nhiên và trầm trồ trước lối viết sáng tạo kiểu như “Cái chứa trong bụng thằng người” của
Tản Đà trên Đông Dương tạp chí Ông ngạc nhiên đến mức phải thốt lên:
“Anh Quỳnh anh Vĩnh chỉ viết theo sách, theo tư tưởng của Tây; chứ đến
thằng cha này hắn viết ra tư tưởng của hắn, chính hắn mới là tay sáng tạo”
[62, 43] Tài viết báo của Nguyễn Khắc Hiếu khiến Phan Khôi “như muốn
nằm rạp xuống đất, không dám ngước mặt lên nữa” Phan Khôi còn khâm phục tài làm báo của Tản Đà ở chỗ, nhiều bài báo ông viết cho Hữu Thanh bị kiểm duyệt, không được đăng Còn Tản Đà thì khéo léo hơn nên đều đã “trót lọt”… Điều này cho thấy một chân dung nhà báo Tản Đà lúc ấy, tuy mới xuất hiện, nhưng đã có tiếng tăm lẫy lừng và được đông đảo độc giả đón nhận Tiếp nối Phan Khôi, ngoài việc đề cao tài thơ Tản Đà, Trương Tửu trong bài “Sự thai nghén một thiên tài: Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu” cũng cho rằng, với hoài bão hành đạo, Tản Đà đã bước ra làm báo Nhưng rồi lần lượt với
Hữu Thanh, An Nam tạp chí… ông đều đã thất bại Nguyên nhân của sự thất
bại ấy, theo Trương Tửu, không phải do Tản Đà “không quen với nghiệp doanh thương” mà bởi một căn nguyên sâu xa hơn: Tinh thần lập đức và tính chất hành đạo của Tản Đà Cả hai điều đó đều bắt nguồn trong di truyền và trong cái giáo dục Nho phong mà Tản Đà đã thụ hưởng từ thủa lọt lòng Đây
là một nhận định rất thấu đáo và nêu được đúng bản chất nhà Nho trong con người nhà báo Tản Đà - nó chính là lời giải cho lý do vì sao Tản Đà, từ chỗ
Trang 10xông xáo, hăng hái đến chỗ phải vật lộn rồi mỏi mệt với báo chí, cuối cùng phải chấp nhận thất bại trong cay đắng
Nguyễn Danh Kế trong lời giới thiệu Tản Đà vận văn của nhà xuất bản
Hương Sơn (tháng 11/1944) cũng hết lời ca ngợi ngòi bút của nhà báo Tản
Đà Ông cho rằng, những bài viết của Tản Đà ở Hữu Thanh tạp chí và An
Nam tạp chí là những bài nghị luận về các vấn đề hiện đại và những vấn đề
đạo đức, luân lý, dịch thuật những văn hay lẽ phải ở các sách Nho rất có ích
cho nhân tâm thế đạo Nguyễn Danh Kế nhấn mạnh: “Vì số đông người xem
quốc văn chỉ là xem để giải trí, cho nên những món ấy chưa dễ đã dám sưu tập lại xuất bản ra Nhưng ta phải biết ảnh hưởng của tiên sinh ở đương thời trong phong hóa nước nhà thật là to lớn sâu xa lắm”
Sau Cách mạng tháng Tám, nhiều nghiên cứu cũng tiếp tục nhìn nhận và đánh giá nhiều bình diện khác nhau ở chân dung nhà báo Tản Đà Nghiên cứu được xem là đầy đủ nhất về cuộc đời làm báo của Tản Đà lúc này chính là
Tập 3 trong cuốn Tản Đà toàn tập của người hậu duệ của ông - nhà nghiên
cứu Nguyễn Khắc Xương Tuy nhiên, ngoài những nhận định khái quát ban đầu về việc khẳng định Tản Đà với vai trò chủ báo và ký giả, cuốn sách cũng
chỉ là một tập hợp các tác phẩm tiêu biểu của Tản Đà được đăng trên An Nam
tạp chí, Đông Pháp thời báo cùng những bài viết lẻ trên một số báo khác
Trong nhiều nghiên cứu của mình, GS Trần Đình Hượu cũng khẳng định
và đề cao vai trò của Tản Đà là một nhà Nho đem văn chương bán phố phường Ông khẳng định, viết báo, viết văn với ý nghĩa làm một nghề nghiệp trong xã hội là chuyện mới có đầu thế kỷ 20 ở nước ta Trước đây trong xã hội phong kiến, có nhiều nhà Nho suốt đời làm phú, làm thơ, có nhiều nghệ sỹ chuyên biểu diễn nghệ thuật; triều đình có chức quan chuyên viết văn, nhưng văn nghệ chưa tách khỏi văn thành một ngành nghệ thuật Viết văn chưa
thành một nghề nghiệp “Vào những năm 10 của thế kỷ này, một số người tập
Trang 11hợp quanh Đông Dương tạp chí, Nam Phong tạp chí viết báo, viết văn Xã hội coi họ làm nghề người ký giả, văn sỹ Trong đám ký giả, văn sỹ lúc đó, có người là cựu học, có người là tân học, thái độ chính trị, quan niệm mục đích nghề nghiệp có khác nhau, nhưng họ đều là nhà văn, nhà báo, khác hẳn với nhà Nho làm thơ, làm phú trước đây Tản Đà thuộc thế hệ nhà văn, nhà báo đầu tiên đó” [16, 429] Tản Đà từ một Nhà Nho mà trở thành một nhà văn
chuyên nghiệp Khi ấy, con đường đi của ông chưa phải là bình thường Chính cái không bình thường ấy là điều cần được đề cao và làm nên vị thế của Tản Đà trong lịch sử văn học, báo chí lúc bấy giờ
Tiếp nối vị ân sư của mình, PGS.TS Trần Ngọc Vương trong nhiều nghiên cứu đã khẳng định có một sự thống nhất giữa những mâu thuẫn phức tạp trong con người nhà văn, nhà báo Tản Đà Từ khi Tản Đà cho in những
tác phẩm đầu tiên trên Đông Dương tạp chí (1915), văn đàn Việt Nam như rộ
lên một luồng sinh khí mới Theo PGS.TS Trần Ngọc Vương, Tản Đà từ lúc vừa xuất hiện đã gặp ngay một “nền kinh tế thị trường” trong văn chương
“Cơn gió lạ” trên văn đàn thổi suốt trong Nam ngoài Bắc, làm dấy lên một luồng không khí thưởng thức Tản Đà ở nhiều tầng lớp Nhờ điều kiện giao lưu và truyền bá văn học mới, Tản Đà là người đầu tiên trong lịch sử văn học tìm được một lượng độc giả khổng lồ trong một thời gian kỷ lục “Điều kiện mới” mà PGS.TS Trần Ngọc Vương nhắc tới, chính là sự xâm nhập của báo chí phương Tây vào Việt Nam trong giai đoạn giao thời lúc bấy giờ
Những nghiên cứu, đánh giá trên đã khắc họa chân dung nhà báo Tản Đà rất sinh động trên nhiều bình diện khác nhau Tuy nhiên, điều đáng tiếc là chưa có một công trình nào hệ thống hóa một cách chi tiết và rõ ràng những chặng đường báo chí gian nan và đầy phức cảm ấy của Tản Đà Chính điều đó
đã gợi mở cho chúng tôi tiến hành luận văn này với những hướng nghiên cứu
Trang 12sâu hơn về chân dung nhà báo Tản Đà với những khắc họa đầy đủ và đậm nét hơn
4 Phạm vi đề tài
Sáng tác của Tản Đà phong phú, đa dạng, bao gồm nhiều thể loại, trên cả địa hạt văn chương và báo chí Các thể loại đều có những đóng góp riêng trong vai trò khẳng định vai trò tiên phong, mở đường của Tản Đà giai đoạn giao thời Tuy nhiên, trong phạm vi luận văn, chỉ xin bước đầu có những nghiên cứu, đánh giá khái quát trên cơ sở những sáng tác quan trọng của nhà
thơ trên một số báo như Đông Dương tạp chí, Nam Phong tạp chí, An Nam
tạp chí và những nhận định cơ bản của các nhà nghiên cứu về Tản Đà
5 Phương pháp nghiên cứu
Đặt vấn đề về Tản Đà với vai trò mở đường cho sự hình thành loại hình
ký giả, văn nhân chuyên nghiệp giai đoạn giao thời, phương pháp tiếp cận chủ yếu của luận văn là phương pháp nghiên cứu loại hình học tác giả văn học Ngoài ra, chúng tôi cũng sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu khác như phương pháp lịch sử, phương pháp so sánh, đối chiếu… nhằm làm nổi bật vai trò, giới hạn của Tản Đà ở cả hai tư cách mới: Ký giả - văn nhân chuyên nghiệp
6 Đóng góp mới của luận văn
Với cách tiếp cận khoa học, luận văn cố gắng đem đến những lý giải đầy
đủ và có sức thuyết phục, sâu sắc trong việc nhìn nhận hiện tượng Tản Đà trong tính thống nhất giữa những mâu thuẫn, phức tạp trong nội tại của nó,
nhằm làm nổi bật quá trình phát triển có tính bước ngoặt của văn học và báo
chí giai đoạn giao thời
Đặc biệt, đề cập đến Tản Đà với phương thức hành xử mới trước thời cuộc - dấn thân vào địa hạt báo chí với giấc mơ xác lập công danh bằng con
Trang 13đường mới, luận văn cũng bàn đến bài học về cách thức ứng xử của một cá nhân khi gia nhập một xã hội dân sự trong một giai đoạn xã hội phức tạp và nhiều biến động
7 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: “Giấc mộng báo chí” của Tản Đà
Chương 2: Vai trò của báo chí, nhà xuất bản và sự hình thành loại hình
ký giả - văn nhân chuyên nghiệp giai đoạn giao thời
Chương 3: Khảo sát mục “Việt Nam nhị thập thế kỷ Xã hội thiển đàm”
và “Việt Nam nhị thập thế kỷ Ba đào ký”
Trang 14B PHẦN NỘI DUNG
Chương 1: “Giấc mộng báo chí” của Tản Đà
Cùng với những “Giấc mộng con”, “Giấc mộng lớn”, Tản Đà còn có một giấc mộng khác, rất hiện thực chứ không phải chỉ là mây gió, trăng hoa hay những giai nhân, người đẹp nơi bồng lai tiên cảnh Đó chính là giấc mộng báo chí Giấc mộng ấy chiếm hầu hết sự nghiệp sáng tác của Tản Đà và là cách để ông mong muốn khẳng định, xác lập được vị trí xã hội mới của mình trong bối cảnh văn chương khoa cử truyền thống đã nhạt nhòa, không còn nhiều sức cuốn hút như trước Việc Tản Đà dốc hết tâm sức vào báo chí cho thấy khát vọng rất lớn cũng như ý thức khá rõ ràng của ông về vai trò, sức mạnh của báo chí trong bối cảnh xã hội mới Để làm sáng tỏ nhận định này, chúng tôi đã tiến hành khảo sát sự nghiệp báo chí của Tản Đà theo trục thời gian và những biến cố lớn trong cuộc đời, nhằm làm nổi bật và hiểu rõ hơn những phức cảm
đa chiều trong tư tưởng cũng như sáng tác của Tản Đà
1.1 Con đường làm báo của Tản Đà
Cuộc đời làm báo của Tản Đà là một hành trình có nhiều biến động, đứt gãy Việc tái hiện toàn bộ quá trình này sẽ cho thấy những diễn biến phức tạp
và đa chiều trong quan niệm, tư tưởng của nhà báo Tản Đà cũng như những biến thiên mang tính tất yếu của lịch sử văn học, báo chí phương Tây trong buổi đầu xâm nhập vào Việt Nam
Có thể khái quát chặng đường làm báo của Tản Đà theo 3 giai đoạn:
* Khởi sự (từ năm 1913-1915)
Đây là thời kỳ ngọn lửa đam mê báo chí trong ông bắt đầu hình thành và nhen nhóm Tản Đà có những sáng tác đầu tiên được đăng báo và nó là khởi đầu cho những thành công và cả những thất bại của ông sau này
Năm 1913, Tản Đà bắt đầu “bén duyên” với báo giới Ông được Nguyễn Văn Vĩnh - một tri thức Tây học, cũng là cái tên có tiếng trong làng báo bấy
Trang 15giờ mời làm cộng sự trên Đông Dương tạp chí Những sáng tác của ông được
in thành một mục riêng Một lối văn nôm, sau đổi thành mục Tản Đà văn tập
Những bài báo của “ký giả” Tản Đà ngay lập tức chiếm được cảm tình của độc giả, tên tuổi của ông nhanh chóng có được tiếng vang trên văn đàn
Năm 1915, Tản Đà lấy vợ là bà Nguyễn Thị Tùng, con gái một người tri
huyện ở Hà Đông Những tác phẩm của ông trên Đông Dương tạp chí vẫn
tiếp tục là một “hiện tượng” và Tản Đà nhanh chóng có một lượng lớn độc giả hâm mộ Năm 1916, ông lấy bút danh Tản Đà là tên ghép giữa núi Tản, sông
Đà, và chính thức chọn con đường của một người viết văn, làm báo chuyên
đó và nó như một con đường đã được vạch sẵn Tản Đà dường như không có
sự lựa chọn nào khác Ông đã dấn thân vào nó với một khát vọng, niềm đam
mê vô tận của một người cầm bút
Ngược dòng thời gian một chút, Tản Đà hỏng khoa thi năm 1912, khi ấy ông mới 23 tuổi Đó là cái tuổi còn rất trẻ để tiếp tục sự nghiệp thi thố, học hành để lập thân, thành danh bằng con đường khoa cử Nhưng lúc bấy giờ, khoa cử truyền thống cũng đã trở nên bèo bọt Dư âm của cái cũ vẫn còn nhưng sức hấp dẫn của cái mới, của những luồng tư tưởng, văn hóa mới thâm nhập từ phương Tây cũng rất mạnh nên Tản Đà mới bộc lộ một thái độ ỡm ờ với lối nói úp úp mở mở rất… Tản Đà:
Trang 16“Rủ nhau quang gánh với đời
Mà cho thiên hạ chê cười cũng hay”
“Chê cười” là vì chắc chắn có người dèm pha cách ông đi trái với con đường cũ Nhưng cũng có người hưởng ứng, nên mới có chuyện “rủ nhau”, và
nó hẳn là một thứ có ý nghĩa tích cực và có danh giá nên mới nói là “quang gánh với đời”, nên “chê cười” mà… vẫn hay
Hay cách nói ngông nghênh:
“Còn trời, còn đất, còn non nước Còn có văn chương bán phố phường”
Cũng biểu hiện một thái độ muốn thi thố, muốn thể hiện tài năng của mình ở một lĩnh vực mới và rõ ràng ông ý thức rất rõ được tài năng của mình nên mới dùng những mệnh đề so sánh rất lớn lao như: Còn trời/Còn đất/Còn non nước để đối với “Còn có văn chương bán phố phường” Thế mới thấy văn chương trong cách nghĩ của Tản Đà không hề bèo bọt mà rất có giá và có một sức sống, sức mạnh nhất định, ngay cả khi vật đổi sao đời, đặt trong bối cảnh lúc bấy giờ là những biến thiên của bối cảnh xã hội nhiều biến động
Giấc mộng báo chí của Tản Đà rõ ràng không phải chỉ là ước mong có một chiếc cần câu cơm Hơn thế, nó là mộng ước được khẳng định mình bằng một thái độ tự tin và tự hào về tài năng của bản thân Đó là lý do vì sao sau
này, ông khước từ lời mời cộng tác của Nguyễn Văn Vĩnh cho tờ Trung Bắc
Tân văn - hành động mà nhiều người cho là gàn, dở, nhưng thực chất là họ
chưa có đủ “trình độ” để hiểu ông Nguyễn Văn Vĩnh yêu cầu Tản Đà viết mỗi tháng 4 bài xã thuyết, 4 bài thơ Tiền nhuận bút mỗi bài xã thuyết là mười lăm đồng, mỗi bài thơ là mười đồng Số tiền ấy với cảnh túng quẫn của Tản
Đà không hề nhỏ Nhưng ông đã dứt khoát từ chối cơ hội đầy hấp dẫn ấy Lý
do là bởi ông muốn “tự mình chủ trương một cơ quan ngôn luận”: “Cơ quan
ngôn luận đó sẽ hoàn toàn thực hành những quan niệm về văn chương, sẽ
Trang 17trình bày những lý tưởng của mình noi theo với quốc dân, chứ nếu mình viết giúp cho một cơ quan khác, thời mình chỉ là phụ thuộc vào cơ quan đó, lẽ tất nhiên những tư tưởng, quan niệm riêng về xã hội, văn chương, sẽ không thể làm theo như ý muốn của mình được Vả lại ông Nguyễn Văn Vĩnh, lúc đó là một nhà văn ra đời trước, đã có tiếng, nếu tôi viết cho tờ báo ông thời dư luận của độc giả bên ngoài không khỏi cho tôi là đi theo để ăn cánh với ông
Đó là một điều mà tôi kỵ nhất” [29,17]
* Thời kỳ vinh hiển (1916-1926)
Từ năm 1916 đến năm 1926 là những năm tháng rực rỡ và thành công nhất của Tản Đà Ông lao vào sáng tác, viết văn, làm báo Năm 1915, cuốn sách đầu tiên của Tản Đà được xuất bản, gây tiếng vang lớn, đó là tập thơ
Khối tình con I
Sau thành công đó, ông viết liền cuốn Giấc mộng con (cho in năm 1917)
và một số vở tuồng: Người cá, Tây Thi, Dương Quý Phi, Thiên Thai (diễn lần
đầu năm 1916 tại Hải Phòng)
Năm 1917, Phạm Quỳnh sáng lập ra Nam Phong tạp chí, và bài của Tản
Đà có trên tạp chí này từ số đầu tiên Năm 1918, Phạm Quỳnh ca ngợi cuốn
Khối tình con I và phê phán cuốn Giấc mộng con I, cả khen lẫn chê đều dùng
những lời lẽ sâu cay, biến Tản Đà trở thành một hiện tượng trên văn đàn Sau
bài phê phán tư tưởng của "Giấc mộng con", Tản Đà thôi cộng tác với Nam
Phong tạp chí và mở một số cuộc hội đàm để chống lại những lời phê phán
đó, sự kiện này cũng được nhiều giới quan tâm Việc Tản Đà thôi cộng tác với
Nam Phong tạp chí thể hiện rất rõ quan điểm, lập trường báo chí riêng của
ông Tản Đà không cậy cục, không nhún nhường ai và muốn làm báo theo cách riêng của mình Đó không phải chỉ là nơi để ông có thể múa bút sáng tác, thể hiện tài năng của mình mà còn là cách để ông đánh dấu, khẳng định chỗ đứng của mình trong xã hội Tản Đà không có quan niệm “lập thân” phải “lụy
Trang 18thế”, một quan niệm của thời hiện đại nhưng không phải không tồn tại ngay từ buổi giao thời tranh tối tranh sáng với sự lập lờ giữa hai thế lực cũ và mới Bởi vậy, việc Phạm Quỳnh phê phán Tản Đà nghiễm nhiên là một lý do chính
đáng để Tản Đà thôi cộng tác với Nam Phong tạp chí và tìm một chỗ đứng
cho riêng mình
Từ 1919 tới 1921, Tản Đà viết một loạt sách; truyện thì có "Thần tiền",
"Đàn bà Tàu" (1919); sách giáo khoa, luân lý thì có "Đài gương", "Lên sáu" (1919), "Lên tám" (1920), thơ thì có tập "Còn chơi" (1921) Thời kỳ này ông quen với một nhà tư sản nữa là ông Bùi Huy Tín, cùng nhau du lịch khắp Bắc,
Trung kỳ và làm chủ bút Hữu thanh tạp chí Đây là cơ quan ngôn luận của
“Bắc kỳ công nông thương tương tế” Nhưng Tản Đà chỉ làm chủ bút được 6 tháng rồi từ chức vì bất đồng ý kiến với nhóm sáng lập về tôn chỉ, mục đích của tờ báo
Báo chí đến thời của Tản Đà nở rộ với nhiều xu hướng, quan điểm và cách thức tồn tại riêng Có thể chia những người làm báo thời này làm ba dạng Một là những người chủ trương dùng báo chí để làm cách mạng như Phan Bội Châu, Huỳnh Thúc Kháng Hai là những người làm báo dưới sự quản lý, điều hành của thực dân Pháp, thực chất là ôm chân chính quyền, xu nịnh để được lợi Ba là những người làm báo kiểu Tản Đà Tức là những người không thành danh trên con đường học hành, khoa cử nhưng lại ý thức rất rõ về tài năng của mình và coi nó như một con đường để lập công danh, ghi dấu tên tuổi của mình bằng sự nghiệp báo chí Tương ứng với 3 loại người làm báo đó là 3 loại hình báo chí: Báo chí tư nhân, báo chí chính thống của chính quyền thực dân Pháp và báo chí của các hội, tổ chức đoàn thể chính trị -
xã hội mà “Bắc kỳ công nông thương tương tế” và Hữu Thanh tạp chí như
vừa kể trên là một ví dụ Nhưng rõ ràng, Tản Đà chỉ có thể làm ở một tờ báo phi chính trị hóa, tức là không chịu ảnh hưởng, tác động của những quan điểm
Trang 19chính trị - xã hội nào Mặt khác, Tản Đà, một mặt nhận thấy rõ những ưu điểm, những thành tựu của xã hội Âu Mỹ nhưng ông không chủ trương hợp tác với Pháp, không dùng báo chí để xu nịnh, ve vuốt theo những toan tính của chính quyền thực dân Tính cách Tản Đà cũng như con đường báo chí mà ông lựa chọn là hoàn toàn khác với những tờ báo đương thời, bởi vậy những
bất đồng quan điểm của Tản Đà với Nam Phong tạp chí, Hữu Thanh tạp chí như trên là điều hoàn toàn dễ hiểu Và do đó, sự ra đời của An Nam tạp chí
sau này cũng chính là cách để Tản Đà chứng tỏ và khẳng định rõ ràng hơn quan điểm, cách thức làm báo mà ông lựa chọn cho riêng mình trong thời điểm nhiều biến động xã hội lúc bấy giờ
Năm 1922, Tản Đà thành lập "Tản Đà thư điếm" (sau đổi thành "Tản Đà
thư cục"), đây là nhà xuất bản riêng đầu tiên của ông Tại đây, đã xuất và tái
bản hết những sách quan trọng trong sự nghiệp của Tản Đà; "Tản Đà tùng văn" (tuyển cả thơ và văn xuôi, trong đó có truyện "Thề Non Nước", 1922);
"Truyện thế gian" tập I và II (1922), "Trần ai tri kỷ" (1924), "Quốc sử huấn nông (1924), và tập "Thơ Tản Đà" (1925) Ngoài ra thư cục này còn cho xuất bản sách của Ngô Tất Tố, Đoàn Tự Thuật Những thư điếm, thư cục, ấn quán… thời kỳ này cũng nở rộ và là nơi khai sinh ra nhiều tác phẩm văn học nghệ thuật có giá trị Sự ra đời của nhà xuất bản cũng như báo chí ở giai đoạn này, đóng vai trò là bà đỡ cho hầu hết các tác phẩm văn học và có vai trò quan trọng trong quá trình hiện đại hóa văn học buổi giao thời
Sự chia tay với Hữu Thanh tạp chí đã khiến Tản Đà nghĩ đến việc phải
thành lập một tờ báo của riêng mình Đó sẽ là nơi ông thể hiện được lý tưởng,
chí nguyện của mình với sự nghiệp làm báo Tháng 7/1926, Tản Đà cho ra đời
An Nam tạp chí số đầu tiên, tòa soạn ở phố Hàng Lọng
* Từ khi “An Nam tạp chí” ra đời đến năm Tản Đà mất (1939)
Trang 20Sự ra đời của An Nam tạp chí, tờ báo mà Tản Đà dành hết tâm huyết, đã
bắt đầu quãng đời lận đận của ông Đây là tờ báo gắn với sự nghiệp của Tản
Đà, đồng thời chiếm nhiều trang, nhiều bài viết nhất trong sự nghiệp báo chí
của nhà thơ Trong điều kiện mới, An Nam tạp chí chính là phương tiện để
Tản Đà thực hiện lý tưởng lớn lao của mình với đất nước, điều mà ông đã không thể làm được khi không thành danh bằng khoa cử Bởi vậy mà năm
1927, khi lãnh tụ Nguyễn Thái Học của Việt Nam quốc dân Đảng đến bàn với
ông về việc dùng An Nam tạp chí như một cơ quan ngôn luận để đấu tranh và
tuyên truyền, ông đã vui vẻ chấp nhận không điều kiện Nhưng rồi, bản giao kèo mà Nguyễn Thái Học đưa ra đã vô tình chạm vào lòng tự ái của Tản Đà, nên việc lớn đã không thành Nhiều người tỏ ra tiếc nuối về điều này, nhưng thực chất, đó là điều không thể tránh khỏi khi tính tình và phong cách của Tản
Đà và Nguyễn Thái Học là hoàn toàn khác nhau: một bên làm việc tùy hứng, một bên theo đường lối chủ trương
Ngoài An Nam tạp chí, Tản Đà còn cộng tác với nhiều báo khác như:
Đông Pháp thời báo, Sống, Văn học tạp chí, Tiểu thuyết thứ Bảy, Thanh Nghệ Tĩnh, Phụ nữ tân văn, Phụ nữ thời đàm… Tuy nhiên, trong luận văn này,
chúng tôi chủ yếu đi sâu vào mối quan hệ giữa Tản Đà và An Nam tạp chí
Nhìn lại toàn bộ hành trình làm báo của Tản Đà, có thể thấy ông vẫn mang nặng phong cách của một nhà Nho làm báo Chính điều này đã tạo nên một Tản Đà - ký giả không giống ai và con đường làm báo của ông cũng lênh đênh, lận đận với không ít những ba đào Với vai trò một ký giả, ông mang trong mình nhiều hoài bão to lớn về việc dùng báo chí để gánh vác những sứ mệnh to lớn của quốc dân Trong bối cảnh lịch sử lúc bấy giờ, báo chí giống như một cứu cánh, một luồng gió mới mát lành để Tản Đà có thể thỏa sức vẫy vùng và bày tỏ những quan niệm cá nhân, những thái độ xã hội của mình, điều mà trước đây các nhà Nho vẫn thường phải giấu vào trong hoặc ẩn ý
Trang 21trong những câu thơ, những hình ảnh mang tính ước lệ tượng trưng Với báo
chí, Tản Đà giống như một con người được nói và phải nói hết những cá tính,
những tâm sự thời cuộc trước những điều mắt thấy tai nghe Đó là một lợi thế của báo chí so với các loại hình văn chương trước đây Tản Đà ý thức rõ được điều đó và muốn sử dụng sức mạnh của báo chí như một “cơ quan tiến thủ của quốc dân” - cách ông vẫn thường nói về báo chí trong hầu hết những bài viết của mình
Tuy nhiên, con đường làm báo với Tản Đà cũng chính là hành trình trải nghiệm với chính bản thân ông Những vấp ngã, những hạn chế mang tính đặc định của lịch sử và của chính bản thân ông, thực ra, là không thể tránh khỏi
Dễ hiểu tại sao từ một ký giả với những háo hức, mê say thủa ban đầu dần dần thay vào đó là những trầm lắng, suy tư và những khoảng lặng mang tính trải nghiệm về nghề báo, về cuộc đời Tuy nhiên, ngọn lửa nhiệt huyết của ông với báo chí, cho đến tận cuối đời, vẫn chưa bao giờ tắt Một tờ báo ra đời rồi lại liên tiếp đình bản đến 6 lần trong vòng 8 năm đủ thấy những khó khăn
và cả những nỗ lực lớn lao của Tản Đà trong việc gây dựng một tờ báo với những quan niệm của riêng mình, do mình làm chủ và đi theo những đường hướng, tiêu chí của riêng mình Tuy nhiên, có một điều cần nhấn mạnh rằng,
ở bất kỳ thời nào, mục đích cũng như tiêu chí hoạt động của một tờ báo cũng chịu những ảnh hưởng, những tác động nhất định của xã hội và phản ảnh
những quan niệm xã hội nhất định của thời ấy An Nam tạp chí của Tản Đà
cũng không nằm ngoài quy luật ấy Bởi thế, Tản Đà không thể lái con thuyền báo chí của mình đi ngược dòng Ông như một người độc hành với con thuyền độc mộc mải miết ngụp lặn giữa biển khơi mênh mông, mong tìm được một ngọn hải đăng để dẫn dắt mình đi đến một bến bờ Người thuyền trưởng ấy, cuối cùng, đã không thể đi đến tận cùng con đường của mình Ông
đã bị mắc cạn, không chỉ một mà rất nhiều lần, và cuối cùng đành phải ôm
Trang 22mộng bỏ dở giữa chừng Nhưng ông vẫn là người có một vai trò vô cùng quan trọng trong việc khai phá, mở mang một con đường mới, một cách đi mới Những trải nghiệm báo chí của ông với nhiều thác ghềnh, giông bão đã cho những người cùng thời với ông và những người đi sau bài học cần thiết để trang bị cho mình đầy đủ những kiến thức cho nghề báo Sự thất bại của Tản
Đà là một thất bại đau xót của cả một cuộc đời đắm mình trong nghề nhưng đến cuối đời vẫn không thể hiểu vì sao mình lại thất bại Nhưng nó chính là tấm gương phản chiếu của thời đại, của lịch sử để người làm báo thời sau có thể soi vào và nhận ra đâu là con đường đúng đắn nhất
Báo chí mang đến cho Tản Đà nhiều thứ nhưng cũng lấy đi của ông nhiều điều Tuy nhiên, so sánh được - mất ở đây thực chất chỉ có ý nghĩa là những
đánh giá cảm quan Bởi với một người đã nặng gánh văn chương, “Chữ nghĩa
Tây Tàu trót dở dang/Nôm na phá nghiệp kiếm ăn xoàng” thì những đong
đếm ấy không nằm trong suy nghĩ của ông Mới nghe, cứ ngỡ Tản Đà khiêm nhường, hạ thấp mình Nhưng thực tình, đó là cách nói ngạo nghễ rất Tản
Đà Cách nói “Chữ nghĩa Tây Tàu trót dở dang” cũng là cách ông tự phụ,
hơn người bởi vốn chữ nghĩa, hiểu biết và năng lực của mình Ông ý thức rất
rõ về điều đó và bởi vậy, “Nôm na phá nghiệp kiếm ăn xoàng” cũng là cái
mộng lớn của ông về con đường mới mà ông tự hào là người tiên phong - nên mới có chữ dùng là “phá nghiệp” Bản thân chữ “nghiệp” đã cho thấy giấc mộng của ông không hề nhỏ và “xoàng” như ông đã nói Điều ông thực sự trăn trở, quan tâm và ngày đêm suy tư là làm sao gây dựng được một tờ báo theo những đường hướng, tôn chỉ, mục đích của riêng mình
Cuộc đời làm báo của Tản Đà được tái hiện khá đầy đủ qua câu chuyện của những người đương thời với ông, cũng là những bạn văn hoặc những văn sỹ- ký giả trưởng thành từ sự dẫn dắt và ảnh hưởng của Tản Đà Đó là những ghi chép, những hồi ký lượm lặt nhưng lại cho thấy bức tranh khá chân thực
Trang 23về hành trình làm báo đầy vất vả, long đong của ký giả Tản Đà khi ông chủ
trương xây dựng một cơ quan ngôn luận riêng của mình - An Nam tạp chí
trong buổi đầu báo chí vào Việt Nam
Việc Tản Đà quyết định “bỏ bút lông cầm bút sắt” và trở thành một ký giả lúc bấy giờ là một hiện tượng lạ, một sự va đập mạnh với lối đi truyền thống, trong khi chính ông cũng là một con nòi của nền cựu học Bởi vậy, không mấy ngạc nhiên khi “hiện tượng Tản Đà” trở thành tâm điểm chú ý lúc bấy giờ với những việc làm “không giống ai” Có thể thấy điều đó qua lời kể
của Lưu Trọng Lư trong hồi ký “Bây giờ đây, khi nắp quan tài đã đậy lại”:
“Năm 1932, tôi ra Hà Nội học Một hôm đi qua phố Hàng Da, tôi thấy có
bảng treo mấy chữ: An Nam tạp chí Tôi thường được nghe người ta nói đến cái ông chủ nhiệm dị thường của tờ tạp chí khác đời ấy” Lúc bấy giờ, Tản
Đà được Lưu Trọng Lư coi như “một vị sứ giời sai xuống, hay là bị đày
xuống cõi trần gian để làm một anh nhà nho ngông, một nhà thi sĩ nghèo, một ông chủ báo phiêu bạt, làm cái ông Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu, mà khắp trần gian đều khét tiếng” [62, 35] Chỉ qua mấy dòng ngắn ngủi ấy thôi cũng thấy
tiếng tăm của Tản Đà khi ấy lừng lẫy như cồn Nhưng ông chủ báo Nguyễn Khắc Hiếu cũng nổi tiếng với lắm sự lôi thôi, rắc rối với cung cách làm báo ngật ngưỡng, chẳng giống ai Vậy nên mới có chuyện chàng thi sĩ Lưu Trọng
Lư đợi để “yết kiến” ông chủ báo mà 8 giờ sáng thì ông đang ngủ Mười giờ trở lại, thi sĩ núi Tản sông Đà vẫn chưa dậy Mười một giờ, ông vẫn còn giấc Hai rưỡi chiều, Tản Đà mới dậy và ngồi vào chiếu rượu Bốn giờ chiều, ông mới hạ đũa Cả ngày chuếnh choáng với hơi rượu, đến đêm ông mới chong
đèn viết báo Nhưng cũng có khi, vì rượu mà An Nam tạp chí cũng chẳng có
bài để in Cái cung cách làm báo tùy tiện, tùy hứng ấy chịu ảnh hưởng thâm căn cố đế từ chính cốt lõi nhà Nho trong con người ông Và nó hoàn toàn trái ngược với phong cách làm báo từ nơi khởi nguyên của báo chí là phương Tây
Trang 24Mặt khác, buổi đầu của báo chí phương Tây chính là tin tức Và bản chất của báo chí cũng chính là tin tức Nhưng khi vào nước ta, gặp một đội ngũ những nhà Nho chuyên làm văn như Tản Đà, nó được tiếp nhận theo một lối khác nên tính tin tức đã giảm đi và tính văn học đã được tăng lên, hình thành một đội ngũ những người làm báo văn nghệ Đó chính là đặc điểm nổi bật của báo chí trong buổi đầu xâm nhập vào Việt Nam những năm đầu thế kỷ 20
Quãng đời làm báo lận đận của Tản Đà còn được kể lại qua hồi ký “Tản
Đà ở Nam Kỳ” của Ngô Tất Tố Với nỗi đau vì sự thất bại của An Nam tạp
chí ở phố Hàng Lọng, Hà Nội, Tản Đà khăn gói vào Nam để ôm mộng gây
dựng An Nam tạp chí ở trong Nam, những mong môi trường mới có phần dân
chủ và rộng mở hơn nơi đây có thể giúp ông thực hiện được mộng ước của mình Nhưng Tản Đà đã lầm Ty kiểm duyệt trong ấy đã không nhận kiểm
duyệt bài của một tờ báo ngoài Bắc, An Nam tạp chí không thể ngụ cư trong
đó Vậy là Tản Đà lại phải cùng với thầy đồ Ngô làm trợ bút cho mục văn
chương của Đông Pháp thời báo do Diệp Văn Kỳ phụ trách
Càng những năm cuối đời, Tản Đà càng trở nên lạc lõng giữa cuộc đời và giấc mơ của ông cũng càng trở nên xa vời Ông phải xoay đủ nghề để kiếm sống và từ một người nổi danh tài tử, ngông nghênh, ông quay dần về với mô
hình đạo đức truyền thống Tản Đà mở lớp Hán văn diễn giảng và Quốc văn
hàm thụ, quảng cáo Hà lạc lý số (trên báo Ngày Nay) và tiếp tục dịch thơ
Đường với món nhuận bút bèo bọt là 5 đồng bạc “Hễ ra báo, thấy có bài của
mình, tiên sinh liền đến ngay tòa soạn Khái Hưng cấp cho tiên sinh một phiếu xuất, tiên sinh cầm đến quỹ lãnh tiền Đó là theo nguyên tắc Song nào phải đến là nhận được ngay phiếu, lãnh được ngay tiền Có khi tiên sinh phải chờ hàng giờ nơi phòng đợi hoặc trước cửa quỹ!” [62, 107]
Trang 251.2.Tản Đà và An Nam tạp chí
An Nam tạp chí ra đời năm 1926 Đây là tờ báo ông gửi gắm rất nhiều
hoài bão Nó thể hiện tập trung nhất những đặc điểm, quan niệm báo chí của
ký giả Tản Đà Nó cũng bộc lộ rất rõ ràng những hạn chế của một nhà Nho làm báo Tờ báo có một đời sống rất lận đận Chỉ trong vòng 8 năm, nó đã bị đình bản tới 6 lần Điều này cho thấy những bế tắc của ký giả Tản Đà trong bối cảnh xã hội lúc bấy giờ Tuy nhiên, trong những quãng thời gian tồn tại ngắn ngủi, đứt quãng, tờ báo vẫn chiếm được một vị trí nhất định trong lòng độc giả và sự tồn tại của nó có vai trò quan trọng trong tiến trình phát triển của lịch sử báo chí nước nhà Có thể nói, đây là một giai đoạn quá độ của báo chí trong bối cảnh xã hội chuyển từ xã hội cũ sang xã hội mới, với sự xâm nhập của những luồng văn hóa, tư tưởng mới từ Phương Tây
Có thể tóm tắt quá trình phát triển lận đận của Tản Đà cùng An Nam tạp
chí như sau:
1/7/1926, An Nam tạp chí ra số đầu tiên tại phố Hàng Lọng, Hà Nội, khi
Tản Đà 38 tuổi Có thể thấy rõ quyết tâm cũng như khí thế hừng hực của ông
chủ bút trong những ngày đầu An Nam tạp chí ra mắt:
Non sông thề với hai vai Quyết đem bút sắt mà mài lòng son
Dư đồ rách nước non tô lại Đồng bào xa trai gái kêu lên Doanh hoàn là cuộc đua chen Rồng tiên phải giống ngu hèn mà cam (Xuân sầu)
38 tuổi, sau biết bao vất vả, long đong với vai trò cộng tác với các tờ báo, Tản Đà thỏa chí nguyện khi lập được tờ báo của riêng mình Bởi vậy, dễ hiểu
vì sao bài thơ lại có giọng phấn khởi, hào hứng và hân hoan đến vậy Tản Đà coi đó như cách để ông xác lập công danh và mong muốn làm được điều có
Trang 26ích cho xã hội nên câu thơ giống như lời nguyện ước của một đấng anh hùng,
hào kiệt muốn gánh vác nghiệp lớn: Non sông thề với hai vai/quyết đêm bút
sắt mà mài lòng son Tản Đà ví mình làm An Nam tạp chí như việc bồi lại bức
dư đồ rách Đó chính là giấc mộng báo chí hay cũng chính là giấc mộng công danh mà bấy lâu ông hằng đeo đuổi Điều đó cho thấy Tản Đà ý thức rất rõ về vai trò, sức mạnh của báo chí lúc bấy giờ Khi các cuộc cách mạng đã vào giai đoạn thoái trào, xu hướng cứu nước theo chủ nghĩa Đông Du, Duy Tân hay
Đông Kinh nghĩa thục bộc lộ nhiều hạn chế, Tản Đà coi An Nam tạp chí là
cách để ông nhập cuộc với xã hội mới và hơn thế, ông tự mang trong mình trọng trách gánh vác giang sơn trong bối cảnh mới Chính với tư tưởng chỉ đạo ấy mà tờ báo có tên An Nam Không những thế, ông đặt cho tờ báo danh hiệu “Cơ quan tiến thủ của quốc dân” và khẩu hiệu “Quốc dân An Nam - Tạp chí An Nam” Với ý nghĩa ấy, Tản Đà tin tưởng và không ngần ngại hô hào, kêu gọi mọi người tham gia, hưởng ứng cùng với mình “bồi lại bức dư đồ rách” Tuy nhiên, ông cũng ý thức được những khó khăn sẽ phải trải qua, nên
ở câu cuối, chủ báo An Nam hạ bút: Doanh hoàn là cuộc đua chen/Rồng Tiên
phải giống ngu hèn mà cam
An Nam tạp chí ra tới số 10 thì đình bản (tháng 3/1927) Tản Đà vào Sài
Gòn gặp Diệp Văn Kỳ và với một trăm đồng bạc, ông ra Bắc trang trải công
nợ rồi vào Sài Gòn phụ trách trang văn chương của Đông Pháp thời báo Năm 1930, Tản Đà 42 tuổi, An Nam tạp chí tái bản ở Bờ Hồ (nay là phố Đinh Tiên Hoàng, Hà Nội) Khi tờ báo ra đời, Tản Đà có lời cảm tác: “Năm
xưa Đinh Mão ta ngơi/ Năm nay Canh Ngọ ta thời lại ra” Nhưng lần này,
cũng chỉ ra được 3 số Tờ báo ra lần thứ 2, Tản Đà vẫn rất mực tin tưởng vào con đường mình đi “Năm xưa Đinh Mão ta ngơi” cũng là cách nói rất Tản
Đà Chữ “ngơi” là một từ dùng rất đắt Ông coi việc tờ báo bị đình bản chỉ như một sự ngừng nghỉ, một chặng dừng chân trên con đường hoạn lộ của
Trang 27mình Và rồi như một lẽ dĩ nhiên, ông lại đường hoàng, đĩnh đạc: Năm nay
Đinh Ngọ ta thời lại ra
An Nam tạp chí ra lần 3 tại Phố Khách, Nam Định từ số 14 đến số 21
(tháng 12/1930 - tháng 4/1931)
Năm 1932, An Nam tạp chí ra lần 4 ở phố Hàng Khoai, Hà Nội
Trong bài “Bức thư đưa người có quen biết”, An Nam tạp chí số 27,
1932, Tản Đà đã thuật lại quá trình làm báo 15 năm nhiều gian truân của mình qua những lời tâm sự với “cố nhân”
“Báo quán đêm thanh, điện đăng lửa sáng; một mình tựa ghế, đối bóng nhớ người xưa Hồi tưởng mới ngày nào bài văn đánh bạn in ra ở Đông Dương tạp chí, rồi đến Khối tình con xuất bản, rồi đến báo Hữu Thanh ra đời
ở Mã Vỹ, rồi đến Tản Đà thư cục tiến hành ở Hàng Bông, rồi đến An Nam tạp chí lần thứ nhất cờ biển ở Hàng Lọng, rồi đến Đông Pháp thời báo ở Nam Kỳ
có phụ trương văn chương, rồi đến Giấc mộng lớn ấn hành ở Hải Phòng, rồi đến An Nam tạp chí ra lần thứ hai ở Bờ Hồ Hoàn Kiếm, ra lần thứ ba ở phố Khách Nam Định, cho đến nay Báo quán an định ở Hàng Khoai”
Thơ văn từ thủa ra đời
Mười lăm năm đã với người tương tri trí!
Câu thơ này thể hiện rất rõ giấc mộng của Tản Đà Giấc mộng ông ôm
ấp, đeo đuổi những 15 năm và ví nó như không chỉ là một bóng hình mơ
màng chỉ có mộng mơ và nhan sắc mà là người tương tri 15 năm, Tản Đà đã
trải qua bao thăng trầm với nghề cầm bút Trải qua 4 tờ báo, long đong khắp trong Nam ngoài Bắc, từ Hà Nội tới Nam Định, Hải Phòng rồi Sài Gòn, con đường làm báo của Tản Đà thật lắm nhọc nhằn Nhưng kể lại quãng thời gian
ấy, Tản Đà vẫn nhớ như in bài báo đầu tiên, rồi thuật lại rành mạch từng sự kiện, từng địa danh mình đặt chân trong cuộc đời làm ký giả - văn nhân của mình Điều đó cho thấy, làm báo với ông không phải là một con đường phiêu
Trang 28dạt, theo kiểu “nước chảy bèo trôi”, tiện đâu đi đó Tản Đà làm báo một cách chủ định và coi nó là một giấc mộng lớn, đeo đẳng cả cuộc đời
Hãy nghe ông kể về chuyện làm báo của mình ở An Nam tạp chí khi tái
So với khi báo mới ra ở Hàng Lọng, công việc ở Báo quán của Tản Đà đã không còn được như trước Tản Đà cũng đã ý thức rất rõ được sở trường, sở
đoản của mình là về phần Cựu học Còn “về phương diện Tân học đều do
Ngô quân (tức Cử nhân Ngô Thúc Địch - người bỏ vốn cho An Nam tạp chí)
và những anh em có từng du học ở Pháp về trông coi” Điều đó cho thấy Tản
Đà cũng nhìn thấy những hạn chế của mình khi dấn thân vào một cuộc chơi mới Giọng của ông đã phần nào mất đi nét khảng khái, hào khí như trước mà trầm lắng, ưu tư hơn Nhưng hoài bão, niềm tin vào sự nghiệp báo chí thì vẫn còn đó:
Hiện nay An Nam tạp chí lại ra đời, cái công việc nặng nề của xã hội, được có các nhà hữu lực trong xã hội cùng gánh vác, thời bao nhiêu những cái lo vị lai, cái buồn quá khứ, mình chỉ nên gạt rẽ cả ra hai bên tả hữu, để
Trang 29hiện tại làm chính lộ cho tiên phong thân thế tiến hành Nếu Tạp chí An Nam nhờ cảm tình của quốc dân An Nam mà từ đây vững với non sông, thời như những cái lo buồn riêng của phần tôi, chắc cũng có tựa theo hạnh phúc của Tạp chí mà chuyển sang khoái lạc vậy Phải chăng? Cố nhân
Lại một giọng hồ hởi, đầy niềm tin và hoài bão về một tương lai xán lạn của tờ báo Và ông cũng vẫn hy vọng thành công của tờ báo có thể gây dựng nên tiếng tăm cho mình một cách đĩnh đạc, đường hoàng
Nhưng cũng chỉ trong năm 1932, An Nam tạp chí đình bản rồi lại tái bản
lần 5 ở phố Hàng Bông, Hà Nội
Năm 3/1933, An Nam tạp chí ra lần 6 ở phố Hàng Da, Hà Nội Nhưng
chỉ được 3 số lại đình bản
Càng về sau, An Nam tạp chí càng èo uột với thời gian tồn tại ngày càng
ngắn dần Từ chỗ hơn một năm tới chỗ chỉ chừng vài chục số và cuối cùng là
3 số, tờ báo nói lời chung cục khi đã tái bản đến lần thứ 6
Ở An Nam tạp chí, Tản Đà tha hồ có đất dụng võ Người đọc có thể thấy
tính đa dạng trên các thể loại văn học và bút lực của Tản Đà Đó là các thể loại: bình giảng văn học, ngôn ngữ học, luận thuyết triết học, nghiên cứu lịch
sử, du ký, phóng sự, ghi chép, những vấn đề xã hội nhân sinh, bình giảng Hán học, hài văn, thơ
Trang 30Chương 2: Sự phát triển của báo chí, nhà xuất bản và sự hình thành loại hình ký giả - văn nhân chuyên nghiệp giai đoạn giao thời
2.1 Vai trò báo chí, nhà xuất bản - môi trường tồn tại, lưu hành của văn chương phi truyền thống giai đoạn giao thời
Với bất kỳ dân tộc nào trên thế giới, báo chí bao giờ cũng có vai trò lớn trong đời sống xã hội, bởi những đặc điểm mang tính ưu việt của nó là tính thời sự và diện phát tin rộng lớn Ở Việt Nam, trong giai đoạn giao thời này, báo chí đóng vai trò cực kì quan trọng “Hơn bao giờ hết báo chí như một chiếc nôi màu nhiệm, một bà đỡ lành nghề đã nâng niu tiếp sức, tạo luồng sinh khí cho văn học hiện đại từ khi nó còn trứng nước nhanh chóng đi tới trưởng thành” [39, 7]
Sự ra đời của báo chí, lẽ tự nhiên, làm xuất hiện một chân dung mới: ký giả, hay nhà báo Những danh xưng này, trong ngôn ngữ đương đại thiên về ý nghĩa nghề nghiệp thuần túy nhưng ở vào thời điểm cuối thế kỷ XIX đầu thế
kỷ XX lại có nét nghĩa chỉ một nhóm có vai trò ưu đẳng trong xã hội (status group) Với quốc dân, họ là đại diện cho luân lý và tri thức, có chức phận dẫn dắt, hướng đạo Trong một xã hội vốn có truyền thống trọng quan tước, ký giả thậm chí được liệt vào tầng lớp “quan lại cao cấp” Danh xưng ký giả thời kỳ
ấy thậm chí còn danh giá hơn cả ấn tri huyện Đây là lý do khiến Tản Đà, năm
1916, khước từ lời mời vào học đặc cách của Giám đốc trường Hậu Bổ để lựa chọn con đường trở thành một ký giả, một nhà báo (chứ không phải là một nhà văn theo nghĩa hiện đại như vẫn thường được quan niệm)
Điểm tương cận giữa nhà báo và kẻ sĩ, như trên đã nói, là vị thế của một nhóm tinh hoa có khả năng là đại diện cho đời sống tinh thần cộng đồng Hẳn phải có lý do để Phạm Quỳnh, năm 1917, sau khi đưa ra một thực tế: “Lắm nước như nước Pháp nước Anh, dư luận (do nhà báo khởi xướng) thật là giữ quyền chúa tể trong nước, chi phối cả cuộc sinh hoạt quốc dân về chính trị, xã
Trang 31hội, kinh tế” đã hồ hởi tuyên bố: “Nước Nam ta sau này hay hay dở, các nhà báo cũng có phần vào đấy” Tuy nhiên, quan trọng hơn, báo chí còn đem lại một không gian mới cũng như một khả năng mới cho sự tồn tại độc lập cũng như khả năng tác động đến thực tiễn của nhà báo với tư cách người trí thức trong xã hội hiện đại
Trước hết, công chúng của tờ báo khiến cho viết báo trở thành một nghề Nếu như ông quan luôn bị ràng buộc bởi ơn mưa móc, bổng lộc từ thiên tử và
vì thế không thể giữ một vai trò phản biện cho trật tự xã hội hiện hành thì tư cách nhà báo cho phép người trí thức hiện đại có khả năng tồn tại độc lập Chẳng những thế anh ta có điểm tựa từ công chúng để đối diện với bộ máy quyền lực Người trí thức đến đây đã thoát khỏi thân phận ký sinh vào tồn tại của ông quan Mặt khác, báo chí đưa lại cho nhà báo khả năng tác động đến thực tiễn xã hội một cách trực tiếp và hết sức sâu rộng Nếu như tác động của nhà trường chủ yếu trong phạm vi học sinh sinh viên thì bất kỳ ai, thuộc về bất kỳ tầng lớp nào, chỉ cần biết đọc cũng là đối tượng tiềm tàng cho sự tác động của báo chí Sự nghiệt ngã trong chế độ kiểm duyệt của nhà nước bảo hộ không phải lúc nào cũng có thể duy trì, và dù thế nào chăng nữa vẫn luôn có
kẽ hở trước một thực tiễn báo chí sinh động Những tư tưởng của nhà báo vì thế luôn tìm được đường đến với công chúng Số lượng lớn của những tờ báo, đặc biệt là báo chí tư nhân cũng là một không gian rộng lớn để những ký giả xuất hiện với những tư tưởng mà họ theo đuổi từ đó tác động trực tiếp đến đời sống xã hội Điều này giải thích vì sao những trí thức lớn nhất của thời kỳ này (dù xuất thân từ những địa hạt tri thức khác nhau) đều tìm đến với những tờ báo và không hiếm khi họ gắn chặt tên tuổi của mình với một tờ báo nào đó Nhà báo là biểu hiện tập trung nhất phẩm chất, năng lực đối diện với thực tế đời sống của người trí thức hiện đại Trên thực tế, không ít những tờ báo đã đóng vai trò như là trung tâm của sự diễn tiến tư tưởng xã hội Lục Tỉnh Tân
Trang 32Văn là tiếng nói của cuộc vận động Minh Tân với những tên tuổi của Trần Chánh Chiếu, Trương Duy Toản Đăng Cổ Tùng Văn là cơ quan ngôn luận của Đông Kinh Nghĩa Thục - những nhà chí sĩ cũng đồng thời là những nhà báo Phong trào Âu hóa rầm rộ những năm 30 được xúc tiến dưới sự dẫn đạo
của Nguyễn Tường Tam và những yếu nhân của Phong Hóa và Ngày Nay…
Vai trò quan trọng của báo chí, ngay từ “Văn minh tân học sách” (của
Đông Kinh Nghĩa Thục) đã được nhắc đến Một trong 6 đường mà sách đã chỉ
ra là “Mở toà báo” (cùng với việc dùng văn tự nước nhà, sửa đổi phép thi, hiệu đính sách vở, cổ võ nhân tài, chấn hưng công nghệ) Bằng việc dẫn ra sự phát triển của báo chí Tây Phương và cả Đông Phương, sách đã chỉ ra sự vắng
bóng của báo chí nước ta Từ đó kêu gọi phải mở toà báo “Pháp có hơn 1300
báo quán, Đức có hơn 2350 báo quán, Anh có hơn 2180 báo quán… Nhật Bản không quận nào không có báo quán Trung Quốc gần đây cũng mở báo quán rất nhiều Dân trí sở dĩ được mở mang là chính nhờ đó” Cho nên
“…Dùi mài mấy tập giấy cũ, sao bằng xem báo mới mà trên giấy mực đều là
thần tri Thế thì không thể không mở báo quán là rõ ràng lắm!”
Tuy nhiên, một thực tế là, trước khi thực dân Pháp tiến hành xâm lược, Việt Nam vẫn chưa có báo chí Ngay từ những năm đầu, khi thực dân Pháp đặt bộ máy cai trị của chúng lên đất Nam Bộ, báo chí đã được phổ biến rộng rãi Ban đầu, các tờ báo được xuất bản bằng tiếng Pháp, tiếp đó được xuất bản bằng Tiếng Việt Tờ báo đầu tiên ở Việt Nam xuất hiện ở Nam Bộ năm 1861
là tờ “Nam Kì Viễn chinh công báo”, do thuỷ sư đô đốc Bonard phụ trách
Chỉ một năm sau, viên võ quan này cho ra tờ báo thứ hai là tờ “Xã thôn công
báo”, viết bằng chữ Hán, dùng để “hiểu dụ nhân dân quy thuận”
Điểm qua sự phát triển của báo chí trong giai đoạn này, chúng tôi muốn nhấn mạnh bức tranh toàn cảnh với những mảng màu đa dạng của các loại hình báo chí lúc bấy giờ Điều này xuất phát từ sự xâm lấn dần dần của báo
Trang 33chí phương Tây vào xã hội thuộc địa Việt Nam một cách từ tự phát sang tự
giác Từ đó, tìm ra Tản Đà đứng ở đâu trong đó và vì sao ông lại thất bại với
An Nam tạp chí
Tờ báo Quốc ngữ đầu tiên xuất hiện ở Nam Bộ - Gia Định báo, do một nghị định của chính quyền thực dân Pháp cho phép, ra đời 1/4/1865 được Ernest Potteaux, một thông ngôn người Pháp làm chủ nhiệm Đến 1869, tờ báo này mới được chuyển sang cho Trương Vĩnh Ký - người Việt Nam đầu tiên viết trên các báo Pháp
Ở Bắc Bộ, nhà in chữ Latinh theo lối phương Tây đầu tiên của chính quyền thực dân Pháp lập năm 1883, do Chneider làm quản lí Tờ báo đầu tiên
ở Bắc Bộ cũng là tờ báo Pháp nhan đề: “Tạp chí của ban nghiên cứu ngôn
ngữ, kĩ nghệ và thương mại ở Trung Kì và Bắc Kì”
1893, Schneider lập nhà in riêng và xuất bản tờ Đăng Cổ tùng báo
(1907), thêm một phần Quốc văn, do Nguyễn Văn Vĩnh làm chủ bút và Phan
Kế Bính là trợ bút
1905, có tờ Đại Việt tân báo, do Babut làm chủ nhiệm và Đào Nguyên
Phổ là chủ bút, gồm hai phần: chữ Hán và chữ Quốc ngữ
15/5/1913, sau cuộc ném bom ở khách sạn Hà Nội, được trợ cấp của
chính quyền thực dân Pháp, Nguyễn Văn Vĩnh chủ trương ra tờ Đông Dương
tạp chí Tờ tạp chí này ra hàng tuần, có các cây bút giúp việc là: Phạm Quỳnh,
Nguyễn Văn Tố, Phan Kế Bính, Nguyễn Đỗ Mục, Dương Bá Trạc Trong số những người này, sau có một số tách ra, chủ trương những cơ quan báo chí riêng, chỉ còn Nguyễn văn Vĩnh, Nguyễn Đỗ Mục và Phan Kế Bính làm biên
tập tạp chí này đến ngày cuối cùng Đông Dương tạp chí chuyên về mặt học
thuật, văn chương Các nhà Nho giới thiệu văn học cổ với quần chúng, còn các nhà Tân học thì phiên dịch và ca tụng văn chương Pháp
Trang 341915, Nguyễn Văn Vĩnh cho ra tờ Trung Bắc tân văn, Hoàng Tăng Bí,
Dương Bá Trạc luôn thay nhau giữ hai cột xã thuyết, cũng như Nguyễn Đỗ Mục luôn giữ việc dịch tiểu thuyết cổ Trung Quốc trên mặt báo
Nam Phong tạp chí (1917) lúc đầu do Phạm Quỳnh làm chủ bút phần
Quốc ngữ, Nguyễn Bá Trác làm chủ phần chữ Hán, có các trợ bút như Đông Châu Nguyễn Hữu Tiến, Sở Cuồng Lê Dư, Tùng Vân Nguyễn Đôn Phục… Sau khi Nguyễn Bá Trác vào Huế làm quan thì Phạm Quỳnh làm chủ bút cả hai phần, nhưng thực tế phần chữ Hán giao cho Sở Cuồng Lê Dư phụ trách
Tạp chí Nam Phong ra hàng tháng, nhân danh cơ quan của Hội Khai Trí
Tiến Đức, có ba phần: Quốc văn, Hán văn và Pháp văn Trong đó, Quốc văn
là phần quan trọng hơn cả Tờ báo này do ba người sáng lập là Louis Marty (giám đốc phòng chính trị ở phủ toàn quyền Đông Dương), Phạm Quỳnh (tay sai đắc lực cho thực dân Pháp) và Nguyễn Bá Trác
Có thể khẳng định, Đông Dương tạp chí và Nam Phong tạp chí giữ một
địa vị tối yếu trong lịch sử văn học Việt Nam bởi hầu hết các sản phẩm văn chương có giá trị hay đã gây được một ảnh hưởng sâu rộng đều xuất hiện trên hai tạp chí này; các văn sĩ thế hệ này chưa có thói quen in sách, dù xuất bản
đã phát triển Công lao lớn nhất của hai tạp chí này là nhiệt tâm ủng hộ và vun
trồng cho chữ Quốc ngữ Đông Dương tạp chí đã hoạt động để dưa đến sự sụp
đổ nền Hán học và khoa cử cổ điển tại Bắc Kì năm 1915, Nam Phong tạp chí
cũng làm công việc ấy ở Trung Kì năm 1919
Mặc dầu có thâm ý hiểm độc, người Pháp đã vô tình giúp một cách hiệu lực vào công cuộc tái sinh tinh thần cho Việt Nam, sau khi đã cởi thoát được mọi xiềng xích nô lệ của chế độ độc tài Nho giáo Công đầu trong việc đó phải ghi cho báo chí là những cơ quan đắc lực trong việc truyền bá chữ Quốc ngữ Hầu hết các văn sĩ tiên phong đều lấy báo chí làm chỗ luyện tập ngòi bút
Trang 35và hầu hết các nhà học giả thế giá trong giai đoạn này đều đã chấm bút vào
bình mực Đông Dương tạp chí và Nam Phong tạp chí
Ngoài những tờ tạp chí và báo được trợ cấp của thực dân Pháp, làm việc cho thực dân Pháp, ở Bắc Bộ còn có những tờ báo do tư nhân và các đoàn thể doanh nghiệp đứng ra chủ trương Từ đại chiến thế giới lần thứ nhất kết thúc đến 1929, Bắc Bộ còn lần lượt xuất hiện các báo chí bằng chữ Quốc ngữ như:
Thực nghiệp dân báo (1920), Học báo (1920), Khai hoá (1921), Hữu Thanh
(1922), Đông Pháp (1925), An Nam tạp chí (1926), Hà Thành ngọ báo
(1927)…
Đặc biệt, năm 1927, Hoàng Tích Chu sáng lập báo Đông Tây, thay lối
văn rườm rà, nặng nề của lối văn biền ngẫu đầy chữ Nho, bắt chước cách viết theo lối văn báo chí Phương Tây, mở ra những mục mới trên tờ báo
Đó đều là những cơ quan ngôn luận đã gieo được ảnh hưởng, tác động ít nhiều mạnh mẽ vào đường lối, tư ttưởng, cảm nghĩ và hành động của quốc dân ta lúc bấy giờ; chúng đã tạo đà thúc đẩy cho sự phát triển của văn hoá mới, cho sự thành công của chữ Quốc ngữ, củng cố cho địa vị văn học khỏi bị các lực lượng ngoại lai phá hoại, lấn át
Như vậy là không lâu sau khi xuất hiện, báo chí đã nhanh chóng chuyển
từ chữ Hán, chữ Pháp sang chữ Quốc ngữ Cũng có nghĩa là sau gần hai thế kỉ tẩy chay và khinh bỉ (vì coi đó là thứ chữ của ngoại bang du nhập vào, không phải là thứ chữ của dân tộc), giờ đây nhà Nho chí sĩ lại dễ dàng “đồng thuận” với người Pháp trong việc sử dụng thứ chữ này Trước thời cục mới, họ đã nhận ra ưu thế và khả năng sử dụng chữ Quốc ngữ như một thứ chữ của dân tộc (tiện dụng và hữu ích hơn hẳn chữ Hán và chữ Nôm) và nghiễm nhiên biến nó thành công cụ đắc lực cho hoạt động tuyên truyền cách mạng dưới sự kiểm duyệt của kẻ thù
Trang 36Một điểm đáng lưu ý là báo chí xuất hiện đầu tiên ở Nam Kỳ, sau đó mới
ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ Điều này có thể lý giải bởi Nam Kỳ, sau hai hiệp ước của triều đình nhà Nguyễn, đã trở thành xứ bảo hộ của Pháp, một “hạt” của nước Pháp ở Viễn Đông Nhờ vậy mà báo chí Nam Kỳ được hưởng phần nào chế độ báo chí của chính quốc Ngoài ra, những điều kiện khác như công chúng văn học hay cơ sở vật chất ở Nam Kỳ cũng thuận lợi hơn so với Bắc
Kỳ và Trung Kỳ
Con đường xâm lược của thực dân Pháp là đi từ Nam ra Bắc rồi mới trở lại Trung Kỳ Sự phát triển của báo chí cũng tuân theo trình tự này Các tờ tạp chí, nguyệt san, bán nguyệt san và các báo ra hàng tuần, hàng ngày bằng chữ Quốc ngữ trong những năm đầu tiên của chính quyền thực dân Pháp đặt trên đất nước ta, tính cho đến năm 1925, nhiều nhất là ở Nam Bộ, rồi đến Bắc Bộ, còn Trung Bộ thì hầu như không có gì Mãi đến năm 1927, ở Trung Kỳ mới
xuất hiện tờ báo Quốc ngữ đầu tiên là báo Tiếng Dân của Huỳnh Thúc Kháng
Trong khi ấy, số lượng báo chí bằng tiếng Pháp nhiều hơn hẳn gấp hai, thậm chí ba lần Có thể thấy rõ điều này qua bảng tổng kết các ấn phẩm lưu chiểu
Phan Khôi, từ tạp chí Hữu Thanh, Nam Phong chuyển vào cộng tác với Thần
Chung, Phụ Nữ Tân văn…)
Trang 37Có thể nói, báo chí chính là môi trường thuận lợi cho đội ngũ nhà Nho thử sức ở nhiều lĩnh vực Dù muốn dù không, là tầng lớp tinh hoa, đặt mình trước dân tộc, trong sáng tác, họ đã phải nỗ lực tự vượt mình, bứt ra khỏi những rào cản không dễ dàng vượt qua của lối viết và quan niệm truyền thống Không đâu khác, báo chí chính là địa hạt thuận lợi và khả dĩ hơn cả để
họ tiến hành công cuộc thử nghiệm ấy
Bàn về vai trò quan trọng của báo chí với quá trình hiện đại hoá văn học, nhiều công trình nghiên cứu đều thống nhất với nhau ở những điểm cơ bản như sau:
Thứ nhất, báo chí được coi là “bà đỡ”, là một phương tiện quan trọng để
chuyển tải và truyền bá tác phẩm văn học Đặc biệt, ở thời kỳ đầu, trước khi
có sự ra đời của nhà xuất bản thì hầu như báo chí là phương tiện duy nhất để truyền bá tác phẩm, là nơi giới thiệu kinh nghiệm sáng tác, nghiên cứu phê bình, dịch thuật Xuất bản đi sau báo chí một bước nên trong buổi đầu báo chí
đã kiêm nhiệm luôn công việc của nhà xuất bản Có thể ví báo chí như trung
tâm văn hoá lớn của thời đại Trong hoàn cảnh lúc ấy, báo chí giữ vai trò như
địa bàn chính cho những cuộc đấu tranh, thử sức để tự trưởng thành Những tác phẩm văn học hay sẽ được đông đảo công chúng báo chí đón nhận và hưởng ứng, cổ vũ Ngược lại, những tác phẩm không đáp ứng được nhu cầu, thị hiếu của công chúng mới, sẽ nhanh chóng bị đào thải và gạt bỏ ngay trên những trang báo Đồng thời, cũng ngay trên mặt báo, sự xuất hiện của những luồng tư tưởng, văn hóa mới, những phong cách và bút pháp nghệ thuật mới
sẽ nhanh chóng được phổ biến và giới thiệu cho đông đảo độc giả các tầng lớp Sự thẩm định và đánh giá của công chúng sẽ giúp cho việc dần định hình
và phát triển những luồng tư tưởng, trào lưu văn hoá - văn học mới
Gắn liền với quá trình đó là sự xuất hiện và nổi danh của hàng loạt những tên tuổi đã được chính công chúng báo chí kiểm nghiệm
Trang 38Cũng trên các tờ báo, các ký giả - văn nhân lại có dịp đóng vai trò của mình trong việc cách tân những thể loại văn chương truyền thống và thúc đẩy
sự ra đời của những thể loại văn học mới, thích hợp hơn với nhu cầu, thị hiếu của một kiểu công chúng mới Những thể loại truyền thống như thơ, phú, văn biền ngẫu… dường như đã mất vị trí độc tôn trong văn học truyền thống trước
đó, thay thế nó và có phần được công chúng đón nhận mạnh mẽ hơn là những thể loại văn xuôi thế thuật - hoàn toàn mới mẻ và chưa từng xuất hiện, nhưng lại thích hợp với thời đại hơn như tiểu thuyết, ký, truyện ngắn…
Báo chí ra đời cũng đã dẫn đến sự xuất hiện của một đội ngũ những trí thức - người làm báo chuyên nghiệp, sống bằng nghề báo Nhờ đó, làm xuất hiện và “chính thức hoá” một đội ngũ những văn sĩ - ký giả chuyên viết văn, làm báo và coi đó là một nghề nghiệp Tản Đà chính là một trong số đó Đây
là một biến đổi quan trọng và có tác dụng thúc đẩy rất lớn với việc phát triển nền văn học dân tộc Trước đây, việc viết thơ, bình văn chỉ là do “cảm hứng”, tức cảnh mà sinh tình chứ không được coi là một nghiệp kiếm sống Người ta tuy đã nhận thức rõ tầm quan trọng và luôn đề cao “Văn” nhưng vẫn chỉ coi
đó là thứ văn chơi, văn tiêu khiển, “mua vui cũng được một vài trống canh”
(Nguyễn Du) Nhờ chuyên tâm vào việc viết văn làm báo nên họ cũng có điều kiện cách tân những lối văn cũ, thể nghiệm mình trên những thể loại và hình thức mới, phù hợp hơn với đời sống và phong cách hiện đại Chính vì thế, văn học có cơ hội rất lớn để bứt phá và vượt thoát khỏi những quy phạm nặng nề, lạc hậu của lối viết truyền thống, bước vào quá trình hiện đại hoá một cách toàn diện trên cả hai phương diện nội dung và hình thức
Sự xuất hiện của báo chí với tư cách một “hiện tượng lạ”, chưa từng có
trong truyền thống, ban đầu nằm trong âm mưu thống trị, nô dịch của chính
quyền thực dân, nhưng với vai trò là một “công cụ không tự giác của lịch sử”
(chữ dùng của Marx) đã làm thay đổi cả một hệ thống quan niệm và tư tưởng
Trang 39truyền thống, thổi một làn gió mới và tạo nên những không khí, sắc diện mới cho văn học Có thể thấy rõ điều này qua gương mặt của một số tờ báo như
Đông Dương tạp chí, Nam Phong tạp chí, An Nam tạp chí, Tiếng Dân, Hữu Thanh, Phụ Nữ Tân văn, Đông Tây, Khai Hoá…
2.2 Tản Đà - người đóng vai trò tiên phong trong việc hình thành đội ngũ
ký giả - văn nhân chuyên nghiệp
Trong buổi giao thời 30 năm đầu thế kỷ 20 đã xuất hiện vấn đề hiện đại hóa, quốc tế hóa nền văn học - văn hóa, phá vỡ khuôn khổ khu vực và việc xã hội dân sự hóa sinh hoạt đời sống tinh thần Trước đây, sinh hoạt văn hóa truyền thống có 2 bộ phận hoàn toàn khác nhau là văn hóa quan phương cung đình và văn hóa làng xã Tương ứng với nó, các sinh hoạt văn học nghệ thuật cũng theo hai hướng ấy Bây giờ, hệ thống báo chí xuất hiện, tác động vào xã hội Việt Nam với đặc điểm là tính xã hội hóa thông tin đã phá vỡ sự ngăn cách giữa 2 nếp sinh hoạt văn hóa như thế và lôi cuốn mọi tầng lớp tham gia vào sinh hoạt đó Báo chí làm cho sinh hoạt tinh thần vừa mang tính xã hội hóa rộng rãi vừa dân chủ hóa sâu sắc hơn Nói nôm na rằng, trước đây, ông quan không thèm nói trực tiếp với dân mà nói qua một hệ thống chức sắc làng
xã như mõ Nhưng bây giờ trên báo chí, ông quan ấy phải nói trực tiếp và mọi người đều bình đẳng khi tiếp nhận thông tin Và văn học nghệ thuật cũng như vậy
Tuy nhiên, cần nhấn mạnh lại rằng, xã hội Việt Nam được hiện đại hóa một cách cưỡng bức, trong bối cảnh thuộc địa, nô dịch nên quá trình hiện đại hóa ấy cũng là cưỡng bức đầu tiên Tức là tính chất tự nguyện ở đây xuất hiện từng bước một chứ không phải ngay từ đầu Chẳng hạn, Nguyễn Đình Chiểu
đề kháng tất cả những gì liên quan đến Pháp: không cho con học chữ quốc ngữ, đi ăn cỗ thà lội ruộng chứ không đi đường gạch, thà giặt bằng nước tro chứ không dùng xà bông, không dùng đèn Hoa Kỳ… Nhưng qua các giai
Trang 40đoạn, người ta chấp nhận từng bước một Trường hợp Trần Tế Xương là một
ví dụ Chỗ ông bị cuốn vào thì vẫn nhập cuộc hăng say, chỗ lại đề kháng rất
dữ Trần Tế Xương mỉa mai người đi học quốc ngữ nhưng trong lối sống, ông
bị lôi cuốn thành một người thị dân chứ không phải là nhà Nho về các chừng mực đạo đức, ứng xử xã hội Đến giai đoạn sau, giữa những năm bản lề của thế kỷ 20, có một sự kiện đánh dấu sự chung cục của Văn học Trung đại, mở
ra quá trình hiện đại hóa văn học Đó là ý thức tự giác, chủ động tiếp nhận cái mới của một bộ phận mà động cơ, nguyên nhân xuất phát từ nhu cầu cứu nước, duy tân Họ nhận ra một điều rất đơn giản là không duy tân, không cứu nước được Chính duy tân, về một nghĩa nào đó là buộc phải làm theo phương thức của xã hội Âu Mỹ Trong đó có những sinh hoạt tinh thần theo phương thức mới mà báo chí là một trong những kênh quan trọng Văn học nghệ thuật cũng biến đổi theo hướng đó Nhưng ở đây có một nghịch lý Chủ nghĩa hiện thực Phương Tây chống mọi biểu hiện tùy tiện theo lối tự nhiên chủ nghĩa Với thuộc địa, họ lại muốn dân ngu, lạc hậu để dễ bề cai trị Nhưng họ không thể tổ chức, quản lý xã hội theo cách nào khác ngoài cách của nước bản địa Chính điều đó làm cho xã hội Việt Nam hiện đại hóa từng bước một Ở đây,
rõ ràng mục đích chủ quan và ý nghĩa khách quan là khác nhau Đó chính là tính chất “công cụ không tự giác của lịch sử” theo như cách nói của Marx Phương Tây đã có vài thế kỷ phát triển báo chí và có kinh nghiệm rất nhiều về sự tồn tại, lưu hành của loại hình văn chương trên báo chí Với người Việt Nam lúc bấy giờ, tất cả đều là mới Các nhà khoa bảng rất có ý thức về vai trò của báo chí Nhưng họ là những người con nòi của Cựu học nên kinh nghiệm với cái mới là không có, vậy nên phải học cách người Pháp bày cho làm Bởi vậy mới có hẳn 1 lớp ông quan đi làm báo: Vũ Phạm Hàm, Đào Nguyên Phổ, Kiều Oánh Mậu… nhưng tất cả những kiến thức, kinh nghiệm làm báo họ có được đều là nhờ người Pháp dạy cho Tản Đà không thuộc lớp