1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tác động của phát triển nghề nuôi trồng thủy sản đến giảm đói nghèo ở đầm phá Tam Giang hiện nay

237 647 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 237
Dung lượng 5,99 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, tiếp cận nghiên cứu chủ đề kinh tế - xã hội mà đặc biệt là "đánh giá tác động của phát triển nghề NTTS đến giảm đói nghèo trong các nhóm cư dân và cộng đồng", hoặc tương tự th

Trang 1

TRẦN XUÂN BÌNH

TÁC ĐỘNG CỦA PHÁT TRIỂN NGHỀ

NUÔI TRỒNG THỦY SẢN ĐẾN GIẢM ĐÓI NGHÈO

Ở ĐẦM PHÁ TAM GIANG HIỆN NAY

(NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP HUYỆN PHÚ VANG,

TỈNH THỪA THIÊN - HUẾ)

Chuyên ngành: Xã hội học

Mã số: 5.03.51

LUẬN ÁN TIẾN SĨ XÃ HỘI HỌC

Người hướng dẫn khoa học:

1 PGS.TS ĐẶNG CẢNH KHANH

2 TS PHẠM ĐÌNH HUỲNH

Hà Nội – 2005

Trang 2

TRẦN XUÂN BÌNH

TÁC ĐỘNG CỦA PHÁT TRIỂN NGHỀ

NUÔI TRỒNG THỦY SẢN ĐẾN GIẢM ĐÓI NGHÈO

Ở ĐẦM PHÁ TAM GIANG HIỆN NAY

(NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP HUYỆN PHÚ VANG,

TỈNH THỪA THIÊN - HUẾ)

LUẬN ÁN TIẾN SĨ XÃ HỘI HỌC

Hà Nội – 2005

Trang 3

iii

2 Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài 3

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 7

3.1 Mục đích 7

3.2 Nhiệm vụ 7

4 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu 8

4.1 Đối tượng nghiên cứu 8

4.2 Khách thể nghiên cứu 8

4.3 Phạm vi và giới hạn nghiên cứu của luận án 8

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 8

5.1 Phương pháp luận 8

5.2 Phương pháp hệ 12

6 Giả thuyết nghiên cứu 13

7 Đóng góp và ý nghĩa thực tiễn của luận án 13

7.1 Đóng góp khoa học của luận án 13

7.2 Ý nghĩa thực tiễn của luận án 14

8 Kết cấu của luận án 14

B NỘI DUNG Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU GIẢM ĐÓI NGHÈO VÙNG ĐẦM PHÁ TAM GIANG 15

1.1 Một số lý luận cơ bản tiếp cận vấn đề nghiên cứu 15

1.1.1 Các khái niệm cơ bản 15

1.1.2 Các lý thuyết và quan điểm tiếp cận vấn đề nghiên cứu 29

1 2 Vùng đầm phá Tam giang Thừa Thiên Huế - hệ Sinh thái - Nhân văn ven biển đặc biệt 42

1.2.1 Vùng ven biển và cộng đồng cư dân ven biển 42

1.2.2 Đầm phá Tam Giang, Thừa Thiên Huế 44

1.3 Những yếu tố tác động đến giảm đói nghèo vùng đầm phá Tam Giang trong phát triển 53

1.3.1 Đổi mới toàn diện đất nước và chiến lược đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn 54

1.3.2 Quan điểm cơ bản và mục tiêu chương trình Quốc gia về xoá đói giảm nghèo ở Việt nam 56

1.3.3 Mục tiêu về công nghiệp hoá, hiện đại hoá các vùng miền địa phương.59 Chương 2: THỰC TRẠNG GIẢM ĐÓI NGHÈO TRONG CÁC NHÓM DÂN CƯ DO PHÁT TRIỂN NGHỀ NUÔI TRỒNG THUỶ SẢN 60

2.1 Phát triển mở rộng nghề nuôi trồng thuỷ sản với vấn đề đói nghèo ở đầm phá Tam Giang 60

2.1.1 Tình trạng đói nghèo và bộ phận dân cư đói nghèo vùng đầm phá 60

2.1.2 Mở rộng diện tích, các loại hình nuôi trồng và tăng hiệu quả kinh tế thuỷ sản 65

2.1.3 Các thành phần xã hội tham gia phát triển nuôi trồng thủy sản 71

2.1.4 Thu hẹp diện tích và cạn dần đầm phá với vấn đề đói nghèo 75

Trang 4

iv

2.2.2 Sự biến đổi cơ cấu ngành nghề với vấn đề giàu nghèo 89

2.2.3 Thay đổi cơ cấu lao động và việc làm với giảm đói nghèo 100

2.2.4 Môi trường đầm phá trước những thách thức với đói nghèo và tái đói nghèo 107

2.3 Phát triển nghề nuôi trồng thuỷ sản tác động đến đời sống kinh tế của dân cư đầm phá 110

2.3.1 Sự biến đổi thu nhập, chi tiêu của các nhóm cư dân do NTTS 111

2.3.2 Sự thay đổi nhà cửa, các tiện nghi sinh hoạt với giảm nghèo 118

2.3.3 Sử dụng các trang thiết bị hiện đại phục vụ sản xuất và đời sống 123

2.3.4 Sự an toàn về lương thực, thực phẩm với giảm đói nghèo 126

2.4 Vấn đề tiếp cận y tế và giáo dục với giảm đói nghèo 128

2.4.1 Tiếp cận y tế và điều kiện chăm sóc sức khoẻ 128

2.4.2 Tiếp cận giáo dục với giảm đói nghèo 131

2.5 Những biến đổi về đời sống văn hóa tinh thần với giàu nghèo 135

2.5.1 Diện mạo mới về đời sống văn hoá của cộng đồng 135

2.5.2 Đời sống tâm linh và tình cảm 138

2.5.3 An ninh, trật tự, an toàn và vai trò của chính quyền, các thiết chế xã hội 140

2.5.4 Các yếu tố nội tại của cộng đồng tác động đến giảm đói nghèo 145

Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP CƠ BẢN NHẰM PHÁT TRIỂN NUÔI TRỒNG THỦY SẢN Ở ĐẦM PHÁ TAM GIANG THEO HƯỚNG BỀN VỮNG GIẢM ĐÓI NGHÈO 152

3.1 Những cơ sở lý luận và thực tiễn của các giải pháp 152

3.1.1 Cơ sở lý luận của việc xác định các giải pháp 153

3.1.2 Cơ sở thực tế khách quan của các giải pháp 157

3.2 Một số nhóm giải pháp cơ bản nhằm phát triển nuôi trồng thủy sản theo hướng bền vững 166

3.2.1 Qui hoạch tổng thể hệ thống nuôi trồng thuỷ sản vùng đầm phá 167

3.2.2 Các giải pháp về chính sách chuyển đổi cơ cấu nghề nghiệp và giải quyết việc làm cho người lao động 172

3.2.3 Giải pháp mở rộng loại hình kinh tế hộ 174

3.2.4 Giải pháp chính sách về vốn 176

3.2.5 Giải pháp chính sách về kỹ thuật 179

3.2.6 Giải pháp về chính sách đào tạo, tuyên truyền giáo dục văn hóa xã hội 180

3.2.7 Giải pháp về an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội 181

3.2.8 Giải pháp tiếp cận cộng đồng bằng các dự án phát triển với sự tham gia của người dân 182

C KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 1 Kết luận 184

2 Một số khuyến nghị 187

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ 191

TÀI LIỆU THAM KHẢO 192

PHẦN PHỤ LỤC………201

Trang 5

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ

A.1 Phương pháp tiếp cận vấn đề nghiên cứu của đề tài 10 A.2 Khung lý thuyết nghiên cứu (Sơ đồ tương quan giữa các biến số) 11 1.1 Mở rộng diện tích và số tổ, hộ NTTS ở Thị trấn Thuận An 28 2.1 Mở rộng diện tích NTTS đầm phá Thừa Thiên Huế qua các năm 66 2.2 Chuyển dịch cơ cấu giá trị các nghề vùng đầm phá từ 1996 - 2001 68 2.3 Sự gia tăng diện tích và sản lượng NTTS ở đầm phá Thừa Thiên

Trang 6

vi

1.1 Ngưỡng nghèo ở Việt Nam trong các năm 1993 và 1998 21 1.2 Tình trạng định cư của cư dân cộng đồng đầm phá 50 2.1 Tỷ lệ đói nghèo của các huyện thuộc tỉnh Thừa Thiên Huế 61 2.2 Phân bố và tình hình nhân khẩu cư dân thuỷ diện chưa định cư 62 2.3 Kết quả sản xuất NTTS của các doanh nghiệp Thừa Thiên Huế 72 2.4 Danh mục các nghề khai thác thuỷ sản ở đầm phá Tam Giang 91 2.5 Thang giá trị nghề nghiệp trước và sau bùng phát nghề NTTS 98 2.6 Thu nhập hàng năm của hộ gia đình vùng đầm phá 111 2.7 Thu nhập bình quân hàng ngày và nguồn thu nhập của hộ gia

2.9 Kết quả xếp dãy kinh tế xã hội - phân loại giàu nghèo theo thu

nhập của các nhóm dân cư

116

2.10 Kết quả xếp dãy ưu tiên cơ cấu chi tiêu trong gia đình của các

nhóm hộ ở hai thời điểm 1997 và 2002

117

2.11 Biến đổi về tình hình cơ bản đời sống vật chất của cư dân ở làng

Tân Dương qua các năm

119

2.14 Nguyên nhân trẻ em không đi học 131 2.15 Những đề nghị cải thiện giáo dục 132

3.2 Cơ sở hạ tầng nghề cá vùng đầm phá 160

Trang 7

A MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Đầm phá Tam Giang thuộc tỉnh Thừa Thiên Huế là một hệ sinh thái nhân văn rất đặc trưng, một trong những loại hình thuỷ vực nước lợ tiêu biểu, lớn nhất Châu Á, có diện tích hơn 22.000 ha, kéo dài 68 km, nơi sinh sống của gần 35% (khoảng 35 vạn người) dân số toàn tỉnh

Những năm gần đây, sức ép của sự gia tăng dân số, của nhu cầu sinh kế

và phát triển kinh tế - xã hội, mà trực tiếp là các hoạt động khai thác quá tải, có tính huỷ diệt nguồn lợi đã gây nhiều biến động về môi trường sinh thái và làm giảm kiệt đến mức đáng lo ngại nguồn tài nguyên của vùng đầm phá Đúng như những khuyến cáo được các nhà khoa học, các nhà quản lý đánh giá rằng: Nguồn lợi thuỷ sản hệ đầm phá Tam Giang hiện nay đang suy giảm một cách nghiêm trọng, do việc gia tăng hoạt động khai thác, các loại ngư cụ, mật độ và thu hẹp kích cỡ mắt lưới; gia tăng thuyền bè và lao động khai thác thuỷ sản đầm phá Đồng thời xuất hiện ngày càng nhiều loại ngư cụ mới, đánh bắt có tính huỷ diệt nguồn lợi như te quệu, chất nổ, chất độc, xung điện… “Trong năm 1995 phát triển thêm loại nghề te quệu kết hợp xung điện, việc tiến hành khai thác thuỷ sản ở đây đi vào thời kỳ huỷ diệt triệt để nhất Những vấn đề trên làm nguồn lợi thuỷ sản hệ đầm phá Tam Giang ngày càng suy kiệt hơn” [Nguyễn Quang Vinh Bình (1996), tr.32, 33]

Để thoát khỏi tình trạng trên, những năm đầu 1990 tỉnh Thừa Thiên Huế, các địa phương và đặc biệt cư dân đã phát động nuôi trồng thuỷ sản (NTTS) - một nghề mới xuất hiện - phù hợp với chủ trương có tính chiến lược phát triển kinh tế - xã hội vùng đầm phá Từ đó nghề NTTS phát triển Thời điểm bùng phát nhất là vào năm 1997 [Trần Xuân Bình, (1999)], trước hết tại địa bàn xã Phú Tân (nay là thị trấn Thuận An), lan nhanh đến xã Phú An và sau đó đến xã Phú Xuân (đầm Sam - Chuồn, vùng giữa của đầm phá), thuộc huyện Phú Vang

và theo đó nghề NTTS lan rộng khắp vùng đầm phá Thừa Thiên Huế Những biến đổi kinh tế - xã hội, tài nguyên và môi trường ở đây đã và đang diễn ra rất

Trang 8

mạnh mẽ, đa dạng, phức tạp và tác động sâu sắc đến cuộc sống của cộng đồng dân cư – nơi có đại bộ phận dân cư nghèo, dân cư vạn đò, hoạt động sống chủ yếu bằng nghề ngư và phụ thuộc vào nguồn lợi thuỷ sản đầm phá - nhưng chưa xác định được xu hướng của nó

Sự vận động và biến đổi của cơ cấu kinh tế, ngày càng có nhiều yếu tố phi kinh tế xâm nhập vào đời sống kinh tế, làm biến đổi hoạt động kinh tế Cũng như vậy, kinh tế luôn luôn tác động tới sự biến đổi của các nhân tố khác, các lĩnh vực khác cấu thành xã hội như một chỉnh thể Biến đổi cơ cấu kinh tế ở vùng đầm phá Tam Giang từ khi bùng phát nghề nuôi trồng thủy sản, dù có hoạch định hay không có sự hoạch định tất yếu dẫn đến những thay đổi về cơ cấu xã hội, mà đặc biệt là tính năng động xã hội, phân tầng xã hội và xung đột

xã hội giữa các nhóm cư dân, tác động đến vấn đề giàu nghèo

Đường lối, chủ trương, chiến lược và chính sách phát triển kinh tế - xã hội vùng đầm phá của tỉnh Thừa Thiên Huế phải được xây dựng trên cơ sở khoa học của việc đo lường, lượng hoá thực trạng những biến đổi cơ cấu kinh tế và theo đó là cơ cấu xã hội Cũng như mối tương tác giữa chuyển đổi cơ cấu kinh

tế với những vấn đề xã hội, mà chiều cạnh tác động đến con người và cộng đồng là yếu tố trung tâm của phát triển Đồng thời xác định các yếu tố khách quan và chủ quan tác động đến sự biến đổi và nguyên nhân của những biến đổi

xã hội Tất cả đều đặt trong tương quan của một hệ Nhân văn - Sinh thái đầm phá Để từ đó có đủ căn cứ khoa học xác định xu hướng, dự báo mô hình phát triển và đưa ra những giải pháp khả thi xây dựng chiến lược phát triển vùng đúng hướng, vừa phù hợp thực tế, hợp quy luật khách quan vừa hợp xu thế phát triển thời đại và bền vững

Muốn vậy, cần thiết phải có những nghiên cứu khoa học từ nhiều hướng tiếp cận khác nhau mang tính liên ngành và có sự tham gia, đặc biệt là tiếp cận

xã hội học để đánh giá tác động của phát triển nghề NTTS đến những hoạt động sống của các cộng đồng cư dân vùng này Kết quả nghiên cứu không chỉ có ý nghĩa với người dân và cộng đồng, giúp họ cải thiện sinh kế theo hướng phát

Trang 9

triển bền vững, giảm đói nghèo, mà còn giúp nhà quản lý các cấp, các nhà hoạch định chính sách có cơ sở để quy hoạch, kế hoạch hoá phát triển kinh tế -

xã hội vùng đầm phá Tam Giang, Thừa Thiên Huế đúng hướng nhằm phát huy mọi nguồn lực, khai thác hết những thế mạnh, tiềm năng, sử dụng hợp lý nguồn lợi tài nguyên, bảo vệ được cảnh quan và môi trường của hệ đầm phá

Sự phát triển nghề NTTS có tính chất bùng nổ và mang yếu tố tự phát như thực trạng hiện nay, mà nhất là vùng Trung đầm phá – vùng đầm Sam - Chuồn

và đang lan rộng khắp các địa phương trên toàn vùng Bắc và Nam đầm phá, chắc hẳn sẽ có nhiều tác động đến môi trường tự nhiên, tài nguyên và môi trường, kinh tế, văn hoá, xã hội của toàn vùng Đặc biệt là biến đổi cấu trúc xã hội, chất lượng sống và đói nghèo của các nhóm nghề nghiệp trong cộng đồng dân cư đầm phá

Những câu hỏi đặt ra là: Phát triển nghề NTTS như thế nào và làm thế nào

để có được một sự tăng trưởng nhanh, hiệu quả, chất lượng cao, bền vững có lợi cho cộng đồng địa phương, đặc biệt đối với bộ phận người nghèo? Mối quan hệ giữa phát triển kinh tế với các vấn đề xã hội và môi trường, tài nguyên ở đây sẽ như thế nào? Vai trò, vị thế, quyền lực xã hội của cá nhân, các nhóm xã hội, các

tổ chức và các thiết chế xã hội sẽ như thế nào? Và các chủ thể đó đang và sẽ làm gì để phát huy vai trò chức năng xã hội của mình trong phát triển địa phương? NTTS có thực sự là hướng sinh kế bền vững xoá đói, giảm nghèo ở địa phương? Đó là những lý do chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu

2 Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài

Giảm đói nghèo là một chương trình nghiên cứu và hành động có tính toàn cầu Ngân hàng Thế giới, các Quỹ Quốc tế, các tổ chức của Liên hiệp quốc và các Quốc gia xem đây là mục tiêu hướng tới trong các chương trình hành động

Ở nước ta những năm gần đây được sự quan tâm, hỗ trợ của Nhà nước, các tổ chức Quốc tế và từ nhiều nguồn khác nhau của các cộng đồng, cá nhân… đã triển khai nghiên cứu và hành động liên cấp từ vi mô đến vĩ mô nhằm xoá đói giảm nghèo trên mọi miền đất nước Thủ tướng chính phủ Việt Nam đã ban

Trang 10

hành quyết định số 80/1998/QĐ - TTg ngày 9 tháng 4 năm 1998 về việc thành lập Ban Chủ nhiệm chương trình mục tiêu quốc gia xoá đói giảm nghèo [LG Đức Quyết (2002), tr 109 -111] Ở bất cứ cấp độ nào của các chương trình, các chủ thể thực hiện chương trình xoá đói giảm nghèo đều lấy tôn chỉ mục đích hành động của mình như tuyên bố của Ngân hàng Thế giới (WB) là: “Với tất cả nhiệt huyết và chuyên môn của mình, chúng tôi ở Ngân hàng Thế giới coi đấu tranh chống đói nghèo là sứ mệnh, là trọng tâm trong các công việc của mình” [WB, 2000, tr.ix]

Gần 60 năm kể từ khi thành lập tới nay, Liên hiệp quốc đã giúp cho nhiều nước giảm tỷ lệ đói nghèo để bước vào giai đoạn phát triển; có nhiều kết quả thiết thực bằng cả lý luận và các mô hình thực tiễn rất sinh động, phong phú Đáng kể nhất là kết quả đã được thực hiện của WB từ các nước khắp toàn cầu, đến các vùng miền địa phương cụ thể của mỗi quốc gia, trong đó có Việt Nam, các kết quả này đã được công bố qua các ấn phẩm và báo cáo hàng năm Ở tầm

vĩ mô - trên phạm vi toàn cầu, điển hình có các kết quả đã xuất bản của WB như: “Báo cáo về tình hình phát triển thế giới 2000/2001 - Tấn công đói nghèo” (2000); “ WB - Báo cáo phát triển thế giới năm 2003, Phát triển bền vững trong một thế giới năng động - Thay đổi thể chế, Tăng trưởng và chất lượng cuộc sống” (2003); “WB - Những định hướng trong phát triển, Đánh giá Tác động của các dự án tới Đói nghèo”, của tác giả Judy L Baker (2002); “Báo cáo phát triển Việt Nam 2004: Nghèo”(2003)… Đây là một bức tranh toàn cảnh hết sức sinh động và những bài học kinh nghiệm qui báu về tấn công đói nghèo

Ở phạm vi nghiên cứu và hành động chống đói nghèo tại Việt Nam, kể từ khi thành lập “Ban Chủ nhiệm chương trình mục tiêu quốc gia xoá đói giảm nghèo” 1998 đến nay đã có các kết quả đã công bố như sau: “Báo cáo phát triển của Việt Nam năm 2000, Việt Nam tấn công nghèo đói” đây là một hình thức cộng tác giữa các cơ quan chính phủ, các nhà tài trợ và các tổ chức phi chính phủ hướng tới xoá bỏ tình trạng nghèo đói ở Việt Nam Báo cáo này không chỉ nhằm trình bày các vấn đề chủ chốt trong công cuộc tấn công chống đói nghèo,

Trang 11

mà còn phác thảo toàn cảnh bức tranh đói nghèo ở Việt Nam qua việc xử lý thông tin từ hai cuộc điều tra mức sống dân cư Việt Nam do Tổng cục Thống kê tiến hành năm 1993 và 1998 Báo cáo “Tham vấn cộng đồng về Dự thảo Chiến lược Toàn diện về Tăng trưởng và Xoá Đói Giảm Nghèo của Việt nam 2002”, gồm 3 phần: cùng người nghèo hoàn thiện chính sách; các đề xuất của người nghèo về chính sách; ý kiến của cộng đồng về chiến lược giảm nghèo

Chuyên khảo “Nghèo đói và xoá đói giảm nghèo ở Việt Nam” của tập thể các nhà kinh tế học: TS Lê Xuân Bá, TS Chu Tiến Quang, TS Nguyễn Hữu Tiến và TS Lê Xuân Đình là công trình nghiên cứu về đói nghèo công phu, đầy

đủ và có giá trị tham khảo, được nhà xuất bản nông nghiệp đánh giá “là một công trình nghiên cứu hoàn chỉnh, có hệ thống cả về lý luận lẫn điều tra thực tiễn, gồm khá nhiều tư liệu, thông tin cập nhật, đặc biệt các tác giả đã có cách tiếp cận và trả lời nhiều câu hỏi đặt ra chung quanh vấn đề đói nghèo và kiến nghị nhiều giải pháp giúp đỡ người nghèo đói” [Lê Xuân Bá… (2001), tr.10] Công trình “Xoá đói giảm nghèo ở vùng dân tộc thiểu số nước ta hiện nay - thực trạng và giải pháp” là kết quả nghiên cứu của một chuyên đề thuộc đề tài cấp nhà nước KHXH 04-05, do đồng chí Hà Quế Lâm vụ trưởng vụ chính sách dân tộc của Uỷ ban Dân tộc Miền núi - biên soạn Nội dung cho thấy trong những năm qua, công tác xoá đói, giảm nghèo ở các vùng đất nước ta đã có những thành tích bước đầu rất quan trọng, từng bước xoá được đói, giảm được nghèo Công trình đã đưa ra những khuyến nghị và một số giải pháp xoá đói giảm nghèo rất đặc thù tại các vùng dân tộc thiểu số ở nước ta Đồng thời, cùng với sự nghiệp chung, cần phải huy động sức mạnh tổng hợp của cả nước, tập trung mọi nguồn lực cả Trung ương, các địa phương, các tổ chức đoàn thể xã hội, các tổ chức quốc tế, của tất cả cộng đồng dân tộc Việt Nam thực hiện

“phấn đấu đến năm 2010 về cơ bản không còn hộ nghèo” như văn kiện Đại hội

IX của Đảng ta đã xác định

Trên đây là bức tranh tổng quát của những nghiên cứu về đói nghèo, riêng vấn đề này ở vùng đầm phá Tam Giang thì chỉ mới có những tiếp cận sau:

Trang 12

Hệ đầm phá Tam giang có vai trò lớn và ảnh hưởng toàn diện, sâu sắc đến những vấn đề kinh tế, chính trị, văn hoá và xã hội của tỉnh Thừa Thiên Huế như: khai thác tài nguyên thủy sản, giao thông, cảng, du lịch, các dịch vụ, nông nghiệp, sinh thái môi trường và điều hòa khí hậu… Do đó đã thu hút sự quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà khoa học, nhiều cơ quan, tổ chức khoa học từ trong đến ngoài nước Trong lịch sử, đáng kể là công trình của Dương Văn An -

“Ô châu cận lục”, có từ thế kỷ XV, đã mô tả rất rõ nét về sự hình thành, dịch chuyển, biến thái của hệ đầm phá, không chỉ mô tả mặt sinh thái tự nhiên mà còn cả mặt xã hội và nhân văn nữa, tuy nhiên còn rất sơ khảo Năm 1931, ông Krempf - học giả người Pháp - Giám đốc Hải học viện Nha trang, đã công bố công trình nghiên cứu vùng Tam Giang - Cầu Hai, nhưng ở công trình này ông nhấn mạnh chủ yếu các kết quả nghiên cứu về tự nhiên sinh học

Gần đây, nhiều nghiên cứu của các cá nhân, cơ quan, các trung tâm, các

dự án trong và ngoài nước liên quan đến vùng đầm phá đã có kết quả và bước đầu gây được sự chú ý nhất định Đặc biệt kể từ sau trận lũ lịch sử tháng 11/

1999, nhiều công trình nghiên cứu đã và đang được triển khai ở đây Tuy nhiên, tiếp cận nghiên cứu chủ đề kinh tế - xã hội mà đặc biệt là "đánh giá tác động của phát triển nghề NTTS đến giảm đói nghèo trong các nhóm cư dân và cộng đồng", hoặc tương tự thì vẫn còn mới mẻ, cấp bách, mang ý nghĩa lý luận, thực tiễn và tính xã hội nhân văn sâu sắc nhưng chưa có ai nghiên cứu đến

Có nhiều kết quả nghiên cứu ở các lĩnh vực và hướng tiếp cận từ các góc

độ khác nhau về đầm phá Tam Giang đã giúp chúng tôi phát hiện, nảy sinh ý

tưởng khoa học và kế thừa nguồn tư liệu quý giá như: Đề tài: "Nghiên cứu định

cư dân thuỷ diện Đầm phá Tam Giang" Do UBKH & KT, Sở Thủy sản Thừa

Thiên Huế và khoa Địa lý Đại học Sư phạm Huế chủ trì (1987 và 1995) Kết

quả "Hội thảo khoa học về Đầm phá Thừa Thiên Huế" do Bộ Khoa học Công

nghệ và Môi trường, Phân viện Hải dương học Hải Phòng và Đại học Thủy Lợi

Hà Nội tổ chức (11/1994) "Báo cáo kết quả nghiên cứu giai đoạn I và II", 1995

- 1997 - 2001 của dự án "Quản lý nguồn lợi sinh học phá Tam Giang" do IDRC Canađa kết hợp với 3 cơ quan: Đại học Nông Lâm Huế, Đại học Khoa học Huế

Trang 13

và Sở thuỷ sản Thừa Thiên Huế chủ trì Trong công trình này, tác giả là thành viên nhóm nghiên cứu liên ngành, với tư cách là chuyên gia đánh giá tác động môi trường kinh tế - xã hội và đã có một số kết quả nghiên cứu được công bố Nghiên cứu các chủ đề liên quan ít nhiều đến các vấn đề kinh tế - xã hội ở đầm phá Thừa Thiên Huế dưới góc độ lịch sử, dân tộc học, đã có một số công trình như: “Ngư nghiệp Việt Nam đầu thế kỷ XX” của Nguyễn Quang Trung Tiến (1995) “Cộng đồng ngư dân ở Việt nam” của Nguyễn Duy Thiệu (2002) Hay tiếp cận dưới góc độ của nhà quản lý có: “Quản lý nguồn lợi thuỷ sản hệ đầm phá Tam giang” của Nguyễn Quang Vinh Bình (1996) “Cơ sở lý luận chuyển đổi cơ cấu kinh tế trong ngành thuỷ sản” của Hà Xuân Thông (2000)

Đặc biệt đề tài “Ảnh hưởng của bùng nổ NTTS đến cuộc sống của người

dân ở Phú Tân, Đầm phá Tam Giang, Thừa Thiên Huế”- Luận văn thạc sỹ xã

hội học – 1999, mà tác giả đã dày công nghiên cứu như là cơ sở để tác giả tiếp tục phát triển hướng nghiên cứu của luận án Những kết quả thảo luận và dữ liệu ghi nhận được trong thời điểm 1997- 1999 của luận văn là căn cứ để so sánh với những dữ liệu thu được ở thời điểm 2001 – 2003 của luận án

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

- Tiến hành các nghiên cứu thực nghiệm xã hội để nhận diện khách quan

về “đối tượng nghiên cứu”;

- Xác định nguyên nhân và các yếu tố khách quan, chủ quan tác động đến

Trang 14

“đối tượng nghiên cứu”;

- Xây dựng giải pháp, qui hoạch, kế hoạch hoá mô hình phát triển kinh tế đầm phá theo hướng bền vững

4.1 Đối tƣợng nghiên cứu

Tác động của phát triển nghề NTTS đến giảm đói nghèo trong cộng đồng dân cư ở vùng đầm phá Tam Giang, Thừa Thiên Huế

4.2 Khách thể nghiên cứu

Là các hộ gia đình, các nhóm dân cư trong cộng đồng sinh sống và hoạt động sống có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến nguồn lợi đầm phá Tam Giang Thừa Thiên Huế và một số cơ quan chức năng, cán bộ quản lý các cấp chính quyền, các đoàn thể và các tổ chức xã hội - chính trị ở địa bàn nghiên cứu

4.3 Phạm vi và giới hạn nghiên cứu của luận án

Do nhiều yếu tố khách quan và chủ quan, luận án giới hạn nghiên cứu tác động của phát triển nghề NTTS đến giảm đói nghèo trong các nhóm dân cư ở phạm vi không gian địa lý hành chính thuộc Huyện Phú Vang, Thừa Thiên Huế

Về địa lý khu vực sinh thái, thuộc vùng đầm Sam - Chuồn, vùng giữa đầm phá – nơi đại diện phát triển nghề NTTS có tính chất bùng phát nhất toàn vùng đầm phá Thừa Thiên Huế Về thời gian, luận án tập trung khảo sát thực tế từ năm

2001 đến 2003 và kế thừa nguồn số liệu, các kết quả nghiên cứu chủ yếu từ năm

Trang 15

khái niệm, phạm trù và lý thuyết xã hội học phù hợp với đề tài để tiếp cận làm sáng tỏ mục tiêu và nội dung đề ra

Phương pháp nghiên cứu là chiến lược thực hiện nghiên cứu một cách có

hệ thống [J J Macionic (1987), tr 55] Phương pháp luận tiếp cận của đề tài là

phối kết hợp: từ vĩ mô đến vi mô; giữa lý luận với thực nghiệm; giữa phân tích định tính với định lượng Tiếp cận đối tượng nghiên cứu vừa ở trạng thái tĩnh (theo lát cắt cơ cấu xã hội), vừa ở trạng thái động (biến đổi xã hội) Tiếp cận nghiên cứu thực nghiệm theo hướng liên cấp, liên vùng, liên đối tượng hưởng lợi và nghiên cứu có sự tham gia của người dân Xác định hệ biến số, các tiêu chí để đánh giá, xem xét mối quan hệ biện chứng giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội Tiếp cận các yếu tố tác động: tác động trực tiếp - gián tiếp, bên trong - bên ngoài, khách quan - chủ quan; trước mắt – lâu dài; tác động giữa cái biểu lộ và cái tiềm tàng Xác định những tác động tích cực - tiêu cực lên đối tượng nghiên cứu để từ đó phát hiện những hệ quả kinh tế xã hội và dự báo mô hình phát triển

Trong luận án, để làm nổi bật tác động của chuyển đổi cơ cấu kinh tế ngành thuỷ sản (từ kinh tế hiện vật - đánh bắt tự nhiên sang kinh tế hàng hoá - NTTS) đến chuyển đổi cơ cấu xã hội - giảm đói nghèo, với tiếp cận hệ thống, nghiên cứu này xem xét tác động đó được đặt trong sự tương tác vĩ mô giữa hệ Nhân văn – Sinh thái vùng đầm phá, và trong mối tương tác giữa tự nhiên (tài nguyên) với xã hội (các nhóm dân cư, cộng đồng) Trong đó, mối quan hệ tương tác giữa con người – xã hội với tự nhiên được thông qua quá trình kinh tế Đồng thời, bản thân mối quan hệ kinh tế (phát triển NTTS) với xã hội (giảm đói nghèo), và cả hệ thống Nhân văn – Sinh thái ấy còn chịu tác động của nhiều yếu

tố, môi trường khác trong vận động biến đổi và phát triển, như ở sơ đồ A.1

Để làm sáng tỏ mục đích của luận án, khái niệm “giảm đói nghèo” được thao tác hóa thành các chỉ báo để đo lường các biến số, các tương quan, các khía cạch và các mặt của đối tượng nghiên cứu “tác động của phát triển nghề NTTS đến giảm đói nghèo ở đầm phá Tam Giang”

Trang 16

Sơ đồ A.1: Phương pháp tiếp cận vấn đề nghiên cứu của đề tài

Các lý thuyết vận dụng để tiếp cận vấn đề nghiên cứu của đề tài được phối kết hợp và xác định ở ba cấp độ: (1)Tiếp cận tổng quát bằng quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lý thuyết hệ thống và biến đổi xã hội; (2)các lý thuyết trung gian -“đệm”- cấu trúc để tiếp cận gần đến vấn đề nghiên cứu có các lý thuyết: phát triển cộng đồng, cấu trúc chức năng, chủ tương chính sách của Đảng và Nhà nước ta về giảm đói nghèo; và (3)tiếp cận trực tiếp mục tiêu nghiên cứu – đi vào hành vi có các lý thuyết: sự lựa chọn hợp lý, phân tầng

xã hội, xung đột xã hội

Để xây dựng khung lý thuyết cho luận án, trước hết thực hiện hoạt động

hoá biến số, tức là “định rõ chính xác những gì đang được đánh giá trong việc

chỉ định một giá trị cho một biến số” Biến số là một khái niệm có giá trị thay đổi tuỳ từng trường hợp [J J Macionic (1987), tr.46] Tiếp đó, xác định các hệ

biến số và mô hình tương quan giữa chúng, trong đó quan trọng nhất là xác

Hệ Xã hội Nhân văn

Môi trường

Khoa học

Công nghệ

Môi trường Giao lưu Quốc tế

Trang 17

định biến số độc lập - Biến số là nguyên nhân tạo ra thay đổi Và biến số đang

thay đổi gọi là biến số phụ thuộc [J J Macionic (1987), tr 48] Và sau đó xác

định các biến trung gian, biến can thiệp đến vấn đề nghiên cứu Có thể tóm tắt khung lý thuyết của luận án bằng sơ đồ mối tương quan giữa các biến số như sơ

 Mở rộng qui mô

 Các loại hình NTTS

 Các thành phần xã hội tham gia NTTS

BIẾN PHỤ THUỘC Các nhóm dân cƣ nghề nghiệp,

hộ gia đình

Đời sống vật chất

Đời sống phi vật chất

Tiếp cận các nguồn lực xã hội

Điều kiện

tự nhiên, tài nguyên vùng Đầm phá

HỆ QUẢ KINH TẾ - XÃ HỘI

Tích cực và tiêu cực đến

- Xoá đói giảm nghèo

- Mô hình phát triển kinh

Trang 18

5.2 Phương pháp hệ

Để thực hiện được mục tiêu, nội dung và giải quyết các mối liên hệ biện chứng giữa những vấn đề nghiên cứu của luận án, vừa đảm bảo tính đại diện, tính khách quan, độ tin cậy, đồng thời luận giải các vấn đề nghiên cứu ở cả hai trạng thái tĩnh và động, đề tài phối kết hợp nhiều phương pháp nhằm đối chiếu, phân tích, so sánh từ nhiều dạng và nguồn thông tin dữ liệu:

1) Phân tích tài liệu thứ cấp từ các kết quả nghiên cứu đã công bố: Các dự

án, các báo cáo của địa phương các cấp xã, huyện, tỉnh, các bài báo trên tạp chí khoa học và chuyên ngành, các luận văn có liên quan đến Đầm phá

2) Phỏng vấn bằng bảng hỏi (định lượng) với tổng số 429 phiếu trên vùng

nghiên cứu (Đầm Sam - Chuồn) và vùng lân cận Khảo sát thực địa này được tiến hành vào tháng 7 năm 2003, trong khuôn khổ dự án tiền khả thi xây dựng

Hồ chứa nước Tả Trạch

3) Phỏng vấn sâu, toạ đàm nhóm tập trung, quan sát và sử dụng các công

cụ của PRA (đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia của người dân), CBCRM (quản lý tài nguyên ven biển dựa vào cộng đồng) [Lê Thị Kim Lan và

Trần Xuân Bình (2001), tr 433-441] Thông tin được xử lý, xây dựng thành các nghiên cứu trường hợp (định tính) trên cùng đối tượng (mẫu), tại địa bàn nghiên cứu ở những thời điểm khác nhau 1998 và 2003 để so sánh sự biến đổi, khác biệt [Xem thêm J L Baker (2002), tr.48-49]

Cơ cấu chọn mẫu nghiên cứu định lượng: Toàn vùng giữa đầm phá số

phiếu thực tế được khảo sát là 429 phiếu (bảng hỏi), trong đó riêng Huyện Phú Vang có 4 đơn vị khảo sát, chiếm 50% số xã, và với tổng số 226 phiếu, chiếm 52,7% so với tổng phiếu điều tra Tỷ lệ này cho phép chúng ta có đủ căn cứ khái quát hoá được những đặc trưng về vấn đề nghiên cứu ở Huyện Phú Vang nói riêng và của toàn vùng đầm phá nói chung [Xem phụ lục A.1, Bảng A.1]

Cơ cấu chọn mẫu nghiên cứu định tính: Tổng cộng gồm có 133 nghiên

cứu trường hợp Trong đó: Hộ dân có (12 trường hợp x 9 làng) = 108 trường hợp, chiếm 81,2%, cán bộ xã có (06 trường hợp x 3 xã) = 18 trường hợp, chiếm 13,53% và 07 trường hợp cấp Huyện, chiếm 5,26% [Xem phụ lục A.3]

Phương pháp xử lý thông tin và viết kết quả nghiên cứu

Trang 19

Từ các nguồn thông tin, dữ liệu thu thập bằng quan sát, phỏng vấn sâu và tọa đàm nhóm của nghiên cứu định tính chúng tôi xây dựng thành các nghiên cứu trường hợp Và 429 bảng hỏi được xử lý trên chương trình SPSS 9.0 Quá trình xử lý và viết kết quả, kết hợp phân tích định tính và phân tích định lượng, phối hợp nhiều nguồn thông tin, dữ liệu Vận dụng lồng ghép các khái niệm, phạm trù, lý thuyết và quy luật vào việc phân tích, tổng hợp, khái quát hoá trong mỗi nội dung vấn đề để làm sáng tỏ mục tiêu nghiên cứu của luận án

6 Giả thuyết nghiên cứu

Giả thuyết nghiên cứu của luận án tập trung vào các vấn đề sau:

- Phát triển nghề NTTS đã tác động làm biến đổi kinh tế - xã hội, gia tăng các hoạt động sống – giảm đói nghèo trong các nhóm dân cư vùng đầm phá Tam Giang, thể hiện:

+ Mở rộng diện tích, loại hình và các thành phần kinh tế xã hội tham gia NTTS sẽ giảm đói nghèo

+ Tỷ lệ hộ ngư dân NTTS tăng làm giảm tỷ lệ hộ đói nghèo

+ Tỷ lệ hợp lý giữa mức độ mở rộng qui mô và phân phối diện tích mặt nước NTTS sẽ giảm hộ đói nghèo hoặc ngược lại

- Phát triển nghề NTTS dẫn đến các vấn đề xã hội nảy sinh: Phân tầng, xung đột, thay đổi tổ chức đời sống, thay đổi quan hệ xã hội

- Nhiều yếu tố tác động đến cộng đồng ngoài phát triển nghề NTTS: Nhu cầu nâng cao các hoạt động sống của cả cộng đồng; kinh tế, chính trị, văn hoá,

xã hội, tài nguyên, môi trường chưa xác định được xu hướng

- Mô hình phát triển NTTS hiện tại ở vùng đầm phá Tam Giang còn mang yếu tố tự phát, thiếu tính bền vững

- Những chính sách kinh tế - xã hội về phát triển NTTS còn có những điểm chưa sát thực tế, chưa thực sự phù hợp với tình hình ở địa phương và không ít những vấn đề kinh tế - xã hội đang đặt ra

7.1 Đóng góp khoa học của luận án

Trang 20

- Lần đầu tiên vấn đề tác động phát triển NTTS đến giảm đói nghèo ở cộng đồng dân cư vùng đầm phá Tam Giang được nghiên cứu có hệ thống và theo hướng tiếp cận xã hội học Các lý thuyết và phương pháp thực nghiệm xã hội học được chiếu rọi, vận dụng để xem xét các vấn đề thực trạng dưới tác động của kinh tế và biến đổi xã hội, đồng thời dự báo xu hướng phát triển của cộng đồng dân cư đầm phá theo hướng bền vững

- Nhận diện khá toàn diện về thực trạng cộng đồng dân cư trong mối quan hệ tương tác với tài nguyên và môi trường của hệ đầm phá trong phát triển (vừa ở trạng thái tĩnh và vừa ở trạng thái động) Làm rõ một số đặc điểm có tính qui luật, những đặc trưng về mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và biến đổi xã hội, góp phần làm phong phú thêm lý luận xã hội học về phát triển cộng đồng

7.2 Ý nghĩa thực tiễn của luận án

- Kết quả nghiên cứu có ý nghĩa lý luận và thực tiễn rất bức bách, không chỉ đối với người dân, cộng đồng mà còn đưa ra cơ sở khoa học để giúp các nhà quản lý, các nhà hoạch định chính sách, cơ quan thẩm quyền các cấp của tỉnh Thừa Thiên Huế và địa phương có căn cứ để hoạch định, quy họach và kế hoạch hoá chiến lược phát triển KT - XH thuộc 5 huyện vùng đầm phá Tam Giang đúng hướng

- Giúp người dân, cộng đồng mà đặc biệt người nghèo phát hiện được những vấn đề của mình, phát huy những mặt tích cực, né tránh những tiêu cực luôn nảy sinh, giúp họ cải thiện sinh kế theo hướng phát triển bền vững, giảm đói nghèo,

- Kết quả nghiên cứu của luận án là tư liệu tham khảo hữu ích cho những ai quan tâm, thực hiện các loại hình nghiên cứu đến đầm phá Tam Giang Thừa Thiên Huế Là tài liệu phục vụ học tập, giảng dạy xã hội học và các khoa học liên ngành hoặc cận xã hội học

- Những kết quả của luận án còn có thể là tư liệu tham khảo tin cậy cho các dự

án nghiên cứu phát triển, dự án can thiệp vào các địa phương của vùng đầm phá Thừa Thiên Huế nói riêng và các vùng đầm phá, ven biển Việt Nam nói chung

8 Kết cấu của luận án

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Phụ lục và Tài liệu tham khảo, luận án có 3 chương, gồm 10 tiết

Trang 21

B NỘI DUNG Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU GIẢM ĐÓI NGHÈO VÙNG ĐẦM PHÁ TAM GIANG

1.1 Một số lý luận cơ bản tiếp cận vấn đề nghiên cứu

Cơ sở lý luận của luận án được hiểu gồm các khái niệm chủ chốt, các khái niệm công cụ, và những lý thuyết xã hội học được vận dụng để tiếp cận vấn đề nghiên cứu

Các khái niệm công cụ của đề tài được xác định ở hai cấp độ: (1)Các khái niệm chủ chốt gồm: đói nghèo; giảm đói nghèo; nghề NTTS; phát triển bùng nổ NTTS; và (2)Một số khái niệm liên quan như: chất lượng cuộc sống;

cơ cấu kinh tế; cơ cấu ngành nghề Các khái niệm “đói nghèo” được thao tác hóa thành các chỉ báo để đo lường các biến số, các tương quan, các khía cạnh

và các mặt của đối tượng nghiên cứu “tác động của phát triển nghề NTTS đến giảm đói nghèo ở đầm phá Tam Giang”

Các lý thuyết vận dụng để tiếp cận vấn đề nghiên cứu của đề tài được phối kết hợp và xác định ở ba cấp độ: (1)Tiếp cận tổng quát có lý thuyết hệ thống, biến đổi xã hội và quan điểm, các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta về giảm đói nghèo và phát triển bền vững; (2)Các lý thuyết trung gian để tiếp cận gần đến vấn đề nghiên cứu có: phát triển cộng đồng, cấu trúc chức năng; và (3)Tiếp cận trực tiếp mục tiêu nghiên cứu có các lý thuyết: sự lựa chọn hợp lý, phân tầng xã hội và xung đột xã hội

1.1.1 Các khái niệm cơ bản

Đói nghèo là khái niệm chủ chốt của đề tài và liên quan đến đói nghèo ở nghĩa rộng là khái niệm “chất lượng cuộc sống” Khái niệm đói nghèo được sử dụng thao tác hoá thành các chỉ báo để đo lường các biến số đáp ứng nội dung

và mục tiêu của đề tài

Trang 22

1.1.1.1 Khái niệm đói nghèo

Đến nay, khái niệm về đói nghèo vẫn được hiểu một cách chưa thống

nhất bởi các tiêu chí về chất và lượng “Giàu” và “nghèo” là hai khái niệm đối

ngược nhau, tồn tại bên nhau và mang tính lịch sử Khái niệm “giàu” dùng để

chỉ những cá nhân, những hộ gia đình có nhiều tiền, nhiều tài sản so với mức

bình thường Còn “nghèo” là tình trạng không có hoặc có rất ít tiền bạc, của cải dùng để duy trì ở mức tối thiểu nhu cầu đời sống vật chất, trái với “giàu” Đói

nghèo là khái niệm kép của “đói” và “nghèo”, chúng có trong nhau, bao hàm

lẫn nhau và có nhiều sắc nghĩa Chẳng hạn “đói” có: đói gay gắt, đói nghèo, đói khổ, đói rách, đói kém… Và “nghèo” có: nghèo hèn, nghèo khổ, nghèo đói, nghèo túng, nghèo kiệt (xơ xác, rớt mùng tơi)… Thực tế, trong xã hội nói chung, vùng đầm phá Tam Giang nói riêng, ở mỗi thời điểm và không gian xác định, tính đa dạng trong bộ phận những người nghèo đói vẫn còn phản ánh đủ các sắc nghĩa trên Tuy nhiên, trong phạm vi nghiên cứu của luận án không có ý định

đo lường đói nghèo theo cấp độ các sắc nghĩa đó, mà chỉ xác định và khu trú khái niệm đói nghèo như dưới đây để sử dụng làm công cụ

Quan niệm truyền thống về đói nghèo được WB phổ biến rộng rãi để thực hiện trong các báo cáo nghiên cứu từ những năm 1990 đến nay là: Đói nghĩa là

Nghèo; nó không chỉ bao hàm sự khốn cùng về vật chất (được đo lường theo một khái niệm thích hợp về thu nhập hoặc tiêu dùng), mà còn là sự thụ hưởng thiếu thốn về giáo dục và y tế Hiện nay trong phát triển, WB mở rộng quan

niệm về đói nghèo để tính đến cả nguy cơ dễ bị tổn thương và dễ gặp rủi ro –

không có tiếng nói và quyền lực [WB, 2000/2001, tr 19]

Hiện nay trên thế giới và ở nước ta, khái niệm về nghèo đói có sự khác

biệt đáng kể Một số tác giả cho rằng, nghèo thường đi đôi với đói và thiếu đói,

được hiểu là tình trạng của một bộ phận dân cư có mức sống dưới tối thiểu, chỉ

đủ khả năng đảm bảo có được mức lương thực bữa đói bữa no và có những khi đứt bữa một hoặc hai, ba tháng Trong bộ phận dân cư thiếu đói, có bộ phận

thiếu thốn và cực khổ nhất: tức những người “đói gay gắt” Đói gay gắt là tình

Trang 23

trạng của một bộ phận dân cư có mức sống dưới mức tối thỉểu, đói ăn, đứt bữa

từ 3 tháng trở lên [Đỗ Thị Bình… (1996), tr.33], hoặc “đói gay gắt” là những người có thu nhập dưới 8kg gạo/ đầu người/ tháng [Nguyễn Văn Thiều (1994),

tr.28]

Quan niệm của các tổ chức Liên hiệp quốc, nghèo đói được hiểu theo hai

nghĩa: “Nghèo tuyệt đối” và “nghèo tương đối” Nghèo tuyệt đối là tình trạng

của một bộ phận dân cư không có khả năng thoả mãn các nhu cầu tối thiểu nhằm duy trì cuộc sống như nhu cầu ăn, mặc, ở, vệ sinh, y tế, giáo dục Nghèo tương đối là tình trạng của một bộ phận dân cư mức sống dưới trung bình của cộng đồng nơi địa phương đang xét

Một cách nhận diện khác: “Ai là người nghèo,” một thành phần xã hội tỏ

ra có khả năng rủi ro bị nghèo khổ nhiều hơn những người khác: Già, ốm, tàn tật, gia đình đông, gia đình khuyết, gia đình tổn thương, thất nghiệp, lương thấp, công việc không ổn định theo mùa,…(thu nhập, cơ may, dịch vụ xã hội,

hưởng chính sách, phúc lợi, rủi ro thị trường, sai lầm của các quyết định, rủi ro của thiên nhiên, lương thấp, lao động chân tay, thất nghiệp, ít thời gian lao động…) Tất thảy đó là những người dễ phải chịu đựng nghèo khổ kinh niên [T Bilton…(1993), tr.75]

Đói nghèo còn phản ánh qua cách đánh giá của tập thể tác giả bằng những đặc điểm chủ yếu của người nghèo ở Việt Nam hiện nay, gồm: (1)Đặc điểm nhân khẩu học; (2)Đặc điểm về trình độ văn hoá; (3)Đặc điểm về tài sản, nhà ở, đời sống tinh thần; (4)Dễ bị tổn thương; và (5)Nghèo đói là kết quả của nhiều nhân tố [Lê Xuân Bá (2001), tr.118-133] Ngoài ra, theo như Amartya

Sen gọi là “khả năng một con người có được, đó là quyền tự do đáng kể mà họ

được hưởng để vươn tới một cuộc sống mà họ mong muốn” [WB, A Sen

(1999), tr 87]

Như vậy, đói- nghèo hiểu theo nghĩa đầy đủ, là hai khái niệm phản ánh mối quan hệ tích hợp bởi các khái niệm mức sống, hoạt động sống, lối sống, những điều kiện sống và môi trường sống… mà con người được “cung cấp”

Trang 24

chưa đầy đủ Với cách tiếp cận này, nhìn một cách khái quát thì khái niệm nghèo đói được mở rộng và phản ánh gần với khái niệm “chất lượng cuộc sống” của con người, cộng đồng người Xu hướng này được nhiều tổ chức, dự án tiếp cận nghiên cứu và can thiệp để giảm đói nghèo hiện nay Do đó, cần xem xét thêm khái niệm chất lượng cuộc sống để thấy hết các khía cạnh, các tiêu chí, các chỉ báo liên quan đến đói nghèo ở nghĩa rộng

1.1.1.2 Chất lƣợng cuộc sống

Chất lượng cuộc sống một khái niệm có nội hàm rộng, bao gồm cả

những chỉ tiêu về lượng và các chỉ tiêu về chất, rất phong phú và phản ánh hai mặt: Chất lượng cuộc sống cao tức là phản ánh sự sang – giàu…, ngược lại chất lượng cuộc sống thấp kém cũng đồng nghĩa với nghèo – hèn và có thể nghèo đói, có hoạt động sống, lối sống, điều kiện sống, mức sống và môi trường sống thấp Không có một thang giá trị, chuẩn mực chung về chất lượng cuộc sống cho mọi xã hội trong mọi thời điểm khác nhau của quá trình phát triển

Để hiểu rõ các yểu tố quyết định đến đói nghèo và chất lượng cuộc sống

trên tất cả các phương diện, cần nghỉ đến vấn đề tài sản của người dân, lợi suất

của những tài sản đó và tính bất ổn định của mức lợi suất đó Những tài sản này

tồn tại dưới các dạng: (1)Tài sản con người, như khả năng có được sức lao động

cơ bản, kỹ năng và sức khoẻ tốt; (2)Tài sản tự nhiên, như đất đai; (3)Tài sản

nhân tạo - vật chất, như tiếp cận đến cơ sở hạ tầng; (4)Tài sản tài chính, như

tiết kiệm và được vay vốn; (5)Tài sản tri thức “tri thức đã mã hoá”; (6)Tài sản

xã hội, như các mối quan hệ và trách nhiệm đối với nhau để khi cần có thể nhờ

cậy và ảnh hưởng chính trị đối với các nguồn lực [WB,…2000/2001, tr.41],

[WB, (2003) tr.53]

Từ nhiều hướng tiếp cận về chất lượng cuộc sống như: tiếp cận kinh tế, tiếp cận kinh tế học phát triển hay tiếp cận tấn công đói nghèo theo cách của

WB, chung qui lại với cách nhìn toàn diện, chỉnh thể (dù cấp độ nào, ở chế độ

xã hội nào, với tư cách là đời sống con người, cộng đồng người hướng tới phát

triển, hiện đại), chất lượng cuộc sống được phản ánh đầy đủ qua các yếu tố cơ

Trang 25

bản cả về chất và lượng như sau: (1)Những đặc điểm nhân khẩu trong gia đình

và cộng đồng; (2)Mức cân đối thu nhập và chi tiêu; (3)Vấn đề giáo dục và mức

độ thụ hưởng; (4)Tình trạng Y tế, sức khoẻ và mức độ thụ hưởng; (5)Nhà ở, điều kiện sinh hoạt, vui chơi giải trí…; (6)Đời sống tâm linh, tình cảm, nhu cầu thoả mãn tinh thần; (7)An ninh, an toàn, bình đẳng, tự chủ bởi môi trường bao quanh cuộc sống; (8)Sự tự do, ở đây muốn phản ảnh cơ hội lựa chọn các giá trị cuộc sống như ăn, mặc, ở, đi lại, chọn nghề, chọn thầy, chọn bác sĩ để chữa bệnh; và (9)Sự chịu tác động rộng hơn của môi trường tự nhiên và xã hội, cũng như các môi trường khác: khoa học công nghệ; đô thị hoá; thương mại hoá; giao lưu văn hoá, quốc tế hoá, môi trường chính trị

Một số kiểu nhóm xã hội hoặc những người giàu có về của cải vật chất,

có mức sống cao (thu nhập và chi tiêu) nhưng chưa hẳn đã có chất lượng cuộc sống cao và tốt Chẳng hạn như sự giàu có theo kiểu “trọc phú”, “bông bống xà phòng”, “của trên trời rơi xuống”… Nghĩa là “giàu” nhưng chưa hội đủ các điều kiện, giá trị, chuẩn mực, văn hoá, mới chỉ có điều kiện cần mà chưa có điều kiện đủ Thông thường trong xã hội tăng trưởng hay cá nhân thăng tiến có tính “đột biến”, “nhảy vọt”, yếu tố vật chất - kinh tế đi trước, vượt quá yếu tố phi vật chất - văn hoá mà vai trò của hệ thống thiết chế xã hội không kiểm soát, điều tiết được thì thường để lại những hệ quả xã hội khó lường như: xáo trộn hệ thống tổ chức đời sống, cấu trúc xã hội, rối loạn chuẩn mực và các quan hệ xã hội Và trong nhiều trường hợp, điều này đã làm đứt đoạn, phá vỡ các giá trị văn hoá truyền thống tốt đẹp, mà các giá trị này rất cần thiết để đảm bảo cho sự phát triển theo hướng giàu có bền vững

Ngược lại, những người hay những xã hội có đời sống kinh - vật chất không cao, có thể là nghèo nhưng có đời sống tinh thần - văn hoá lành mạnh, tâm hồn trong sáng theo kiểu “đói mà sạch, rách mà thơm”, có lối sống, điều kiện và môi trường sống tốt hơn thì họ vẫn có chất lượng cuộc sống không thấp Bởi lẻ các tiêu chí phản ánh chất lượng sống không chỉ đo lường bằng vật chất, kinh tế mà còn bao hàm các thước đo về giá trị văn hoá, phi vật chất khác Tuy

Trang 26

nhiên, hiểu chất lượng cuộc sống theo kiểu này vẫn chưa thoả mãn một cách đầy đủ các tiêu chí chất lượng cuộc sống tiến bộ của xã hội văn minh hiện đại

Thực tế ở các địa phương, khi đánh giá tình trạng nghèo đói và phân tầng

xã hội của các bộ phân dân cư, nhược điểm lâu nay thường mắc phải là chỉ chủ yếu dựa vào chỉ tiêu “mức thu nhập bình quân đầu người”- các chỉ tiêu về lượng để xếp hạng xã hội và giàu - nghèo, bởi họ cho rằng nó có định lượng rõ ràng mà hầu như không tính đến một cách đầy đủ thêm các yếu tố cơ bản về chất lượng cuộc sống như đã nêu ở trên Do đó không phản ánh hết mọi phương diện, mọi khía cạch có tính lịch sử cụ thể của sự đói nghèo và nguyên nhân của chúng Vì vậy mọi chính sách, giải pháp can thiệp còn mang tính chủ quan, phiến diện, thiếu khả thi và thường gây thêm những phát sinh, hậu quả, phản bền vững

1.1.1.3 Khái niệm đói nghèo vận dụng trong luận án

Trong khuôn khổ luận án, khái niệm đói nghèo được sử dụng với nội hàm phản ánh các khía cạnh cả lượng và chất, theo nghĩa rộng của sự đói nghèo

Nghĩa là, khái niệm đói nghèo được thao tác hoá với các tiêu chí phản ánh ba

trạng thái đáp ứng mục tiêu của luận án là: (1)Các tiêu chí cơ bản đo lường về

lượng như: mức sống, thu nhập, chi tiêu, nhà cửa, khả năng sử dụng các trang thiết bị hiện đại, tích luỹ, đầu tư sản xuất…- có thể gọi là nghèo thu nhập (Income Poverty); (2)Các tiêu chí về chất như: đời sống văn hoá tinh thần, thụ hưởng về giáo dục, y tế… - có thể gọi là nghèo tri thức (Knowledge Poverty);

Và (3)Các tiêu chí xuyên suốt bao hàm lượng chất tác động đến sinh kế của người dân như: Sự chuyển đổi nghề nghiệp, lao động, việc làm, sự an ninh an toàn và cơ hội tiếp cận các nguồn lực xã hội, các nguồn tài nguyên chung, các dạng tài sản khác - có thể gọi là nghèo nhân văn (Human Poverty)

Giảm đói nghèo: cũng có thể được hiểu theo các nghĩa “tấn công đói

nghèo”; “xoá đói giảm nghèo”; “chống đói nghèo”… là chương trình hành động của cả thế giới, các quốc gia, các địa phương nhằm đẩy lùi đói nghèo, nâng cao chất lượng cuộc sống, tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội Với cách tiếp

Trang 27

cận về nghèo đói như vậy, các giải pháp tấn công đói nghèo hiện nay được WB

áp dụng rộng rãi là: (1)Mở rộng cơ hội – tăng trưởng, tạo thị trường phục vụ

người nghèo, khoách trương tài sản cho người nghèo và giảm bất bình đẳng; (2)Tăng cường quyền lực (tạo điều kiện để trao quyền) - Để các thể chế nhà nước thích ứng hơn với người nghèo, Dỡ bỏ các rào cản xã hội và xây dựng các thể chế xã hội; (3)Thực hiện tăng cường an sinh xã hội - Hỗ trợ người nghèo quản lý rủi ro, quản lý khủng hoảng kinh tế và thiên tai; và (4)Các hành động quốc tế - Huy động các lực lượng toàn cầu để giúp đỡ người nghèo và cải tổ phương thức hợp tác phát triển để tấn công đói nghèo

1.1.1.4 Các phương pháp đánh giá nghèo đói ở nước ta hiện nay

Hiện nay, ở Việt Nam có nhiều cách đánh giá đói nghèo khác nhau dựa trên các chuẩn khác nhau và mang tính lịch sử cụ thể Có một số cách đánh giá gắn với nghiên cứu đói nghèo và hoạt động can thiệp của các tổ chức sau: (1)Ngân hàng thế giới (WB); (2)Tổ chức lao động quốc tế (ILO); (3)Tổng cục thống kê Viêt Nam; (4)Bộ lao động thương binh xã hội; và (5)Một số ý kiến của tập thể tác giả có nhiều kinh nghiệm trong thực hiện và nghiên cứu chống đói

nghèo Chung qui lại, xác định một số chỉ tiêu đánh giá ngưỡng nghèo đói ở

Việt Nam hiện nay có một số cách tiếp cận chính để phân tích vấn đề đói nghèo

được phổ biến là:

Thứ nhất: Tiếp cận của ngân hàng Thế giới: Người nghèo, được hiểu

một cách khái quát bao gồm những người ở dưới “mức nghèo” (Poverty line)

Có hai ngưỡng nghèo: Ngưỡng nghèo chung và nghèo lương thực thực phẩm

Bảng 1.1: Ngưỡng nghèo ở Việt Nam trong các năm 1993 và 1998

(nghìn đồng)

Chi tiêu bình quân đầu người hàng năm (thời điểm 1-1993) (thời điểm 1-1998) Ngưỡng nghèo lương

thực, thực phẩm

Ngưỡng nghèo chung 1.160 1.788

Nguồn: Ngân hàng Thế giới và Tổng cục Thống kê, 1999

Trang 28

Thứ hai: Tiếp cận của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội (gần với Tổng

cục thống kê): Một hộ được coi là đói khi thu nhập bình quân đầu người trên

một tháng qui ra gạo hoặc tiền với thời giá tương đương của gạo, đối với miền núi là dưới 15kg, nông thôn đồng bằng dưới 20kg và thành thị dưới 25kg Ngoài ra có một cách tính khác dựa theo năng lượng đơn vị calo bằng “rổ lương thực thực phẩm cung cấp 2100 Kcalo/ mỗi ngày/ người”

Thứ ba: Theo những nghiên cứu mới nhất của WB đưa ra một số thước đo

sự nghèo khổ như sau: (1) Tỉ lệ nghèo lương thực được đo bằng tỉ lệ dân số

không có khả năng mua đủ phần lương thực trong giỏ tiêu dùng kể cả khi không chi tiêu gì cho các hạng mục phi lương thực Chi phí cho phần lương thực trong

giỏ tiêu dùng gọi là ngưỡng nghèo lương thực; (2) Tỉ lệ nghèo được đo bằng tỉ

lệ dân số không trang trải được giỏ tiêu dùng gồm lương thực và phi lương thực

để đảm bảo 2100 calo một ngày cho mỗi người Chi phí cho một giỏ tiêu dùng

được gọi là ngưỡng nghèo; (3) Khoảng cách nghèo là phần chênh lệch giữa

mức chi tiêu thực tế của hộ so với ngưỡng nghèo, được tính bằng tỉ lệ phần trăm so với ngưỡng nghèo Chỉ tiêu này được tính bằng số trung bình của tất cả các hộ nghèo với mức nghèo được xác định [WB, Nghèo (2004), tr 8]

Trong phạm vi nghiên cứu, luận án cố gắng mô tả bức tranh khái quát về vấn đề đói nghèo của địa phương – vùng đầm phá trên cơ sở những nguồn tư liệu về nghèo đói đã được công bố (của WB, các loại báo cáo hàng năm của huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế) Phân tích nghèo đói và những vấn đề của nghèo đói ở đây theo các chỉ báo như đã nói ở trên và chúng đang chịu tác động trực tiếp của phát triển nghề NTTS, cố gắng tách bóc những tác động của

các yếu tố chung (các biến can thiệp vĩ mô) để đi sâu vào tìm hiểu và phân tích

tác động chủ yếu của phát triển nghề NTTS đến khả năng giảm đói nghèo trong các nhóm trong cộng đồng dân cư như thế nào, diễn ra theo chiều hướng nào

Tuy nhiên, các yếu tố tác động chung vĩ mô cũng được xem xét đến để thấy được một bức tranh toàn cảnh về sự biến đổi và phát triển cộng đồng, đồng thời

để làm căn cứ cho việc dự báo và đề xuất các giải pháp khoa học, khả thi nhằm phát triển mô hình kinh tế - xã hội vùng đầm phá theo hướng bền vững

Trang 29

1.1.1.5 Nghề nuôi trồng thuỷ sản và sự ra đời nghề nuôi trồng thuỷ sản ở vùng đầm phá Tam Giang

Nghề nuôi trồng thuỷ sản là một bộ phận kinh tế - một nghề nghiệp trong

cơ cấu kinh tế ngành thuỷ sản Các nghề nghiệp thuỷ sản bao gồm: khai thác, nuôi trồng, chế biến và các dịch vụ cho ngành thuỷ sản

Bản thân ngành kinh tế thủy sản hàm chứa nhiều yếu tố của kinh tế

vùng: theo lát cắt địa hình lãnh thổ ta thấy có các vùng ven biển, đồng bằng, trung du; theo lát cắt vùng miền có Bắc, Trung, Nam, duyên hải, châu thổ; theo lát cắt địa sinh thái có vùng ngọt, triều, cửa sông, biển, vịnh; và theo lát cắt không gian kiến trúc có đô thị, nông thôn và vùng giáp ranh - “vùng quá độ” giữa đô thị và nông thôn Do đó nghề NTTS cũng rất đa dạng phong phú khác biệt theo vùng Thực hiện nghiên cứu của luận án, chúng tôi chỉ khu trú vấn đề phát triển nghề NTTS trong một phạm vi xác định là vùng đầm phá, ven biển, đồng bằng và cơ bản là ở nông thôn

Sự chuyển đổi cơ cấu kinh tế, ngành nghề tất yếu làm biến đổi cơ cấu xã hội Biến đổi xã hội ở đây, ngoài yếu tố tác động trực tiếp của phát triển nghề NTTS, còn chịu tác động của các yếu tố đô thị hoá, thương mại hoá, CNH, HĐH và các nhân tố vĩ mô khác

Sự ra đời nghề nuôi trồng thủy sản ở đầm phá Tam Giang Thừa Thiên Huế

Từ những năm cuối thập niên 1970, ngành thủy sản Thừa Thiên Huế bắt đầu quan tâm đến NTTS và các loài nuôi chủ yếu có nguồn giống tự nhiên từ đầm phá Năm 1977, Trạm nghiên cứu NTTS được thành lập Sau khi thực hiện nghiên cứu ứng dụng thành công “quy trình trồng đáy rau câu chỉ vàng”, vào năm 1982 trạm chuyển thành xí nghiệp NTTS Những năm 1980 là thời kỳ hoàng kim về sản xuất rau câu của xí nghiệp này ở Phú Tân, đầm phá Tam Giang

Để đánh giá tiềm năng, tạo cơ sở cho phát triển NTTS, UBND tỉnh đã quyết định thành lập “Đội qui hoạch tổng thể NTTS” vào tháng 5/1984 Đội có nhiệm vụ phối hợp với Ban phân vùng Kinh tế Tỉnh, Ban Kinh tế - Kế hoạch và

Trang 30

UBND các huyện có liên quan đến đầm phá, tiến hành điều tra khảo sát môi trường và tài nguyên trên toàn vùng đầm phá Thừa Thiên Huế Nhưng do thiếu cán bộ khoa học, thiếu phương pháp, chưa có kinh nghiệm nghiên cứu và hạn chế phương thức phối hợp, quản lý… nên hoạt động của đội không có hiệu quả.

Đầu năm 1985, “Trạm nghiên cứu hải sản” được thành lập với nhiệm vụ

là nuôi thử nghiệm tôm, cua, cá và nghiên cứu cho tôm Sú sinh sản nhân tạo nhằm mục tiêu đánh giá tiềm năng nguồn lợi đầm phá Thừa Thiên -Huế Chương trình nghiên cứu đang tiến hành thì cơn bão số 8 năm 1985 đã phá huỷ toàn bộ cơ sở thí nghiệm Đến giữa năm 1986 một Việt kiều Nhật - Nguyễn Tiến Dũng - chuyên gia thủy sản đến làm việc tại trạm Ông đã phát hiện nguồn giống tôm sú non (P15), thử nghiệm và khẳng định rằng đầm phá Thừa Thiên

Huế có điều kiện để phát triển nghề nuôi tôm Sú Đây là một phát hiện có ý

nghĩa lớn, thực sự tạo động lực để chính quyền địa phương quyết định hướng phát triển nuôi tôm trên đầm phá

Cùng thời, việc sản xuất tôm Sú giống ở Nha Trang - Khánh Hòa và Ninh Thuận đã có những thành công nhất định, bước đầu khẳng đinh có thể chủ động nguồn giống để đưa vào sản xuất đại trà Đồng thời mặt hàng tôm Sú nói riêng

và hàng hải sản nói chung lúc này cũng bắt đầu hấp dẫn thị trường xuất khẩu Những yếu tố thuận lợi này đã cuốn hút người dân, nhiều đơn vị, các địa phương tích cực tham gia NTTS Nghề NTTS thực sự ra đời tại đầm phá Tam Giang

Năm 1989 điểm nuôi tôm công nghiệp đầu tiên (liên doanh giữa Úc và Công ty nuôi tôm xuất khẩu Thành phố Huế) tại Phú Tân được thực hiện, gọi là công ty Lobana Tiếp đó, năm 1990 xuất hiện thêm điểm nuôi tôm bán thâm canh ở xã Phú Xuân (thuộc Công ty xuất khẩu Thủy sản Thừa Thiên Huế) Những thành công đáng ghi nhận của các công ty đã tạo động lực thúc đẩy và khẳng định vị thế nghề NTTS ở đầm phá Tam Giang Chưa đầy 5 năm, từ tổng

số diện tích NTTS ban đầu là 42ha vào 1990, đã lên hơn 1000ha vào năm 1995, hiện nay (2003) lên đến 3.667,2ha, và dự kiến 2004 sẽ đạt 4.941ha [Sở Thuỷ

Trang 31

sản (2003), tr.3] NTTS đã trở thành bộ phận quan trọng trong cơ cấu nghề thủy

sản ở đầm phá Thừa Thiên Huế

Nguyên nhân và yếu tố tác động đến sự xuất hiện và phát triển nghề NTTS là: Trước hết là những sức ép của gia tăng dân số, sự tăng lên của mật độ lao động, mật độ ngư cụ dẫn đến khai thác quá tải nguồn lợi từ đầm phá, nhưng

đã không cải thiện được mức sống của các cộng đồng ngư dân, mà còn dẫn đến ngày càng làm suy kiệt nguồn lợi Thứ hai, cơ chế thị trường và sự tăng lên của nhu cầu tiêu dùng, cũng như xuất khẩu hàng hoá thuỷ sản Thứ ba, con người

sử dụng nhiều kỹ thuật, nhiều công cụ hiện đại, có tính huỷ diệt Vì lợi nhuận trước mắt, sự khai thác nạo vét, quá tải càng làm trầm trọng thêm sự mất cân bằng sinh thái, huỷ hoại môi trường và cạn dần nguồn sống của cả cộng đồng

Con người ở đây vốn dĩ gắn bó chặt chẽ, lệ thuộc với thiên nhiên và từ thiên nhiên Khi sức ép dân số, lao động và cơ chế cũ mâu thuẩn với nguồn lợi tài nguyên cạn dần, cuộc sống dẫn đến nhiều khó khăn, mâu thuẩn với nhu cầu càng tăng Người dân bắt đầu tìm tòi, sáng tạo những sinh kế, hoặc di cư đi các vùng kinh tế mới, cho con cái, người thân vượt biên bằng đường biển hay cho con cái thoát ly học nghề, kiếm nghề ngay trên mảnh đất, mặt nước mà họ có Ngư dân bắt đầu phát huy kinh nghiệm sống, chuyển đổi nghề, bằng các nghề mới và nghề NTTS được xem là “mũi nhọn” trong số nhiều nghề mới xuất hiện

Có thể khái quát sự hình thành và phát triển nghề NTTS trải qua các giai

đoạn cơ bản: Thứ nhất, từ 1987 - 1994, phổ biến là loại hình NTTS “ao đất” là

loại ao được đào và đắp đê bao quanh, chủ động lưu thông nguồn nước khi thuỷ triều lên xuống hoặc dùng máy bơm Loại ao này chủ yếu để nuôi tôm sú kết hợp với trồng rong câu Tại Phú Tân, riêng công ty nuôi tôm thành phố Huế,

1987 tiến hành nuôi tôm trên diện tích 12,8ha đã tăng lên 80,6ha năm 1993 Thời điểm này toàn xã Phú Tân (nay là thị trấn Thuận An) có 46 tổ tham gia, mỗi tổ có từ 1-3 hộ gia đình và mỗi ao đất thường rộng từ 1-2ha Hình thức này được gọi là nuôi bán thâm canh Nhưng khi vận dụng các loại máy móc hiện đại, chủ động nguồn nước và sục ôxy, nuôi tôm từ các loại thức ăn công nghiệp thì

Trang 32

loại hình này được gọi là nuôi thâm canh Địa phương gọi là hình thức nuôi

“cao triều” - một hình thức được các nhà chuyên môn thuộc sở thuỷ sản - Thừa Thiên Huế đánh giá là xu hướng phát triển NTTS phù hợp nhất với đầm phá và

có tính bền vững

Thứ hai, từ 1994 đến nay (2002), ngoài loại hình ao đất, phổ biến một

loại hình ao nuôi mới là ao vây lưới (ao chắn sáo bằng lưới mùng) Nói chính xác hơn “ao vây lưới” là một hình thức khai thác thuỷ sản hỗn hợp - quảng canh Vì trong mỗi ao khoanh trên diện tích lớn, người ta kết hợp vừa khai thác

tự nhiên vừa NTTS Trong tổng diện tích khoanh, ngư dân chỉ sử dụng (khoanh) một vùng nhỏ bằng 1/4, 1/6 hoặc 1/8 diện tích để NTTS, gọi là ô nuôi, phần lớn còn lại để khai thác tự nhiên

Ao vây lưới có hai hình thức: (1)Vừa vây lưới vừa “đắp đê chìm quanh ao”, khi thuỷ triều xuống thì ao nuôi như hình thức ao đất và khi thuỷ triều lên

đó là ao vây lưới – dân địa phương gọi là hình thức nuôi “trung triều”; và (2)

Ao vây lưới ở những vùng nước sâu không đắp được đê chìm - gọi là nuôi “hạ triều” “Theo kế hoạch, lộ trình giảm diện tích nuôi chắn sáo của huyện Phú Vang như sau: Năm 2004 giảm 120ha ao chắn sáo Năm 2005 giảm 120ha ao chắn sáo và đến năm 2010 không còn hình thức nuôi chắn sáo”[Sở thuỷ sản… (2003), tr.6] Theo các nhà chuyên môn, nguyên nhân của ô nhiễm môi trường, làm suy kiệt và mất cân bằng sinh thái tại đầm phá hiện nay chủ yếu là do loại hình NTTS này gây ra Tuy nhiên, trong nghiên cứu này chúng tôi cho rằng còn có nhiều nguyên nhân khác và việc loại bỏ hình thức NTTS ao vây lưới - chắn sáo sẽ gặp không ít khó khăn về mặt quản lý và các vấn đề xã hội, nếu không muốn nói là khó khăn và phức tạp hơn nhiều so với khi để bùng phát NTTS của loại hình này

Thứ ba, từ những năm 2002 bắt đầu rộ lên phong trào “nuôi thâm canh

cao triều” và “nuôi tôm trên cát” bằng những công nghệ hiện đại, đầu tư vốn lớn của các cá nhân, công ty, doanh nhân và Việt kiều Mô hình này được triễn khai qui mô lớn ở các xã ven đầm phá và các xã thuộc vùng bãi ngang Đây là

Trang 33

loại hình được các nhà chuyên môn của Sở thuỷ sản và các cấp chính quyền ở các địa phương cho rằng có nhiều triển vọng chiến lược Tuy nhiên, nghiên cứu này nhận thấy hình thức nuôi theo công nghệ cao tại vùng đầm phá chỉ thích hợp với những chủ thể có điều kiện, tiềm năng về vốn, kỹ thuật, chuyển giao công nghệ…(người từ ngoài cộng đồng), không thể áp dụng và thích hợp với đa

số dân cư bản địa, đặc biệt là dân nghèo ở vùng này Các loại hình NTTS công nghệ cao hiện chưa có nghiên cứu để xác định được xu hướng và tính bền vững Không ít trường hợp, ngay những vụ nuôi đầu tiên đã thất bại, phá sản… số còn lại đang khẳng định tính hiệu quả kinh tế và vai trò trong cơ cấu ngành thuỷ sản của tỉnh Dù vậy,

“mô hình này đang bị đa số người dân bản địa khuyến cáo về vấn đề gây ô nhiễm môi trường đất, ảnh hưởng đến nguồn nước cho các hoạt động sống của các cộng đồng lân cận và gây nhiều tranh chấp trong việc quản lý, chuyển đổi quyền sử dụng và sở hữu đất đai, mặt nước” [Cán bộ huyện]

Phát triển “bùng nổ nghề nuôi trồng thuỷ sản” (BNNNTTS)

BNNTTS ở đây là một khái niệm để chỉ sự phát triển nhanh chóng (bùng phát), tự phát đến mức không kiểm soát được về diện tích và số tổ, hộ gia đình tham gia khoanh ao vây lưới để NTTS Đó không chỉ là sự tăng trưởng nhanh chóng về diện tích, số hộ, số tổ ao nuôi mà còn phát triển đa dạng của các hệ thống nuôi, hình thức nuôi và đối tượng nuôi, biến mặt nước từ sở hữu chung thành sở hữu riêng

Trên thực tế “BNNNTTS” là “mạnh ai nấy làm” trong một thời gian ngắn, người người, nhà nhà đua nhau rào lấn mặt nước đầm phá một cách tự phát, tuỳ tiện, nấp dưới hoặc mượn danh nghĩa NTTS để chiếm dụng diện tích mặt nước Sau đó, sử dụng một phần nhỏ trong diện tích khoanh được làm ô NTTS, phần lớn diện tích còn lại để đánh bắt tự nhiên Nhưng trên danh nghĩa họ được “sở hữu” - Quyền sử dụng cả vùng rào chắn được

Nguyên nhân cơ bản trực tiếp dẫn đến BNNTTS là nhu cầu thực tế của cộng đồng và chủ trương phát triển nghề NTTS của chính quyền địa phương,

Trang 34

nhưng thiếu qui hoạch và kế hoạch Nguyên nhân gián tiếp, quan trọng là sự tăng nhanh giá trị mặt hàng thuỷ sản trên thị trường tiêu thụ nội địa và xuất khẩu

Biểu đồ 1.1: Mở rộng diện tích và số tổ, hộ NTTS ở Thị trấn Thuận An Qua biểu đồ - kết quả khảo sát tại thị trấn Thuận An - một địa bàn đặc trưng vùng giữa đầm phá Tam Giang - cho thấy mốc đánh dấu bùng nổ phát triển nghề NTTS là vào thời điểm năm 1997

1.1.1.6 Cơ cấu kinh tế và cơ cấu ngành thuỷ sản

Cơ cấu kinh tế là cấu trúc bên trong của quá trình tái sản xuất, thể hiện

bằng số lượng và chất lượng các thành phần, các mối quan hệ và các hình thức tác động tương hỗ của các loại hình thành phần và các loại hình kinh tế khác

nhau Cơ cấu kinh tế thể hiện mức độ xã hội hoá, sự phân công lao động và các

quan hệ về mặt số lượng trong sản xuất kinh doanh của các loại hình sản xuất khác nhau, trong những điền kiện không gian và thời gian nhất định Thực tiễn khi đưa ra các mô hình dự báo, các giải pháp khả thi, qui hoạch, kế hoạch người

ta cho rằng “cơ cấu kinh tế gồm 3 cấu thành có liên quan chặt chẽ với nhau

trong quá trình hình thành nền kinh tế, đó là cơ cấu sản xuất, cơ cấu đầu tư và

cơ cấu các thành phần kinh tế” [Hà Xuân Thông (2000), tr 5]

Trang 35

Theo không gian và thời gian của các bộ phận kinh tế lớn hay nhỏ mà có

cơ cấu kinh tế Quốc dân, của từng vùng miền, của từng ngành sản xuất trong từng địa phương cụ thể Nền kinh tế ổn định và phát triển bền vững là phải có

cơ cấu cân đối, hài hoà, hợp lí Một cơ cấu kinh tế hợp lí là một nền kinh tế mà trong đó các ngành, các vùng, các thành phần, các loại hình sản xuất có qui mô

và trình độ kỹ thuật khác nhau phải được bố trí cân đối, liên kết với nhau, phù hợp với điều kiện kinh tế

Trên cơ sở phân công lao động, chuyên môn hoá và nhu cầu quản lí,

khác biệt với các ngành kinh tế trong cơ cấu kinh tế chung, ngành kinh tế Thuỷ

sản mưu sinh (sản xuất, đầu tư và khai thác) trên các đối tượng sinh vật tự

nhiên – nguồn lợi sinh vật ở nước - Thuỷ sản (tôm, cá, cua ghẹ, rong, nhuyễn thể…), ở các khu vực khác nhau (nước ngọt, mặn, lợ…), những hoạt động sản xuất khác nhau (khai thác, nuôi trồng, chế biến, dịch vụ…), và liên kết ngành khác nhau (môi trường, giao thông, du lịch, cảng, nông nghiệp, lâm nghiệp - rừng ngập mặn…) Đổi mới nền kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế tất yếu chuyển biến cơ cấu ngành nghề, lao động và việc làm Theo đó, biến đổi cơ cấu

xã hội, văn hoá xã hội và hệ thống thiết chế xã hội Phát triển nghề NTTS vùng đầm phá tất yếu dẫn đến biến đổi xã hội và tác động đến vấn đề đói nghèo

1.1.2 Các lý thuyết và quan điểm tiếp cận vấn đề nghiên cứu

Có nhiều lý thuyết, quan điểm giúp chúng ta thiết lập cơ sở khoa học để nghiên cứu, phân tích, đánh giá, dự báo về vấn đề đổi mới cơ cấu kinh tế và xoá đói giảm nghèo trong phát triển Trong phạm vi giới hạn được xác định, luận án chỉ đề cập đến một số lý thuyết liên quan trực tiếp với kỳ vọng tìm thấy “hạt nhân hợp lý” làm cơ sở lý luận tiếp cận nội dung nghiên cứu

Biến đổi cuộc sống - giảm đói nghèo của các cá nhân và cộng đồng chịu nhiều yếu tố khách quan và chủ quan tác động Việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế nói chung và kinh tế ngành nói riêng tác động mạnh mẽ đến những biến đổi xã hội, đặc biệt giảm đói nghèo Luận án lựa chọn hướng tiếp cận tổng – tích hợp một số lý thuyết và quan điểm xã hội học để phân tích vấn đề nghiên cứu

Trang 36

1.1.2.1 Tiếp cận hệ thống

Hệ thống là một tập hợp những yếu tố hoặc thành phần có quan hệ với

nhau, trong đó nếu có sự thay đổi của một thành phần nào đó sẽ tạo nên sự tác động lên một số thành phần khác, hoặc toàn bộ cả hệ thống Đó là một tập hợp các thành tố hay bộ phận đươc tổ chức để hướng tới một mục đích nhất định trong mối quan hệ với môi trường bên ngoài [D.Jary, J.Jary (1991), tr…]

Tiếp cận hệ thống là một trong những tiếp cận quan trọng, được nhiều nhà

xã hội học đã quan tâm Nét chung chủ yếu của các tư tưởng ở chỗ họ đều quan niệm xã hội là một “hệ thống đặc thù”, “hệ thống tổng thể”, “hệ thống chỉnh thể”, “một cơ thể xã hội siêu hữu cơ”, và họ đều chú ý nhiều đến tiếp cận xã hội học vĩ mô, ít quan tâm xã hội học vi mô Tuy nhiên, họ cố gắng xây dựng lý thuyết hệ thống tổng quát để áp dụng xem xét cho mọi xã hội, song tiếp cận hệ thống của họ lại rơi vào phiến diện do quá nhấn mạnh, đề cao, thậm chí rơi vào tuyệt đối hoá đặc trưng này hay đặc trưng khác của hệ thống xã hội

Khắc phục những nhược điểm trên, lý thuyết hệ thống của T Parsons (1902 -1979) cho rằng xã hội là hệ thống hành động theo chức năng Ông đề cao đặc trưng chức năng cấu trúc của hệ thống bằng “lược đồ AGIL nổi tiếng của ông” Có bốn chức năng cơ bản: Sự thích nghi (A); Sự đạt được mục tiêu (G); Sự hài hoà (I); và sự tiềm tàng hoặc sự duy trì khuôn mẫu (L) [H Korte, (1997), tr 266-273], [G Endruweit (1999), tr 83] Hệ hành vi cơ thể và hệ hành động kinh tế chuyên môn hoá chức năng thích nghi, nghĩa là bảo đảm sự cân bằng động giữa xã hội với môi trường, đặc biệt là giới tự nhiên với các quá trình hoá – lý đặc trưng Hệ phân cách và hệ hành động chính trị chuyên môn hoá chức năng đạt mục tiêu, bảo đảm hướng đích mục tiêu cuộc sống, công bằng xã hội Hệ xã hội và cộng đồng xã hội chuyên môn hoá chức năng tích hợp, bảo đảm sự thống nhất cao của xã hội Hệ văn hoá và hệ uỷ thác trách nhiệm bảo đảm quá trình duy trì khuôn mẫu văn hoá, nghĩa là duy trì trật tự, ổn định xã hội Các thiết chế xã hội duy trì khuôn mẫu tốt nhất là gia đình, nhà trường và tôn giáo [Tô Duy Hợp, (2001), tr 16- 21]

Trang 37

T Parsons đề cao quá trình cân bằng động của hệ thống hành động Sự biến đổi căn bản của xã hội được ghi nhận, nhưng không có sự giải thích khoa học Ông đã tiếp thu truyền thống tiến hoá luận đơn giản hơn, chỉ miêu tả đặc trưng so sánh, đối chiếu các biến khuôn mẫu khi chuyển đổi loại hình xã hội từ truyền thống đến hiện đại Trên cơ sở này ông đưa ra ba đặc trưng cơ bản của khuôn mẫu biến đổi xã hội: (1) Quá trình phân hoá; (2) Quá trình tích hợp; và (3) Thay đổi hệ thống giá trị [Tô Duy Hợp, (1996), tr 11-16]

Tư tưởng về lý thuyết hệ thống của T Parsons được kế thừa từ những tiền bối và thay đổi nhiều lần, nhưng cốt lõi có thể được phân biệt ở hai cấp độ

đó là thuyết hệ thống rộng và thuyết hệ thống hẹp Hệ nguyên lý của lý thuyết

hệ thống tổng quát có thể tổ chức theo một số cách khác nhau Nếu qui giản về nền tảng thì có hai nguyên lý cơ bản nhất: (1)Nguyên lý lưỡng tính mâu thuẫn thống nhất chỉnh thể - phức thể hệ thống, và (2)Nguyên lý sự biến hoá hệ thống theo nghĩa tương đối [Tô Duy Hợp (2001), tr 16- 21] Bản chất hệ thống không đơn giản chỉ là tính chỉnh thể Hệ thống là một khối thống nhất, nhưng là

sự thống nhất của cái đa dạng Hệ thống, mặt khác, là phức tạp, có tính phức thể, phức hợp Do đó bản chất hệ thống thực sự là lưỡng tính mâu thuẫn thống nhất chỉnh thể - phức thể, chỉnh thể - phức hợp [Tô Duy Hợp, (1996), tr 11-16]

Tiếp cận hệ thống tổng quát xây dựng các lược đồ thao tác hệ thống Theo quan điểm của lý thuyết hệ thống tổng quát thì chủ nghĩa cấu trúc, chủ nghĩa chức năng, chủ nghĩa hành vi, chủ nghĩa lịch sử, kể cả chủ nghĩa duy tâm

và chủ nghĩa duy vật chẳng qua chỉ là kết quả tuyệt đối hoá một hoặc một số đặc trưng cơ bản nào đó của hệ thống mà thôi Do đó, phép toàn đồ hệ thống sẽ khắc phục hạn chế của các cách tiếp cận hệ thống phiến diện nói trên

Kế thừa và phát huy những giá trị của lý thuyết hệ thống, được xác định trong lý thuyết hệ thống tổng quát là tập hợp (tổng thể) các yếu tố (hay phần tử)

có mối quan hệ bền chặt với nhau, tạo thành chỉnh thể thống nhất và tương tác với môi trường đa biến Từ cách hiểu này, có thể vận dụng vào nghiên cứu thực

tế xã hội đa dạng, sinh động đang diễn tiến phức tạp, nhiều cấp độ, liên hệ

Trang 38

thống: như giảm đói nghèo (tiểu hệ thống vi mô) - trong cộng đồng dân cư (tiểu

hệ thống) - vùng ven biển - đầm phá (hệ thống phức thể) - do tác động chủ yếu của phát triển nghề NTTS (tiểu hệ thống vi mô) - trong tương quan với các môi trường kinh tế, xã hội, tài nguyên môi trường vĩ mô khác (hệ thống chỉnh thể)

1.1.2.2 Biến đổi xã hội

Mọi xã hội - cũng giống như tự nhiên - vận động, biến đổi và phát triển không ngừng Xã hội càng phát triển, hiện đại thì sự biến đổi càng nhanh hơn,

rõ hơn và sâu sắc hơn Theo cách hiểu rộng nhất, biến đổi xã hội là sự thay đổi

so với một tình trạng xã hội hoặc một nếp sống xã hội có trước Hoặc theo

nghĩa hẹp hơn, sự biến đổi xã hội là sự thay đổi về cấu trúc xã hội hay tổ chức

xã hội Dưới góc độ xã hội học, biến đổi xã hội được quan niệm là một quá trình qua đó những khuôn mẫu của các hành vi xã hội, các quan hệ xã hội, các thiết chế xã hội và các hệ thống phân tầng xã hội được thay đổi theo thời gian

[Phạm Tất Dong… (1997), tr.275]

Biến đổi xã hội là mọi sự thay đổi xã hội, nó ảnh hưởng sâu sắc đến mọi thành tố trong cấu trúc xã hội, không chỉ biến đổi ở hệ thống vĩ mô, mà cả trong từng tiểu hệ thống vi mô và luôn chịu sự tác động của các yếu tố khách quan, chủ quan và môi trường Sự biến đổi xã hội được hiểu là trung tính có nghĩa là

sự biến đổi xã hội có thể tạo nên sự tiến bộ hay thụt lùi của xã hội Có hai mức tạo ra sự biến đổi xã hội: (1) Sự biến đổi nội xã hội: Sự thay đổi các cấu trúc xã hội và các tổ chức xã hội diễn ra trong lòng một xã hội nhất định; (2) Sự thay đổi xã hội: Sự chuyển từ xã hội này sang xã hội khác So với sự biến đổi nội xã hội, sự thay đổi xã hội có phạm vi bao quát rộng lớn, sâu sắc và triệt để Mặt khác, giữa biến đổi nội xã hội và thay đổi xã hội có quan hệ nhân quả với nhau

Sự thay đổi xã hội là thay đổi ở tất cả các cấu trúc và tổ chức xã hội Biến đổi

cơ cấu kinh tế - phát triển nghề NTTS, tác động đến cơ cấu xã hội, biến đổi chất lượng cuộc sống của dân cư ven biển là loại biến đổi nội xã hội

Biến đổi xã hội dù ở cấp độ nào và có hoạch định hay không hoạch định

đều có những đặc điểm sau: (1)Là hiện tượng rất phổ biến nhưng nó diễn ra

Trang 39

không giống nhau giữa các xã hội; (2)Khác biệt về thời gian và hậu quả; (3)Vừa

có tính kế hoạch vừa có tính phi kế hoạch Đây là tính hai mặt của quá trình biến đổi Con người vừa là chủ thể tạo ra biến đổi, vừa chịu hậu quả của biến đổi Có nhiều cách tiếp cận về sự biến đổi xã hội và biến đổi xã hội luôn chịu ảnh hưởng của các nhân tố và điều kiện của sự biến đổi như: dân số; khoa học - công nghệ; kinh tế; văn hoá; tư tưởng; giáo dục; các phong trào xã hội; sự truyền bá…

Như vậy, khi xem xét biến đổi cuộc sống - giảm đói nghèo trong cộng đồng dân cư ven biển do tác động của phát triển nghề NTTS, chúng ta hình dung sự biến đổi cuộc sống của dân cư với đầy đủ các chỉ báo nội hàm của nó, trong sự tương quan tác động trực tiếp của phát triển nghề NTTS Đồng thời với các nhân tố, thành tố và môi trường của toàn bộ hệ thống vùng tác động đến chất lượng sống, vừa ở trạng thái cấu trúc (tĩnh), vừa trạng thái biến đổi (động) Điểm then chốt và mang ý nghĩa thực tiễn của luận án là tiếp cận nghiên cứu tác động của sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế, mà cụ thể ở đây là sự phát triển của nghề NTTS đến những chuyển biến về mặt xã hội - giảm đói nghèo ở các nhóm trong cộng đồng dân cư vùng đầm phá Tam Giang Thừa Thiên Huế, điều này thấm nhuần ý nghĩa rằng: “nhà xã hội học, từ bước đi đầu tiên, đã đặt chân vào ngay hiện thực” [E Durkheim (1993), tr.62]

Hộp 1.1 Phương pháp nghiên cứu biến đổi xã hội

L Therese Baker đã nêu lên phương pháp nghiên cứu biến đổi xã hội rằng: “Hầu hết các nghiên cứu xã hội đều tập trung vào nghiên cứu các vấn đề của xã hội đương thời, các nhà sử học nghiên cứu quá khứ Thế nhưng những gì xẩy ra ngày hôm nay lại là lịch sử của ngày mai Cho nên các nhà nghiên cứu xã hội luôn cố gắng thấu hiểu được hiện tại để hiểu được những đóng góp của quá khứ và dự báo các điều kiện có thể xẩy ra trong tương lai Ấy chính là động thái của tồn tại xã hội, đóng vai trò quan trọng để hiểu được tồn tại xã hội Các nhà xã hội học coi đây như là việc nghiên cứu

sự biến đổi xã hội”

Nguồn: L Therese Baker (1998), tr.129

Trang 40

1.1.2.3 Tiếp cận cộng đồng

Thuật ngữ cộng đồng đã có một quá trình phát triển lâu dài, rất đa nghĩa và

dễ nhầm lẫn Cộng đồng là đối tượng nghiên cứu của các khoa học xã hội và nhân văn Mỗi ngành lại tạo nên những tuyến nghĩa khác nhau về khái niệm cộng đồng khi xem xét chúng Quan điểm truyền thống sử dụng thuật ngữ cộng đồng như là một cảm nghĩ, khi con người có ý thức cộng đồng, là cảm giác chung của cộng đồng được xác nhận thông qua việc tôn trọng các biểu tượng, các đặc điểm riêng có của cộng đồng Quan điểm hiện đại cho rằng “cộng đồng

là một thuật ngữ dùng để mô tả một tổ chức xã hội đạt trình độ cao trong tổ chức và hoạt động Nó là một nơi, một thực thể địa lý giống như một làng, một thành phố hay một trung tâm Một cộng đồng là một tổ chức xã hội có quan tâm đến những nhu cầu cơ bản như kinh tế, xã hội, văn hoá, giáo dục, chính trị… của các thành viên của mình”.[J M Charon (1989), tr.145-146]

Cộng đồng trong quan niệm Mác xít là mối liên hệ qua lại giữa các cá nhân được quyết định bởi sự cộng đồng lợi ích, cộng đồng về các điều kiện tồn tại và hoạt động, cộng đồng về lao động sản xuất vật chất và các hoạt động khác của họ, sự gần gũi giữa họ về tư tưởng, tín ngưỡng, hệ giá trị, chuẩn mực, nền sản xuất, sự tương đồng về điều kiện sống cũng như các quan niệm chủ quan của họ về các mục tiêu và phương tiện hoạt động [Dẫn theo Tô Duy Hợp…(2000), tr.17]

Các cộng đồng xã hội bao gồm các trạng thái và hình thức tồn tại của cá nhân Các hình thức tổ chức xã hội cơ bản như gia đình, dòng họ, làng xã, cộng đồng theo nghề nghiệp thứ hạng xã hội, tộc người, lãnh thổ hoặc nhóm xã hội

có những đặc tính chung về lứa tuổi, nghề nghiệp, giới, thân phận xã hội, lý tưởng xã hội… và loài người nói chung đều là các kiểu cộng đồng xã hội dựa

trên các cơ sở cộng đồng khác nhau

Nhà xã hội học người Đức F.Tonnies trong nghiên cứu chuyên biệt đầu

tiên của ông về cộng đồng (năm 1887) đã phân biệt xã hội cộng đồng tính với

xã hội hiệp hội tính Xã hội cộng đồng tính đặc trưng cho tính nguyên thủy -

Ngày đăng: 31/03/2015, 15:26

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1]. Chung Á và Nguyễn Đình Tấn (1996), Nghiên cứu Xã hội học, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia (NXB CTQG), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu Xã hội học
Tác giả: Chung Á và Nguyễn Đình Tấn
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia (NXB CTQG)
Năm: 1996
[2]. Dương Văn An (1961), Ô Châu cận lục, Bùi Lương dịch, Nhà xuất bản (NXB) Văn hoá Á Châu, Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ô Châu cận lục
Tác giả: Dương Văn An
Nhà XB: Nhà xuất bản (NXB) Văn hoá Á Châu
Năm: 1961
[3]. L. Therese Baker (1998), Thực hành nghiên cứu xã hội, NXB CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực hành nghiên cứu xã hội
Tác giả: L. Therese Baker
Nhà XB: NXB CTQG
Năm: 1998
[4]. Lê Xuân Bá và đồng sự (2001), Đói nghèo và xóa đói gỉam nghèo ở Việt Nam, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đói nghèo và xóa đói gỉam nghèo ở Việt Nam
Tác giả: Lê Xuân Bá, đồng sự
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2001
[5]. Ban nghiên cứu lịch sử Đảng Trung ương (1997), Văn kiện Đảng 1939 – 1945, NXB Sự Thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đảng 1939 – 1945
Tác giả: Ban nghiên cứu lịch sử Đảng Trung ương
Nhà XB: NXB Sự Thật
Năm: 1997
[6]. Ban Tư tưởng Văn hoá Trung ương (2001), Tài liệu nghiên cứu nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng, NXB CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu nghiên cứu nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng
Tác giả: Ban Tư tưởng Văn hoá Trung ương
Nhà XB: NXB CTQG
Năm: 2001
[7]. Đỗ Thị Bình, Lê Ngọc Lân (1996), Phụ nữ nghèo nông thôn trong điều kiện kinh tế thị trường, NXB CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phụ nữ nghèo nông thôn trong điều kiện kinh tế thị trường
Tác giả: Đỗ Thị Bình, Lê Ngọc Lân
Nhà XB: NXB CTQG
Năm: 1996
[8]. Nguyễn Quang Vinh Bình (1996), Quản lý nguồn lợi thuỷ sản hệ đầm phá Tam Giang, NXB Thuận Hoá, Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý nguồn lợi thuỷ sản hệ đầm phá Tam Giang
Tác giả: Nguyễn Quang Vinh Bình
Nhà XB: NXB Thuận Hoá
Năm: 1996
[9]. Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường (1993), Cứu lấy trái đất, chiến lược cho cuộc sống bền vững, NXB Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cứu lấy trái đất, chiến lược cho cuộc sống bền vững
Tác giả: Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường
Nhà XB: NXB Khoa học và Kỹ thuật
Năm: 1993
[10]. Bộ lao động Thương binh và Xã hội (1994), Đói nghèo - hiện trạng và giải pháp, Nhà xuất bản Khoa học và Xã hội (NXB KHXH), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đói nghèo - hiện trạng và giải pháp
Tác giả: Bộ lao động Thương binh và Xã hội
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học và Xã hội (NXB KHXH)
Năm: 1994
[11]. Chi cục bảo vệ nguồn lợi Thuỷ sản Thừa Thiên Huế (1995), Bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản là trách nhiệm của mỗi công dân, Sở Thuỷ sản, Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản là trách nhiệm của mỗi công dân
Tác giả: Chi cục bảo vệ nguồn lợi Thuỷ sản Thừa Thiên Huế
Nhà XB: Sở Thuỷ sản
Năm: 1995
[12]. Cục bảo vệ nguồn lợi Thuỷ sản (1995), Những điều cần biết về bảo vệ và phát triển nguồn lợi thuỷ sản, NXB Nông Nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những điều cần biết về bảo vệ và phát triển nguồn lợi thuỷ sản
Tác giả: Cục bảo vệ nguồn lợi Thuỷ sản
Nhà XB: NXB Nông Nghiệp
Năm: 1995
[13]. Đảng cộng sản Việt Nam (1996), Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, NXB CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB CTQG
Năm: 1996
[14]. Đảng cộng sản Việt Nam (1987), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI, NXB Sự Thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Sự Thật
Năm: 1987
[15]. Đảng cộng sản Việt Nam (1991), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VII, NXB Sự Thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VII
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Sự Thật
Năm: 1991
[16]. Đảng cộng sản Việt Nam (1992), Nghị quyết Trung ương 4, Khoá VII, NXB CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết Trung ương 4, Khoá VII
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB CTQG
Năm: 1992
[17]. Đảng cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX, NXB CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB CTQG
Năm: 2001
[18]. Phan Đại Doãn và Nguyễn Quang Ngọc (Chủ biên, 1994), Kinh nghiệm quản lý nông thôn trong lịch sử, NXB CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh nghiệm quản lý nông thôn trong lịch sử
Nhà XB: NXB CTQG
[19]. Phạm Tất Dong và Lê Ngọc Hùng (Đồng chủ biên, 1997), Xã hội học, NXB Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã hội học
Tác giả: Phạm Tất Dong, Lê Ngọc Hùng
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia
Năm: 1997
[20]. Dự án Đầm phá Việt Pháp (1999). Báo cáo kết quả thực hiện Dự án Đầm phá Thừa Thiên Huế (Từ tháng 5 đến tháng 12 / 1998). Thừa Thiên Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả thực hiện Dự án Đầm phá Thừa Thiên Huế
Tác giả: Dự án Đầm phá Việt Pháp
Năm: 1999

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình  thức  nuôi  khác  như:  nuôi  cao  triều  và  nuôi  trên  cát…”  [UBND…(2003b), tr.4] - Tác động của phát triển nghề nuôi trồng thủy sản đến giảm đói nghèo ở đầm phá Tam Giang hiện nay
nh thức nuôi khác như: nuôi cao triều và nuôi trên cát…” [UBND…(2003b), tr.4] (Trang 75)
Bảng  2.10:  Kết  quả  xếp  dãy  ưu  tiên  cơ  cấu  chi  tiêu  trong  gia  đình  của  các  nhóm hộ ở hai thời điểm 1997 và 2002 - Tác động của phát triển nghề nuôi trồng thủy sản đến giảm đói nghèo ở đầm phá Tam Giang hiện nay
ng 2.10: Kết quả xếp dãy ưu tiên cơ cấu chi tiêu trong gia đình của các nhóm hộ ở hai thời điểm 1997 và 2002 (Trang 123)
Bảng 2.13: Điều kiện điều trị bệnh - Tác động của phát triển nghề nuôi trồng thủy sản đến giảm đói nghèo ở đầm phá Tam Giang hiện nay
Bảng 2.13 Điều kiện điều trị bệnh (Trang 135)
Bảng 3.1: Số nghề khai thác trên đầm phá - Tác động của phát triển nghề nuôi trồng thủy sản đến giảm đói nghèo ở đầm phá Tam Giang hiện nay
Bảng 3.1 Số nghề khai thác trên đầm phá (Trang 166)
Bảng 3.2: Cơ sở hạ tầng nghề cá vùng đầm phá - Tác động của phát triển nghề nuôi trồng thủy sản đến giảm đói nghèo ở đầm phá Tam Giang hiện nay
Bảng 3.2 Cơ sở hạ tầng nghề cá vùng đầm phá (Trang 166)
Bảng B.1: Tình trạng cƣ ngụ của dân  thuỷ diện - vạn đò - Tác động của phát triển nghề nuôi trồng thủy sản đến giảm đói nghèo ở đầm phá Tam Giang hiện nay
ng B.1: Tình trạng cƣ ngụ của dân thuỷ diện - vạn đò (Trang 214)
Bảng B.16: Sử dụng nước sinh hoạt - Tác động của phát triển nghề nuôi trồng thủy sản đến giảm đói nghèo ở đầm phá Tam Giang hiện nay
ng B.16: Sử dụng nước sinh hoạt (Trang 218)
Bảng B.18: Vai trò của việc đánh bắt cá đối với những ngƣ dân - Tác động của phát triển nghề nuôi trồng thủy sản đến giảm đói nghèo ở đầm phá Tam Giang hiện nay
ng B.18: Vai trò của việc đánh bắt cá đối với những ngƣ dân (Trang 218)
Bảng B.19: Thị trường của sản phẩm đánh bắt - Tác động của phát triển nghề nuôi trồng thủy sản đến giảm đói nghèo ở đầm phá Tam Giang hiện nay
ng B.19: Thị trường của sản phẩm đánh bắt (Trang 219)
Bảng B.20: Họat động nuôi trồng thủy hải sản - Tác động của phát triển nghề nuôi trồng thủy sản đến giảm đói nghèo ở đầm phá Tam Giang hiện nay
ng B.20: Họat động nuôi trồng thủy hải sản (Trang 219)
Bảng B.22: Những hộ gia đình tham gia chương trình tái định cư từ năm 1975 - Tác động của phát triển nghề nuôi trồng thủy sản đến giảm đói nghèo ở đầm phá Tam Giang hiện nay
ng B.22: Những hộ gia đình tham gia chương trình tái định cư từ năm 1975 (Trang 220)
Bảng B.25: Nhu cầu cho khu vực tái định cƣ nếu tái định cƣ - Tác động của phát triển nghề nuôi trồng thủy sản đến giảm đói nghèo ở đầm phá Tam Giang hiện nay
ng B.25: Nhu cầu cho khu vực tái định cƣ nếu tái định cƣ (Trang 221)
Bảng B.26: Chỉ tiêu xác định hộ giàu - nghèo - Tác động của phát triển nghề nuôi trồng thủy sản đến giảm đói nghèo ở đầm phá Tam Giang hiện nay
ng B.26: Chỉ tiêu xác định hộ giàu - nghèo (Trang 226)
Bảng  B.27:  Kết  quả  đ-ợc  tổng  hợp  qua  bảng  phân  loại  giàu  nghèo  có  sự  tham gia của ng-ời dân - Tác động của phát triển nghề nuôi trồng thủy sản đến giảm đói nghèo ở đầm phá Tam Giang hiện nay
ng B.27: Kết quả đ-ợc tổng hợp qua bảng phân loại giàu nghèo có sự tham gia của ng-ời dân (Trang 227)
Bảng  B.28:  Tình  hình  sản  xuất  thủy  sản  của  tỉnh  Thiên  Thiên  -  Huế  qua  các năm - Tác động của phát triển nghề nuôi trồng thủy sản đến giảm đói nghèo ở đầm phá Tam Giang hiện nay
ng B.28: Tình hình sản xuất thủy sản của tỉnh Thiên Thiên - Huế qua các năm (Trang 227)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w