1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chất thơ trong tiểu thuyết viết về chiến tranh thời kỳ đổi mới qua 3 tác phẩm Nỗi buồn chiến tranh (Bảo Ninh), Khúc bi tráng cuối cùng (Chu Lai), Tàn đen đốm đ

92 920 6

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 92
Dung lượng 1,12 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nỗi buồn chiến tranh Bảo Ninh, Khúc bi tráng cuối cùng Chu Lai, Tàn đen đốm đỏ Phạm Ngọc Tiến thực sự là ba tác phẩm mang đến cho người đọc cái nhìn mới về hiện thực chiến tranh và cuộc

Trang 1

1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

NGUYỄN THỊ THANH PHƯƠNG

CHẤT THƠ TRONG TIỂU THUYẾT VIẾT VỀ CHIẾN TRANH THỜI KỲ ĐỔI MỚI QUA 3 TÁC PHẨM:

NỖI BUỒN CHIẾN TRANH (BẢO NINH) KHÚC BI TRÁNG CUỐI CÙNG (CHU LAI)

TÀN ĐEN ĐỐM ĐỎ (PHẠM NGỌC TIẾN)

LUẬN VĂN THẠC SĨ

Chuyên ngành: VĂN HỌC VIỆT NAM

Hà Nội-2014

Trang 2

2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

NGUYỄN THỊ THANH PHƯƠNG

CHẤT THƠ TRONG TIỂU THUYẾT VIẾT VỀ CHIẾN TRANH THỜI KỲ ĐỔI MỚI QUA 3 TÁC PHẨM:

NỖI BUỒN CHIẾN TRANH (BẢO NINH) KHÚC BI TRÁNG CUỐI CÙNG (CHU LAI)

Trang 3

3

LỜI CẢM ƠN

Luận văn được hoàn thành tại Khoa Văn học – Trường Đại học Khoa học

xã hội và nhân văn Em xin bày tỏ lời tri ân sâu sắc tới PGS TS Lê Dục Tú, người đã hướng dẫn em thực hiện luận văn này bằng một tinh thần khoa học nhiệt thành và nghiêm túc

Em xin gửi lời cảm ơn tới các thầy, cô giáo trong khoa Văn học, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội

đã giảng dạy em, trang bị cho em những nền tảng kiến thức bổ ích, giúp đỡ

em trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu thực hiện đề tài

Và xin cám ơn sự động viên, quan tâm giúp đỡ của những người thân trong gia đình, bạn bè và đồng nghiệp trong suốt thời gian qua

Với trình độ và kiến văn còn hạn chế của người viết, luận văn chắc chắn không tránh khỏi khiếm khuyết Tác giả luận văn mong muốn sẽ nhận được những nhận xét, góp ý của các thầy cô, các nhà nghiên cứu và những người có quan tâm đến vấn đề được thực hiện trong luận văn Xin trân

trọng cảm ơn!

Hà Nội,10 tháng 7 năm 2014

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Thanh Phương

Trang 4

4

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 6

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 6

2 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ 7

3 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU 15

4 MỤC ĐÍCH, Ý NGHĨA LUẬN VĂN 16

5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 16

6 CẤU TRÚC LUẬN VĂN 17

CHƯƠNG 1: CHẤT THƠ VÀ CHẤT THƠ TRONG VĂN XUÔI 18

1.1 Chất thơ và vai trò của chất thơ trong văn xuôi 18

1.1.1 Chất thơ 18

1.1.2 Phân biệt chất thơ, chất trữ tình 21

1.2 Vai trò của chất thơ trong văn xuôi 22

1.3 Chất thơ trong tiểu thuyết 23

1.3.1 Từ những tiền đề lý luận của tiểu thuyết 23

1.3.2 Đến biểu hiện của chất thơ trong tiểu thuyết 26

1.3.2.1 Biểu hiện về nội dung 26

1.3.2.2 Biểu hiện về hình thức nghệ thuật 29

CHƯƠNG 2: BỨC TRANH HIỆN THỰC ĐẬM CHẤT THƠ TRONG NỖI BUỒN CHIẾN TRANH, KHÚC BI TRÁNG CUỐI CÙNG, TÀN ĐEN ĐỐM ĐỎ 31

2.1 Bức tranh thiên nhiên trữ tình, thơ mộng 31

2.1.1 Vẻ đẹp huyền bí, hoang dại của núi rừng 33

2.1.2 Vẻ đẹp thơ mộng của Hà thành 35

2.2 Chất thơ từ những giấc mơ 38

2.2.1 Quan niệm về giấc mơ 38

2.2.2 Chất thơ biểu hiện từ giấc mơ 40

2.3 Chất thơ từ vẻ đẹp của người phụ nữ 47

Trang 5

5

2.3.1 Vẻ đẹp trong trắng tinh khôi 48

2.3.2 Tình yêu trinh nguyên, nồng cháy 49

2.4 Chất thơ từ vẻ đẹp của người lính 53

2.4.1 Tình yêu người lính 53

2.4.2 Tình đồng đội 58

CHƯƠNG 3: NHỮNG PHƯƠNG THỨC BIỂU HIỆN CỦA CHẤT THƠ QUA NỖI BUỒN CHIẾN TRANH, KHÚC BI TRÁNG CUỐI CÙNG, TÀN ĐEN ĐỐM ĐỎ 63

3.1 Ngôn ngữ giàu hình ảnh và nhịp điệu 63

3.1.1 Ngôn ngữ giàu hình ảnh 63

3.1.2 Ngôn ngữ giàu nhạc tính 70

3.2 Giọng điệu trữ tình 75

3.2.1 Vài nét về giọng điệu 75

3.2.2 Giọng điệu trữ tình 76

KẾT LUẬN 83

Trang 6

về chiến tranh vẫn tiếp tục phát triển và góp phần không nhỏ vào sự đổi mới thể loại tiểu thuyết ở Việt Nam

Nỗi buồn chiến tranh (Bảo Ninh), Khúc bi tráng cuối cùng (Chu Lai), Tàn đen đốm đỏ (Phạm Ngọc Tiến) thực sự là ba tác phẩm mang đến cho

người đọc cái nhìn mới về hiện thực chiến tranh và cuộc sống của người lính thời hậu chiến, bổ khuyết những khoảng trống mà tiểu thuyết viết về chiến tranh giai đoạn trước 1975 chưa có điều kiện khám phá Đây cũng chính là một đóng góp quan trọng của ba tác giả kể trên trong hành trình cách tân nghệ thuật tiểu thuyết

Ngoài những cách tân trên một số phương diện thì theo người viết vẻ đẹp của chất thơ là một trong nét hấp dẫn, góp phần tạo nên thành công của

ba cuốn tiểu thuyết nêu trên Theo khảo sát thống kê, chất thơ trong tiểu thuyết đặc biệt tiểu thuyết viết về chiến tranh Việt Nam chưa có nhiều công trình nghiên cứu Hầu hết, các bài viết chỉ dừng lại ở một số bài viết riêng

lẻ nói về tính chân thật, điểm mới trong đề tài chiến tranh sau chiến tranh Với lý do đó, người viết đã chọn Chất thơ trong tiểu thuyết viết về chiến

tranh thời kỳ đổi mới qua ba tác phẩm: Nỗi buồn chiến tranh (Bảo Ninh),

Khúc bi tráng cuối cùng (Chu Lai), Tàn đen đốm đỏ (Phạm Ngọc Tiến) làm

đề tài nghiên cứu cho luận văn

Với mong muốn khai thác tìm hiểu về chất thơ qua các vấn đề tiêu biểu

và đóng góp thêm cái nhìn mới sâu sắc hơn, người viết đã chọn Chất thơ

trong tiểu thuyết viết về chiến tranh thời kỳ đổi mới qua ba tác phẩm nói

trên làm đề tài nghiên cứu luận văn

Trang 7

7

2 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ

Nghiên cứu chất thơ trong các tiểu thuyết về đề tài chiến tranh qua ba tác phẩm , người viết nhận thấy cần có khái lược lịch sử nghiên cứu bài

viết liên quan tới các tác phẩm này

Nỗi buồn chiến tranh là một trong những cuốn tiểu thuyết tiêu biểu của

văn học Việt Nam đương đại Sau khi được trao Giải thưởng của Hội nhà văn (1991), cuốn tiểu thuyết này đã gây nên một làn sóng dư luận trong giới nghiên cứu phê bình và bạn đọc Có khá nhiều xu hướng bình luận nghiên cứu khác nhau như: phê phán, phủ nhận, đánh giá dè dặt Nhưng hầu hết xu hướng đều đánh giá cao cuốn tiểu thuyết trên nhiều phương

diện, được coi là thành tựu xuất sắc của văn học thời kỳ đổi mới

Trong bài viết: Nghĩ gì khi đọc tiểu thuyết Thân phận của tình yêu của

Đỗ Văn Khang ở Báo Văn Nghệ số 43 năm 1991 nhận xét: “Những đổi mới nghệ thuật của Bảo Ninh như: cấu trúc trần thuật kép, tính chất đa thanh, kỹ thuật dòng ý thức chỉ là việc làm thuần túy để đánh lừa bạn đọc”

Trong bài Từ đâu đến Nỗi buồn chiến tranh của Trần Duy Châu (Tạp chí

Cộng sản số 10 năm 1994) nhấn mạnh: “Bảo Ninh đã tạo nên hình ảnh đảo ngược của hiện thực, chuyển đổi các giá trị, biến trắng thành đen, thay khúc

ca khải hoàn của dân tộc thành tiếng hát bi thương ai điếu cho những kẻ lạc

loài” [25, tr 25]

Một xu hướng khác nữa là sự cổ vũ động viên nhưng e dè và đều chung

câu hỏi: Liệu rằng cuốn tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh có bị dồn nén quá

nhiều chất bi không? Nguyễn Phan Hách trong cuộc thảo luận về tiểu

thuyết Thân phận của tình yêu (Báo Văn nghệ số 37 năm 1991) đã viết:

“Lùi ra xa, đứng cao hơn một chút thì thấy có thể thông cảm được với tác phẩm này Tôi chưa hẳn tán thành hoàn toàn về nội dung, nhưng cái đẹp, cái tuyệt kĩ, văn chương là văn chương của cuốn sách đã át đi được những

e ngại khác ” [16, tr 4]

Trang 8

8

Cũng trong cuộc thảo luận này, Vũ Quần Phương nhận xét: “Nếu cái đáng khen trong cuốn sách là chân thực trong tâm trạng, thì chỗ cần lưu ý tác giả cũng là tính chân thực cần có, trong khi dựng lại bối cảnh hậu phương miền Bắc và những trận đánh trả máy bay Mỹ Bảo Ninh đã đánh mất cái hào khí rất đẹp của năm tháng ấy, có thể nó ấu trĩ, nhưng nó có cảm giác tác giả có những điều không hài lòng nên có cái nhìn thiên kiến, có chỗ cực đoan Đọc những chi tiết khủng khiếp, đay nghiến, thấy tác giả ác,

ta chưa thấy được nhân tố làm nên chiến thắng ở đây” [16, tr 4] Nhìn chung, các ý kiến của các cây bút nhìn chiến tranh quá gần, thậm chí cảnh giác với nguy cơ chiến tranh, e sợ tác giả rơi vào tình trạng giải thiêng cuộc

chiến tranh vệ quốc vĩ đại của dân tộc

Xu hướng đánh giá cao đóng góp của Bảo Ninh trong sự phát triển của tiểu thuyết Việt Nam hiện đại, tiêu biểu có Nguyên Ngọc Trong cuộc thảo

luận về tiểu thuyết Thân phận tình yêu (Báo Văn nghệ số 37 năm 1991), ông khẳng định: “Cuốn sách Thân phận của tình yêu của Bảo Ninh là sự

nghiền ngẫm về chiến thắng, ý nghĩa và giá trị to lớn và dữ dội của chiến thắng Nó chỉ cho chúng ta biết rằng, chúng ta đã làm nên chiến công vĩ đại thắng Mỹ với cái giá ghê gớm đến chừng nào Một đặc sắc nữa của cuốn sách này là tác giả viết với tư cách hoàn toàn của người trong cuộc, không đứng ngoài, đứng trên nhìn ngắm mà đứng trong, thậm chí ở tận đáy của cuộc chiến tranh Anh viết về cuộc chiến tranh “của anh” gần như bằng tất

cả máu của anh Về mặt nghệ thuật, đó là thành tựu cao nhất của văn học

đổi mới” [50, tr 5]

Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh mang lại một góc nhìn mới về chiến

tranh, bổ sung cho cách nhìn đã quen, là tiểu thuyết về cuộc chiến tranh ấy (chiến tranh chống Mỹ) với tư cách là một cuộc chiến tranh Tác giả đã trừu tượng bớt đi cái phần mục đích, chiến công, nhân tố thắng lợi để chỉ

kể về cuộc chiến tranh với tất cả tính chất chiến tranh của nó Văn học ta đã

Trang 9

về nhà văn, về sự hình thành một kiểu nhà văn, dự báo những thay đổi đáng

kể của ý thức văn học Không nghi ngờ gì, Bảo Ninh đã đóng góp đáng kể,

nhiều mặt cho tiểu thuyết Việt Nam hiện đại

Đánh giá cái nhìn về hiện thực chiến tranh, cách viết về chiến tranh thời

hậu chiến, trong bài viết Nỗi buồn chiến tranh viết về chiến tranh thời hậu

chiến – Từ chủ nghĩa anh hùng đến nhu cầu đổi mới bút pháp, trích trong

cuốn Văn học Việt Nam sau 1975, Phạm Xuân Thạch đã đánh giá: “Trong

Nỗi buồn chiến tranh, Bảo Ninh đã xác lập một cái nhìn mới về hiện thực

lịch sử - hiện thực chiến tranh Mới trong sự đối chiếu với văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa trong chiến tranh và trước 1986 Cái mới ở đây được xác định không chỉ ở việc anh đưa vào trong tác phẩm của mình những chất liệu hiện thực chưa từng có trong văn học chiến tranh (dẫu điều này cũng

có giá trị thẩm mỹ riêng) mà trước hết thể hiện ở việc anh đã tìm đến một phương pháp tiếp cận hiện thực khác với phương pháp điển hình hóa của văn học hiện thực truyền thống Anh không tiếp cận hiện thực thông qua những nhân vật điển hình, hoặc mang tính phản ánh, hoặc mang tính lý tưởng (trong văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa sẽ là sự kết hợ cả hai yếu

tố này) Anh xây dựng và tô đậm tính cá biệt của số phận nhân vật” [54, tr

248]

Nguyễn Đăng Điệp lại nhìn thấy sự mới mẻ trong cách viết và tiếp cận

hiện thực của Bảo Ninh qua bài viết: Kỹ thuật dòng ý thức qua Nỗi buồn

chiến tranh của Bảo Ninh Theo ông, “Cho dù viết nhiều về chiến tranh

Trang 10

10

nhưng xét đến cùng tinh huyết của Bảo Ninh kết tụ trong cuốn tiểu thuyết

để đời của ông: Thân phận tình yêu Toàn bộ tác phẩm là niềm khắc khoải

không nguôi của một người lính bước ra từ cuộc chiến khắc nghiệt ấy Vì thế, nó trung thực đến tận đáy Và cũng vì thế mà khuôn mặt của chiến tranh là một khuôn mặt nhàu nát với bao nỗi đau chồng chất Tên gọi hợp

lý nhất cho nỗi đau ấy phải là Nỗi buồn chiến tranh Bởi thế, đi liền và hòa

lẫn với nỗi buồn chiến tranh là thân phận cay đắng của tình yêu Cả hai chủ

đề này xoắn kết với nhau Nó tựa như hai mặt của một bản thể thống nhất

Bị cuốn vào vòng xoáy nghiệt ngã của cuộc chiến, tình yêu cũng bị đày

đọa, bị đẩy tới bờ vực của sự hủy diệt.[11, tr 399]

Trong công trình Thi pháp hiện đại, bài viết Thân phận tình yêu của

Bảo Ninh, Đỗ Đức Hiểu cũng đánh giá rất cao cuốn tiểu thuyết này: “Trong

văn học Việt Nam mấy chục năm nay, có thể Thân phận của tình yêu là

quyển tiểu thuyết hay về tình yêu, quyển tiểu thuyết tình yêu xót thương

nhất trong tiểu thuyết hiện đại Việt Nam Nỗi buồn chiến tranh thể hiện

một điểm nhìn mới về cuộc chiến tranh kéo dài ba mươi lăm năm, những cảnh tả chiến tranh, những định nghĩa về chiến tranh la liệt trong tác phẩm

Nỗi buồn chiến tranh và nỗi buồn tình yêu thấm vào nhau, hòa lẫn vào

nhau, da diết, xót xa, hủy diệt, đó là hai nhịp mạnh của tiểu thuyết” [22, tr

266]

Trong cuốn Phê bình văn học từ lý thuyết hiện đại, bài viết Thời gian

trong Thân phận của tình yêu, Đào Duy Hiệp nhận xét: Tiểu thuyết Thân phận của tình yêu của Bảo Ninh là hồi ức về chiến tranh của một người

lính – nhà văn Tính chất hồi ức đã chi phối giọng điệu, tạo ra kiểu thời gian chồng chéo, đan cài vào nhau trong dòng chảy gần như dòng ý thức

triền miên suốt gần 350 trang sách” [20, tr 267]

Trong cuốn Bàn về tiểu thuyết, với bài viết Những biến đổi trong cấu

trúc thể loại tiểu thuyết sau 1975, Bùi Việt Thắng nhấn mạnh tới vấn đề

Trang 11

11

“vai trò của ký ức đối với những thay đổi của cấu trúc tiểu thuyết, nó được

coi như một thành tố quan trọng dùng để tổ chức tác phẩm Trong Thân

phận của tình yêu (1990) của Bảo Ninh, tỷ lệ quá khứ - hiện tại là ba trên

một Ký ức chính là dòng hồi tưởng “đi tìm thời gian đã mất” trong tâm lý nhân vật, nối quá khứ với hiện tại Lối kiến trúc tiểu thuyết kiểu lồng ghép các “mảnh vỡ tâm trạng” khiến người đọc rất khó tiếp nhận theo lối truyền thống Kiểu kết cấu này giống nhứ kỹ thuật thiết kế các ngôi nhà ống, người ta cố tạo ra những “giếng trời” – tức là những “khoảng trống”, dễ

nhận ra trong Thân phận tình yêu” [57, tr 83]

Trong Thi pháp hiện đại, Đỗ Đức Hiểu đánh giá Thân phận tình yêu là

một hiện tượng ngôn từ lạ lùng, mang tính đa thanh, tính đối thoại, là tiểu thuyết mở, nảy sinh từ trực giác, vô thức (không loại trừ ý thức và lý trí)

Đó là cuộc hành trình của những mộng du, tỉnh mê, huyền bí Đi tìm thời gian đã mất của Marce Proust là điểm gặp gỡ của Bảo Ninh với lý luận

hiện đại về văn học [22, tr 267]

Có thể nói, Thân phận tình yêu hay Nỗi buồn chiến tranh ngày càng

được đánh giá cao trong cái nhìn rộng rãi hơn cả về nội dụng, nghệ thuật Năm 2003, trả lời phỏng vấn trên Báo Sinh viên Việt Nam về văn học 10

năm qua, Nguyên Ngọc lại một lần nữa khẳng định: Từ Nỗi buồn chiến

tranh, chúng ta mới thực sự có tiểu thuyết hiện đại [48, tr 9]

Khảo sát nghiên cứu cho thấy, chủ yếu là các công trình bài viết đánh giá về cái nhìn của Bảo Ninh khi viết về chiến tranh, bút pháp nghệ thuật

Cụ thể khi đề cập tới chất thơ thì chưa có một công trình chuyên sâu Chỉ

dừng lại ở những bài viết đối sánh nhỏ lẻ như: Trong cuốn Tự sự học – Một

số vấn đề lý luận và lịch sử (Phần 2), bài viết Tư duy thơ trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại, Nguyễn Thị Bình đã nhận định về những văn bản

được tạo lập theo nhãn quan thơ trong đó có Nỗi buồn chiến tranh “Nhìn

sâu vào cách tạo lập văn bản sẽ nhận ra những đặc trưng của tư duy thơ đã

Trang 12

12

chi phối từ quan niệm thể loại đến bút pháp tiểu thuyết Thứ nhất là sự nổi bật nhịp điệu Cảm xúc trong thơ được mã hóa bằng nhịp điệu Ở Việt Nam, khái niệm “thơ ca” cũng cho thấy nhịp điệu có vai trò rất quan trọng đối với sáng tác thơ Văn xuôi tự giác về điều này muộn hơn nhiều và nhịp điệu tiểu thuyết trong thời gian dài chủ yếu được nhìn như tốc độ trần thuật,

sự luân phiên thành phần động – tĩnh Với Thiên sứ (Phạm Thị Hoài),

Chinatown (Thuận), Nỗi buồn chiến tranh (Bảo Ninh)… nhịp điệu nổi lên

như một cảm hứng sáng tạo, một sự “cố tình của bút pháp” và trở thành một cơ chế tổ chức văn bản” [4, tr 485]

Trong cuốn Thi pháp hiện đại, Đỗ Đức Hiểu có viết: “Chất thơ và

hương thơm trong cuốn tiểu thuyết chủ yếu tỏa lên từ mối tình của Phương,

từ thân thể và tâm hồn Phương” [22, tr 269]

Để tìm thấy một công trình nghiên cứu chuyên sâu về chất thơ trong Nỗi

buồn chiến tranh là điều ít ỏi, vì thế người viết hy vọng qua luận văn này

có thể tìm hiểu toàn diện vấn đề này trên phương diện nội dung và nghệ thuật

* Khảo sát các công trình nghiên cứu tới chất thơ trong Khúc bi tráng

cuối cùng của Chu Lai

Thống kê cho thấy, hầu hết các bài nghiên cứu viết về Chu Lai cùng những đóng góp của ông trên phương diện nghệ thuật trong thi pháp tiểu thuyết Chưa có bài báo, công trình nào đề cập tới chất thơ trong Khúc bi tráng cuối cùng Sau khi phân loại và đánh giá, người viết nhận thấy có các vấn đề lớn đã được tìm hiểu như: Thứ nhất, Sự mở rộng và đi sâu vào đề tài chiến tranh, người lính Phần lớn, các sáng tác của Chu Lai, dù ít hay nhiều, đều khai thác đề tài chiến tranh và người lính với cái nhìn sâu sắc,

đau đàu và nhân bản Trong Tiểu thuyết đương đại, Bùi Việt Thắng nhận

xét: “Tiểu thuyết của Chu Lai giới thiệu nhiều vấn đề đáng quan tâm trên

đề tài chiến tranh với ý nghĩa như một đề tài lịch sử” [58, tr 66] Nguyễn

Trang 13

13

Hòa lại từ một tác phẩm cụ thể của Chu lai mà khẳng định những phát hiện

mới của nhà văn: “Với Khúc bi tráng cuối cùng, Chu Lai muốn thể hiện

cách nhìn của anh về chiến tranh qua những tình huống bi kịch để chiêm nghiệm xem con người đã làm thế nào để vượt thoát ra khỏi những tình huống bi kịch ấy” [58, tr.48] Tiếp đó nữa là thành tựu về đề tài số phận người lính thời hậu chiến, vấn đề đổi mới nghệ thuật của tiểu thuyết Chu Lai

Trong Những dấu hiệu đổi mới của văn xuôi sau 1975 qua hệ thống

môtíp chủ đề, Bích Thu cho rằng tiểu thuyết của Chu Lai “là sự truy đuổi cuối cùng của quá khứ để tìm nguyên nhân cái ác vì chỉ có nhìn thẳng vào quá khứ, con người mới tránh được thảm họa của cái ác, mới có thể trừng phạt cái ác để thanh thản sống với hiện tại, hướng tới lẽ phải và điều thiện” [61, tr 8]

Trên Tạp chí Văn nghệ quân đội, tháng 2/ 1993, trong bài Một đề tài

không cạn kiệt, Bùi Việt Thắng đã viết: “Nhân vật Chu Lai được thể hiện

như những con người tâm linh Họ sống bởi những ám ảnh của ảo giác, hối thúc bởi sự sám hối, luôn tìm kiếm sự giải thoát Đó là những con người trở

về sau chiến tranh bị mất thăng bằng, khó tìm được sự yên ổn trong tâm hồn Họ sống trong cảm giác không bình yên… đi vào ngõ ngách đời sống tâm linh con người Chu Lai làm người đọc bất ngờ vì những phám phá nghệ thuật của mình Nhân vật Chu Lai thường tự soi mình, khám phá một bản ngã hay là một con người trong con người [56, tr 104]

Trong bài Cuộc tìm tòi về tiểu thuyết in ở Báo Văn Nghệ, số 26, năm

1993, Đỗ Văn Khang đề cập đến nghệ thuật đến nghệ thuật xây dựng nhân vật trong tiểu thuyết Chu Lai: “Lối chạm khắc nhân vật trong Ăn mày dĩ vãng cũng có nhiều đóng góp mới Ngày trước nhân vật thường mang một

ý phổ quát, tức là có cái gì đó chung cho cả lớp người…, còn Hai Hùng của Chu Lai có cùng số phận được miêu tả như một yếu tố cá biệt, độc nhất

Trang 14

14

nhưng vẫn mang tính điển hình” [26, tr 4] Dù bước đầu đã có một số công

trình nghiên cứu khá đầy đủ về tiểu thuyết Chu Lai như: Đề tài chiến tranh

trong tiểu thuyết Chu Lai (Phạm Thúy Hằng, Luận văn Thạc Sĩ, Đại học Sư

phạm Hà Nội, năm 2003), Thế giới nhân vật trong tiểu thuyết Chu Lai (Tạ

Thị Thanh Thùy, Luận văn Thạc Sĩ, Đại học Sư phạm Hà Nội, năm 2005

Sự thể hiện hình tượng người lính thời hậu chiến trong tiểu thuyết Chu Lai

(Lê Thị Luyến, Luận văn Thạc sĩ, Đại học Vinh, năm 2006) Nhưng xét cách toàn diện, nghiên cứu về chất thơ trong tiểu thuyết của Chu Lai vẫn còn thiếu cái nhìn cụ thể chi tiết, chỉ dừng ở các bài khái quát như:

Trên Tạp chí Nhà văn, số 8 năm 2006 với bài Nội lực của Chu Lai, Bùi

Việt Thắng đưa ra những đánh giá mang tính bao quát toàn bộ các tác phẩm thuộc thể loại tiểu thuyết của Chu Lai ở phương diện nhân vật và giọng điệu Ông nhấn mạnh đến “những dấu son đỏ” như những cột mốc

ghi nhận lộ trình sáng tạo của Chu Lai là Ăn mày dĩ vãng (1992) và Khúc bi

tráng cuối cùng (2004) [55, tr 6]

Tựu chung lại đã có những đánh giá tương đối hoàn chỉnh về tiểu thuyết Chu Lai cũng như những vấn đề xoay quanh việc viết văn của tác giả này

Nó cũng chỉ mới giới hạn ở một phạm vi của một tác phẩm cụ thể nào đó

Chưa có công trình nghiên cứu về chất thơ trong Khúc bi tráng cuối cùng

Sau khi khảo sát, người viết phát hiện đây là hướng đi mới cho đề tài

* Khảo sát các công trình nghiên cứu tới chất thơ trong Tàn đen đốm đỏ

của Phạm Ngọc Tiến

Các bài viết về tác phẩm Tàn đen đốm đỏ không nhiểu Có một số bài viết chủ yếu nói tới tiểu sử, đời tư của Phạm Ngọc Tiến ví như: Phạm Ngọc

Tiến và những chuyện thật như đùa trên trang vietnamnet, xuất bản ngày

22/5/2011, Phạm Ngọc Tiến: Đọc Quyền Sư trên trang thông tin của Nguyễn Trọng Tạo, Chân dung Phạm Ngọc Tiến trên trang batinh.com,

Nhà văn Phạm Ngọc Tiến: Quyết không sống nhạt trên trang báo Công an

Trang 15

15

nhân dân, Biên kịch phim chính luận Phạm Ngọc Tiến: Đã cưỡi lên lưng hổ

thì làm sao xuống được trên trang phaply.net.vn Nổi bật duy nhất có một

bài đề cập đến chất thơ trong sáng tác của Phạm Ngọc Tiến nói chung Đó

là bài Nhà văn Phạm Ngọc tiến: Chất thợ, chất lính, chất văn xuất bản trên báo Tiền Phong Bài viết nói về những nét bình dị gần gũi trong cuộc sống

của tác giả với một số câu chuyện đời tư Mặt khác, bài viết nói về bản chất nội tại con người Phạm Ngọc Tiến Ông khởi đầu văn chương bằng một loạt những giải thưởng Ở bên trong con người lúc nào cũng ồn ã, nôn nóng, nồng nhiệt và chân thật đến thái quá, chất thợ, chất lính lấn át hết cả mọi ứng xử tạo nên cái dễ gần suồng sã và tin tưởng ấy, là một tâm hồn nhạy cảm, cả nghĩ “Ông viết như là tự giãi bày cái phần sâu kín bên trong con người mình, thành thử cái chất thợ, chất lính không còn là gam chủ lực Hình ảnh người lính trở nên mềm mại tinh tế hơn cái anh lính có nguồn gốc thợ điện đời thường Văn Phạm Ngọc Tiến không màu mè ướt át, nhưng cũng không thô tháp vụng về” [14] Bài viết còn đề cập tới một thế mạnh riêng khác nữa của Phạm Ngọc Tiến: “Biên tập kịch bản như làm thợ” [14] Tuy nhiên, người viết nhận thấy chưa có bài viết cụ thể nào nói về chất thơ

trong Tàn đen đốm đỏ của Phạm Ngọc Tiến Chính vì vậy, khai thác chất

thơ trong sáng tác của ông, người viết hy vọng sẽ đóng góp một phần nào những phát hiện mới về giá trị nội dung và nghệ thuật của tiểu thuyết theo phương diện chất thơ

3 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU

* Đối tượng

Chất thơ trong tiểu thuyết viết về đề tài chiến tranh thời kỳ đổi mới qua

ba tác phẩm Nỗi buồn chiến tranh (Bảo Ninh), Khúc bi tráng cuối cùng (Chu Lai), Tàn đen đốm đỏ (Phạm Ngọc Tiến)

Trang 16

16

* Phạm vi nghiên cứu

Tiểu thuyết viết về chiến tranh thời kỳ đổi mới có hàng trăm cuốn sách được xuất bản Tuy nhiên trong khuôn khổ luận văn thạc sĩ, người viết chỉ khai thác chất thơ qua:

Nỗi buồn chiến tranh (Bảo Ninh)

Khúc bi tráng cuối cùng (Chu Lai)

Tàn đen đốm đỏ (Phạm Ngọc Tiến)

4 MỤC ĐÍCH, Ý NGHĨA LUẬN VĂN

Triển khai đề tài này, người viết cố gắng phát hiện và chỉ rõ nội dung, hình thức biểu hiện của chất thơ trong ba tiểu thuyết viết về đề tài chiến tranh trên các phương diện cụ thể tương ứng

5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Để thực hiện mục đích nghiên cứu đã đề ra, người viết sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu sau:

- Phương pháp thống kê, phân tích tổng hợp: Phương pháp thống

kê giúp người viết khảo sát, tìm hiểu tần số xuất hiện, sự biểu hiện của những yếu tố có ý nghĩa quyết định, từ đó chỉ ra được chất thơ trong tiểu thuyết viết về chiến tranh thời kỳ đổi mới

- Phương pháp tiếp cận thi pháp học: Phương pháp này giúp người viết khảo sát, phân tích các phương diện nghệ thuật biểu đạt nội dung như giọng điệu một cách hệ thống

- Phương pháp cấu trúc: Phân tích tác phẩm như một hệ thống các yếu tố, từ đó thấy được chức năng và mối quan hệ giữa các yếu tố ấy với nhau Phương pháp này có vai trò quan trọng làm rõ được những đặc trưng

về nghệ thuật (ngôn ngữ, giọng điệu ) gắn kết với việc biểu đạt nội dung

như thế nào

- Phương pháp so sánh: Phương pháp so sánh được vận dụng để làm sáng rõ những yếu tố kế thừa cũng như cách tân về nghệ thuật, nội

Trang 17

17

dung biểu hiện chất thơ

6 CẤU TRÚC LUẬN VĂN

Ngoài phần mở đầu và kết luận, tài liệu tham khảo, nội dung gồm 3 chương:

Chương 1: Chất thơ và chất thơ trong văn xuôi

Chương 2: Bức tranh hiện thực đậm chất thơ trong Nỗi buồn chiến

tranh, Khúc bi tráng cuối cùng, Tàn đen đốm đỏ

Chương 3: Những phương thức biểu hiện của chất thơ qua Nỗi

buồn chiến tranh, Khúc bi tráng cuối cùng, Tàn đen đốm đỏ

Trang 18

được trên những nét lớn dễ chấp nhận

Hoài Nam từng viết: “Chất thơ của bài thơ nằm trong một cái đích rất mơ

hồ nhưng lại rất cụ thể, nó mơ hồ ở chỗ nó tan biến vào từng câu thơ, nó chảy

ra bàng bạc trong từng tác phẩm nhưng nó cụ thể ở chỗ nó tụ lại ở một điểm ngời sáng nào đó làm cho cái bàng bạc trải rộng kia lấp lánh lên “Điểm ngời sáng” là nơi gặp gỡ của tất cả các câu thơ, ý thơ, là nơi ngã ba, ngã bảy toả đi các câu thơ, đối với người làm thơ là nơi cảm xúc gặp gỡ, đối với người đọc thơ là nơi cảm xúc toả đi Người làm thơ mà không bắt nối các cảm xúc tinh

tế và trải rộng đi nhiều hướng của mình khi tụ lại một điểm thì người đọc thơ

cứ phải đuổi bắt chất thơ bàng bạc, chập chờn và phải sống trong trạng thái chờ đợi vô vọng, phải chịu đựng một bước hẫng hụt trong thi ca” [42, 9]

Theo các tác giả của cuốn Từ điển thuật ngữ văn học thì “Chất thơ là chỉ

những sáng tác văn học (bằng văn xuôi hoặc văn vần) giàu cảm xúc, nội dung cô đọng, ngôn ngữ giàu hình ảnh và nhịp điệu [53, tr 310] Hà Minh Đức cho rằng: “Chất thơ là một phẩm chất tổng hợp được tạo nên từ nhiều nhân tố Những nhân tố này cũng có thể có trong nội dung cấu tao của các thể loại khác, nhưng ở trong thơ được biểu hiện tập trung hơn và được hòa hợp, liên kết một cách vững chắc để tạo nên những phẩm chất mới… Chất thơ gắn liền với những rung động và những cảm xúc trực tiếp Thơ là ở tấm

Trang 19

19

lòng nhưng cũng chính là cuộc sống, thơ gắn liền với trí tưởng tượng và chất thơ cũng gắn liền với cái đẹp” [15, tr 36]

Qua các ý kiến trên, chúng ta có thể rút ra một số khái quát về chất thơ

trên các phương diện: loại hình, mỹ học, cảm hứng, ngôn ngữ:

Ở phương diện loại hình: Thơ gắn liền với phương thức biểu hiện trữ

tình, nó dành ưu thế cho cảm xúc của cái tôi trữ tình Đối với chất thơ trong văn xuôi cũng vậy Chất thơ đó chính là tâm tình, là cảm xúc, cảm hứng của tác giả và nhân vật Như vậy, có nghĩa là có những đối tượng cái nên thơ không được bộc lộ ra ở bên ngoài, nếu miêu tả theo cách sao chép và

mô phỏng tự nhiên thì khó có thể tạo ra chất thơ trong tác phẩm Nhưng nếu phát hiện ra được một nét nào đó ẩn sâu trong bản chất của đối tượng

và cung cấp cho nó một hình ảnh đẹp, một sự giải thích, một sự tô điểm giàu ý nghĩa thẩm mỹ và ý nghĩa xã hội thì chất thơ sẽ xuất hiện và thấm

sâu vào hình tượng

Trên phương diện mỹ học: Chất thơ được xem là cái đẹp của tâm hồn,

của cuộc sống và cao hơn nữa nó còn nói về cuộc sống với một lý tưởng đẹp Ngay khi thơ nói đến cái hùng, cái bi, cái cao cả, cái tầm thường của cuộc sống thì cũng nhìn những cái đó dưới con mắt của cái đẹp mới có chất thơ Nếu nói ý thức và thiên hướng của mọi hoạt động sáng tạo của con người theo quy luật của cái đẹp như Mác nói thì với thơ, ý thơ và cảm hứng sáng tạo biểu hiện rõ rệt đặc tính này Có 1 nhà thơ cho rằng: “Cái đẹp là địa hạt hợp pháp của thơ ca”, Bôđơle xem thơ ca là: “Ước mong của con người vươn tới cái đẹp cao thượng”, Sile nhấn mạnh đến cái đẹp và năng lực tạo cái đẹp ở trong thơ: “Thơ ca biến mọi vật thành đẹp, nó làm tăng vẻ đẹp của những cái gì đẹp nhất, nó đem lại vẻ đẹp cho những cái gì xấu xí nhất” Mặc dù quan niệm đó của Sile có hơi quá song thực tế nói đến thơ là nói đến cái đẹp, là sự phản ánh cái đẹp, làm đẹp lòng người, tâm hồn con

người và đó hẳn là một điều hiển nhiên của thơ

Trang 20

20

Xét trên phương diện cảm hứng: Chất thơ gắn liền với cảm hứng bay

bổng lãng mạn, đó là trạng thái tình cảm mãnh liệt, say đắm xuyên suốt tác phẩm nghệ thuật, gắn liền với một tư tưởng xác định, một sự đánh giá nhất định, gây tác động đến cảm xúc của những người tiếp nhận tác phẩm

Trong Từ điển thuật ngữ văn học, có viết: “Bê-lin-xki coi cảm hứng chủ

đạo là điều kiện không thể thiếu của việc tạo ra những tác phẩm đích thực, bởi nó biến sự chiếm lĩnh thuần tuý trí óc với tư tưởng thành tình yêu đối với tư tưởng, một tình yêu mạnh mẽ, một khát vọng nhiệt thành” [56, tr 45] Chất thơ đối lập với cái dung tục, thấp kém, đê tiện trong một hiện thực đầy phức tạp Mặt khác, bản thân cái hiện thực đầy phức tạp, đầy xung đột với những dục vọng muôn vẻ của con người lại là mảnh đất nuôi dưỡng cho chất thơ của cuộc sống, của tâm hồn con người cất cao lên, vượt lên

khỏi mặt đất “hiện thực” nghiệt ngã để khẳng định giá trị con người

Như vậy, ở góc nhìn này chất thơ là một bình diện của hiện thực cuộc sống, nó xuất hiện chính trong cuộc đấu tranh của con người trong hiện thực vươn tới một hiện thực cao hơn Cho nên, chất thơ không phải là một phần chất tâm hồn con người từ trên trời rơi xuống mà nó là một phần máu thịt của tâm hồn con người trong cuộc đấu tranh hiện thực chống lại các thế

lực thù địch với con người

Phương diện ngôn ngữ: Thơ có tính nhạc Trong dòng “phong cách trữ

tình” ngôn ngữ giàu tính nhạc vì bản thân nó giàu chất thơ Chất thơ trong thơ gắn với nhạc điệu, trong truyện, đặc biệt là truyện ngắn trữ tình, tính nhạc dẫu không rõ ràng lắm nhưng chính âm hưởng, tiếng vang của nó lan toả trong lòng người đọc lại chính là tiếng nhạc đậm đà, dịu dàng, nhẹ nhàng và cũng lại ấn tượng

Toàn bộ những phẩm chất trên hợp thành chất thơ trong đời sống văn học Nó là một phẩm chất tổng hợp được tạo nên từ nhiều nhân tố như cảm xúc, cái đẹp, trí tưởng tượng Chất thơ thường được dùng để chỉ những

Trang 21

21

sáng tác văn học bộc lộ một cách trực tiếp, cô đọng cảm xúc chủ quan của

cá nhân trước thế giới và nhân sinh, thể hiện sự kết tinh của cái đẹp qua những hình tượng nghệ thuật được tạo dựng bằng ngôn ngữ chọn lọc, tạo hình, giàu nhạc tính và biểu cảm

1.1.2 Phân biệt chất thơ, chất trữ tình

Không ít người đồng nhất các khái niệm Chất thơ và chất trữ tình trên là một Ở đây, người viết cho rằng cần có sự phân xuất các khái niệm trên để thấy rõ đặc trưng của chất thơ trong mối tương quan so sánh giữa chúng Trữ tình là một trong ba phương thức cơ bản thể hiện đời sống, làm cơ

sở cho một loại tác phẩm văn học Nếu tự sự thể hiện tư tưởng, tình cảm của tác giả bằng con đường tái hiện một cách khách quan các hiện tượng đời sống, thì trữ tình phản ánh đời sống bằng cách bộc lộ trực tiếp ý thức của con người, nghĩa là con người tự cảm thấy mình qua những ấn tượng, ý nghĩ, cảm xúc chủ quan của mình đối với thế giới và nhân sinh Như vậy, trữ tình là một nguyên tắc phản ánh đời sống bằng cái nhìn bên trong, cái nhìn nội tâm, từ thế giới bên ngoài chuyển vào bên trong Nói đến trữ tình

là nói đến cảm xúc, tâm trạng, tâm tư tình cảm, thế giới tinh thần của con người Với đặc trưng cơ bản là bộc lộ tình cảm, trữ tình hướng đến khả năng biểu cảm ở ngay tổ chức bên trong của ngôn ngữ, truyền cho nó sự xúc động và tính chủ quan

Chất trữ tình tạo nên những xúc cảm nghệ thuật Nó thường được sử dụng để chỉ những sáng tác văn học bộc lộ trực tiếp ý nghĩ, cảm xúc chủ quan của cá nhân đối với thế giới và nhân sinh thì chất thơ lại thường được

sử dụng để chỉ những sáng tác văn học, không chỉ bộc lộ cảm xúc, ý nghĩ của cá nhân đối với thế giới và nhân sinh mà còn thể hiện sự kết tinh của cái đẹp qua những hình tượng nghệ thuật được tạo dựng bằng ngôn ngữ giàu hình ảnh và nhạc điệu Để tác phẩm văn chương còn mãi trong lòng

Trang 22

22

người đọc cần có chất thơ Chất thơ có thể ví như sự kéo dài chất trữ tình,

là “cái lõi” của chất trữ tình

Trên đây, là những so sánh cơ bản để phân biệt chất trữ tình và chất thơ

Sự phân biệt trên cũng chỉ là tương đối Nhưng qua đó, ta có thêm cơ sở để định giá về giá trị của tác phẩm văn học nói chung, và tiểu thuyết nói riêng thông qua Chất thơ

1.2 Vai trò của chất thơ trong văn xuôi

Thõ là hình thức sáng tác vãn học phản ánh cuộc sống, thể hiện những tâm trạng, cảm xúc mạnh mẽ bằng ngôn ngữ hàm súc giàu hình ảnh và nhất

là có nhạc ðiệu Thế giới chủ quan của con ngýời, cảm xúc, tâm trạng, ý nghĩa ðýợc trình bày trực tiếp và làm thành nội dung chủ yếu của thõ Ðặc trýng cõ bản của thõ là thiên về biểu hiện cảm xúc, hàm súc cô ðọng, ngôn ngữ có nhịp ðiệu Chất thõ là ðiều kiện cõ bản của bài thõ Không có chất thõ thì nhất ðịnh không thể có thõ hay

Cũng trên cõ sở này xuất hiện khái niệm “chất thõ” ðể chỉ những sáng tác (bằng vãn vần hoặc vãn xuôi) giàu cảm xúc, nội dung cô ðọng, ngôn ngữ giàu hình ảnh và nhịp ðiệu Chất thơ trong văn xuôi chính là sự giao thoa giữa thơ và văn xuôi.Tác phẩm văn xuôi có chất thơ nghĩa là tác giả của tác phẩm ấy bằng phương tiện nghệ thuật (ngôn ngữ giàu hình ảnh,

nhịp điệu…) để tạo nên những rung động thơ trong văn xuôi Nếu như nhân

vật, cốt truyện là yếu tố cần để tạo nên cái khung sườn cho một tác phẩm văn xuôi thì chất thơ là yếu tố đủ giúp cho tác phẩm tác động mạnh mẽ vào tâm hồn người đọc, làm rung lên nơi đó những nhịp đập của cảm xúc Vãn xuôi luôn ðề cao tính khách quan của hiện thực ðời sống Ðể tái hiện ðời sống khách quan, vãn xuôi tập trung phản ánh ðời sống, con ngýời qua biến cố, sự kiện xảy ra với nó, có tác dụng phõi bày những mặt nhất ðịnh của bản chất con ngýời Vì nền vãn học truyền thống của ta là một nền vãn học vãn vần cho nên khi khắc họa hiện thực ðời sống, vãn xuôi viết

Trang 23

ẩn dụ và các phép tu từ làm đẹp thế giới Nghệ sĩ cũng thýờng dùng cả ngôn ngữ thiên nhiên để diễn đạt chất thõ của hiện thực con ngýời Quan trọng hõn là sự cộng hýởng nghệ thuật của tất cả các yếu tố ngôn từ kia Hiện týợng đó trong thõ thì đã rõ nhý một tất yếu nhýng ngay cả vãn xuôi, những âm vần mang tắnh thõ của ngôn ngữ cũng xuất hiện và có khi trở thành một phýõng diện của thi pháp ngôn ngữ trong một số hiện týợng vãn xuôi nghệ thuật

1.3 Chất thơ trong tiểu thuyết

1.3.1 Từ những tiền đề lý luận của tiểu thuyết

Trong khuôn khổ của luận văn, người viết xin trình bày những vấn đề lý luận tiểu thuyết làm nền cho việc tìm hiểu chất thơ trong tiểu thuyết viết về chiến tranh

Tiểu thuyết là một thể loại Ộcòn rất trẻ và đang phát triển Cái sườn thể loại của tiểu thuyết vẫn chưa hoàn chỉnh, chưa cứng rắn lại và ta vẫn chưa hình dung hết được tất cả những khả năng tạo hình của nó Tiểu thuyết là một thể loại còn uyển chuyển, mềm dẻo và dường như không bị đóng khung trong những quy phạm chật hẹp như một số thể loại khác

Bên cạnh đó, tiểu thuyết có tắnh Ộvăn xuôiỢ, tắnh tổng hợp, đa phong cách và đa thanh, trong tiểu thuyết có sự pha trộn, chuyển hóa lẫn nhau của nhiều màu sắc thẩm mỹ: cái cao cả và thấp hèn, chất thơ và chất văn

Trang 24

ở thơ, nhất là thơ trữ tình thì ít, còn ở văn xuôi, đặc biệt văn tiểu thuyết thì lại rất nhiều Lời thơ về cơ bản là lời đơn thanh (một bè), trong tác phẩm thơ chỉ có một tiếng nói trực tiếp và thuần khiết của nhà thơ nói cái tôi của mình bằng ngôn ngữ của mình Về phương diện phong cách học, có thể ví một bài thơ trữ tình với một bài hát diễn đơn không đệm hoặc một bản nhạc độc tấu viết cho đàn dây Văn xuôi nghệ thuật, nhất là văn tiểu thuyết thì khác hẳn Bakhtin ví một văn bản tiểu thuyết với bản tổng phổ một tác phẩm giao hưởng: ở đấy có rất nhiều bè, nhiều bộ với những cách đi bè, phối khí phức tạp; ai không nắm vững được nghệ thuật đi bè, phối khí thì

có tài mấy cũng không viết được nhạc giao hưởng và các thể loại âm nhạc phức hợp khác Nói như Bakhtin, người viết văn xuôi nào chỉ biết nói cái tôi của mình bằng ngôn ngữ của mình, không biết nói cái của mình bằng ngôn ngữ của người khác (trong đó có ngôn ngữ của nhân vật), không biết đưa vào và “phối khí” trong câu văn của mình những tiếng nói khác nhau ở ngoài đời thì người ấy dù cố gắng thế nào cũng chỉ viết được những sáng tác bề ngoài rất giống tiểu thuyết nhưng không phải là tiểu thuyết

Có thể thấy, ngôn ngữ tiểu thuyết hết sức phong phú, bên cạnh ngôn ngữ trung tính, khách quan, trong tiểu thuyết còn có cả ngôn ngữ giàu chất trữ tình, hùng hồn cảm động, hài hước châm biếm… Tiểu thuyết từ bỏ tính một phong cách của các thể loại sử thi, bi kịch… tạo nên tính tổng hợp về phong cách và “thanh điệu”, thu hút nhiều thể loại khác vào cấu trúc nghệ thuật của mình Tiểu thuyết là một thể hỗn hợp thu hút được hết các thể

Trang 25

25

loại khác Chúng ta có thể đem vào tiểu thuyết một hình thức nào đó của văn xuôi cũng được: kịch, bút ký, truyện ngắn, truyện dài và thơ nữa, đem từng chương từng đoạn hoặc từng chữ để miêu tả một ý nghĩ, một hành động nhân vật, hình thức nào tiểu thuyết cũng dung nạp được tất Khả năng tổng hợp của tiểu thuyết không chỉ thể hiện ở việc thu hút những thể loại văn học khác mà còn ở việc sử dụng những thủ pháp của điện ảnh và âm nhạc Và khi sử dụng những thủ pháp của âm nhạc, tiểu thuyết sẽ gần với thơ hơn trên phương diện ngôn ngữ giàu nhạc tính Thi trung hữu nhạc hay nói cách khác tính nhạc làm nên chất thơ trong tiểu thuyết Bên cạnh đó, ngôn ngữ tiểu thuyết còn giàu tính tạo hình Tính tạo hình làm ngôn ngữ giàu hình ảnh, đây cũng là một đặc điểm quan trọng của ngôn ngữ thơ

Ở cấp độ nhân vật, mỗi nhân vật là một tiếng nói, một chủ thể độc lập, bình đẳng với tác giả Điều đáng nhấn mạnh ở đây, không phải là những đối thoại thông thường mà là đối thoại về tư tưởng, về ngữ nghĩa, về quan điểm nằm trong chính phát ngôn của họ Từ sau Đổi mới đến nay, đặc tính đối thoại, đa âm trong ngôn ngữ và văn phong tiểu thuyết đã được gia tăng

một cách rõ rệt Các tác phẩm Thời xa vắng (Lê Lựu), Ngược dòng nước lũ (Ma Văn Kháng), Thiên sứ (Phạm Thị Hoài), Bến không chồng (Dương Hướng), Mảnh đất lắm người nhiều ma (Nguyễn Khắc Trường), Nỗi buồn

chiến tranh (Bảo Ninh), Cơ hội của Chúa (Nguyễn Việt Hà), Chinatown

(Thuận), Ba người khác (Tô Hoài), Ngồi (Nguyễn Bình Phương), Mười lẻ

một đêm (Hồ Anh Thái) cho thấy tiểu thuyết Việt Nam đã vượt qua một

chặng dài trên con đường hiện đại hóa ngôn ngữ cũng như đa dạng hóa các dạng thức diễn ngôn Ở đó, có thể nhận ra những cuộc chất vấn, đối thoại, tranh biện giữa tác giả và nhân vật, người kể chuyện và nhân vật, nhân vật

và bạn đọc trên một dòng tự sự bắt đầu bị lật xới, xáo trộn mạnh mẽ Hay nói cách khác, tiểu thuyết đã đi sâu khám phá tiếng nói nội tâm nhân vật

Đó là một dấu hiệu nhận diện của chất thơ trong tiểu thuyết Bởi tiếng nói

Trang 26

26

bên trong của chủ thể mang cái nhìn nội quan, xuất phát từ như cầu khơi

mở tâm tư, từ khát vọng truy tìm bản thể là một yếu tính của thơ

1.3.2 Đến biểu hiện của chất thơ trong tiểu thuyết

1.3.2.1 Biểu hiện về nội dung

Tuy không chiếm vị trí số một như giai đoạn văn học trước, nhưng đề tài chiến tranh, trong quan niệm của nhiều nhà văn, đặc biệt là với các nhà văn đã từng mặc áo lính vẫn được coi là “siêu đề tài”, càng khám phá càng thấy những độ rung cảm xúc Và chính đề tài này vẫn phản ánh rõ nét quá trình chuyển biến của ý thức văn học, nhất là khi bước vào thời kỳ đổi mới Chiến tranh không chỉ là những “hố bom”, không chỉ là “gươm kề tận

cổ, súng kề tai‟, là máu và nước mắt… mà trong hiện thực khốc liệt đó, niềm lạc quan yêu đời vẫn tồn tại như một “hằng số”

Giai đoạn 1945 – 1975 là những năm đất nước “có chung tâm hồn”, bao

nụ cười và nước mắt đưa tiễn con ra trận của nghìn bà mẹ đều như nhau, cả dân tộc ra sức chiến đấu cho nền độc lập – tự do của dân tộc Lịch sử đã in dấu đậm nét vào trong văn học Và chất thơ cũng chịu ảnh hưởng từ hoàn cảnh đặc biệt ấy

Trong các tác phẩm văn học thời kỳ này, mối quan hệ đời tư – thế sự không nằm trong sự chú ý của nhà văn Việc đưa lên hàng đầu con người tập thể, con người công dân đã khiến cho văn xuôi giai đoạn trước 1975, tập trung chủ yếu vào các biểu hiện mang tính cộng đồng, phổ quát như lòng yêu nước, căm thù giặc, tình nghĩa đồng bào, tình cảm hậu phương tiền tuyến… Mọi biểu hiện mang màu sắc cá nhân đều không phù hợp với tinh thần của cuộc kháng chiến Trong bối cảnh đó, người lính trở thành nhân vật trung tâm, biểu hiện khát vọng, kết tinh vẻ đẹp chiến đấu và chiến

thắng của con người Việt Nam Thiêm trong Mẫn và tôi (Phan Tứ), các chiến sĩ trong Vùng trời (Hữu Mai) hay là Lữ với phẩm chất anh hùng và lãng mạn trong Dấu chân người lính (Nguyễn Minh Châu), nhân vật chị Sứ

Trang 27

27

trong tiểu thuyết Hòn đất của Anh Đức, Núp và dân làng Kông Hoa trong

Đất nước đứng lên của Nguyên Ngọc Tất cả họ là những con người đẹp

nhất, đại diện cho bao người Việt Nam bấy giờ Đó chính là những “siêu nhân vật” của thời đại Cái đẹp mang tính cộng đồng toát ra từ tâm hồn họ chính là vầng hào quang chói lòa của chất thơ xuất phát từ cái “Ta” chung Không chỉ vậy, thời đại với những biến chuyển lớn lao của lịch sử đã đem đến cho văn học giọng điệu lãng mạn cách mạng, đậm chất sử thi bắt nguồn từ những chiến công vang dội của dân tộc Có thể nghe thấy âm vang của giọng điệu thời đại hào hùng trong các tác phẩm kể trên Từ đó,

có thể khẳng định, chất thơ vẫn tồn tại như một mạch ngầm, chảy bền bỉ trong lòng cuộc chiến ấy để con người thời bấy giờ có quyền tin tưởng và

hy vọng về một tương lai không còn tiếng súng và bóng giặc

Sau 1975, nền hòa bình lập lại, cùng với những đổi mới toàn diện và sâu sắc trên mọi lĩnh vực của đời sống, văn học cũng mang sắc diện mới ở mọi bình diện

Là những con người đã từng trải qua cơn binh lửa, các nhà văn mặc áo lính hiểu rằng, để có được hòa bình phải đánh đổi bao xương máu và nước mắt của biết bao đồng bào, chiến sĩ nhưng trong chiến tranh, vì nhiều nguyên do, chưa thể đưa những điều đó lên trang giấy một cách trực diện Khi súng đã im tiếng, những người cầm bút có trách nhiệm phải lưu lại cho hậu thế hiểu đúng về hiện thực của cuộc chiến đã qua Đó cũng chính là cách để trả món nợ tinh thần cho những đồng đội của họ Cùng với quá trình đổi mới văn học, tiểu thuyết về đề tài chiến tranh thời kỳ đổi mới cũng có sự vận động phù hợp với quy luật chung

Từ những năm 1986 đến đầu những năm 1990 là giai đoạn văn học đổi mới thực sự, tập trung mô tả hiện thực với tinh thần nhìn thẳng vào sự thật Văn xuôi viết về con người và cuộc sống với tất cả những mặt tốt, xấu của

nó, tiêu biểu như: Bến không chồng (Dương Hướng), Đám cưới không có

Trang 28

28

giấy giá thú, Mùa lá rụng trong vườn (Ma Văn Kháng), Cỏ lau (Nguyễn

Minh Châu), Nỗi buồn chiến tranh (Bảo Ninh)… Các cây bút này đã đi sâu

thể hiện khía cạnh của đời sống cá nhân và những quan hệ thế sự đan xen nên cuộc sống đời thường phức tạp, đa chiều Kể từ năm 1990 đến nay, trong xu thế hội nhập quốc tế, văn xuôi Việt Nam có những thể nghiệm mạnh bạo để cách tân trong lĩnh vực tiểu thuyết với hàng loạt tác phẩm:

Thiên sứ (Phạm Thị Hoài), Mảnh đất lắm người nhiều ma (Nguyễn Khắc

Trường), Bến không chồng (Dương Hướng), Nỗi buồn chiến tranh (Bảo Ninh), Mẫu thượng ngàn (Nguyễn Xuân Khánh), Cơ hội của Chúa (Nguyễn Việt Hà), Giàn thiêu (Võ Thị Hảo), Cõi người rung chuông tận

thế (Hồ Anh Thái)… Sự đổi mới tư duy nghệ thuật đã xóa bỏ sự ám ảnh

của chủ nghĩa đề tài, tư duy sử thi, hệ thống sự kiện, tình huống theo trật tự thời gian tuyến tính Hiện thực chỉ là cái nền cho sự diễn biến của những cuộc đời Dù thay đổi tư duy nghệ thuật của tiểu thuyết như thế nào đi chăng nữa thì tiểu thuyết Việt Nam đương đại cũng không nằm ngoài chức năng chính là phân tích, lý giải những vấn đề phức tạp và bí ẩn trong cuộc sống con người trong và sau chiến tranh, làm cho văn học đương đại lấy lại được sự cân bằng mạch sống, nhịp đập tự nhiên mà một thời văn học tạm lắng trong chiến tranh Nghiên cứu về tiểu thuyết viết về chiến tranh thời

kỳ Đổi mới cho thấy, bên cạnh hiện thực của chiến tranh đầy những khốc liệt khổ đau chia ly, các tác giả đã hướng ngòi bút cảm nhận vẻ đẹp tiềm ẩn của thiên nhiên ngay trong cuộc chiến cùng vẻ đẹp tâm hồn các nhân vật trong sáng, tinh khôi lạ thường Nhiều tác phẩm đã bắt đầu xuất hiện bi kịch cá nhân với sự hy sinh mất mát, hay những cung bậc yêu thương, nhớ nhung, trăn trở cùng những khát khao thầm kín Đây chính là nét đổi mới quan trọng, một tư duy tiểu thuyết mới mẻ – là dấu mốc cho thấy tư duy thơ vốn manh nha trong tiểu thuyết giai đoạn trước có điều kiện phát lộ mạnh mẽ hơn

Trang 29

29

1.3.2.2 Biểu hiện về hình thức nghệ thuật

Chất thơ trong tiểu thuyết nói chung, tiểu thuyết viết về đề tài chiến tranh trong thời kỳ Đổi mới nói riêng được biểu hiện từ ngôn ngữ giàu hình ảnh và nhạc điệu, giọng điệu trữ tình sâu lắng

Nhìn chung, ngôn ngữ hình ảnh và biểu cảm không xuất hiện với tần số cao như trong tác phẩm thơ nhưng bên cạnh lớp ngôn ngữ giàu chất hiện thực chiến tranh là thứ ngôn ngữ đậm chất thơ bàng bạc trong tiểu thuyết Ngôn ngữ trong tiểu thuyết ở giai đoạn này được kiến tạo qua những phương thức tạo hình quen thuộc của thơ ca như: so sánh, liên tưởng, nhân hóa, ẩn dụ, tương phản Ngôn ngữ đậm chất thơ ấy được thể hiện đậm nét qua bức họa về thiên nhiên, về con người trong và sau cuộc chiến

“Nhà thơ là người đại diện cho nhịp điệu” (Blôc) Định nghĩa này đã nhấn mạnh vai trò của nhịp điệu trong sáng tác thơ Trong văn xuôi, cụ thể

là trong tiểu thuyết viết về đề tài chiến tranh thời kì Đổi mới, ý thức về nhịp điệu xuất hiện khá muộn, song không phải là không có Những tiểu thuyết giàu nhịp điệu luôn biết cách khai thác các khả năng cú pháp và thủ pháp luân phiên đắp đổi thanh, nhịp và vần của thơ để tạo nên giai điệu ngân rung đầy quyến rũ của câu văn Có những câu văn đọc lên như nghe thấy nhạc điệu Có bản nhạc trầm lặng, có bản nhạc rộn ràng gắn theo tâm trạng của nhân vật

Nhạc tính còn được kiến tạo nhờ nguyên tắc “lặp” tạo độ luyến láy cho câu văn Nguyên tắc “lặp” trên các khía cạnh như: thành phần chủ ngữ, lặp kiểu câu định nghĩa, kiến trúc câu, sử dụng lặp câu cảm thán, hay thành phần hỏi Mặt khác, nhạc tính còn được tạo nên nhờ khai thác khả năng cú pháp của câu dài như tiếng nhạc lòng buông thả miên man

Tiểu thuyết viết về chiến tranh thời kỳ Đổi mới, các tác giả gửi gắm niềm tin yêu vào con người, thể hiện khát vọng hướng tới Chân – Thiện

Mỹ của con người Có lẽ vì thế nên, giọng điệu trữ tình sâu lắng là cách để

Trang 30

30

các nhà văn giúp bạn đọc có những khoảng lặng trong tâm hồn Giọng điệu trữ tình vốn là yếu tính trong thơ ca, đã hiện diện rõ nét trong nhiều tác phẩm viết về chiến tranh thời kỳ Đổi mới Có những trang văn giọng điệu thiết tha khi viết về khát khao tình yêu hướng về người yêu dấu, khi viết về những giấc mơ tình yêu đầy bản năng và chân thật Giọng điệu trữ tình sâu lắng khi viết về những cảnh ngộ của con người trong cuộc chiến và tâm trạng, ước mơ của con người trước tác động của ngoại cảnh Nó còn được thể hiện tâm trạng với những phút giây xao động trong tâm hồn người lính trước tình yêu đầu đời hay đứng trước phong cảnh thiên nhiên tuyệt đẹp trên đường hành quân ra trận

Khai thác các đặc tính nêu trên, tiểu thuyết về đề tài chiến tranh thời kì đổi mới đã chứng tỏ khát vọng không ngừng khám phá những tiềm năng thể loại Mặt khác, nó cũng đánh dấu sự biến chuyển quan trọng trong ý thức về sáng tạo văn chương

Tiểu kết: Những phương diện biểu hiện cụ thể nêu trên xuất hiện trong

từng tác phẩm không giống nhau Có thể tất cả các phương diện ấy đều tập trung trong một tác phẩm nhưng cũng có khi chỉ một hay một vài phương diện của chất thơ với những mức độ đậm nhạt khác nhau Dựa trên việc đi vào tìm hiểu nội hàm khái niệm chất thơ trong văn xuối kết hợp với những biểu hiện của nó về mặt nội dung và nghệ thuật trong tiểu thuyết về đề tài chiến tranh thời kỳ Đổi mới đã tạo cơ sở nền tảng để chúng tôi tìm hiểu: Chất thơ trong tiểu thuyết viết về đề tài chiến tranh thời kỳ đổi mới qua một

số sáng tác của Bảo Ninh, Chu Lai, Phạm Ngọc Tiến

Trang 31

31

CHƯƠNG 2: BỨC TRANH HIỆN THỰC ĐẬM CHẤT

THƠ TRONG NỖI BUỒN CHIẾN TRANH, KHÚC BI

TRÁNG CUỐI CÙNG, TÀN ĐEN ĐỐM ĐỎ

2.1 Bức tranh thiên nhiên trữ tình, thơ mộng

Nếu trong văn học giai đoạn trước, hiện thực chiến tranh là những bản

hùng ca về một thời hoa lửa của dân tộc thì với Nỗi buồn chiến tranh, hiện

thực chiến tranh đã được nhìn từ góc độ mới – chân thật, sống động, thẳng thắn đến từng câu chữ Tất cả những gì khốc liệt nhất, đau thương, tăm tối nhất của chiến tranh đều được Bảo Ninh phơi bày một cách trần trụi qua

Nỗi buồn chiến tranh Đó là cảnh chết chóc, cảnh đói rét: “… Mùa thu não

nề, lê thê, êm ẩm… khổ sở vì đói, vì sốt rét triền miên, thối hết mau, vì quần áo bục nát tả tơi và những lở loét khắp người như phong hủi, cả trung đoàn chẳng còn ai ra hồn Mặt mày ai nấy như lên rêu, ủ dột, yếm thế, đời sống mục ra” [52, tr 50] Rồi “bệnh đào ngũ tràn lan khắp trung đội, chẳng khác nào những cơn ói mửa, không thể chắn giữ, ngăn bắt nổi…” Nhân vật Kiên phải gồng mình lên chịu đựng hồi ức của chiến tranh khủng khiếp, khốc liệt, những cái tên Truông Gọi Hồn, Đồi Xáo Thịt, Hồ Cá Sấu những trận mưa cẳng tay, cẳng chân, những cánh đồng ngập máu, những bãi chiến trường ngập xác tử thi đã ăn sâu trong tiềm thức của anh gắn liền với một nỗi buồn chiến tranh miên man, dai dẳng triền miên không dứt Là người trong cuộc, Bảo Ninh nhìn thấy bộ mặt gớm ghiếc của chiến tranh,

sự bất an của con người Đúng như dự cảm của Phương trong một buổi đi dạo bên Hồ Tây với Kiên: “Em nhìn thấy tương lai - Đấy là sự đổ nát”,

“Ngọn lửa thiêu các bức tranh, thiêu đốt cha và luôn cả đời em”

Sự tàn khốc của chiến tranh ấy cũng được đặc tả trên từng trang tiểu

thuyết Tàn đen đốm đỏ: “Đã gần nửa đêm Gió thổi mạnh dần Rừng cây

bắt gió, phát ra tiếng hu hu rền như người khóc”[65, tr 37] Sự tăm tối của chiến tranh còn được khắc đậm thêm ở sự huyền bí, man rợ của núi rừng

Trang 32

32

như đồng lõa với cuộc chiến tàn khốc trong cuốn Khúc bi tráng cuối cùng:

“Bóng tối tử thần vẫn buông trùm lên cảnh vật, lên những hàng rào lạnh

lẽo” [28, tr 170]

Bút pháp đặc tả cộng với chi tiết đắc địa, khiến cho Nỗi buồn chiến

tranh, Tàn đen đốm đỏ, Khúc bi tráng cuối cùng có những tác động kép,

những thông điệp đa tầng, nhiều chiều về chiến tranh Chiến tranh là cõi không nhà không cửa, lang thang khốn khổ và phiêu bạt vĩ đại, là cõi không đàn ông, không đàn bà, là thế giới thảm sầu, vô cảm, là tuyệt tự khủng khiếp nhất của dòng giống con người” [52, tr 80]

Với quan điểm tôn trọng sự thật, nói thẳng sự thật khi viết về chiến tranh, nói như Ximônốp tác phẩm viết về chiến tranh mà không viết những

đổ máu, khắc nghiệt thì đó là tác phẩm vô đạo đức", còn Batsarap dẫn theo Ngô Thảo thì mô tả chiến tranh mà chỉ giữ lại những cái anh hùng, vứt bỏ những cái khác có nghĩa là bỏ rơi nhiều bài học chiến tranh Không miêu tả những chi tiết nặng nề, bi thảm của chiến tranh là xuyên tạc bộ mặt chiến tranh trong ý thức nhân loại Với ý nghĩa đó, các tác giả đã cho người đọc thấy được những tổn thất, hi sinh của những người lính trong và sau chiến

tranh qua những miền ký ức chân thật

Tuy nhiên, những miền ký ức ấy không chỉ là những bi thảm mà người đọc còn cảm nhận thấy được khung cảnh thiên nhiên êm đềm nơi chiến khu hay nơi hậu phương Đó là những trang văn nhẹ nhàng đi vào lòng mỗi người, như xoa dịu đi nỗi đau mất mát của chiến tranh Thiên nhiên – người bạn đồng hành với con người, đã trở thành một đối tượng thẩm mĩ có tác dụng nối kết tâm hồn con người với ngoại giới và tăng thêm sức hấp dẫn cho tác phẩm văn học Không nằm ngoài quy luật ấy, thiên nhiên trong tiểu thuyết nói chung và trong tiểu thuyết về đề tài chiến tranh nói riêng tràn đầy sức sống, giàu sức gợi, và rất có hồn, có khả năng đánh thức, khơi gợi tình yêu – ngọn lửa thần thánh của cuộc đời Thiên nhiên ở đây hiện lên

Trang 33

33

phong phú và đa dạng, đó là cảnh sắc của những vùng rừng núi khác nhau hay vẻ đẹp nơi Hà thành Tất cả xuất hiện ở các thời điểm khác nhau, gắn với tâm tình của mỗi nhân vật đã tạo nên những không gian trữ tình trong trẻo, đậm đà chất thơ

2.1.1 Vẻ đẹp huyền bí, hoang dại của núi rừng

Với những nhà văn mặc áo lính thì thiên nhiên nơi đại ngàn sơn cước hiện lên thân thuộc như người bạn trong những cuộc hành quân của họ Và núi rừng mỗi miền được cảm nhận theo một cách khác nhau đầy ấn tượng Núi rừng nơi những gờ núi lạnh lẽo của truông Gọi Hồn mang vẻ đẹp rất riêng Bởi nó gắn với vẻ quyến rũ của loài hoa hồng ma: “Hồi đó, vào độ cuối tháng Tám, ven các cánh rừng dọc theo triền suối này hoa hồng ma nở

rộ trong mưa, đâm bông trắng xóa, thở hương thơm ngát Nhất là về đêm, hương hoa như thể được cô đậm, ngọt, ngào ngạt, thẩm thấu vào giấc ngủ làm thành bao nhiêu là giấc mơ kỳ lạ gây những ám ảnh khoái lạc mê mẩn” [52, tr 18] Một loài hoa rừng riêng biệt như mang đến phép màu nhiệm cho khu rừng, cho những người lính chiến trẻ trung, cuồng nhiệt Vẻ đẹp của núi rừng hiện lên bàng bạc, thăm thẳm trong hương thơm của hồng hoa Loài hoa ấy đưa con người đi vào không gian tưởng tượng thật trong lành: “Bầu trời cao vợi, mây nắng tuyệt vời gần như là tầng trời của những giấc chiêm bao thời thơ ấu” [52, tr 19] Chiến tranh hiện hình trên những trang viết của Bảo Ninh là một thế giới "đầy rẫy những tử thi", qua dòng hồi tưởng của nhân vật Kiên - người từng chứng kiến nhiều cái chết và phải thấy nhiều xác chết nhất Nhưng không phải vì thế mà ta thấy ám ảnh sợ hãi, bởi ở nó có những cảnh bình yên đến lạ: “Sau trận mưa chiều màu cỏ xanh mướt nước trên Đồi Mơ thắm hồng ánh đỏ của vừng ráng Dưới đồi

có con sông chảy lượn qua và qua những đám cỏ rậm rạp từ trên đồi có thể nhìn thấy loáng thoáng từng quãng sông uốn khúc lấp láp ánh phản quang" [52, tr 66] Sau những cuộc đụng độ nhuốm mùi lửa, bom, đạn rừng lại yên

Trang 34

34

ắng đến lạ kỳ Có những trang văn, người đọc tưởng như quên đi bao cảnh chết chóc rợn người nơi rừng thiêng nước độc Bởi sự lặng thinh yên ả của

không gian dù chỉ là khoảnh khắc thật hiếm có của chiến tranh

Sắc xanh của núi rừng là gam màu tươi, tràn sức sống mà ta dễ gặp ở cả

ba tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh, Khúc bi tráng cuối cùng, Tàn đen đốm

đỏ Trong Khúc bi tráng cuối cùng, vẻ đẹp núi rừng Tây Nguyên hiện lên:

“Một sắc xanh miên man trải dài Ong đi lấy mật đen rừng Đàn T‟rưng đánh nhạc róc rách trong lòng suối nghe như tiếng trẻ cười Mái nhà Rông thấp thoáng chọc lên trời xanh tựa những mũi lao khổng lồ không bao giờ tới đích Tiếng cồng âm u vang lên lúc thật lúc hư như tiếng vọng của đại ngàn Thác đổ ầm ầm” [28, tr 57] Pleiku hiện lên trong cảnh chiều muộn thật yên bình “Không gian vi vút gió cao nguyên Phố núi đẹp nao lòng với những mặt đường xoải lên dốc xuống rồi lại xoải lên, uốn lượn” [28, tr 37] Cảnh chết chóc dường như chưa từng tìm đến nơi đây Lòng người như lắng dịu lại bởi giọng văn nhẹ nhàng, không lên gân của Chu Lai

Trong Tàn đen đốm đỏ, ta cũng thật bâng khuâng trước vẻ đẹp của mây trời

núi rừng Cảnh vật như được thổi thêm sinh khí: “Những đụn mây là là quấn quýt bên nhau Có đụn trắng xốp như bông Có đụn xanh, tròn như một chiếc lá sen Có đụn vàng óng như một nấm rơm mới Có đụn nâu sậm

lù lù Lại có đụn đỏ rực Có cả bè mây đen lừ lừ giạt phía cuối rừng Nhiều nhất là những đám mây kết màu Trời vẫn xanh Gió u u thổi” [65, tr 72]

Có thể nói, chất thơ bàng bạc nhuốm màu trên cảnh rừng núi chiến trận Không còn cảm giác chỉ một màu chết chóc Ở nơi ấy, sự sống vẫn sinh sôi, con người vẫn đang sống và nung nấu trong mình lý tưởng bảo vệ Tổ quốc Dư ba man mác, bí hiểm của rừng luôn khiến người ta càng muốn khám phá tới tận cùng sau vẻ ngoài đầy thinh lặng mê hoặc Những vẻ đẹp

ấy dường như thanh lọc tâm hồn con người

Trang 35

35

2.1.2 Vẻ đẹp thơ mộng của Hà thành

Hầu hết những người lắnh mang tinh thần phơi phới vào cuộc chiến sinh tồn của dân tộc đều là những chàng trai trắ thức trẻ xuất thân từ Hà Nội Họ

là những con người yêu đời, bản lĩnh, nhưng cũng hết sức thơ mộng Thật

dễ hiểu vì sao trong mọi nỗi nhớ thì nỗi nhớ về Hà Nội thật êm đềm Có những sớm Hà Nội còn mơ màng chìm trong giấc ngủ ỘDưới đường, sau những hàng cây, những vỉa hè lát rộng, một vài đôi tình nhân vẫn cầm tay nhau đi thật chậm, chìm đắm như không biết đến những gì đang xảy ra xung quanh mình hoặc vội vã gắn lên đôi môi ướt sướng đêm của nhau một

nụ hôn lần cuối để chia tay trước lúc rạng đôngỢ [28, tr 33] Có những buổi trưa nắng vàng óng ả, len mình khe khẽ qua ô cửa sổ những mái nhà nằm san sát nhau Rồi những buổi chiều tà, ánh hoàng hôn nhuộm đỏ ven hồ Tây, trai gái vẫn thường tâm tình bên nhau nhiều hơn chút Hà Nội vốn đằm thắm dịu dàng, nhý thiếu nữ vào độ tuổi đang yêu, cứ muốn ngýời ta ngắm nhìn mãi, say mê rồi ngẩn ngõ khờ dại Hà Nội đẹp và bình dị, đáng yêu và mõ màng, giống nhý một thứ tình yêu không dễ để gọi tên, chỉ biết ngắm nhìn, trân trọng và nâng niu Những ai đó đã từng ghé qua, dừng chân lâu lại hõn một chút chắc hẳn vẫn còn výõng vấn cái dý vị nồng nàn

của Hà Nội Trong Khúc bi tráng cuối cùng, Chu Lai có viết: ỘYên hàn, thõ

thới làm sao cái buổi sớm Hà thành không còn bom đạn nàyỢ [28, tr 33] Sớm ngày bị đánh thức bởi những âm thanh quen thuộc, trên loa phát thanh vang lên những giai điệu ngọt ngào, sâu lắng về những bản tình ca dành riêng cho Hà Nội ỘKia rồi, mặt hồ đã hiện ra mênh mang với giãng giãng sýõng mù che khuất hình dạng các bờ bãi Đất trời nhý đang có sự chuyển động khe khe, mõ hồ về vận nýớc, về hội thề non sông Từ chiếc loa trên vòm lá, giai điệu bài ca về Hà nội theo gió sớm dìu dặt vang lênẦHà Nội

đó niềm tin yêu hy vọng Của hôm nay và của mai sau [28, tr 33] Hay là

Trang 36

36

những ngày trời trở gió, lang thang ven hồ, nhìn ngắm đời say mê

lạ Những ai đó đã từng ghé qua, dừng chân lâu lại hõn một chút chắc hẳn vẫn còn výõng vấn cái dý vị nồng nàn của Hà Nội ỘEm sẽ thấy Tháp Rùa rêu phong cổ kắnh Tôi dẫn em đi một vòng Bờ Hồ Này, cây lộc vừng thân ngả Ngày nhỏ tôi hay chuồi xuống sát mặt nýớc, trên chiếc cành ngang la

đà Hẳn em sẽ thắch những dây hoa lộc vừng giãng giãng rất đẹp Đây cầu Thê Húc cong cong Em nhìn xuống mặt nýớc Sao nó xanh thế nhỉ Cảm giác, có thể cắt lát mặt hồ xanh thầm thẫm ra đýợcẦ Còn đây là Tháp Bút, Đài Nghiên Vãn hiến đấy, bốn ngàn nãm đất nýớc mình viết bằng ngọn bút này, bầu mực này Ngọn bút mang hồn thiêng của mũi tên thần An Dýõng Výõng, mang tinh khắ của thanh gýõm Lê Thái Tổ hoàn trả Rùa thần Và mực chắnh là máu Máu của từng thế hệ kế tiếp nhauỢ [28, tr 69] Trong

Tàn đen đốm đỏ, nhà vãn lại đýa ta đến vẻ đẹp của một trong những nõi

trung tâm nhất của Hà Nội: ỘTôi đýa em lên tầng chót của nhà Thủy Tạ Gió lồng lộng thổi Đây là gió của sông Hồng mặn mòi phù saẦ Rét lùa nhý kim châm tắ tách vào da thịtỢ [65, tr 69] Chắc ai đó cũng còn nhớ, những đêm Hà Thành lộng gió, hương hoa sữa đưa ngào ngạt, nửa như cô gái thời son trẻ muốn dạo chơi, nửa như một đứa bé dùng dằng mãi không

đi không ở Người ta trầm trồ khen ngợi, rằng hoa sữa thơm ngọt, muốn hắt vào cho căng tràn lồng ngực, lại muốn nắu riêng cho mình một góc để tĩnh tâm ỘCó mùi hương thơm ngái lan tỏa E thắch thú hắt căng lồng ngực Đấy

là hương hoa sữaỢ [65, tr 71] Hay như những hàng sấu già quá đỗi quen với người Hà Nội: ỘGốc sấu già này có từ hồi nả , hồi nào Nó là chứng nhân tuổi thơ của tôi Chắc em không hình dung ra nổi Có một trận mưa rào Thằng bé con mười tuổi bươn bả chạy Cả một bụng áo may ô phồng đầy sấu chắn Mưa quất ràn rạt Thằng bé vẫn chạy Bỗng nó vấp ngã sóng sượt Bụng sấu ào ra Những quả sấu chắn, vàng suộm tung tóe lăn dài giữa đám bong bóng nước phập phồngỢ [65, tr 69] Hà Nội trong cuộc trò

Trang 37

37

chuyện giữa linh hồn Phương và cô gái hiện lên đẹp thánh thiện Một cảm giác dịu nhẹ như chính vẻ đẹp nội tại của nó vậy “Đường Thanh niên lồng lộng Công nhận Hà Nội nhiều gió thật Em khẽ thở dài khi gặp một tốp thiếu nữ quần trắng, áo dài đủ màu Gió phần phật vẫy phấp phới những tà

áo Hòa bình rồi mà em Con gái cần phải làm đẹp Bao nhiêu năm chắt chiu… Nước Hồ Tây xanh trong, in bóng những đám mây lững lờ đủ màu Những con chim đậu rất tài tình trên mặt sóng Đấy là chim sâm cầm Những con chim dập dình trên mặt sóng tự do, yên bình quá” Hà Nội với nét đẹp hiền hòa – là nơi xuất thân của bao chàng lính trẻ như Phương Nơi

đó gắn với kỷ niệm tuổi thơ ngọt ngào: “Ngày xưa, chúng tôi cấm để thoát một chú nào Bàng mỡ ruột vàng, Bàng đào hồng rực Ăn hết cùi đập hột, lấy nhân”

Trong Nỗi buồn chiến tranh, Hà Nội hiện lên rất đỗi dịu dàng “Ban

ngày nắng hửng trời quang, không gian thoáng đãng êm ả tựa như đã là trời của tháng Tư, tháng Năm rồi vậy Các hàng cây trụi lá mùa đông đã xanh rì

lá mới không còn chút nào vẻ tiêu điều” [52, 84] Hà Nội hiện lên từ những

kí ức gắn liền với mối tình đầu học trò thơ ngây “Hai đứa lẩn ra phía sau nhà bát giác, ẩn vào lùm cây sát mép Hồ Tây Đằng xa, đường Cổ Ngư đỏ ánh chiều và rực rỡ màu phượng vĩ Ve sầu râm ran” [52, tr 148]

Hà nội hiện lên với vẻ đẹp buồn man mác nơi một làng quê vùng ngoại thành Ở chốn ấy mang đậm nét của vùng quê đồng bằng Bắc Bộ “Chiều cuối năm Gió lạnh thổi hun hút trên cánh đồng mới gặt Cảnh một làng quê vùng ngoại thành Hà Nội hiện ra nao buồn Buồn như dòng sông mùa cạn đang trôi chảy lững lờ ngoài kia, buồn như cây cầu Long Biên không hiểu

có tự thuở nào mà thân hình khẳng khiu cứ mãi rung mình trong sóng nước như thế và buồn như con đò dọc nhà ai tối nay không hiểu đậu bến nào mà cánh buồm rách nát sao lại gợi tiếng thở dài của một kiếp đời trôi nổi, vô định làm sao Gió bấc, mưa phùn làm nhòa đi lũy tre, bờ ao, giếng làng,

Trang 38

ở lâu vốn đã coi thân thuộc như là nhà, người mới dừng chân ghé lại cũng say lòng chếnh choáng, tình và người nơi đây cứ ngày một nhiều thêm, ấm lòng cả những ngày chuyển sang mùa rét mướt Bảo Ninh, Chu Lai, Phạm Ngọc Tiến đều là những nhà văn mang một trái tim yêu thương Hà Nội Vì thế dễ hiểu vì sao Hà Nội ngọt ngào đến thế trong tiểu thuyết của họ

Có thể thấy, các tác giả đã rất có ý thức lựa chọn chất liệu ngôn từ giàu tính biểu cảm, tạo hình trong việc kiến tạo nên chất thơ từ hình tượng thiên nhiên của các tác phẩm Thiên nhiên ở góc độ nào cũng toát lên một cách

tự nhiên, trong trẻo, dung dị mà cũng rất tinh tế, gợi cảm Chính vì vậy, từ những hình ảnh bình thường, quen thuộc nhất như cứ ở mãi trong tâm trí người đọc, nó buộc độc giả phải lắng lại và suy ngẫm, thưởng thức sống cùng với nó Xét cho cùng, chất thơ đó chính là tầm hồn yêu hương nơi trái tim tác giả ngân lên những cung bậc cảm xúc về sự gắn bó yêu thương với con người và quê hương Việt Nam

2.2 Chất thơ từ những giấc mơ

2.2.1 Quan niệm về giấc mõ

Theo tính toán của nhiều người, con người ta dành một phần ba đời người để ngủ có nghĩa là sống trong những giấc mơ Giấc mơ đã được các tác giả là các triết gia phương Tây đề cập đến từ lâu với những tên tuổi như: Hippocrates; Plato; Aristotle… nhưng có lẽ chỉ thật sự bắt đầu và đạt thành công mỹ mãn với tác giả Freud

Sigmund Freud (1856- 1939), là cha đẻ của ngành phân tâm học, là người đầu tiên khám phá sâu sắc những vấn đề thuộc vô thức Ông cũng đã

Trang 39

39

giải thích cắt nghĩa về giấc mơ, sử dụng những gì liên quan đến người nằm

mơ để lý giải giấc mơ một cách có hệ thống Cấu trúc tâm thức của con người bao gồm ba tầng: ý thức tiềm thức, vô thức Vô thức là một mảnh đất bí hiểm của bản năng Hiểu được khái niệm phân chia này ta có thể dễ dàng đi vào việc lý giải giấc mơ Theo Freud ông phân biệt hai cấp độ của giấc mơ do nằm mơ

+ Thứ nhất là nội dung biểu hiện là loại giấc mơ mà ta có thể nhớ lại được nội dung của nó

+ Thứ hai là nội dung ẩn tàng tức là những sự thực nằm ở phía sau Theo Freud ông đã đưa ra quá trình vận hành giấc mơ tức là tiến trình mà phần vô thức cũng như phần không được ý thức chấp nhận của nội dung ẩn tàng chuyển hóa biến dạng thành nội dung biểu hiện Freud cho rằng việc

lý giải giấc mơ phải được đi theo tiến trình đảo ngược có nghĩa là người phân tích phải dùng nội dung biểu hiện như là điểm khởi đầu để từ những hình ảnh méo mó mơ hồ không rõ nét này đi ngược lại, truy tìm cội nguồn của những dòng ý tưởng được cất giấu trong nội dung ẩn tàng

Trong cuốn sách “Giải thích giấc mơ”, Freud cho rằng giấc mơ là một

hiện tượng tinh thần, là phản ứng của linh hồn chống lại những kích động phát sinh trong giấc ngủ Có nhiều kích động bao gồm như kích động ngoại thể và nội thể và kích động sóng điện từ Ông cho rằng xuất phát từ những ham muốn khi thức Sự kết nối này có thể so sánh với sự kết nối tạo nên các hành vi sai lạc và hoạt động sang tạo Khi các giấc mơ không phản ánh đúng các hình ảnh người mơ đã được thấy Freud cho rằng đó là sự biến dạng của các giấc mơ

Nói tóm lại thông qua tác phẩm vĩ đại “Giải nghĩa giấc mơ” đã mở ra

một cánh cửa cho độc giả hiểu về Giấc mơ Freud cho rằng mục đích của giấc mơ là thông qua thế giới tưởng tượng huyền ảo thỏa mãn những ham muốn vốn không được xã hội chấp nhận Qua vương quốc của giấc ngủ

Trang 40

40

những điều không thể làm trong khi thức Ờ chúng ta có thể tự do trải nghiệm những khám phá bất ngờ

Giấc mơ cũng là sự mở rộng không gian tồn tại của con người, thể

hiện những khát vọng và ước mơ của con người Con người ta sống trong giấc mơ của mình, những sự vật diễn ra trong giấc mơ cũng bắt nguồn từ những gì diễn ra trong đời sống Chỉ có điều nó được thăng hoa và được diễn ra bằng một thế giới tưởng tượng trong vô thức mà thôi

Từ những tiền đề cơ bản giải mã về giấc mơ, người viết đi sâu vào khai thác chất thơ từ những giấc mơ của nhân vật chủ yếu là giấc mơ của những người lắnh

2.2.2 Chất thõ biểu hiện từ giấc mõ

Chiến tranh là sự cô đặc của cuộc sống và tất cả những biểu hiện của cuộc sống đời thýờng đều có thể tìm thấy trong chiến tranh Ở đó con ngýời sống mạnh mẽ hõn, quyết liệt hõn, gấp gáp hõn Họ ắt có thời gian để cân nhắc, lựa chọn kỹ càng cho một hành động, nhất là ở những thời khắc giao thời, ở ranh giới giữa sự sống và cái chết, sự bộc lộ hýớng về cái bản nãng, cái tự nhiên là một điều dễ hiểu Vì thế nên ta dễ dàng gặp những giấc mõ vừa bình dị vừa huyền bắ trong các thiên tiểu thuyết

Cuốn tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh được thêu dệt nên bằng hàng

loạt những giấc mơ đứt nối, những hồi tưởng gấp khúc, hỗn loạn Qua những trạng thái phân lập và hoang tưởng của ký ức, chiến tranh được hiện lên với những gam màu chói gắt, máu, lửa, tiếng gầm rú của xe tăng, của đại liên khạc đạn và cái chết bao phủ dày đặc Thắch hợp với những giấc

mơ, những hồi ức dữ dội ấy là hình ảnh của bóng đêm, của những trận mưa rừng không ngớt, những không gian màu xám, những cảnh tượng nhoè mờ,

hư ảo Trong Nỗi buồn chiến tranh, tuyến chủ đề chiến tranh hoà quyện với

chủ đề tình yêu làm thành cảm hứng sáng tạo nghệ thuật Những nhịp mạnh xen kẽ kết thành một tổng thể mang tắnh triết lý về ký ức, điều này gọi nhớ

Ngày đăng: 31/03/2015, 15:26

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
5. Ngô Vĩnh Bình (2006), Văn xuôi về đề tài chiến tranh cách mạng, NXB Quân đội nhân dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn xuôi về đề tài chiến tranh cách mạng
Tác giả: Ngô Vĩnh Bình
Nhà XB: NXB Quân đội nhân dân
Năm: 2006
6. Nguyễn Phan Cảnh (2002), Ngôn ngữ thơ, NXB Văn hóa Thông tin 7. Trần Duy Châu (1994), Từ đâu đến Nỗi buồn chiến tranh, Tạp chíCộng sản, số 10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ thơ", NXB Văn hóa Thông tin 7. Trần Duy Châu (1994), "Từ đâu đến Nỗi buồn chiến tranh
Tác giả: Nguyễn Phan Cảnh (2002), Ngôn ngữ thơ, NXB Văn hóa Thông tin 7. Trần Duy Châu
Nhà XB: NXB Văn hóa Thông tin 7. Trần Duy Châu (1994)
Năm: 1994
12. Nguyễn Đăng Điệp (2001), Vọng từ con chữ, NXB Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vọng từ con chữ
Tác giả: Nguyễn Đăng Điệp
Nhà XB: NXB Văn học
Năm: 2001
13. Nguyễn Đăng Điệp (2002), Giọng điệu trong thơ trữ tình, NXB Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giọng điệu trong thơ trữ tình
Tác giả: Nguyễn Đăng Điệp
Nhà XB: NXB Văn học
Năm: 2002
14. Trung Trung Đỉnh (2000), Nhà văn Phạm Ngọc Tiến: Chất thợ, chất lính, chất văn, NXB Quân đội, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà văn Phạm Ngọc Tiến: Chất thợ, chất lính, chất văn
Tác giả: Trung Trung Đỉnh
Nhà XB: NXB Quân đội
Năm: 2000
15. Hà Minh Đức (1974), Thơ và mấy vấn đề trong thơ Việt Nam hiện đại, NXB Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ và mấy vấn đề trong thơ Việt Nam hiện đại
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 1974
16. Nguyễn Phan Hách (1991), Thảo luận về tiểu thuyết Thân phận của tình yêu , Báo Văn Nghệ số 37 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thảo luận về tiểu thuyết Thân phận của tình yêu
Tác giả: Nguyễn Phan Hách
Năm: 1991
17. Hoàng Thị Hảo (2012), Việc thể hiện số phận con người trong tiểu thuyết Việt Nam sau 1975 về đề tài chiến tranh, Luận văn Thạc sĩ Ngữ văn, Đại học Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việc thể hiện số phận con người trong tiểu thuyết Việt Nam sau 1975 về đề tài chiến tranh
Tác giả: Hoàng Thị Hảo
Năm: 2012
18. Đào Thị Hiên (2011), Sự thể hiện nhân vật người lính trong một số tiểu thuyết và truyện ngắn tiêu biểu của văn xuôi thời kỳ đổi mới, Luận văn Thạc sĩ Ngữ văn, Đại học Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự thể hiện nhân vật người lính trong một số tiểu thuyết và truyện ngắn tiêu biểu của văn xuôi thời kỳ đổi mới
Tác giả: Đào Thị Hiên
Năm: 2011
19. Hoàng Ngọc Hiến (2006), Những ngả đường vào văn học, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những ngả đường vào văn học
Tác giả: Hoàng Ngọc Hiến
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2006
20. Đào Duy Hiệp (2011), Phê bình văn học từ lý thuyết hiện đại, bài viết Thời gian trong Thân phận của tình yêu, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phê bình văn học từ lý thuyết hiện đại", bài viết "Thời gian trong Thân phận của tình yêu
Tác giả: Đào Duy Hiệp
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2011
21. Đào Duy Hiệp (2006), Thơ và Truyện và cuộc đời, NXB Hội Nhà Văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ và Truyện và cuộc đời
Tác giả: Đào Duy Hiệp
Nhà XB: NXB Hội Nhà Văn
Năm: 2006
22. Đỗ Đức Hiểu (2000), Thi pháp hiện đại, NXB Hội Nhà Văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi pháp hiện đại
Tác giả: Đỗ Đức Hiểu
Nhà XB: NXB Hội Nhà Văn
Năm: 2000
23. Nguyễn Thái Hòa (2000), Những vấn đề thi pháp của truyện, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề thi pháp của truyện
Tác giả: Nguyễn Thái Hòa
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2000
24. Trần Quốc Huấn (1991), Thân phận tình yêu của Bảo Ninh, Tạp chí Văn học, số 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Thân phận tình yêu của Bảo Ninh
Tác giả: Trần Quốc Huấn
Năm: 1991
25. Đỗ Văn Khang (1991) Nghĩ gì khi đọc tiểu thuyết Thân phận của tình yêu, Báo Văn Nghệ số 43 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghĩ gì khi đọc tiểu thuyết Thân phận của tình yêu
26. Đỗ Văn Khang (1993), Cuộc tìm tòi về tiểu thuyết , Báo Văn Nghệ, số 26 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cuộc tìm tòi về tiểu thuyết
Tác giả: Đỗ Văn Khang
Năm: 1993
27. K.Pautôpxki (2002), Chất thơ của văn xuôi, Một mình với mùa thu, NXB Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chất thơ của văn xuôi
Tác giả: K.Pautôpxki
Nhà XB: NXB Văn học
Năm: 2002
28. Chu Lai (2013), Khúc bi tráng cuối cùng, NXB Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khúc bi tráng cuối cùng
Tác giả: Chu Lai
Nhà XB: NXB Văn học
Năm: 2013
29. Chu Lai (1987), Vài suy nghĩ về phản ánh sự thật trong chiến tranh, Tạp chí Văn nghệ quân đội, số 4, 1987 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vài suy nghĩ về phản ánh sự thật trong chiến tranh", Tạp chí "Văn nghệ quân đội
Tác giả: Chu Lai
Năm: 1987

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w