1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quá trình vận động tới sự điển phạm hóa của văn học nhà Nho ở Việt Nam từ Trần Nhân Tông qua Nguyễn Trãi đến Lê Thánh Tông

222 668 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 222
Dung lượng 1,39 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với quan niệm có sự tồn tại thực tế của một loại hình tác phẩm văn học nhà Nho như thế trong lịch sử trung đại Việt Nam, chúng tôi đặt vấn đề nghiên cứu quá trình điển phạm hóa của bộ p

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

ĐỖ THU HIỀN

QUÁ TRÌNH VẬN ĐỘNG TỚI SỰ ĐIỂN PHẠM HÓA

CỦA VĂN HỌC NHÀ NHO Ở VIỆT NAM

TỪ TRẦN NHÂN TÔNG QUA NGUYỄN TRÃI

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

ĐỖ THU HIỀN

QUÁ TRÌNH VẬN ĐỘNG TỚI SỰ ĐIỂN PHẠM HÓA

CỦA VĂN HỌC NHÀ NHO Ở VIỆT NAM

TỪ TRẦN NHÂN TÔNG QUA NGUYỄN TRÃI

ĐẾN LÊ THÁNH TÔNG

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

Mã số: 62 22 01 21

LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HỌC

Người hướng dẫn khoa học:

PGS.TS Nguyễn Kim Sơn GS.TS Trần Ngọc Vương

Hà Nội - 2014

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các

số liệu, kết quả trong luận án là trung thực và chƣa từng đƣợc ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả luận án

Đỗ Thu Hiền

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Luận án được hoàn thành dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Nguyễn Kim Sơn và GS.TS Trần Ngọc Vương Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới các thầy đã tận tình chỉ bảo, giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện luận

án, và trong suốt con đường theo đuổi công việc nghiên cứu khoa học của tôi

Tôi cũng xin cảm ơn Khoa Văn học, Phòng Đào tạo Sau đại học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn đã luôn tạo điều kiện cho tôi trong quá trình học tập Xin cảm ơn Viện Harvard- Yenching đã trao cho tôi cơ hội thực tập tại Viện trong thời gian làm luận án

Tôi gửi lời cảm ơn tới các nhà khoa học của hội đồng chấm luận án các cấp

và các nhà khoa học khác thuộc Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn- Đại học Quốc gia Hà Nội, Viện Văn học, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Trường Đại học Khoa học Huế, Trường Đại học Sư phạm TPHCM, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn- Đại học Quốc gia TPHCM… đã gửi lời góp ý, nhận xét để tôi có thể hoàn thiện luận án của mình

Xin cảm ơn các đồng nghiệp trong Khoa Văn học, Trường Đại học Khoa học

Xã hội Nhân văn, bạn bè và gia đình đã luôn tạo mọi điều kiện giúp đỡ, động viên tôi trong quá trình viết luận án

Đỗ Thu Hiền

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài: 1

2 Lịch sử vấn đề 4

3 Phạm vi, đối tượng và mục đích nghiên cứu 17

4 Phương pháp nghiên cứu 26

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án 28

6 Cấu trúc đề tài 28

CHƯƠNG 1: GIAI ĐOẠN KHỞI ĐẦU CỦA VĂN HỌC NHÀ NHO – TRƯỜNG HỢP TRẦN NHÂN TÔNG 29

1.1 Thiền tông từ Huệ Năng đến Trần Nhân Tông 29

1.2 Quan niệm - đặc trưng thẩm mỹ của văn học Thiền gia và sự gặp gỡ Nho gia 36 1.3 Từ cư trần lạc đạo đến các vấn đề thế sự 43

1.3.1 Cư trần lạc đạo 43

1.3.2 Vấn đề dân tộc 54

1.3.3 Từ thơ Thiền cảnh đến sự xuất hiện của vấn đề đạo lý- thế sự qua thể thơ vịnh vật 59

1.4 Hình tượng vị Bồ tát trang nghiêm- trượng phu trung hiếu 63

1.5 Những yếu tố thời gian- không gian nghệ thuật từ Thiền gia đến Nho gia 70

1.5.1 Từ thời gian vũ trụ vĩnh hằng đến thời gian hướng về quá khứ 70

1.5.2 Từ không gian vũ trụ vô cùng đến không gian thế tục 74

Tiểu kết 78

CHƯƠNG 2: GIAI ĐOẠN ĐỊNH HÌNH CỦA VĂN HỌC NHÀ NHO- TRƯỜNG HỢP NGUYỄN TRÃI 80

2.1 Nguyễn Trãi trong bước chuyển giao của lịch sử từ Phật giáo sang Nho giáo 80 2.2 Sự định hình của quan niệm và đặc trưng thẩm mỹ của văn học nhà Nho 87

2.3 Các vấn đề đạo lý- thế sự và dân tộc 100

2.3.1 Nhân nghĩa và an dân 101

2.3.2 Đạo lý thế sự qua trường hợp thơ giáo huấn và thơ đề vịnh 104

2.3.3 Hành đạo hay ẩn dật 110

2.4 Hình tượng trung tâm 116

2.4.1 Hình tượng cái tôi trữ tình 116

2.4.2 Sáng tạo các hình tượng nhân vật theo mô hình nhân cách lý tưởng của Nho gia 124

2.5 Định hình các yếu tố thời gian và không gian nghệ thuật của văn học nhà Nho 131

2.5.1 Thời gian quá khứ mơ hồ 131

2.5.2 Không gian trần thế mang tính ước lệ 136

Tiểu kết 140

Trang 6

CHƯƠNG 3: GIAI ĐOẠN ĐIỂN PHẠM CỦA VĂN HỌC NHÀ NHO-TRƯỜNG HỢP LÊ

THÁNH TÔNG 142

3.1 Hoàng đế Nho gia trong bối cảnh độc tôn Nho giáo 142

3.2 Quan niệm văn chương để trị nước và các đặc trưng thẩm mỹ 147

3.3 Sự tập trung của vấn đề đạo lý và cảm hứng dân tộc thông qua các thể thơ đề vịnh 153

3.3.1 Đạo lý- thế sự 154

3.3.2 Tự hào về chế độ, giang sơn 165

3.4 Hình tượng vị hoàng đế Nho gia 169

3.5 Điển phạm hóa thời gian và không gian nghệ thuật 175

3.5.1 Thời gian quá khứ gần 175

3.5.2 Không gian sơn thủy 179

Tiểu kết 181

KẾT LUẬN 183

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 189

TÀI LIỆU THAM KHẢO 190

PHỤ LỤC 206

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài:

Văn học nhà Nho chiếm một phần rất quan trọng trong lịch sử văn học trung đại Việt Nam Sự ảnh hưởng của Nho giáo tới xã hội đã tạo ra một nền văn học nhà Nho kéo dài suốt nhiều thế kỷ Nho giáo ở Việt Nam cũng được hiểu là Nho gia,

theo Từ điển Nho- Phật- Đạo: “Học phái tư tưởng quan trọng ở Trung Quốc do Khổng Tử sáng lập” [170, tr 1063], Nho sĩ là: “Chỉ các phần tử trí thức thời xưa tin tưởng vào học thuyết của Khổng Tử” [170, tr 1068] Nhà Nho được Dương Quảng

Hàm định nghĩa: “Nho nghĩa đen là học giả Nhà Nho là người đã theo Nho học, hiểu đạo lý của thánh hiền đời xưa, có thể dạy bảo người đời cư xử cho phải đạo và, nếu được đắc dụng, thì đem tài đức của mình mà giúp dân giúp nước.” [30, tr 80]

Khái niệm “văn học nhà Nho” được chúng tôi sử dụng theo nghĩa là loại hình tác phẩm văn học được sáng tác theo khuynh hướng mỹ học Nho gia, chịu sự chi phối của tư tưởng Nho giáo, được coi là thứ văn chương lý tưởng của nhà Nho

về mặt lý thuyết Chủ thể sáng tác của văn học nhà Nho là nhà Nho hoặc những tác

giả chịu ảnh hưởng của Nho giáo Đương nhiên, trong hiện thực, nhà Nho vẫn có thể sáng tác những thứ ngoài Nho giáo, và văn chương Nho giáo vẫn có thể được viết ra bởi những tác giả chịu ảnh hưởng ít nhiều của Nho giáo nhưng không phải là nhà Nho, nhất là ở những giai đoạn hình thành của văn học nhà Nho như thế kỷ XIII- nửa đầu thế kỷ XV Định nghĩa này của chúng tôi đã chủ ý phân biệt rõ ràng

hai bộ phận “văn học có thuộc tính nhà Nho” và “văn học do nhà Nho sáng tác” Với quan niệm có sự tồn tại thực tế của một loại hình tác phẩm văn học nhà Nho

như thế trong lịch sử trung đại Việt Nam, chúng tôi đặt vấn đề nghiên cứu quá trình điển phạm hóa của bộ phận văn chương này

Quá trình vận động từ khi mới manh nha cuối thế kỷ XIII cho đến lúc trở thành điển phạm ở nửa cuối thể kỷ XV là giai đoạn có ý nghĩa quyết định cho diện mạo và những định hướng phát triển sau này của nền văn học nhà Nho ở Việt Nam Đây là lúc xã hội chuyển từ đa nguyên về văn hóa sang giai đoạn Nho giáo nổi trội

và áp đảo, văn học Việt Nam chuyển từ trạng thái chịu ảnh hưởng của Tam giáo sang trọng tâm là Nho giáo Chúng tôi cho rằng nghiên cứu quá trình điển phạm hóa

Trang 8

của văn học nhà Nho khả dĩ có thể giải quyết những vấn đề mang tính lý thuyết có ý nghĩa nền tảng trong việc tìm hiểu nền văn học trung đại

Những hướng nghiên cứu văn học nhà Nho ở Việt Nam giai đoạn từ cuối thế

kỷ XIII đến hết thế kỷ XV đã được triển khai chủ yếu tập trung ở các phương diện văn học như là sản phẩm của một hệ tư tưởng, một mô hình thiết chế xã hội, dựa trên tổng thể văn hóa mà nó đã tồn tại trong quá khứ Việc tìm hiểu văn học nhà Nho ở giai đoạn này từ các yếu tố nội tại của chính nền văn học hay nói cách khác

là từ các yếu tố mang tính đặc trưng bản chất được khái quát trên văn bản tác phẩm chưa được quan tâm nghiên cứu đúng mức Đặc biệt, việc xem xét quá trình điển phạm hóa của văn học nhà Nho thông qua lựa chọn các trường hợp tác giả và tác phẩm tiêu biểu sẽ khiến các lý giải trở nên cụ thể và sáng rõ hơn

Trần Nhân Tông là tác giả lớn nhất của thế kỷ XIII, là hiện tượng có sức ngưng tụ những vấn đề quan trọng của thời đại Là trường hợp tác giả tiêu biểu của văn học Thiền, nhưng sự ảnh hưởng và sự tích hợp tư tưởng Thiền- Nho trong vị hoàng đế- Thiền sư- thi nhân này là khá rõ nét Trước ông, các yếu tố văn học nhà Nho còn hết sức mờ nhạt Việc tìm hiểu tác phẩm của Trần Nhân Tông có thể cho thấy một trong những cách thức khởi đầu của văn học nhà Nho- là nảy sinh từ trong lòng của văn học Thiền, hay nói chính xác hơn là ngày càng mở rộng, trưởng thành

từ trong chính khối hỗn nhập văn chương Thiền- Nho với yếu tố Thiền là căn bản Chính vì vậy, chúng tôi lựa chọn Trần Nhân Tông như trường hợp để nghiên cứu sự khởi đầu của văn học nhà Nho từ trong văn học Thiền

Nguyễn Trãi là tác giả nổi bật nhất của văn học nhà Nho nửa đầu thế kỷ XV Sinh ra trong thời đại Tam giáo tịnh hành thời Vãn Trần, bản thân thâu thái được tất

cả tinh hoa của Tam giáo, nhưng về phương diện nhân cách, tư tưởng, và hành động ông đã thể hiện là một nhà Nho lớn bậc nhất trong lịch sử đất nước, đã có công trong việc sử dụng Nho giáo giải quyết vấn đề dân tộc, góp phần đưa cuộc khởi nghĩa Lam Sơn đến thắng lợi Ông cũng là người đầu tiên đã giúp nhà Lê sơ soạn lễ nhạc, định triều nghi, thiết lập một xã hội theo mô hình của các Tiên Thánh Nhà Nho cùng thời như Nguyễn Mộng Tuân coi ông là “Nho lâm kỷ hứa chiêm Sơn Đẩu” (Rừng Nho lâu nay coi ông như là Thái Sơn, Bắc Đẩu) Người đời sau như Lê Thánh Tông ngợi ca ông: “Ức Trai tâm thượng quang khuê tảo” (Ức Trai trong lòng

Trang 9

rạng vẻ văn chương) Chính vì vậy, chúng tôi lựa chọn Nguyễn Trãi như trường hợp của giai đoạn văn học nhà Nho đã định hình

Lê Thánh Tông chính là giai đoạn điển phạm của văn học nhà Nho, là trường hợp mà những quy phạm, những chuẩn mực của bộ phận văn học này đã được xác lập và được coi là khuôn mẫu để các nhà Nho noi theo Lê Thánh Tông là một vị hoàng đế Nho gia nổi tiếng, là người đưa Nho giáo lên địa vị độc tôn Ông đã xây dựng được một triều đại thịnh trị bậc nhất trong lịch sử trung đại theo mô hình Nho giáo Việc chỉ ra được vị trí các sáng tác văn chương của ba tác giả này trong quá trình vận động và phát triển của văn học nhà Nho ở Việt Nam sẽ làm sáng rõ những vấn đề không chỉ của bản thân văn học nhà Nho mà cả của văn học Thiền và nhiều vấn đề liên quan đến lịch sử dân tộc Ngay đương thời, thơ ông đã trở thành điển phạm cho các triều thần họa theo Thân Nhân Trung từng bình thơ nhà vua rằng:

“Đó là tấm gương tốt đẹp đã phát ra một cách tự nhiên, không cần mượn sự đẽo gọt

mà trăm sự xảo diệu vẫn lộ rõ Bọn thần thường vẫn cố gắng làm theo phương pháp

ấy, mà rút cục vạn phần dường như không làm nổi một” [165, tr 284] Đào Cử viết

lời bạt Quỳnh uyển cửu ca có đoạn: “Nghĩa lý cao xa, từ khí hùng hồn Cái tình

khích lệ chưa chan ở lời nói Thực là lời văn dạy đời của bậc đế vương chân chính Hoàng đế lại đặc biệt ban thưởng, chọn ra 28 bề tôi gần gũi cho họa vần, lấy tượng

28 ngôi sao trên bầu trời, và tượng 28 vị công thần treo ở Vân Đài đời Hán, tổng cộng được 200 bài, dâng lên vua xem, rồi cho vựng tập thành sách, đặt tên là tập

“Quỳnh uyển cửu ca”… So với bài Cửu công, Quyển a của nhà Ngu, nhà Chu thật như cùng một lối Giúp cho thế nước vững bền, hoàng đồ củng cố, giữ cho được thịnh trị mãi mãi, tốt đẹp đến vô cùng, chẳng phải là do từ đấy mà ra sao?” [165, tr 324-325] Vũ Quỳnh cho rằng: “Văn thơ thì hay hơn cả các quan văn học” [110, tr 712] Hà Nhậm Đại cũng tán đồng: “Về sáng tác thơ văn thì trội hơn hẳn các vị bề

tôi văn chương thời đó” [110, tr 716] Sau này, Lê Quý Đôn nhận định về Lam Sơn

lương thủy là: “tuy ít dùng chữ lạ lùng hiểm hóc, nhưng khí cốt hào mại cao siêu,

lời văn bay bướm sinh động, không kém gì cổ nhân” [110, tr 722] Phan Huy Chú

trong phần Văn tịch chí của bộ Lịch triều hiến chương loại chí sau này trích tuyển

rất nhiều thơ ông và đưa ra nhận xét: “Lời phóng khoáng, câu xinh đẹp, so với tác phẩm của các đế vương từ xưa chưa ai có thể theo kịp” [15, tr 443] Giai đoạn này

Trang 10

được các nhà Nho xưa coi là mẫu mực khuôn thước về văn chương Phạm Đình Hổ khi nhận xét về một bản dịch đã viết rằng: “Một ngày kia bản dịch này trở thành rực

rỡ huy hoàng, khuôn theo được thơ thời Thiệu Bình và Quang Thuận… ” [54, tr 35] Bùi Huy Bích bình thơ ca các triều đại cho rằng: “Nước Việt ta từ nhà Trần đến buổi quốc sơ, thì khí thơ có chút hồn hậu, đến đời Hồng Đức thì thơ thanh tao, xinh đẹp, về sau dần dần yếu ớt, đến thời Trung Hưng thì thật thà vụng về, từ thời Vĩnh Thịnh, Thái Bảo về sau, lại trôi chảy dễ nghe, gần đây lại hay chuộng khí phách” [15, tr 489] Đến thế kỷ XIX, một ông vua cực kỳ Nho giáo là Minh Mệnh cũng nhiều lần ngưỡng vọng về thời đại văn chương Hồng Đức Do vậy, chúng tôi cho rằng Lê Thánh Tông là trường hợp tiêu biểu của giai đoạn văn học nhà Nho xác lập điển phạm

Xem xét các trường hợp tác giả để khảo sát trong đó chỉ có Nguyễn Trãi là nhà Nho, Trần Nhân Tông và Lê Thánh Tông là hai vị hoàng đế, chúng tôi đã dựa trên tiêu chí của “văn học có thuộc tính nhà Nho” chứ không phải “văn học do nhà Nho sáng tác” Đây ba tác gia quan trọng, tập trung những vấn đề lớn của văn học trung đại ở các giai đoạn cuối thế kỷ XIII, nửa đầu và nửa cuối thế kỷ XV, có ý nghĩa như những dấu mốc trong quá trình phát triển của văn học nhà Nho ở Việt Nam

Từ những lý do kể trên, chúng tôi lựa chọn đề tài Quá trình vận động tới sự

điển phạm hóa của văn học nhà Nho ở Việt Nam từ Trần Nhân Tông qua Nguyễn Trãi đến Lê Thánh Tông cho luận án của mình nhằm giải quyết một số vấn đề mang

tính lý thuyết của lịch sử văn học giai đoạn này

2 Lịch sử vấn đề

2.1 Nếu không kể đến những quan niệm, nhận định, đánh giá và những công trình sưu tầm, ghi chép của “những người trong cuộc” từ thế kỷ XIX trở về trước thì

văn học nhà Nho đã được nghiên cứu từ rất sớm Trong Việt Nam văn học sử yếu

[30] của Dương Quảng Hàm- công trình văn học sử bằng chữ quốc ngữ đầu tiên của thời hiện đại (1943), sau “Văn chương bình dân”, tác giả đã bắt đầu phần văn học thành văn bằng nhiều chương viết về ảnh hưởng của văn chương Tàu, về Tứ thư, Kinh thi rồi mới đến một chương duy nhất về sự truyền bá Phật giáo và Đạo giáo, sau đó quay trở lại các vấn đề khoa cử, học thi, nhà Nho Có thể thấy là tác giả đã

Trang 11

nhận diện ảnh hưởng của Nho giáo và Phật, Đạo ở Việt Nam với các mức độ khác nhau Tuy không chia thành các dòng với các đặc trưng riêng, nhưng Dương Quảng Hàm đã có sự phân biệt đầu tiên đối với hai dòng văn chương Thiền sư và nhà Nho:

“Xét Hán học nước ta trong hai triều Lý, Trần, ta thấy lúc đầu hai phái Nho học và Phật học đều ngang nhau mà tiến hành, rồi sau Phật giáo bị các nhà nho công kích phải thoái bộ dần mà nhường chỗ cho Nho giáo Trong việc trứ tác, các vị thiền sư cũng chiếm một địa vị quan trọng Còn các nhà Nho thì phần nhiều đều có công nghiệp với xã hội và có phẩm cách thanh cao; trong thơ văn thường trọng đạo lý hơn là từ chương, chưa nhiễm phải cái thói chuộng hư văn vậy” [30, tr 238]

Ở miền Nam giai đoạn 1945-1974, Việt Nam văn học sử giản ước tân biên

của Phạm Thế Ngũ (1961) chia lịch sử văn học theo ngôn ngữ Hán, Nôm và Quốc ngữ Cách tư duy này tương ứng với quan niệm của luận án về các giai đoạn điển phạm hóa của văn học Việt Nam mặc dù chúng tôi cũng đồng ý với Thanh Lãng rằng đây không phải phương pháp tối ưu để phân chia một nền văn học Phần văn học nhà Nho từ cuối thế kỷ XIII đến hết thế kỷ XV mà luận án quan tâm sẽ phải tìm hiểu ở cả hai phần chữ Hán và chữ Nôm Phạm Thế Ngũ đã soi chiếu văn học trung đại từ sự ảnh hưởng của Nho, Phật, Đạo Ông trình bày ngắn gọn nhưng rất rành mạch các giai đoạn “đạo Phật toàn thịnh” thời Bắc thuộc, Đinh, Lê, Lý sang “Tam giáo tịnh lập” đời Trần và “Nho học độc tôn” ở đời Lê Ngoài vài dòng dành cho thơ Thiền và không khí hùng tráng của thơ đời Trần thì tác giả mặc định lịch sử văn học Việt Nam là của của các nhà Nho Công trình này đã có những nhận xét xác đáng tuy mới sơ lược về văn học chữ Hán các giai đoạn Ví dụ như thời Hồng Đức:

“Vậy một khuynh hướng chủ yếu trong những sáng tác của các Tao Đàn Hồng Đức

là khuynh hướng giáo huấn hay đạo lý Ý thơ biểu dương phép trị nước yên dân cùng luân lý chính trị trong kinh sách của đạo Nho mà đời Hồng Đức bắt đầu nhiễm ảnh hưởng sâu xa” [98, tr 141] Nhìn chung, tuy phần viết về văn học chữ Hán và Nôm giai đoạn từ cuối thế kỷ XIII đến hết thế kỷ XV tuy dung lượng không nhiều nhưng chúng tôi đánh giá rất cao những đóng góp của Phạm Thế Ngũ trong việc nhìn nhận và phân tích những ảnh hưởng của Nho giáo tới nền văn học trung đại trong từng giai đoạn Luận án của chúng tôi đã thừa hưởng được một số luận điểm quan trọng từ công trình này

Trang 12

Bảng lược đồ văn học [71] của Thanh Lãng cho rằng văn học Việt Nam từ

thế kỷ XIII1 cho đến giữa thế kỷ XIX đều nằm trong phạm vi ảnh hưởng của Nho, Phật, Đạo “khuôn mẫu cho đường lối suy tư của nhà văn Việt Nam trong gần bẩy thế kỷ là đường lối suy tư theo Tam giáo: đề tài văn học không bao giờ vượt khỏi ảnh hưởng của ba tư tưởng của Khổng, Phật và Lão.” [71, tr 2] Với quan niệm văn học là một “sinh hoạt” có “đời sống” riêng, tác giả đã tìm ra những “cá tính” của mỗi một thời đại văn học để dựng nên một bảng lược đồ các “thế hệ” văn học Phần văn học cuối thế kỷ XIII đến hết thế kỷ XV được quy về hai thế hệ: Văn học của thời đối kháng Trung Hoa (thế kỷ XIII- XIV) và Văn học của thời phát huy văn hóa dân tộc (1428-1505) Chính vì chú trọng đến cái “cá tính” của mỗi thế hệ như thế

mà Thanh Lãng ít nhìn sự vận động của văn học các thời kỳ theo cùng một hệ vấn

đề, cụ thể như với trường hợp Nho giáo Nho giáo tuy được quan niệm là tư tưởng ảnh hưởng xuyên suốt nền văn học “cổ điển” nhưng khi triển khai trình bày các thế

hệ văn học, Thanh Lãng hầu như ít chú ý đến sự tác động của Nho giáo đến đời sống văn học hay các tác giả, tác phẩm cụ thể

Các bộ lịch sử văn học của miền Bắc từ năm 1945-1975: Sơ thảo lịch sử văn

học Việt Nam [144] của ban Văn- Sử- Địa, Lược thảo lịch sử văn học Việt Nam [76]

của nhóm Lê Quý Đôn chịu tác động của tình hình chính trị đương thời cũng như phương pháp luận nghiên cứu Marxism và phản ánh luận của Lenin nên ít quan tâm đến vấn đề văn học nhà Nho Họ quy văn học chủ yếu vào các vấn đề dân tộc, đấu tranh giai cấp và phản ánh hiện thực Thậm chí, bộ Lược thảo còn nói rõ quan niệm

“không coi các thơ văn viết bằng chữ Hán của ta là những tác phẩm văn học thuần

tuý dân tộc, ( ) chỉ có những tác phẩm viết bằng ngôn ngữ dân tộc mới hoàn toàn

là những tác phẩm văn học dân tộc” [76, tr 6] Chính vì thế, văn học chữ Hán bị

loại khỏi phạm vi nghiên cứu của bộ lịch sử văn học này, chỉ được đề cập đến một cách sơ lược ở phần phụ của mỗi giai đoạn văn học Với quan niệm như thế, văn học Việt Nam từ thế kỷ X- thế kỷ XV gần như bị bỏ qua Cũng vì đứng trên lập trường đấu tranh giai cấp mà các tác giả bộ sách này đánh giá Nho giáo một cách khá cực đoan và thiên kiến: “Nếu chúng ta nói đạo Phật, đạo Lão là những tôn giáo

1 Thanh Lãng quan niệm nền văn học cổ điển bắt đầu từ thế kỷ XIII với Hàn Thuyên và kết thúc vào năm 1862 [71, tr 1] Ông không lý giải tại sao lại chọn những mốc như thế

Trang 13

mà giai cấp phong kiến lợi dụng để ru ngủ quần chúng, để cho việc thống trị của chúng dễ dàng thì Nho giáo còn hơn thế Nho giáo nói trắng ra cái việc bảo vệ xã hội phong kiến Nho giáo đặt ra một kỷ cương chung cho người trong giai cấp phong kiến để đảm bảo sự thống trị của giai cấp được dài lâu, và cho người ở các giai cấp bị trị, để họ không những phục tùng giai cấp phong kiến, mà còn nai lưng làm việc cho giai cấp ấy, chiến đấu để củng cố cái trật tự có lợi cho giai cấp ấy” [76,

tr 181] Từ đó, các tác giả này đã quan niệm về mối quan hệ giữa văn học và Nho giáo như sau: “Đạo Nho làm nội dung cho văn chương cử nghiệp, nhất là từ nhà Hậu Lê trở về sau Nhưng tuy đạo Nho can thiệp vào nhiều phương diện sinh hoạt của ta, nó không có tác dụng to tát và tốt đẹp đối với văn thơ ta (văn thơ nôm) Cái chủ nghĩa thực tế của nó, cái tư tưởng mực thước và gò bó của nó là kẻ thù của mọi cuộc vượt lên của tư tưởng, của tình cảm, nó không gây hứng thú Các thơ truyện của ta thường lấy trung hiếu làm luận đề Nhưng cái hay cái đẹp lại xuất phát từ những tình tiết khác” [76, tr 182] Khi nhận định về văn học chữ Hán đến thế kỷ XV, các tác giả bộ sách này chỉ nhìn nhận giá trị yêu nước và tinh thần dân tộc

Hai bộ giáo trình lịch sử văn học ra đời sau đó của Trường Đại học Sư phạm

Hà Nội (xuất bản lần đầu năm 1961) [92] và Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội (xuất bản lần đầu những năm 1970) [59] chưa có nhiều chuyển biến khi xem xét văn học Việt Nam dưới góc độ sự ảnh hưởng của Nho giáo, và dưới góc độ những sáng tác của nhà Nho Bộ giáo trình của Trường Đại học Sư phạm (Bùi Văn Nguyên) vẫn còn cực đoan khi đứng từ quan điểm lập trường đấu tranh giai cấp để gọi Nho giáo

là “nọc độc” [92, tr 20] và nhìn nhận Nho giáo như sau: “Trước sau, Nho giáo thời Tây Chu hay Đông Chu, học thuyết về chữ lễ, chữ nhân hay nhân nghĩa cũng đều là học thuyết của giai cấp chiếm nô hoặc giai cấp phong kiến Như vậy chúng ta không lấy làm ngạc nhiên thấy giai cấp phong kiến Trung Quốc sang ta, hay giai cấp phong kiến Việt Nam, đều đón lấy Nho giáo như một “bửu bối”, một công cụ sắc bén, nhằm mê hoặc nhân dân ta bằng nhiều đường, như con đường khoa cử, đường làm quan, v.v để dễ bề thống trị và bóc lột họ một cách tinh vi” [92, tr 18] Chính

từ xuất phát điểm này mà việc nhìn nhận ảnh hưởng của Nho giáo tới văn học có những thiên lệch: “những nhân sĩ tiến bộ như Chu An, Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Ngô Thì Nhậm, Cao Bá Quát lại tỉnh táo theo sát đời sống của nhân dân ta

Trang 14

với những truyền thống tốt đẹp của dân tộc, chứ không mù quáng theo các loại kinh, truyện của Nho giáo.” [92, tr 20] “Cách làm để tự tạo cho mình một lối thoát của các nhân sĩ tiến bộ trên là gạn lọc những yếu tố tích cực trong Nho giáo để có thể dung hòa với lẽ phải, trong dân gian…” [92, tr 21] Tác giả giáo trình đã đặt Nho giáo trong thế đối lập với tính dân tộc, những yếu tố tiêu cực của văn học được gán cho Nho giáo và những yếu tố mang tính giá trị được gắn liền với dân tộc

Giáo trình của Trường Đại học Tổng hợp ra đời muộn hơn, cái nhìn với Nho giáo đã bớt khắt khe Các tác giả đã khách quan nhìn nhận sự thật hiển nhiên văn học trung đại Việt Nam là văn học viết của các nhà Nho, chịu sự ảnh hưởng của Nho giáo: “Ngày xưa, các tầng lớp trí thức- kể cả một bộ phận không nhỏ của tăng

lữ nữa- chịu ảnh hưởng của Hán học Quan niệm về văn học của họ cũng chịu ảnh hưởng của Hán học Và khi tìm hiểu dòng văn học viết thì không thể không tìm hiểu ảnh hưởng của quan niệm về văn học của tầng lớp trí thức Hán học, ít hoặc nhiều

được đào tạo trong nhà trường của Nho giáo” [59, tr 25] Việc nghiên cứu các tác

giả, các tác phẩm văn học cụ thể đã ít nhiều được quy chiếu từ sự ảnh hưởng của Nho giáo tới văn học Sự phát triển của Nho giáo và ảnh hưởng của Nho giáo trong văn học đã được xem xét đến Ở giai đoạn văn học Lý- Trần, các tác giả đã có những nhận xét đáng lưu ý tuy mới sơ lược về mức độ ảnh hưởng của Nho giáo và mối quan hệ với Phật, Đạo: “Cái khuôn Nho giáo có khi chỉ là hình thức Và những danh từ tu, tề, trị, bình, nhân, nghĩa, trung, hiếu trong trước tác đời Trần lại thường phần nào tách rời khỏi cái khuôn khổ Nho giáo hoặc ít nhiều phá vỡ cái khuôn khổ

ấy để có thể vươn lên mà chứa đựng những nội dung thiết thực gần với cuộc đấu tranh của dân tộc để xây dựng đất nước, xây dựng con người” [59, tr 86] Tình hình nửa cuối thế kỷ XV khác hẳn: “Nho học đặc biệt được đề cao Người làm văn học đều là những nhà Nho, nhiều người lại giữ những chức vị cao trong triều đình Do

đó văn học nói chung đã phát biểu quan điểm chính thống của Nhà nước phong kiến

và thường nặng về xu hướng thù phụng, ca ngợi Văn học đã thể hiện rõ rệt tính chất quan phương” [59, tr 270] Tuy nhiên, công trình này vẫn chịu ảnh hưởng của cách nhìn cũ nên đôi khi đánh giá Nho giáo chưa thật sự công bằng Đặc biệt, các tác giả vẫn đem Nho giáo ra để đối lập với tính dân tộc Ví dụ khi nhận xét về Chu

An, Đinh Gia Khánh viết: “Chu An là một nhà Nho Vậy thì những điều giáo huấn

Trang 15

của ông không thể tách rời những kinh điển của Nho giáo Nhưng phải thấy rằng đức tính khảng khái, liêm khiết, không màng danh lợi, không ngại cường quyền, bao giờ cũng nghĩ đến nước, đến dân mà ông nêu cao thì lại xứng đáng thuộc vào những giá trị tinh thần của dân tộc” [59, tr 84]

Nhìn chung, chúng tôi cho rằng, những hạn chế về mặt phương pháp luận khoa học và thế giới quan đã khiến các tác giả miền Bắc trong giai đoạn 1945-1975 nhận định về Nho giáo khá thiên lệch dẫn đến những né tránh hoặc phủ nhận ảnh hưởng, đặc trưng, kể cả những giá trị, đóng góp mà Nho giáo đem lại cho văn học

2.2 Kể từ sau đổi mới2, trong vòng mấy chục năm gần đây, nhiều công trình

nghiên cứu của các tác giả Trần Đình Hượu: Nho giáo và văn học Việt Nam trung

cận đại (1995), Loại hình học tác giả nhà Nho- Nhà Nho tài tử và văn học Việt Nam

(1995); Trần Ngọc Vương: Văn học Việt Nam dòng riêng giữa nguồn chung (1997),

Văn học Việt Nam thế kỷ X-XIX (2007, chủ biên) và Trần Nho Thìn: Văn học trung đại Việt Nam dưới góc nhìn văn hóa (2003, 2008), Văn học Việt Nam từ thế kỷ X đến hết thế kỷ XIX (2012) đã đạt được những thành tựu có ý nghĩa đặt nền móng

cho việc nghiên cứu văn học nhà Nho Điểm chung của những công trình này là quan niệm nghiên cứu văn học theo phương pháp xã hội học- lịch sử, kết hợp phương pháp loại hình học hay văn hóa học Nhưng không giống với xã hội học của miền Bắc giai đoạn 1945-1986 tập trung vào vấn đề đấu tranh giai cấp, đánh giá tác phẩm dựa trên những định kiến về đối tượng trong hiện thực, những công trình này đều được thực hiện theo quan niệm xã hội học mang tinh thần khoa học và hiện đại Các tác giả xem xét văn học từ góc nhìn xã hội, lịch sử, tư tưởng, triết học, tôn giáo

và các vấn đề văn hóa Trần Đình Hượu có thể coi là người đầu tiên đặt vấn đề nghiên cứu văn học nhà Nho một cách hệ thống Ông cho rằng: “Nếu hiểu A là văn học do nhà nho viết và viết theo quan niệm văn học Nho giáo, là văn, thơ, phú, lục,

là văn học Đông Á thì cũng cần làm sáng tỏ quan hệ giữa văn hóa và văn học giữa Việt Nam và Trung Quốc, quan hệ giữa Nho giáo với Phật giáo, tư tưởng Lão- Trang, nhà Nho Việt Nam với tư cách là tác giả văn học, sự khác nhau không phải

là ít trong thực tế và lịch sử giữa các nước Đông Á” [49, tr 11] Trần Nho Thìn theo

2 Đây là một mốc có tính chất tương đối Các công trình này đều xuất bản sau 1986, nhưng thực chất nhiều bài viết trong đó được ra đời sớm hơn thời điểm này rất nhiều

Trang 16

đuổi phương pháp tiếp cận văn hóa học, sử dụng cách thức phục nguyên lại đời sống văn hóa của một thời đại nhất định, giải mã các hiện tượng văn hóa để giải quyết các vấn đề của văn học Từ góc nhìn này, ông đã có một số những ý kiến xem xét lại các luận điểm về văn học nhà Nho của Trần Đình Hượu, đặc biệt là ở việc phân chia ba mẫu hình nhà Nho Nhìn chung, nhóm các tác giả này dù có những khác biệt nhất định nhưng đã giải quyết được các vấn đề cơ bản mang tính lý thuyết của văn học nhà Nho từ góc nhìn xã hội học- lịch sử và văn hóa học này:

- Xem xét một cách khách quan mối quan hệ giữa Nho giáo và văn học trong tương quan với Phật và Lão- Trang từ nguồn gốc lịch sử và quá trình phát triển của Nho giáo, đặc biệt là từ thời Khổng Tử ở cả hai phương diện: Nho giáo đã đem lại

và lấy mất của văn học những gì

- Công nhận sự ảnh hưởng của Nho giáo đến nền văn học trung đại Việt Nam một cách toàn diện và sâu sắc, kể cả khía cạnh tích cực và tích cực của nó Các tác giả đã phác thảo diện mạo của nền văn học nhà Nho ở các giai đoạn, các thời kỳ, các thể loại, cảm hứng, hệ thống nhân vật, tác giả, tác phẩm lớn

Đặc biệt, Trần Đình Hượu trong bài viết “Xác định cái dân tộc, cái cổ điển làm cơ sở để phân kỳ lịch sử văn học dân tộc” [49] đã đề cập đến tính cổ điển, điển phạm của văn học trung đại Theo ông, “Cái cổ điển vốn là nói về hình thức… Cái được coi là cổ điển vừa có hình thức nghệ thuật hoàn mỹ, vừa có nội dung đặc sắc,

có tính khái quát, có tính dân tộc, có tính nhân loại” [49, tr 505]

Mặc dù các tác giả này đã xây dựng được một hệ thống lý thuyết khá hệ thống về văn học nhà Nho nói chung, nhưng nhiều vấn đề cụ thể trong đó vẫn còn chờ được giải quyết Luận án của chúng tôi có thể coi là một sự tiếp tục trên cơ sở những nghiên cứu này với sự gia tăng của các cách tiếp cận mới về một giai đoạn cụ thể của văn học nhà Nho

Trong xu hướng chung, vấn đề văn học nhà Nho được rất nhiều nhà nghiên cứu văn học trung đại quan tâm đến Có thể kể tên các công trình đáng chú ý có đề

cập đến vấn đề này: Về con người cá nhân trong văn học cổ Việt Nam (1997) của

các tác giả Nguyễn Hữu Sơn- Trần Đình Sử- Huyền Giang- Trần Ngọc Vương-

Trần Nho Thìn- Đoàn Thị Thu Vân, Góp phần xác lập hệ thống quan niệm văn học

trung đại Việt Nam (1997) của Phương Lựu, Mấy vấn đề thi pháp văn học trung đại

Trang 17

Việt Nam (1998) của Trần Đình Sử, Quy luật phát triển lịch sử văn học Việt Nam

(1998) và Đặc trưng văn học trung đại Việt Nam (2001) của Lê Trí Viễn, Khảo và

luận một số tác gia- tác phẩm văn học trung đại Việt Nam (tập 1- 1999, tập 2-

2001) của Bùi Duy Tân, Các khuynh hướng văn học Lý- Trần (2008) của Nguyễn

Phạm Hùng Có thể nhận xét chung rằng các tác giả này đã góp phần làm rõ nét thêm các vấn đề của văn học nhà Nho trung đại từ nhiều góc nhìn khác nhau

Trong số này, chúng tôi đặc biệt chú ý Mấy vấn đề thi pháp văn học trung

đại Việt Nam (1998) của Trần Đình Sử Tác giả đã sử dụng hệ thống lý luận khá

thịnh hành ở thời điểm đó do chính ông là người tiên phong giới thiệu và áp dụng

để nghiên cứu văn học trung đại Việt Nam Công trình này đã bổ sung một mảng lớn còn chưa có nhiều thành tựu trong nghiên cứu văn học trung đại nói chung và văn học nhà Nho nói riêng là soi chiếu văn học từ bình diện ông gọi là “mỹ học nội tại” của sáng tác nghệ thuật, những hệ thống nguyên tắc nghệ thuật thể hiện trong chính văn bản tác phẩm Trần Đình Sử đã đạt được những thành tựu bước đầu ở hướng nghiên cứu này, ông đã xây dựng được một mô hình tổng quan về thi pháp văn học trung đại trên các vấn đề cơ bản như loại hình văn học, các bình diện đặc trưng, thi pháp một số thể loại văn học, quan niệm về con người và thế giới và một

số phương thức nghệ thuật Ở từng yếu tố, ông đều tính đến sự tác động của các yếu

tố Nho, Phật, Đạo tới thi pháp văn học trung đại Nhiều luận điểm trong luận án của chúng tôi được phát triển từ những kết quả nghiên cứu của công trình này, cụ thể là các phân tích về không gian- thời gian nghệ thuật

Bên cạnh đó, mấy năm gần đây xuất hiện hướng nghiên cứu văn học nhà

Nho từ lý thuyết về thông diễn học của Nguyễn Kim Sơn trong cụm bài viết: Tâm

tính học Nho gia và đặc trưng thẩm mỹ của văn chương nhà Nho (2006), Bàn về cảm hứng cư trần lạc đạo trong thơ Trần Nhân Tông (2006), Mấy phương diện thẩm mỹ của thơ Nho gia và Thiền gia (2007, viết chung với Trần Thị Mỹ Hòa), Cội nguồn triết học và tinh thần nhập thế của Trần Nhân Tông (2008), Sự đan xen giữa các khuynh hướng thẩm mỹ trong thơ Huyền Quang (2009) Tác giả đã bước

đầu chỉ ra một số đặc trưng thẩm mỹ của văn chương nhà Nho trong tương quan với văn chương Thiền gia và Đạo gia Chúng tôi tiếp nhận những luận điểm này của tác

Trang 18

giả như là những gợi ý để soi chiếu vào vấn đề điển phạm hóa của văn học nhà Nho

ở giai đoạn cuối thế kỷ XIII- hết thế kỷ XV

Đoàn Thị Thu Vân trong luận án tiến sĩ Khảo sát một số đặc trưng nghệ

thuật thơ Thiền Việt Nam thế kỷ XI-XIV (1995) [173] đã quan tâm đến khái niệm

“thơ Nho”: “Thơ Nho là thơ của các tác giả theo hệ tư tưởng Nho gia và đề cập đến những vấn đề thuộc phạm trù triết học, đạo đức Nho giáo” [173, tr 154] Tác giả luận án đã bước đầu chỉ ra những đặc trưng nghệ thuật của “thơ Nho” thời Lý- Trần trong thế đối sánh với thơ Thiền đương thời trên một số phương diện: sự thể hiện con người, tính duy lý, không gian nghệ thuật, thời gian nghệ thuật, thi liệu, giọng thơ và kết luận là những sự khác biệt này xuất phát từ đặc trưng về triết học của hai dòng thơ, một bên là triết học nhân sinh, một bên là triết học bản thể

Phát triển hướng nghiên cứu này, Huỳnh Quán Chi trong luận án tiến sĩ Thơ

Nho Việt Nam từ giữa thế kỷ XIV đến giữa thế kỷ XV (2010) [12] đã triển khai đề tài

trên nhiều phương diện, từ diện mạo của dòng thơ Nho đến những cảm hứng chính, một số phương diện thi pháp Đây là công trình gần với đề tài luận án của chúng tôi nhất dù phạm vi nghiên cứu của luận án này chỉ dừng lại từ giữa thế kỷ XIV đến giữa thế kỷ XV với một thể loại tiêu biểu nhất của giai đoạn này là thơ Huỳnh Quán Chi đã bước đầu phác thảo diện mạo của thơ Nho trong vòng một thế kỷ Tuy nhiên, tác giả luận án chưa chỉ ra được những đặc trưng của dòng thơ Nho ở giai đoạn này so với các giai đoạn khác, chưa quan tâm đến quá trình vận động của đối tượng nghiên cứu Tác giả coi thơ Nho từ giữa thế kỷ XIV đến giữa thế kỷ XV như một đối tượng bất biến và thuần nhất để xem xét Những yếu tố khác Nho như Phật hay Đạo vẫn còn rất đậm nét ở thời đại Tam giáo này có vai trò thế nào trong thơ Nho cũng chưa được tác tính đến

2.3 Trần Nhân Tông, Nguyễn Trãi và Lê Thánh Tông không chỉ là các tác gia văn học lớn mà họ đều là những nhân vật nổi tiếng trong lịch sử Việt Nam ở nhiều tư cách khác nhau Xét từ tư cách là tác giả văn học và từ vấn đề điển phạm hóa của văn học nhà Nho, chúng tôi nhận thấy tình hình nghiên cứu như sau:

Các nghiên cứu về Trần Nhân Tông chủ yếu tập trung ở phương diện hoàng đế- thiền sư mà ít lưu ý tới tư cách tác giả văn học, có thể kể đến những bài viết về văn chương Trần Nhân Tông của các tác giả Trần Thị Băng Thanh, Đoàn Thị Thu

Trang 19

Vân, Nguyễn Huệ Chi, Trần Nghĩa, Nguyễn Hữu Sơn, Phạm Ngọc Lan và các phần viết về tác giả này trong các nghiên cứu chung về thơ văn Lý- Trần của Nguyễn Phạm Hùng, Nguyễn Hùng Hậu, Nguyễn Duy Hinh Những tham luận của

hội thảo về Trần Nhân Tông với truyền thống văn hóa, đạo đức, trí tuệ dân tộc năm

2004 được tập hợp trong cuốn Trần Nhân Tông- vị vua Phật Việt Nam (2004) và hội thảo Đức vua Phật hoàng Trần Nhân Tông cuộc đời và sự nghiệp (nhân 700 năm

ngày nhập niết bàn 1308-2008) (2008) cũng đã đề cập đến nhiều mặt trong sự

nghiệp của Trần Nhân Tông, nhưng số lượng bài viết trực tiếp về văn chương của

ông chiếm tỉ lệ không lớn Cho đến nay, mới chỉ có cuốn Toàn tập Trần Nhân Tông

(2000) của Lê Mạnh Thát nghiên cứu toàn diện về Trần Nhân Tông Tuy nhiên, đối với văn chương Trần Nhân Tông, Lê Mạnh Thát mới chỉ dừng lại ở các vấn đề văn bản và những giới thiệu mang tính chất tổng quan Nhìn chung, ở các công trình nghiên cứu này, Trần Nhân Tông được đánh giá rất cao ở hai phương diện: một là

tư tưởng triết học Thiền, và hai là cảm hứng dân tộc thể hiện trong tác phẩm của ông Bên cạnh đó, tinh thần nhập thế trong văn chương của ông cũng được nhiều nhà nghiên cứu lưu ý tới Ngoài ra, cũng đã có những bài viết bước đầu nhận xét về mối quan hệ Tam giáo hoặc các yếu tố Nho giáo trong văn chương Trần Nhân Tông

từ góc độ nội dung tư tưởng như Tìm hiểu mối quan hệ Tam giáo trong tác phẩm

“Cư trần lạc đạo phú” [111] của Trần Nguyên Việt, hoặc kết hợp cả triết học và

mỹ học như loạt bài viết về Trần Nhân Tông và Huyền Quang của Nguyễn Kim Sơn Từ phương diện triết học thì Nguyễn Kim Sơn cho rằng: “Có thể nhìn một cách tổng quan về căn cội triết học của tinh thần nhập thế, mà nói theo cách của

chính Trần Nhân Tông, là "cư trần lạc đạo", đó là một hệ thống với Phật tính luận,

phương pháp tu luyện, con đường giác ngộ của Thiền Tông, đặc biệt là Thiền Huệ

Năng làm trục tâm Trên cơ sở đó, nó kết hợp với tư tưởng Hòa quang đồng trần trong triết học Lão tử, tư tưởng Vô sở đãi và tùy tục trong tư tưởng Trang tử, và đương nhiên không thể thiếu tư tưởng lạc đạo của Nho gia Xét về cơ cấu nó là sự

hội nhập triết học và phương pháp tu dưỡng, cảnh giới tinh thần của cả Tam giáo, lấy Thiền làm cơ sở để tiến hành hội nhập” [131] Còn từ góc độ mỹ học thì tác giả cho rằng: “Bài này rõ ràng có khí khái hơi khác với tinh thần tùy duyên nhậm vận, một loại cảm hứng và một triết lý thiền tiêu biểu và nổi bật trong thơ Trần Nhân

Trang 20

Tông, nó thiên về thơ ngôn chí kiểu Nho gia Bài thơ thể hiện chí hướng muốn có được những phẩm chất hơn người, mong làm nên sự nghiếp đế vương như Hán Văn

Đế, Đường Thái Tông Bài này có thể ví như một bông hoa lạ báo hiệu sự nảy nở

và bắt đầu của loại thơ vịnh vật” [131] Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có công trình nào đặt vấn đề nghiên cứu yếu tố Nho giáo trong văn chương Trần Nhân Tông một cách hệ thống, đặt Trần Nhân Tông vào quá trình điển phạm hóa của văn học nhà Nho ở Việt Nam để soi chiếu

Trong số ba trường hợp mà luận án lựa chọn để khảo sát thì tình hình nghiên cứu về Nguyễn Trãi là phong phú và phức tạp nhất Thanh Lãng gọi Nguyễn Trãi là

“ông tổ của nền văn học cổ điển” “nền văn học cổ điển nếu không phải do Nguyễn Trãi khai sinh thì cũng do Nguyễn Trãi đặt cho nó cơ sở vững chãi đầu tiên, cho người ta tin vào tiềm lực hiện thực của nó.” [71, tr 102] “Tất cả những dòng tư tưởng lớn, làm nòng cốt cho nền văn học cổ điển, đều thai nghén và hình thành ở Quốc âm thi tập” [71, tr 103] Đây là quan niệm mà gần như nhà nghiên cứu nào cũng nhất trí Các nghiên cứu về Nguyễn Trãi đã được triển khai từ nhiều góc độ, nhiều cách tiếp cận và cho đến nay đã đạt được rất nhiều thành tựu Về yếu tố Nho giáo trong văn chương Nguyễn Trãi, các nhà nghiên cứu có ba quan niệm chính: Quan niệm thứ nhất phủ định sự ảnh hưởng của Nho giáo tới Nguyễn Trãi, coi Nguyễn Trãi là biểu tượng cho vấn đề dân tộc, hình ảnh của ông vì thế không thể có chút dính dáng gì đến Nho giáo, là một thứ hệ tư tưởng đầy tính tiêu cực của ngoại bang, là công cụ của giai cấp thống trị Theo các tác giả này, nếu Nguyễn Trãi có chịu ảnh hưởng của Nho giáo thì ông cũng dân tộc hóa các yếu tố đó đi, biến nó thành những yếu tố tích cực mang tinh thần dân tộc Đây là quan niệm của nhóm các nhà nghiên cứu miền Bắc giai đoạn 1945-1986, tiêu biểu là tác giả của các bộ giáo trình như chúng tôi đã đề cập ở trên Bùi Văn Nguyên viết trong Giáo trình của Đại học Sư phạm: “Như chúng ta đã nói ở phần “đặc điểm”, vì hoàn cảnh xã hội nước ta lúc bấy giờ khác hẳn với xã hội thời Khổng, Mạnh, cho nên không phải ngẫu nhiên mà quan điểm nhân nghĩa của Nguyễn Trãi có nhiều yếu tố dân tộc và dân chủ” [92, tr 131] Quan niệm thứ hai cho rằng Nguyễn Trãi là Thiền sư, và đương nhiên gần như không chịu ảnh hưởng của Nho giáo Đây là ý kiến của tác giả hải ngoại, Võ Văn Ái trong cuốn “Nguyễn Trãi sinh thức và hành động” [1] Tác

Trang 21

giả này đã dành hơn 200 trang sách để chứng minh Nguyễn Trãi là một Thiền sư từ

cả hai phương diện sinh thức và hành động Quan niệm thứ ba công nhận ảnh hưởng của Nho giáo tới Nguyễn Trãi cũng như các sáng tác của ông với các mức độ khác nhau Đây là nhóm quan niệm chiếm đa số, của các tác giả trước 1945, miền Nam 1945-1975 và tình hình nghiên cứu chung 1975 đến nay Có tác giả (nhất là ở miền Nam 1945-1975) chủ yếu xem xét sự ảnh hưởng của Nho giáo như Phạm Thế Ngũ, Nguyễn Thiên Thụ Phạm Thế Ngũ gọi cuộc đời Nguyễn Trãi là “một sự nghiệp Nho thần”: “Chính là cái mối lo cao quý của bậc Nho thần trung trực khi ngồi cao ở miếu đường thì lo lắng vì dân, khi xa lánh ở giang hồ thì lo lắng vì vua” [98, tr 110] Các tác giả từ sau đổi mới lại đây thì xem xét thêm sự ảnh hưởng của Nho giáo tới Nguyễn Trãi trong mối quan hệ với Phật, Đạo và vấn đề dân tộc một cách khách quan Trần Đình Hượu trong một bài viết từ năm 1979 nhưng mãi sau

này mới in lần đầu trong cuốn Nho giáo và Văn học Việt Nam trung cận đại với tên gọi Nguyễn Trãi và Nho giáo cho rằng: “Nguyễn Trãi, về mặt lịch sử là một nhà

Nho quá đặc sắc, sự nghiệp quá rộng lớn, ít người có thể so sánh, nhưng về mặt văn học thì lại là một nhà Nho- nghệ sĩ hết sức tiêu biểu Muốn hiểu Nho giáo, nhà Nho, văn học nhà Nho- với đặc sắc Việt Nam của nó- thì có lẽ ít có gương mặt nào tiêu biểu hơn Nguyễn Trãi” và khẳng định Nguyễn Trãi cơ bản là một nhà Nho dù ông

có chịu ảnh hưởng của Lão- Trang, chủ động chọn Nho giáo cho dân tộc nhưng vẫn bảo lưu truyền thống Lý- Trần: “Ông đã lựa chọn Nho giáo, nhưng là xu hướng nhân đạo chủ nghĩa nhất trong Nho giáo thời đó Nguyễn Trãi chọn Nho giáo thay cho Phật giáo thời Lý Trần nhưng không phải ông từ bỏ truyền thống Lý- Trần, mà làm cho nó cao hơn vì rộng rãi hơn” [49, tr 129-130] Trần Ngọc Vương có ba bài

viết về Nguyễn Trãi trong Văn học Việt Nam dòng riêng giữa nguồn chung xem xét

Nho giáo ở Nguyễn Trãi từ nhiều góc độ: là nguồn gốc của tư tưởng nhân dân, trong mối quan hệ với truyền thống và bản sắc dân tộc, trong tương quan giữa nhà tư tưởng và nhà nghệ sĩ, giữa Nho giáo và Lão- Trang Ông cho rằng: “Xét về câu chữ,

về tần số xuất hiện mang dấu ấn tư tưởng thì, thì tư tưởng Lão- Trang, đặc biệt là Trang, có ảnh hưởng đến Nguyễn Trãi khá hiển nhiên Ảnh hưởng của Phật giáo nói chung, Thiền tông nói riêng, đối với ông không thật rõ ràng và có sức nặng đáng kể Nhưng cả đối với học thuyết Lão- Trang này, Nguyễn Trãi không đồng hóa vào tâm

Trang 22

tưởng và hiện thực hóa vào sự nghiệp mình những kết luận, những xác tín bản chất nhất, như điều ông đã làm đối với Nho giáo” [185, tr 254] Trần Nho Thìn thì nhận định: “Có cảm tưởng là tư tưởng Lão- Trang hay Phật giáo được ông viện dẫn như

để che đậy, ngụy trang cho một thực tế tư tưởng nào đó cần phải giải mã” [151, tr 341] Chúng tôi cho rằng các tác giả đã nhìn nhận đánh giá xác đáng sự ảnh hưởng của Nho giáo cũng như mối quan hệ với Lão- Trang ở Nguyễn Trãi, nhưng yếu tố Thiền còn cần phải làm rõ hơn nữa

Các nghiên cứu về Lê Thánh Tông phần lớn thuộc về các lĩnh vực chính trị, kinh tế, quân sự, luật pháp, văn hóa Cho đến nay chưa có một chuyên luận nào thực

sự đáng kể về văn chương Lê Thánh Tông Xét về ảnh hưởng của Nho giáo tới Lê Thánh Tông thì các nhà nghiên cứu gần như đều thống nhất ở điểm Lê Thánh Tông

là người đã có vai trò quyết định trong việc hạn chế Phật, Đạo để độc tôn Nho thuật Quan niệm thứ nhất mà đại diện tiêu biểu là Trần Quốc Vượng coi đấy là tội của của Lê Thánh Tông vì “Điều quan trọng hơn nhiều và gây hậu quả nghiêm trọng ở thế kỷ XVI là việc nhà Lê mô phỏng triều Minh xây dựng một nền quân chủ- Nho giáo độc tôn, chuyên chế” [110, tr 126] Quan niệm thứ hai áp đảo hơn với đại đa

số các nhà nghiên cứu với góc nhìn có tính lịch sử cụ thể cho rằng lựa chọn Nho giáo là một quá trình vận động phát triển từ cuối đời nhà Trần và mang tính tất yếu trong điều kiện lịch sử đương thời, do vậy họ nhìn nhận đánh giá một cách khách quan ở cả đóng góp lẫn hạn chế của Nho giáo đối với đất nước Từ đó, các kiến giải của họ đối với vấn đề Lê Thánh Tông và Nho giáo cũng mang tính công bằng hơn

Họ đánh giá cao vai trò của Lê Thánh Tông trong việc đã tạo ra được một thời đại thịnh trị của Nho học, nhưng cũng chỉ ra những mặt trái của nó cũng những tác động lâu dài tới đất nước Trần Đình Hượu viết: “Nho học Việt Nam đến thời Lê Thánh Tông đã đạt đến điểm cực thịnh Và có lẽ đến đó nó cũng đã có bộ mặt tương đối ổn định Thời thịnh trị đó đưa lại vinh quang cho dân tộc Nhưng phải chăng vinh quang cũng đẻ ra cả mặt trái của nó?” [110, tr 251] Các nhà nghiên cứu cũng bàn đến mối quan hệ giữa Nho- Phật- Đạo ở thời Lê Thánh Tông Nguyễn Huệ Chi cho rằng: “Có người đã đặt vấn đề trách cứ Lê Thánh Tông bài bác Phật giáo và Đạo giáo để chỉ giữ lại một mình Tống Nho Sự “nhất nguyên” đó có làm nghèo nàn

tư tưởng xã hội đi không? Chúng tôi nghĩ, chắc là không thể nào tránh khỏi Đây là

Trang 23

chỗ yếu nhất trong cái mô hình mà Lê Thánh Tông chọn lựa” [110, tr 149] Xét từ góc độ văn học, các nghiên cứu sự ảnh hưởng của Nho giáo đối với văn chương Lê Thánh Tông khá nhiều nhưng không mang tính hệ thống mà mới chỉ dừng lại ở một vài bài viết về các phương diện đơn lẻ hoặc ở những bài viết tổng quan về tác giả Thanh Lãng nhận định vai trò của Lê Thánh Tông trong quá trình điển phạm hóa của văn học nhà Nho: “Từ Nguyễn Trãi, văn chương đã thoát dần địa hạt tư tưởng thuần túy để đi đi tới chủ trương văn nghệ thuần túy coi văn nghệ như là một trò chơi, hứng thú, một môn trang trí cho cuộc đời Lê Thánh Tông với Hội Tao Đàn,

đã đẩy nền văn nghệ từ chương mới phôi thai đến chỗ cực thịnh” [71, tr 109] Bùi Duy Tân cho rằng Lê Thánh Tông là “thống soái văn đàn nửa sau thế kỷ XV” [110,

tr 35] và “Lê Thánh Tông là đầu đàn của loại hình tác gia: nhà văn- nho sĩ khi Nho giáo trở thành quan phương, chính thống” [110, tr 72] Nguyễn Huệ Chi khẳng định: “Ông xứng đáng với danh hiệu Tao đàn nguyên súy không chỉ vì ông là vị hoàng đế đương triều mà chính vì những tìm tòi nghệ thuật có giá trị hàng đầu trong sáng tác” [110, tr 156] Đỗ Lai Thúy gọi Lê Thánh Tông là một “nhà Nho- hoàng đế- thi nhân” và quả quyết rằng: “Sự nghiệp sáng tác của Lê Thánh Tông rất khớp với những chuẩn của văn học Nho giáo, với tính chất chính thống và chính thức của nó” [110, tr 662] Trần Thị Băng Thanh nghiên cứu “Lê Thánh Tông và các mối

“dị đoan”” đã cho rằng “Quả là trong tâm hồn Lê Thánh Tông vẫn có những mối

“dị đoan”, và đậm nét một “cái tôi” trữ tình!” [110, tr 280] Nhìn chung, các tác giả khá thống nhất về nhận định Lê Thánh Tông là một tác giả điển phạm của văn học nhà Nho

Tóm lại, chúng tôi cho rằng cho đến nay vẫn chưa có một công trình khoa học nào đặt vấn đề nghiên cứu ba tác giả Trần Nhân Tông, Nguyễn Trãi và Lê Thánh Tông trong sự vận động tới sự điển phạm hóa của văn học nhà Nho Vì thế, luận án của chúng tôi có thể coi là công trình đầu tiên tiếp cận vấn đề văn học nhà Nho theo hướng này

3 Phạm vi, đối tượng và mục đích nghiên cứu

3.1 Phạm vi nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu

3.1.1 Điển phạm (canon) là một thuật ngữ của phương Tây nhằm chỉ những tác phẩm được xem là đỉnh cao của một nền văn học, với đặc trưng là tính toàn bích

Trang 24

và tính quyền lực Cho đến nay, lý thuyết về điển phạm đã có một lịch sử phát triển khá lâu dài và phức tạp “Canon” có nguồn gốc từ “kanna” của Hy lạp, chỉ một loại cây sậy có ích, một loại cây thân thẳng sống ở đầm lầy với thân cứng Sau đó, từ

“kanon” đã mở rộng nghĩa trên theo hướng ẩn dụ và hoán dụ sang chỉ những vật dụng roi, thanh, thước cũng như những nguyên tắc, quy chuẩn hoặc hình mẫu Trong kiến trúc, nó hàm nghĩa là sự đo đạc chính xác, trong nghệ thuật, nó là những

tỉ lệ chuẩn Nghĩa thứ hai được phát triển rõ nhất ở thời cổ đại bởi nhà điêu khắc nổi tiếng Polykleitos vào thế kỷ V Đây là thời kỳ đầu tiên của điêu khắc cổ điển, giai đoạn hình thành quan niệm về tính hiện thực trong nghệ thuật, sau này sẽ ảnh hưởng sâu sắc đến sự phát triển của nghệ thuật phương Tây Bức tượng Doryphoros của Polykleitos, một trong những tác phẩm điêu khắc được sao chép nhiều nhất ở thời cổ đại, chính là một minh họa cho quan niệm ấy Mặc dù hiện nay bức tượng này không còn, nhưng nó từng được người La Mã ngưỡng mộ gần như tôn sùng và coi là hình mẫu lý tưởng để các tác phẩm điêu khắc khác noi theo, là “bức tượng mà các nghệ sĩ gọi là Canon” Bức tượng ấy cũng được xem là sự hiện thực hóa những

ý tưởng trong cuốn sách duy nhất được biết đến của Polykleitos, tiêu đề là Kanon,

trong đó diễn giải chi tiết nền tảng lý thuyết và phương pháp kỹ thuật của ông Những chi tiết tính toán toán học chính xác và “tỉ lệ lý tưởng” cơ thể con người của Polykleitos đã cung cấp một bản thiết kế ứng dụng thực tiễn và tiêu chuẩn mỹ học cho các nhà điêu khắc về sau noi theo Theo Polykleitos, điều cơ bản cần có của

“kanon” là sự mô phỏng tự nhiên hoặc hiện thực Nhà nghiên cứu lịch sử mỹ thuật Brunilde Ridgway cho rằng Doryphoros không đại diện cho cá nhân cụ thể mà là mẫu hình tuyệt vời nhất về hình tượng một vận đông viên Olympic Có thể nói, không có con người cụ thể nào trông giống được như bức tượng này, hoặc theo cách nói của Platon thì thế giới này chỉ có thể tạo ra được những bản sao nhạt nhòa của

nó Đến Platon, điển phạm được giải thích như là một nguyên mẫu cho khái niệm về

ý niệm hay hình thức của Platon, một nguyên mẫu lý tưởng hình thành nên những tri thức đúng đắn và được coi là chuẩn mực để noi theo Plato cho rằng Polykleitos

và Homer là những hình mẫu nhà điêu khắc và nhà thơ điển phạm, vì họ mang đến

ý niệm về sự nghiêm khắc, lòng tốt và tính chân thực- nói gọn lại là quan niệm của

Trang 25

Platon về tri thức Tại giai đoạn này, thuật ngữ “kanon” mang ý nghĩa là thước đo của đạo đức và tri thức

Ở những thế kỷ sau, người La Mã la tinh hóa “kanon” thành “canon” Họ bắt đầu sao chép, phỏng theo các kiệt tác của người La Mã trong các lĩnh vực nghệ thuật, kể cả văn chương Như vậy, sự xuất hiện những tác phẩm sao chép được cho

là một dấu hiệu cho thấy sự tồn tại của điển phạm Tuy thế, sự mô phỏng các tác phẩm nổi tiếng cũng có chức năng về mặt ý thức hệ, bởi vì sự viện dẫn các tiền lệ lịch sử có tính điển hình thường là một hành động để chính thống hóa quyền lực chính trị đương thời Lúc này, sự phân biệt giữa các tác giả “cổ đại” và “hiện đại”,

“cổ điển” và “đương thời”, đa số và thiểu số đã bắt đầu được công thức hóa Đến thế kỷ IV, điển phạm được coi là danh mục sách cần để học, ví dụ như sách văn học của Cơ đốc giáo Lịch sử hình thành các điển phạm kinh thánh kéo dài đến tận thế

kỷ XVI Ở thời trung cổ này, đã có sự chuyển biến trong định nghĩa: điển phạm vẫn được coi là khuôn mẫu về nghệ thuật và đạo đức, nhưng bổ sung thêm phương diện

là danh sách những kiến thức sư phạm về nghệ thuật tự do, đặc biệt là ngữ pháp, thực hành ngôn ngữ, văn học

Đến cuối thời trung cổ và bước vào giai đoạn Phục Hưng, văn học của các ngôn ngữ nói ở châu Âu trở thành điển phạm chủ yếu qua con đường mô phỏng các tác phẩm cổ điển cổ đại, như cách mà văn học tiếng Latin đã làm trước đó với di sản của người Hy Lạp Các nhà thơ cổ đại được sao chép nhằm mục đích chính thống hóa văn học đương đại và những giá trị mà nó đại diện cho Tuy vậy, mô phỏng và sao chép các tác phẩm văn học cổ điển chỉ là một trong những cách thức mà các nền văn học của các ngôn ngữ nói dùng để nâng cao vị trí của mình Giữa điển phạm hiện đại và cổ trung đại có những sự khác biệt lớn Trước hết, cuộc sống vật chất và điều kiện xã hội đã tạo nên những thay đổi bản chất trong việc sáng tác, phát hành

và tiếp nhận tác phẩm văn học Bên cạnh đó, phải tính đến sự hình thành của nhà nước- dân tộc hiện đại và tác động của nó tới việc xác định những điển phạm của dân tộc Cuối cùng, các môn học về văn học thế tục đã góp phần vào quá trình điển phạm hóa những tác phẩm văn học theo của mỗi dân tộc

Cuối thế kỷ XX, với đòi hỏi về sự bình đẳng của chủ nghĩa dân chủ, dưới sức

ép của chủ nghĩa nữ quyền, chủ nghĩa đa văn hóa, văn hóa đại chúng và các lý

Trang 26

thuyết văn học mới, quan niệm về điển phạm văn học phương Tây như một tập hợp những tác phẩm cổ điển- những đỉnh cao của thành tựu văn hóa phương Tây, một thời được coi là có giá trị vĩnh viễn và phổ quát, thì nay đang bị xem xét lại Điển phạm bị phê phán là nơi độc quyền của các tác giả “nam giới, da trắng và đã chết”, loại bỏ những nghệ sĩ thuộc các nhóm xã hội trong lịch sử từng thuộc các tầng lớp thấp kém hơn hoặc không phù hợp với lợi ích của nền văn hóa chủ lưu Điều này bị cho là theo chủ nghĩa tinh hoa, gia trưởng và phân biệt chủng tộc Những tượng đài của nền văn hóa cũ đang bị đòi hỏi thay thế bằng những cái mới, thậm chí, có những lời kêu gọi xóa bỏ điển phạm, xóa bỏ trung tâm, xóa bỏ những giá trị từng được coi là bất biến Thêm vào đó, những ý kiến cho rằng sự đánh giá thuần túy mang tính thẩm mỹ đối với tác phẩm văn học có thể hoàn toàn tách biệt khỏi lợi ích

chính trị cũng bị đặt dấu hỏi Harold Bloom trong cuốn sách nổi tiếng The Western

Canon: The Books and School of the Ages đã bảo vệ điển phạm phương Tây, ca

ngợi các tượng đài văn hóa truyền thống, mục đích để văn học giữ được bản chất toàn vẹn và trong sáng nhất có thể Ông cho rằng điển phạm tồn tại để ấn định những giới hạn, để đưa ra tiêu chuẩn đo lường mọi thứ như tri thứ và mỹ học, ngoại trừ chính trị và đạo đức Bloom thừa nhận rằng điển phạm không bảo giờ là một cấu trúc ổn định Ông nhấn mạnh không phải các nhà phê bình hay các học giả, càng ko phải các chính trị gia quyết định sự hình thành điển phạm Ý tưởng về quyền lực của văn chương thâm nhập vào quan niệm điển phạm của Bloom vì ông tin rằng sự ảnh hưởng giữa các nghệ sĩ và sự cạnh tranh trong lịch sử là chìa khóa tạo ra các điển phạm lớn Các nghệ sĩ tự mình xác lập điển phạm bằng cách trở thành cầu nối giữa những điển phạm phía trước và sau mình Do vậy, lịch sử văn học là tự sự của các quá trình tự tạo lập hoặc ảnh hưởng giữa các nghệ sĩ Tóm lại, sự thiết lập điển phạm là kết quả của sự xung đột nghệ thuật chứ không phải sự phát triển dần đều

Do quá coi trọng sự phát triển của bản thân đối tượng tác phẩm văn học nội tại mà Bloom đã bỏ qua mọi yếu tố xã hội tác động đến văn học Đối với ông, điển phạm được hình thành bởi phương tiện đấu tranh lịch sử hoặc sự cạnh tranh về mỹ học, là một sự siêu nghiệm lịch sử

Ngược với Bloom, Frank Kermode cho rằng trách nhiệm xác lập và duy trì điển phạm thuộc về các yếu tố xã hội, lịch sử, thiết chế giáo dục và giới học giả

Trang 27

Giống Mác và các nhà hậu cấu trúc, ông tin vào sự ảnh hưởng của thiết chế xã hội đến việc hình thành điển phạm Ông cho rằng điển phạm thay đổi liên tục theo thời gian bởi các thiết chế quyền lực Trong khi đó, Bourdieu lại quan niệm sự mô phỏng điển phạm phụ thuộc vào quá trình phổ biến của tác phẩm trong xã hội cũng như cách thức nó được thể chế hóa rộng rãi Tuy vậy, những yếu tố khác cũng phải được tính đến, đặc biệt là chất lượng của tác phẩm được xác định bởi các thiết chế

có thẩm quyền Ông lập ra mô hình của quá trình điển phạm hóa, đưa ra hàng loạt các thiết chế, tổ chức, kiểu diễn ngôn và ý nghĩa tượng trưng báo hiệu quá trình điển phạm, và khẳng định rằng sự phổ cập ở phương diện văn hóa là yếu tố cơ bản của bất kỳ tác phẩm trở thành điển phạm nào

Các nhà xã hội học nói chung thường có xu hướng bỏ qua nội dung và giá trị

mỹ học của tác phẩm văn học mà chỉ tập trung vào chức năng xã hội và tư tưởng Điển phạm thậm chí còn bị cho là sự thông đồng với diễn ngôn của các quyền lực,

và sự xác lập điển phạm xuất phát từ động cơ chính trị Đối lập với họ, Bloom quan niệm điển phạm là sự khẳng định những trải nghiệm thẩm mỹ riêng mang màu sắc

cá nhân, cách biệt xã hội bằng việc duy trì tránh xa những vấn đề của xã hội Dù nhiều chỗ không nhất trí với Bloom, nhưng Kermode cũng đồng tình rằng cần phải đặt điển phạm đứng ngoài các vấn đề chính trị Điển phạm, xét cho cùng, tự thiết lập bản thân như là một tập hợp văn bản có tính phổ quát, và sống một đời sống văn hóa của chính nó thông qua một sự tương tác liên tục, vĩnh cửu giữa mỗi văn bản mới và một số lượng không đoán trước được những văn bản trước nó cùng những nguyên tắc và quy chuẩn chính thức

Tóm lại, điển phạm là những tác phẩm hay nhóm tác phẩm có tính chất mẫu mực của một nền văn học, nó lưu giữ quá khứ và liên hệ với hiện tại Quá trình hình thành của điển phạm phải tính từ cả hai phía, trước hết là bản thân giá trị thẩm mỹ nội tại của tác phẩm, sau đó là sự ảnh hưởng của các yếu tố lịch sử, thiết chế xã hội, giáo dục, kinh tế và chính trị Sự hình thành và lưu giữ điển phạm được tiến hành chủ yếu qua cách thức sau: một tác phẩm được coi là điển phạm khi xuất hiện sự

mô phỏng và sao chép qua các thế hệ Tuy nhiên, cũng có thể tính đến thiết chế giáo dục chính thống là nơi hình thành hay lưu giữ điển phạm và vai trò của các nhà phê bình Điển phạm không phải là hiện thân cho các giá trị phi lịch sử và tổng quát mà

Trang 28

nó có tính lịch sử và biến đổi theo thời gian Mỗi một trào lưu văn học mới sẽ khởi đầu bằng quá trình giải điển phạm một số tác phẩm từng là điển phạm và hoàn thành bằng sự điển phạm hóa một số tác phẩm mới ra đời Những tác phẩm được coi là điển phạm sẽ trở thành khuôn mẫu, quy phạm ở các mức độ khác nhau cho một giai đoạn văn học, một nền mỹ học Có thể nói, điển phạm chính là tự sự về một cách nhìn văn học của mỗi thời đại Lịch sử văn học Việt Nam tính đến nay đã trải qua ba lần điển phạm hóa lớn Lần đầu tiên diễn ra vào nửa cuối thế kỷ XV với

bộ phận văn học chữ Hán có ý nghĩa đánh dấu sự hoàn thành quá trình gia nhập của nền văn học Việt Nam vào vùng văn học Đông Á Lần thứ hai diễn ra với bộ phận văn học chữ Nôm ở nửa cuối thế kỷ XVIII- nửa đầu thế kỷ XIX là dấu mốc trưởng thành của nền văn học theo hướng dân tộc hóa Hiện đại hóa nền văn học bằng chữ Quốc ngữ diễn ra vào thế kỷ XX dưới sự ảnh hưởng của văn hóa phương Tây chính

là lần điển phạm hóa lớn gần đây nhất của nền văn học Việt Nam

3.1.2 Quá trình vận động tới điển phạm hóa của văn học nhà Nho ở Việt

Nam là một đề tài khá phức tạp, trong giới hạn luận án, chúng tôi chỉ lựa chọn một phạm vi nghiên cứu nhất định, là lựa chọn ba tác giả cụ thể là Trần Nhân Tông, Nguyễn Trãi và Lê Thánh Tông để nghiên cứu trường hợp Chúng tôi hy vọng từ ba tác giả có thể khái quát những vấn đề mang tính lý thuyết cho cả giai đoạn Chọn

các tác giả này, chúng tôi muốn nhấn mạnh tính quá trình nhiều hơn là bản thân

tác phẩm và bản dịch được in trong Thơ văn Lý- Trần, tập 2 gồm 31 bài thơ, hai cặp

câu thơ lẻ, một bài minh, một bài tán chữ Hán và hai bài phú Nôm (có tham khảo

Toàn tập Trần Nhân Tông của Lê Mạnh Thát thêm vào một bài thơ và một đoạn

phiến)

Về Nguyễn Trãi, số lượng tác phẩm của ông dù đã mất mát khá nhiều sau vụ

Trang 29

án Lệ Chi viên, nhưng vẫn còn khá lớn so với các tác giả đương thời Nhưng với quan niệm tập trung chủ yếu vào văn chương mang tính nghệ thuật nên chúng tôi

chỉ khảo sát hai tập thơ Ức trai thi tập và Quốc âm thi tập, các bài văn Bình Ngô đại

cáo, Chí Linh sơn phú, Băng Hồ di sự lục và Lam Sơn thực lục Chúng tôi sẽ không

đề cập đến Quân trung từ mệnh tập, Dư địa chí và các văn bản hành chính công vụ

khác trong nghiên cứu của mình Văn bản tác phẩm và bản dịch dùng để khảo sát

chúng tôi sẽ dựa vào Nguyễn Trãi toàn tập tân biên do Mai Quốc Liên chủ biên (có tham khảo Nguyễn Trãi toàn tập của Ủy ban Khoa học Xã hội)

Lê Thánh Tông sáng tác khá nhiều Quan trọng nhất và chiếm số lượng lớn nhất trong di sản văn chương của ông là thơ chữ Hán với khoảng 320 bài [165, tr

49], bao gồm chín tập: Anh hoa hiếu trị, Châu cơ thắng thưởng, Chinh Tây kỷ hành,

Minh lương cẩm tú, Văn minh cổ xúy, Quỳnh uyển cửu ca, Cổ tâm bách vịnh, Cổ kim cung từ thi tập và Xuân vân thi tập, và gần 150 bài không thuộc tập nào Ngoài ra

ông còn để lại một bài phú chữ Hán Lam Sơn Lương thủy phú Bên cạnh đó, Lê

Thánh Tông cũng sáng tác khá nhiều thơ chữ Nôm, hiện còn lại chừng vài chục bài

thơ trong Hồng Đức quốc âm thi tập và một bài văn Nôm Thập giới cô hồn quốc

ngữ văn Ngoài ra, chúng tôi cũng giống như nhiều nhà nghiên cứu khác có nhiều lý

do tin rằng văn bản tác phẩm Thánh Tông di thảo hiện còn rất ít khả năng là sáng

tác của Lê Thánh Tông, nên sẽ không đề cập đến tác phẩm này trong luận án Cũng

vì lý do vấn đề tác giả không chắc chắn nên chúng tôi cũng sẽ không nhắc đến

Thập giới cô hồn quốc ngữ văn Chúng tôi sử dụng các văn bản tác phẩm và bản

dịch trong Thơ văn Lê Thánh Tông (1986), Thơ chữ Hán Lê Thánh Tông tổng tập (2003) và Hồng Đức quốc âm thi tập (1982)

3.1.3 Sự điển phạm hóa của văn học nhà Nho là quá trình văn học nhà Nho vận động phát triển tiến đến trở thành khuôn mẫu, tiêu chuẩn cho văn chương nhà Nho đương thời và hậu thế noi theo Điều ấy có nghĩa là, điển phạm văn học nhà Nho thuộc về một giai đoạn nhất định và không có tính chất vĩnh viễn, hay nói cách khác, không thể dùng cái nhìn của người hiện đại để phán xét điển phạm quá khứ

Dĩ nhiên quá trình này chịu sự tác động của các yếu tố lịch sử, văn hóa, xã hội và có thể soi chiếu từ chính bản thân văn bản tác phẩm Tuy có tính đến những yếu tố bên

ngoài tác động tới văn học, nhưng luận án xác định đối tượng nghiên cứu chính là

Trang 30

quá trình điển phạm hóa diễn ra bên trong những văn bản tác phẩm, chính vì

vậy, việc đưa ra một hệ tiêu chí để xác định đối tượng văn học nhà Nho là rất cần thiết Những tiêu chí này được rút ra từ chính bản chất của Nho giáo và văn chương trong quan niệm của nhà Nho

- Thứ nhất, văn học nhà Nho được sáng tác bởi các tác giả chịu ảnh hưởng của Nho giáo, trong thời đại Nho giáo có vai trò nhất định hoặc thống trị xã hội Đây là yếu tố đầu tiên mang tính tiền đề cho sự xuất hiện của văn học nhà Nho

- Thứ hai, về quan niệm văn học, văn chương nhà Nho chính mang đặc tính chức năng xã hội điển hình Lưu Hiệp nói về văn như sau: “Nguồn gốc của cái văn

ở con người là bắt đầu từ khi vũ trụ ra đời (thái cực) Cái đi sâu được vào nơi bí ẩn, nói lên được (tán) cái vi diệu của sự vật (thần minh) thì trước hết là các quái tượng của Kinh dịch” [3, tr 127] “Từ thời Phục Hi đến thời Khổng Tử, các vị thánh nhân đời xưa khai sáng Vị vua không ngôi (Khổng Tử) thuật lại, dạy dỗ, không ai là không lấy cái tinh thần (tâm) của tự nhiên (đạo) để trình bày thành văn chương, xét các đạo lý vi diệu để giáo dục (con người)” [3, tr 128] “Do đó ta biết: Cái tự nhiên (đạo) nhờ các thánh nhân mà thành văn chương; các thánh nhân (ngược lại) lại dựa vào văn chương để làm sáng tỏ cái lẽ tự nhiên (đạo) (Làm như thế thì) ở đâu cũng thông suốt, không bị bế tắc, ngày nào cũng dùng mà không thấy thiếu Kinh dịch nói: “Cái có thể cổ võ lay động thiên hạ đó là ở lời” Cái lời sở dĩ cổ võ được thiên

hạ vì nó là cái văn của tự nhiên (đạo)” [3, tr 129] Nho giáo quan niệm văn chương bắt nguồn từ đạo của trời, thánh nhân dùng văn để truyền tải cái đạo đấy đến với chúng nhân, nhằm giáo hóa con người theo được cái đạo đấy của trời đất Chính vì vậy, văn chương Nho giáo là “văn dĩ tải đạo” và “thi dĩ ngôn chí”

- Thứ ba, về chủ đề, đề tài, văn chương nhà Nho hướng đến những vấn đề của cuộc sống xã hội, những vấn đề quan thiết với cuộc đời của một nhà Nho, các chuyện tu, tề, trị, bình Văn chương nhà Nho chính thống không quan tâm đến những chuyện ngoài phạm vi này Nhà Nho có thể nhắc đến thiên nhiên như giang sơn gấm vóc, tùng cúc trúc mai, đến con người như ngư tiều canh mục thì tất cả cũng là để minh họa cho những nội dung mang tính xã hội, để truyền tải những vấn

đề đạo lý nói trên Văn chương nhà Nho có những giới hạn nghiêm ngặt về nội dung được đề cập đến Điều này xuất phát từ đặc trưng của Nho giáo

Trang 31

- Thứ tư, về các hình tượng trung tâm: Hình tượng số một của văn học nhà Nho là các nhà Nho hành đạo Họ là các hình tượng nhà Nho kiểu mẫu, các mẫu hình nhân vật luôn sống theo các nguyên tắc, các chuẩn mực đạo đức của Nho giáo Các hình tượng quan trọng khác của văn học nhà Nho luôn được khắc họa theo mô hình nhân cách lý tưởng của Nho gia

- Thứ năm, về đặc trưng thẩm mỹ, cái đẹp trong văn chương nhà Nho là cái đẹp của thế giới thực tại, của đời sống thế tục Nhà Nho tìm kiếm mục đích sống của mình ở ngay trên cõi trần gian này chứ không phải bất cứ thế giới bên ngoài nào Đặc biệt, đối với bộ phận văn chương này, thứ quan trọng hàng đầu là cái đẹp của nhân cách chủ thể, của sự tự tu dưỡng, của nỗ lực “thận độc” trong suốt cuộc đời Một trong những đặc trưng thẩm mỹ của văn học nhà Nho là cái đẹp của tình cảm được lý trí chế ước trong phạm vi của cái trung hòa “Tâm tính học của Nho gia hướng tới sự phù hợp tuyệt đối, phù hợp tới độ nhất thể giữa bản năng và lễ chế/ các

thiết chế xã hội Cái đó nhà nho gọi là “phát nhi giai trúng tiết” Nó là Hoà Hoà ở

đây là tư tưởng, tình cảm, bản năng, xúc cảm hoàn toàn được làm chủ, được điều tiết và những tình cảm bản năng đó không gì vượt ra ngoài khuôn phép Cái tiêu chí, chỗ dựa để điều tiết đó là các quy định của lễ chế Tu tâm dưỡng tính thực chất

là làm cho tình cảm tự nhiên không mẫu thuẫn với lễ” [128]

- Thứ sáu, về phương diện thi pháp Thời gian nghệ thuật trong văn học nhà Nho luôn hướng về quá khứ, sử dụng quá khứ làm chuẩn mực, làm thước đo cho hiện tại và tương lai Nhà Nho xác lập cho mình một hệ giá trị dựa trên những ước

lệ về một quá khứ hoàn hảo, huy hoàng, một quá khứ đại diện cho Đạo Thời gian đối với nhà Nho không vận động mà chỉ biến đổi theo chu kỳ tuần hoàn thịnh suy, trị loạn Không gian nghệ thuật trong văn học nhà Nho là không gian hiện thực, thế tục, là cung đình, nông thôn, sơn thủy… Nhưng những không gian này thường mang tính ước lệ, biểu trưng

- Thứ bảy, về thể loại, văn học nhà Nho là văn chương chức năng nên coi trọng các thể loại mang tính chức năng xã hội như chiếu, biểu, cáo, hịch Đối với văn học nhà Nho, ngay cả các thể loại mang tính nghệ thuật nhiều hơn như thơ, phú cũng bị chức năng hóa Ví dụ trong thơ ca, thể thơ đề vịnh trở thành tiểu loại tiêu

Trang 32

biểu của văn chương nhà Nho, một thể thơ mượn cớ đề vịnh các đồ vật, sự vật để ký thác những vấn đề đạo đức

- Thứ tám, các yếu tố hình thức như thi liệu, văn liệu, dụng điển có thể thấy

rõ sự xuất hiện của các yếu tố liên quan đến tư tưởng, sách vở kinh điển Nho giáo Tuy nhiên, các phương diện như nghệ thuật lập ý, dùng hình ảnh, cấu trúc ngôn từ thì văn học nhà Nho không có nhiều sự khác biệt với các bộ phận văn chương khác

Trong khuôn khổ luận án, chúng tôi không trình bày dàn trải hết các vấn đề

kể trên của văn học nhà Nho mà chỉ ưu tiên lựa chọn những tiêu chí quan trọng nhất: tác giả, quan niệm văn học và đặc trưng thẩm mỹ, chủ đề- đề tài, hình tượng trung tâm, thời gian và không gian nghệ thuật Tuy nhiên, dù không đưa thành các tiểu mục, nhưng chúng tôi cũng sẽ ít nhiều đề cập đến các yếu tố còn lại như thể loại, ngôn ngữ… trong khi trình bày các vấn đề mà chúng tôi ưu tiên

3.2 Mục đích nghiên cứu

- Có thể nhận diện được tiến trình liên tục của văn học trung đại nói chung

và văn học thế kỷ XII- XV nói riêng thông qua góc độ điển phạm hóa của văn học nhà Nho

- Xem xét quá trình điển phạm hóa của văn học nhà nho ở Việt Nam giai đoạn cuối thế kỷ XIII- hết thế kỷ XV trên một số phương diện cơ bản của tác giả và tác phẩm văn học, chủ yếu dựa vào chính đối tượng văn bản tác phẩm: quan niệm văn học và đặc trưng thẩm mỹ, chủ đề- đề tài, hình tượng trung tâm, không gian và thời gian nghệ thuật…

- Nghiên cứu một số trường hợp cụ thể, một số tác giả tiêu biểu dưới góc nhìn sự hình thành và phát triển của văn học nhà nho ở Việt Nam, nhìn họ như những mắt xích trong chuỗi vận động của lịch sử văn học

- Từ đó nhận diện các đặc trưng của văn học nhà Nho ở Việt Nam trong mối tương quan với Phật, Đạo

4 Phương pháp nghiên cứu

Vì đối tượng nghiên cứu là vấn đề điển phạm hóa của văn học nhà Nho ở giai đoạn cuối thế kỷ XIII đến hết thế kỷ XV nên chúng tôi sử dụng tổng hợp nhiều phương pháp và cách tiếp cận khoa học khác nhau để có thể soi chiếu đối tượng từ nhiều góc độ

Trang 33

Phương pháp chủ đạo được sử dụng xuyên suốt luận án là phương pháp liên ngành Đề tài luận án đề cập đến đối tượng là văn học nhà Nho trong lịch sử văn học, thuộc về một thời đại tư duy nguyên hợp còn hết sức mạnh mẽ Như chúng tôi

đã đưa ra định nghĩa về văn học nhà Nho, là loại hình văn học chịu ảnh hưởng của Nho giáo do các tác giả là nhà Nho hoặc những người chịu ảnh hưởng của Nho giáo sáng tác, chính vì thế đối tượng của luận án là văn học trong mối quan hệ với Nho giáo, và rộng hơn là mối quan hệ với Tam giáo Chính vì thế, luận án buộc phải vận dụng những tri thức và phương pháp nghiên cứu liên quan đến triết học (Nho, Phật, Đạo), lịch sử kết hợp với chuyên ngành văn học Nghiên cứu liên ngành là nghiên cứu liên khoa học, là sự kết hợp các môn học, các ngành học với nhau Nhưng liên ngành không phải là dấu cộng đơn giản của các ngành khoa học, mà là sự tổng tích hợp các cách tiếp cận, các phương pháp nghiên cứu của các chuyên ngành vào trong một ngành khoa học mới Liên ngành là sử dụng lối tư duy phức hợp để xem xét một đối tượng mang tính nguyên hợp như thế, là quay trở về cách tư duy tổng hợp trước đây nhưng ở cấp độ cao hơn

Bên cạnh đó, chúng tôi sử dụng phương pháp nghiên cứu loại hình và cấu trúc loại hình, tìm hiểu cấu trúc của loại hình học văn học nhà Nho, xác định vị trí của các yếu tố trong hệ thống, tìm hiểu mô thức vận động và phát triển của các yếu

tố Chúng tôi cũng sử dụng phương pháp nghiên cứu trường hợp (case study), lựa chọn ba trường hợp có ý nghĩa tiêu biểu cho từng giai đoạn để khái quát được những vấn đề mang tính hệ thống Phương pháp hệ thống được sử dụng xuyên suốt luận án với nhằm khám phá mối liên hệ bên trong của một tổng thể các hiện tượng

và các thành tố để tìm ra tính thống nhất về mặt cấu trúc của chúng

Ở từng vấn đề, chúng tôi kết hợp các phương pháp và các cách tiếp cận: + Thông diễn học: khi tìm hiểu những đặc trưng mang tính thẩm mỹ của các tác phẩm hoặc một tác giả từ các phạm trù mỹ học, các mối quan hệ giữa chủ thể và khách thể thẩm mỹ

+ Thi pháp học: Khi muốn “nghiên cứu về sự tiến hóa của các phương thức, phương tiện chiếm lĩnh thế giới bằng hình tượng, sự hoạt động chức năng xã hội- thẩm mỹ của chúng, nghiên cứu số phận của các khám phá nghệ thuật” [60, tr 36-37]

Trang 34

+ Phương pháp tiếp cận văn hóa học: Khi muốn tìm hiểu các yếu tố của văn bản tác phẩm thông qua việc phục nguyên lại đời sống văn hóa của một thời đại nhất định, dùng nó để giải mã cho các vấn đề văn học, đặc biệt là các quan niệm về văn và sáng tác văn chương

Ngoài ra, chúng tôi vận dụng các thao tác thông thường như: phân tích, so sánh, đối chiếu, thống kê, phân loại, mô hình hóa, khảo sát văn bản…

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án

- Phác họa được quá trình điển phạm hóa văn học nhà Nho ở Việt Nam, đồng thời qua đó cũng có thể nhìn nhận tiến trình văn học Việt Nam một cách liền mạch

và có hệ thống từ góc độ sự ảnh hưởng của Nho giáo tới văn học

- Soi chiếu các tác giả và nhất là tác phẩm dưới góc độ điển phạm hóa của văn học nhà Nho

- Theo dõi được sự vận động của từng yếu tố văn học qua ba tác giả trong quá trình điển phạm hóa của văn học nhà Nho

Luận án là công trình đầu tiên nghiên cứu về quá trình điển phạm hóa của văn học nhà Nho ở Việt Nam qua ba tác giả Trần Nhân Tông, Nguyễn Trãi và Lê Thánh Tông Kết quả nghiên cứu của luận án có sử dụng để biên soạn giáo trình văn học Việt Nam thế kỷ X- XIX, đồng thời có thể trở thành chuyên luận tham khảo và giảng dạy cho sinh viên cũng như học viên cao học của ngành Văn học

Trang 35

CHƯƠNG 1: GIAI ĐOẠN KHỞI ĐẦU CỦA VĂN HỌC NHÀ NHO –

TRƯỜNG HỢP TRẦN NHÂN TÔNG

Trần Nhân Tông (1258-1308) không phải là một nhà nho, nhưng ông vẫn là người đại diện cho giai đoạn đầu tiên của văn học nhà nho ở Việt Nam, một sự khởi đầu từ trong lòng văn học Phật giáo Dĩ nhiên, nền văn học viết Việt Nam ra đời từ thế kỷ X dưới sự ảnh hưởng của văn học Trung Quốc3 đã tích hợp sẵn trong mình các yếu tố của Tam giáo Các nhà sư trong khi tu hành thì theo sát tôn chỉ, giáo quy, nhưng từ thuở nhỏ học Nho, tập làm văn theo tinh thần và kỹ xảo Nho, nên rất khó tách bạch ra một “dòng văn chương Phật giáo” 4 ở Việt Nam Sự khởi đầu này có thể chớm nảy nở từ những tác giả đầu tiên của nền văn học Việt Nam, hay của văn học Thiền- nếu quan niệm rằng có một nền văn học Thiền ở Việt Nam- như là Đỗ Pháp Thuận, Ngô Chân Lưu, đến Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Tuệ Trung…, nhưng chỉ thật sự rõ rệt từ Trần Nhân Tông và Huyền Quang Con đường từ Trần Nhân Tông qua Nguyễn Trãi đến Lê Thánh Tông là con đường điển phạm hóa của văn học nhà Nho, đi từ Thiền sang Nho Ở chương này, chúng tôi sẽ mô tả sự khởi đầu đó qua trường hợp của Trần Nhân Tông

1.1 Thiền tông từ Huệ Năng đến Trần Nhân Tông

Căn cốt của Phật giáo chính là vấn đề giải thoát và giác ngộ Phật cho rằng đời sống con người chìm đắm trong những nỗi thống khổ, và những kiếp khổ đó luẩn quẩn mãi trong vòng luân hồi Căn nguyên của nó được nhìn nhận là do sự vô minh Vậy, vấn đề của Phật chính là tìm cách vén được bức màn tăm tối của vô minh, nhận thức bản lai diện mục, và từ đó thoát khỏi vòng luân hồi Nhưng làm thế nào để giác ngộ và Niết bàn là đâu thì lại có nhiều quan niệm khác nhau Từ đó mới khiến Phật giáo chia ra làm các tông phái khác nhau Thiền tông là một dòng lớn của Phật giáo do chính Đức Phật truyền cho đệ tử Ca Diếp Khi được truyền vào Trung Hoa, do sự tương tác và chịu ảnh hưởng của các tư tưởng bản địa, Thiền Trung Quốc đã tạo ra những nét đặc sắc riêng Phật giáo nguyên thủy ở Ấn Độ định

Trang 36

hướng sự giác ngộ bằng đồng nhất mình với bản thể Phật siêu hình ngoại tại, nhưng sang đến Trung Quốc, thông qua tư duy của người Trung Quốc, Thiền đã trở về với cuộc sống thường nhật Sự tiếp nhận Phật giáo khiến nền văn hóa Trung Quốc dần dần hình thành thế chân vạc, Nho- Phật- Đạo đồng hành, bổ sung cho nhau Lúc này, đấy không còn là Nho giáo, Phật giáo, Đạo giáo nguyên thủy, mà là Nho, Phật, Đạo đã trải qua những quá trình phát triển, dung nạp, hấp thụ tinh thần lẫn nhau Quy luật vận động và phát triển của xã hội đã đào thải vô số các hệ tư tưởng trong

số bách gia, ngược lại, khiến cho một số ít là Nho và Đạo có được cơ chế tự đổi mới không ngừng, bằng cách hấp thụ vào mình các hệ tư tưởng khác Sự dung hợp của Nho- Đạo- Pháp ở giai đoạn Chiến Quốc, rồi đến sự dung hợp của Nho- Đạo- Phật

ở các giai đoạn sau đã tạo nên diện mạo chính của truyền thống văn hóa Trung Quốc nói riêng và các nước khu vực Đông Á nói chung

Theo các tư liệu còn lại, Thiền được Bồ Đề Đạt Ma du nhập vào Trung Quốc khoảng vào đời Lương Vũ Đế (tại vị 502-549) Nhưng dường như cái mà Bồ Đề Đạt Ma mang tới đất Trung Hoa chỉ là một hạt giống, mà phải đến Huệ Năng (637-713), Lục tổ của Thiền Nam Tông thì Thiền mới thực sự hoàn thành quá trình Trung Quốc hóa Có thể nói, bước ngoặt quan trọng của Thiền chính là sự chia tách của Nam Tông và Bắc Tông

Gương sáng vốn chẳng phải đài

Xưa nay vốn dĩ không một vật

Chỗ nào tồn tại chân thực để trần ai bám vào ? )

Chính nhờ bài kệ này, Hoằng Nhẫn đã lặng lẽ truyền y bát và tâm ấn cho Huệ Năng và khuyên đi về phương nam Có thể câu chuyện này mang đậm chất huyền thoại nhưng tinh thần của nó lại phản ánh khá chính xác bản chất của sự chia tách tông phái Bài kệ của Huệ Năng đã diễn đạt được hầu như những gì tinh túy nhất của tinh thần Thiền Trước hết nó thể hiện tư tưởng về tính Không, một hạt

Trang 37

nhân của triết học Thiền, cũng như nhãn kiến vô sở trụ trong định hướng tu hành Hai câu đầu nói về sự bất lực của con người trước chân lý tuyệt đối, hai câu sau nói người ta không thể tu hành để đạt được chân lý tuyệt đối ấy “Không thể tu hành không có nghĩa là không tu hành, mà có nghĩa là xem không tu hành là tu hành” [68, tr.449] Nó đối ngược lại bài kệ Thần Tú muốn nói rằng có sự hiện hữu của một chân lý tuyệt đối, và muốn đạt được chân lý ấy thì có thể dùng công phu tu hành Trước khi đến với Phật giáo, Thần Tú đã là một người theo Nho học Chính xuất phát điểm đó đã khiến Thần Tú sau này khác hẳn người đồng môn không biết chữ là Huệ Năng Tri thức vừa là điểm mạnh nhưng vừa là thứ trói buộc Thần Tú trên con đường cao tốc chiếm lĩnh tức thì yếu chỉ của Thiền Thần Tú tin vào tiệm ngộ, tức

là ngộ theo tuần tự, đòi hỏi thời gian, công phu tu tập, sự chuyển hóa về chất chỉ có được sau sự tích lũy về lượng, trong khi Huệ Năng lại chủ trương đốn ngộ, tức là ngộ (chuyển hóa) tức thì, không theo tuần tự Đặc sắc lớn nhất của Thiền Nam Tông

là đốn ngộ Theo Huệ Năng, Thiền chính là “kiến tính”, đó là thấy được Phật tính, hay về mặt trí, là bát nhã Ông cho rằng Phật tính vốn có sẵn trong mỗi con người,

mà chỉ vì mê lầm nên chúng ta đã để nó chìm lấp trong bóng tối, vậy nên cần có sự khai ngộ để cho ta nhận ra được Tính đó Tính ấy là năng lực thấu triệt chân lý có sẵn Nó là duy nhất , thuần nhất và bình đẳng trong tất cả mọi người Kiến tính tức

là thấy tức thì, thâu tóm được toàn bộ bản chất trong một cái nhìn, một cái thực tại siêu việt, vượt lên mọi kiến giải nhị nguyên dưới mọi hình thức Theo đó sự giác ngộ tìm thấy từ trong chính tâm tính mang xúc cảm và tình cảm của con người hiện thực chứ không phải tìm kiếm từ bên ngoài Và do đó trên phương diện tu tập, sự thấu triệt chân lý theo phép quán tưởng không phải chỉ trông chờ ở việc ngồi thiền

mà nó được thực thi trong mọi công việc hàng ngày, "bổ củi gánh nước cũng là diệu đạo" cũng là như thế Huệ Năng mở ra con đường hướng vào tâm tính để giác ngộ, hướng về đời sống thế tục để tìm giác ngộ và đem cơ hội của sự giác ngộ trao cho tất cả mọi người Huệ Năng vừa nhấn mạnh và đào sâu thêm tinh hoa của Thiền, vừa đem nó đặt vào cuộc đời hiện thực

Có thể nói, Huệ Năng chính là mốc chuyển biến quan trọng của Thiền, từ

“Phật giáo ở Trung Quốc” tới chỗ có thể được gọi là “Phật giáo Trung Quốc” Cho đến lúc ấy, Thiền mới thực sự hoàn thành quá trình Trung Quốc hóa và đặt dấu ấn

Trang 38

vào lịch sử Trung Hoa Thiền chính là Phật giáo thông qua tư duy tổng hợp Tam giáo của người Trung Quốc theo khuynh hướng thực tế và nhập thế, nó khiến cho triết lý giải thoát của Thiền trở thành một kinh nghiệm tôn giáo khả thi có khả năng hiện thực hóa và nhập thế mạnh mẽ Thiền không cần đến lý luận giáo pháp hay các nghi thức tôn giáo, cũng chẳng viện những ngôn ngữ trừu tượng, ngay cả việc ngồi thiền định theo nghĩa cổ truyền cũng không còn quá cần thiết Thiền chỉ làm việc chỉ ra con đường, còn mỗi cá nhân phải tự mình tìm ra phương tiện, cách thức để đi hết con đường đó

Đối với Thiền, giải thoát không phải để đến một thế giới nào khác, mà để sống trong chính thế giới trần tục này một cách an nhiên tự tại Đối với Thiền, không tồn tại một Niết bàn nằm ngoài thế giới trần tục này, nơi mà con người ta khi tới được thì bỏ lại đằng sau mọi phiền muộn âu lo, mọi ràng buộc của quy luật luân hồi, nơi không có mặt của thời gian mà chỉ mãi mãi là mùa xuân vĩnh hằng Niết bàn chẳng phải đâu xa mà ở trong chính thế gian này, hay nói cách khác là ở trong tâm mỗi con người Khi đã vứt bỏ mê lầm thì con người đã được giải thoát khỏi luân hồi dù vẫn đang ở trong luân hồi, tới được cõi Niết Bàn dù vẫn đang ở trong thế gian này Con đường ngộ đạo của Thiền là đi từ mê đến ngộ, nghĩa là từ phàm nhập thánh Nhưng sau khi nhập thánh rồi thì đời sống của thánh nhân không khác

gì với đời sống của người bình thường: “Bình thường tâm thị đạo” (Tâm bình thường là đạo) [68, tr 462] Do vậy mà tâm thánh nhân cũng chính là tâm bình thường, như thế lại là từ thánh vào phàm Con đường của thánh nhân là từ phàm trở vào thánh, rồi lại từ thánh trở lại phàm

Phật giáo vào Việt Nam từ khoảng những thế kỷ đầu Công nguyên bằng cả hai con đường từ Ấn Độ qua đường biển vào và từ phía Bắc xuống Nhưng có sức sống lâu dài nhất ở Việt Nam chính là Thiền học có nguồn gốc từ Thiền Nam tông

từ Trung Hoa sang Việc chuyển niềm tin từ chỗ coi Niết bàn là một cõi có vị trí không – thời gian xác định nào đó, và thuộc về tương lai, một “tương lai vĩnh hằng” nhưng vô vọng, sang chỗ coi Niết bàn là một trạng thái tâm lý – tinh thần, có thể đạt tới ngay trong đời sống thực và ngay trong cõi trần thế này, đã là một cú hích vô cùng lớn khiến cho Thiền trở thành một giáo lý mang tính nhập thế Nó cũng tương thích với não trạng của người Việt –không hứng thú và không thích hợp với những

Trang 39

thứ thuyết giáo quá siêu hình, không mang tính “thực dụng và thực tế”5 Thế kỷ thứ

X, khi Việt Nam giành quyền tự chủ, đạo Phật đã có những đóng góp tích cực vào việc dựng nước Thiền sư chính là những trí thức, tầng lớp tinh hoa đầu tiên của nước Đại (Cồ) Việt thời độc lập Họ là những quân sư đầu tiên, những nhà ngoại giao đầu tiên, và cũng là những thi sĩ đầu tiên của đất nước Năm 971, vua Đinh Tiên Hoàng đã có một loạt các động thái là định giai cấp cho tăng sĩ và ban chức tăng thống cho thiền sư Ngô Chân Lưu, hiệu Khuông Việt đại sư, vậy là “chính thức nhận Phật giáo làm nguyên tắc chỉ đạo tâm linh cho chính sự” [70, tr 185] Còn Lê Đại Hành thì cử Ngô Chân Lưu và Đỗ Pháp Thuận ra đón tiếp sứ nhà Tống… Đến đời Lý, các nhà sư lui dần khỏi chính trường, nhưng sức ảnh hưởng của Phật giáo lại trở nên sâu sắc hơn nhiều Các vua Lý văn hóa cao hơn, đã tiếp nhận Phật giáo ở góc độ tâm linh và tri thức đều đậm đặc hơn các triều đại trước Nhìn chung, Thiền thời Lý là nhập thế, nhưng cái nhập thế của Thiền đời Lý vẫn chỉ là khuynh hướng

có tính lý thuyết nhiều hơn là thực tiễn, và tính siêu việt của nó vẫn lấn át Sự bao trùm của Phật giáo trong đời sống xã hội Đại Việt thời kỳ đầu tự chủ xuất phát từ sự phổ biến của Phật giáo trên mảnh đất Giao Châu ở thế kỷ X, từ sự tương thích của Phật giáo với điều kiện lịch sử xã hội Đại Việt những ngày còn non trẻ, bởi một đất nước vừa trải qua chiến tranh loạn lạc, mô hình chính trị- nhà nước còn rất hoang sơ thì mới chỉ cần một hệ tư tưởng đủ sức trấn an dân chúng, tập hợp được lực lượng Những nỗ lực kết hợp thần quyền và vương quyền ở các triều đại Lý- Trần thuộc về chiến lược nhằm củng cố sức mạnh cho nhà nước quân chủ Mặt khác, sự lựa chọn Phật giáo cũng xuất phát từ nhu cầu cố gắng thiết lập một thể chế xã hội, một mô hình nhà nước vừa giống lại vừa khác với phương Bắc Yếu tố “giống phương Bắc” xuất hiện một cách tự nhiên từ nhu cầu phải trưởng thành đủ để đứng bên cạnh quốc gia láng giềng hùng mạnh ấy- là ngưỡng trần của văn minh mà người Việt được tiếp xúc khi đó, một quá trình đã diễn tiến hàng ngàn năm từ trong thời Bắc thuộc và tiếp diễn mãi trong lịch sử Việt Nam sau này6 Yếu tố “khác phương Bắc” khởi

5 Xin xem thêm Trần Đình Hượu, Vấn đề tìm đặc sắc văn hóa dân tộc [52, tr 182-193]

6 Trong “The birth of Vietnam”, Keith Taylor đã mô tả sự ra đời của nước Đại Việt như là quá trình tìm cách thích ứng lâu dài với quyền lực láng giềng Trung Quốc theo hai hướng vừa nỗ lực duy trì bản sắc dân tộc, vừa cố gắng tiếp nhận những giá trị văn hóa của người Trung Quốc, có thể hình dung như một sự giằng co giữa hai vùng văn hóa Đông Nam Á và Đông Á: “Sự ra đời của nước Việt Nam được mô tả trong cuốn sách này là sự ra đời của một ý thức mới trong thế giới văn hóa Đông Á nhưng lại khởi nguồn từ bên ngoài thế giới ấy Xét trong bối cảnh của Đông Á

Trang 40

nguồn từ yêu cầu phải khác biệt để có thể đàng hoàng đứng riêng bên cạnh họ Dĩ nhiên, Phật giáo ở một phương diện cũng vẫn cứ là xuất phát từ phương Bắc, nhưng

mô hình xã hội lấy Phật giáo làm quốc giáo thì rõ ràng là “khác phương Bắc” đương thời Và cũng không phải ngẫu nhiên mà các vua Lý Trần đã lần lượt cố gắng lập ra những Thiền phái riêng của mình, từ Thảo Đường tới Trúc Lâm Chúng tôi cho rằng đấy là một cách thức cụ thể hóa các ý đồ kết hợp vương quyền và thần quyền ở một

vị hoàng đế đồng thời là giáo chủ Ngay từ buổi đầu này, Phật giáo ở Đại Việt đã không thể tách rời với chính trị, với vấn đề quốc gia dân tộc

Trần Nhân Tông là một vị hoàng đế sinh ra trong những ngày tháng gian lao

mà huy hoàng bậc nhất trong lịch sử nước Việt Nam Sự huy hoàng ấy chính ông là một trong những người quan trọng nhất đã đóng góp công lao tạo thành Những

dòng đầu tiên ở phần Nhân Tông hoàng đế trong Đại Việt sử ký chép: “Tên húy là

Khâm, con trưởng của Thánh Tông, mẹ là Nguyên Thánh Thiên Cảm hoàng thái hậu, sinh năm Mậu Ngọ, Nguyên Phong năm thứ 8, tháng 11, ngày 11, được tinh anh thánh nhân, thuần túy đạo mạo, sắc thái như vàng, thể chất hoàn hảo, thần khí tươi sáng Hai cung đều cho là lạ, gọi là Kim Tiên đồng tử Trên vai bên trái có nốt ruồi đen, cho nên có thể cáng đáng được việc lớn, ở ngôi 14 năm, nhường ngôi 5 năm, xuất gia 8 năm, thọ 51 tuổi, băng ở am Ngoạ Vân núi Yên Tử, đưa về táng ở Đức Lăng Vua nhân từ hòa nhã, cố kết lòng dân, sự nghiệp trùng hưng sáng ngời thuở trước, thực là bậc vua hiền của nhà Trần Song để tâm nơi kinh phật, tuy nói là

để siêu thoát, nhưng đó không phải là đạo trung dung của thánh nhân” [74, tr 185]

Có thể nói, những dòng tiểu sử ngắn gọn trên đã cho chúng ta thấy khí chất của một bậc đế vương từ thuở lọt lòng của Trần Nhân Tông Ông hoặc quả thực đã sinh ra với tướng mạo và tài năng bẩm sinh của một bậc đế vương, hoặc đã được các sử gia thêm vào chút rực rỡ cho một huyền thoại vốn dĩ đã tự nó là huyền thoại rồi Bản thân các sử gia dù lấn cấn về chuyện để tâm nơi cửa Phật của Trần Nhân Tông nhưng chuyện đó vẫn không thể che mờ chút nào lòng kính trọng nhất mực của họ với ông Dù một mặt ông là một vị đại thiền sư sáng lập ra thiền phái Trúc Lâm,

nói chung, đấy là ý thức về biên giới, nhưng đối với người Việt Nam nó chỉ đơn giản là sự tình cờ Họ phải học cách biểu lộ bản sắc phi Trung Quốc của họ thông qua các di sản văn hóa của người Trung Quốc Mặc dù bị quyền lực Trung Hoa cưỡng chế trong một khoảng thời gian dài trong lịch sử, nhưng sự bảo lưu được bản sắc Việt Nam cũng quan trọng như hình thức văn hóa biểu lộ bản sắc này” [206, tr xxi]

Ngày đăng: 31/03/2015, 15:25

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Võ Văn Ái (1992), Nguyễn Trãi sinh thức và hành động, NXB Quê mẹ, Paris Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Trãi sinh thức và hành động
Tác giả: Võ Văn Ái
Nhà XB: NXB Quê mẹ
Năm: 1992
2. Đào Duy Anh (1998), Việt Nam văn hoá sử cương , tái bản, NXB Đồng Tháp, Đồng Tháp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam văn hoá sử cương
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: NXB Đồng Tháp
Năm: 1998
3. Arisote và Lưu Hiệp (1999), Nghệ thuật thơ ca và Văn tâm điêu long, Lê Đăng Bảng, Thành Thế Thái Bình, Đỗ Xuân Hà, Thành Thế Yên Báy và Phan Ngọc dịch, NXB Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ thuật thơ ca và Văn tâm điêu long
Tác giả: Arisote, Lưu Hiệp, Lê Đăng Bảng, Đỗ Xuân Hà, Thành Thế Yên Báy, Phan Ngọc
Nhà XB: NXB Văn học
Năm: 1999
5. Barthes R (2008), Những huyền thoại, Phùng Văn Tửu dịch, NXB Tri thức, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những huyền thoại
Tác giả: Barthes R
Nhà XB: NXB Tri thức
Năm: 2008
6. Tào Thượng Bân (2004), Tư tưởng nhân bản của Nho học Tiên Tần, Lê Thanh Thùy, Đào Tâm Khánh, Chu Thanh Nga, Phạm Sỹ Thành, Mai Thị Thơm dịch, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng nhân bản của Nho học Tiên Tần
Tác giả: Tào Thượng Bân
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2004
7. Bôrep Iu.B (1974), Những phạm trù Mỹ học cơ bản, Hoàng Xuân Nhị dịch, Trường Đại học tổng hợp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những phạm trù Mỹ học cơ bản
Tác giả: Bôrep Iu.B
Năm: 1974
8. Cagan M (2004), Hình thái học của nghệ thuật, Phan Ngọc dịch, NXB Hội Nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hình thái học của nghệ thuật
Tác giả: Cagan M
Nhà XB: NXB Hội Nhà văn
Năm: 2004
9. Nguyễn Tài Cẩn (2009), Về quốc hiệu đời nhà Đinh, http://ngonnguhoc.org/index.php?option=com_content&view=article&id=334:v-quc-hiu-i-nha-inh&catid=29&Itemid=39 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về quốc hiệu đời nhà Đinh
Tác giả: Nguyễn Tài Cẩn
Năm: 2009
10. Phong Châu- Nguyễn Văn Phú (giới thiệu, sưu tầm, chú thích) (2002), Phú Việt Nam cổ và kim, tái bản, NXB Văn hóa- Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phú Việt Nam cổ và kim
Tác giả: Phong Châu- Nguyễn Văn Phú (giới thiệu, sưu tầm, chú thích)
Nhà XB: NXB Văn hóa- Thông tin
Năm: 2002
11. Chang Chen Chi (1972), Thiền đạo tu tập, Nhƣ Hạnh dịch, NXB Kinh Thi, Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiền đạo tu tập
Tác giả: Chang Chen Chi
Nhà XB: NXB Kinh Thi
Năm: 1972
12. Huỳnh Quán Chi (2010), Thơ Nho Việt Nam từ giữa thế kỷ XIV đến giữa thế kỷ XV, Luận án tiến sĩ, Trường Đại học Sư phạm TP Hồ Chí Minh, TP Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ Nho Việt Nam từ giữa thế kỷ XIV đến giữa thế kỷ XV
Tác giả: Huỳnh Quán Chi
Năm: 2010
13. Hà Nhƣ Chi (1951), Việt Nam thi văn giảng luận, NXB Tân Việt, Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam thi văn giảng luận
Tác giả: Hà Nhƣ Chi
Nhà XB: NXB Tân Việt
Năm: 1951
14. Nguyễn Huệ Chi (cb) (1999), Truyện truyền kỳ Việt Nam, Quyển hai (Tập III-VI), NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện truyền kỳ Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Huệ Chi (cb)
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1999
15. Phan Huy Chú (2007), Lịch triều hiến chương loại chí, Tập 2, Tổ phiên dịch Viện Sử học dịch, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch triều hiến chương loại chí
Tác giả: Phan Huy Chú
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2007
16. Compagnon Antoine (2006), Bản mệnh của lí thuyết, Đặng Anh Đào, Lê Hồng Sâm dịch, NXB Đại học Sƣ Phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản mệnh của lí thuyết
Tác giả: Compagnon Antoine
Nhà XB: NXB Đại học Sƣ Phạm
Năm: 2006
17. Lưu Trường Cửu (2009), Nền văn hóa Phật giáo Trung Quốc, Nhân Văn dịch, NXB Đồng Nai, Đồng Nai Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nền văn hóa Phật giáo Trung Quốc
Tác giả: Lưu Trường Cửu
Nhà XB: NXB Đồng Nai
Năm: 2009
18. Nguyễn Văn Dân (2004), Phương pháp luận nghiên cứu văn học, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp luận nghiên cứu văn học
Tác giả: Nguyễn Văn Dân
Nhà XB: NXB Khoa học Xã hội
Năm: 2004
19. Phan Đại Doãn (cb) (1998), Một số vấn đề về Nho giáo Việt Nam, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về Nho giáo Việt Nam
Tác giả: Phan Đại Doãn (cb)
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 1998
20. Trương Đăng Dung (2011), Tri thức và ngôn ngữ trong tinh thần hậu hiện đại, http://vietvan.vn/vi/bvct/id3357/Tri-thuc-va-ngon-ngu-trong-tinh-than-hau-hien-dai/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tri thức và ngôn ngữ trong tinh thần hậu hiện đại
Tác giả: Trương Đăng Dung
Năm: 2011
21. Trương Đăng Dung (2004), Tác phẩm văn học như một quá trình, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác phẩm văn học như một quá trình
Tác giả: Trương Đăng Dung
Nhà XB: NXB Khoa học Xã hội
Năm: 2004

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng phân loại các bài thơ trong Hoa Mộc môn - Quá trình vận động tới sự điển phạm hóa của văn học nhà Nho ở Việt Nam từ Trần Nhân Tông qua Nguyễn Trãi đến Lê Thánh Tông
Bảng ph ân loại các bài thơ trong Hoa Mộc môn (Trang 112)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w