1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Cơ sở lý luận và thực tiễn để biên soạn từ điển Ucraina - Việt, Việt - Ucraina

52 346 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 52
Dung lượng 1,16 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

muốn hai thứ tiếng này sẽ trở thành một công cụ hỗ trợ cho người học trong bước đầu tiếp xúc với loại ngôn ngữ mới này đối với người Ucraina và người Việt.. Nếu tiếng Nga là một trong nh

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Olena Korniyenko

Cơ sở lý luận và thực tiễn để biên soạn từ

điển Ucraina - Việt, Việt – Ucraina

(Từ điển cỡ nhỏ/Bỏ túi)

LUẬN VĂN THẠC SĨ LÝ LUẬN NGÔN NGỮ Người hướng dẫn: PGS.TS Vũ Quang Hào

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Olena Korniyenko

Cơ sở lý luận và thực tiễn để biên soạn từ

điển Ucraina - Việt, Việt – Ucraina

(Từ điển cỡ nhỏ/Bỏ túi)

LUẬN VĂN THẠC SĨ LÝ LUẬN NGÔN NGỮ Người hướng dẫn: PGS.TS Vũ Quang Hào

HÀ NỘI - 2004

Trang 3

MỤC LỤC

***********************

Mở đầu

1.Ý nghĩa lý thuyết và ý nghĩa thực tiễn của đề tài này

1.1 Ý nghĩa lý thuyết của đề tài ………4

1.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài ………4

2 Lịch sử vấn đề ……….7

3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu ……… 10

4 Phưong pháp nghiên cứu ………11

5 Cấu trúc của luận văn ……….12

Phần I: Một số vấn đề lý luận chung về từ điển tần số va từ điển tần số báo chí Việt – Ucraina 1 Một số vấn đề về từ điển song ngữ 1.1 Vị trí của từ điển song ngữ trong bảng phân loại từ điển theo truyền thống ……… 13

1.2 Vấn đề xây dựng bảng từ cho từ điển song ngữ ……… 20

1.3 Vấn đề tương đương và không tương đương ……….23

1.4 Vấn đề đưa ví dụ ……… 24

2 Một số vấn đề về từ điển Ucraina - Việt, Việt – Ucraina cỡ nhỏ 2.1.Đối tượng sử dụng của từ điển này ………28

2.2 Vấn đề lập bảng từ từ diển Ucraina - Việt, Việt – Ucraina…….31

2.3 Vấn đề đối dịch ……… 33

2.4 Vấn đề chọn ví dụ ……… 38

Trang 4

Phần II

1 Từ điển Ucraina - Việt theo thứ tự chữ cái A, B, C

2 Từ điển Việt – Ucraina theo thứ tự chữ cái A, B, C ………

Phần kết luận: ………

Tài liệu tham khảo ………

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 í nghĩa lý thuyết và ý nghĩa thực tiễn của đề tài

1.1 ý nghĩa lý thuyết của đề tài

Cỏc ngụn ngữ trờn thế giới cú thể chia thành hai nhúm: phổ biến (như tiếng Anh, Phỏp, Đức, Nga, Trung…) và khụng phổ biến (như tiếng Tiệp, Ba Lan, Hungari, …) Việc chia cỏc ngụn ngữ thành hai nhúm này thuộc về tần

số người sử dụng ngụn ngữ này hoặc ngụn ngữ nọ

Tiếng Ucraina và tiếng Việt đều thuộc nhúm ngụn ngữ khụng phổ biến (khụng nhiều người được biết đến ngụn ngữ này).Việc nghiờn cứu tiếng Ucraina ở Việt Nam và tiếng Việt ở Ucraina là một vấn đề mới mẻ vỡ vậy nếu luận văn của chỳng tụi thành cụng sẽ đem lại những đúng gúp đầu tiờn cho việc bắt đầu tỡm hiểu tiếng Việt và tiếng Ucraina Đồng thời luận văn của chỳng tụi cũng là lời giới thiệu sơ lược về tiếng Việt và tiếng Ucraina Chỳng tụi hy vọng, sau cuốn luận văn này, cỏc nhà ngụn ngữ học Việt Nam sẽ quan tõm nhiều hơn đến ngành học mới này và ngược lại

Việc nghiờn cứu cơ sở khoa học để biờn soạn từ điển Ucraina - Việt, Việt – Ucraina (cỡ nhỏ) sẽ gúp thờm những cơ sở lý thuyết cho từ diển học Việt Nam Mặt khỏc trờn cơ sở đú cú thể sử dụng những mẫu lý thuyết chung

để biờn soạn từ điển đối chiếu tiếng Việt với những ngụn ngữ chưa phổ cập ở Việt Nam và ngược lại

1.2 ý nghĩa thực tiễn của luận văn

Việc bắt đầu xõy dựng từ điển Ucraina - Việt, Việt - Ucraina khụng chỉ nhằm mục đớch giới thiệu tiếng Ucraina và tiếng Việt mà chỳng tụi cũn mong

Trang 6

muốn hai thứ tiếng này sẽ trở thành một công cụ hỗ trợ cho người học trong bước đầu tiếp xúc với loại ngôn ngữ mới này đối với người Ucraina và người Việt Hơn nữa, chúng tôi hy vọng góp phần vào việc mở rộng và phát triển việc dạy và học tiếng Ucraina và tiếng Việt ở Việt Nam và ở Ucraina

Nếu tiếng Nga là một trong những ngoại ngữ quan trọng ở Việt Nạm và

từ điển Nga - Việt, Việt –Nga là một trong loại từ điển xuất hiện nhiều ở Việt Nam (khoảng 50 cuốn) bên cạnh các loại từ điển đối chiếu quan trọng khác như Anh - Việt Pháp - Việt, Hán - Việt và gần đây Đức - Việt, Nhật - Việt thì mặc dù tiếng Ucraina có thể là một ngoại ngữ còn xa lạ đối với người Việt và ngược lại tiếng Việt là một ngoại ngữ chưa quen thuộc đối với người Ucriana Nhưng chúng tôi khi tiến hành làm đề tài này để tính đến hai mục đích như sau:

Thứ nhất là phát triển những mối quan hệ giữa hai nước Việt Nam và

Ucraina Mặc dù tiếng Ucraina xa lạ ở Việt Nam như chúng tôi vừa nêu trên nhưng trong thực tế Việt Nam đã có quan hệ với Ucraina từ nửa cuối thập kỷ

50 dưới thời Liên Xô Năm 1991, do những biến động trong nước và quốc tế, Liên bang Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Xô Việt đã chấm dứt tồn tại, Cộng đồng các quốc gia độc lập, trong đó có Ucraina ra đời Quan hệ Ucraina - Việt cũng không ứng ngoài vòng ảnh hưởng của những biến động lịch sử ấy Hậu quả là, những năm đầu thập kỷ 90, quan hệ Việt Nam – Ucraina trên các lĩnh vực đều

bị chững lại Tuy nhiên, khoảng dừng này chỉ là tạm thời và đã nhanh chóng

đi qua Tư duy chính trị tỉnh táo đã thắng những xúc cảm nhất thời Hai nước chúng ta đã sớm nối lại các quan hệ bị gián đoạn, bắt đầu từ việc ký Hiệp định thư thiết lập quan hệ ngoại giao ở cấp Đại sứ (23/1/1992) 10 năm qua là một quãng thời gian không dài so với lịch sử quan hệ hai nước Trong thời gian đó Việt Nam và Ucraina đã đạt được những thành tựu đáng kể trên nhiều lĩnh

Trang 7

vực hợp tác Đây là hành trang quan trọng để hai nước chúng ta tiếp tục tiến bước trên con đường hữu nghị và hợp tác trong thế kỷ XXI

Bằng luận văn chúng tôi hy vọng phục vụ đặc lực cho việc trao đổi văn hoá, khoa học, kinh tế, khoa học kỹ thuật, góp phần tăng cường tính hữu nghị

và sự hiểu biết hai dân tộc Ucraina và Việt Nam trong bất cứ lĩnh vự nào sự tiếp xúc giữa Việt Nam và Ucraina ngày càng được tăng cường

Thứ hai là cho đến nay ở cả hai nước Việt Nam và Ucraina chưa có

loại từ điển này và do vậy mô hình từ điển Ucraina - Việt, Việt – Ucraina mà chúng tôi xây dựng trong luận văn này sẽ có ý nghĩa thực tiễn như là một công trình mở đầu để chuẩn bị xâu dựng những cơ sở thực tiễn cho việc giảng dạy tiếng Việt ở Ucraina và dạy tiếng Ucraina ở Việt Nam Cũng như để xây dựng ngành Việt ngữ học ở Ucraina và ngược lại để xây dựng ngành Ucraina ngữ học ở Việt Nam

Việc biên soạn từ điển Ucraina - Việt và Việt – Ucraina là một yêu cầu cần thiết để giúp đông đảo đội ngũ cán bộ giảng dạy, các cán bộ nghiên cứu, sinh viên, nghiên cứu sinh và thực tập sinh Việt Nam và Ucraina muốn đọc sách báo bằng tiếng Việt hoặc bằng tiếng Ucraina Hiện nay ở Ucraina có cộng đồng Việt Nam sống ở các thành phố lớn như Kharcov (hơn 3000 người), Kiép (khoảng 700 người), Ôđêtsa (khoảng 700 người)… Trong tập thể cộng đồng, số người Việt kiều không nhiều, chỉ trên 200 người Một trong những đóng góp của cộng đồng cho quan hệ hai nước đó là các hoạt đồng hữu nghị của các hội đồng hương, các nhà doanh nghiệp Việt Nam trong công tác văn hoá, xã hội và trợ giúp nhân đạo Những hoạt động văn hoá, nhân đạo này

đã làm cho quan hệ hữu nghĩ củng cố và phát triển Chúng tôi hy vọng rằng từ điển Ucraina - Việt, Việt – Ucraina của chúng tôi sẽ giúp cả cộng đồng Việt đang ở Ucraina sống và tiếp xúc với nhân dân Ucraina một cách dễ dang hơn

Trang 8

Vì cho đến nay đã có nhiều tài liệu lý thuyết bàn về biên soạn tử điển đối chiếu tiếng Việt với những ngôn ngữ thông dụng và ít sử dụng cho nên trong luận văn này chúng tôi sẽ tập trung vào phần thực tiễn tức là sẽ cố gắng biên soạn một từ điển cỡ nhỏ chất lượng cao Để thực hiện việc đó trước hết chúng tôi sẽ phải lập bảng từ hợp lý nhất (bao gồm những từ cần thiết nhất trong những bước đầu học tiếng Ucraina hoặc học tiếng Việt) cho những người sẽ sử dụng từ điển Ucraina - Việt và Việt – Ucraina Chúng tôi sẽ lập một bảng từ riêng dành cho người Ucraina học tiếng Việt và một bảng từ riêng dành cho người Việt học tiếng Ucraina (Mỗi một bảng từ sẽ chia thành hai phần: thứ nhất là bảng từ bao gồm những từ có nghĩa tương đương trong

cả hai ngôn ngữ và thứ hai là bảng từ bao gồm những từ không có nghĩa tương đương Trong mỗi một mục từ chúng tôi sẽ đưa ra một số ví dụ để làm rõ ý nghĩa và trường hợp sử dụng những từ đó)

2 Lịch sử vấn đề

Từ điển học liên quan rất chặt chẽ với từ vựng học và ngữ nghĩa Cấu trúc vĩ mô có đơn vị chủ yếu là đơn vị từ vựng ngôn ngữ Để cung cấp thông tin cho mục từ thì nhà từ điển học phải khảo sát toàn bộ đặc điểm từ vựng, đặc biệt là ý nghĩa từ vựng Có người cho rằng từ điển học là phần ngành từ vựng học (mặc dù được thoát ra từ vựng học nhưng đã phát triển rất mạnh) Từ điển còn cung cấp thông tin về ngữ pháp, ngữ dụng, tu từ và ngữ âm Nhà từ điển học quan tâm và áp dụng thành quả của nhiều ngành khác nhau của ngôn ngữ Mặt khác, trong quá trình xây dựng và phát triển từ điển học đã hình thành hệ thống và phương pháp lý thuyết riêng của mình như: nguyên tắc xây dựng cấu trúc bảng từ, nguyên tắc xây dựng cấu trúc lời định nghĩa của từng loại từ điển, vai trò của dữ liệu từ điển, mẫu định nghĩa trong từ điển, phương pháp

Trang 9

trình bày của từ điển… Đã có đến mấy trăm công trình (bao gồm cả các bài báo) về lý thuyết từ điển Tuy nhiên những công trình lý thuyết này mặc dù đã

đề cập đến việc biên soạn từ điển đối chiếu nhưng chủ yếu dựa trên kết quả nghiên cứu biên soạn từ điển đối chiếu những thứ tiếng được nhiều người sử dụng Còn đối với những thứ tiếng ít người sử dụng thì lý thuyết từ điển học chưa đề cập đến

Cho đến nay những tài liệu lý thuyết bàn về biên soạn từ điển đối chiếu nói chung đã quá nhiều Cũng như đã có không ít những công trình, những bài báo đề cập đến việc biên soạn từ điển đối chiếu tiếng Việt với một số ngoại ngữ thông dụng hoặc với một số ngôn ngữ dân tộc ở Việt Nam Tuy nhiều từ điển học Việt Nam đang còn thiếu vắng những tài liệu bàn về việc biên soạn

từ điển đối chiếu giữa tiếng Việt với những ngoại ngữ ít phổ biến hơn ở Việt Nam Mặc dù trên thực tế những cuốn từ điển Việt - Ngoại ngữ ít phổ biến đã xuất bản (từ điển Việt – Lào, Việt – Khơme, Việt – Inđônexia, Việt – Balan, Việt - Tiệp, Việt – Bungari, Việt – Hàn, v.v…) Chỉ mãi gần đây mới có một bản luận văn thạc sĩ ngôn ngữ học nghiên cứu việc biên soạn từ điển Việt – Hàn, Hàn - Việt (cách đây khoảng hai năm) Đối với việc xây dựng lý thuyết tiến tới xây dựng những cơ sở thực tế để biên soạn từ điển Ucraina – Viêt, Việt – Ucraina thì luận văn thạc sĩ của chúng tôi là công trình đầu tiên

Trước năm 1991 người Việt Nam không có nhu cầu học tiếng Ucraina bởi Ucraina lúc đó còn là thành viên trong Liên bang Xô Viết cho nên trên lĩnh vực của đất nước Ucraina tiếng Nga được coi là ngôn ngữ quốc gia còn tiếng Ucraina chỉ là ngôn ngữ dân tộc chính là vì thế việc tiếng Ucraina vào Việt Nam trước đây hầu như chưa được tiến hành là một điều tất nhiên Nhưng mà từ năm 1991 tình hình đã thay đổi hẳn Hiện nay Ucraina là một nhà nước độc lập với ngôn ngữ quốc gia riêng - tiếng Ucraina Chính vì thế

Trang 10

bây giờ người Việt Nam có nhu cầu học tiếng Ucraina để thực hiện việc hợp tác về các mặt như văn hoá, kinh tế, giáo dục v.v…

Sẽ là thật khiểm khuyết nếu giới trí thức Việt Nam nói riêng và nhân dân Việt Nam nói chung không được tiếp xúc một cách trực tiếp với nền văn hoá Ucraina bằng tiếng Ucraina Trước đây, người Việt Nam chỉ được biết đến văn hoá Ucraina (“Lời di chúc” (Заповіт) của Taras Shevchenko – thi hào kiệt xuất của đất nước Ucraina) thông qua bản dịch các ngôn ngữ khác (tiếng Nga chẳng hạn) Việt Nam cần được tiếp xúc trực tiếp, thưởng thức nghệ thuật trực tiếp đến chính tiếng mẹ đẻ của nước

Như vậy đã đến lúc, tiếng Ucraina tự nó trở thành một nhu cầu bức thiết đối với người Việt Nam nhất là đối với giới trí thức Và việc phát triển tiếng Ucraina cũng là một động lực thúc đẩy đất nước Việt Nam đi lên

Việt Nam là một quốc gia nằm trong lĩnh vực Đông Nam Á Trong thời gian gần đây cùng với xu hướng toàn cầu hoá, chính sách của hợp tác kinh tế

mở rộng quan hệ ngoại giao với tất cả các nước trên lĩnh vực và trên thế giới của Đảng và nhà nước Việt Nam đã cải thiện và nâng cao quan hệ hợp tác giữa Việt Nam và Ucraina Nước Ucraina đã thiết lập quan hệ ngoại giao với nước Việt Nam (từ năm 1992) với quan hệ ngoại giao các dự án hợp tác về kinh tế, giáo dục cũng đã bước đầu được thiết lập và có chiều hướng ngày càng phát triển Các nhà doanh nghiệp Việt Nam và Ucraina đã bắt đầu quan tâm hợp tác trong lĩnh vực xuất nhập khẩu hàng hoá Hợp đồng thuê người lao động Việt Nam đến làm việc ở Ucraina ngày càng tăng Chính những điều này

đã mở ra những triển vọng mới trong việc hợp tác kinh tế giữa Việt Nam và Ucraina

Về vấn đề hợp tác giáo dục, chính phủ Việt Nam đã tiến hành ký hợp tác giáo dục Nhiều sinh viên Việt Nam đã được cử đi học rải rác ở Ucraina nhằm cung cấp cho các ngành khác nhau Theo em việc đưa chương trình giáo

Trang 11

dục tiếng Ucraina vào Việt Nam sẽ bắt đầu tiến hành trên cơ sở hợp tác giáo dục giữa bộ giáo dục Việt Nam và bộ giáo dục Việt Nam.Và tất nhiên đấy sẽ

là bước mở đầu cho hàng loạt các dự án hợp tác giáo dục khác

3 Đối tượng nghiên cứư và phạm vi nghiên cứu

Luận văn này tập trung vào việc soạn từ điển Ucraina - Việt và Việt - Ucraina cỡ nhỏ (còn gọi là bỏ túi) Hai cuốn từ điển này thuộc lại từ điển Việt

- Ngoại ngữ, Ngoại ngữ - Việt hoặc Ucraina - Ngoại ngữ, Ngoại ngữ - Ucraina dành cho đông đảo Ucraina và Việt Nam đang hoặc sẽ học tiếng Việt và tiếng Ucraina: sinh viên đại học, người tự học tiếng Việt và tiếng Ucraina, giáo viên dạy tiếng Việt và tiếng Ucraina

Một điểm thường ít khi được chú ý là một quyển từ điển hai thứ tiếng A

và B không thể đồng thời đáp ứng yêu cầu của những người biết tiếng A và của những người biết tiếng B, và như Sếc-ba đã viết, làm từ điển hai thứ tiến nào đó thì phải làm bốn quyển Ví dụ hai thứ tiếng là Việt và Ucraina thì phải có: hai cuốn Việt - Ucraina (một cho người Việt và một cho người Ucraina) và hai cuốn Ucraina - Việt (cũng một cho người Việt và một cho người Ucraina) Nhưng do hạn chế về thời gian trong luận văn này chúng tôi chỉ làm hai quyển Chúng tôi hy vọng rằng đây chỉ là bước đầu tiên trong việc biên soạn

từ điển Ucraina - Việt, Việt - Ucraina

Để hoàn thành việc biên soạn từ điển Ucraina - Việt và Việt – Ucraina chúng tôi đã tham khảo rất nhiều từ điển khác nhau trong đó có cả từ điển song ngữ lẫn từ điển đơn ngữ (từ điển một thứ tiếng, từ điển giải thích) Do vẫn đến bây chưa có từ điển song ngữ Ucraina - Việt hoặc ngược lại cho nên chúng tôi đã tham khảo từ điển Nga - Việt, Việt – Nga, Ucraina –Anh chủ yếu

để chọn những thí dụ điển hình nhất Để lập bảng từ chúng tôi đã chủ yếu dựa

Trang 12

vào những từ điển giải thích Vậy phần tiếng Ucraina của từ điển được xây dựng chủ yếu dựa vào bảng từ vựng của “Từ điển giải thích tiếng Ucraina” do

L P Oleksiinko và O L Shumeiko biên soạn (Kyiv, Nhà xuất bản “Cobza”, 2002) còn phần tiếng Việt của từ điển được xây dựng dựa vào “Từ điển từ nguyên giải nghĩa” do Vũ Ngọc Khánh, Nguyễn Thị Huế biên soạn (“Hà nội, Nxb “Văn hoá thông tin”, 2003) và từ điển “tiếng Việt thông dụng” do Trần Ngọc Hưởng, Trần Công Tùng, Lê Thuý Nga biên soạn (Hà Nội, Nxb “ Thanh niên”, 2003)

4 Phương pháp làm việc

Luận văn này sẽ áp dụng những phương pháp truyền thống của ngôn ngữ học Chẳng hạn, phương pháp thống kế, phương pháp tần số, phương pháp phân tích nghĩa, phương pháp đối lập từng phẳng, v.v…

Để phục vụ cho việc xây dựng những cơ sở lý thuyết của luận văn chúng tôi sẽ vận dụng phương pháp thực nghiệm cụ thể là sẽ biên soạn thử từ điển Ucraina - Việt, Việt – Ucraina cỡ nhỏ với khoảng 5000 mục từ Phương pháp làm việc của chúng tôi chủ yếu dựa vào cuốn từ điển Nga - Việt (hai tập)

do K M Alikanốp, V V Ivanốp, I A Malkhanôva biên soạn (Hà nội, Nxb

“Văn hoá thông tin”, 2003), Việt – Nga do I I Gơ-le-bô-va và A A lốp biên soạn (Maxcơva, Nhà xuất bản “tiếng Nga”, 1992), Ucraina – Anh, Anh - Ucraina do V Ph Malyshếp và O, Iu Petrakốpskyi biên soạn (Kharcov, Nhà xuất bản “Eđinorog”, “Svitoviđ”, “Promin”, 2001) phổ biến nhất và tiến hành dịch Đồng thời chúng tôi trong quá trình dịch cũng tiến hành đối chiếu

Xô-cô-từ với các Xô-cô-từ điển khác: Nga – Ucraina do S Ia Ermolenko, V I Ermolenko,

K V Lenetc, L O Pustovit (Kyiv, Nhà xuất bản “Đôvira”, 1996), Anh - Việt

Trang 13

do Trầm Quỳnh Dân, Trầm Thanh Sơn, Bá Khánh, Xuân Bách biên soạn (Hà Nội, Nxb “Văn hoá thông tin”, 2003)

5 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu và phần kết luận thì luận văn này sẽ gồm hai phần nữa

là Phần lý thuyết và Phần thực nghiệm

Trang 14

Phần I Một số vấn đề lý luận về từ điển đối chiếu và về từ điển

Cung cấp thông tin có liên quan tới mặt từ vựng, ngữ nghĩa, ngữ pháp, chữ viết… giúp ngừoi đọc nắm chắc và nhuần nhuyễn phương pháp biểu đạt của ngôn ngữ, nâng cao trình độ ngữ văn (công dụng số nhất là từ điển giải thích một thứ tiếng)

Trang 15

Cung cấp kiến thức để sử dụng một ngôn ngữ khác (trong đó có các mức độ: đọc hiểu được, dịch xuôi, giao tiếp, dịch ngược hoặc viết bằng ngôn ngữ khác) là công dụng của từ điển song đa ngữ

Cung cấp hiểu biết sâu sắc về khoa học của nhiều lĩnh vực là công dụng của từ điển bách khoa

Có nhiều cách phân loại từ điển Viện sĩ Sécba phân loại như sau:

1 Đối lập giữa từ điển chuẩn và từ điển tra cứu

Từ điển tra cứu cung cấp thông tin về những từ chưa biết: từ cổ, từ nước ngoài, nghĩa khó…

Từ điển chuẩn giúp tra cứu dạng đúng về hình thức, ý nghĩa và các

thông tin khác của kí hiệu ngôn ngữ

2 Đối lập giữa từ điển bách khoa và từ điển ngôn ngữ

Từ điển bách khoa cung cấp thông tin về sự vật

Từ điển ngôn ngữ cung cấp thông tin về kí hiệu

3 Đối lập giữa từ điển tổng toàn và từ điển thông thường

Từ điển tổng toàn thu thập tất cả các từ trong ngôn ngữ dù chỉ được sử dụng một lần Có đưa ví dụ kèm theo

Từ điển thông thường: đơn vị của từ điển này đuợc lựa chọn khi đã mang tính ổn định tương đối

4 Đối lập giữa từ điển thông thường và từ điển ý niệm

Từ điển thông thuờng: các đơn vị được sắp xếp theo một trật tự anphabet nhất định

Từ điển ý niệm: các đơn vị đuợc sắp xếp và giai thích theo từng nhóm

đề tài Ví dụ: không gian, thời gian, địa lý…

5 Đối lập giữa từ điển giai thích (tuòng giải) với từ điển phiên dịch (đối dịch, song ngữ)

Trang 16

Từ điển giải thích làm sang tỏ bản chất của các đơn vị ngôn ngữ Mục đích: xây dựng và chuẩn hoá ngôn ngữ văn hoá, làm giàu và phát triển ngôn ngữ dân tộc

Từ điển phiên dịch đáp ứng nhu cầu hiểu văn bản của ngôn ngữ khác

Ở dưới đây chúng tôi muốn giới thiệu cách phân loại từ điển theo truyền thống ở Việt Nam

Từ điển một thứ tiếng Từ điển hai hoặc hơn hai thứ tiếng

1.Từ điển ngữ văn

(có khoảng 10-14 loại): từ điển tiếng

Việt, từ điển tiếng Anh, v.v

2.Từ điển thuật ngữ

(còn gọi là từ điển khái niệm)

Có hai loại từ điển thuật ngữ:

- từ điển một tứ tiếng (giải thích)

- từ điển nhiều thứ tiếng (đa ngữ,

song ngữ)

3 Các công trình Bách khoa như từ

điển Bách khoa, Bach khoa thư

4 Từ điển chỉ dẫn tra cứu

như sổ tay, cầm năng chẳng hạn

5 Từ điển chính tả

6 Từ điển giải thích (tường giải)

7 Từ điển trái nghĩa

8 Từ điển tác phẩm

Từ điển truyện Kiều chẳng hạn

1 Ngoai ngữ - Việt, Việt – Ngoai ngữ

2 Ngông ngữ dân tộc - Việt, Việt - Ngôn ngữ dân tộc

Trang 17

Có một cách phân biệt từ điển khác chia từ điển thành hai loại lớn:

1 Các từ điển bách khoa: Đây la loại từ điển khong nhằm xây dựng các từ trong ngôn ngữ nói chung, mà chủ yếu đưa ra và giải thích các khái niệm; trình bày lai lịch của nó đến các quan điểm khác nhau, cùng với những thay đổi của nó (nếu có) về mặt nội dụng…

Loại từ điển bách khoa cho tất cả các lĩnh vực, gọi là bách khoa toàn thư; còn loại cho từng lĩnh vực một thì gọi là từ điển bách khoa chuyên ngành Ví

dụ: Từ điển bách khoa nông nghiệp, Từ điển bách khoa y học…

2 Từ điển ngôn ngữ: đây là loại từ điển được xây dựng bằng những con đường “ngôn ngữ học” Chúng được phân loại ra như sau:

Từ điển một ngôn ngữ, được biên soạn cho một ngôn ngữ cụ thể nào đó ở

từng mặt, từng lĩnh vực Ví dụ: Từ điển giải thích, Từ điển đồng nghĩa, Từ điển chính tả, Từ điển từ nguyên, Từ điển tần số…

Từ điển nhiều ngôn ngữ, được biên soạn trên cơ sở đối chiếu hai hay nhiều

ngôn ngữ Ở đây cũng có thể gồm từ điển đối chiếu phổ thống như: Từ điển Anh - Việt, Từ điển Nga - Việt, Từ điển Việt – Pháp…từ điển đối chiếu chuyên ngành như: Từ điển toán học Anh - Việt, Từ điển y học Nga - Việt…

Trang 18

Những năm gần đây, ở Việt Nam tình hình biên soạn và xuất bản từ điển

có nhiều dấu hiệu đổi mới Có rất nhiều từ điển đủ loại được xuất bản hàng năm.Theo thống kê chưa đầy đủ, chủ yếu dựa vào thư mục của Thư viện Quốc gia, trong tổng số 447 quyển từ điển đã xuất bản ở Việt Nam từ xưa đến nay,

có 239 quyển (trên 53%) đã được xuất bản từ sau 1975, bao gồm: 35 quyển từ điển tiếng Việt các loại, 64 quyển từ điển ngữ văn song ngữ, 78 quyển từ điển thuật ngữ đối chiếu và 62 quyển từ điển chuyên môn các ngành

Tình hình này chứng tỏ xã hội Việt Nam đang có nhiều nhu cầu và ngày càng tăng về từ điển Nhu cầu này là một tiêu chí của mức độ phát triển kinh

tế, văn hoá Nhu cầu lớn, nhưng khả năng đáp ứng lại hạn chế Biên soạn từ điển loại vừa và lớn đòi hỏi phải có cơ sở tư liệu đầy đủ và một đội ngũ chuyên gia và kĩ thuật viên làm việc trong nhiều năm; và phải dựa những từ điển loại vừa hoặc loại lớn làm cơ sở thì mới có thể biên soạn tốt những từ điển loại nhỏ Ở Việt Nam những điều kiện trên đây chưa có đủ, biên soạn từ điển là một việc có nhiều khó khăn, Thế nhưng vì từ điển là loại sách đang "ăn khách", nên với cơ chế thị trường, có không ít quyển từ điển được biên soạn vội vàng, in ấn cũng vội vàng, có rất nhiều sai sót Từ điển là loại sách công

cụ, dùng để tra cứu mỗi khi cần thiết, cung cấp ad hoc những mẩu tri thức mà

người dùng nó đang cần Chỉ cái tên là từ điển "không sai", hoặc "không có những sai lớn"

Từ điển học ngày này đã trở thành một bộ môn ngôn ngữ học ứng dụng quan trọng Do việc biên soạn và xuất bản phát triển rất mạnh từ trên một thế

kỷ này, từ điển trở thành loại sách có số lượng phát hành lớn nhất ở nhiều nước, nên công tác từ điển học đã tích luỹ được khá nhiều kinh nghiệm Sự phát triển mạnh mẽ của ngôn ngữ học mấy thập kỷ gần đây, đặc biệt những

Trang 19

thành tựu đã đặt được trong nhiên cứu ngữ pháp và ngữ nghĩa, đã tạo tiền đề cho việc xây dựng cơ sở lý luận từ điển học hiện đại Việc ứng dụng kĩ thuật điện toán, sử dụng rộng rãi máy tính đã tạo một bước phát triển mới của từ điển học.

Nói về lịch sử từ điển học, người ta thường xem xét nó trên hai phương diện, đó là:

- Lịch sử từ điển học xét về phương diện lý thuyết

- Lịch sử từ điển học xét về phương diện thực hiện

Ở đây, chúng tôi trình bày lịch sử từ điển học theo trình tự thời gian và chỉ nói về từ điển đối chiếu

Có nhiều ý kiến cho rằng, ở Việt Nam trên thực tế cho đến nay vẫn chưa có từ điển học lý thuyết mà mới có từ điển học thực hành thôi Cụ thể là theo GS Hoàng Phê và PGS Nguyễn Ngọc Trâm (1993), từ điển học Việt Nam ra đời rất muộn Nhưng đó là những ý kiến về từ điển học nói chung Còn về từ điển đối chiếu (hoặc từ điển song ngữ, từ điển đối dịch), theo GS Chu Bích Thu Có thể chia làm ba giai đoạn phát triển tương ứng với ba giai đoạn lịch sử của Việt Nam, do nó thường chịu ảnh hưởng của các hoàn cảnh chính trị, xã hội, đặc biệt là chịu ảnh hưởng của mối quan hệ ban giao giữa nước ta với các nước khác Chúng tôi đang nói đến ba giai đoạn như sau:

1/ Giai đoạn trước thế kỷ XX: Việt Nam có nhiều thời kỳ chịu sự đô hộ của phong kiến Trung Quốc, sao đó trở thành thuộc địa của Pháp Trong suốt thời gian này mặc dù tiếng Việt chịu ảnh hưởng của tiếng Hán và văn hoá Trung Hoa, nhưng tiếng Việt vẫn giữ được những nét riêng của mình và phát triển theo con đường riêng Hiện nay những tài liệu cổ này chỉ còn ít, và

Trang 20

số từ điển đối dịch Pháp - Việt, Việt - Pháp (cuốn Từ điển An nam - Lusitan -

La tin xuất bản năm 1651 còn được gọi là Việt - Bồ - La chẳng hạn) giúp các

cố đạo Tây Ban Nha truyền giáo

2/ Giai đoạn từ đầu thế kỷ XX đến trước năm 1945, do điều kiện lịch

sử, ở Việt Nam phổ biến hai loại từ điển đối chiếu Hán - Việt và Pháp - Việt Cuốn Hán - Việt tự điển, H., 1932 được coi là cuốn từ điển đối chiếu Hán - Việt thực sự đầu tiên ở Việt Nam

3/ Giai đoạn nửa sau thế kỷ XX, các loại từ điển đối chiếu đã nhiều hơn

và thực sự Vào giai đoạn này có những tác phẩm của những tác giả có uy tín như: Nguyễn Đình Trọng, Hoàng Xuân Minh, Bùi Ý, Trần Văn Điền, Đặng Chấn Liêu, v.v

Ngày nay, ngoài từ điển đối chiếu giữa tiếng Việt và một số ngôn ngữ phổ biến trên thế giới như tiếng Anh, tiếng Nga, tiếng Trung, tiếng Pháp chúng ta còn có một số cuốn từ điển đối chiếu giữa tiếng Việt - tiếng dân tộc trong nước và ngược lại như Việt - Chăm, Việt – Tày - Nùng Ngoài những từ điển này còn có một loại nữa là những từ điển đối chiếu tiếng Việt với một số thứ tiếng nước ngoài không phổ biến lắm như: tiếng Bungari, Balan, Tiệp Những cuốn từ điển này ra đời một mặt thể hiện sự phát triển của ngành biên soạn từ điển, mặt khác cũng phản ánh sự phát triển của các chính sách xã hội của nhà nước Đó là các chính sách về đầu tư phát triển cho các vùng dân tộc thiểu số, chính sách mở cửa trong quan hệ quốc tế Ngoài ra

nó cũng phản ánh sự phát triển của ngành ngôn ngữ học trong nước và đặc biệt, những cuốn từ điển đối chiếu tiếng Việt - tiếng dân tộc và ngược lại đã phản ánh sự phát triển việc nghiên cứu ngôn ngữ các dân tộc thiểu số ở Việt Nam

Trang 21

Quay trở lại mấy chục năm gần đay, từ điển Nga - Việt đã là loại từ điển đối chiếu phổ biến nhất ở phía Bắc Việt Nam, còn bây giờ từ điển Anh - Viêt là phổ biến nhất

Ngày nay, chúng ta chú trương mở rộng quan hệ quốc tế với tất cả các nước trên thế giới; chính vì thế, từ điển đối chiếu sẽ ngày càng trở nên một loại sách quan trọng và cần thiết Và có thể là các nhà biên soạn từ điển hai thứ tiếng sẽ rút ra nhiều kinh nghiệm quý báu trong việc biên soạn từ điển này

ở giai đoạn từ điển đối chiếu phát triển như hiện nay

Ngày nay, từ điển song ngữ là loại sách rất phổ biến và cần thiết đối với mọi người: từ học sinh, sinh viên đến những người làm khoa học hay các nhà doanh nghiệp, thư ký văn phòng bất cứ ai biết và học ngoại ngữ đều cần đến một quyển từ điển song ngữ Do vậy, đây là một loại sách đã và đang được xuất bản rất nhiều ở Việt Nam với rất nhiều kích cỡ, qui mô khác nhau để đáp ứng được nhu cầu của mỗi người Vấn đề đặt ra là loại sách này được xuất bản

ở Việt Nam có dựa trên một nguyên tắc chung hay lý thuyết chung về kỹ thuật biên soạn từ điển không? Có thể nói rằng, cho đến nay ngành từ điển học lý thuyết ở Việt Nam chưa phát triển kịp thời so với từ điển học thực hành người Việt cũng đã có một số nghiên cứu hay những bài viết về lĩnh vực này nhưng

đã có rất nhiều từ điển đủ các loại được biên soạn Đây là tình hình chung về

từ điển học ở Việt Nam hiện nay

1.2 Vấn đề xây dựng bảng từ ngữ từ điển song ngữ

Như chúng đã nêu ở trên từ điển song ngữ hoặc từ điển đa ngữ được chia thành hai loại: Ngoại ngữ - Việt, Việt - Ngoại ngữ và Ngôn ngữ dân tộc - Việt, Việt – Ngôn ngữ dân tộc Trong luận văn này chúng tôi sẽ nói đến vấn

Trang 22

đề bảng từ trong loại từ điển Ngoại ngữ - Việt và Việt - Ngoại ngữ Loại đầu thường phổ biến hơn

Cấu trúc của bảng ngữ Việt - Ngoại ngữ thuộc phạm vi hẹp hơn Qua việc nghiên cứu bảng từ của 50 cuốn từ điển Việt - Ngoại ngữ, người ta thấy rằng bảng từ của loại từ điển này được làm chủ yếu dựa vào kinh nghiệm lập bảng từ của các từ điển nước ngoài Còn ở Việt Nam thì chưa có một công trình nghiên cứu lý luận nào về vấn đề của từ điển Việt - Ngoại ngữ nói chung

và vấn đề bảng từ của loại từ điển này nói riêng

Với từ điển Việt - Ngoại ngữ, vấn đề khó khăn trước hết là cách cấu trúc bảng từ sao cho phản ánh được đặc điểm của tiếng Việt so với đặc điểm của thứ tiếng cần đối chiếu

Đối với bảng từ của từ điển Việt - Ngoại ngữ, phải xác định cho nó những đặc điểm riêng trong đó có hai đặc điểm cần chú ý sau:

 Bảng từ của từ điển Việt - Ngoại ngữ không thể giống bảng từ của từ điển giải thích

 Mỗi một cặp đối chiếu Việt - Ngoại ngữ phải có bảng từ riêng, cuốn từ điển Viêt - Ngoại ngữ cho người Việt phải khác cuốn cho người nước ngoài

Cấu trúc của bảng từ Việt - Ngoại ngữ có hai kiểu chính;

1/ Kiểu phân lập: Mỗi một tiếng, mỗi một từ (đơn vị mục từ) được xếp riêng

ra thành một mục từ độc lập theo thứ tự chữ cái A, B, C…

Trang 23

2/ Kiểu quy gộp: Những đơn vị phái sinh của một từ được quy gộp lại trên cơ

sở một tiếng hoặc một từ chung

Với hai kiểu cấu trúc, chúng ta có thể nhận ra được hai ưu việt:

- Nếu xếp theo trật tự chữ cái thì rất dễ tra cứu

- Nếu quy gộp thì có thể thấy được toàn cảnh ngữ nghĩa của một từ

Nhưng ở đây cũng nảy sinh hai sở đoản:

- Nếu xếp theo chữ cái thì sẽ bị phản tán, tản mất ngữ nghĩa

- Nếu xếp theo quy gộp thì sẽ khó cho việc tra cứu; không đủ trình độ ngữ văn thì không tra cứu được

Nếu nói đến cỡ của từ điển song ngữ thì chúng ta thấy được có ba loại: từ điển cỡ lớn, từ điển cỡ trung bình, từ điển cỡ nhỏ Từ điển cỡ lớn và cỡ nhỏ là hai loại từ điển thông dụng nhất Do vậy có thể chia hai loại bảng từ như sau:

1 Bảng từ cho từ điển cỡ lớn (khoảng 100.000 từ):

- Từ điển song ngữ lớn phổ biến: Nga - Việt, Anh - Việt, Pháp - Việt, Trung - Việt, Nhật - Việt

- Từ điển song ngữ tương đối lớn những không phổ biến: Bungari - Việt, Balan - Việt, Tiệp - Việt

2 Bảng từ cho từ điển cở nhỏ (người Việt Nam còn gọi là từ điển bỏ túi)

- Từ điển song ngữ nhỏ phổ biến (ưu dụng): Anh - Việt, Nga - Việt (không còn phổ biến nữa), Pháp - Việt, Đức - Việt

- Từ điển song ngữ nhỏ chưa phổ biến: Ucraina - Việt

Trang 24

Bảng từ của từ điển loại này phải luôn luôn quan tâm đến nhu cầu của những người sẽ sử dụng từ điển này Ví dụ:

- Cho những người mới học ngoại ngữ;

- Cho những người thỉnh thoảng tra cứu do nhu cầu của họ

Như vậy, người soạn từ điển phải xuất phát từ mục đích biên soạn, đối tượng phục vụ để lựa chọn kiểu bảng từ Việt - Ngoại ngữ hoặc Ngoại ngữ - Việt nào sao cho phù hợp nhất Ngoài ra, người soạn từ điển phải cố gắng sưu tầm, tập hợp cho đầy đủ các nghĩa của từ, những từ thường kết hợp được với

nó, các thành ngữ, tục ngữ có liên quan và làm sao để đưa vào được các ví

dụ điển hình nhất

Lập bảng từ cho một cuốn từ điển chính là công việc quan trọng đầu tiên mà các nhà biên soạn từ điển phải làm Nó thực chất là một cấu trúc có quan hệ dọc suốt từ đầu đến cuối cuốn từ điển, bao gồm các đơn vị thường là

từ, nhưng cũng có khi là những đơn vị lớn hơn hoặc nhỏ hơn từ Các đơn vị này được lựa chọn theo mục múc đích, tính chất, yêu cầu của mỗi một cuốn từ điển và thường được sắp xếp theo trật tự chữ cái

Vấn đề lập bảng từ cho một cuốn từ điển không chỉ đơn giản là việc thu thập các đơn vị mục từ mà con là việc lựa chọn các đơn vị ngôn ngữ có tần số cũng như sự phân bố của nó trong sử dụng với sự nhất quán cao nhất trong nguyên tắc thu thập

1.3 Vấn đề tương đương và không tương đương

Không một quyển từ điển đối chiếu nào có hết các tương đương cho các mục từ, cho dù người biên soạn có giỏi đến đâu cũng không thể làm được việc

đó Người biên soạn chỉ có thể cố gắng đưa ra các tương đương trong các trường hợp cụ thể Bên cạnh đó, còn có những mục từ, những từ hay khái

Trang 25

niệm chỉ có ở ngôn ngữ thứ hai mà không hề tồn tại trong tiếng mẹ đẻ hay những từ, thuật ngữ mới của một nền khoa học kỹ thuật phát triển mà ngôn ngữ của chúng ta chưa phát triển kịp thời với nó Bản thân ngôn ngữ là một thực thể động, luôn luôn có sự phát triển

Ngoài ra, một nguyên nhân quan trọng trong việc không tìm được tương đương giữa hai ngôn ngữ đối chiếu đó là các yếu tố văn hoá, thói quen, truyến thống, loại hình ngôn ngữ Chính vì vậy, việc không tìm được tương đương trong đối chiếu đối với một số từ là một điều chắc chắn phải có trong bất cứ một cuốn từ điển hai thứ tiếng nào Điều quan trọng là đối với những từ không

có tương đương như vậy, người biên soạn phải giải thích nghĩa của nó sao cho

dễ hiểu và cũng không nên giải thích dài dòng quá

Thí dụ: hát tuồng – (в’єтнамська) класична опера, hát chèo – (в’єтнамська) народна опера, bún – вермишель (рисова), miến – вермишель (рисова, бобова), bánh chưng пиріг з клейкого риса (з бобами і м’ясом, має квадратну форму, в основному готується на ТЕТ (в’єтамський новий рік за місячним календарем), bánh dẻo пиріг iз клейкого рису (з м’ясною та бобовою начинкою, готується на свято середини осeні (Tết Trung thu) v.v… (trong tiếng Việt) và млинці bánh xèo, bánh tráng, батон bánh mì (trắng) (ổ bánh có hình ô van), булка ổ bánh, bánh

mỳ trắng, bánh ngọt, блондин người có tóc mùa vàng hung, блузка áo cánh

nữ, áo bơ lu (trong tiếng Ucraina)

1.4 Vấn đề đưa ví dụ

Học ngoại ngữ là một quá trình nắm vững cách dùng một ngôn ngữ khác làm phương tiện giao tiếp bổ sung bên cạnh tiếng mẹ đẻ của mình Những sự hiểu biết ngôn ngữ nào đó không hoàn toàn đồng nhất với khả năng

Trang 26

thành thạo tiếng Việt là tiếng mẹ đẻ của họ, nhưng những hiểu biết về ngôn ngữ Việt lại có thể rất hạn chế Trong khi đó, người nước ngoài lại có thể không nói sõi tiếng Việt nhưng vẫn có thể có những tri thức về tiếng Việt mà một người Việt Nam bình thường không thể có được Tuy nhiên, khả năng hiểu biết một ngôn ngữ nào đó là cơ sở để có thể sử dụng ngôn ngữ ấy Đối với người Ucraina và tiếng Ucraina tình hình hoàn toàn giống nhau

Trong quá trình học tiếng Ucraina và tiếng Việt như ngoại ngữ, tất cả các người học cả người Ucraina lẫn người Việt có thể gặp sự khó khăn được gây ra do hai ngôn ngữ ấy thuộc các loại hình ngôn ngữ khác nhau

Tiếng Việt là một ngôn ngữ điển hình cho loại hình đơn lập, không biến hình (còn được gọi là ngôn ngữ phân tích tính) Còn tiếng Ucraina - thuộc loại hình khuất chiết (còn gọi là tổng hợp tính, biến hình)

Một nhà ngôn ngữ học Sécba cho rằng: Việc nghiên cứu các ngôn ngữ không những người học ngoại ngữ nắm chắc ngôn ngữ đang học mà giúp hiểu sâu sắc hơn về tiếng mẹ đẻ vì giúp ta thâm nhận được tiếng mẹ đẻ tìm ra bản chất của nó cũng như quy luật của các ngôn ngữ Phương pháp đối chiếu thực

ra không chỉ có giá trị để miêu tả bất kỳ thứ tiếng nào trong đó có tiếng mẹ đẻ,

vì rằng đối chiếu các sự kiện của các ngôn ngữ khác nhau cho phép nhận xét, đánh giá và ý thức được tốt nhất các đặc điểm đặc thù cùng phát hiện được các quy luật hay xu thế có quy luật của các ngôn ngữ đối chiếu

Ở dưới đây chúng tôi sẽ cố gắng cho thấy một cách rõ rang sự khác biệt giữa hai ngôn ngữ thuộc hai loại hình ngôn ngữ khác nhau như tiếng Việt và tiếng Ucraina để giải thích những khó khăn mà chúng tôi gặp khi đưa ra ví dụ trong từ điển Việt – Ucraina, Ucraina - Việt của chúng ta

Từ là đơn vị hiển nhiên của ngôn ngữ Nhưng cho đến nay vẫn chưa ai xác định được định nghĩa về từ (trên thế giới hiện có trên 200 định nghĩa)

Ngày đăng: 31/03/2015, 14:35

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Đào Thản, Về vấn đề cấu tạo bảng từ trong từ điển Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về vấn đề cấu tạo bảng từ trong từ điển
Tác giả: Đào Thản
4. Vũ Quang Hào, Những bài giảng về chuyên đề “Ngôn ngữ và kĩ thuật biên soạn từ điển”, năm 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ và kĩ thuật biên soạn từ điển
10. Nguyễn Thiện Giáp, “Một số vấn đề từ điển học”, tạp chí Ngôn ngữ số 2, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề từ điển học
11. Nguyễn Nhã Bản, “Từ điển Phương ngữ - một dạng thức đối chiếu dặc biệt”, tạp chí Ngôn ngữ số5, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Phương ngữ - một dạng thức đối chiếu dặc biệt
12. Như Ý, “Vấn đề đối chiếu trong từ điển thuật ngữ”, tạp chí Ngôn ngữ số 1, 1977 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề đối chiếu trong từ điển thuật ngữ
13. Hoàng Phê, Nguyễn Ngọc Trâm, “Một số vấn đề từ diển học (qua việc biên soạn quyển từ điển tiếng Việt)”, tạp chí Ngôn ngữ số 4, 1993 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề từ diển học (qua việc biên soạn quyển từ điển tiếng Việt)
15. Vũ Ngọc Khánh, Nguyễn Thị Huế, Từ điển từ nguyên giải nghĩa, NXB “Văn hoá thông tin”, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hoá thông tin
Nhà XB: NXB “Văn hoá thông tin”
16. Trần Ngọc Hưởng, Trần Công Tùng, Lê Thuý Nga, Từ điển tiếng Việt thông dụng, NXB “Thanh niên”, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thanh niên
Nhà XB: NXB “Thanh niên”
17. Trầm Quỳnh Dân, Trầm Thanh Sơn, Bá Khánh, Xuân Bách, Từ điển Anh - Việt, NXB “Văn hoá thông tin”, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hoá thông tin
Nhà XB: NXB “Văn hoá thông tin”
19. Vũ Ngọc Khánh, Nguyễn Thị Huế, Từ điển từ nguyên giải nghĩa, NXB “Văn hoá thông tin”, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hoá thông tin
Nhà XB: NXB “Văn hoá thông tin”
20. Trần Ngọc Hưởng, Trần Công Tùng, Lê Thuý Nga, Từ điển tiếng Việt thông dụng, NXB “Thanh niên”, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tiếng Việt thông dụng
Tác giả: Trần Ngọc Hưởng, Trần Công Tùng, Lê Thuý Nga
Nhà XB: NXB “Thanh niên”
Năm: 2003
21. Trầm Quỳnh Dân, Trầm Thanh Sơn, Bá Khánh, Xuân Bách, Từ điển Anh - Việt, NXB “Văn hoá thông tin”, 2003.Tài liệu bằng tiếng Ucraina Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hoá thông tin
Nhà XB: NXB “Văn hoá thông tin”
1. Chu Bích Thu, Giới thiệu sơ lược về từ điển và từ điển học Việt Nam, tạp chí Ngôn ngữ, số 14. 2001 Khác
3. Đặng Chấn Liêu, Vài kinh nghiệm làm từ điển hai thứ tiếng, tạp chí Ngôn ngữ, số 3, 1977 Khác
5. Vũ Quang Hào, Ngôn ngữ báo chí, NXB DHQG, 2001 Khác
6. Hữu Đạt, Trần Trí Dõi, Thanh Lan, Cơ sở Tiếng Việt, NXB Văn hoá – Thông tin, 2000 Khác
7. Nguyên Văn Khang, Vần đề sử dụng từ ngữ nước ngoài trong tiếng Việt hiện nay, tạp chí Khoa học và tổ quốc, số 120-121, 1999 Khác
8. Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến, Cơ sở ngôn ngữ học và Tiếng Việt, NXB GD, 2000 Khác
9. Nguyễn Thiện Giáp, Từ vựng học tiếng Việt, NXB GD, 1999 Khác
14. N.V.Xtankevich, Loại hình các ngôn ngữ, 1982 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w